Một trong nhữngphương pháp và kỹ thuật dạy học theo hướng đổi mới mà tôi đã áp dụng và manglại hiệu quả tích cực là dạy học phù hợp với tình hình mới, kiểm tra đánh giá kếtquả học tập củ
Trang 1MỤC LỤC
Trang
1 Mở đầu 1
1.1 Lí do chọn đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Đối tượng nghiên cứu 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu 2
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 3
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 3
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 3 2.3 Các sáng kiến kinh nghiệm và giải pháp thực hiện 5 2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường 12 3 Kết luận, kiến nghị 15
3.1 Kết luận 15
3.2 Kiến nghị 16
Tài liệu tham khảo 18
Trang 21 MỞ ĐẦU:
1.1 Lí do chọn đề tài.
Môn Địa lý là một trong số những môn học mang lại nhiều hứng thú họctập cho học sinh Thông qua các bài học, các chuyên đề môn Địa lý đã cung cấpcho học sinh kiến thức về sự vật, hiện tượng địa lí, các mối quan hệ giữa chúngvới nhau và hơn hết bồi dưỡng nhân cách, giáo dục lòng yêu nước, ý thức bảo vệchủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc
Trong những năm qua, mặc dù nền giáo dục nước ta liên tục đổi mớinhưng theo các thăm dò thống kê cho thấy môn Địa lý vẫn là môn được học sinhyêu thích và lựa chọn nhiều nhất Bởi vì, so với nhiều môn xã hội ( như môn Lịchsử) môn Địa lý không đòi hỏi học sinh phải ghi nhớ máy móc, kiến thức lại liênquan nhiều đến thực tiễn đời sống, những hình ảnh vô cùng trực quan và có nhiềubài tập vận dụng kiến thức của các môn học khác Vì vậy không gây cảm giácnhàm chán, luôn kích thích khả năng tư duy, khắc sâu kiến thức cho học sinh vàviệc rèn luyện để hình thành những kĩ năng địa lý cho học sinh cũng vô cùngthuận lợi
Trước năm 2015, thi tốt nghiệp THPT và thi Đại học - Cao đẳng tách biệtthành hai kì thi riêng Học sinh đậu Tốt nghiệp mới đủ điều kiện tham gia kì thiĐại học - Cao đẳng Ở kì thì thi tốt nghiệp, tùy theo phương án lựa chọ của Bộgiáo dục về số lượng môn thi và các môn thi Nên có năm môn Địa lý là môn thitốt nghiệp, có năm thì môn Sử; còn kì thi Đại học - Cao đẳng thì vẫn thi theokhối Trong tổ hợp môn khối C (Văn - Sử - Địa) thì môn Địa vẫn thường là mônthí sinh được điểm cao hơn,dễ học và hứng thú học hơn
Năm học 2015 - 2016, gộp hai kì thi tốt nghiệp THPT và thi Đại học - Caođẳng thành một kì thi lấy tên là thi THPT quốc gia Trong đó học sinh THPT phảithi 3 môn bắt buộc (Toán - Văn - Ngoại Ngữ) và một môn tự chọn Vì vậy cónhiều người thường nói “thời kì môn Địa lên ngôi”, với thống kê cho thấy 2/3 thísinh đăng kí môn Địa là môn thi tự chọn thứ tư để xét tốt nghiệp Thực tế chothấy, môn Địa không những là môn “chống liệt” mà nó còn là môn “cứu cánh”cho các môn thi khác để tính điểm bình quân đạt trên 5,0 (Đậu tốt nghiệp)
Năm 2017, Bộ giáo dục lại có thay đổi lớn trong phương án tuyển sinh, vớirất nhiều điểm mới khiến cho các trường, các giáo viên và gần hàng triệu họcsinh các khối THPT không tránh khỏi băn khoăn, lo lắng Tất cả các môn thi (trừmôn Văn) đều thi bằng hình thức thi trắc nghiệm Việc học tập của học sinh đốivới các môn xã hội đã khó, việc ghi nhớ phạm vi kiến thức rộng, yêu cầu chínhxác hiện nay lại càng khó hơn Các em không nhớ kiến thức theo mảng rộng,trình bày theo ý hiểu, “mang máng” nữa mà lại phải cần chính xác, phủ kín kiếnthức Năm 2017, nội dung chương trình thi ở lớp 12; năm 2018, nội dung chươngtrình thi là cả lớp11 và lớp 12; năm 2019 nội dung chương trình thi ở cả 3 lớp.Một thách thức lớn đặt lên đôi vai của giáo viên
Trong lộ trình đổi mới giáo dục, cần phải có những định hướng tốt, nhữnggiải pháp thiết thực để phát huy được năng lực và huy động được sự làm việc tối
đa của học sinh, để học sinh vẫn yêu thích môn Địa lý để học sinh đạt điểm cao
Trang 3nhất trong các bài trắc nghiệm Địa lý Đây là những điều khiến tôi phải trăn trở,suy nghĩ và không ngừng làm mới mình trong các giờ lên lớp Một trong nhữngphương pháp và kỹ thuật dạy học theo hướng đổi mới mà tôi đã áp dụng và manglại hiệu quả tích cực là dạy học phù hợp với tình hình mới, kiểm tra đánh giá kếtquả học tập của học sinh bằng việc sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan.
Bằng những kết quả đã đạt được trong thời gian qua, tôi xin chia sẻ cùng
quý đồng nghiệp kinh nghiệm “Phương pháp sử dụng hình thức trắc nghiệm khách quan trong dạy học, kiểm tra đánh giá kết quả học tập Địa lý THPT”.
Mong rằng đề tài này sẽ giúp cho quý đồng nghiệp và các em học sinh đạt hiệuquả tối ưu hơn trong quá trình dạy và học môn Địa lý đồng thời cũng mong gópmột phần nhỏ trong việc nâng cao chất lượng dạy học địa lí trong nhà trườngTHPT hiện nay Rất mong được các thầy cô và đồng nghiệp góp ý để đề tài nàyhoàn thiện hơn
1.2 Mục đích nghiên cứu
Môn Địa lý là một trong những môn xã hội, từ trước đến nay, hình thức thichủ yếu là tự luận Giáo viên và học sinh đã làm quen và có nhiều kinh nghiệm
trong dạy và học, ôn tập và thi bằng hình thức tự luận Kể từ năm học 2016
-2017, chuyển hoàn toàn sang hình thức trắc nghiệm Đề án thi THPT quốc gianày lộ trình sẽ được thực hiện trong thời gian dài chứ không phải chỉ một nămhọc, vì vậy tâm lý của giáo viên và học sinh đang rất hoang mang Để môn Địa lý
là một môn “Cứu cánh”, đạt hiệu quả cao và mang lại sự hứng thú cho người họcthì đòi hỏi giáo viên phải là người “tìm đường”, có nhiều kinh nghiệm trong rèn
luyện kĩ năng trong dạy học, ôn tập và thi cho học sinh.
Đề tài nghiên cứu này nhằm hệ thống lại và đưa ra một số kinh nghiệm,lưu ý của bản thân trong dạy học địa lý phù hợp với tình hình mới để chia sẻ vớibạn bè, đồng nghiệp
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài này nghiên cứu về phương pháp sử dụng hình thức trắc nghiệmkhách quan trong dạy học, kiểm tra đánh giá kết quả học tập Địa lý THPT Qua
đó rút ra phương pháp và vận dụng thực tế trong dạy học Địa lý chương trình lớp
12 - Cơ bản
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết: Thông qua việc thuthập thông tin từ sách báo, tài liệu để xây dựng những khái niệm, phương pháp,
kĩ năng cơ bản nhất liên quan đến dạy học địa lý bằng hình thức trắc nghiệmkhách quan
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin: Dựa vào nhữngcâu hỏi đặt ra cho học sinh trong quá trình giảng dạy, thu thập thông tin, khảo sát,kiểm chứng làm sáng tỏ và rút ra nhận xét cần thiết về tính cấp thiết của đề tài
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu: Tiến hành thu thập các số liệu liênquan, sau đó phân tích tổng hợp, xử lý số liệu, chọn lọc số liệu liên quan đưa vàophục vụ nghiên cứu làm sáng tỏ vấn đề đặt ra của đề tài
Trang 42 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm:
Ở nước ta, trong quá trình cải cách giáo dục – đào tạo, mục tiêu, chươngtrình, nội dung giáo dục – đào tạo đã thay đổi nhiều lần cho phù hợp với yêu cầuphát triển kinh tế - xã hội và đã đạt được những tiến bộ đáng khích lệ Tuy nhiên,những thay đổi về phương pháp dạy - học, kiểm tra đánh giá xếp loại học sinhcòn quá ít, quá chậm Phương pháp đang được sử dụng phổ biến trong các trườnghọc chủ yếu là thuyết giảng có tính chất áp đặt của thầy, coi nhẹ hoạt động tíchcực, chủ động của trò
Mục tiêu giáo dục mà Đảng ta đã đề ra là đào tạo “người lao động tự chủnăng động, sáng tạo” Để khắc phục tình trạng này, Nghị quyết TƯ 2, Khóa VIII,BCH Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam đã đề ra nhiệm vụ: “ Đổi mới mạnh
mẽ phương pháp giáo dục, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thànhnếp tư duy sáng tạo cho người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến
và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo thời gian tự học, tựnghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên đại học Phát triển phong trào tự học,
tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân nhất là trong thanh niên”(Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Khóa VIII ĐảngCộng sản Việt Nam NXB Chính trị Quốc gia 1997 tr41)
Một xu hướng chung của đổi mới phương pháp dạy học đại học là đổi mớitheo quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm Quan điểm này có cơ sở lýluận từ việc nhận thức quá trình dạy học là quá trình có hai chủ thể: Thầy và trò
Cả hai chủ thể này đều chủ động, tích cực, bằng hoạt động của mình hướng tới trithức, thầy thì hoạt động truyền đạt tri thức, còn trò thì hoạt động chiếm lĩnh trithức và biến nó thành vốn hiểu biết của mình để tiếp tục hoạt động nhận thức vàhoạt động thực tiễn… Đây là quan điểm dạy học được đa số các nước có nềngiáo dục tiên tiến quan tâm Phương pháp dạy học chúng ta phải chú ý đến cảphương pháp dạy của thầy và phương pháp học của trò, phương pháp kiểm trađánh giá kết quả học tập của học sinh
Xuất phát từ sự chỉ đạo của ngành giáo dục đào tạo qua các năm về đổimới phương pháp dạy học Coi trọng kiểm tra kĩ năng vận dụng của học sinh,tăng cường áp dụng những kỹ thuật dạy học tích cực nhằm định hướng phát triểnnăng lực cho học sinh
Xuất phát từ đề án xây dụng phương pháp thi THPT quốc gia từ năm 2016đến năm 2018, đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá, thi cử của học sinh sangtrắc nghiệm (trừ môn Ngữ văn)
2.2 Thực trạng trước khi áp dụng hình thức trắc nghiệm khách quan trong dạy học, kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh THPT.
a Về phía học sinh:
- Do phương án thi THPT quốc gia từ năm học 2016 - 2017 có nhiều thayđổi, môn học không mang tính chất định hướng nghề nghiệp nên nhiều học sinhkhông lựa chọn môn Địa lý làm môn xét tuyển Đại học Nhất là với những em
Trang 5học sinh muốn thi vào những trường công an.
- Phần lớn học sinh không quan tâm, không hứng thú, không đam mê, và
có thái độ thờ ơ đối với môn học Địa lý Vì vậy học sinh chỉ học và coi môn địa
lý là môn dễ lấy điểm, chống điểm liệt và xét tốt nghiệp
- Trong quá trình dạy học, giáo viên thường áp dụng hình thức trình bàychủ yếu theo bố cục văn xuôi, khi kiểm tra giáo viên lại yêu cầu học sinh trìnhbày “bài bản” các tiểu ý, luận cứ, luận điểm cấu thành một bài văn xuôi để hoànchỉnh một vấn đề đặt ra Do đó học sinh phải ghi nhớ máy móc, rập khuôn Nếuthiếu một luận cứ xem như bài làm chưa hoàn chỉnh Hơn nữa nội dung kiểm trachỉ liên quan tới một vài mảng kiến thức nhất định trong khi đó quá trình học tậpkiến thức phải phủ kín trong toàn bộ chương trình
Từ những nhược điểm trên đã gây nên những hậu quả cho người học như:mất khả năng tập trung; mất tự tin vào bản thân, buồn chán, thất vọng, đánh mất
sự đam mê học hỏi…
Năm học 2016 - 2017, bộ giáo dục đã công bố chính thức phương án tuyểnsinh, một điều đáng buồn là các trường Công an không lấy khối C (Văn - Sử -Địa) như các năm mà thay vào đó là tổ hợp môn mới (Toán - Văn - Sử), điều này
có nhiều bất lợi cho môn Địa và những học sinh tố chất thực sự, yêu thích vàmuốn thi vào các trường Công an Vì vậy, để theo đuổi nguyện vọng của bảnthân, gia đình, học sinh không còn say mê đối với môn Địa lý nhiều như trước
b Về phía phu huynh học sinh:
Phần lớn phụ huynh chưa có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng củamôn học; có tư tưởng xem nhẹ, không khuyến khích con em có những địnhhướng đúng đắn phù hợp trong quá trình học tập bộ môn
Một bộ phận phụ huynh ít quan tâm đến việc học của học sinh, làm chocác em không có được sự tập trung, thiếu định hướng từ phía gia đình dẫn đếncác em lơ là việc học, kiến thức lỏng lẻo
c Đối với bộ môn Địa lý:
Môn địa lý là một môn khoa học tổng hợp: vừa chứa đựng các kiến thức tựnhiên với nhiều qui luật tự nhiên khác nhau; vừa chứa đựng những kiến thức xãhội với những số liệu khó nhớ, lại luôn thay đổi Kiến thức của môn địa lý vừamang tính cụ thể, vừa có tính trừu tượng của không gian địa lý vì thế môn địa
lý làm cho học sinh khó đạt được điểm cao khi thi và kiểm tra
Nhiều nội dung trong chương trình còn mang tính hàn lâm, chưa thực tiễnkhiến các em khó khăn trong việc tiếp nhận và lĩnh hội kiến thức
Việc thay đổi hình thức thi từ tự luận sang trắc nghiệm khiến cho môn họccàng trở nên phức tạp, “khó tiêu hóa” hơn, đòi hỏi người học phải có kiến thứcsâu rộng, nắm chắc kiến thức, và đặc biệt phải luôn luôn so sánh, tổng hợp kiếnthức liên quan
d Đối với giáo viên và nhà trường.
Mặc dù có nhiều nỗ lực đển trang bị cơ sở vật chất, phương tiện dạy học
Trang 6nhưng nhìn chung vẫn còn thiếu thốn, việc dạy địa lý trong nhà trường hiện naychỉ coi trọng dạy kiến thức, mà chưa coi trọng dạy các kỹ năng địa lý; chưa thực
sự phát huy được năng lực của học sinh nên khi học xong các em quên khá nhiềukiến thức
So với việc dạy học, kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh bằng
tự luận hình thức trắc nghiệm khách quan cũng không phải là mới nhưng đã mộtthời gian dài không áp dụng nên hiện nay vẫn còn rất trẻ, giáo viên giảng dạy, tàiliệu dạy học còn rất đơn điệu, các nguồn trên mạng Internet chưa phải là chínhthống, chưa được thẩm định nên việc dạy học, kiểm tra, đánh giá còn rất lúngtúng Nhất là phương pháp giúp học sinh tiếp cận và làm tốt các bài kiểm trađánh giá
2.3 Các sáng kiến kinh nghiệm và giải pháp thực hiện:
- Trắc nghiệm khách quan (TNKQ) là phương pháp kiểm tra đánh giá bằng
hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan Cách cho điểm hoàn toàn không phụthuộc vào người chấm
- TNKQ được sử dụng khá nhiều trong quá trình giảng dạy và kiểm trađánh giá kết quả học tập của học sinh như: Kiểm tra miệng, vào bài mới, củng cốbài học, hướng dẫn học tập ở nhà, ôn tập và kiểm tra 15 phút, kiểm tra 1 tiết, học
kì - cuối năm và thi THPT quốc gia
- TNKQ bao gồm nhiều loại: Trắc nghiệm nhiều lựa chọn, trắc nghiệmđúng - sai, trắc nghiệm điền khuyết và trắc ngiệm theo hình thức ghép đôi Thôngthường và phổ biến nhất là loại trắc nghiệm nhiều lựa chọn
- Căn cứ vào mục đích dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập củahọc sinh mà giáo viên sử dụng hình thức trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọnnhư thế nào cho phù hợp, hiệu quả, đảm bảo yêu cầu:
Tính toàn diện: Nội dung phải được kiểm tra đầy đủ, thích hợp; xuất phát từ
mục tiêu: Việc kiểm tra cần đạt được yêu cầu cả về kiến thức và kĩ năng
Tính phân hóa: Tiêu chí kiểm tra cần phân loại được những mức độ cần đạt
(biết, hiểu, vận dụng ), thành thạo các kĩ năng cơ bản…
2.3.1 Sử dụng câu hỏi TNKQ trong kiểm tra bài cũ:
a Mục đích:
- Trong nội dung chương trình giáo dục, sách giáo khoa được biên soạn dướidạng “hình soắn ốc” Kiến thức mở rộng hơn theo cấp học và bài học, các bài phíasau minh họa cho những nhận định ở các bài phía trước Vì thế, kiểm tra bài cũ làmột công đoạn không thể thiếu, không thể bỏ qua trong tiến trình dạy học
- Kiểm tra bài cũ nhằm giúp học sinh tri thức lại bài cũ, củng cố lại nộidung kiến thức, kĩ năng từ đó học sinh sẽ dễ dàng tiếp thu kiến thức bài mới, có
so sánh, liên hệ với các mảng kiến thức với nhau tạo thành một chuỗi kiến thứcchặt chẽ Tuy nhiên thời gian cho công đoạn này chỉ khoảng từ 3 - 7 phút, kiểmtra từ 2 học sinh trở lên
b Yêu cầu:
Trang 7- Tuy là kiểm tra bài cũ nhưng hệ thống câu hỏi TNKQ vẫn phải đảm bảotheo chuẩn kiến thức kĩ năng và những mức độ cần đạt (Nhận biết, thông hiểu,vận dụng thấp, vận dụng cao).
- Đảm bảo đúng nguyên tắc của câu hỏi TNKQ
- Kiểm tra bài cũ có thể tiến hành trong 5 phút đầu giờ sau khi ổn định lớp
- Phương tiện hỗ trợ: máy chiếu, hệ thông câu hỏi TNKQ được biên soạn sẵn
Câu 1: Tập hợp các thiên thể nằm trong Dải ngân hà gọi là (mức độ nhận biết)
A Thiên hà B Vũ trụ C Hệ mặt Trời D Trái Đất
Câu 2: Khoảng cách trung bình từ Trái Đất đến Mặt Trời là (mức độ nhận biết)
A 146.9 triệu km B 149.6 triệu km C 194.6 triệu km D 164.9 triệu km
Câu 3: Hiện tượng luân phiên ngày đêm là do (mức độ thông hiểu)
A Trái đất quay quanh Mặt Trời B Trái đất ở vị trí thứ 3 trong Hệ Mặ Trời
C Trái đất tự quay quanh trục D Trái đất hình cầu
Câu 4: Khi chuyển động quanh trục, mọi địa điểm trên Trái đất đều thay đổi vị
trí trừ (mức độ thông hiểu)
A hai bên xích đạo B hai chí tuyến C hai cực D hai vùng ôn đới
Câu 5: Ngày Trái đất ở gần Mặt trời nhất là (mức độ vận dụng)
A 1/1-3/1 B 5/1-7/1 C 1/7 - 3/7 D 5/7 - 7/7
Câu 6: Vào lúc 19 giờ ngày 14/2/2017 tại Hà Nội (Việt Nam) khai mạc
SEAGAME 29, lúc đó là mấy giờ, ngày bao nhiêu tại Sơ Un (120 0 Đ)? (mức độ vận dụng)
A 18 giờ 14/2/2017 B 20 giờ 14/2/2017
Trong cấu trúc của câu hỏi trắc nghiệm khách quan gồm hai bộ phận cấuthành: Câu dẫn và các phương án lựa chọn Khi kiểm tra bài cũ, mỗi học sinhphải trả lời nhiều câu hỏi với nhiều phương án khác nhau, trong đó chỉ được lựachọn một phương án, ba phương án còn lại là các phương án nhiễu, nếu giáo viênđọc cho học sinh nghe và lựa chọn đáp án sẽ rất khó nhớ Vì vậy, để quá trìnhkiểm tra bài cũ đạt hiệu quả cao nhất bắt buộc giáo viên phải ứng dụng công nghệthông tin hỗ trợ cho tiết dạy của mình
Giáo viên sử dụng công nghệ thông tin để đưa hệ thống câu hỏi TNKQ lên.Gọi học sinh lựa chọn đáp án, ghi các đáp án lên bảng (Yêu cầu học sinh lý giảinếu cần) Sau đó gọi học sinh khác nhận xét, giáo viên chốt kiến thức và chođiểm
Trang 8Việc sử dụng hình thức TNKQ trong kiểm tra bài cũ không chỉ khắc phụcđược những hạn chế đã đề cập ở trên mà còn khiến cho học sinh trở nên yêu thích
và học tập tập trung hơn Chỉ cần từ 5 - 7 phút giáo viên có thể kiểm tra số lượnghọc sinh tùy ý, học sinh không cần ghi nhớ máy móc mà kĩ năng vận dụng rất cao
Cái hay của phương pháp sử dụng TNKQ để kiểm tra bài cũ đan xen trongkhi dạy bài mới là không tạo cảm giác nặng nề cho học sinh, học sinh dễ dàngtiếp thu bài mới trên cơ sở sử dụng kiến thức bài cũ để trình bày
2.3.2 Sử dụng câu hỏi TNKQ trong củng cố kiến thức và hướng dẫn học tập
a Mục đích:
Sau một tiết học, việc củng cố nội dung bài học nhằm mục đích chốt lạikiến thức trọng tâm, khắc sâu nội dung kiến thức bài học Phương pháp dạy họcbài mới hiện nay về cơ bản vẫn không thay đổi so với trước kia Nghĩa là ngườigiáo viên vẫn phải cho học sinh tìm hiểu, phát hiện kiến thức và trình bày dướidạng các ý lớn ý nhỏ tương ứng với từng đề mục trong chuẩn kiến thức kĩ năng
Tuy nhiên tùy từng phần, từng bài giáo viên có thể sử dụng kết hợp với các
sơ đồ tư duy để gợi mở vấn đề và hệ thống lại kiến thức Công việc này khôngphải giáo viên nào cũng làm tốt, có một số giáo viên lại chỉ làm qua loa, thậm chícòn bỏ qua nên hiệu quả của dạy học không cao
Cũng giống như kiểm tra bài cũ, thời gian trong tiết học dành cho củng cố
và hướng dẫn học tập không nhiều Giáo viên thường chỉ sử dụng một số câu hỏi
có tính chất khái quát vấn đề và yêu cầu học sinh trả lời hoặc giao bài tập về nhà.Với cách làm trên khiến cho học sinh không tập trung, việc làm bài tập chỉ mangtính hình thức, đối phó Thực tế cho thấy rằng, có rất nhiều học sinh không thamgia vào hoạt động củng cố bài và hướng dẫn học tập của giáo viên, vì các em chorằng: “lại” chỉ là nhắc lại những kiến thức đã được nói đến trước đó, ngay trongtiết học Điều này khiến cho phần lớn học sinh không hứng thú, không chủ độngtham gia Tiết học vì thế mà không hiệu quả
Sử dụng hình thức TNKQ trong phần củng cố và hướng dẫn học tập sẽkhiến cho không khí tiết học sôi nổi hơn do học sinh cảm thấy được làm chủ cáchoạt động học tập của mình, thể hiện sự sáng tạo dưới sự dẫn dắt của giáo viên;thể hiện vai trò chủ thể của bản thân trên con đường tiếp nhận, lĩnh hội tri thức
b Yêu cầu:
- Trong bài học mới, giáo viên có thể biên soạn được nhiều câu hỏi TNKQ
Trang 9khác nhau theo từng mức độ kiến thức (Biết, hiểu, vận dụng thấp, vận dụng cao).Tuy nhiên vẫn phải bám vào và đạt chuẩn kiến thức kĩ năng.
- Thời gian sử dụng trong phần củng cố và hướng dẫn học tập cũng ít (Chỉkhoảng 5-7 phút) nên việc đưa ra các câu hỏi củng cố bài cũng phải được chọnlọc, sao cho bao hàm nội dung của bài học
- Phần củng cố và hướng dẫn học tập được tiến hành trong khoảng 5 -7phút cuối giờ sau khi kết thúc bài học mới
- Phương tiện hỗ trợ: máy chiếu, hệ thông câu hỏi TNKQ được biên soạnsẵn GV cũng có thể sử dụng sơ đồ tư duy trong việc củng cố kiến thức giúp họcsinh hệ thống nội dung chính của bài
- Có thể yêu cầu học sinh dựa vào nội dung kiến thức bài học, và các bài
mẫu của giáo viên hãy thử thiết lập một số câu trắc nghiệm (Yêu cầu này có thể
áp dụng cho các lớp chuyên, có kĩ năng làm việc tốt với Atlat, biểu đồ, bảng sốliệu và khả năng tư duy logic)
c Ví dụ:
Sau khi dạy xong bài 17: Lao động và việc làm (Địa lý 12 – chương trình
cơ bản) Giáo viên phát phiếu bài tập cho học sinh hướng dẫn các em về làm bài
tập ở trên lớp Phiếu bài tập củng cố kiến thức và ôn tập này nếu chưa hoàn thànhhọc sinh có thể tiếp tục hoàn thiện tại nhà Giáo viên đưa ra các câu hỏi TNKQ
(Chi tiết trong phần phụ lục)
Ở trên lớp, giáo viên sử dụng một số câu hỏi TNKQ sau:
Câu 1 Đặc tính nào sau đây không đúng hoàn toàn với lao động nước ta? (mức
độ nhận biết)
A Cần cù, sáng tạo
B Có khả năng tiếp thu, vận dụng khoa học kĩ thuật nhanh
C Có ý thức tự giác và tinh thần trách nhiệm cao.
D Có kinh nghiệm sản xuất nông, lâm, ngư phong phú
Câu 2 Trong cơ cấu lao động có việc làm đã qua đào tạo (2005), chiếm tỉ lệ cao
nhất là lao động (mức độ nhận biết)
A có chứng chỉ nghề sơ cấp. B Trung học chuyên nghiệp
C Cao đẳng, đại học và trên đại học D Thạc sĩ, tiến sĩ
Câu 3 Trong những năm tiếp theo chúng ta nên ưu tiên đào tạo lao động có trình
độ (mức độ nhận biết)
A Đại học và trên đại học B Cao đẳng
C Công nhân kĩ thuật. D Trung cấp
Câu 4 Ở nước ta, việc làm đang là vấn đề xã hội gay gắt vì (mức độ thông hiểu)
A số lượng lao động cần giải quyết việc làm hằng năm cao hơn số việc làm mới
B nước ta có nguồn lao động dồi dào trong khi nền kinh tế còn chậm phát triển
C nước ta có nguồn lao động dồi dào trong khi chất lượng lao động chưa cao
Trang 10D tỉ lệ thất nghiệp và tỉ lệ thiếu việc làm trên cả nước còn rất lớn.
Câu 5 Lao động phổ thông tập trung quá đông ở khu vực thành thị sẽ (mức độ
thông hiểu)
A có điều kiện để phát triển các ngành công nghệ cao
B khó bố trí, sắp xếp và giải quyết việc làm.
C có điều kiện để phát triển các ngành dịch vụ
D giải quyết được nhu cầu việc làm ở các đô thị lớn
Câu 6 Dựa vào Atlat Địa lý Việt Nam - trang 15, hãy cho biết tỉ trọng lao động
phân theo khu vực kinh tế của nước ta thấp nhất là ở khu vực (mức độ vận dụng)
A Công nghiệp, xây dựng. B Nông, lâm, ngư
C Dịch vụ D Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Câu 7 Cho bảng số liệu sau: Cơ cấu lao động phân theo thành thị, nông thôn
năm 1996 và năm 2005 (Đơn vị %) (Mức độ vận dụng)
Câu 8 Cho bảng số liệu sau: Cơ cấu lao động phân theo thành thị, nông thôn
năm 1996 và năm 2005 (Đơn vị %) (Mức độ vận dụng)
Nhận định nào không đúng về cơ cấu lao động phân theo thành thị, nông thôn
năm 1996 và năm 2005?
A Tỉ lệ lao động thành thị có xu hướng tăng
B Tỉ lệ lao động nông thôn có xu hướng giảm
C Lao động nông thôn chiếm tỉ lệ cao hơn lao động thành thị
D Thành thị luôn tập trung nhiều lao động hơn.
e Hiệu quả:
Có thể nói khi sử dụng hình thức TNKQ trong khâu củng cố hướng dẫnhọc tập giáo viên có sự linh hoạt, đan xen sử dụng nhiều phương pháp dạy họctích cực, nhằm làm mới bài giảng của mình và đồng thời kích thích được khảnăng làm việc và tư duy sáng tạo của học sinh
Với cách làm này việc học tập của học sinh không chỉ dừng lại trên lớp,trong tiết học mà có thể ở nhà, trong hoạt động nhóm tại địa phương Hiệu quảcủa phương pháp này rất cao Nếu trên lớp học sinh chưa hoàn thiện được phần
Trang 11bài tập củng cố, giáo viên yêu cầu học sinh tiếp tục hoàn thiện ở nhà trên cơ sởkiến thức trên lớp Trong khâu củng cố này, theo tôi nên kết hợp cả việc sử dụng
sơ đồ tư duy và câu hỏi TNKQ
2.3.3 Sử dụng câu hỏi TNKQ trong ôn tập kiểm tra.
a Mục đích:
Để đánh giá kết quả Dạy và Học trong hoạt động của người giáo viên và
học sinh không thể thiếu được các bài kiểm tra thường xuyên và kiểm tra định kì.Khả năng ghi nhớ của học sinh càng dễ dàng bao nhiêu thì sự “Quên” lại càngdiễn ra nhanh bấy nhiêu Chính vì vậy, để nâng cao chất lượng của các bài kiểmtra thì cần phải tiến hành ôn tập
b Yêu cầu:
- Sau mỗi tiết học, giáo viên đều có phần củng cố và hướng dẫn học sinhhọc tập ở nhà, hầu như các câu hỏi trong nội dung bài học đều được giáo viênbiên soạn và yêu cầu học sinh hoàn thiện ở nhà Vì vậy trong nội dung ôn tập,giáo viên cần ôn tập lai toàn bộ phần lý thuyết trọng tâm, nêu chủ đề và yêu cầuhọc sinh trình bày Sau đó đưa ra các câu hỏi TNKQ đã biên soạn sẵn
- Ngoài các câu TNKQ đã cho học sinh làm trong phần củng cố và ôn tập ởnhà, giáo viên cần đưa nhiều câu TNKQ có liên quan đến các bài khác, tìm ramối liên hệ giữa các đối tượng địa lý, các mảng kiến thức liên quan đến nhiều bàihọc mà trong phần củng cố,kiểm tra bài cũ chưa thể tiến hành
- Nếu ôn tập trên lớp: Trước tiên giáo viên ôn lại hệ thống kiến thức theo
từng chủ đề Yêu cầu học sinh nhắc lại phần kiến thức trọng tâm trong các chủ
đề, học sinh khác nhận xét và giáo viên đánh giá, bổ sung Sau đó giáo viên sửdụng máy chiếu đưa lên 4 - 5 câu hỏi/1 lần chiếu, yêu cầu học sinh làm việc
- Nếu ôn tập ở nhà: Vì lượng kiến thức trong phần ôn tập rất nhiều, không
chỉ có một bài, một chủ đề mà bao gồm nhiều bài, nhiều chủ đề khác nhau nhưngtheo phân phối chương trình ôn tập ở trên lớp tiến hành trong 1 tiết, do đó cầnphải ôn tập thêm ở nhà Giáo viên cung cấp thêm một số câu hỏi TNKQ mới kếthợp với tài liệu sau mỗi bài giáo viên đã giao cho học sinh
c Ví dụ:
- Sau khi học xong bài 9: Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa (Địa lý 12 –
chương trình cơ bản) Có 1 tiết ôn tập chuẩn bị cho kiểm tra 1 tiết Các kiến thức
cơ bản cần nắm là nội dung chương trình trong các bài từ bài 1 (Việt Nam trên đường đổi mới và hội nhập) đến bài 9 (Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa).
- Giáo viên yêu cầu học sinh hệ thống lại các chủ đề đã học và những nội
dung kiến thức cơ bản liên quan dựa vào một số từ khóa để vẽ sơ đồ tư duy Sau
đó, giáo viên nhận xét và chuẩn hóa bằng sơ đồ tư duy do giáo viên trình bày
- Giáo viên thực hiện ôn tập bằng cách phát các câu hỏi trắc nghiệm liênquan cho học sinh, sử dụng công nghệ thông tin chiếu mỗi lần 5 câu TNKQ chohọc sinh lựa chọn phương án thích hợp (có lý giải nếu cần)
Trang 12- Hệ thống câu hỏi TNKQ trong ôn tập kiểm tra được minh họa ở phần phụ lục.
- Ví dụ:
Câu 1 Đường biên giới trên đất liền chung với các nước (mức độ nhận biết)
A Thái Lan, Lào, Campuchia
B Lào, Campuchia, Trung Quốc.
C Lào, Trung Quốc, Thái Lan
D Thái Lan, Campuchia, Trung Quốc
Câu 2 Nhận định nào chưa chính xác về vùng đồng bằng ở nước ta? (mức độ
thông hiểu)
A Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích lớn nhất
B Tất cả các đồng bằng ở nước ta đều là các đồng bằng châu thổ
C Nước ta có 2 đồng bằng châu thổ rộng lớn được bồi đắp bởi phù sa của các hệthống sông lớn trên các vịnh biển nông, thềm lục địa mở rộng
D Các đồng bằng duyên hải miền Trung có tính chất chân núi ven biển, trong lòng
có nhiều đồi sót, cồn cát, đụn cát, đầm phá
Câu 3 Tính chất nhiệt đới của nước ta được quyết đinh bởi (mức độ thông hiểu)
A nằm trong vùng nội chí tuyến. B ảnh hưởng của biển Đông
C hoạt động của hoàn lưu gió mùa D sự phân hóa của địa hình
Câu 4 Năm 2015 dân số nước ta là 91.713,3 nghìn người, diện tích của nước ta là
A Sầm Sơn, Mỹ Khê, Nha Trang, Vũng Tàu B Nha Trang, Sầm Sơn, Vũng Tàu, Mỹ Khê.
C Mỹ Khê, Nha Trang, Sầm Sơn, Vũng Tàu D Sầm Sơn, Nha Trang, Mỹ Khê, Vũng Tàu
d Hiệu quả:
Việc giao nhiệm vụ ôn tập ở nhà qua sử dụng hình thức TNKQ sẽ khắcphục được những hạn chế của phương pháp dạy học cũ như: tính ỷ lại, tư tưởngchán học, tư tưởng học đối phó và còn làm cho học sinh chủ động hơn trongquá trình học tập và lĩnh hội tri thức Từ đó rèn luyện cho mình phương pháp tựhọc, tự nghiên cứu có hiệu quả Trong quá trình ôn tấp học sinh sử dụng Atlat đểtrả lời, để khai thác kiến thức có liên quan đến câu hỏi Để làm được điều này,giáo viên cần phải xây dựng được hệ thống câu hỏi khách quan ở nhiều mức độkhác nhau
2.3.4 Sử dụng câu hỏi TNKQ trong kiểm tra.
a Mục đích:
- Kiểm tra là một công cụ dùng để đánh giá kết quả học tập của học sinh sau khihọc xong một chủ đề, một chương, một học kì, một lớp hay một cấp học nên
Trang 13người biên soạn đề kiểm tra cần căn cứ vào mục đích yêu cầu cụ thể của việckiểm tra, căn cứ chuẩn kiến thức kĩ năng của chương trình và thực tế học tập củahọc sinh để xây dựng mục đích của đề kiểm tra cho phù hợp.
- Đánh giá các năng lực cần đạt và kỹ năng sử dụng Atlat, nhận xét bảng
số liệu của học sinh
- Tìm hiểu được thái độ học tập, nguyên nhân sai sót, từ đó điều chỉnh hoạtđộng dạy và học; phát triển kĩ năng cho HS, đánh giá những năng lực đạt đượccủa học sinh
- Đây là công đoạn cuối cùng của quá trình dạy học Vì vậy kiểm tra đánhgiá kết quả học tập của học sinh là vô cùng cần thiết và quan trọng
b Yêu cầu:
- Thiết lập ma trận đề thi, bám sát chuẩn kiến thức kĩ năng Trong quá trìnhlàm đề, nhiều giáo viên thường bỏ qua việc thiết lập ma trận, thường biên soạntrực tiếp, chủ quan, dựa vào kinh nghiệm của bản thân nên khi đề thi được in ravẫn không đảm bảo được đúng ma trận đề thi, thiếu kĩ thuật và có nhiều sai sót,ngay cả đáp án và lỗi văn bản
- Cần xác định đúng mục tiêu của việc kiểm tra, đánh giá để từ đó xâydựng ma trạn và đề thi cho phù hợp (dạng đề kiểm tra 15 phút, 1 tiết, học kì haythi THPT quốc gia) và các mức độ cần đạt theo Các bước ra đề TNKQ
c Ví dụ:
(Được cụ thể ở 1 đề thi minh họa ở phần phụ lục)
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
a Đối với hoạt động giáo dục:
- Trước hết khi so sánh giữa phương pháp truyền thống (đề thi tự luận) với phương pháp mới (trắc nghiệm khách quan), ta thấy:
quan
thiếu khách quan hơn
Chính xác và kháchquan hơn
- Như vậy, phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá kết quả học tập của
Trang 14học sinh bằng hình thức trắc nghiệm khách quan độ tin cậy cao hơn, đạt giá trịcao hơn, kiểm tra đánh giá kết quả chính xác và khách quan hơn, quá trình chấmđiểm lên điểm nhanh hơn, gọn nhẹ hơn vì máy móc có thể thay thế giáo viên làmviệc mà vẫn đảm bảo chính xác, độ tin cậy cao Hơn nữa kiểm tra trên phạm vikiến thức rộng, quy mô lớn Còn phương pháp truyền thống ngược lại.
b Đới với bản thân, giáo viên trong trường
- Trong quá trình giảng dạy bộ môn địa lý, việc củng cố, kiểm tra đánh giákết quả học tập của học sinh từ trước đến nay vẫn sử dụng phương pháp truyềnthống Ra đề tự luận Công tác ra đề cực kì vất vả Bản thân dạy nhiều lớp(11lớp) số tiết dải đều trong các ngày trong tuần Vì vậy, để đảm bảo công bằng,không lộ đề cho các lớp kiểm tra sau thì giáo viên phải làm rất nhiều đề Trongmột lớp, cũng phải làm đề A, đề B, nên cũng gặp nhiều bất cập
- Khi áp dụng hình thức dạy học, kiểm tra đánh giá kết quả học tập của họcsinh bằng hình thức trắc nghiệm khách quan chỉ mất thời gian biên soạn khoảng
2 đề gốc cho mỗi khối, ban đầu mất khá nhiều thời gian nhưng sau đó trộn nhiều
mã đề, kiến thức phủ kín toàn bộ chương trình Đảm bảo được tính chính xác vàkhách quan, thời gian làm việc nhanh hơn, chấm bài cũng nhẹ nhàng hơn nhiều
- Ban đầu, bản thân tự biên soạn hệ thống câu hỏi, và áp dụng phươngpháp dạy học mới, do chưa có nhiều kinh nghiệm nên không tránh khỏi nhữnglúng túng, hiệu quả sử dụng chưa cao, chưa thoát ra khỏi cái “vỏ bọc” củaphương pháp truyền thống Hiện nay với những kinh nghiệm được góp nhặtthông qua việc tìm hiểu bằng nhiều nguồn tài liệu, nhất là tài liệu trong các lầntập huấn chuyên đề tôi đã thuần thục hơn, có nguồn tài nguyên dạy học phongphú và khả năng sử dụng linh hoạt nhiều phương pháp dạy học tích cực
- Tôi và đồng nghiệp không những sử dụng hệ thống câu hỏi trắc nghiệmkhách quan trong kiểm tra học kì, kiểm tra 1 tiết mà còn dùng trong kiểm tra 15phút, kiểm tra miệng, củng cố bài học và nhất là trong quá trình ôn tập đạt hiệuquả rất cao Nói tóm lại, trong tất cả các khâu của quá trình giảng dạy, kiểm trađánh giá kết quả học tập của học sinh đều có thể sử dụng hình thức trắc ngiệmkhách quan
- Để đạt hiệu quả cao nhất trong dạy học việc ứng dụng công nghệ thông tin
hỗ trợ quá trình ôn tập, kiểm tra đánh giá kết quả học tập Bằng hình ảnh, bằngAtlat, bằng biểu đồ và bảng số liệu Vừa không mất nhiều thời gian, giáo viênkhông phải diễn thuyết, mô tả nhiều Tất cả đều được minh họa bằng hình ảnh trựcquan, sinh động
c Đối với học sinh:
- Trước đây, ôn tập, kiểm tra tự luận yêu cầu học sinh nhớ máy móc cácluận cứ, luận điểm Để tránh việc thiếu ý khi trình bày các em học sinh làm quenvới các sơ đồ tư duy, sơ đồ ô vuông Tuy kiểm tra chỉ ra số lượng câu ít, kiếnthức tập trung trong một số vấn đề nhưng khi ôn tập lại phải ôn tập hết, học thuộclòng, đầy đủ các ý lớn, ý nhỏ Việc học tập môn Địa lý nói riêng, các môn xã hộinói chung là rất vất vả
Trang 15- Khi học tập hướng tới thi trắc nghiệm, tuy vẫn học kiến thức như trướcnhưng trong quá trình ôn tập, học sinh không cần ghi nhớ, giải thích đầy đủ, chỉtập trung những điểm “mấu chốt”, những “cái nhất”, các kĩ năng nhận biết câuhỏi và các phương án trong đề trắc nghiệm Việc học tập, ôn tập thi cử đối vớihọc sinh cũng giảm tải hơn rất nhiều.
- Kết quả học tập được khảo sát, thống kê như sau:
Năm học 2016 - 2017 ở hai khối lớp do tôi phụ trách (khối 10 và 12) 100%các lớp tôi dạy đều sử dụng hình thức trắc nghiệm khách quan trong dạy học,kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh Trong quá trình đó tôi nhận thấycác em có nhiều chuyển biến về ý thức, thái độ, lòng nhiệt tình và có hứng thúvới môn học Đặc biệt khi đối chiếu các lớp năm học này với các lớp năm học
2015 - 2016 thì tôi thấy việc sử dụng hình thức trắc nghiệm khách quan trong dạyhọc giảm được thời gian truyền thụ kiến thức lý thuyết, giảm gánh nặng trình bàydưới dạng bài hoàn chỉnh các ý, tăng tính nhạy bén Trong các phần, học sinh tìm
ra được kiến thức trọng tâm, mấu chốt của vấn đề Khả năng tổ chức và sắp xếp
kế hoạch học tập cá nhân khoa học hơn, học sinh hào hứng hơn, sôi nổi hơn Cụthể như sau:
1 Tiến hành một số tiết dạy, kiểm tra đánh giá bằng hình thức TNKQ lớp thực nghiệm 10 G (sĩ số 39), lớp 12H (sĩ số 42)
2 Tiến hành một số tiết dạy, kiểm tra đánh giá chỉ sử dụng các phương pháp truyền thống lớp đối chứng 10 E (sĩ số 39), lớp 12Đ (sĩ số 42)
+ So sánh các lớp trên cả về: Thái độ, tinh thần học tập của học sinh,
không khí lớp học, kết quả học tập của học sinh
Trang 1621
3
0 3
20
11
0 0
lớp thực nghiệm (10G) lớp đối chứng (10E)
Biểu đồ 1: So sánh mức độ nhận thức của HS dựa trên kết quả kiểm tra khối 10
24
16
2
0 3
28
5
0 0
Biểu đồ 2: So sánh mức độ nhận thức của HS dựa trên kết quả kiểm tra khối 12
+ Kết quả thăm dò dựa trên phiếu thăm dò ý kiến của học sinh về những tiết dạy, kiểm tra sử dụng hình thức trắc nghiệm khách quan tại lớp thực nghiệm 12H, 10G như sau:
- Có 75/81 học sinh trả lời rất hứng thú với tiết học, nhất là ôn tập (chiếm92,6%); 5 em trả lời có hứng thú chiếm 6,2% và chỉ có 1 em trả lời bình thườngchiếm 1,2%,
- 78/81 em nhận xét bài học sinh động, dễ hiểu; 65/81 em từ thích đến rấtthích học địa, 15/81 em từ không trở nên thích học địa, chỉ có 1/81 em trả lờikhông thích cũng không ghét môn học này
Từ kết quả trên cho thấy, việc sử dụng hình thức trắc nghiệm khách quantrong dạy học, kiểm tra đánh giá mang lại hiệu quả cao hơn, có khả năng cuốnhút học sinh tham gia vào các hoạt động học tập tích cực, chủ động hơn, học sinh