1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Tài liệu Nâng cao các kỹ năng về di truyền, sinh sản và lai tạo giống bò thịt nhiệt đới- chương 15 ppt

9 327 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ưu thế lai và suy thoái cận huyết trong lai tạo giống bò thịt nhiệt đới
Thể loại Bài giảng
Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 363,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phối hợp Đây là một vấn đề quan trọng trong việc sử dụng giống trong chương trình lai tạo sao cho những tính trạng mong muốn của các giống bố mẹ được... Ưu thế lai đối với khả năng làm

Trang 1

Lai tạo giống

J.Allen, BM.Burns và J.D.Bertram

Giới thiệu chung

Lai tạo giống là quá trình cho giao phối những cá

thể khác giống với nhau hay nói một cách khác

là lai giữa các giống với nhau Nói chung, những

cá thể lai có xu hướng khoẻ mạnh hơn so với các

cá thể thuần chủng Thế nhưng, chỉ khoảng

20-30 năm qua, những ưu điểm của các chương trình

lai tạo giống mới được đánh giá một cách đầy

đủ

Những lý do cơ bản để thực hiện lai tạo trong các

đàn thương phẩm là:

1 Sử dụng ưu thế lai

2 Khai thác các ưu điểm của hiệu ứng giống,

có nghĩa là sử dụng các đặc tính tốt của

giống bố mẹ ở thế hệ con lai, và

3 Sử dụng thay thế đàn có nghĩa là sử dụng các

cá thể cái của một giống nhất định hoặc cá

thể lai bởi vì mong muốn của chúng ta là có

các cá thể cái để phối với đực của một giống

với những đặc tính khác nhau

Sử dụng ưu thế lai là lý do quan trọng nhất trong

lai tạo giống Đối với các nhà sản xuất giống

thương mại, những lý do khác đối với lai tạo

giống, cũng quan trọng như của ưu thế lai

Ưu thế lai là gì?

Ưu thế lai (Hybrid Vigour hoặc Heterosis) là trị

số về tăng năng suất của cá thể lai so với trung

bình hai giống thuần taọ nên chúng Đối với một

tính trạng nhất định của một cặp giống đã cho thì

ưu thế lai là sự chênh lệch giữa trị số của thế hệ

con lai (F1) so với giá trị trung bình của bố mẹ

thuần chủng tạo nên chúng

Ưu thế lai là sự tăng về trị số của một tính trạng

nào đó do các cá thể giao phối với nhau có ít

quan hệ huyết thống hơn so với việc phối giống

giữa các cá thể trong 1 giống thuần với nhau

Ngược lại suy thoái cận huyết là sự giảm năng

suất do phối giống những cá thể có quan hệ họ

hàng gần gũi với nhau Ưu thế lai và suy thoái

cận huyết về tính chất cơ bản giống nhau nhưng

theo hướng ngược chiều nhau

Đối với 1 tính trạng nhất định, ưu thế lai có xu

hướng tăng khi cho lai các giống có khác biệt về

di truyền lớn hơn Ví dụ đối với nhiều tính trạng,

ưu thế lai thu được khi cho lai giữa giống bò ôn

đới (Bos Taurus), ví dụ như giống bò Hereford với giống bò nhiệt đới (Bos Indicus), ví dụ giống

bò Sind cao hơn so với khi cho lai giữa giống bò

ôn đới với chính giống bò ôn đới hoặc giữa 2 giống bò nhiệt đới với nhau Ưu thế lai về tăng trọng trung bình hàng ngày giữa giống bò Hereford với Brahman là 9-10%, trong lúc đó cũng tính trạng này ưu thế lai giữa Hereford với Angus chỉ đạt 5%

Những tính trạng có hệ số di truyền thấp như sức sống, tăng khối lượng ở giai đoạn còn non và sinh sản của gia súc cái có xu hướng đạt ưu thế lai cao nhất, điều đó có nghĩa là các tính trạng có

hệ số di truyền thấp được cải thiện một cách hiêụ quả hơn ở lai tạo so với chọn lọc trực tiếp

ảnh hưởng của giống

Thu thập những ưu điểm của các tính trạng mong muốn của các giống ở thế hệ bố mẹ là lý do cực

kỳ quan trọng đối với lai tạo giống Những cá thể lai sinh ra ở thế hệ lai thứ nhất (F1) của 2 giống

có xu hướng phối hợp các đặc tính của các giống

bố mẹ Những ví dụ sau đây chứng minh việc sử dụng các đặc tính mong muốn của các giống bố

mẹ để tạo các tổ hợp lai tốt

Lai tạo giữa 1 giống thuộc bò nhiệt đới, ví dụ Brahman với 1 giống bò ôn đới như Angus, sẽ phối hợp được sự chống đỡ ve và nhiệt độ tốt của giống bò Brahman và chất lượng thịt xẻ tốt của giống bò Angus Trong ví dụ này, các cá thể lai biểu hiện ưu thế lai nhưng những đóng góp quan trọng nhất của chúng đối với sản suất là các đặc tính chúng được di truyền từ bố mẹ Những đặc tính của thế hệ lai cũng chịu ảnh hưởng bởi những cá thể riêng biệt của các giống thuần tạo nên chúng Điều này có nghĩa là giá trị giống, giá trị di truyền cộng gộp của bố mẹ của các cá thể lai sẽ làm ảnh hưởng đến năng suất của các cá thể lai Chính vì vậy, cá thể lai là sự hoà hợp trộn lẫn hay kết hợp các tính trạng của bố mẹ

Phối hợp

Đây là một vấn đề quan trọng trong việc sử dụng giống trong chương trình lai tạo sao cho những tính trạng mong muốn của các giống bố mẹ được

Trang 2

kết hợp trong các cá thể của thế hệ lai Thế

nhưng, hiệu suất sản xuất thường ảnh hưởng bởi

các giống bố và mẹ Ví dụ, cá thể lai thuộc thế

hệ lai thứ nhất giữa F1 Brahman và Charolais sẽ

có cùng nguồn vật chất di truyền của giống bố là

Brahman và mẹ là Charolais hoặc bố là Charolais

và mẹ là Brahman Thế nhưng, khả năng làm mẹ

tốt của Brahman: năng suất sữa cao và cơ thể nhỏ

nên cần ít năng lượng duy trì có xu hướng cho

năng suất cao hơn trên 1 diện tích đất chăn nuôi

nếu chọn Brahman làm mẹ Hơn nữa, một số

công trình khoa học đã chứng minh nếu sử dụng

giống Brahman làm đực giống phối với bò cái

thuộc giống ôn đới thì bê thường có khối lượng

lớn và vì vậy dẫn đến khó đẻ Ngược lại sử dụng

giống bò ôn đới làm bố và giống nhiệt đới làm

mẹ thì không gây nên những sự khó đẻ vì bò

Brahman thường đẻ các bê có khối lượng nhỏ

Lai tạo giống và các tính trạng bị

ảnh hưởng

Những tính trạng bị ảnh hưởng bởi mẹ như khối

lượng cai sữa, khối lượng sơ sinh chịu ảnh hưởng

bởi giống của cá thể, khả năng làm mẹ của mẹ

nó và môi trường Một tính trạng như vậy có thể

coi như là 1 hàm số của các biến số:

- ảnh hưởng trực tiếp đối với tính trạng, và

- ảnh hưởng của mẹ đối với tính trạng

Đối với tính trạng khối lượng cai sữa, ảnh hưởng

di truyền trực tiếp là tiềm năng di truyền đối với

tầm vóc và tốc độ sinh trưởng của thế hệ lai,

trong lúc đó ảnh hưởng của mẹ bao gồm môi

trường trong dạ con, chăm sóc con sau khi đẻ và

sữa cho con bú ảnh hưởng trực tiếp và của mẹ

đối với tính trạng có thể cùng bị ảnh hưởng bởi

giống và ưu thế lai

Mức độ sản xuất sữa là 1 yếu tố quan trọng của

khả năng làm mẹ và nó bị ảnh hưởng lớn bởi

giống Mức độ sản xuất sữa có thể là ảnh hưởng

lớn nhất trong số các ảnh hưởng do cá thể mẹ

gây lên đối với tính trạng khối lượng cai sữa

Nếu 1 giống có năng suất sữa cao lai với 1 giống

có năng suất sữa thấp thì khối lượng cai sữa có

khuynh hướng nặng hơn nếu giống có năng suất

sữa cao được sử dụng làm mẹ và ngược lại

Dễ đẻ là một tính trạng khác minh hoạ cho ảnh

hưởng của giống đến các tính trạng bị ảnh hưởng

từ mẹ Trong một công thức lai giữa giống có

tầm vóc nhỏ và lớn thì thế hệ lai đầu tiên thường

bị khó đẻ nếu giống có tầm vóc nhỏ làm mẹ Ví

dụ minh hoạ về ảnh hưởng của mẹ đến thế hệ con là khối lượng sơ sinh của bê lai giống Brahman Bê lai F1(Brahman x Hereford) có khối lượng sơ sinh nặng hơn 7 kg nếu chúng sinh ra từ

bò cái Hereford

Nếu 1 cá thể là lai thì nó có thể thể hiện ưu thế lai về ảnh hưởng trực tiếp đối với những tính trạng chịu ảnh hưởng của cá thể mẹ Nếu 1 cá thể lai được sinh ra từ mẹ lai thì mẹ lai có thể biểu thị ưu thế lai đối với ảnh hưởng của mẹ về những tính trạng chịu ảnh hưởng của mẹ Khả năng làm

mẹ thường có mức độ ưu thế lai cao, vì vậy đối với những tính trạng chịu ảnh hưởng của mẹ, thế

hệ con lai sinh ra từ mẹ lai và bố thuần có thể cao hơn so với thế hệ con lai sinh ra từ bố lai và

mẹ thuần Bảng số liệu sau đây là một ví dụ minh chứng cụ thể về vấn đề nêu trên

Bảng 1 Khối lượng cai sữa trung bình ở Trại McGregor, Bang Texas, USA (1953-1969)

Giống của bố

Giống của mẹ

Khối lượng

180 ngày

Giống của bê sinh ra

H H 171 H

B B 169 B

ở đây:

- H là giống bò Hereford

- B là giống bò Brahman

- F1 là bò lai thế hệ thứ nhất giữa các giống Brahman

và Herefod

Bò lai F1 là bò lai thế hệ thứ nhất giữa các giống Brahman và Herefod đạt khối lượng cai sữa là

203 và 190 pounds Giá trị trung bình cao hơn nhiều so với các bò sinh ra từ nhân giống thuần chủng của giống đó chỉ ra rằng sự lớn hơn về khối lượng cai sữa là do sự đóng góp của ưu thế lai trực tiếp của các cá thể lai Do bản chất di truyền của bò lai F1 giữa các giống Brahman và Herefod đều như nhau nhưng khối lượng cai sữa

ở bê của các bò cái là giống Brahman cao hơn chứng tỏ rằng khả năng sản xuất sữa cao hơn ở giống Brahman so với Hereford

Một cá thể được sinh ra từ lai trở ngược (backcross), là con của việc lai giữa F1 với 1 trong 2 giống thuần bố hoặc mẹ Khối lượng cai

Trang 3

sữa cao hơn ở các bò lai sinh ra do lai trở ngược

(205 và 200kg) so với khối lượng cai sữa ở các

bò lai sinh ra do phép lai trở ngược từ bò cái

thuần (186 và 190kg) giải thích cho ưu thế lai

của mẹ lai

Ưu thế lai đối với khả năng làm mẹ và sinh sản

của giống cái cho thấy các giống có thể kết hợp

để tạo ra những đặc tính mong muốn ở những cá

thể lai và chính nó là cái ủng hộ chiến lược lai

giống là “Tổ hợp cái lai (mẹ lai) phải được sử

dụng một cách rộng rãi trong việc sản sinh ra

đàn thương phẩm”

Các hệ thống lai tạo giống

Hai hệ thống lai tạo giống cơ bản là:

- Hệ thống lai kinh tế

- Hệ thống lai tạo giống liên tục

Ngoài ra, còn có nhiều hệ thống lai tạo

giống biến đổi từ 2 hệ thống cơ bản trên đây, các

hệ thống này bao gồm cả các hệ thống lai tạo mà

đối với một số tính trạng thì sử dụng hệ thống lai

kinh tế và một số tính trạng khác lại sử dụng hệ

thống lai tạo liên tục Hai hệ thống lai tạo được

trình bày chi tiết ở phần sau đây

Hệ thống lai kinh tế

Đặc điểm cơ bản của hệ thống lai kinh tế là con

lai là sản phẩm đầu tiên của hệ thống lai, tất cả

các cá thể lai đều được bán đi, có nghĩa là những

cá thể lai này không được giữ lại trong đàn để

phục vụ cho mục đích tạo giống Một số ví dụ về

hệ thống lai kinh tế là:

- Sản xuất F1

- Sản xuất con lai trở ngược

- Sản xuất tổ hợp lai 3 máu (có thể gọi là

lai 3 máu sử dụng đực cuối cùng)

- Sản xuất F2

- Sản xuất F1 từ 4 giống

Bởi vì tất cả thế hệ con của hệ thống lai kinh tế

đều được sinh ra từ những cá thể cái của 1 giống

hay tổ hợp lai nào đó nên ưu điểm đầu tiên của

hệ thống lai kinh tế là việc phối hợp có thể được

áp dụng một cách dễ dàng Nếu mẹ là 1 giống

xác định hoặc 1 tổ hợp lai đã được chọn bởi vì nó

có những đặc tính mong muốn và giống bố được

chọn để phối hợp những đặc tính của mẹ cho ra

những đặc tính mong muốn ở thế hệ lai thì hệ

thống lai kinh tế có khả năng nâng cao năng

suất

Bất lợi lớn nhất của hệ thống lai này là tất cả các cá thể của thế hệ lai này đều bán đi, không giữ lại với mục đích làm giống vì vậy đàn cái giống thay thế phải mua từ nơi khác hoặc tạo ra từ đàn khác Đối với tất cả các hệ thống lai kinh tế, một

số lượng rất lớn cá thể cái thuần chủng phải được nuôi để tạo thế hệ lai F1 hoặc tổ hợp lai 3 máu Những cá thể cái thuần chủng thường có tỷ lệ thụ thai và biểu thị các tính trạng của khả năng làm

mẹ thấp hơn so với cá thể cái lai Ngoài ra, do hầu hết các cá thể mẹ thuần chủng là cần thiết cho việc thay thế đàn để sản xuất các cá thể thuần hoặc tổ hợp lai nên số lượng con cái để chọn lọc cho hệ thống lai là rất hạn chế Trong

hệ thống lai này, khi những cá thể F1 cái được sử dụng làm mẹ, chọn lọc con cái cũng sẽ hạn chế Trong việc tạo F1, mẹ thuần chủng của 1 giống

được phối với bố thuần chủng của 1 giống khác Thế hệ lai thứ nhất biểu hiện ưu thế lai cao nhất giữa bất kỳ cặp lai 2 giống nào Phối hợp đàn cũng có thể được sử dụng trong sản xuất F1 Bất lợi chính của sản xuất F1 là không có ưu thế lai

đối với tính trạng khả năng làm mẹ vì tất cả các cá thể mẹ ở đây đều là thuần chủng F1 được dùng rộng rãi trong sản xuất để vỗ béo khai thác thịt Trong những năm gần đây, do yêu cầu thay thế đàn của những cá thể cái lai F1 nên sản xuất

F1 trong thực tế đã rất phổ biến

Sản xuất con lai trở ngược là phối cái F1 với 1 trong 2 giống đực tạo nên chính F1 đó Ưu điểm lớn nhất của phép lai này là các cá thể mẹ và thế

hệ con đều là tổ hợp lai Ví dụ, ở những bò cái Brahman lai đã được chấp thuận, sản xuất con lai 1/4 Brahman và 3/4 Hereford hoặc Angus là những tổ hợp lai phù hợp để vỗ béo ưu thế lai về khả năng làm mẹ có thể cao, phụ thuộc vào giống dùng để lai nhưng thành phần ưu thế lai trực tiếp không thể cực đại trong lai trở ngược vì thành phần vật chất di truyền của bố đã có trong

tổ hợp lai F1 Năng suất của con lai trở ngược có thể cao hơn F1 đối với những tính trạng ảnh hưởng bởi mẹ

Trong lai 3 máu, cá thể cái F1 được phối với đực của giống không tham gia tạo F1 Ví dụ, trong sản xuất thịt bò, bò cái F1 (Brahman x Hereford)

được phối với đực Charolais để sản xuất tổ hợp lai 3 máu nuôi thịt Nếu giống được chọn một cách cẩn thận, tổ hợp lai 3 máu có thể sử dụng

đầy đủ các ảnh hưởng giống, ưu thế lai cao cả 2 thành phần: trực tiếp và mẹ và đồng thời có mức

độ phối hợp cao

Trang 4

Trong trường hợp sản xuất F2, cá thể cái F1 được

phối với đực F1 Ví dụ, bò cái F1 (Brahman x

Hereford) được phối với đực F1 (Brahman x

Hereford) Một ưu điểm của hệ thống sản xuất F2

là bố, cá thể mẹ và thế hệ con đều là tổ hợp lai

nên có ưu thế lai Thế nhưng, F2 chỉ có 1/2 ưu thế

lai trực tiếp so với F1 Ngoài ra, thế hệ lai thứ 2

(F2) có khuynh hướng biến động với phạm vi lớn

hơn tổ hợp lai 3 máu vừa nêu trên đây Nếu

không giữ F2 nào để tạo giống thì trong thực tế

chọn lọc hầu như không làm được và mức độ

biến động lớn có thể là một thiệt hại trong phép

lai tạo này

Trong phép lai tạo F1 sử dụng 4 máu (giống) thì

cái F1 được phối với đực F1 nhưng các giống

thuần tham gia tạo F1 cái khác hẳn các giống

thuần tham gia tạo F1 đực Ưu nhược điểm chính

của phép lai này tương tự như phép lai tạo F2

nhưng ưu thế lai trực tiếp ở đây lớn hơn so với

phép lai tạo F2 Cái F1 (Charolais x Tuli) phối với

đực F1 (Angus x Brahman) hoặc đực F1

(Charolais x Tuli) phối với cái F1 (Angus x

Brahman) là những ví dụ về lai 4 máu để sử dụng

phối hợp

Hệ thống lai tạo giống liên tục

Giống nào cũng có thể tham gia hệ thống lai tạo

giống liên tục Tính chất cơ bản và ưu điểm lớn

nhất của hệ thống lai tạo giống liên tục là cá thể

cái được tạo ra từ phép lai này được sử dụng để

thay thế đàn Do tất cả các cá thể cái được tạo ra

từ phép lai này được sử dụng để thay thế đàn nên

cá thể cái lai giữ lại làm mẹ có thể được chọn lọc

một cách khắt khe hơn Một ưu điểm nữa của

phép lai này là cá thể mẹ và thế hệ con đều là tổ

hợp lai Việc sử dụng phối hợp trong phép lai này

bị hạn chế bởi vì không có một giống đực nào

riêng và không có giống cái hoặc các cá thể lai

khác nhau trong phép lai này Một số ví dụ về hệ

thống lai tạo giống liên tục là:

- Lai luân hồi tiêu chuẩn (có 2, 3 hoặc n

giống tham gia)

- Lai luân hồi chuẩn một giống đực

- Lai F1 luân hồi

- Tiếp tục lai F1 tốt nhất với nhau

- Lai luân hồi 3 máu hiệu chỉnh

- Lai cải tạo

- Tạo giống lai tổng hợp

Giống nào cũng có thể tham gia vào hệ thống lai

luân hồi chuẩn ở những hệ thống này, các cá thể

cái lai được giữ lại để thay thế đàn và cho phối

với đực của một giống khác với giống của bố đã

tạo ra nó Sau khi những cá thể cái sinh ra chúng

đã mang các gen từ mỗi một giống bố mẹ trong

hệ thống lai luân chuyển, cá thể cái được phối với đực của giống cá thể cái có số lượng gen của giống này ít nhất

Hệ thống lai luân hồi chuẩn có 2 giống tham gia

đôi lúc còn được gọi lai luân hồi chuẩn Sau một thời gian thực hiện phép lai, các cá thể cái lai của thế hệ con sẽ phân chia thành 2 nhóm: một nhóm

được phối với đực của 1 giống và nhóm thứ 2

được phối với đực của một giống khác Cả 2 nhóm này luôn có khoảng 2/3 vật chất di truyền của 1 giống và 1/3 của 1 giống khác Trong phép lai này, các cá thể lai ở những thế hệ tiếp theo luôn có 2/3 của thành phần ưu thế lai trực tiếp so với thế hệ con lai thứ nhất (F1) Nhược điểm chính của hệ thống lai này là có thể không sử dụng được sự phối hợp vì tất cả các giống tham gia trong phép lai này là giống bố Thế nhưng,

đối với những gia súc có khả năng đẻ nhiều như lợn, một mức phối hợp nào đó có thể sử dụng

được trong hệ thống lai này nếu tỷ lệ của mỗi kiểu phối là thích hợp

Có một số điểm rất linh động trong trật tự của giống trong hệ thống lai luân hồi chuẩn có 3 giống tham gia Việc phối hợp trong hệ thống lai luân hồi chuẩn có 3 giống tham gia có thể được

sử dụng giống như phương pháp lai luân hồi chuẩn có 2 giống đã trình bày trên đây

Hệ thống lai luân hồi chuẩn có nhiều giống tham gia được tiến hành tương tự như ở hệ thống lai luân hồi chuẩn có 2 giống tham gia Bởi vì hệ thống lai luân hồi chuẩn bao gồm việc sử dụng các nhóm khác nhau của cá thể cái tham gia tạo giống và bởi vì trong chăn nuôi bò thịt, các nhóm

đực giống khác nhau cho mỗi nhóm cái được tách riêng trên đồng cỏ Hệ thống lai này không thích hợp với những đàn gia súc nhỏ Hệ thống này có thể biến đổi bằng cách sử dụng một đực trong vòng 2 năm cho một nhóm cùng chăn thả chung trên đồng cỏ và sau 2 năm sẽ đổi một đực khác thuộc một giống khác bằng cách đổi như vậy, các chủ bò có đàn gia súc nhỏ cũng có thể

áp dụng hệ thống lai này

Hệ thống lai luân hồi F1 cũng tương tự như hệ thống lai luân hồi chuẩn 2 giống ngoại trừ việc

sử dụng đực F1 thay vì đực thuần Nếu ưu thế lai giữa bất cứ cặp giống nào cũng như nhau thì ưu thế lai của mẹ và con trong hệ thống này cao hơn

so với trong hệ thống lai luân hồi chuẩn 2 giống

Trang 5

Ngoài ra, ưu thế lai của đực lai có thể được sử

dụng trong hệ thống lai luân hồi F1 này

Hệ thống lai giống liên tục từ các cá thể F1 tốt

nhất cũng tương tự như lai cải tạo nhưng ở đây

đực F1 được sử dụng chứ không phải đực thuần

Điều đó có nghĩa là duy nhất đực F1 của một cặp

giống nhất định được sử dụng làm bố còn mẹ thì

dùng các con lai tự có trong đàn để thay thế Ưu

thế lai trực tiếp cao nhất ở các đực giống vì nó là

F1, trong lúc đó mẹ và con đều chỉ có 1/2 ưu thế

lai so với F1 Hệ thống lai này là hệ thống lai đơn

giản nhất và dễ sử dụng nhất cho đàn nhỏ, chỉ có

một đực giống trong đàn

Hệ thống lai luân hồi 3 giống biến đổi là hệ

thống có một số tính chất của hệ thống lai luân

hồi 2 giống và hệ thống lai luân hồi 3 giống

chuẩn Trong hệ thống lai này có thể khai thác

những ưu điểm ưu thế lai cao khi sử dụng một

giống có ưu thế lai cao hơn những giống khác

Đó có thể là trường hợp Brahman biểu thị ưu thế

lai với các giống bò ôn đới cao hơn ưu thế lai

giữa các giống bò ôn đới với nhau Ví dụ sau đây

sẽ minh hoạ cho lai luân hồi biến đổi khi sử dụng

các giống Brahman, Angus và Hereford Tất cả

bò cái hoặc hậu bị mà bố của chúng là Angus

hoặc Hereford đều được phối với đực Brahman

Sau 1 thời gian lai, những con bê mà bố của

chúng là Brahman và ông ngoại là Hereford (H)

sẽ là 2/3Brahmam (B), 4/15(H) và 1/15Angus

(A) Những cá thể bê mà bố là Brahman và ông

ngoại là Angus sẽ là 2/3(B), 4/15(A) và

1/15Hereford Trong lúc đó bê mà bố là A sẽ là

8/15(A), 1/3(B) và 2/15(H)

Hệ thống lai này hy vọng có ưu thế lai cao hơn

hệ thống lai luân hồi chuẩn 2 giống như B và H

hoặc B và A Hệ thống lai này cũng hy vọng có

ưu thế lai cao hơn hệ thống lai luân hồi chuẩn 3

giống khi sử dụng 3 giống B, H và A vì một số

bò cái ở hệ thống lai luân hồi chuẩn 3 giống mà

bố chúng là H hoặc A sẽ được cho phối với đực

của một giống ôn đới khác chứ không phải đực

B Những cá thể bê sinh ra từ cách lai này không

chỉ có ưu thế lai thấp mà cũng chỉ có 1/7B Tất

cả các cá thể sinh ra từ hệ thống lai luân hồi 3

giống biến đổi ít nhất có 1/3B

Lai cải tạo là hệ thống lai mà đực thuần chủng

của một giống tiếp tục phối với những cá thể cái

lai tốt nhất được tạo thành trong hệ thống F1 có

1/2 vật chất di truyền của giống bố, trong lúc đó

ở lai trở ngược thì con lai tạo thành có 3/4 vật

chất di truyền của giống bố Lai cải tạo thường

sử dụng khi một giống được đưa vào một diện hẹp với một quần thể nhỏ Bằng phương pháp lai cải tạo từ những cá thể cái của một giống đã có ở

đây từ trước, giống này được tăng về số lượng một cách nhanh chóng hơn so với nếu chúng chỉ

được phối trong dòng thuần Phương pháp lai cải tạo đã được dùng rất phổ biến để tăng đàn của các quần thể bò châu Âu hoặc bò ngoại Các hiệp hội giống chấp nhận rằng lai cải tạo phải có một mức độ chuẩn về tỷ lệ tối thiểu “lượng vật chất di truyền của giống” đủ để coi đó là dòng thuần Hầu hết các hiệp hội đòi hỏi phải có 7/8 lượng vật chất di truyền của giống đi cải tạo trong lúc

đó, một số hiệp hội khác lai yêu cầu phải lớn hơn nữa đối với một cá thể được coi là thuần

Các giống được hình thành từ tổ hợp lai thì được gọi là giống tổng hợp Ưu điểm của giống tổng hợp là sự pha trộn của các yếu tố giống mong muốn của các giống tham gia và giữ được ưu thế lai ban đầu của các tổ hợp lai Nếu một giống

được hình thành từ đàn nền F1, thì 1/2 ưu thế lai ban đầu của các tổ hợp lai được giữ lại Nhiều giống bò tổng hợp được tạo ra có 5/8 lượng vật chất di truyền của một giống bò ôn đới và 3/8 vật chất di truyền của giống nhiệt đới (B) Khoảng 15/32 ưu thế lai của F1 được giữ lại trong những giống bò này Bất cứ sự cận huyết nào do cận huyết có chủ định hoặc do đàn quá nhỏ ở giống tổng hợp sẽ làm giảm ưu thế lai giữ lại

Hệ thống lai kết hợp

Nhiều hệ thống lai kết hợp đã được thiết kế nhằm kết hợp một số tính chất của hệ thống lai kinh tế

và một số tính chất của hệ thống lai liên tục Một

hệ thống lai kết hợp những đặc tính mong muốn của cả 2 hệ thống lai kinh tế và lai liên tục có thể

là thích hợp nhất đối với những điều kiện cụ thể Một ví dụ về hệ thống lai kết hợp là lai chéo ngoài Trong hệ thống lai này, một phần của đàn

được giữ lại tương tự như hệ thống lai luân hồi chuẩn 2 giống để cung cấp những cá thể cái thay

đàn đối vơí cả 2 trường hợp lai luân hồi và lai kinh tế Một giống đực thứ 3 được sử dụng để phối với những cá thể cái từ lai luân hồi tạo ra cá thể lai nuôi thịt

Không có giới hạn về khả năng phát triển các hệ thống lai kết hợp Một hệ thống khác sử dụng những cá thể F1 tốt nhất để sản xuất cá thể cái lai thay thế đàn trong khi đó một số cá thể lai

được phối với giống thứ 3 của bố tương tự như hệ thống lai kinh tế Ví dụ, dùng những cá thể đực

Trang 6

tốt nhất F1(BxH) để tạo những cá thể cái lai thay

thế đàn có khoảng 1/2B x 1/2H Những bò cái

già và tầm vóc lớn có thể được cho phối với đực

Charolais để sản xuất đàn lai nuôi thịt

Mỗi một hệ thống đều có ưu và nhược điểm Một

hệ thống lai cụ thể nào đó không thể là tốt nhất

cho tất cả các trang trại Điều quan trọng là phải

sử dụng những hệ thống đơn giản, có thể ứng

dụng có hiệu quả Tính đơn giản của hệ thống lai

tạo phụ thuộc vào loại hình quản lý, người lao

động trang thiết bị

Năng suất của một vài tổ hợp lai

Đối với một tính trạng và một cặp giống đã cho,

ưu thế lai là giá trị của F1 vượt so với trung bình

của 2 giống bố mẹ Con lai F1 biểu thị ưu thế lai

cao nhất ở bất kỳ tổ hợp lai nào giữa 2 giống

Những cá thể lai được tạo ra từ lai trở ngược có

50% ưu thế lai so với con lai F1 Nếu lai phản hồi

mà mẹ là F1 thì mẹ lai biểu thị ưu thế lai của mẹ

lai cao nhất Lai trở ngược có thể vượt F1 đối với

tính trạng chịu ảnh hưởng bởi cá thể mẹ Con lai

F2 chỉ có 50% ưu thế lai trực tiếp so với F1 Tất

cả F2 là sản phẩm được tạo ra từ F1 nên chúng có

ưu thế lai thành phần của mẹ lai F3, F4 ,v.v đều

biểu thị ưu thế lai của mẹ lai như F2 Thế nhưng,

F3 là sản phẩm của mẹ là F2 chứ không phải từ

F1, vì vậy năng suất có thể thấp hơn so với F2 vì

ưu thế lai của mẹ lai F1 là cao nhất khi có 2

giống tham gia Ưu thế lai vẫn giữ được ở tổ hợp

lai tổng hợp mới và bền vững sau thế hệ thứ nhất

nếu không có phối giống cận huyết

Những cá thể sinh ra từ hệ thống lai luân hồi 2

giống có ưu thế lai khoảng 2/3 so với cái F1 Kết

quả là, những cá thể sinh ra từ hệ thống lai luân

hồi có ưu thế lai cao hơn so với F1 đối với những

tính trạng ảnh hưởng từ cá thể mẹ

Ba nhóm lai khác nhau được sinh ra trong hệ

thống lai luân hồi 3 giống Trong 1 nhóm thuộc 3

nhóm đó, tất cả các cá thể đều có chung 1 giống

của bố và chung 1 giống của ông ngoại Phụ

thuộc mức độ ưu thế lai giữa các giống khác

nhau, 3 nhóm lai biểu thị mức độ ưu thế lai khác

nhau Đối với 1 nhóm nào đó, ưu thế lai có thể có

khoảng 4/7 của ưu thế lai giữa giống của bố và

giống của ông ngoại cộng với 2/7 của ưu thế lai

giữa giống của bố và 1 giống khác cùng tham gia

trong hệ thống lai tạo giống này

Bảng 2 Mức kỳ vọng về ưu thế lai trong một số hệ thống lai khi không có cận huyết

Hệ thống lai Ưu thế lai

trực tiếp

Ưu thế lai của mẹ Sản xuất con lai F 1 100% 0%

Sản xuất con lai 3 máu 100% 100%

Lai luân hồi 2 giống 67% 67%

Lai luân hồi sử dụng 2 giống

86% 86%

Lai tổng hợp 2 giống (50

% mỗi giống)

50% 50%

Lai tổng hợp sử dụng 4 giống (25 % each breed)

75% 75%

Ghi chú: Tổ hợp lai giữa Bos indicus-Bos taurus có

ưu thế lai cao gấp 2-3 lần ưu thế lai của tổ hợp lai giữa

Bos taurus-Bos taurus hoặc Bos indicus-Bos indicus

Năng suất dự đoán của con lai trong điều kiện không có chọn lọc

Có thể tính được giá trị trung bình của một quần thể lai nếu có giá trị trung bình của giống thuần,

sự sai lệch của giống mẹ và giá trị ưu thế lai đã

được ước tính Trong quá trình tính giá trị tính trạng của cá thể lai mà không thực hiện chương trình chọn lọc và tất cả các cá thể lai đều sinh ra

từ một môi trường chung thì công thức tính giá trị trung bình của tính trạng đối với tổ hợp lai là:

P tổ hợp lai = Trung bình của giống + hiệu chỉnh

về sai khác giống mẹ + ưu thế lai của mẹ + ưu thế lai trực tiếp

ở đây:

- P là giá trị trung bình tính trạng của tổ hợp lai

- Trung bình của giống: Là trung bình của giống

bố mẹ tính theo tỷ lệ ở đời con Do các giống khác nhau về tính chất chịu ảnh hưởng của cá thể mẹ nên trung bình của giống phải được hiệu chỉnh với giống làm mẹ Trong các phép tính tiếp theo, sự khác nhau giữa MA và MB là sự sai khác trung bình của tính trạng của F 1 (A xB) khi

A hoặc B làm giống mẹ

- Ưu thế lai của mẹ là giá trị cao hơn của thế hệ con lai khi sử dụng mẹ lai so với khi sử dụng mẹ thuần Giá trị ưu thế lai này có thể được tính như sau:

Ưu thế lai của mẹ = tổng (các phần của các loci trong kỳ vọng mẹ lai mang một allen từ một giống và 1 allen khác từ 1 giống khác) nhân với (ưu thế lai của mẹ lai giữa 2 giống đó) Hoặc:

Trang 7

M HVA (ưu thế lai của mẹ giữa 2 giống) x

(phần của giống A trong mẹ – phần của giống A

trong con) + M HVB (ưu thế lai của mẹ giữa 2

giống) x (phần của giống B trong mẹ – phần của

giống B trong con)

- Ưu thế lai trực tiếp là giá trị tính trạng ở con

lai cao hơn so với con thuần và có thể tính như

sau:

Ưu thế lai trực tiếp = tổng (các phần của

các loci trong thế hệ con được kỳ vọng mang một

allen từ một giống và 1 allen khác từ 1 giống

khác) nhân với (ưu thế lai trực tiếp giữa 2 giống

đó)

Một vài ví dụ về cách tính

Có một vài kết hợp để tạo ra bò Brangus có 5/8

Angus và 3/8 Brahman Một trong những kết hợp

đó là cho đực (3/4 Angus x 1/4 Brahman) phối

với cái F1(Brahman x Angus) Đực (3/4 Angus x

1/4 Brahman) phối cái F1(B x A) -> 5/8A x 3/8B

Nếu giả sử: Khối lượng cai sữa trung bình của

Brahman là 214kg, Angus là 205kg, ưu thể lai

ảnh hưởng của mẹ: giống Brahman 5 kg và

Angus = 0, ưu thế lai của mẹ giữa 2 giống là 11,4

kg và ưu thế lai trực tiếp là 13,6 kg Kỳ vọng về

khối lượng cai sữa trung bình của bê lai của hệ

thống lai trên có thể tính như sau:

B = 214kg

A = 205kg

MB = 5kg

MA = 0kg

HVAB – ưu thế lai của mẹ = 11,4 kg

HVAB - ưu thế lai trực tiếp = 13,6 kg MHVB

Vậy,

PTổhợplai

=(5/8x205)+(3/8x214)+(1/2-3/8)x5+(1/2-5/8)x0+11,4+[(1/4x1/2)+(1/4x1/2)]x13,=

128,125 + 80,25 + 0,625 + 11,4 + 6,8

= 227,2 kg

Ví dụ khác Đực Hereford (H) x cái Brahman (B)

→ F1 H (1/2) x B (1/2)

H = 186,4 kg

B= 197,7 kg

MH = 0 kg

MB = 10,9 kg

HVHB – ưu thế lai của mẹ = 16,4 kg

HVHB - ưu thế lai trực tiếp = 23,2 kg

Lưu ý: Trong các công thức lai, giống bố đứng vị

trí trước và giống mẹ đứng vị trí sau trong

phương trình Có mấy trường hợp sau:

Trường hợp 1: Sản xuất F1

H x B → F1 H (1/2) x B (1/2)

PTổhợplai =

2

7 197 4

186 +

= 192,05 + HVHB - ưu thế

lai trực tiếp = 23,2 kg + Hiệu chỉnh đối với yếu tố giống mẹ 10,9 x (1 – 1/4) = 5,45kg + HV dam

maternal = 0 kg

= 220,7 kg

Trường hợp 2: Sản xuất F1 tự giao

B x H → F1 B (1/2) x H (1/2)

PTổhợplai =

2

7 197 4

186 +

= 192,05 + HVHB - ưu thế

lai trực tiếp = 23,2 kg + Hiệu chỉnh đối với yếu tố giống mẹ 10,9 x (0 – 1/4) = -5,45kg + HV dam maternal = 0 kg

= 215,3 kg

Trường hợp 3: Sản xuất con lai bằng lai trở

ngược

H x F1 B (1/2) H (1/2)→ 3/4 H 1/4 B

PTổhợplai = (3/4x186,4) + (1/4x197,7) = 189,2+HVHB - ưu thế lai trực tiếp = 23,2/2kg = 11,6kg + Hiệu chỉnh đối với yếu tố giống mẹ 10,9x(1/2– 1/4) = 2,7kg+HV dam maternal = 16,4kg

= 219,9 kg

Bình phương Punnet

H

1/2H 1/2HH 1/2B 1/2BH Vậy HV trực tiếp = 23,2/2 = 11,6kg + Hiệu chỉnh

đối với yếu tố giống mẹ 10,9 x (1/2– 1/4) = 10,9

x 1/4 kg = 2,7kg+HV dam maternal = 16,4kg

Trường hợp 4: Sản xuất 1 tổ hợp lai bằng lai trở

lại

F1 B (1/2) H (1/2) x H → 1/4 B 3/4 H

PTổhợplai = (3/4x186,4) + (1/4x197,7) = 189,2+HVHB - ưu thế lai trực tiếp = 23,2/2kg = 11,6kg + Hiệu chỉnh đối với yếu tố giống mẹ 10,9x(0– 1/4) = -2,7kg+HV dam maternal = 0kg

= 198,1 kg

Bình phương Punnet

1/2B 1/2H

H 1/2BH 1/2HH Vậy HVHB trực tiếp = 23,2/2kg = 11,6kg + Hiệu chỉnh đối với yếu tố giống mẹ 10,9 x (0– 1/4) = -2,7kg + HV dam maternal = 0kg

= 198,1 kg

Trang 8

Trường hợp 5: Sản xuất F2

F1 B (1/2) H (1/2) x F1 B (1/2) H (1/2→ F2 B (1/2)

H (1/2)

PTổhợplai = tỷ trọng trung bình (1/2x186,4) +

(1/2x197,7) = 192,05+HVHB - ưu thế lai trực tiếp =

23,2/2kg = 11,6kg + Hiệu chỉnh đối với yếu tố

mẹ 10,9x(1/2– 1/2) = 0kg+HV dam maternal = 16,4kg

= 220,1 kg

Bình phương Punnet

1/2B 1/4HH 1/4HB 1/2H 1/4BH 1/4HH

Vậy HVHB trực tiếp = 23,2/2kg = 11,6kg + Hiệu

chỉnh đối với yếu tố mẹ 10,9x (1/2– 1/2) = 10,9 x

0kg = o kg +HV dam maternal = 16,4kg

= 220,1 kg

Năng suất dự đoán của con lai trong điều

kiện có chọn lọc

Nếu các cá thể đã được chọn lọc đối với một tính

trạng nhất định được sử dụng trong chương trình

lai tạo giống thì con lai chắc chắn sẽ có giá trị

của tính trạng cao hơn so với những con lai mà

bố mẹ nó không được chọn lọc Giá trị trung

bình của tính trạng của thế hệ con lai mà bố mẹ

được chọn lọc được thể hiện như sau:

Ptổ hợp lai = (1 + HVtổ hợp lai ) (trung bình của giống)

+ (EBVbố + EBVmẹ)/2

Đối với bố lai và mẹ lai thì tính như sau:

P - P tổ hợp lai

EBV = h2 (1 + HVtổ hợp lai)

Ví dụ, với các dữ kiện sau chúng ta có thể ước

tính khối lượng trung bình trưởng thành của tổ

hợp lai bò cái 1/2C 1/4B và 1/4H khi bố mẹ được

chọn lọc

Giống bò Khối lượng trung bình bò cái

trưởng thành

Hereford)

541 kg

Đực giống Charolais chọn lọc có khối lượng 955

kg đã được chọn từ nhóm đực không được chọn

lọc có khối lượng trưởng thành là 864 kg và bò

lai cái F1 được chọn lọc có khối lượng trưởng thành trung bình là 568 kg Hệ số di truyền của khối lượng trưởng thành giả sử là 0,45 Giá trị ưu thế lai trực tiếp của các cặp lai giữa các giống này là:

Hereford-Charolais 0,05 Brahman-Hereford 0,08 Charolais-Brahman 0,06

Bố Charolais x mẹ (1/2 Brahman x 1/2 Brahman)

→ Tổ hợp lai 1/2C x 1/4B x 1/4 H

EBVbố = 0,45(955 - 864) = 41 kg EBVmẹ = 0,45 (568 - 541) = 0,45(25) kg

= 11,25 kg (1 + 0,08)

HVtổ hợp lai = (1/2)(0,06) + (1/2)(0,05) = 0,055

Ptổ hợp lai = (1 + 0,055)[(1/2)(591) + (1/4)(545) + (1/4)(455) + (41 + 11,25)/2]

Ptổ hợp lai = (1,055)[(545) + (26,1)]

Ptổ hợp lai = (1,055)(571,1) = 602,51 kg

Các ví dụ về lai tạo để đạt ưu thế lai cực

đại

Dưới đây là một số ảnh được minh hoạ về các chiến lược lai tạo giống khác nhau được sử dụng

ở vùng nhiệt đới của Australia để thu được ưu thế lai cực đại (Từ ảnh số 1 đến ảnh số 5)

Trang 9

ảnh số 1: Bố Tuli x Mẹ Brahman -> Bê F 1

Tuli x Brahman (Tổ hợp bò lai 2 máu đạt 100%

−u thế lai)

ảnh số 2: Bố Belmont Red x Mẹ Brahman ->

F 1 (Belmont Red x Brahman) (Tổ hợp bò lai 2

máu đạt 100% −u thế lai)

ảnh số 3: Bố Boran x Mẹ F 1 (Brahman x Adaptaur) -> Con: 1/2Boran x 1/4Brahman x 1/4Adaptaur (Tổ hợp bò lai 3 máu đạt 100% −u

thế lai)

ảnh số 4: Bố Boran x Mẹ F 1 (Adaptaur x

Brahman) -> Con: 1/2Boran x 1/4Adaptaur x

1/4Brahman (Tổ hợp bò lai 3 máu đạt 100% −u

thế lai)

ảnh số 5: Bố Boran x Mẹ F 1 (Charolais x Brahman) -> Con: 1/2Boran x 1/4 Charolais x 1/4Brahman (Tổ hợp bò lai 3 máu đạt 100% −u

thế lai)

Ngày đăng: 14/12/2013, 17:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. Mức kỳ vọng về −u thế lai trong một số hệ  thống lai khi không có cận huyết - Tài liệu Nâng cao các kỹ năng về di truyền, sinh sản và lai tạo giống bò thịt nhiệt đới- chương 15 ppt
Bảng 2. Mức kỳ vọng về −u thế lai trong một số hệ thống lai khi không có cận huyết (Trang 6)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w