* Trong giờ luyện từ và câu: đây là phân môn chính để giáo viên chú ý làm giàu vốn từ cho học sinh thông qua hệ thống bài tập phong phú, đa dạng về kiểu loại, sẽ giúp các em nhanh chóng[r]
Trang 1PHẦN 1: ĐỀ CƯƠNG SƠ LƯỢC
1 Lí do chọn đề tài
2 Lịch sử vấn đề
3 Mục đích nghiên cứu
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu
B PHẦN NỘI DUNG
Chương I: Cơ sở lí luận vào thực tiễn của đề tài
1 Cơ sở lí luận
1.1 Văn miêu tả
1.2 Yêu cầu về việc dùng từ trong văn miêu tả
1.3 Thao tác sử dụng từ để viết văn miêu tả
2 Cơ sở thực tiễn
2.1 Các lỗi sai của học sinh và nguyên nhân các lỗi sai Chương II: Biện pháp đề xuất
C PHẦN KẾT THÚC
Trang 2PHẦN 2: ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT
1 Lí do chọn đề tài
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng của con người trong nhiều lĩnh vực Tiếng Việt là ngôn ngữ trong sáng và giàu đẹp, có tính thẩm mĩ cao Vì vậy, rèn kĩ năng sử dụng Tiếng Việt là cần thiết và mang tính thực tiễn cao
Trong chương trình giáo dục tiểu học, Tiếng Việt là một trong những môn học chiếm vị trí quan trọng và chiếm số tiết nhiều nhất Học Tiếng Việt sẽ giúp các em học sinh trang bị đầy đủ nhất các kiến thức cơ bản về tiếng mẹ đẻ, rèn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết thành thạo Tập làm văn là một phân môn khá quan trọng trong môn Tiếng Việt Thông qua phân môn này, học sinh sẽ được rèn luyện công phu về khả năng cảm thụ, rèn khả năng diễn đạt và dùng từ ngữ chính xác để viết thành một bài văn hay, giàu tính nghệ thuật Trong đó, văn miêu tả là loại văn có tác dụng rất lớn trong tái hiện đời sống, hình thành và phát triển trí tưởng tượng, óc sáng tạo và khả năng nhận xét, đánh giá của con người Do đó, những trang văn miêu tả làm cho tâm hồn, trí tuệ người đọc thêm phong phú, giúp ta cảm nhận văn học và cuộc sống một cách tinh tế sâu sắc hơn Để tạo nên những bức tranh sinh động với những gam màu ấn tượng bằng ngôn từ, các em học sinh cần có kiến thức về sử dụng từ ngữ trong văn miêu tả
Tuy nhiên thực tế lại cho thấy khả năng dùng từ của các em trong các bài văn còn bị hạn chế Các em học sinh vẫn bị mắc các lỗi thường gặp như: lặp từ, thừa từ, dùng từ có ý nghĩa sáo rỗng, câu văn đơn điệu thiếu hình ảnh, dùng văn nói,… Do đó, bài văn lủng củng và khô khan, không có giá trị gợi hình, gợi cảm Việc tìm hiểu về các lỗi sai khi dùng từ để viết văn miêu tả, nguyên nhân và cách khắc phục các lỗi sai đó cho học sinh tiểu học là điều thiết thực cho các giáo viên tương lai chúng ta
Trên đây là những lí do cơ bản để tôi chọn đề tài tìm hiểu về kĩ năng sử dụng từ ngữ để viết văn miêu tả cho học sinh tiểu học
Trang 32 Lịch sử vấn đề
Trên thực tế có một số cuốn sách nghiên cứu về dạy học sinh cách dùng từ nhưng chưa có cuốn nào mang tính chuyên biệt vào vấn đề đang bàn đến :
- Cuốn Giảng dạy từ ngữ ở trường phổ thông, tác giả Phan Thiều, đã phân tích một cách thấu đáo vấn đề rèn kĩ năng hiểu từ sử dụng ở cả cương vị người nghe và người sử dụng
- Bài báo Dạy từ ngữ cho học sinh cấp 1 phổ thông, Vấn đề dạy từ ngữ cho học sinh cấp 1 phổ thông của Trịnh Mạnh
- Cuốn Từ trong hoạt động giao tiếp của tác giả Bùi Minh Toán bàn đến những nguyên tắc dùng từ đúng trong văn bản để đạt hiểu quả cao
- Cuốn Dạy học từ ngữ ở tiểu học, tác giả Phan Thiều, Hữu Tỉnh
- Cuốn Văn miêu tả và phương pháp dạy văn miêu tả ở tiểu học của Nguyễn Trí
- Cuốn Việt Luận của tác giả Nghiêm Toản, hướng dẫn cách tả mỗi đối tượng thì tả những gì, tả chi tiết nào trước, chi tiết nào sau, ngôn ngữ dùng như thế nào…
- Cuốn Rèn kĩ năng sử dụng tiếng Việt của tác giả Nguyễn Quang Ninh đã nói rất rõ về đối tượng miêu tả, nội dung miêu tả, ngôn ngữ miêu tả
- Cuốn Văn miêu tả trong nhà trường phổ thông của tác giả Đỗ Ngọc Thống đã đưa ra những yêu cầu để làm tốt bài văn miêu tả cho học sinh
3 Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng về khả năng sử dụng từ trong bài văn miêu tả của học sinh tiểu học
- Phân tích năng lực sử dụng từ của học sinh tiểu học từ đó đưa ra các biện pháp để nâng cao kĩ năng cho các em
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận liên quan đến kĩ năng sử dụng từ cho học sinh tiểu học
- Đưa ra một số biện pháp để khắc phục các lỗi sai của các em
5 Phương pháp nghiên cứu
Trang 4- Phương pháp nghiên cứu lí luận: nghiên cứu các vấn đề lí luận có liên quan đến kĩ năng sử dụng
từ ngữ
- Phương pháp thống kê: tổng hợp lại các tư liệu đã tham khảo, để tìm ra lỗi sai và các hạn chế trong cách dùng từ của các em
B PHẦN NỘI DUNG
Chương I: Cơ sở lí luận vào thực tiễn của đề tài
Trang 51 Cơ sở lí luận
1.1 Văn miêu tả
1.1.1 Khái niệm
Văn miêu tả là loại văn dùng để tả sự vật, hiện tượng, con người… một cách sinh động cụ thể như nó vốn có; là loại văn giàu cảm xúc, giàu trí tưởng tượng, sự đánh giá của người viết
1.1.2 Đặc điểm ngôn ngữ
- Ngôn ngữ chính xác cụ thể
- Ngôn ngữ riêng biệt
- Ngôn ngữ giàu tính hình tượng
1.2 Yêu cầu về việc dùng từ trong văn miêu tả
- Dùng từ đúng hình thức âm thanh và cấu tạo của từ láy và tính từ
- Dùng từ đúng nghĩa
- Dùng từ phải đúng về quan hệ kết hợp
- Dùng từ cần tránh hiện tượng lặp từ, thừa từ, sáo rỗng
- Dùng từ phải đúng với phong cách văn bản nghệ thuật
- Sử dụng có hiệu quả các từ ngữ và các biện pháp tu từ
1.3 Thao tác sử dụng từ để viết văn miêu tả
1.3.1 Lựa chọn từ và thay thế từ
+ Việc lựa chọn từ ngữ cần dùng cho một chi tiết cần phải tuân theo các cơ sở sau:
- Từ nào thể hiện chính xác nhất nội dung cần biểu đạt
- Từ nào thích hợp nhất với việc biểu hiện thái độ, tình cảm của người viết đối với nội dung biểu hiện, đối với người tiếp nhận
- Từ nào phù hợp hơn cả với các từ có mặt trong ngôn bản, với phong cách ngôn ngữ trong văn bản
Trang 6- Từ nào có thể tạo ra hiệu quả âm học cao nhất và phù hợp nhất với hình ảnh âm thanh của các
từ khác trong việc tạo nên giá trị biểu đạt cho câu
+ Khi lựa chọn từ, thay thế từ người viết cần huy động những hiểu biết về các bình diện của từ như hình thức âm thanh, cấu tạo của từ ngữ, ý nghĩa của từ, đặc điểm ngữ pháp, phong cách và phạm vi sử dụng và mối quan hệ của từ trong hệ thống ngôn ngữ (quan hệ đồng nghĩa, gần nghĩa, trái nghĩa, trường nghĩa; quan hệ nghĩa gốc, nghĩa nhánh, nghĩa phát sinh…)
1.3.2 Kết hợp ghép nối
Đó là sự kết hợp các từ với nhau phải có sự tương phản về quan hệ ý nghĩa và quan hệ ngữ pháp
- Kết hợp từ theo quan hệ ý nghĩa
Muốn kết hợp đúng cần có sự lựa chọn từ ngữ thích hợp Sự kết hợp này dựa trên cơ sở tương hợp về nghĩa của các từ và trên cơ sở các mối quan hệ trong thực tế giữa các đối tượng, hoạt động, tính chất…
mà từ biểu hiện
- Kết hợp từ theo quan hệ ngữ pháp
Quan hệ ngữ pháp là quan hệ tạo nghĩa Chính thông qua các mối quan hệ ngữ nghĩa của các yếu tố trong hệ thống ngôn ngữ các học sinh có thể huy động, lựa chọn được từ ngữ thích hợp để tạo ra lời nói của mình nhằm đạt hiệu quả cao nhất
2 Cơ sở thực tiễn
2.1 Các lỗi sai của học sinh và nguyên nhân các lỗi sai
+ Dùng từ sai về âm thanh và hình thức cấu tạo của từ
- Sai do gần âm
- Sai thanh điệu
Do các em thường dùng lẫn lộn hoặc do thói quen phát âm của từng vùng
+ Dùng từ không đúng nghĩa
- Không hiểu nghĩa của từ
- Hiểu sai từ gần nghĩa
- Dùng sai nghĩa biểu thái
Do các em không hiểu nghĩa của từ hoặc do các em đánh đồng các từ gần nghĩa
+ Dùng sai kết hợp từ
Trang 7- Sai kết hợp cặp quan hệ.
- Sai do kết hợp các phụ từ
- Sai do quan hệ ý nghĩa giữa các từ trong câu
Do học sinh không nắm được nguyên tắc phối hợp từ
+ Dùng từ lặp, từ thừa
- Lặp từ hoàn toàn
- Lặp từ đồng nghĩa
Do vốn từ của các em còn nghèo nàn hoặc do các em chưa hiểu đúng nghĩa của từ, đặc biệt là các từ đồng nghĩa, đôi khi các em không tìm được các đại từ thay thế cho những danh từ đã dùng + Dùng từ sai về phong cách
- Không hợp văn cảnh
- Dùng trong sinh hoạt hằng ngày
Do không nắm bắt được bản chất của từng loại phong cách văn bản
+ Dùng từ chưa hay: bài viết chưa sử dụng hình ảnh gợi hình, gợi cảm
Do vốn từ của các em còn nghèo vì không đọc sách báo và các sách văn học gây nên hiện tượng
bí từ nên dùng sai, dùng bừa bãi làm hỏng bài văn, sai ý, văn khô khan đơn điệu, thiếu hình ảnh Do các
em chưa có vốn từ của riêng mình lại không biết làm giàu vốn từ đó nên không thể có từ để tả
• Tóm lại: Nguyên nhân chủ yếu của những mặt hạn chế thường gặp của các học sinh là do các em chưa nắm chắc nghĩa của từ, đặc điểm kết hợp từ, vốn từ nghèo, khả năng vận dụng các từ ngữ hình ảnh gợi tả, gợi cảm còn yếu
Chương II: Biện pháp đề xuất
- Cần tích cực sửa lỗi cho học sinh một cách thường xuyên và tuân theo một số yêu cầu chung về chữa lỗi dùng từ cho học sinh:
+ Phải đảm bảo ý định của học sinh: cần đảm bảo tôn trọng tới mức tối đa nội dung và cách thức diễn đạt của học sinh, tránh cách chữa làm thay đổi quá nhiều, khác biệt về cả nội dung và hình thức của học sinh Như vậy sửa chữa mới bổ ích có tác dụng uốn nắn mà không phải là viết thay hay viết lại
Trang 8+ Kết hợp chữa lỗi từ và dùng từ đúng, hay: giáo viên cần hướng đến cho học sinh những từ đúng, hay Một từ có thể tìm tòi thay thế bằng một từ khác vừa đúng mà lại vừa hay để làm cho học sinh tăng thêm
sự hiểu biết, vốn từ
+ Chữa lỗi từ gắn với từng văn cảnh cụ thể: giáo viên phải nắm được nội dung diễn đạt của học sinh, cần căn cứ vào cả câu, cả đoạn văn, cả văn bản Từ đó mới phát hiện ra từ dùng sai rồi sửa cho đúng, hoàn cảnh giao tiếp chính là cơ sở xác định đúng hay sai của từ được dùng Thấy được cùng một từ nhưng lại đúng trong văn cảnh khác, các em sẽ nhận thức sâu sắc hơn trong phong cách dùng từ
- Cần hình thành kĩ năng sử dụng từ cho học sinh thông qua hoạt động rèn luyện có ý thức, luyện tập thường xuyên thông qua hệ thống bài tập hợp lí nâng cao ngoài sách giáo khoa Bài tập phải phong phú
về nội dung, đa dạng về hình thức, kiểu loại, đủ về số lượng để học sinh rèn luyện nhiều lần và phải gắn với tình huống cụ thể sinh động để kích thích hứng thú học tập cho học sinh
- Cần làm giàu vốn từ ngữ miêu tả của các em trong các phân môn tiếng Việt
* Trong giờ tập đọc: Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh hiểu nghĩa của một số từ cần thiết, hiểu nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa văn chương của từ ngữ, từ đấy học sinh có thể học tập cách dùng từ của tác giả; cần chỉ ra các từ ngữ đặc sắc để phân tích cái hay, cái đẹp, cái sáng tạo của nhà văn khi dùng chúng
* Trong giờ luyện từ và câu: đây là phân môn chính để giáo viên chú ý làm giàu vốn từ cho học sinh thông qua hệ thống bài tập phong phú, đa dạng về kiểu loại, sẽ giúp các em nhanh chóng mở rộng vốn
từ của mình, những từ mới, nghĩa mới, những cách dùng từ phù hợp từng hoàn cảnh, từ đó cải thiện lối viết văn của các em hơn
- Cần giúp học sinh nhìn nhận mọi sự vật ở nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau, kích thích trí tưởng tượng, sáng tạo của các em Giáo viên không nên đưa ra những bài văn mẫu hoàn chỉnh làm các em bắt chước, sao chép, dễ tạo cho các em cách làm văn sáo rỗng, na ná như nhau và không nâng cao được vốn
từ mà nên đưa ra những đoạn văn miêu tả của những tác giả khác nhau Cùng trong một tiết học, có thể đưa ra nhiều đoạn văn miêu tả toàn diện, phong phú hơn và từ đó các em sẽ biết chắt lọc, tìm tòi những
từ ngữ đặc sắc, học tập được các từ hay, cách dùng biện pháp tu từ thú vị, cách diễn đạt hợp lý cho bài làm của mình
- Cần tìm hiểu kỹ đối tượng học sinh, đặc điểm tâm lý của học sinh, nắm được đặc điểm cách dùng từ của các em để có thể dần dần sửa đổi cho từng đối tượng
Trang 9C PHẦN KẾT THÚC
Từ trước tới nay, vấn đề rèn kĩ năng sử dụng từ ngữ nói chung, rèn kĩ năng sử dụng từ ngữ để viết văn miêu tả cho học sinh tiểu học nói riêng luôn là đề tài nghiên cứu được sự quan tâm rất nhiều từ các nhà nghiên cứu, các thầy cô giáo dạy bộ môn Tiếng Việt Việc rèn kĩ năng sử dụng từ ngữ giúp cho các em nâng cao khả năng sử dụng từ chính xác, độc đáo để từ đó có thể viết được những bài văn hay, giàu tính nghệ thuật, góp phần nâng cao chất lượng dạy học bài văn miêu tả phân môn Tập làm văn, đáp ứng nhu cầu thực tiễn đặt ra của giáo dục Ngoài ra,còn góp phần vào sự nghiệp giữ gìn sự trong sáng và giàu đẹp của Tiếng Việt
Để nâng cao hiệu quả của việc rèn kĩ năng này cho học sinh, giáo viên cần hướng dẫn học sinh rèn luyện kĩ năng diễn đạt, viết câu, đặc biệt là biết vận dụng các biện pháp tu từ, các từ tượng thanh, tượng hình, từ láy… để viết văn Ngoài ra, việc rèn luyện có thể thông qua bằng cách cho học sinh làm bài tập thực hành về sửa lỗi của từ trên chính các bài văn của các em trong các tiết trả bài văn để từ đó các em tự thấy được lỗi sai và rút ra kinh nghiệm cho mình ở những bài văn sau Công việc tưởng chừng đơn giản nhưng lại mất khá nhiều công sức và thời gian để uốn nắn cho các em Vì vậy, những giáo viên tương lai chúng ta cần kiên nhẫn, vững vàng, dùng hết lòng nhiệt tình yêu nghề để giúp các học sinh yêu quý của mình phát huy hết khả năng của các em