Với tổng số mẫu quan sát là 630, ở mức ý nghĩa thống kê 5%, bằng kỹ thuật phân tích các tác động cố định linh động kết hợp với hồi quy theo phương pháp D&K, kết quả nghiên cứu cho thấy:
Trang 1PHAN NGUYỄN NHƯ NGỌC
VIỄN THÔNG VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2018
Trang 2PHAN NGUYỄN NHƯ NGỌC
VIỄN THÔNG VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 8310105
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
TS LÊ THANH LOAN
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu “Viễn thông và tăng trưởng kinh tế Việt Nam” là công trình nghiên cứu của chính bản thân tôi Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Ngày 19 tháng 10 năm 2018
Tác giả luận văn
Phan Nguyễn Như Ngọc
Trang 4MỤC LỤC
TRANG BÌA PHỤ
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
TÓM TẮT
Chương 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 Sự cần thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.5 Phương pháp nghiên cứu 3
1.6 Bố cục của luận văn 3
Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 5
2.1 Cơ sở lý thuyết 5
2.1.1 Khái niệm về viễn thông 5
2.1.2 Lý thuyết tăng trưởng 5
2.1.3 Lý thuyết về mối quan hệ giữa viễn thông và tăng trưởng kinh tế 6
2.1.4 Vai trò của viễn thông trong tăng trưởng kinh tế 6
2.2 Tổng quan các nghiên cứu trước 9
Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
3.1 Khung phân tích 19
3.2 Mô hình phân tích 20
Trang 53.3 Mô hình kiểm tra chiều tác động 22
3.4 Dữ liệu các biến trong mô hình nghiên cứu 24
3.4.1 Dữ liệu 24
3.4.2 Phương pháp kinh tế lượng 29
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
4.1 Tổng quan về ngành viễn thông Việt Nam 31
4.1.1 Ngành viễn thông Việt Nam giai đoạn 2006-2009: 31
4.1.2 Ngành viễn thông Việt Nam giai đoạn 2010-2016 32
4.2 Thống kê mô tả bộ dữ liệu 33
4.3 Kết quả kiểm tra hệ số tương quan 35
4.4 Kết quả mức tác động của các loại dịch vụ viễn thông đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam 39
4.4.1 Tác động của dịch vụ điện thoại cố định 39
4.4.2 Tác động của dịch vụ điện thoại di động 41
4.4.3 Tác động của dịch vụ internet 43
4.5 Kiểm định tính ổn định của mô hình 45
4.5.1 Kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến 45
4.5.2 Kiểm định phương sai thay đổi và tự tương quan 45
4.6 Kiểm tra chiều tác động của viễn thông đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam 48
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 53
5.1 Kết luận 53
5.2 Khuyến nghị chính sách 53
5.2.1 Chính sách quản lý dịch vụ điện thoại cố định 53
5.2.2 Chính sách quản lý dịch vụ điện thoại di động 54
5.2.3 Chính sách quản lý dịch vụ internet 55
5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
FE Tác động cố định
GRDP Tổng sản phẩm trên địa bàn theo giá cố định năm 2010
GRDP BQĐN Tổng sản phẩm bình quân đầu người theo giá cố định năm
2010 trên địa bàn VIF Độ phóng đại phương sai
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Bảng tổng hợp các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài 15
Bảng 3.1: Tổng hợp các biến trong mô hình nghiên cứu 25
Bảng 4.1: Thống kê mô tả các biến trong bảng dữ liệu 34
Bảng 4.2: Mô tả hệ số tương quan của các biến trong mô hình 36
Bảng 4.3: Kết quả hồi quy FE của dịch vụ điện thoại cố định đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam 40
Bảng 4.4: Kết quả hồi quy FE của dịch vụ điện thoại di động đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam 42
Bảng 4.5: Kết quả hồi quy FE của dịch vụ Internet đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam 44
Bảng 4.6: Kết quả hồi quy theo phương pháp D&K 46
Bảng 4.7: Kết quả kiểm tra chiều tác động từ viễn thông đến tăng trưởng kinh tế 49
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 2.1: Tỷ trọng Tổng sản phẩm trong nước của Việt Nam phân theo khu vực
kinh tế giai đoạn 2005-2016 9
Hình 3.1: Khung phân tích của đề tài 19
Hình 4.1: Chi tiêu ngân sách và GRDP BQĐN 37
Hình 4.2: Vốn đầu tư và GRDP BQĐN 37
Hình 4.3: Điện thoại cố định và GRDP BQĐN 38
Hình 4.4: Điện thoại di động và GRDP BQĐN 38
HÌnh 4.5: Internet và GRDP BQĐN 39
Trang 9TÓM TẮT
Đề tài “Viễn thông và tăng trưởng kinh tế Việt Nam” được thực hiện nhằm mục tiêu đánh giá tác động của của ngành viễn thông đến tăng trưởng kinh tế tại 63 tỉnh thành Việt Nam Từ đó khuyến nghị các chính sách về quản lý ngành viễn thông cho phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội Việt Nam
Đề tài đã thu thập dữ liệu cho 63 tỉnh thành Việt Năm, giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2016 được lấy từ Tổng Cục Thống kê (2009, 2012, 2016), Sở Thông tin và Truyền thông các tỉnh thành, các doanh nghiệp viễn thông Với tổng số mẫu quan sát là 630, ở mức ý nghĩa thống kê 5%, bằng kỹ thuật phân tích các tác động cố định linh động kết hợp với hồi quy theo phương pháp D&K, kết quả nghiên cứu cho thấy:
Trong khi dịch vụ điện thoại cố định làm giảm tăng trưởng kinh tế thì dịch vụ điện thoại di động và dịch vụ internet lại tác động dương đến tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, khi lượng thuê bao các dịch vụ này tăng lên gấp đôi thì mức tác động đi theo hướng ngược lại Các yếu tố như: Tỷ lệ chi ngân sách địa phương, Tỷ lệ tăng trưởng dân số tác động tiêu cực đến tăng trưởng, trong khi thước đo mức độ mở cửa lại có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế các địa phương
Cuối cùng tác giả trình bày khuyến nghị chính sách, những hạn chế trong quá trình nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 10Chương 1 GIỚI THIỆU 1.1 Sự cần thiết của đề tài
Viễn thông được đánh giá là một trong những ngành góp phần thúc đẩy cho tăng trưởng kinh tế tại đa số các quốc gia trên thế giới Không chỉ đóng vai trò kết nối liên lạc, trao đổi thông tin, ngành viễn thông còn có ngoại tác tích cực đến sự phát triển của các ngành khác như giáo dục, thương mại, tài chính, y tế, giao thông vận tải và thậm chí góp phần cải cách thủ tục hành chính Tuy nhiên, ngành viễn thông cũng có những ngoại tác tiêu cực ảnh hưởng đến thông tin cá nhân, an ninh quốc phòng, an ninh kinh tế, khả năng tập trung làm việc, khả năng lựa chọn, nắm bắt thông tin để đưa ra quyết định
Do tính ảnh hưởng cao rộng và hai chiều của ngành viễn thông nên trong quá trình xây dựng phát triển kinh tế, các quốc gia trên thế giới có nhiều lựa chọn khác nhau trong đầu tư xây dựng, phát triển hạ tầng viễn thông, khai thác dịch vụ viễn thông Trong đó, có một số quốc gia đã đầu tư phát triển viễn thông nhưng vẫn không đạt được mức tăng trưởng kinh tế như mong đợi, điển hình là các quốc gia phát triển Nam Phi và Cộng Hòa Nam Phi (Alleman, James, et al, 1994) Điều này càng cho thấy, tác động của ngành viễn thông đến tăng trưởng kinh tế cần phải được nghiên cứu, điều chỉnh theo hướng thúc đẩy các tác động tích cực và giảm thiểu các tác động tiêu cực Đến nay, thế giới đã có nhiều nghiên cứu cho thấy mối tương quan hai chiều giữa ngành viễn thông và tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia phát triển như Hoa Kỳ, Nhật Bản, các nước Châu Âu Gần đây nhất là Trung Quốc, Ấn
Độ và Singapore cũng đã nghiên cứu về vấn đề này Kết quả cho thấy ngành viễn thông đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn đầu nhưng đến khi nền kinh tế phát triển thì ngành viễn thông lại khiến cho tăng trưởng kinh tế bị đình trệ Liệu điều này có xảy ra cho nền kinh tế Việt Nam khi Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt cho phép Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh làm thí điểm xây dựng đô thị thông minh, chính quyền điện tử trên nền công nghiệp 4.0 để hỗ trợ tương tác, minh bạch thông tin, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương và cả nước
Trang 11Để có được câu trả lời chính xác, cần thiết phải xem xét tác động của viễn thông đến tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam Tuy nhiên, nội dung này vẫn chưa được nhiều người nghiên cứu Nguyên nhân có thể bắt nguồn từ khó khăn trong quá trình khai thác, tổng hợp số liệu thống kê liên quan đến ngành viễn thông tại Việt Nam
Do đặc thù của ngành viễn thông Việt Nam hiện nay là các doanh nghiệp viễn thông trên địa bàn tỉnh, thành phố đều là đơn vị chi nhánh trực thuộc Tổng công ty có trụ
sở chính tại Hà Nội Theo đó, việc báo cáo số liệu doanh thu dịch vụ viễn thông tại địa phương không được chú trọng, thường xuyên có nhiều thay đổi bất thường, không phản ánh chính xác mức độ tăng doanh thu theo sản lượng và chất lượng dịch
vụ tại địa phương mà tuỳ thuộc vào công thức phân bổ doanh thu của từng đơn vị trên địa bàn Tất cả điều này tạo ra động cơ thúc đẩy việc cần thiết thực hiện bài
nghiên cứu “Viễn thông và tăng trưởng kinh tế Việt Nam”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Phân tích tác động của các dịch vụ viễn thông đến tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam Từ đó, tác giả có cơ sở để đưa ra các khuyến nghị về chính sách quản lý từng loại dịch vụ viễn thông
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Đề tài được thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu sau:
Mục tiêu 1: Phân tích mức tác động của từng loại dịch vụ viễn thông đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Mục tiêu 2: Kiểm tra chiều tác động từ viễn thông đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Mức tác động của dịch vụ điện thoại cố định, dịch vụ điện thoại di động, dịch
vụ Internet đến tỷ lệ tăng trưởng kinh tế Việt Nam là bao nhiêu?
Trang 12- Tính kinh tế theo quy mô đầu tư phát triển thuê bao các loại dịch vụ viễn thông diễn ra như thế nào?
- Liệu giữa viễn thông với tăng trưởng kinh tế có xảy ra mối quan hệ hai chiều?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài sử dụng các dữ liệu cơ bản trong kinh tế vĩ mô của 63 tỉnh thành tại Việt Nam để nghiên cứu Cụ thể là dữ liệu GRDP, dữ liệu thuê bao điện thoại (cố định và di động), dữ liệu thuê bao Internet Các dữ liệu được chọn lọc, tổng hợp từ Niên giám thống kê 2009, Niên giám thống kê 2012, Niên giám thống kê 2016; Báo cáo phát triển ngành của các Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh thành; Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các chi nhánh trực thuộc doanh nghiệp viễn thông
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu dữ liệu bảng bao gồm: Thống kê mô
tả, chạy mô hình hồi quy tác động cố định, kiểm tra tính ổn định của các mô hình nghiên cứu
1.6 Bố cục của luận văn
Luận văn bao gồm 5 chương:
Trang 13Chương 1: Mở đầu Giới thiệu sự cần thiết nghiên cứu; mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 5: Kết luận và các khuyến nghị
Trang 14Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.1 Cơ sở lý thuyết
2.1.1 Khái niệm về viễn thông
Theo Luật Viễn thông 2009 thì “Viễn thông là việc gửi, truyền, nhận và xử lý
ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng thông tin khác bằng đường cáp, sóng vô tuyến điện, phương tiện quang học và phương tiện điện từ khác” (Luật số 41/2009/QH12) Do đó, có thể hiểu viễn thông bao gồm các dịch vụ
cơ bản sau: dịch vụ điện thoại cố định và di động, dịch vụ phát thanh – truyền hình, dịch vụ Internet
Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã giới hạn viễn thông gồm hai gói dịch
vụ chính là dịch vụ viễn thông cơ bản và dịch vụ giá trị gia tăng Trong đó, liệt kê dịch vụ viễn thông cơ bản gồm: Dịch vụ thoại; Dịch vụ fax; Dịch vụ truyền số liệu; Dịch vụ truyền hình ảnh; Dịch vụ nhắn tin; Dịch vụ hội nghị truyền hình; Dịch vụ kênh thuê riêng; Dịch vụ kết nối Internet và các dịch vụ viễn thông cơ bản khác theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông Dịch vụ giá trị gia tăng bao gồm: Dịch vụ thư điện tử; Dịch vụ thư thoại; Dịch vụ fax gia tăng giá trị; Dịch vụ truy nhập Internet và các dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng khác theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông (Nghị định 25/2011/NĐ-CP của Chính phủ),
Như vậy, trong bài nghiên cứu này, phạm vi ngành viễn thông Việt Nam sẽ bao gồm các hoạt động cung cấp dịch vụ viễn thông (dịch vụ cơ bản và dịch vụ giá trị gia tăng)
2.1.2 Lý thuyết tăng trưởng
Tăng trưởng kinh tế là một phần quan trọng của lý thuyết về phát triển kinh tế Tăng trưởng kinh tế bao gồm tăng cả mặt số lượng lẫn chất lượng Tăng trưởng kinh
tế phản ánh mức tăng lên hay giảm đi của nền kinh tế ở năm này so với năm trước hoặc của thời kỳ này so với thời kỳ trước Mức tăng trưởng phản ánh sự tăng lên hay giảm đi nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánh
Trang 15tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm của nền kinh tế giữa các năm hay giữa các thời kỳ Để đo lường tăng trưởng kinh tế của từng khu vực tỉnh thành trong một nước người ta thường dùng hai chỉ số chủ yếu: phần tăng, giảm quy mô của nền kinh tế (tính theo GRDP BQĐN), hoặc tốc độ tăng trưởng kinh tế (tính theo GRDP BQĐN) cùng với các chỉ số kinh tế vĩ mô khác như đầu tư cố định, đầu tư giao thông và viễn thông, chi tiêu chính phủ, vốn nhân lực, tăng dân số, thương mại…
Ngoài ra, để xem xét tác động của viễn thông đến tăng trưởng kinh tế trong trường hợp của Việt Nam giai đoạn 2006-2016, bài nghiên cứu đã xem xét giả thuyết hội tụ trong lý thuyết tân cổ điển của Solow Giả thuyết này lập luận có 03 lý
do dẫn đến hiện tượng hội tụ kinh tế giữa các vùng miền trong một quốc gia: Thứ nhất, giả thuyết cho rằng các vùng miền trong một quốc gia sẽ hội tụ về đường tăng trưởng cân bằng của nó; Thứ hai, tỷ lệ sinh lời của vốn sẽ thấp hơn ở các vùng miền
có tỷ lệ vốn trên lao động cao hơn; Thứ ba, sẽ có sự khác biệt về thu nhập giữa các vùng miền nếu có khoảng cách về trình độ công nghệ sản xuất
2.1.3 Lý thuyết về mối quan hệ giữa viễn thông và tăng trưởng kinh tế
Trong khi lý thuyết Tân cổ điển cho rằng nguồn gốc tăng trưởng phụ thuộc vào hai yếu tố đầu vào vốn (K) và lao động (L) thì mô hình Kaldor lại cho rằng tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào việc phát triển kỹ thuật và trình độ công nghệ, trong
đó bao gồm cả viễn thông
GDPi,t = + MVAi,t + zt + εi,t
Trong đó: GDP là tốc độ tăng trưởng, MVA là giá trị làm gia tăng sản xuất, chỉ số i xác định tỉnh thành, chỉ số t xác định khoảng thời gian và z biểu thị các hiệu ứng thời gian (tức là, các hiệu ứng cụ thể có thể ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa GDP-MVA theo thời gian)
2.1.4 Vai trò của viễn thông trong tăng trưởng kinh tế
Kenney (1995) đã từng nói rằng “Thay vì nhìn vào quá khứ để tìm hiểu viễn
Trang 16thông làm phát triển kinh tế hay phát triển kinh tế làm tăng trưởng viễn thông, hãy nhìn vào tương lai tình hình kinh tế xã hội của các quốc gia sẽ như thế nào nếu không có phương tiện lưu trữ và truyền tải thông tin một cách nhanh chóng, cho thấy bản chất tuyệt đối của ngành viễn thông.” Đầu tư phát triển viễn thông rõ ràng
là một điều cần thiết để tăng hiệu quả các hoạt động kinh tế, thương mại, hành chính, làm giảm chi phí giao dịch, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội
Một nghiên cứu khác của LAM, Pun-Lee; SHIU, Alice (2010) cho thấy các quốc gia ở Trung và Đông Âu đã đạt được mức tăng trưởng năng suất nhân tố tổng hợp viễn thông cao hơn nhờ chính sách cạnh tranh và tư nhân hóa ngành viễn thông, đặc biệt là các dịch vụ viễn thông di động Gần đây nhất, BERTSCHEK, Irene; NIEBEL, Thomas (2016) đã khẳng định việc sử dụng Internet di động giúp làm tăng năng suất lao động ở các công ty Đức một cách đáng kể
Tuy nhiên, sai lầm trong lựa chọn phương thức quản lý viễn thông được cảnh báo là một trong những nguyên nhân khiến cho việc tăng trưởng kinh tế không đạt được bước tiến thần tốc như mong đợi được đề cập trong nghiên cứu của Alleman, James và cộng sự (1994), của Aker, Jenny C., và Isaac M Mbiti (2010) hay của Erumban, Abdul A.; DAS, Deb Kusum (2016) cho thấy điện thoại di động không thể là “viên đạn bạc” cho sự phát triển ở vùng hạ Sahara Châu Phi, ở các quốc gia phát triển Nam Phi, Cộng hòa Nam Phi hay Ấn Độ do thiếu các chính sách tiếp thị, các chính sách phân phối sản phẩm công nghệ thông tin và truyền thông, các chính sách kích thích hiệu ứng lan truyền về lợi ích của viễn thông đến người dân từ các nhà cầm quyền địa phương Một nguyên nhân khác có thể kể đến là do chính phủ các quốc gia này lo sợ việc phát triển viễn thông sẽ làm suy yếu địa vị của họ trong
xã hội
Bên cạnh đó, các quốc gia có sự phát triển kinh tế thần kỳ cũng đưa ra những cảnh báo cho thấy đầu tư viễn thông đang giảm dần lợi nhuận ở Trung Quốc (Ding, Lei, and Kingsley Haynes, 2006), ở Singapore (Vu, Khuong M, 2013) Điều này hàm ý phát triển viễn thông trong giai đoạn sớm hơn có thể thu được lợi nhuận
Trang 17nhiều hơn và ngược lại
Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy rằng hầu hết các khoản đầu tư viễn thông đều ảnh hưởng thuận lợi đến nền kinh tế theo nhiều cách Thứ nhất, nó làm giảm chi phí sản xuất và tăng doanh thu tái đầu tư của các doanh nghiệp Thứ hai, việc sử dụng công nghệ điện thoại làm tăng năng suất của tất cả các ngành công nghiệp Cuối cùng, một số tài liệu gần đây cho thấy Internet đã thay đổi thị trường bằng cách cho phép tìm kiếm thông tin hiệu quả hơn Như vậy, có thể thấy, các quốc gia đầu tư vào viễn thông sẽ làm tăng nhu cầu sử dụng hàng hóa và dịch vụ, từ
đó làm tăng tổng sản lượng quốc gia
Ảnh hưởng của viễn thông đến tăng trưởng lần đầu tiên được tìm thấy bởi Kavesh, Garbade và Silber (1978) khi kết quả nghiên cứu cho thấy điện báo và đường dây cáp xuyên Đại Tây Dương giúp cho việc kinh doanh, trao đổi hàng hóa ở khắp mọi nơi trở nên dễ dàng do thu hẹp chênh lệch giá cả giữa các thị trường Andrew Hardy (1980) cũng cho ra kết quả rằng mật độ điện thoại bình quân đầu người có tác động tích cực đến tăng trưởng GDP của các nước phát triển và đang phát triển Bayes và cộng sự (1999) cho thấy một nửa số cuộc gọi điện thoại liên quan đến các mục đích kinh tế như thảo luận về cơ hội việc làm, giá cả hàng hóa, giao dịch đất đai, kiều hối và các mặt hàng kinh doanh khác Bayes và cộng sự (1999) cũng lưu ý rằng, giá trung bình của hàng hóa nông nghiệp ở các khu vực có điện thoại cao hơn ở các khu vực không có điện thoại Eggleston và cộng sự (2002), cho thấy cơ sở hạ tầng viễn thông cơ bản có thể tạo ra “hiệu ứng kỹ thuật số” thông qua việc phổ biến thông tin cho người dân địa phương và cải thiện mức sống của người nghèo trên thế giới
Tại Việt Nam, Bộ Thông tin và Truyền thông đã khẳng định viễn thông đóng vai trò quan trọng là ngành dịch vụ, kinh tế - kỹ thuật, hạ tầng kinh tế - xã hội; là tiền đề cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế; thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, góp phần đẩy mạnh tỷ trọng dịch vụ lên cao nhất trong giai đoạn 2005-2016 như Hình 2.1 Ngoài ra, viễn thông
Trang 18còn là cánh tay nối dài trong công tác quản lý nhà nước, góp phần phát triển văn hóa xã hội, bảo vệ tài nguyên môi trường Tuy nhiên, tầm quan trọng của ngành viễn thông đối với nền kinh tế vẫn chưa được chính phủ nhà nước Việt Nam công nhận một cách đầy đủ nên việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng vẫn chưa được xem trọng, cụ thể tỷ trọng vốn đầu tư viễn thông từ ngân sách nhà nước vẫn ở mức thấp, chiếm 0.5 – 1.7% tổng GDP cả nước giai đoạn 2005-2016 (Nguồn: Tổng Cục Thống kê)
Hình 2.1 Tỷ trọng tổng sản phẩm trong nước của Việt Nam phân theo khu vực kinh tế giai đoạn 2005 - 2016
Nguồn: Tổng Cục thống kê năm 2016
2.2 Tổng quan các nghiên cứu trước
Các nghiên cứu về tăng trưởng viễn thông thường đề cập đến mối quan hệ hai chiều giữa tăng trưởng kinh tế và nhu cầu về dịch vụ viễn thông Nghĩa là khi sức mua gia tăng sẽ làm tăng nhu cầu đối với các dịch vụ viễn thông và khi dịch vụ viễn thông phát triển sẽ thúc đẩy nhu cầu mua sắm tiêu dùng Chatterjee và cộng sự (1998) chỉ ra rằng các mô hình thu nhập quyết định mức thu nhập dùng một lần như mua điện thoại để sử dụng các dịch vụ viễn thông Tác động hai chiều cũng đã được nghiên cứu bởi Cronin và cộng sự (1991) (1993) Cronin và cộng sự (1991) đã xác nhận sự tồn tại của mối quan hệ mà trong đó hoạt động kinh tế và tăng trưởng kích
Trang 19thích nhu cầu cho các dịch vụ viễn thông, vì khi nền kinh tế phát triển, cần có nhiều
cơ sở viễn thông hơn để tiến hành các giao dịch kinh doanh Cronin và cộng sự (1993) điều tra mối quan hệ này ở cấp tiểu bang Hoa Kỳ đã xác nhận rằng đầu tư viễn thông ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế và hoạt động kinh tế có thể ảnh hưởng đến đầu tư viễn thông Roller và Waverman (2001) là người đầu tiên sử dụng phương pháp kết hợp đồng thời cả hai hiệu ứng trong mô hình kinh tế nhằm xác nhận giả thuyết về quan hệ nhân quả ngược Waverman, Meschi và Fuss (2005), nghiên cứu tác động của điện thoại di động ở các nền kinh tế phát triển và đang phát triển Họ thấy rằng điện thoại di động có tác động tích cực và đáng kể đến tăng trưởng kinh tế, gấp đôi ở các nước đang phát triển khi so sánh với các nước phát triển
Madden và Savage (2000) nghiên cứu tác động của đầu tư viễn thông đối với tăng trưởng GDP sử dụng dữ liệu cho 43 quốc gia từ năm 1975 đến năm 1990 Đầu
tư viễn thông được đo lường bằng tỷ trọng đầu tư viễn thông trong GDP và số lượng thuê bao điện thoại bình quân trên mỗi người dân trong độ tuổi lao động Các tác giả sử dụng mô hình hồi quy OLS và hồi quy biến công cụ để ước tính mô hình tăng trưởng động dựa trên lý thuyết của Mankiw và cộng sự (1992) Kết quả cho thấy tác động tích cực đáng kể của đầu tư viễn thông đối với tăng trưởng GDP bình quân đầu người cho cả hai biến viễn thông
Ở các nước phát triển, tác động tích cực của viễn thông đến tăng trưởng kinh
tế đã được chính minh bởi Röller và Waverman (2001) khi các vị này phân tích ảnh hưởng của viễn thông lên tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội, sử dụng dữ liệu của
21 quốc gia OECD từ năm 1970 đến năm 1990 Để giải quyết vấn đề tác động có thể bị đảo ngược, Röller và Waverman (2001) đã áp dụng một mô hình làm nội sinh biến đầu tư viễn thông Sau đó, tất cả các phương trình được ước lượng bằng phương pháp tổng quát phi tuyến tính thời gian Các kết quả cho thấy sự gia tăng số lượng thuê bao điện thoại trên đầu người có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế
Trang 20Datta và Agarwal (2004) sử dụng mô hình dữ liệu bảng cố định động để xem xét tác động của viễn thông đối với tăng trưởng kinh tế ở 22 quốc gia OECD từ năm
1980 đến năm 1992 Số lượng thuê bao bình quân trên 100 dân được tìm thấy làm tăng đáng kể GDP thực bình quân đầu người cho 22 mẫu quốc gia Các hệ số dương, có ý nghĩa thống kê cho các biến trễ của cơ sở hạ tầng viễn thông cho thấy tác động này mang tính nhân quả Hơn nữa, các tác giả còn tìm thấy xu hướng lợi nhuận giảm dần đối với cơ sở hạ tầng viễn thông, điều này có nghĩa là việc phát triển viễn thông ở các nước đang phát triển với ít thuê bao sẽ có tác động mạnh mẽ hơn đến tăng trưởng kinh tế
Pradhan và các cộng sự (2014) xem xét các mối liên kết giữa sự phát triển của
cơ sở hạ tầng viễn thông (DTI), tăng trưởng kinh tế và bốn chỉ số chính trong hoạt động của nền kinh tế hiện đại: sự hình thành vốn đầu tư, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, tốc độ đô thị hoá và sự mở cửa thương mại Bằng cách nghiên cứu các quốc gia G-20 trong giai đoạn 1991-2012 và sử dụng một mô hình hồi quy tự hồi quy vector để phát hiện quan hệ nhân quả Granger, kết quả thực nghiệm cho thấy một mạng lưới các mối quan hệ nhân quả dài hạn giữa các biến này, bao gồm cả mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa DTI và tăng trưởng kinh tế
Ở các nước đang phát triển, tác động tích cực của viễn thông đến tăng trưởng kinh tế đã được Sridhar, K., & Sridhar, V (2008) nghiên cứu cho thấy mật độ điện thoại cố định ở nông thôn tại các nước đang phát triển rất thấp do chi phí cung cấp dịch vụ cao và sức mua thấp của người dân nông thôn Để cải thiện dịch vụ viễn thông nông thôn thì việc cung cấp các dịch vụ viễn thông sử dụng công nghệ không dây là giải pháp duy nhất Bằng cách ước tính độ co giãn về giá và thu nhập của nhu cầu tiêu dùng dịch vụ viễn thông cho các nền kinh tế có thu nhập thấp họ cho thấy tác động tích cực của điện thoại di động và điện thoại cố định đối với sản lượng quốc gia, khi họ kiểm soát tác động của vốn và lao động
Tại Chậu Á, Mehmood, Siddiqui (2013) khảo sát mối quan hệ lâu dài giữa đầu
tư vào viễn thông và tăng trưởng kinh tế ở một số quốc gia Châu Á Sử dụng dữ liệu
Trang 21bảng từ năm 1999-2010 của 23 quốc gia Châu Á và các phương pháp kiểm tra trong kinh tế lượng Kết quả thực nghiệm cho thấy tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa tăng trưởng kinh tế và đầu tư trong viễn thông Nguyên nhân chủ yếu từ đầu tư viễn thông đến tăng trưởng kinh tế chứ không phải bằng cách khác Cho thấy, ngành viễn thông có một khả năng bẩm sinh để đóng góp vào tăng trưởng kinh tế trong một mô hình kép Thứ nhất, là một phần của ngành dịch vụ và thứ hai là một chất xúc tác cho các lĩnh vực khác của nền kinh tế
Tại Trung Quốc, Ding, Lei, và Kingsley Haynes (2006) cũng cho rằng cơ sở
hạ tầng viễn thông có tiềm năng dẫn tới sự phát triển vượt bậc ở các nước đang phát triển Bằng chứng thực nghiệm về mối liên kết giữa cơ sở hạ tầng viễn thông và tăng trưởng kinh tế khu vực ở Trung Quốc Với dữ liệu của 29 khu vực thuộc Trung Quốc trong khoảng thời gian 17 năm, từ năm 1986-2002, bài nghiên cứu đã sử dụng
mô hình hiệu ứng cố định động để điều tra mối quan hệ này trong khi kiểm soát một loạt các biến số khác bao gồm điều kiện kinh tế ban đầu, tăng dân số, đầu tư trực tiếp nước ngoài Kết quả cho thấy cơ sở hạ tầng viễn thông là một nhân tố quan trọng trong việc giải thích tăng trưởng kinh tế khu vực ở Trung Quốc Kết quả rất khả quan ngay cả khi kiểm soát mức GDP bình quân đầu người, tăng trưởng chậm
và các yếu tố khác Kết quả cho thấy đầu tư viễn thông đang giảm dần lợi nhuận, do
đó gợi ý rằng các khu vực ở giai đoạn phát triển sớm hơn có thể thu được nhiều nhất
từ đầu tư vào cơ sở hạ tầng viễn thông
Ward và Zheng (2016) đánh giá tác động của viễn thông cố định và di động đến tăng trưởng kinh tế ở Trung Quốc bằng cách sử dụng dữ liệu của 31 tỉnh Trung Quốc từ năm 1991 đến năm 2010 Áp dụng hiệu quả cố định hai chiều tĩnh hồi qui bình phương nhỏ nhất cũng như hệ thống động ước tính thời điểm tổng quát, trong
đó các thuê bao viễn thông lúc đầu được giả định là ngoại sinh và sau đó có công cụ
để tính toán tính nội sinh có thể xảy ra Kết quả ước lượng cho thấy tác động tích cực của thuê bao điện thoại di động đối với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người đặc biệt mạnh mẽ trong giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2000, cụ thể khu vực phía Tây Trung Quốc kém phát triển thì hưởng lợi nhiều hơn từ viễn thông di động
Trang 22so với khu vực phía đông giàu có Tuy nhiên, giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2010, không thấy có sự khác biệt về tác động nêu trên giữa hai miền Trái ngược với tác động tích cực của viễn thông di động, các thuê bao cố định ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế ở cả hai miền trong giai đoạn sau
Tại Singapore, Vu (2013) đã cung cấp một cuộc điều tra toàn diện về đóng góp của viễn thông vào tăng trưởng kinh tế Singapore trong giai đoạn 1990-2008, trong đó có hai kết quả đáng lưu ý Thứ nhất, có sự liên quan tích cực mạnh mẽ giữa cường độ sử dụng viễn thông và tăng giá trị gia tăng và năng suất lao động ở cấp ngành Thứ hai, đầu tư viễn thông đóng góp khoảng 1 điểm % vào GDP của Singapore trong giai đoạn 1990-2008, và vai trò của viễn thông trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ngày càng trở nên quan trọng theo thời gian
Tại Hàn Quốc, Hong (2017) đã kiểm tra mối quan hệ quan hệ nhân quả giữa đầu tư nghiên cứu phát triển với tăng trưởng kinh tế cho ngành công nghiệp thông tin và truyền thông Hàn Quốc dựa vào dữ liệu chuỗi thời gian trong vòng 26 năm từ năm 1988 đến năm 2013 Kết quả cho thấy khi tổng đầu tư nghiên cứu phát triển về thông tin truyền thông được phân loại vào khu vực công và khu vực tư thì đầu tư nghiên cứu phát triển về công nghệ thông tin tư nhân có quan hệ mạnh mẽ hơn với tăng trưởng kinh tế, trong khi đầu tư nghiên cứu phát triển thông tin truyền thông công lại có quan hệ yếu hơn
Cuối cùng, trên cơ sở lý thuyết, Vu (2011) đã lập luận ba nội dung về những tác động tích cực của viễn thông lên tăng trưởng kinh tế như sau: (i) thúc đẩy sự phổ biến và đổi mới công nghệ; (ii) nâng cao chất lượng các quyết định của các doanh nghiệp và hộ gia đình; và (iii) tăng nhu cầu và giảm chi phí sản xuất, cùng với việc tăng mức sản lượng trong giai đoạn 1996 – 2005 ở 102 quốc gia khác nhau Nội dung phân tích được thực hiện bằng ba phương pháp Phương pháp thứ nhất cho thấy sự tăng trưởng trong giai đoạn 1996-2005 đã được cải thiện so với hai thập kỷ trước và đã trải qua một sự thay đổi cơ cấu đáng kể Phương pháp thứ hai sử dụng phương pháp hồi quy xuyên quốc gia để xác định mối liên hệ chặt chẽ giữa hòa
Trang 23mạng viễn thông và tăng trưởng vào giai đoạn 1996-2005, kiểm soát các động lực tăng trưởng tiềm năng khác và các hiệu ứng cố định theo quốc gia Phương pháp thứ
ba sử dụng Phương pháp hồi quy GMM để làm rõ mối liên hệ nhân quả giữa hòa mạng viễn thông và tăng trưởng Phân tích này cũng chỉ ra rằng, đối với một quốc gia đang phát triển, hữu dụng biên của sử dụng Internet lớn hơn điện thoại di động,
do đó lớn hơn so với máy tính cá nhân Tuy nhiên, hữu dụng biên của việc hòa mạng viễn thông giảm đi khi số lượng thuê bao tăng lên
Tóm lại, các nghiên cứu trên cung cấp một số bằng chứng cho thấy đầu tư viễn thông có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu này sử dụng các biến viễn thông là các biến liên quan đến mật độ điện thoại di động hoặc mật độ điện thoại cố định mà không bao gồm cả mật độ thuê bao Internet Trái ngược với các nghiên cứu trên, trong bài nghiên cứu này, tác giả sẽ ước tính một mô hình kết hợp cả ba biến viễn thông nêu trên Điều này rất quan trọng vì cả ba loại dịch vụ viễn thông gồm điện thoại cố định – điện thoại di động - internet đều ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực khác nhau trong nền kinh tế, tạo nên một phân tích tăng trưởng vĩ mô cần thiết Hơn nữa, như đã được chứng minh bởi các nghiên cứu xung quanh cuộc tranh luận cơ sở hạ tầng công cộng, các hiệu ứng cố định có thể là quan trọng Theo kinh nghiệm cơ sở hạ tầng công cộng, điều quan trọng đối với chính sách công là điều tra xem tác động tăng trưởng tích cực của các khoản đầu tư viễn thông có được duy trì hay không Bài nghiên cứu luận văn dưới đây sẽ cố gắng làm sáng tỏ các vấn đề này
Trang 24Bảng 2.1: Bảng tổng hợp các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài
nghiên cứu
Madden (2000) Ước lượng bình
phương bé nhất (OLS) và hồi quy biến công cụ
GDP bình quân đầu người, Mật độ thuê bao, Lưu lượng, Phí kết nối, Khả năng chi trả
Viễn thông tác động dương đến tăng trưởng kinh tế
Röller &
Waverman (2001)
Ước lượng bằng phương pháp GMM (General Method of Moments)
GDP, Mật độ điện thoại cố định, Giá dịch
vụ thoại, Lực lượng lao động có trình độ trung học cơ sở, Chi tiêu chính phủ, Tỷ trọng đầu tư viễn thông trong GDP
Viễn thông tác động dương đến tăng trưởng kinh tế
Datta (2004) Tiếp cận dữ liệu
bảng, tác động cố định linh động
Tỷ lệ tăng trưởng GDP thực bình quân đầu người (BQĐN), GDP thực BQĐN theo sức mua, Tỷ lệ chi tiêu chính phủ trong GDP,
Tỷ lệ đầu tư cố định trong GDP, Tỷ lệ tăng trưởng dân số, Mức độ mở cửa hội nhập,
Viễn thông có mối tương quan thuận với tăng trưởng kinh tế
Trang 25Tăng trưởng kinh tế ở các nước có thu nhập thấp tác động đến tăng trưởng viễn thông
Ở các nước có thu nhập cao thì mối quan
hệ giữa viễn thông và tăng trưởng kinh tế
là mối quan hệ hai chiều
Ward (2016) Ước lượng GMM
Trang 26Hong (2016) Phân tích nhân quả Giá trị gia tăng trong ngành công nghiệp,
tổng đầu tư R&D
Mối quan hệ hai chiểu giữa viễn thông và tăng trưởng kinh tế
Nguồn: Tổng hợp của tác giả (2018)
Trang 27Đánh giá tổng quan tài liệu
Qua lược khảo các tài liệu có liên quan, tác giả rút ra một số nhận xét:
Một là, viễn thông và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ mật thiết với nhau Tùy theo từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế và tùy theo chính sách quản lý
mà viễn thông sẽ có tác động tích cực hoặc tiêu cực lên tăng trưởng kinh tế (Shiu & Lam, 2008; Lam & Shiu, 2010; Ward, 2016)
Hai là, các biến liên quan đến viễn thông thường là mật độ điện thoại di động trên 100 dân, mật độ điện thoại cố định trên 100 dân nhưng ít có nghiên cứu nào bao gồm cả mật độ thuê bao sử dụng Internet
Ba là, các phương pháp nghiên cứu viễn thông và tăng trưởng kinh tế thường được sử dụng là hồi quy OLS, GMM hoặc phân tích nhân quả Trong đó, tùy theo điều kiện thực tế mà sử dụng phương pháp đánh giá phù hợp
Tóm tắt chương 2
Chương 2 đã trình bày các khái niệm tiếp cận trong nghiên cứu; Tổng quan về lịch sử phát triển viễn thông trên thế giới và Việt Nam; Phương pháp nghiên cứu viễn thông và tăng trưởng kinh tế, trong đó giới thiệu phương pháp tác động cố định linh động (Dynamic fixed effects) kết hợp với phương pháp hồi quy OLS, GMM Đồng thời, lược khảo các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài để làm cơ sở cho việc hình thành phương pháp nghiên cứu ở chương 3
Trang 28Nhóm dịch vụ viễn thông
Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Khung phân tích
Với mục tiêu nghiên cứu đã được nêu ở Chương 1 Trên cơ sở xem xét giả thuyết hội tụ và mô hình Kaldor về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với giá trị gia tăng sản xuất đã nêu trong Chương 2, tác giả trình bày khung phân tích đề tài nghiên luận văn thạc sĩ theo Hình 3.1 dưới đây
Hình 3.1 Khung phân tích của đề tài
Nguồn: Tổng hợp lý thuyết và đề xuất của tác giả (2018) Trong đó, các yếu tố tác động đến tỷ lệ tăng trưởng GRDP BQĐN tại Việt Nam gồm có: Nhóm các chỉ tiêu về kinh tế gồm Logarit tự nhiên của GRDP BQĐN
Nhóm kinh tế
ở năm t
Mật độ thuê bao điện thoại cố định/100 dân
Mật độ thuê bao internet/100 dân
Mật độ thuê bao điện thoại di động/100 dân
Trang 29ở năm t-1, Chi tiêu ngân sách địa phương, Vốn đầu tư, Dân số, Giá trị xuất nhập
khẩu Nhóm dịch vụ viễn thông gồm có Mật độ thuê bao điện thoại cố định/100
dân; Mật độ thuê bao điện thoại di động/100 dân; Mật độ thuê bao Internet/100 dân
Cũng theo các nghiên cứu trước đây của Shiu và Lam (2008), Hong (2016) thì
nhóm dịch vụ viễn thông có nguy cơ chịu tác động ngược lại từ tỷ lệ tăng trưởng
GRDP BQĐN
3.2 Mô hình phân tích
Với mục tiêu nghiên cứu ban đầu là phân tích mức tác động của từng loại dịch
vụ viễn thông đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam Để giải quyết một số tồn tại trong
tăng trưởng kinh tế - tức là, để nắm bắt một số hiệu ứng tự tương quan có thể xảy ra
như trong phần trình bày của Datta và Agarwal (2004), bài nghiên cứu luận văn xây
dựng mô hình nghiên cứu định lượng tác động cố định để thấy rõ tính không đồng
nhất giữa các tỉnh thành với phương trình ước lượng có bổ sung thêm biến trễ biến
phụ thuộc như sau:
GRTHit = ai + β1GRTHi,t-1 + β2L1grdpi + β3 POPit + β4Gc/Yit + β5I/Yit +
β6OPENit + β7TELit + β8TELsqit + vt + εit (3.1)
Với TELit là các dạng dịch vụ viễn thông được đo lường bởi một trong ba chỉ
tiêu: i) mật độ thuê bao điện thoại cố định trên 100 dân, ii) mật độ thuê bao điện
thoại di động trên 100 dân, và iii) mật độ thuê bao internet trên 100 dân Cụ thể có 3
phương trình được ước lượng với 3 chỉ tiêu như sau:
Dịch vụ viễn thông được xem xét với 1 trong 3 chỉ tiêu như sau:
1 Mật độ điện thoại cố định/100 dân – đơn vị tính là Thuê bao– Ký hiệu là
TELF Được tính bằng cách lấy Tổng số thuê bao điện thoại cố định của tỉnh thành i
trong năm t chia cho dân số trung bình của tỉnh thành i trong năm t, nhân cho 100
2 Mật độ điện thoại di động/100 dân – đơn vị tính là Thuê bao– Ký hiệu là
TELM Được tính bằng cách lấy Tổng số thuê bao điện thoại di động của tỉnh thành
i trong năm t chia cho dân số trung bình của tỉnh thành i trong năm t, nhân cho 100
Trang 30Do số liệu thuê bao di động của Cục thống kê tỉnh thành không thống nhất cách lấy
số liệu giữa thuê bao di động trả sau với thuê bao di động trả trước qua các năm Do
đó, trong phần dữ liệu này tác giả đã tham khảo thêm số liệu báo cáo phát triển thuê bao của các Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh thành, Bộ Thông tin và Truyền thông và các doanh nghiệp viễn thông di động
3 Mật độ Internet/100 dân – đơn vị tính là Thuê bao– Ký hiệu là Inter Được tính bằng cách lấy Tổng số thuê bao Internet cố định và di động của tỉnh thành i trong năm t chia cho dân số trung bình của tỉnh thành i trong năm t, nhân cho 100 Theo đó, phương trình (3.1) được viết lại thành 03 phương trình con:
GRTHit = ai + β1 GRTHi,t-1 + β2 L1grdpi + β3 POPit + β4 Gc/Yit + β5 I/Yit + β6
Openit + β7 TELFit + β8 TELFsqit + vt + εit (3.1.1) GRTHit = ai + β1 GRTHi,t-1 + β2 L1grdpi + β3 POPit + β4 Gc/Yit + β5 I/Yit + β6
Openit + β7 TELMit + β8 TELMsqit + vt + εit (3.1.2) GRTHit = ai + β1 GRTHi,t-1 + β2 L1grdpi + β3 POPit + β4 Gc/Yit + β5 I/Yit + β6
Openit + β7 Interit + β8 Inter-sqit + vt + εit (3.1.3) Trong đó,
- i đại diện đơn vị chéo là tỉnh thành thứ i (i=1-63);
- t là ký hiệu thời gian của thời đoạn thứ t (t=2006-2016);
- ai là hệ số nhiễu đặc thù của tỉnh thành i;
- vt là hệ số thời gian không bị ảnh hưởng;
- εit là hệ số nhiễu kết hợp theo tỉnh thành và theo thời gian;
- GRTHit là tỷ lệ tăng trưởng GRDP BQĐN của tỉnh/thành i vào năm t; Tỷ lệ tăng trưởng GRDP BQĐN – đơn vị tính là % - Ký hiệu là GRTH: Được tính bằng cách lấy mức GRDP BQĐN năm t chia cho GRDP BQĐN năm (t-1) nhân cho 100, trừ 100 Với GRDP là tổng giá trị sản phẩm trên địa bàn tỉnh thành tính theo giá cố định năm 2010;
Trang 31- Gc/Yit là tỷ lệ chi tiêu ngân sách trong GRDP của tỉnh i ở năm t, bằng chứng
về vai trò chi tiêu chính phủ trong các nghiên cứu trước vẫn chưa được xác định cụ thể Tỷ lệ chi tiêu của chính phủ trong GRDP – đơn vị tính là % - Ký hiệu là Gc/Y: Được tính bằng cách lấy tổng mức chi tiêu ngân sách địa phương của tỉnh thành i ở năm t chia cho GRDP của tỉnh i ở năm t;
- I/Yit đo tỷ trọng đầu tư cố định trong GRDP của tỉnh i ở năm t, tương quan giữa đầu tư và tăng trưởng được cho là dương Tỷ lệ đầu tư cố định trong GRDP – đơn vị tính là % - Ký hiệu là I/Y: Được tính bằng cách lấy Tổng giá trị vốn đầu tư trên địa bàn i ở năm t theo giá cố định năm 2010 chia cho GRDP của tỉnh i ở năm t;
- POPit là tỷ lệ tăng trưởng dân số của tỉnh i ở năm t, biến tăng trưởng dân số
âm, nghĩa là khi dân số tăng trưởng chậm sẽ dẫn đến GRDP BQĐN tăng cao hơn
Tỷ lệ tăng trưởng dân số - đơn vị tính là % - Ký hiệu POP: Được tính bằng cách lấy mức dân số trung bình của tỉnh thành i năm t chia cho dân số trung bình của tỉnh i ở năm (t-1) nhân cho 100, trừ 100;
- OPENit đo lường mức độ mở cửa của tỉnh i ở năm t được xác định bằng tỷ lệ tổng giá trị xuất nhập khẩu trên GRDP của tỉnh i ở năm t và được kỳ vọng sẽ có tác động dương đến tăng trưởng Tỷ lệ xuất nhập khẩu trong GRDP – đơn vị tính là % -
Ký hiệu là Open: Được tính bằng cách lấy giá trị xuất nhập khẩu của tỉnh thành i năm t nhân với tỷ giá trung bình năm t, chia cho GRDP của tỉnh i ở năm t;
- Kỳ vọng dự kiến cho các biến bình phương dịch vụ viễn thông là âm Tức, chúng ta bắt buộc phải giảm chi phí đầu tư phát triển thuê bao các loại dịch vụ viễn thông, điều này cũng nói lên một vấn đề là việc duy trì phát triển thuê bao viễn thông không phải lúc nào cũng đem lại hiệu quả tăng trưởng kinh tế cao như mong đợi
3.3 Mô hình kiểm tra chiều tác động
Một vấn đề song song cần được xem xét trong nghiên cứu là kiểm tra chiều tác động giữa viễn thông và tăng trưởng kinh tế bằng cách sử dụng biến trễ của biến dịch vụ viễn thông trong mô hình Nếu chiều tác động chạy từ tăng trưởng kinh tế
Trang 32đến viễn thông thì hệ số biễn trễ dịch vụ viễn thông được cho là không có ý nghĩa thống kê Ngược lại, một hệ số có ý nghĩa thống kê của biến trễ dịch vụ viễn thông
sẽ xác nhận rằng các dịch vụ viễn thông ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế
Theo đó, phương trình (3.1) được xây dựng với 02 phương trình ước lượng như sau:
GRTHit = ai + β1 GRTHi,t-1 + β2 L1grdpi + β3 POPit + β4 Gc/Yit + β5 I/Yit + β6
GRTHit = ai + β1 GRTHi,t-1 + β2 L1grdpi + β3 POPit + β4 Gc/Yit + β5 I/Yit + β6
Trong đó,
- Biến TELi,t-1, TELsqi,t-1 ở phương trình (3.2) đại diện cho biến viễn thông và bình phương biến viễn thông của tỉnh i ở năm t-1, được chi tiết xem xét ở 03 đại diện khác nhau là mật độ thuê bao điện thoại cố định trên 100 dân của tỉnh i ở năm t-1 (Ký hiệu: TELFi,t-1, TELFsqi,t-1), mật độ thuê bao điện thoại di động trên 100 dân của tỉnh i ở năm t-1 (Ký hiệu: TELMi,t-1, TELMsqi,t-1), và mật độ thuê bao internet trên 100 dân của tỉnh i ở năm t-1 (Ký hiệu: Interi,t-1, Intersqi,t-1) Cụ thể các phương trình sau:
GRTHit = ai + β1 GRTHi,t-1 + β2 L1grdpi + β3 POPit + β4 Gc/Yit + β5 I/Yit + β6
Openit + β7 TELFi,t-1 + β8 TELFsqi,t-1 + vt + εit (3.2.1) GRTHit = ai + β1 GRTHi,t-1 + β2 L1grdpi + β3 POPit + β4 Gc/Yit + β5 I/Yit + β6
Openit + β7 TELMi,t-1 + β8 TELMsqi,t-1 + vt + εit (3.2.2) GRTHit = ai + β1 GRTHi,t-1 + β2 L1grdpi + β3 POPit + β4 Gc/Yit + β5 I/Yit + β6
Openit + β7 Interi,t-1 + β8 Inter-sqi,t-1 + vt + εit (3.2.3)
- Biến TELi,t-2,TELsqi,t-2 ở phương trình (3.3) đại diện cho biến viễn thông của tỉnh i ở năm t-2, được chi tiết xem xét ở 03 đại diện khác nhau là mật độ thuê bao điện thoại cố định trên 100 dân của tỉnh i ở năm t-2 (Ký hiệu: TELFi,t-2, TELFsqi,t-2), mật độ thuê bao điện thoại di động trên 100 dân của tỉnh i ở năm t-2 (Ký hiệu:
Trang 33TELMi,t-2, TELMsqi,t-2), và mật độ thuê bao internet trên 100 dân của tỉnh i ở năm
t-2 (Ký hiệu: Interi,t-2, Inter-sqi,t-2) Cụ thể các phương trình sau:
GRTHit = ai + β1 GRTHi,t-1 + β2 L1grdpi + β3 POPit + β4 Gc/Yit + β5 I/Yit + β6
Openit + β7 TELFi,t-2 + β8 TELFsqi,t-2 + vt + εit (3.3.1)
GRTHit = ai + β1 GRTHi,t-1 + β2 L1grdpi + β3 POPit + β4 Gc/Yit + β5 I/Yit + β6
Openit + β7 TELMi,t-2 + β8 TELMsqi,t-2 + vt + εit (3.3.2)
GRTHit = ai + β1 GRTHi,t-1 + β2 L1grdpi + β3 POPit + β4 Gc/Yit + β5 I/Yit + β6
Openit + β7 Interi,t-2 + β8 Inter-sqi,t-2 + vt + εit (3.3.3)
Nếu giá trị hệ số β của các biến trễ dịch vụ viễn thông có ý nghĩa thống kê thì kết quả được hiểu là chiều tác động chỉ chạy từ viễn thông đến tăng trưởng kinh tế Ngược lại, nếu giá trị hệ số β của trễ viễn thông không có ý nghĩa thống kê thì kết quả được hiểu là có xảy ra mối quan hệ hai chiều, tức xảy ra hiện tượng nội sinh trong mô hình nghiên cứu
3.4 Dữ liệu các biến trong mô hình nghiên cứu
3.4.1 Dữ liệu
Dữ liệu kinh tế vĩ mô về GRDP, dân số, tiêu dùng và đầu tư của 63 tỉnh thành
đã được lấy từ Tổng Cục thống kê, đây là dữ liệu quốc gia có thể so sánh và sử dụng rộng rãi Dữ liệu về viễn thông được lấy từ Tổng Cục thống kê, có so sánh cân đối với dữ liệu của các Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh thành, các doanh nghiệp viễn thông di động Dữ liệu được lấy cho 63 tỉnh thành trong giai đoạn từ 2006-
2016
Trang 34Tên biến Ký hiệu Đơn vị Kỳ vọng dấu Biến phụ thuộc
Biến giải thích
Logarit tự nhiên của GRDP BQĐN ở năm t-1 L1grdp(t-1) -
Tỷ lệ chi tiêu ngân sách của tỉnh thành trong GRDP Gc/Y % -
Mức độ mở cửa hội nhập (Tỷ lệ xuất nhập khẩu trên GRDP) Open % +
Biến điện thoại cố định
Trang 35Mật độ điện thoại cố định/100 dân ở năm thứ t-1 TELF(t-1)
Biến điện thoại di động
Mật độ điện thoại di động/100 dân TELM Thuê bao/100
Mật độ điện thoại di động/100 dân ở năm thứ t-1 TELM(t-1) Thuê bao/100 +
Trang 36Mật độ điện thoại di động/100 dân ở năm thứ t-2 TELM(t-2)
Trang 37Mật độ thuê bao Internet/100 dân bình phương Inter-sq Thuê bao/100
Trang 383.4.2 Phương pháp kinh tế lượng
Đối với mục tiêu 1: Phân tích mức tác động của từng loại dịch vụ viễn thông đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Sử dụng thống kê mô tả trong Stata để mô tả mẫu, xem các giá trị lớn nhất, nhỏ nhất, so sánh với giá trị trung bình là cao hay thấp để đánh giá mức độ tác động của biến đó trong mô hình Từ đó, đưa ra nhận xét về biến
Kiểm tra hệ số tương quan giữa các biến độc lập và giữa biến độc lập với biến phụ thuộc Đối với hệ số tương quan giữa các biến độc lập thì giá trị càng tiến về 0 càng tốt (mức đề xuất là <0,5), điều này thể hiện mô hình không bị hiện tượng đa cộng tuyến Đối với hệ số tương quan giữa biến độc lập với biến phụ thuộc thì giá trị càng tiến về 1 hay -1 càng thể hiện mối tương quan tuyến tính mạnh
Thực hiện phương pháp hồi quy tác động cố định (Fixed Effects - FE) các phương trình con của phương trình (3.1) để phân tích mức tác động của từng loại dịch vụ viễn thông đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Kiểm định phương sai thay đổi trong mô hình FE bằng kiểm định Wald với giả thuyết H0 là mô hình FE không có hiện tượng phương sai, sai số thay đổi Nếu kết quả có (Prob > Chi2) > 1% thì ta chấp nhận giả thuyết H0 Nếu kết quả có (Prob
> Chi2) có giá trị < 1% thì ta bác bỏ giả thuyết H0, tức mô hình FE đang có phương sai, sai số không đồng đều Hiện tượng mô hình có phương sai, sai số không đồng đều sẽ khiến cho sai số chuẩn của β bị sai lệch, không đáng tin cậy, dẫn đến thống
kê t bị sai, dẫn đến giá trị P-value sai và kết luận sai Để khắc phục, ta chạy mô hình hồi quy với phương trình mô hình sai số chuẩn mạnh RSE (Robust Standard errors) trong Stata
Kiểm định tự tương quan theo nghiên cứu của Wooldridge (2002) với giả thuyết H0 là không có tương quan chuỗi Nếu giá trị của kiểm định Wooldridge có giá trị (Prob>F) >1% ta kết luận chấp nhận giả thiết H0, có nghĩa là không có hiện tượng tự tương quan Ngược lại, nếu mô hình có hiện tượng tự tương quan sẽ dẫn đến kết quả hồi quy FE dữ liệu bảng không đáng tin cậy Trong trường hợp mô hình
Trang 39vừa bị tự tương quan, vừa có phương sai thay đổi thì sẽ sử dụng phương pháp ước lượng hồi quy với sai số chuẩn của Driscoll và Kraay (1998) để khắc phục
Kiểm tra đa cộng tuyến: Đa cộng tuyến hoàn hảo làm mô hình không ước lượng được Đa cộng tuyến không hoàn hảo có thể làm cho các hệ số ước lượng không có ý nghĩa thống kê hoặc sai dấu Để kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến, tác giả dùng hệ số phóng đại phương sai (VIF) VIF là một thước đo mức độ trong đó phương sai của hệ số ước lượng bị phóng đại do cộng tuyến VIF < 10 thì mô hình không có hiện tượng đa cộng tuyến Ngược lại, VIF > 10 thì mô hình có hiện tượng
đa cộng tuyến Khi mô hình có hiện tượng đa cộng tuyến, giải pháp để khắc phục là
bỏ bớt biến hoặc thay đổi dạng hàm Trường hợp bỏ bớt biến nhưng kết quả hệ số vẫn không thay đổi thì không cần khắc phục hiện tượng đa cộng tuyến
Đối với mục tiêu 2: Kiểm tra chiều tác động từ viễn thông đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Thực hiện phương pháp hồi quy tác động cố định (Fixed Effects - FE) các phương trình con trong phương trình (3.2), (3.3)
Tóm tắt chương 3
Chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu của đề tài Trên cơ sở lý thuyết
và lược khảo các nghiên cứu có liên quan, mô hình nghiên cứu tác động của việc phát triển ngành viễn thông đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam được đề xuất gồm có: Biến trễ của biến phụ thuộc, Logarit tự nhiên của GRDP BQĐN ở năm t-1, tỷ lệ chi tiêu của chính phủ, tỷ lệ đầu tư cố định, tỷ lệ tăng trưởng dân số, mức độ mở cửa hội nhập, biến các loại dịch vụ viễn thông gồm: thuê bao điện thoại cố định/100 dân, thuê bao điện thoại di động/100 dân, thuê bao internet/100 dân
Phương pháp đánh giá tác động được sử dụng là phương pháp hồi quy FE
Trang 40Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Tổng quan về ngành viễn thông Việt Nam
Tại Việt Nam, thị trường ngành viễn thông được xem là một trong những thị trường có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong khu vực và trên thế giới Theo đó, lịch sử phát triển của ngành viễn thông Việt Nam, cụ thể là dịch vụ điện thoại di động và Interrnet có thể chia làm 4 giai đoạn tăng trưởng như sau: giai đoạn bào thai từ 1993 – 1998, giai đoạn sơ sinh từ 1999 – 2004, giai đoạn cất cánh từ 2005 –
2009 và giai đoạn duy trì từ 2010 – nay Như vậy, sau hơn 20 năm đổi mới, ngành viễn thông Việt Nam đã có những phát triển vượt trội cả về chất lượng lẫn số lượng thuê bao hòa mạng Trong mỗi giai đoạn, Chính phủ và các cơ quan quản lý chuyên ngành đã đưa ra nhiều chính sách khác nhau nhằm thúc đẩy, điều tiết thị trường viễn thông phát triển một cách bền vững
4.1.1 Ngành viễn thông Việt Nam giai đoạn 2006-2009:
Đây là giai đoạn ngành viễn thông di động Việt Nam được giải phóng khỏi thế độc quyền sau hơn 10 năm xây dựng và phát triển Số lượng nhà cung cấp dịch
vụ viễn thông di động tăng từ 2 doanh nghiệp là MobiFone, Vinaphone lên thành 7 doanh nghiệp là MobiFone, Vinaphone, S-fone, Viettel, E-Telecom, Vietnamobile
và G-mobile Với sự gia nhập của Viettel Telecom, thị trường đã có cuộc chạy đua
về giảm giá cước dịch vụ viễn thông di động cùng hàng loạt các chương trình khuyến mại nhằm thu hút phát triển thuê bao mới hòa mạng, bên cạnh đó là chương trình viễn thông công ích của Chính phủ đã khiến số lượng thuê bao điện thoại di động ở các tỉnh thành trên khắp cả nước tăng vượt trội với tốc độ tăng trưởng bình quân hơn 60%/năm Điều này đã dẫn đến những hệ lụy khôn lường khác từ các thuê bao ảo, ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập, chi tiêu của người tiêu dùng như tin nhắn rác, tin nhắn lừa đảo, cuộc gọi quảng cáo, lừa đảo, quấy rối, song song đó là tình trạng chất lượng dịch vụ viễn thông tụt giảm vì quá tải Cũng trong giai đoạn này, dưới sự chỉ đạo của Bộ Thông tin và Truyền thông, các doanh nghiệp viễn thông bắt đầu quan tâm đến việc đầu tư xây dựng trạm phát sóng nhằm nâng cao chất lượng