Mục đích nghiên cứu
Mục đích của nghiên cứu là xây dựng hệ thống sơ đồ tư duy cho các bài học, kiểm tra và ôn tập, giúp học sinh sáng tạo, tiết kiệm thời gian và ghi nhớ tốt hơn Giáo viên sẽ hướng dẫn học sinh ghi chép nội dung bài học theo sơ đồ tư duy, làm cho tiết học trở nên thú vị và không khô khan, đồng thời vẫn đảm bảo mục tiêu học tập Qua quá trình nghiên cứu, tôi đã giải quyết được những khó khăn trong giảng dạy, từ đó tạo niềm tin cho đồng nghiệp và học sinh.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết
Nghiên cứu các nguồn tài liệu như sách giáo khoa, báo, giáo trình và các văn bản chỉ thị, nghị quyết liên quan đến đề tài là rất quan trọng Dựa trên những tài liệu này, cần tiến hành phân tích và tổng hợp để rút ra những vấn đề cần thiết cho đề tài.
Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin
Tham gia dự giờ để thu thập ý kiến từ giáo viên phụ trách môn công nghệ nhằm xác định những khó khăn trong việc giảng dạy Tìm hiểu và trao đổi với giáo viên về đổi mới phương pháp dạy học và cách tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh Tiếp thu ý kiến từ các thầy cô khi xây dựng nội dung bài học liên quan đến đề tài, đồng thời khảo sát hứng thú học tập của học sinh với môn học.
Đề xuất ý tưởng đề tài sẽ giúp củng cố kiến thức, đồng thời cho phép soạn giáo án thực nghiệm và thực hiện thí nghiệm tại trường để kiểm chứng kết quả nghiên cứu và đề xuất của đề tài.
Phương pháp thống kê, xử lý số liệu
Thông qua việc quan sát tiết dạy và phân tích kết quả học tập của học sinh, chúng ta tiến hành kiểm tra, đánh giá và xử lý dữ liệu bằng các phương pháp thống kê toán học để rút ra những kết luận cần thiết.
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
Dạy học là một quá trình nhận thức, trong đó học sinh vừa là đối tượng của hoạt động dạy, vừa là chủ thể của hoạt động học Mục tiêu của quá trình này là phát triển kỹ năng, trí tuệ và khám phá tiềm năng của học sinh Vai trò của giáo viên là tổ chức và hướng dẫn các hoạt động học, đảm bảo rằng kiến thức được truyền tải một cách hợp lý và phù hợp với từng đối tượng học sinh Để nâng cao hiệu quả giáo dục, phương pháp dạy học cần khuyến khích tính tích cực, tự giác và sáng tạo của học sinh, đồng thời bồi dưỡng kỹ năng tự học và áp dụng kiến thức vào thực tiễn, tạo niềm vui và hứng thú trong học tập.
Để nâng cao chất lượng giáo dục, cần áp dụng các phương pháp dạy học tích cực, chuyển từ việc chỉ trang bị kiến thức sang việc dạy học sinh cách tiếp nhận, tìm tòi và vận dụng kiến thức vào thực tế Trong số các phương pháp này, kỹ thuật sơ đồ tư duy là công cụ hiệu quả mà nhiều trường đang triển khai nhằm giảm tải chương trình học, kích thích hứng thú học tập và làm phong phú thêm các phương pháp dạy học tích cực hiện có.
Bản đồ tư duy, được phát minh bởi Tony Buzan, là một công cụ tư duy tự nhiên có khả năng tạo cảm hứng và niềm đam mê học tập cho học sinh Đặc biệt, bản đồ tư duy rất hiệu quả trong các tiết ôn tập tổng kết chương và bài học, trở thành một công cụ vô giá cho cả học sinh và giáo viên trong việc thu thập và phân loại thông tin.
Bản đồ tư duy là công cụ giúp cá nhân nắm bắt tổng thể chủ đề, theo dõi diễn biến tư duy nhóm và tiết kiệm thời gian trong học tập Sơ đồ này tạo sự cân bằng giữa các thành viên, khuyến khích mọi người đóng góp ý kiến Dựa trên nguyên lý hoạt động của não bộ, sơ đồ tư duy hỗ trợ ghi nhớ lâu hơn và đọc nhanh hơn, đồng thời thể hiện sự tương thích với cấu trúc não Nghiên cứu nhằm mục đích ứng dụng sơ đồ tư duy trong dạy học, đặc biệt trong môn công nghệ, để phát huy khả năng tư duy hệ thống của học sinh Khi học sinh thiết kế sơ đồ tư duy, họ sẽ hiểu sâu kiến thức và chuyển đổi thông tin từ sách giáo khoa thành cách hiểu riêng của mình.
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Nội dung kiến thức môn công nghệ 11 thường trừu tượng và mang tính nguyên lý kỹ thuật, khiến học sinh gặp khó khăn trong việc tiếp thu và khắc sâu kiến thức Học sinh thường thụ động, chỉ nghe và ghi nhớ những gì giáo viên giảng, dẫn đến sự nhàm chán với môn học Thêm vào đó, tâm lý coi nhẹ môn học và xu hướng lựa chọn nghề nghiệp cũng ảnh hưởng đến chất lượng giờ học Tuy nhiên, vấn đề chính nằm ở chỗ giáo viên chưa tìm ra giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy, chỉ tập trung vào việc trang bị kiến thức mà không tổ chức chúng một cách dễ tiếp nhận và thú vị Để hiểu rõ hơn về hứng thú học tập của học sinh, tôi đã tiến hành điều tra vào đầu năm học, dựa trên nội dung môn công nghệ mà các em đã được học ở cấp THCS, nhằm nắm bắt quan điểm và thái độ của học sinh đối với môn học này, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục Kết quả điều tra sẽ được trình bày trong phụ lục.
Bảng 2.2.1 Thống kê về hứng thú học tập của HS với môn học Công nghệ.
Lớp 11D4 Lớp 11D3 Lớp 11E2 Lớp 11E4 Tổng
SL % SL % SL % SL % SL %
Kết quả điều tra cho thấy chỉ 15,8% học sinh thể hiện sự hứng thú với môn Công nghệ, trong khi 46,2% học sinh không thích học môn này.
Địa bàn khó khăn và nhận thức thấp của người dân ảnh hưởng đến sự ham muốn học tập môn công nghệ của học sinh Chương trình môn học quá rộng, kiến thức phong phú nhưng giáo viên chưa xác định rõ những nội dung cần truyền đạt, dẫn đến việc học sinh khó tiếp thu.
Bảng 2.2.2 Nguyên nhân chủ yếu làm học sinh chưa hứng thú với môn Công nghệ.
Năm học 2017 – 2018 Năm học 2018 – 2019 Tổng Lớp 11D4 Lớp 11D3 Lớp 11E2 Lớp 11E4
SL % SL % SL % SL % SL %
Do tiết học buồn tẻ, không lôi cuốn 17 38.6 17 40,5 16 36.4 18 43.9 68 39.8
Do nội dung kiến thức
SGK còn trừu tượng khó hiểu, nhiều lý thuyết 9 20.5 10 23.8 9 20.5 11 26.8 39 22.8
Do đó là môn học phụ 13 29.5 13 30.9 19 43.1 10 24.4 55 32.2 Ý kiến khác 05 11.4 02 4.8 0 0 02 4.9 9 5.2
Kết quả điều tra cho thấy học sinh thiếu hứng thú với môn học chủ yếu do chất lượng giảng dạy của giáo viên còn hạn chế, chiếm tới 39.8% tổng số học sinh được khảo sát Các tiết học thường đơn điệu, khô khan và không có sự mới mẻ, dẫn đến việc không thu hút được sự chú ý và sự sáng tạo từ học sinh Điều này ảnh hưởng đến khả năng thực hiện và sử dụng sơ đồ tư duy trong quá trình học tập, như thể hiện cụ thể ở bảng 2.2.3.
Bảng 2.2.3 Khả năng sử dụng sơ đồ tư duy trong học tập môn học công nghệ ở trường THPT Triệu Sơn 3.
Năm học 2017 – 2018 Năm học 2018 – 2019 Tổng Lớp 11D4 Lớp 11D3 Lớp 11E5 Lớp 11E4
SL % SL % % SL SL % SL %
Đa số học sinh hiện nay chưa hình thành thói quen sử dụng sơ đồ tư duy trong học tập, dẫn đến việc họ chưa nắm rõ cách thể hiện nội dung và kiến thức qua công cụ này Điều này ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng học tập, sự sáng tạo và tư duy của các em, khiến việc áp dụng sơ đồ tư duy trở nên khó khăn Hầu hết học sinh chỉ quen nghe giảng và ghi chép mà không chủ động tìm hiểu, vận dụng và sáng tạo trong quá trình học.
Mặt khác học sinh chưa có thói quen chuẩn bị đồ dùng học tập như giấy A4, bút màu, bút chì, tẩy hoặc bảng phụ trong tiết học
Để tạo sự hấp dẫn và cuốn hút cho học sinh trong các tiết học, giáo viên cần lựa chọn kiến thức, phương pháp và hình thức tổ chức phù hợp với từng bài học và đối tượng học sinh Việc này giúp tránh sự đơn điệu và khô khan, đồng thời khuyến khích học sinh phát triển kỹ năng sử dụng sơ đồ tư duy một cách thành thạo Đặc biệt, giáo viên cần chú ý đến nhu cầu tư duy và tâm lý khám phá cái mới của học sinh THPT để tạo ra môi trường học tập thú vị và hiệu quả.
Trong hai năm học 2017 – 2018 và 2018 - 2019, tôi đã áp dụng kỹ thuật sơ đồ tư duy vào dạy học môn công nghệ 11 tại trường THPT, sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng các nội dung tập huấn về dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh Kết quả ban đầu cho thấy học sinh rất hào hứng với các tiết học sử dụng sơ đồ tư duy, vì đây là cơ hội để các em thể hiện hiểu biết, bộc lộ khả năng và thế mạnh của mình, đồng thời chủ động hơn trong việc tiếp thu kiến thức và nội dung bài học.
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 3 1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
Trong sáng kiến kinh nghiệm, tôi áp dụng kỹ thuật sơ đồ tư duy để tăng cường hứng thú học tập và nâng cao hiệu quả học tập môn Công nghệ 11 tại trường THPT Các hoạt động trong bài học được thiết kế để khuyến khích sự tham gia của học sinh, từ đó giúp các em tiếp thu kiến thức một cách hiệu quả hơn.
2.3.1 Tổ chức dạy học bằng sơ đồ tư duy
Dựa trên nguyên tắc dạy học và lợi ích của kỹ thuật sơ đồ tư duy, phương pháp này có thể áp dụng cho nhiều loại bài học như bài mới, ôn tập, hệ thống chương hay giai đoạn, và đặc biệt là củng cố kiến thức Giáo viên hướng dẫn học sinh từ khái quát đến cụ thể, sử dụng sơ đồ tư duy với nội dung chìa khóa là cây cành nhánh, từ đó giúp học sinh mở rộng và phát triển thêm kiến thức.
Thực hiện dạy học bằng cách lập sơ đồ tư duy được tóm tắt qua 4 bước như sau:
- Bước 1: Học sinh lập sơ đồ tư duy theo nhóm hay cá nhân với gợi ý, hướng dẫn của giáo viên
- Bước 2: Học sinh hoặc đại diện của các nhóm lên báo cáo, thuyết minh về sơ đồ tư duy mà nhóm mình đã thiết lập.
Học sinh sẽ thảo luận, bổ sung và chỉnh sửa sơ đồ tư duy để hoàn thiện kiến thức bài học Giáo viên đóng vai trò là cố vấn, giúp học sinh hoàn chỉnh sơ đồ tư duy, từ đó dẫn dắt họ đến hiểu biết sâu sắc hơn về nội dung bài học.
Bước 4 trong quá trình củng cố kiến thức là sử dụng sơ đồ tư duy đã được giáo viên chuẩn bị hoặc do cả lớp cùng chỉnh sửa Học sinh sẽ trình bày và thuyết minh về kiến thức này Giáo viên hướng dẫn học sinh hệ thống hóa kiến thức bài học thông qua sơ đồ tư duy, giúp nâng cao khả năng ghi nhớ và hiểu bài học hiệu quả hơn.
Sơ đồ tư duy là một công cụ mở, và giáo viên khuyến khích học sinh sáng tạo với nhiều kiểu khác nhau Giáo viên chỉ nên can thiệp để chỉnh sửa kiến thức, đồng thời góp ý về đường nét, màu sắc và cấu trúc của sơ đồ nếu cần thiết.
- Ghi bảng: Giáo viên tóm tắt bài học bằng một sơ đồ kiến thức (Dàn bài)
Ví dụ 1: Dạy bài 7: “Hình chiếu phối cảnh” Công nghệ 11
Bài học này giúp học sinh hiểu rõ khái niệm hình chiếu phối cảnh và cách vẽ phác thảo hình chiếu phối cảnh đơn giản Để đạt được hiệu quả, giáo viên nên hướng dẫn học sinh hoạt động nhóm và thiết lập sơ đồ tư duy, từ đó phát triển khả năng tư duy sáng tạo và kỹ năng làm việc nhóm.
Hình chiếu phối cảnh là chìa khóa để xây dựng kiến thức từ những nội dung lớn đến nhỏ, như cây, cành và nhánh Việc này giúp học sinh tư duy và lựa chọn kiến thức, từ đó lập và phát triển thêm hiểu biết của mình.
Hoạt động 1: Lập sơ đồ tư duy
Giáo viên hướng dẫn học sinh tiếp cận nội dung chính của bài học bằng cách chia lớp thành 4 nhóm Mỗi nhóm sẽ vẽ một sơ đồ tư duy cho một nội dung chính và được hướng dẫn triển khai sơ đồ theo các vấn đề và nội dung liên quan.
- Lưu ý với học sinh nguyên tắc của sơ đồ tư duy là chỉ viết những nội dung chính, ngắn gọn, khi trình bày phát triển thêm
Hoạt động 2: Báo cáo, thuyết minh về sơ đồ tư duy
Cử học sinh hoặc đại diện của các nhóm trình bày sơ đồ tư duy giúp giáo viên đánh giá hiểu biết và kỹ năng thuyết trình của học sinh Hoạt động này không chỉ bổ sung kiến thức mà còn rèn luyện khả năng tự tin và mạnh dạn trước đám đông, góp phần phát triển kỹ năng sống cần thiết cho học sinh hiện nay.
Hoạt động 3: Thảo luận, chỉnh sửa, hoàn thiện sơ đồ tư duy
Tổ chức thảo luận cho học sinh nhằm bổ sung, chỉnh sửa và khắc sâu kiến thức, đồng thời hoàn thiện sơ đồ tư duy về nội dung đã tìm hiểu Giáo viên đóng vai trò cố vấn và trọng tài trong quá trình này Hoạt động 4 tập trung vào việc củng cố kiến thức thông qua việc xây dựng sơ đồ tư duy.
Giáo viên yêu cầu học sinh trình bày và thuyết minh kiến thức bài học thông qua sơ đồ tư duy đã chuẩn bị sẵn, có thể là vẽ trên bảng phụ hoặc sử dụng phần mềm mindmap Ngoài ra, học sinh cũng có thể sử dụng sơ đồ tư duy mà các em đã thiết kế và được cả lớp chỉnh sửa, hoàn thiện.
Sử dụng kỹ thuật sơ đồ tư duy dạy bài 7: Hình chiếu phối cảnh
2.3.2 Sử dụng kỹ thuật sơ đồ tư duy trong việc kiểm tra bài cũ
Thời gian kiểm tra bài cũ ngắn (5-7 phút) khiến yêu cầu của giáo viên thường đơn giản, dẫn đến việc học sinh chỉ cần ghi nhớ mà không hiểu sâu Để cải thiện tình trạng “học vẹt”, cần thay đổi phương pháp kiểm tra, chú trọng đến việc đánh giá nhận thức và hiểu biết của học sinh Việc áp dụng kỹ thuật sơ đồ tư duy trong giảng dạy giúp giáo viên kiểm tra nhiều học sinh hơn, tạo sự tự tin và giảm căng thẳng cho học sinh Sơ đồ tư duy thường được thiết kế thiếu thông tin, yêu cầu học sinh điền vào chỗ trống và nhận xét về mối quan hệ giữa các nhánh thông tin với từ khóa trung tâm, từ đó nâng cao chất lượng học tập và đánh giá chính xác hơn.
Ví dụ 1 : Để kiểm tra bài cũ phần I: Sơ lược lịch sử phát triển động cơ đốt trong - Bài 20 SGK công nghệ 11.
Giáo viên chia lớp thành 2 nhóm học sinh (mỗi nhóm 2-3 em) để hoàn thiện cây sơ đồ tư duy về lịch sử phát triển động cơ đốt trong, thông qua trò chơi “ai nhanh hơn” nhằm kích thích hứng thú học tập Sau khi hoàn thành, mỗi nhóm sẽ thuyết trình về sản phẩm và thảo luận về ô nhiễm môi trường do động cơ đốt trong gây ra Hoạt động này không chỉ giúp học sinh giảm căng thẳng khi kiểm tra bài cũ mà còn tránh tình trạng học vẹt, khuyến khích tư duy sáng tạo và củng cố kiến thức một cách sâu sắc Đồng thời, giáo viên có thể kiểm tra kiến thức của nhiều học sinh cùng lúc.
Các nhóm học sinh hoàn thành nội dung kiểm tra bài cũ qua sơ đồ tư duy
Sản phẩm sơ đồ tư duy của học sinh sau khi đã hoàn thành
Sơ đồ tư duy GV đã chuẩn bị được vẽ qua phần mềm mindmap
Ví dụ 2: Để kiểm tra bài cũ phần II: Nguyên lý làm việc của động cơ 4 kì - Bài
GV đã gọi hai nhóm học sinh, mỗi nhóm gồm 3 học sinh, lên kiểm tra sơ đồ tư duy về nguyên lý làm việc của động cơ 4 kỳ.
Nội dung: - Nhóm 1: Nguyên lý làm việc của động cơ điêzen 4 kì
- Nhóm 2: Nguyên lý làm việc của động cơ xăng 4 kì
Sau khi hoàn thành sơ đồ yêu cầu, nhóm sẽ cử đại diện trình bày nội dung đã thực hiện và thảo luận về vấn đề ô nhiễm môi trường do ngành động cơ đốt trong gây ra Đồng thời, nhóm cũng sẽ đề xuất các biện pháp khắc phục hiệu quả để giảm thiểu tác động tiêu cực này.
Học sinh thảo luận hoàn thành chuỗi sơ đồ tư duy giáo viên yêu cầu
2.3.3 Sử dụng kỹ thuật sơ đồ tư duy vào tìm hiểu từng nội dung kiến thức của bài học
Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
Đề tài SKKN đã tích cực góp phần vào phong trào đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng giáo dục tại trường THPT Triệu Sơn 3 Sau khi áp dụng các giải pháp, học sinh đã nhận ra giá trị của môn công nghệ, từ đó tìm thấy niềm đam mê trong học tập và hiểu rằng kiến thức này là nền tảng cho các chương trình đào tạo sau này Việc đổi mới phương pháp dạy học không chỉ làm cho tiết học trở nên sinh động mà còn kích thích khả năng tư duy, sáng tạo và thẩm mỹ của học sinh Tôi đã hướng dẫn các em sử dụng sơ đồ tư duy để tự học các môn khác, qua đó nâng cao hiệu quả học tập Để đánh giá khách quan, tôi đã thực hiện phiếu điều tra về hứng thú học tập của học sinh với môn công nghệ và nhận thấy sự cải thiện rõ rệt sau một năm áp dụng các giải pháp.
Bảng 2.4.1: Kết quả thống kê về hứng thú học tập của học sinh đối với môn công nghệ của các lớp qua kết quả khảo sát cuối năm học.
Lớp 11D4 Lớp 11D3 Lớp 11E2 Lớp 11E4 Tổng
SL % SL % SL % SL % SL % SL %
So sánh các bảng thống kê cho thấy số lượng học sinh hứng thú với môn Công nghệ ở các lớp cuối năm học đã tăng rõ rệt, từ 15.8% lên 54.7% trong năm học 2017-2018, trong khi số học sinh không thích giảm từ 46.2% xuống 5.8% Năm học 2018-2019, sau khi ứng dụng đề tài, tỉ lệ học sinh rất thích môn học đã tăng lên 70.6%, cho thấy sự thu hút mạnh mẽ từ bộ môn Công nghệ Kết quả này cho thấy học sinh đã yêu thích và có nhận thức đúng đắn về việc học tập môn học Để kiểm chứng hiệu quả của việc sử dụng sơ đồ tư duy, tôi đã cho hai lớp làm bài kiểm tra ở hai thời điểm trước và sau tác động, nhằm đánh giá kết quả học tập trong môn Công nghệ.
Kết quả bài kiểm tra được thống kế như sau:
Lớp đối chứng Lớp thực nghiệm Điểm trung bình 5,63 5,54
Chênh lệch điểm trung bình (SMD) 0,09
Lớp đối chứng Lớp thực nghiệm Điểm trung bình 5,80 6,83
Chênh lệch điểm trung bình (SMD) 1,03
So sánh kết quả: Năm học 2018 – 2019 tôi đã áp dụng các giải pháp nêu trong đề tài vào thực tiễn dạy học, cụ thể:
Lớp đối chứng 11E5 năm học 2018- 2019, sĩ số 41: tôi dạy các chủ đề trên nhưng không sử dụng các giải pháp như đã nêu trong đề tài.
Lớp thực nghiệm 11E4 năm học 2018 - 2019, sĩ số 41: tôi dạy các chủ đề trên bằng cách sử dụng các giải pháp như đã nêu trong đề tài.
Bảng 3 và bảng 4 chỉ ra rằng sự chênh lệch điểm trung bình giữa các lớp thực nghiệm và lớp đối chứng là rất đáng kể, với điểm trung bình của lớp thực nghiệm luôn cao hơn lớp đối chứng Điều này cho thấy kết quả không phải ngẫu nhiên mà là do tác động của phương pháp giảng dạy.
Trong năm học 2018 – 2019, việc áp dụng kỹ thuật sơ đồ tư duy tại trường THPT Triệu Sơn 3 đã chứng minh được hiệu quả rõ rệt với SMD = 1,03 Kết quả bài kiểm tra sau can thiệp cho thấy lớp thực nghiệm 11E4 đạt điểm trung bình 6,83, cao hơn lớp đối chứng 11E5 với điểm trung bình 5,80 Sự chênh lệch điểm số giữa hai lớp là 1,03, cho thấy lớp thực nghiệm đã có sự tiến bộ rõ rệt so với lớp đối chứng.
Qua quan sát thực tế từ việc giảng dạy, lớp 11E4 thể hiện sự học tập tích cực với tư duy tốt, trong khi lớp 11E5 gặp khó khăn về kỹ năng và khả năng tư duy Hai lớp này có nhiều điểm tương đồng về ý thức học tập, đặc biệt là năng lực học tập và kết quả điểm kiểm tra môn công nghệ trước khi tác động.
Trong tiết học sôi nổi, học sinh thể hiện sự hứng thú và chủ động trong việc khai thác kiến thức 100% học sinh trong lớp đã hoàn thành các yêu cầu của câu hỏi và đạt được kết quả cụ thể.
Dựa trên những kết quả đạt được, tôi tự tin khẳng định rằng các giải pháp trong đề tài là khả thi và có thể áp dụng hiệu quả trong giảng dạy Việc ứng dụng sáng kiến kinh nghiệm vào dạy học môn công nghệ 11 là một biện pháp hiệu quả nhằm nâng cao hứng thú học tập và giúp học sinh học tốt hơn trong môi trường giáo dục hiện nay.