Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này áp dụng hai phương pháp thiết kế: nghiên cứu can thiệp có đối chứng và phương pháp định lượng Dữ liệu được xử lý và phân tích bằng phần mềm Excel và SPSS 22.0 để thống kê mô tả mẫu và phân tích số liệu khảo sát.
Phương pháp thu thập dữ liệu trong nghiên cứu này bao gồm việc sử dụng bảng hỏi để phỏng vấn bệnh nhân, đồng thời thu thập thông tin từ hồ sơ bệnh án trong suốt thời gian bệnh nhân nằm viện Ngoài ra, nghiên cứu còn thực hiện cuộc gọi trực tiếp cho bệnh nhân vào ngày thứ 7 và thứ 30 sau khi xuất viện Dữ liệu thu thập được sẽ được mã hóa và hiệu chỉnh để loại bỏ các phiếu trả lời không chính xác, đồng thời có thể yêu cầu người khảo sát trả lời lại Cuối cùng, dữ liệu sẽ được nhập vào phần mềm SPSS 220.0 để tiến hành phân tích.
Ý nghĩa của nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp cơ sở dữ liệu quan trọng cho bác sĩ và nhân viên y tế về hiệu quả và chi phí của các phương pháp đóng da trong mổ lấy thai, bao gồm cả việc sử dụng và không sử dụng keo dán da sinh học Dermabond Điều này giúp bác sĩ tư vấn cho bệnh nhân chọn lựa phương pháp đóng da phù hợp, đồng thời làm nền tảng để xây dựng giá gói phẫu thuật hợp lý hơn, từ đó nâng cao hiệu quả điều trị.
C ấu trúc luận văn
Luận văn bắt đầu với phần mở đầu trình bày vấn đề nghiên cứu, mục tiêu, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu, cùng với ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu Nội dung chính của luận văn được chia thành 5 chương.
Chương 2 Trình bày cơ sở lý thuyết
Chương 3 Phương pháp nghiên cứu khoa học
Chương 4 Kết quả và bàn luận
Chương 5 Kết luận và kiến nghi.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Cơ sở lý thuyết
Da là lớp bảo vệ toàn bộ cơ thể, với diện tích khoảng 1,6 m2 ở người trưởng thành Độ dày của da thay đổi theo độ tuổi, giới tính và vị trí trên cơ thể Cấu trúc da bao gồm ba lớp chính: lớp thượng bì, lớp trung bì và lớp hạ bì, cùng với các phần phụ như tóc, móng và các tuyến.
Da có tính đàn hồi và co giãn đa chiều, với các đặc điểm nhớt và khả năng tạo hình Nó bao gồm các lớp biểu mô, mô liên kết, tuyến, lông, nang lông, và thớ cơ, đồng thời là nơi tập trung của dây thần kinh cùng hệ thống mạch máu và bạch mạch Các tế bào da được thay thế hoàn toàn trong khoảng thời gian 4-6 tuần, cho thấy da là một trong những mô tế bào phát triển nhanh nhất trong cơ thể con người.
Hình 2.1.1 Cấu trúc của da
Lớp biểu bì (Epidermis) là lớp da ngoài cùng của con người, có độ dày từ 0.07 đến 1.8 mm và gần như trong suốt Ở những vùng da dày, lớp biểu bì thường bao gồm sáu lớp tế bào, trong khi ở các vùng da mỏng, ít nhất cũng có hai lớp tế bào: lớp mầm và lớp phủ ngoài sừng hóa.
Hình 2.1.2 Cấu tạo của nơi da dày
( Nguồn: Mô phôi đại cương NXB YHHN)
Hình 2.1.3 Cấu tạo của nơi da mỏng
( Nguồn: Mô phôi đại cương NXB YHHN)
Lớp biểu bì gồm có năm lớp:
Lớp tế bào sừng là lớp ngoài cùng của da, bao gồm các tế bào dẹt không chứa nhân và chủ yếu cấu tạo từ chất sừng Khi tiến gần bề mặt da, các tế bào này không còn dính chặt vào nhau và dần bong tróc ra Những tế bào bị tróc này kết hợp với mồ hôi và chất bã, tạo thành chất bẩn trên bề mặt da, mang lại cảm giác cộm khi chúng ta kỳ cọ lòng bàn tay.
Lớp bóng: chỉ có ở những vùng da dày, tế bào thì dẹt và sáng lóng lánh không có nhân gồm có hai đến ba lớp tế bào
Lớp hạt bao gồm ba lớp tế bào hình thoi dẹt, trong đó tế bào có nhân và nhân của lớp tế bào hạt có màu sáng hơn và đang trong quá trình chuyển biến, chuyển hóa.
Lớp gai, hay còn gọi là lớp Malpighi, là lớp dày nhất của da, bao gồm các tế bào lớn có hình dạng đa giác Khi các tế bào này phát triển và di chuyển lên bề mặt da, chúng dần trở nên dẹt hơn, tạo thành một lớp mềm như màng nhầy, do đó lớp này còn được gọi là lớp nhầy.
Hình 2.1.4 Cấu tạo lớp gai
( Nguồn: Mô phôi đại cương NXB YHHN)
Lớp đáy là lớp tế bào sâu nhất, bao gồm các tế bào hình trụ đứng sát nhau, tạo thành hàng rào với nhân tế bào nằm giữa Đây là lớp cơ bản có vai trò quan trọng trong việc sản sinh tế bào mới để thay thế những tế bào già và không còn chức năng.
Ngoài các thành phần chính của da, còn có những phần phụ quan trọng như nang lông, tuyến mồ hôi, tuyến bã, răng, móng và tuyến ngoại tiết, tất cả đều nằm trong lớp biểu bì.
Lớp biểu bì đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ cơ thể con người khỏi các tác động có hại từ môi trường và ngăn chặn sự xâm nhập của vi khuẩn Sắc tố melanin trong lớp biểu bì không chỉ quyết định màu sắc của da mà còn giúp ngăn chặn các tia cực tím gây hại Thêm vào đó, lớp biểu bì còn tham gia vào quá trình tổng hợp vitamin D khi tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, đặc biệt là trong khoảng thời gian trước 8h30 sáng.
Lớp trung bì (Dermis) nằm dưới lớp biểu bì và được ngăn cách bởi màng đáy, có độ dày khoảng 0,4 mm Bề mặt lớp trung bì có các gai hình nón, hay còn gọi là nhú bì, thâm nhập vào biểu bì Lớp này chứa nhiều đầu mút thần kinh và mạch máu nhỏ, có vai trò nuôi dưỡng da Chức năng chính của lớp trung bì là nâng đỡ và bảo vệ da khỏi các va chạm bên ngoài, đồng thời bao gồm các tuyến mồ hôi, tuyến bã và nang lông.
Lớp trung bì là một lớp mô liên kết chắc chắn, bao gồm các tế bào liên kết, bó sợi, chất gian bào, cơ dựng lông, tuyến ống, nang lông, mạch máu và thần kinh Đặc biệt, lớp trung bì có độ dày gấp 15 đến 40 lần so với lớp biểu bì.
Tế bào đặc trưng của lớp trung bì là các nguyên bào sợi, tế bào collagen còn gọi là chất tạo keo chiếm 77% trọng lượng lớp trung bì
Trung bì đóng vai trò quan trọng trong việc nuôi dưỡng biểu bì thông qua lớp nhú, đồng thời là cơ quan bài tiết chất nhờn, mồ hôi và đào thải chất bã, chất độc Nó còn giúp điều chỉnh thân nhiệt, nhận cảm giác và có tính mềm dẻo, đàn hồi, phục hồi hình dáng sau khi cử động, ngăn ngừa tình trạng nhăn da Ngoài ra, trung bì còn hấp thu một số hóa chất và thuốc qua chân lông, tái tạo mô hạt để giúp vết thương mau lành, và tạo ra các loại men cùng chất chế tiết, đáp ứng các phản ứng viêm và dị ứng, được gọi chung là hàng rào sinh học.
Lớp hạ bì (Hypodermis) nằm dưới trung bì, bao gồm mô liên kết mỡ và các phần phụ của biểu bì như mạng lưới mạch máu, thần kinh, gốc lông và tuyến mồ hôi Lớp hạ bì có độ dày từ 0.25cm đến 1cm, nhưng không có mặt ở mọi vị trí trên da, đặc biệt là ở những vùng da mỏng như vành tai, mi mắt, cánh mũi, viền môi, và nơi tiếp nối da móng tay, móng chân, da bìu, da vùng đầu dương vật và viền hậu môn Các vùng như bụng và mông có lớp hạ bì, ảnh hưởng đáng kể đến thẩm mỹ hình dáng cơ thể.
Da đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ cơ thể, điều chỉnh nhiệt độ và kết hợp với ánh nắng để cung cấp vitamin D Ngoài ra, da còn là hàng rào ngăn chặn vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể.
Hình 2.1.5 Cấu trúc sợi collagen
Biểu bì là lớp bảo vệ da chống lại áp lực, cọ sát và mài mòn từ bên ngoài Mô mỡ dưới da đóng vai trò như lớp đệm giảm tác động va chạm, bảo vệ các mô bên dưới Khi da tiếp xúc nhiều lần với lực bên ngoài, lớp sừng sẽ dày lên, như trường hợp cục chai ở chân Da cũng có chức năng miễn dịch, sản xuất tế bào để xử lý và trình diện kháng nguyên cho tế bào lympho T khi có kháng nguyên xâm nhập Tế bào sừng tham gia vào miễn dịch bằng cách tiết ra interferon Các chất hóa học như màng hydrolipid và axit bảo vệ giúp trung hòa hóa chất kiềm có hại, trong khi lớp sừng và axit bảo vệ cơ thể khỏi vi khuẩn và nấm Hệ thống miễn dịch của da sẽ được kích hoạt khi có tác nhân gây hại vượt qua hàng rào bảo vệ đầu tiên.
L ập luận giả thuyết
2.2.1 Nghiên cứu trên thế giới
Bệnh nhân với vết thương dài thường phải khâu nhiều mũi để liền lại, nhưng họ không thích các sẹo để lại Để khắc phục vấn đề này, keo 232 đã được nghiên cứu từ năm 1960, với phòng thí nghiệm Kodak là đơn vị tiên phong Dermabond, một loại keo dán hóa học, thuộc nhóm Cyanoacrylates, được tổng hợp lần đầu vào năm 1949 Hiện tại, Cyanoacrylates có bốn loại, được chia thành hai nhóm dựa trên độ dài chuỗi carbon, trong đó loại keo dán đầu tiên có công thức hóa học là Cyanoacrylate liên kết ngắn (CAs).
Keo dán Cyanoacrylate, đặc biệt là Butylcyanoacrylate, đã được phát triển để khắc phục nhược điểm của các loại keo dán truyền thống, như việc giải phóng độc tố và nhiệt trong quá trình trùng hợp Loại keo này an toàn hơn vì không gây độc tế bào khi dán bề mặt Mặc dù chưa được FDA chấp thuận cho sử dụng tại Mỹ, Butylcyanoacrylate vẫn được ứng dụng rộng rãi trong phẫu thuật tai giữa, đóng rò rỉ dịch não tủy, khâu các đường rạch và điều trị vết thương rách da, cũng như trong ghép da.
Gần đây, Octyl – 2 – cyanoacrylate, hay còn gọi là Dermabond, đã được tổng hợp để khắc phục nhược điểm của cyanoacrylate mạch ngắn, và đã được FDA chứng nhận cho việc đóng lớp da thay thế cho khâu truyền thống Keo dán da này có hai loại: OCA độ nhớt thấp (Dermabond Topical Skin Adhesive) và OCA độ nhớt cao (Dermabond HV Topical Skin Adhesive), cả hai đều được ứng dụng rộng rãi trong lâm sàng, mang lại kết quả thẩm mỹ tốt và rút ngắn thời gian phẫu thuật Nghiên cứu cho thấy keo dán da có khả năng tạo ra màng film chắc khỏe, ngăn chặn sự xâm nhập của các vi khuẩn như Tụ cầu vàng, tụ cầu da, trực khuẩn E Coli và các vi khuẩn Gram âm khác.
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng keo dán da Dermabond mang lại lợi ích vượt trội so với phương pháp khâu, với việc chăm sóc vết thương ít hơn và hiệu quả nhanh chóng Theo nghiên cứu của Quinn, phương pháp này không chỉ hiệu quả hơn mà còn ít đau hơn so với kỹ thuật khâu truyền thống Elmasalme, Matabouli và Zuberi cũng nhấn mạnh rằng Dermabond rất phù hợp cho các vết rạch da nhỏ và các vết rách do chấn thương nhẹ Keo dán da này được khuyến nghị sử dụng cho những vết thương có độ căng thấp, đặc biệt là ở vùng mặt và thân mình, nhưng không nên áp dụng cho các vết thương ở vùng đầu gối hay khuỷu tay.
Keo dán da Dermabond đã được áp dụng hiệu quả trong phẫu thuật nhi khoa, giúp đóng các vết thương nhỏ ở trẻ em mà không gây sợ hãi khi khâu hay tháo chỉ, theo nghiên cứu của Penoff (1999) và tổ chức giáo dục phẫu thuật thẩm mỹ Báo cáo của Rajimwale cũng cho thấy keo dán này mang lại kết quả tốt trong việc đóng lớp da trong phẫu thuật mổ mở và phẫu thuật nội soi tiết niệu, với không có hiện tượng nhiễm trùng vết mổ.
Nghiên cứu của C.C.P Ong, A.S Jacobsen và V.T Joseph (2002) đã so sánh hiệu quả của keo dán da và khâu dưới biểu bì trong phẫu thuật nhi khoa Kết quả cho thấy keo dán da đơn giản hơn và đạt được kết quả thẩm mỹ tương tự như khâu dưới biểu bì, trong khi thời gian phẫu thuật không khác biệt so với phương pháp khâu trong da.
Rajimwale (2004) sử dụng trong phẫu thuật tiết niệu nhi thấy kết quả tốt
Trong phẫu thuật tạo hình khe hở môi, Millard đã khuyến nghị hạn chế số lượng mũi khâu cho bệnh nhi và sử dụng chỉ tự tiêu để khâu ngoài da Nghiên cứu của Magee và cộng sự (2003) cho thấy keo dán da có hiệu quả trong phẫu thuật khe hở môi bẩm sinh và trong quá trình sửa sẹo Nhiều tác giả đã chỉ ra rằng keo dán da Dermabond mang lại nhiều lợi ích như rút ngắn thời gian phẫu thuật, cải thiện kết quả thẩm mỹ và loại bỏ nhu cầu cắt chỉ, giúp giảm lo âu cho bệnh nhi Nghiên cứu của Andrew D.H Wilson và cộng sự (2008) so sánh hai phương pháp đóng da, cho thấy nhóm sử dụng keo dán da không gặp hiện tượng nhiễm trùng và tỷ lệ sẹo lồi không khác biệt đáng kể so với nhóm sử dụng băng dính vô khuẩn.
Bác sĩ Harry Coover và cộng sự đã lần đầu tiên báo cáo vào năm 1959 về hiệu quả của cyanoacrylate như một chất keo kết dính mép vết mổ Loại keo này mang lại nhiều lợi ích, bao gồm việc không cần khâu, rút ngắn thời gian điều trị và không cần băng bó sau khi dán, tạo cảm giác thoải mái cho bệnh nhân Nghiên cứu cho thấy keo dán có chuỗi carbon dài mang lại hiệu quả gắn kết tốt hơn Trong một thử nghiệm ngẫu nhiên so sánh giữa khâu vết thương và sử dụng cyanoacrylate, thời gian liền vết thương giảm 30%, đạt 28 ngày Kiểm tra mô vết mổ bằng kính hiển vi điện tử không phát hiện bất kỳ dấu hiệu bất lợi nào đối với tái tạo mô và không có bằng chứng về dị ứng từ keo dán.
Keo dán da đã được ứng dụng rộng rãi trong nhiều loại phẫu thuật như phẫu thuật vùng mặt, giác mạc, thần kinh ngoại vi, chỉnh hình, đầu cổ, tứ chi và vú Nghiên cứu cho thấy keo dán da Dermabond tạo ra một rào chắn hiệu quả, ngăn chặn vi khuẩn xâm nhập vào vết mổ với độ tin cậy lên đến 95% và hiệu quả 99% trong 72 giờ.
Nghiên cứu của Trường Đại học Tennessee của các tác giả: Susan G Murrmann, MD,
Nghiên cứu của Jeffrey S Markowitz, Dr PH, Elane M Gutterman, PhD, và Glenn Magee, MBA cho thấy việc sử dụng keo dán Dermabond trong phẫu thuật sản phụ khoa không chỉ tiết kiệm chi phí mà còn giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn so với phương pháp khâu bằng chỉ hoặc ghim Thêm vào đó, nghiên cứu của Ellis và cộng sự (2007) đã chỉ ra rằng cyanoacrylate là chất kết dính lý tưởng cho việc đóng mép vết thương, nhờ vào độ dính an toàn cao, khả năng kéo dãn tốt và giá thành hợp lý.
Nghiên cứu của Hall và Bailes chỉ ra rằng keo dán da Dermabond an toàn khi sử dụng trong phẫu thuật thần kinh, với tỷ lệ nhiễm khuẩn chỉ 0,5% Bệnh nhân có thể tắm ngay sau phẫu thuật mà không cần phải cắt chỉ hay lấy ghim khâu da.
Nghiên cứu của Eduardo Coelho de Souza và cộng sự chỉ ra rằng việc sử dụng keo dán da Dermabond trong phẫu thuật tim mạch không chỉ giúp giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn mà còn rút ngắn thời gian nằm viện sau phẫu thuật.
Nghiên cứu của Hancock và CS (2007) cho thấy 2-octyl-cyanoacrylate là một phương pháp hiệu quả trong phẫu thuật bàn tay, với tỷ lệ biến chứng vết thương rất thấp Tất cả bệnh nhân đều bày tỏ sự hài lòng, trong đó 46% hài lòng và 54% rất hài lòng về hiệu quả và tính thẩm mỹ của phương pháp này.
Các tác giả đã chỉ ra rằng việc xem xét vết thương sau phẫu thuật ở bệnh nhân có thể không cần thiết, giúp tiết kiệm thời gian và nguồn lực Tại Bồ Đào Nha, keo dán da Dermabond đã được nghiên cứu để đóng lớp da trên cùng trong phẫu thuật cắt tầng sinh môn, cho thấy thời gian lành vết mổ được rút ngắn và tỷ lệ nhiễm trùng giảm so với phương pháp sử dụng chỉ khâu.
Một nghiên cứu gần đây nhất của nhóm tác giả Dorothee Wachter, Anja Brückel,
Nghiên cứu của Marco Stein, Matthias F Oertel, Petros Christophis và Dieter-Karsten Bửker (2010) trên 235 bệnh nhân phẫu thuật cổ tử cung hoặc cột sống thắt lưng cho thấy keo dán Dermabond có nhiều ưu điểm, bao gồm giảm thời gian nằm viện và loại bỏ mũi khâu đau đớn Vết thương có thể tiếp xúc với nước và đặc biệt, tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ chỉ là 0,43%, thấp hơn nhiều so với tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ trung bình 3,0% và nhóm chứng 2,2% Nghiên cứu này được hỗ trợ bởi Dorothee Wachter và các cộng sự (2010).