1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh: Một số giải pháp xây dựng rào cản đối với hàng nhập khẩu qua thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2014- 2020

159 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 159
Dung lượng 1,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở trình bày thực trạng hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp trên địa bàn TP.HCM, tìm hiểu về những rào cản Việt Nam hiện đang áp dụng đối với hoạt động nhập khẩu và đề xuất một số giải pháp về việc xây dựng rào cản đối với hoạt động nhập khẩu trong bối cảnh Việt Nam phải thực hiện các cam kết quốc tế đối với hàng nhập khẩu.

Trang 1

PHẠM HỮU DANH

MỘT SỐ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG RÀO CẢN ĐỐI VỚI HÀNG NHẬP KHẨU QUA THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI

ĐOẠN 2014-2020

LUẬN VĂN THẠC SỸ

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

Mã số ngành: 60340102

TP HỒ CHÍ MINH, tháng 02 năm 2014

Trang 2

PHẠM HỮU DANH

MỘT SỐ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG RÀO CẢN ĐỐI VỚI HÀNG NHẬP KHẨU QUA THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI

ĐOẠN 2014-2020

LUẬN VĂN THẠC SỸ

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

Mã số ngành: 60340102

TP HỒ CHÍ MINH, tháng 02 năm 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Một số giải pháp xây dựng rào cản đối với hàng nhập khẩu qua thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2014-2020” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực

và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Học viên thực hiện Luận văn

Phạm Hữu Danh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của quý thầy cô trường Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh

và Quý bạn hữu

Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn đến Q u ý l ã n h

đ ạ o , Q uý thầy cô trường Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho Tôi hoàn thành chương trình học thạc

sĩ, đặc biệt là những thầy cô đã tận tình dạy bảo cho tôi suốt thời gian học tập tại trường

Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến Phó giáo sư – Tiến sĩ

Hà Thị Ngọc Oanh đã dành rất nhiều thời gian, tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp Nhân đây, tôi xin chân thành cám ơn các anh, chị, em ở

Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Công Thương, Cục Hải quan, Cục Thống kê thành phố v à Q u ý b ạ n h ữ u đã tạo điều kiện hỗ trợ, giúp đỡ để Tôi có nguồn dữ liệu cũng như khuyến khích Tôi viết luận văn

Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả sự nhiệt tình và năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những đóng góp quý báu và chân tình của Quý thầy cô và các bạn hữu

Mọi ý kiến đóng góp xin vui lòng liên hệ qua số điện thoại: 0986.134.829, email: danhcp04@yahoo.com

TP Hồ Chí Minh, tháng 02 năm 2014

Học viên

Trang 5

TÓM TẮT NỘI DUNG LUẬN VĂN

Nhận thức được vai trò của thành phố Hồ Chí Minh đối với cả nước, đặc biệt trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế thế giới, Việt Nam đã và đang chuẩn bị ký kết các Hiệp định FTA, TPP, thì việc xây dựng rào cản đối với hàng nhập khẩu vô cùng quan trọng, do đó tác giả chọn tên đề tài luận văn là ”Một số giải pháp xây dựng rào cản đối với hàng nhập khẩu qua thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2014-2020“

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

- Chương 1: Một số vấn đề lý luận về rào cản đối với hàng nhập khẩu: nội

dung chương đã nêu lên các cơ sở lý luận về nhập khẩu, mục đích nhập khẩu, các hình thức nhập khẩu và rào cản Rào cản được phân theo 02 nhóm chính đó là rào cản thuế quan và rào cản phi thuế quan Tại chương này còn nêu lên một số rào cản điển hình ở Trung Quốc, Canada, Thái Lan

- Chương 2: Thực trạng rào cản đối với hàng nhập khẩu vào TP.HCM giai

đoạn 2007-2012: nội dung chương trình bày cho người đọc khái quát về thành phố

Hồ Chí Minh, nêu lên những tồn tại, ưu và khuyến điểm của các doanh nghiệp Việt Nam và các doanh nghiệp FDI đồng thời trình bày tình trạng nhập khẩu trong thời gian từ năm 2007 – 2012 Qua đó, thấy nổi trội lên tình trạng nhập siêu Chính vì thực trạng này, tác giả trình bày các rào cản hiện đang được áp dụng tại Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng trên cơ sở mặt hàng quản lý ngành

và những mặt tồn tại của rào cản

- Chương 3: Giải pháp và kiến nghị xây dựng rào cản đối với hàng nhập khẩu

của Việt Nam giai đoạn 2014-2020: Nội dung chương này trình bày các cam kết quốc tế về giảm rào cản tại Việt Nam Trên cơ sở đó, đề xuất một vài ý kiến cá nhân

về việc xây dựng rào cản đối với hoạt động nhập khẩu trong bối cảnh Việt Nam vừa phải thực hiện các cam kết quốc tế đối với hàng nhập khẩu vừa đảm bảo bảo hộ hàng hóa trong nước

Mặc dù có những khó khăn nhất định trong suốt quá trình viết luận văn nhưng

Trang 6

tác giả đã cố gắng hết năng lực để thu thập dữ liệu, hoàn thành luận văn theo đúng tiến

độ Bên cạnh những khía cạnh luận văn trình bày thì vẫn còn những hạn chế nhất định khi lĩnh vực nhập khẩu rất rộng, ngành hàng đa dạng, địa bàn nhập khẩu hầu như trải dài từ Nam chí Bắc và đặc biệt là các hình thức tiểu ngạch vẫn chưa thể kiểm soát được một cách chặt chẽ Do đó, tác giả rất mong muốn được tiếp thu kiến thức lẫn kinh nghiệm thực tiễn để đề tài luận văn này ngày càng hoàn chỉnh./

Trang 7

To understand the role and responsibility of Ho Chi Minh city to whole country, especially during the integration period of global economy, Viet Nam has already prepared to sign FTA, TPP agreements, etc; therefore, the setting up the barriers to imported goods is very crucial, that is the reason which the author has chosen the topic of “Solutions in setting up the barriers to imported goods to reality

Ho Chi Minh city period of 2014 to 2020 ” for the thesis

Beside the beginning and conclusion of the thesis, the list of documents for reference, the thesis is divided in 3 chapters as follows:

Chapter 1: There have some theoretical issues about barriers for imported goods: the contents of this chapter have mentioned all the basic reasons about importing, the purpose of importing, the kinds of importing types and obstacles Obstacles are sorted to 2 main types which are the barrier of tariffs and non tariffs

In this chapter, the author has also provided some typical barriers/obstacles in China, Thailand, and Canada

Chapter 2: The reality of barrier to imported goods into Ho Chi Minh city period of 2007 to 2012: The contents of this chapter will provide for the readers a whole/ general information about Ho Chi Minh city, providing the existing issues, the advantages and disadvantages of enterprises in Viet Nam and FDI companies; at the same time, the author also provides the importing situation in the period of 2007

to 2012; therefore, we can see the outstanding/prominent trade deficit issue Because of this reality, the author would like to present the barriers which have been applied in Viet Nam in generally and Ho Chi Minh in single, based on the industry management o and existing issues of the barriers

Chapter 3: Solutions and Suggestions in setting up the barriers to imported goods of Viet Nam period of 2014 to 2020: The contents of this chapter will provide some international commitments about reducing the barriers in Viet Nam; Basing

on those kinds of suggestions, the author also suggests some own comments/ advices about setting up barriers to importing activities during Viet Nam has to both

Trang 8

implement all international commitments to imported goods and ensure to protect domestic goods

Even though there still has some difficulties during thesis preparation period, the author has tried his best in order to collect information and data in order to finish the thesis on time Beside the contents presented in the thesis, there still have some restrictions in a large importing area, multiple industries; the importing areas are expanded from North to South and especially in unofficial quota which we have not controlled effectively

Trang 9

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT NỘI DUNG LUẬN VĂN iii

ABSTRACT v

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT xi

DANH MỤC CÁC BẢNG xiv

DANH MỤC CÁC HÌNH xv

LỜI MỞ ĐẦU 1 GIỚI THIỆU Đặt vấn đề 1

Tính cấp thiết của đề tài 2

2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Mục tiêu của đề tài 3

Nội dung nghiên cứu 3

Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4

Phương pháp luận 4

Phương pháp nghiên cứu 4

3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN 4

4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 4

5 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN 4

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ RÀO CẢN ĐỐI VỚI HÀNG NHẬP KHẨU 5

1.1 HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP 5

1.1.1 Nhập khẩu và mục tiêu của nhập khẩu 5

Trang 10

1.1.1.1 Nhập khẩu 5

1.1.1.2 Mục tiêu nhập khẩu 6

1.1.2 Những hoạt động liên quan đến nhập khẩu 8

1.1.2.1 Nguyên nhân thúc đẩy hoạt động nhập khẩu 8

1.1.2.2 Các hình thức nhập khẩu trong thương mại quốc tế 8

1.2 RÀO CẢN ĐỐI VỚI HÀNG HÓA NHẬP KHẨU 11

1.2.1 Khái niệm rào cản thương mại 11

1.2.2 Rào cản đối với hàng hóa nhập khẩu 12

1.2.2.1 Hàng rào thuế quan 12

1.2.2.2 Các hàng rào phi thuế quan 16

1.2.3 Tác dụng của rào cản hàng nhập khẩu 28

1.2.4 Các nhân tố XD rào cản hàng nhập khẩu 31

1.2.5 Kinh nghiệm XD rào cản của một số nước trên thế giới 32

1.2.5.1 Kinh nghiệm xây dựng rào cản kỹ thuật ở TQ 32

1.2.5.2 Rào cản về dán nhãn sản phẩm rau quả tươi Canada 36

1.2.5.3 Rào cản hàng nhập khẩu vào nước Mỹ 37

1.2.5.4 Kinh nghiệm xây dựng rào cản nhập khẩu ở Thái Lan 38

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 39

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG RÀO CẢN HÀNG NK VÀO TP.HCM 41

2.1 TỔNG QUAN VỀ DN NHẬP KHẨU TRÊN ĐỊA BÀN TPHCM 41

2.1.1 Giới thiệu về Thành phố Hồ Chí Minh 41

2.1.2 Tổng quan về các DN nhập khẩu trên địa bàn TP.HCM 43

2.1.2.1 Các doanh nghiệp Việt Nam nhập khẩu ở TP HCM 43

2.1.2.2 Các doanh nghiệp FDI nhập khẩu tại TP.HCM 45

2.2 TÌNH HÌNH NHẬP KHẨU TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM 51

2.2.1 Tình hình nhập khẩu của thành phố Hồ Chí Minh 52

2.2.2 Tình hình nhập khẩu của doanh nghiệp FDI thành phố Hồ Chí Minh 56

2.3 RÀO CẢN ĐỐI VỚI HÀNG NHẬP KHẨU 67

2.3.1 Rào cản cấm nhập khẩu 68

Trang 11

2.3.2 Rào cản cấp phép nhập khẩu 69

2.3.3 Rào cản nhập khẩu khác 80

2.3.3.1 Chế độ hạn ngạch thuế quan 80

2.3.3.2 Rào cản chế độ cấp giấy phép nhập khẩu tự động 81

2.3.3.3 Rào cản phòng vệ thương mại 82

2.3.3.4 Rào cản cấp phép thực hiện quyền nhập khẩu 83

2.3.3.5 Rào cản định giá hải quan 84

2.3.3.6 Rào cản các qui định về vệ sinh, nhãn mác 84

2.4 ĐÁNH GIÁ CHUNG TÁC ĐỘNG CỦA RÀO CẢN HÀNG NK 86

2.4.1 Mặt tích cực 86

2.4.2 Mặt hạn chế 87

2.4.3 Nguyên nhân 89

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 90

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ XD RÀO CẢN VÀO VN 91

3.1 CAM KẾT QUỐC TẾ VỀ GIẢM RÀO CẢN CỦA VIỆT NAM 91

3.2 GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ XD RÀO CẢN HÀNG NK VÀO TP.HCM 100

3.2.1 Giải pháp vĩ mô của nhà nước 100

3.2.1.1 Giải pháp về thuế quan 100

3.2.1.2 Giải pháp sử dụng bảo hộ để bảo vệ nền sản xuất trong nước 103

3.2.1.3 Giải pháp về đối với hoạt động cấp phép 105

3.2.1.4 Giải pháp thực hiện thanh tra, kiểm tra và kiểm soát 108

3.2.1.5 Giải pháp khác 110

3.2.2 Giải pháp vi mô 112

3.2.2.1 Giải pháp kiểm soát nhập khẩu FDI của TP.HCM 112

3.2.2.2 Giải pháp kiểm soát đối với doanh nghiệp nhập khẩu FDI 112

3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 113

3.3.1 Đối nhà nước 113

3.3.2 Đối với hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp 115

3.3.3 Đối với Ủy ban nhân dân thành phố 116

Trang 12

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 117 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ VỀ NHỮNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 118 TÀI LIỆU THAM KHẢO 120

Trang 13

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

2 APEC Asia-Pacific Economic

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

4 ASEM The Asia-Europe Meeting Diễn đàn hợp tác Á–Âu

triển Nông thôn

6 C/O Certificate of Origin Chứng nhận xuất xứ hàng

9 EPC Engineering, Procurement and

Construction Contract

Hợp đồng thiết kế, cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình

11 FDI Foreign Direct Investment Vốn đầu tư trực tiếp nước

ngoài

12

FTA A free-Trade Area Hiệp định Thương mại Tự do

Trang 14

13 GATT

General Agreement on Tariffs and Trade

Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (Hiệp định chống bán phá giá

Hệ thống phân tích mối nguy

và điểm kiểm soát tới hạn

18 ILP Instruction-Level Parallelism Hiệp định về thủ tục cấp giấy

Nguồn vốn hỗ trợ phát triển

chính thức

Registration Evaluation Authorisation and Restriction of Chemicals

Quy định về hóa chất và sử dụng an toàn hóa chất

Trang 15

Hiệp định về Áp dụng các biện pháp Vệ sinh Kiểm dịch động thực vật (Hiệp định Vệ sinh Kiểm dịch động thực

Commerce and Industry

Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

35 WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới

Trang 16

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Tình hình thu hút FDI giai đoạn 2007-2012 của TP.HCM 46

Bảng 2.2 Kim ngạch nhập khẩu hàng hoá của TP.HCM 51

Bảng 2.3 Chi tiết kim ngạch nhập khẩu hàng hoá chi tiết của TP.HCM 53

Bảng 2.4 Chi tiết kim ngạch NK hàng hoá DN FDI của TP.HCM 56

Bảng 2.5 Bảng tỉ trọng kim ngạch nhập khẩu FDI/KN TP.HCM 58

Bảng 2.6 Tình hình đăng ký quyền nhập khẩu của DN FDI 61

Bảng 2.7 Hiện trạng mạng lưới kinh doanh gas, khí hóa lỏng 77

Bảng 2.8 Hạn ngạch thuế quan nhập khẩu 3 mặt hàng năm 2012-2013 80

Trang 17

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang Hình 2.1.Hình Bản đồ Thành phố Hồ Chí Minh 41

Hình 2.2.Tình hình thu hút FDI giai đoạn 2007 – 2012 của thành phố 46

Trang 18

tư vào Việt Nam cũng tăng nhanh Trong giai đoạn đầu, hầu hết các nhà đầu tư đều đầu

tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, máy móc, nhà xưởng để hoạt động sản xuất nhằm tạo

ra sản phẩm Nhà nước khuyến khích với nhà đầu tư trong nước sản xuất sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, sử dụng trong nước; khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài sản xuất sản phẩm phục vụ xuất khẩu Trên thực tế, phần lớn các doanh nghiệp, kể cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đều hướng vào thay thế nhập khẩu hơn là hướng vào xuất khẩu, chạy đua lợi nhuận trước mắt hơn là có chiến lược lâu dài dẫn đến chất lượng, mẫu mã, màu sắc hàng hóa kém cạnh tranh so với hàng ngoại nhập Trong những năm gần đây, bạn bè quốc tế đã bắt đầu chú ý tới hình ảnh một Việt Nam mới mẻ, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế toàn cầu Một trong những cột mốc đáng nhớ trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, đó là ngày 11/01/2007 Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Chính điều này đã buộc Việt Nam mở cửa hơn nữa kinh tế và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp FDI đầu tư vào Việt Nam, nó như là một xu thế khách quan, một nhu cầu tất yếu với những lợi ích không thể phủ nhận Tuy nhiên, nó cũng mang lại không ít khó khăn, đặc biệt là đối với những nền kinh tế còn non trẻ, sức cạnh tranh của các nền sản xuất trong nước còn kém Vì vậy, hàng hóa của nước ngoài thâm nhập vào thị trường Việt Nam ngày càng nhiều, đa dạng về chủng loại, chất lượng, giá cả, trong đó không thiếu những hàng hóa làm mất niềm tin và ảnh hưởng đến nhà sản xuất, người tiêu dùng Việt Nam Đặc biệt, khi tình hình kinh tế, chính trị thế giới bất ổn, nguy cơ chiến tranh xảy ra tại nhiều nước thì Việt Nam được xem là điểm đến lý tưởng

để đầu tư Bên cạnh những nhà đầu tư có uy tín, có trách nhiệm, tha thiết đầu tư tại

Trang 19

Việt Nam để phát triển sản xuất, chiếm thị phần thì ngày càng xuất hiện nhiều nhà đầu lợi dụng chính sách nhập khẩu để nhập khẩu hàng hóa nhằm mục đích trục lợi, thiếu trách nhiệm, không nghiêm túc, hoặc nhập khẩu hàng hóa gây ra nguy hại cho nền kinh

tế đất nước, làm rối loạn thị trường, gây khó khăn cho nhà sản xuất trong nước đã tác động đến chất lượng cuộc sống của người Việt Nam

Do đó, các quốc gia thường sử dụng các hàng rào thuế quan và phi thuế quan để bảo hộ nền sản xuất trong nước; coi bảo hộ là công cụ đắc lực trong chính sách thương mại của mình đã đem lại cho Việt Nam những lợi ích to lớn, nhưng bên cạnh đó là không ít khó khăn và thách thức Hội nhập đồng nghĩa với việc Việt Nam phải mở cửa hơn nữa nền kinh tế, cắt giảm thuế quan và loại bỏ những hàng rào phi thuế quan không phù hợp với các quy định và cam kết quốc tế nhưng vẫn đảm bảo lợi ích quốc gia và bảo vệ nền sản xuất nước nhà

Tính cấp thiết của đề tài

Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị lớn nhất của cả nước Hàng ngày, nơi đây diễn ra các hoạt động giao thương nhộn nhịp rất cần cho sự phát triển kinh tế của đất nước, trong đó có hoạt động nhập khẩu Từ đây hàng hóa nhập khẩu của thành phố sẽ được vận chuyển và lan tỏa đến hầu hết mọi miền của đất nước Tuy nhiên, hàng nhập khẩu cũng gặp nhiều vần đề: năm 2011 phát hiện 6 vụ nhập phế liệu không đạt chất lượng trị giá hơn 1,5 tỷ đồng, năm 2012 phát hiện 9 vụ trị giá lên đến hơn 12 tỷ đồng; hàng ngàn tấn ác quy chì phế thải và hàng hóa khác thuộc diện chất thải nguy hiểm; máy móc thiết bị lạc hậu, … đã nhập khẩu qua các cảng tại thành phố Hồ Chí Minh

Kể từ khi gia nhập WTO đến nay, các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào thành phố luôn ở mức cao (năm 2006 chỉ có 283 dự án thì năm 2007 là 493, năm 2008 là

546, năm 2009 là 389, năm 2010 là 375, năm 2011 là 439 và năm 2012 là 436 dự án) Trong đó, các nhà đầu tư nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực thương mại đầu tư vào thành phố Hồ Chí Minh thực hiện hoạt động nhập khẩu liên tục gia tăng (năm 2007 có

Trang 20

25 dự án thì năm 2008 là 66, 2009 là 87, năm 2010 là 107, năm 2011 là 121, năm 2012

là 137 dự án) Tuy nhiên, một số doanh nghiệp FDI có dấu hiệu chuyển giá để trốn thuế thể hiện qua việc báo lỗ như: Cty TNHH Freetrend Industriala Việt Nam với mức

lỗ trên 2 năm là 222 tỷ đồng, Metro 11 năm chưa có lãi, Cô ca cô la liên tục lỗ… là tình trạng đáng báo động

Khuyến khích các nhà đầu tư trong nước phát triển sản xuất, ủng hộ các nhà đầu

tư nước ngoài phục vụ phát triển đất nước là một nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết trên cơ

sở tôn trọng luật pháp quốc tế, những điều cam kết WTO, đòi hỏi phải có một chính sách hợp lý, đúng đắn, và linh hoạt Một trong những chính sách đó là công khai minh bạch, cụ thể hóa thủ tục hành chính, thủ tục cấp phép … và xây dựng rào cản trong hoạt động nhập khẩu Vấn đề khó khăn đối với các nhà hoạch định chính sách là làm thế nào để có thể thực hiện tốt các rào cản đối với hàng nhập khẩu mà không vi phạm các cam kết về tự do hoá thương mại của WTO

Chính vì lý do trên nên tác giả chọn tên luận văn là “Một số giải pháp xây dựng rào cản đối với hàng nhập khẩu qua thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2014-2020” để thực hiện luận văn tốt nghiệp cao học

2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mục tiêu của luận văn

Trên cơ sở trình bày thực trạng hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp trên địa bàn TP.HCM, tìm hiểu về những rào cản Việt Nam hiện đang áp dụng đối với họat động nhập khẩu và đề xuất một số giải pháp về việc xây dựng rào cản đối với hoạt động nhập khẩu trong bối cảnh Việt Nam phải thực hiện các cam kết quốc tế đối với hàng nhập khẩu

Nội dung nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu trên cần giải quyết các vấn đề sau:

- Trình bày một số rào cản trong hoạt động nhập khẩu tại Việt Nam

- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị xây dựng rào cản đối với hàng nhập khẩu

Trang 21

- Thực trạng hoạt động nhập khẩu của các doanh nghiệp trên địa bàn TP.HCM

Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận: Phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử

- Phương pháp nghiên cứu: Để thực hiện luận văn này, tác giả sẽ sử dụng những phương pháp nghiên cứu như sau: Thu thập thông tin, thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp và phương pháp chuyên gia

3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN

Rào cản đối với hàng nhập khẩu vào TP.HCM, trong đó tập trung chú trọng đến doanh nghiệp FDI khi làn sóng đầu tư của các doanh nghiệp FDI đầu tư vào TP.HCM nhiều và có những bất cập trong hoạt động nhập khẩu hàng hóa

4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN

- Nội dung nghiên cứu: rào cản đối với hàng nhập khẩu vào TP.HCM

- Không gian nghiên cứu: lấy thực tiễn của TP.HCM để chứng minh

- Thời gian nghiên cứu: số liệu trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2012 để định hướng cho giai đoạn 2014 đến 2020

5 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

- Chương 1: Một số vấn đề lý luận về rào cản đối với hàng nhập khẩu

- Chương 2: Thực trạng rào cản đối với hàng nhập khẩu vào TP.HCM giai đoạn

2007 - 2012

- Chương 3: Giải pháp và kiến nghị xây dựng rào cản đối với hàng nhập khẩu của

Việt Nam giai đoạn 2014-2020

Trang 22

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ RÀO CẢN ĐỐI VỚI HÀNG NHẬP KHẨU 1.1 HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP

1.1.1 Nhập khẩu và mục tiêu của nhập khẩu

1.1.1.1 Nhập khẩu

- Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật Bên cạnh đó, nhà nhập khẩu phải chuyển ngoại

tệ ra nước ngoài để thanh toán cho nhà xuất khẩu

- Quyền nhập khẩu là quyền được nhập khẩu hàng hoá từ nước ngoài vào Việt

Nam để bán cho thương nhân có quyền phân phối hàng hoá đó tại Việt Nam; bao gồm quyền đứng tên trên tờ khai hàng hoá nhập khẩu để thực hiện và chịu trách nhiệm về các thủ tục liên quan đến nhập khẩu Quyền nhập khẩu không bao gồm quyền tổ chức hoặc tham gia hệ thống phân phối hàng hoá tại Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam hoặc Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác

- Doanh nghiệp FDI hoạt động nhập khẩu được xem như là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động nhập khẩu các hàng hóa được pháp luật Việt Nam cho phép

- Qui trình hoạt động nhập khẩu: Phù hợp với phạm vi hoạt động quyền nhập khẩu quy định tại Điều 3.4 Nghị định 23/2007/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 12/02/2007

và Điểm 3.1 Thông tư số 05/2008/TT-BCT của Bộ Công Thương ngày 14/04/2008 Quy trình thực hiện thủ tục nhập khẩu hàng hóa như sau:

Trước khi hàng về đến Việt Nam, dù bằng đường không hay đường biển cũng sẽ

có giấy báo (Arrival Notice) thông báo cho nhà nhập khẩu biết về chi tiết lô hàng, thời gian, địa điểm mà hàng sẽ về đến Việt Nam kèm theo việc yêu cầu đến nhận hàng Nhà

Trang 23

nhập khẩu sẽ thực hiện các yêu cầu và chuẩn bị hồ sơ như nội dung yêu cầu trong Giấy báo hàng đến để nhận lệnh giao hàng và thanh toán các chi phí (nếu có)

Các chứng từ cần thiết để nhận hàng là lệnh giao hàng (D/O : Delivery Order) cũng được ghi chú rõ trong giấy báo (tàu) đến Khi nhận được D/O, nhà nhập khẩu mang nó cùng một số chứng từ khác như hợp đồng (Contract), Hóa đơn thương mại (commercial Invoice), Bảng kê chi tiết hàng hóa (Packing List), Giấy Chứng nhận xuất

xứ (C/O: Certificate of Origin), Giấy Chứng nhận Đăng ký Kinh doanh, đăng ký mã số xuất nhập khẩu, giấy Giới thiệu, … đến cơ quan Hải Quan và mở tờ khai hải quan hoặc đăng ký mở tờ khai hải quan qua mạng

Sau khi mở tờ khai hải quan, nhà nhập khẩu sẽ nộp các loại thuế, phí thì cơ quan hải quan sẽ tiến hành kiểm hóa hàng hóa xem có đúng trong hợp đồng, Invoice, Packing List cũng như C/O không? Khi hàng hóa nhập khẩu đúng với kê khai trên các chứng từ thì hàng hóa sẽ được thông quan

1.1.1.2 Mục tiêu nhập khẩu

Mỗi doanh nghiệp khi được cấp phép hoạt động đều có một ngành nghề kinh doanh nhất định Thường căn cứ vào ngành nghề kinh doanh và nhu cầu hoạt động, doanh nghiệp tham gia hoạt động nhập khẩu với nhiều mục đích như sau:

- Nhập khẩu nguyên nhiên phụ liệu, máy móc và vật tư phục vụ sản xuất trong nước: Do nền kinh tế Việt Nam nghèo nàn lạc hậu nên hầu hết nguyên nhiên phụ liệu, máy móc và vật tư sản xuất trong nước đều phụ thuộc vào nhập khẩu Chính sách nhà nước thiếu định hướng chiến lược, thiếu quy hoạch vùng nguyên liệu, vùng sản xuất cho phát triển sản xuất nên ngay cả các sản phẩm xuất khẩu và các sản phẩm có sự tăng trưởng cao trong nhiều năm qua như: hàng dệt may, da giày, chế biến thực phẩm và đồ uống, sản phẩm thép và kim loại màu, ô tô, xe máy, hàng điện tử, sản phẩm nhựa … cũng phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu, bán thành phẩm nhập khẩu Nhiều nhóm sản phẩm có tỷ trọng chi phí cho nguyên vật liệu chiếm trên 60% giá thành sản phẩm

Trang 24

như: giấy in, giấy viết, phôi thép và thép cám, lốp xe các loại… Rất nhiều những mặt hàng này ngòai việc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước còn là yếu tố đầu vào cho nhiều ngành sản xuất và cho xuất khẩu ra các thị trường khác Việc nhập khẩu với

số lượng lớn nguyên vật liệu cũng sẽ gây tác động trực tiếp tới tính chủ động của các doanh nghiệp Việt Nam trong việc lập kế hoạch kinh doanh và tới giá thành do phụ thuộc vào biến động giá cả nguyên liệu nhập khẩu, biến động tỷ giá hối đoái… Việc phải nhập khẩu các nguyên liệu phục vụ sản xuất trong nước cũng sẽ làm phát sinh thêm nhiều khoản chi phí khác như: chi phí vận chuyển, chi phí hải quan, chi phí cảng, chi phí bảo hiểm… Chi phí kinh doanh của ta còn cao, do đó tỷ suất lợi nhuận hạn chế, lợi nhuận thấp, doanh nghiệp không có động lực để phát triển đòi hỏi doanh nghiệp phải có kế hoạch, định hướng và nhạy bén trong kinh doanh

- Nhập khẩu hàng tiêu dùng để phục vụ nhu cầu của người tiêu dùng: nhu cầu tiêu dùng trong nước luôn ở mức cao với các mặt hàng trong nước chưa sản xuất được (hoặc sản xuất chưa đáp ứng được nhu cầu chất lượng, mẫu mã, giá cả …) như: xăng dầu, phân bón, máy móc thiết bị, xe cộ nhu cầu nhập khẩu các mặt hàng tiêu dùng này còn xuất phát xu hướng chuộng hàng ngoại hơn hàng nội

- Nhập khẩu hàng hoá để phục vụ triển lãm, hội chợ: hàng hóa nhập vào để tham gia các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm quảng bá, quảng cáo và khuếch trương sản phẩm đến với người tiêu dùng

- Nhập khẩu hàng hóa, máy móc, thiết bị từ nước ngoài để thực hiện các dự án trong nước: Nhiều dự án tại Việt Nam đòi hỏi trình độ máy móc, phương tiện kỹ thuật cao hoặc đồng bộ hệ thống nên phải nhập hàng hóa ở nước ngoài về, phần đông các dự án này do các đối tác nước ngoài như Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Nga… trúng thầu đã nhập khẩu một lượng lớn máy móc, thiết bị từ các nước này vào Việt Nam để thực hiện dự án

- Nhập khẩu hàng hóa để gia công (tạm nhập tái xuất): là việc các doanh nghiệp

Trang 25

nhập khẩu các hàng hóa từ nước ngoài vào Việt Nam để hoàn thành các công đoạn nào đó theo hợp đồng sau đó xuất khẩu hàng hóa đó ra khỏi lãnh thổ Việt Nam

1.1.2 Những hoạt động liên quan đến nhập khẩu

1.1.2.1 Nguyên nhân thúc đẩy hoạt động nhập khẩu

Xuất phát từ nhu cầu, lợi ích con người trong sản xuất, tiêu dùng, vui chơi, giải trí nhằm tìm kiếm những nguồn nguyên liệu, hàng hóa, trang thiết bị, máy móc phục

vụ sản xuất, giao thương, tiêu dùng mà các nhà đầu tư tham gia vào hoạt động nhập khẩu Thông thường các nhà đầu tư nhập khẩu những thứ mà họ chưa có, hoặc nhập khẩu những thứ mà bên ngoài ưu việt hơn thứ mà họ có về giá cả, chất lượng, màu sắc, …Trong những năm gần đây, hoạt động nhập khẩu diễn ra mạnh mẽ do những cam kết về hàng hóa của c á c n ư ớc khi gia nhập WTO (trong đó có Việt Nam) cũng là những nguyên nhân thúc đẩy hoạt động nhập khẩu:

Thứ nhất, c á c n ư ớ c t h à n h v i ê n W T O mở rộng quyền kinh doanh xuất

nhập khẩu hàng hóa cho các doanh nghiệp, cá nhân, nhà đầu tư nước ngoài

Thứ hai, các điều kiện thuận lợi cho hoạt động nhập khẩu như:

- Rào cản ở các nước nhập khẩu ít hơn (thuế giảm, hàng rào phi thuế quan dần được bãi bỏ);

- Hàng hóa xuất khẩu của các thành viên WTO được đối xử công bằng hơn trên thị trường thế giới;

- Doanh nghiệp dễ dàng định hướng hoạt động xuất khẩu của mình hơn do được tiếp cận với thông tin về thị trường nhập khẩu

Thứ ba, các nước thành viên WTO buộc phải cắt giảm rào cản thuế quan và

phi thuế quan, giảm bảo hộ và trợ cấp xuất khẩu, bởi vậy hàng nhập khẩu vào nhiều hơn trước

1.1.2.2 Các hình thức nhập khẩu trong thương mại quốc tế

Hoạt động kinh doanh nhập khẩu chỉ được tiến hành ở các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp, nhưng trong thực tế do tác động của môi trường, điều

Trang 26

kiện kinh doanh cùng với sự năng động sáng tạo của người kinh doanh đã tạo ra nhiều hình thức nhập khẩu khác nhau như:

- Nhập khẩu trực tiếp: là hình thức nhập khẩu độc lập của một doanh nghiệp xuất

nhập khẩu trên cơ sở nghiên cứu kỹ thị trường trong và ngoài nước, tính toán đầy đủ các chi phí đảm bảo kinh doanh có lãi, đúng phương hướng, chính sách luật pháp của Nhà nước cũng như quốc tế Trong hoạt động nhập khẩu này, doanh nghiệp hoàn toàn nắm quyền chủ động và phải tự tiến hành các nghiệp vụ của hoạt động nhập khẩu từ nghiên cứu thị trường, lựa chọn bạn hàng, lựa chọn phương thức giao dịch, đến việc ký kết và thực hiện hợp đồng Doanh nghiệp phải tự bỏ vốn để chi trả các chi phí phát sinh trong hoạt động kinh doanh và được hưởng toàn bộ phần lãi thu được cũng như phải tự chịu trách nhiệm nếu hoạt động đó thua lỗ Khi nhập khẩu tự doanh thì doanh nghiệp được trích kim ngạch nhập khẩu, khi tiêu thụ hàng nhập khẩu doanh nghiệp phải chịu thuế doanh thu, thuế lợi tức Nhập khẩu trực tiếp, doanh nghiệp chỉ cần lập một hợp đồng nhập khẩu với nước ngoài, sau khi hàng về nước sẽ lập hợp đồng tiêu thụ hàng hoá trong nước

- Nhập khẩu uỷ thác: là hoạt động nhập khẩu hình thành giữa một doanh nghiệp

hoạt động trong nước có ngành hàng kinh doanh một số mặt hàng nhập khẩu nhưng không đủ điều kiện về khả năng tài chính, về đối tác kinh doanh nên đã uỷ thác cho doanh nghiệp có chức năng trực tiếp giao dịch ngoại thương tiến hành nhập khẩu hàng hoá theo yêu cầu của mình Bên nhận uỷ thác phải tiến hành đàm phán với nước ngoài

để làm thủ tục nhập khẩu theo yêu cầu của bên uỷ thác và được hưởng một hoa hồng gọi là phí uỷ thác Quan hệ giữa doanh nghiệp uỷ thác và doanh nghiệp nhận uỷ thác được quy định đầy đủ trong hợp đồng uỷ thác Nhập khẩu uỷ thác, doanh nghiệp Xuất nhập khẩu (nhận uỷ thác) không phải bỏ vốn, không phải xin hạn ngạch (nếu có), không phải nghiên cứu thị trường tiêu thụ vì không phải tiêu thụ hàng nhập mà chỉ đứng ra đại diện cho bên uỷ thác để giao dịch với bạn hàng nước ngoài, ký hợp đồng

và làm thủ tục nhập hàng cũng như thay mặt cho bên uỷ thác khiếu nại đòi bồi thường

Trang 27

với nước ngoài khi có tổn thất Khi tiến hành nhập khẩu uỷ thác thì đại diện của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu chỉ được tính kim ngạch xuất nhập khẩu chứ không được tính doanh số, không chịu thuế doanh thu Khi nhận uỷ thác, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu này (nhận uỷ thác) phải lập hai hợp đồng: Một hợp đồng mua bán hàng hoá với nước ngoài và một hợp đồng nhận uỷ thác với bên uỷ thác

- Nhập khẩu liên doanh: Đây là một hoạt động nhập khẩu hàng hoá trên cơ sở liên

kết kỹ thuật một cách tự nguyện giữa các doanh nghiệp (trong đó có ít nhất một doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp) nhằm phối hợp kỹ năng, kỹ thuật để cùng giao dịch và

đề ra các chủ trương biện pháp có liên quan đến hoạt động nhập khẩu, thúc đẩy hoạt động này phát triển theo hướng có lợi nhất cho cả hai bên, cùng chia lãi nếu lỗ thì cùng phải chịu Nhập khẩu liên doanh thì các doanh nghiệp nhập khẩu liên doanh ít chịu rủi

ro bởi mỗi doanh nghiệp liên doanh nhập khẩu chỉ phải góp một phần vốn nhất định, quyền hạn và trách nhiệm của các bên cũng tăng theo số vốn góp, việc phân chia chi phí, thuế doanh thu theo tỷ lệ vốn góp, lãi lỗ hai bên phân chia tuỳ theo thoả thuận dựa trên vốn góp cộng với phần trách nhiệm mà mỗi bên gánh vác Trong nhập khẩu liên doanh thì doanh nghiệp đứng ra nhận hàng sẽ được tính kim ngạch xuất nhập khẩu Khi đưa hàng về tiêu thụ thì chỉ được tính doanh số trên số hàng tính theo tỷ lệ vốn góp và chịu thuế doanh thu trên doanh số đó Doanh nghiệp nhập khẩu trực tiếp tham gia liên doanh phải lập hai hợp đồng: Một hợp đồng mua hàng với nước ngoài và một hợp đồng liên doanh với doanh nghiệp khác (không nhất thiết phải là doanh nghiệp Nhà nước)

- Tạm nhập, tái xuất hàng hóa: là việc hàng hoá được đưa từ nước ngoài hoặc từ các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật Việt Nam, có làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và làm thủ tục xuất khẩu chính hàng hoá đó ra khỏi Việt Nam

- Tạm xuất, tái nhập hàng hóa: là việc hàng hoá được đưa ra nước ngoài hoặc đưa vào các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan

Trang 28

riêng theo quy định của pháp luật, có làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam và làm thủ tục nhập khẩu lại chính hàng hoá đó vào Việt Nam

1.2 RÀO CẢN ĐỐI VỚI HÀNG HÓA NHẬP KHẨU

1.2.1 Khái niệm rào cản thương mại

Rào cản thương mại: thuật ngữ “rào cản” đối với thương mại chỉ được đề cập

chính thức trong 1 hiệp định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đó là hiệp định

về các hàng rào kỹ thuật đối với thương mại Tuy nhiên trong Hiệp định này khái niệm hàng rào cũng không được định danh một cách rõ ràng mà chỉ được thừa nhận: ”không một nước nào có thể ngăn cản tiến hành các biện pháp cần thiết để đảm bảo chất lượng hàng hóa xuất khẩu của mình, hoặc để bảo vệ cuộc sống hay sức khỏe con người, động

và thực vật, bảo vệ môi trường hoặc để ngăn ngừa các hoạt động man trá, ở mức độ mà nước đó cho là phù hợp và phải đảm bảo rằng các biện pháp này không được tiến hành với cách thức có thể gây ra phân biệt đối xử một cách tùy tiện hoặc không thể biện minh được giữa các nước, trong các điều kiện giống nhau, hoặc tạo ra các hạn chế trá hình đối với thương mại quốc tế, hay nói cách khác phải phù hợp với các quy định của Hiệp định này”

Trong thực tế, các nhà khoa học có rất nhiều định nghĩa khác nhau về rào cản thương mại Song, nhìn chung, rào cản thương mại theo cách hiểu chung nhất là bất kỳ biện pháp hay hành động nào gây cản trở đối với thương mại quốc tế, là những quy định thuế quan, ngoài thuế quan, hay một chính sách phân biệt nào đó mà một nước hay một vùng lãnh thổ áp dụng, với mục đích hạn chế hoặc ngăn cản thương mại quốc

tế Nó gồm áp đặt thuế suất nhập khẩu cao đối với một số mặt hàng nhập khẩu, hay áp dụng nâng cao một số tiêu chuẩn thuộc các lĩnh vực như chất lượng, vệ sinh, an toàn, lao động, môi trường, xuất xứ, v.v bao gồm tất cả các biện pháp được thực hiện ở biên giới, nhằm hạn chế việc hàng hóa nước khác thâm nhập vào thị trường và các thủ tục này tạo thuận lợi cho hàng hóa trong nước như một hình thức bảo hộ

Trang 29

1.2.2 Rào cản đối với hàng hóa nhập khẩu

Hiện nay hàng hóa nhập khẩu của doanh nghiệp trong nước lẫn doanh nghiệp FDI nhìn chung đều chịu những rào cản thương mại như nhau, tuy nhiên mức độ và tính chất khác nhau Rào cản thương mại bao gồm hai nhóm rào cản lớn đó là: rào cản thuế quan và rào cản phi thuế quan:

1.2.2.1 Hàng rào thuế quan (Tariff Barriers)

Thuế quan được áp dụng trước hết là nhằm mục đích tăng thu ngân sách cho chính phủ, sau đó là vì những mục đích khác như ngăn chặn hàng nhập khẩu và bảo vệ hàng trong nước, trả đũa một quốc gia khác, bảo vệ một ngành sản xuất quan trọng hay còn non trẻ của nước mình Như vậy, thuế quan là một trong những rào cản thương mại phổ biến nhất trong thương mại quốc tế nên trong hầu hết các vòng đàm phán thương mại đa biên và song phương đều nổi lên chủ đề về cắt giảm thuế quan để đẩy nhanh quá trình tự do hóa thương mại Các quy định của WTO không đề cập một cách cụ thể rằng các nước phải ràng buộc loại thuế nào vì trong thực tiễn thương mại quốc tế có rất nhiều loại thuế và mức thuế suất khác nhau

Các loại thuế: có 3 loại thuế quan phổ biến như sau:

- Thuế phần trăm: (ad - valoren tariff) được đánh theo tỷ lệ phần trăm giá trị giao dịch của hàng hóa nhập khẩu Hiện nay, đây là loại thuế được sử dụng rộng rãi nhất nhưng nhìn chung còn ở mức cao nên WTO kêu gọi tất cả các nước thành viên tiếp tục cam kết cắt giảm

- Thuế phi phần trăm: (non ad –valoren tariff) chủ yếu được áp dụng cho hàng nông sản, bao gồm 3 loại:

+ Thuế tuyệt đối: thuế xác định bằng một khoản cố định trên 01 đơn vị hàng nhập khẩu Đây là một loại thuế được áp dụng nhiều nhất đối với các mặt hàng nông sản

+ Thuế tuyệt đối thay thế quy định quyền lựa chọn áp dụng thuế phần trăm hay thuế tuyệt đối

Trang 30

+ Thuế tổng hợp: là sự kết hợp thuế phần trăm và thuế tuyệt đối Ví dụ: mặt hàng sữa nhập khẩu vào Nhật Bản phải chịu mức thuế 21,3% + 54 Yên/kg

- Thuế quan đặc thù gồm có: hạn ngạch thuế quan, thuế đối kháng, thuế chống bán phá giá, thuế thời vụ và thuế bổ sung:

+ Hạn ngạch thuế quan là một biện pháp quản lý nhập khẩu với 2 mức thuế suất nhập khẩu, hàng hóa trong hạn ngạch thuế quan thì có mức thuế suất thấp, còn ngoài hạn ngạch thì chịu mức thuế suất cao hơn Việc quản lý hạn ngạch thuế quan tuy khó khăn nhưng mang lại nhiều hiệu quả, vừa đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng trong nước muốn dùng hàng nhập khẩu giá rẻ, đồng thời bảo vệ được người sản xuất nội địa

Đối với các sản phẩm nông nghiệp, WTO đã quyết định cho phép áp dụng hạn ngạch thuế quan dù rất hạn hẹp Trong Hiệp định Nông nghiệp tại vòng đàm phán Urugoay, hạn ngạch thuế quan được thông qua để đảm bảo tiếp cận thị trường hiện tại (hay tối thiểu) khi các biện pháp phi thuế quan đã được thuế hóa Cũng tại đây, hạn ngạch được tính để đảm bảo các yêu cầu về tiếp cận thị trường hiện tại và tối thiểu Thông qua các vòng đàm phán, WTO luôn hướng mục tiêu cắt giảm thuế quan Các nước thành viên không được phép tăng thuế lên trên mức trần đã cam kết trong biểu Qua tám vòng đàm phán trong khuôn khổ GATT trước đây, đặc biệt là sau vòng Uruguay, thuế công nghiệp bình quân của các nước phát triển được giảm xuống 3,8%, các nước này cũng đồng ý cắt giảm 36% mức thuế công nghiệp Riêng các nước đang phát triển đồng ý cắt giảm 24% thuế nông nghiệp

+ Thuế đối kháng hay còn gọi là thuế chống trợ cấp xuất khẩu: đây là một khoản thuế đặc biệt đánh vào các sản phẩm nhập khẩu để bù lại việc nhà sản xuất và xuất khẩu sản phẩm đó được Chính phủ nước xuất khẩu trợ cấp

+ Thuế chống bán phá giá: là một loại thuế quan đặc biệt được áp dụng để ngăn chặn và đối phó với hàng nhập khẩu được bán phá giá vào thị trường nội địa tạo

ra sự cạnh tranh không lành mạnh

Trang 31

Điều 6 Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT (hay còn gọi là Hiệp định chống bán phá giá – ADP) định nghĩa: “Phá giá nghĩa là sản phẩm được đưa

ra bán ở một nước thấp hơn giá trị thông thường của sản phẩm ấy và ở sản phẩm được xem là bán phá giá nếu giá xuất của sản phẩm ấy thấp hơn giá của sản phẩm tương tự như thế được tiêu thụ ở thị trường nội địa trong điều kiện buôn bán thông thường” Bán phá giá được xác định dựa vào 2 yếu tố cơ bản là: biên độ phá giá từ 2% trở lên; số lượng, giá trị hàng hóa bán phá giá từ một nước vượt quá 3% tổng khối lượng hàng nhập khẩu

Hành động phá giá sẽ bị coi là không hợp pháp nếu nó gây ra hay đe dọa gây

ra thiệt hại vật chất đối với một ngành kinh tế nội địa đã được kiến lập vững chắc, hay ngăn cản một cách đáng kể việc thành lập một ngành kinh tế nội địa

Để bù đắp thiệt hại, các quốc gia có quyền đặt ra thuế chống phá giá đối với bất kì sản phẩm bị bán phá giá nào Mức thuế này không được lớn hơn biên độ phá giá của sản phẩm tương ứng Tuy vậy, trước khi áp dụng thuế chống phá giá, thành viên muốn sử dụng biện pháp này phải tiến hành điều tra thiệt hại do hành động bán phá giá gây ra đối với ngành kinh tế trong nước theo những quy định và thủ tục rất chặt chẽ Trong những tình huống đặc biệt, các thành viên có thể sử dụng các biện pháp tạm thời nhằm tránh những thiệt hại lớn ngay trong quá trình điều tra, ví dụ như có thể áp dụng thuế tạm thời hoặc thu tiền đặt cọc Các biện pháp tạm thời chỉ được áp dụng trong thời gian ngắn, thông thường không quá 4 tháng

+ Thuế thời vụ là loại thuế với mức thuế suất khác nhau cho cùng 01 loại sản phẩm Thông thường được áp dụng cho mặt hàng nông sản, khi vào thời vụ thu hoạch trong nước thì áp dụng mức thuế suất cao nhằm bảo hộ sản xuất trong nước, khi hết thời vị thì trở lại mức thuế bình thường

+ Thuế bổ sung là một loại thuế được đặt ra để thực hiện biện pháp tự vệ trong trường hợp khẩn cấp Các Chính phủ có thế áp dụng thuế bổ sung cao hơn mức thuế thông thường nếu như khối lượng hàng nhập khẩu của sản phẩm đó tăng lên quá cao

Trang 32

gây ảnh hưởng nghiêm trọng hoặc có nguy cơ làm mất đi một ngành sản xuất nào đó trong nước

Trong biểu thuế xuất nhập khẩu của các nước thường có nhiều loại thuế cụ thể khác nhau cho cùng một loại sản phẩm và có sự chênh lệch nhau rất lớn về các loại thuế Sự chênh lệch giữa các loại thuế là do các quy định về “ưu đãi” quyết định Nếu hàng hóa của một nước nào đó chịu thuế suất thông thường hoặc kém ưu đãi hơn so với nước khác thì chính điều đó sẽ trở thành rào cản thuế quan Hiện có một số loại thuế được áp dụng trong thương mại quốc tế như sau:

- Thuế phi tối huệ quốc (Non-MFN) còn gọi là thuế suất thông thường Đây là mức thuế cao nhất mà các nước áp dụng đối với những nước chưa phải là thành viên WTO và chưa ký hiệp định thương mại song phương với nhau Thuế này có thể nằm trong khỏang từ 20-110%

- Thuế tối huệ quốc (MFN) là loại thuế mà các nước thành viên WTO áp dụng cho những nước thành viên khác hoặc theo các hiệp định song phương về ưu đãi thuế quan Đây là loại thuế có mức thuế suất thấp hơn nhiều so với loại thuế suất thông thường

- Thuế quan ưu đãi phổ cập (GSP): là loại thuế ưu đãi cho một số hàng hóa nhập khẩu từ các nước đang phát triển được các nước công nghiệp phát triển cho hưởng GSP Mức thuế này thấp hơn mức thuế tối huệ quốc

- Thuế áp dụng đối với các khu vực thương mại tự do: đây là loại thuế có mức thuế suất thấp nhất hoặc có thể bằng không đối với nhiều mặt hàng Hiện tại có rất nhiều khu vực tự do đã được hình thành và trong các hiệp định này là thuế suất rất thấp hoặc bằng không (tức là ưu đãi về thuế rất cao)

- Các loại thuế quan ưu đãi khác: một số nước tham gia ký kết các hiệp định chuyên ngành như hiệp định thương mại máy bay dân dụng, hiệp định thương mại các sản phẩm dược, sản phẩm ô tô… cũng dành cho nhau các ưu đãi thuế quan đặc biệt đối với các sản phẩm này

Trang 33

Theo Hiệp định Nông nghiệp, các nước thành viên không được áp dụng các biện pháp phi thuế quan đối với nông sản Tất cả các biện pháp phi thuế quan cần phải được thuế hóa Thông thường với mức thuế hóa tại vòng đàm phán Uruguay thì mức nhập khẩu nông sản hầu như không đáng kể

1.2.2.2 Các hàng rào phi thuế quan (Non-Tariff Barriers)

Những rào cản thuế quan phải được thực hiện theo cam kết WTO, do đó chúng ta tập trung nghiên cứu những rào cản phi thuế quan Những rào cản phi thuế quan này đã ảnh hưởng rất lớn đến nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam trong những năm gần đây Chính vì rào cản này mà sản lượng hàng hóa nhập khẩu vào được hạn chế, các doanh nghiệp thì nản lòng trước hệ thống rào cản phức tạp, dẫn đến phải từ bỏ một thị trường tiềm năng

Các hàng rào này bao gồm: biện pháp cấm (cấm vận, cấm nhập khẩu, cấm xuất khẩu), hạn ngạch, cấp phép, định giá hải quan, quy định về xuất xứ, quy định về kỹ thuật, vệ sinh, nhãn mác, trợ cấp, chống bán phá giá, sở hữu trí tuệ, kiểm tra hàng hoá trước khi xuống tàu, Trong đó, các biện pháp đang được sử dụng rộng rãi là:

- Biện pháp cấm: trong số các biện pháp cấm được sử dụng trong thực tiễn

thương mại quốc tế có các biện pháp như: cấm vận toàn diện, cấm vận từng phần, cấm xuất khẩu hoặc nhập khẩu đối với một số hàng hóa nào đó, cấm phần lớn các doanh nghiệp mà chỉ cho doanh nghiệp được xác định xuất khẩu hoặc nhập khẩu (ví dụ: chất

nổ, hóa chất chuyên ngành, xăng dầu…) Đây là biện pháp mang tính bảo hộ cao, gây

ra hạn chế lớn nhất đối với thương mại quốc tế Nói chung, WTO không cho phép các nước thành viên được sử dụng biện pháp này Tuy nhiên, do có sự không đồng đều trong trình độ phát triển giữa các thành viên (hiện nay có khoảng ¾ các nước thành viên WTO là các nước đang phát triển) nên các quốc gia vẫn có thể thi hành các biện pháp cấm trên cơ sở không phân biệt đối xử trong một số trường hợp được quy định tại Điều XXI-GATT/1994, cụ thể là:

+ Cần thiết để đảm bảo an ninh quốc gia;

Trang 34

+ Cần thiết để bảo vệ đạo đức xã hội;

+ Cần thiết để bảo vệ con người, động vật và thực vật;

+ Liên quan tới nhập khẩu hay xuất khẩu vàng và bạc;

+ Cần thiết để bảo vệ các tài nguyên thiên nhiên khan hiếm

Việc thực hiện các biện pháp này cần phải kèm theo việc hạn chế sản xuất hay tiêu dùng GATT/1994 còn quy định các trường hợp sau được phép áp dụng biện pháp cấm nhập khẩu, xuất khẩu: Được áp dụng một cách tạm thời để ngăn cản hay giảm bớt

sự khan hiếm lương thực, thực phẩm hay các sản phẩm thiết yếu khác; cần thiết để áp dụng các tiêu chuẩn hay quy định để phân loại, xếp hạng hay tiếp thị các sản phẩm trong thương mại quốc tế

- Rào cản trợ cấp và các biện pháp đối kháng (SCM): Trợ cấp là một khoản đóng góp về tài chính do Chính phủ hoặc một tổ chức Nhà nước cung cấp, hoặc là một

khoản hỗ trợ thu nhập, hoặc hỗ trợ giá và mang lại lợi ích cho đối tượng nhận trợ cấp

Đây là một công cụ chính sách được sử dụng rộng rãi và phổ biến ở hầu hết các nước nhằm đạt các mục tiêu của Chính phủ về phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng của WTO được chia ra làm ba cấp độ rõ rệt là đèn đỏ, đèn vàng và đèn xanh như trong giao thông

+ Trợ cấp đèn đỏ: là các biện pháp trợ cấp bị cấm sử dụng hoàn toàn, điều 3

Hiệp định SCM quy định những trường hợp sau coi như bị cấm trợ cấp trực tiếp cho hàng xuất khẩu và bị cấm sử dụng:

(1) Chương trình cung ứng tiền liên quan đến thưởng xuất khẩu, hoặc cung cấp đầu vào với những điều kiện ưu đãi;

(2) Miễn thuế trực thu hoặc giảm thuế gián thu đối với sản phẩm xuất khẩu vượt quá mức thuế đánh vào sản phẩm tương tự bán trong nước, hoặc hoàn lại thuế nhập khẩu đối với những nguyên liệu đầu vào sản xuất hàng xuất khẩu quá mức;

(3) Chương trình bảo hiểm xuất khẩu với phí bảo hiểm không đủ trang trải chi phí dài hạn của chương trình bảo hiểm;

Trang 35

(4) Tín dụng xuất khẩu thấp hơn đi vay của Chính phủ cũng coi như Nhà nước trợ cấp cho xuất khẩu với lãi suất thấp

+ Trợ cấp đèn vàng: là các loại trợ cấp được phép sử dụng, song cũng có thể bị

kiện hoặc áp dụng biện pháp đối kháng, đây là loại trợ cấp mang tính đặc thù, không phổ biến, đối tượng nhận trợ cấp được giới hạn trong phạm vi: một doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp; một lĩnh vực công nghiệp hay một nhóm ngành công nghiệp; một khu vực địa lý được định rõ nằm trong phạm vi quyền hạn của cơ quan thẩm quyền cấp phép Trợ cấp này được thực hiện nhưng chỉ dừng ở mức không gây tác động bất lợi cho các thành viên, tác động bất lợi được nêu rõ trong Hiệp định gồm: ảnh hưởng nghiêm trọng tới ngành sản xuất trong nước; làm vô hiệu hóa và suy yếu các ưu đãi thuế quan đã đạt được trong đàm phán thương mại; làm tổn thất tới quyền lợi của nước khác

+ Trợ cấp đèn xanh: là loại trợ cấp được thực hiện mà không bị khiếu kiện, bao

(3) Hỗ trợ những ngành sản xuất nằm trong các vùng khó khăn Vùng khó khăn phải xác định ranh giới một cách rõ ràng về địa lý với những đặc điểm kinh tế và hành chính nhất định

- Rào cản về hạn chế định lượng (hạn ngạch - quota): đang được coi là có tác

dụng bảo hộ mạnh hơn các biện pháp thuế quan và dễ bóp méo thương mại Đây là biện pháp dùng để hạn chế về số lượng hoặc giá trị hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trong một thời gian nhất định (thông thường là 1 năm) Hạn ngạch này có thể do nước nhập khẩu hoặc xuất khẩu tự áp đặt một cách đơn phương nhưng cũng có loại hạn

Trang 36

ngạch được áp đặt trên cơ sở tự nguyện của bên thứ hai (hạn ngạch xuất khẩu tự nguyện) Điều XI-GATT/1994 đã quy định không cho phép các nước thành viên áp dụng các biện pháp hạn chế số lượng nhập khẩu hoặc xuất khẩu hàng hoá, vì nó làm ảnh hưởng nhiều đến thương mại thế giới Biện pháp này được quy định nghiêm ngặt hơn thuế quan bởi hai lý do chủ yếu:

Thứ nhất, các biện pháp phi thuế quan nói chung và các biện pháp định lượng nói

riêng không thể hiện tính minh bạch như thuế quan do tính pháp lý không cao bằng thuế

và thời gian quy định thông thường chỉ trong vòng 1 năm

Thứ hai, hạn ngạch và các biện pháp hạn chế định lượng dễ biến tướng hơn thuế

quan Nhiều khi chỉ thay đổi cách gọi tên biện pháp nhưng nội dung chủ yếu vẫn là hạn ngạch (Ví dụ như: Các biện pháp quản lý theo kế hoạch định hướng, quản lý có điều kiện…) Hiện nay các quốc gia có xu hướng ít sử dụng công cụ hạn ngạch mà dùng thuế quan thay thế cho hạn ngạch Đây cũng là quy định có tính chất bắt buộc đối với các quốc gia thành viên của WTO Tuy vậy, WTO vẫn quy định những trường hợp đặc biệt được áp dụng hạn ngạch tại Điều XI, XII GATT/1994, cụ thể như sau:

+ Được áp dụng một cách tạm thời nhằm hạn chế, ngăn ngừa, khắc phục sự khan hiếm lương thực, thực phẩm hay các sản phẩm thiết yếu khác

+ Được áp dụng để bảo vệ sự cân bằng cán cân thanh toán (việc tạo ra, duy trì hay mở rộng hạn chế số lượng vì mục đích này không được vượt quá mức cần thiết) + Được áp dụng để ngăn ngừa sự đe dọa sắp xảy ra hoặc để ngăn chặn lại sự thiếu hụt nghiêm trọng dự trữ tiền tệ; Hoặc trong trường hợp một quốc gia thành viên

có dự trữ tiền tệ quá ít, được áp dụng để đạt được một mức tăng hợp lý dự trữ tiền tệ + Khi sử dụng hạn ngạch, các quốc gia thành viên phải thực hiện các yêu cầu kèm theo:

Thực hiện biện pháp này phải kèm theo việc hạn chế sản xuất hay tiêu dùng trong nước

Trang 37

Cam kết không làm ảnh hưởng tới lợi ích của các nước thành viên khác, đồng thời phải dần dần nới lỏng biện pháp này khi kinh tế đã hồi phục

Do tính pháp lý không cao và thời gian thông thường chỉ 1 năm trở lại, nên khi tiến hành áp dụng biện pháp này, các quốc gia phải công bố thời gian cụ thể và những thay đổi nếu có

- Tự vệ trong thương mại: Trong thương mại quốc tế, biện pháp tự vệ là việc tạm

thời hạn chế nhập khẩu đối với một hoặc một số loại hàng hoá khi việc nhập khẩu chúng tăng nhanh gây ra hoặc đe doạ gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước trong thời gian ngắn (thời hạn 4 năm, có thể gia hạn thêm 01 lần không quá

5 năm), tạo điều kiện cho ngành sản xuất đó nâng cao khả năng cạnh tranh Các biện pháp thường được áp dụng là: yêu cầu đối tác tự hạn chế xuất khẩu, tăng mức thuế nhập khẩu, áp dụng hạn mức nhập khẩu, hoặc dùng các biện pháp phân biệt đối xử khác

Tuy nhiên, theo điều 2 Hiệp định Tự vệ của WTO, các thành viên có thể áp dụng các biện pháp tự vệ đối với một sản phẩm không phân biệt xuất xứ khi thành viên này

đã xác định theo những quy định chặt chẽ rằng số lượng nhập khẩu đang tăng lên một cách tuyệt đối hoặc tương đối của sản phẩm này đang gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước sản xuất những sản phẩm tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp với sản phẩm nhập khẩu đó Sau đó các biện pháp tạm thời hạn chế nhập khẩu giảm dần theo các năm Mặt khác, các quốc gia áp dụng biện pháp

tự vệ phải bồi thường thiệt hại cho các thành viên khác do biện pháp tự vệ gây nên nếu

họ chứng minh được thiệt hại và yêu cầu bồi thường Trong trường hợp không thỏa thuận được mức bồi thường thì sau 03 năm các thành viên này có thể dùng biện pháp trả đũa

- Rào cản về cấp phép nhập khẩu: có 2 loại giấy phép là giấy phép về quyền hoạt

động kinh doanh nhập khẩu và giấy phép nhập khẩu đối với một số loại hàng hóa hoặc phương thức kinh doanh nhập khẩu nào đó Chẳng hạn là giấy phép cho phép doanh

Trang 38

nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được phép mua, bán hàng hóa trên thị trường nội địa, giấy phép nhập khẩu thuốc lá điếu và rượu ngoại, giấy phép kinh doanh tạm nhập tái xuất… Giấy phép nhập khẩu không quy định số lượng hay giá trị cụ thể mà chỉ yêu cầu khi nhập khẩu phải xuất trình chứng từ để cơ quan Hải quan và các cơ quan hữu quan khác kiểm tra hoặc cấp phép Các quy định của WTO về giấy phép nhập khẩu được quy định trong Hiệp định về thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu ILP Các thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu có thể ảnh hưởng tiêu cực tới dòng di chuyển của thương mại giữa các quốc gia, nhất là trong trường hợp các thủ tục này rườm rà, phức tạp gây chậm trễ hoặc không minh bạch Chẳng hạn như qui định về kiểm tra trước khi xếp hàng, quy định về cửa khẩu thông quan, quy định về giá tính thuế hải quan…Vì thế một số nguyên tắc chung được đưa ra nhằm hạn chế những tác động không mong muốn này,

Cấp phép nhập khẩu được chia thành hai loại:

+ Thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu tự động (không điều kiện) Theo quy định này thì giấy phép tự động là một văn bản cho phép thực hiện ngay lập tức không có điều kiện gì đối với người làm đơn xin giấy phép Chế độ cấp giấy phép này chỉ mang tính chất quản lý để điều tiết hoạt động xuất nhập khẩu chứ không nhằm cản trở hoạt động thương mại

Trang 39

+ Thủ tục cấp giấy phép không tự động (có điều kiện) Giấy phép không tự động là một loại văn bản cho phép được thực hiện khi người nhập khẩu đáp ứng được một số điều kiện nhất định Thực chất đây là một loại giấy phép được sử dụng cho mục đích hạn chế nhập khẩu của Chính phủ, do vậy nó chủ yếu được áp dụng cho các hàng hóa quản lý bằng hạn ngạch Sử dụng các biện pháp cấp phép không tự động cũng dẫn tới rào cản thương mại về thủ tục hành chính và chi phí tăng

- Rào cản về Định giá hải quan: Định giá hải quan để tính thuế cũng có thể trở

thành một rào cản lớn với hoạt động thương mại Ví dụ như quy định về áp giá tối thiểu để tính thuế nhập khẩu Chính vì vậy, Hiệp định về định giá hải quan của WTO

đã quy định các nguyên tắc cụ thể trong việc xác định giá trị tính thuế của hàng hoá, bắt buộc các thành viên phải thực thi đúng và minh bạch

- Rào cản về các quy định về kỹ thuật, vệ sinh, nhãn mác

Cùng với những nỗ lực giảm thuế và điều chỉnh các biện pháp phi thuế truyền thống trong WTO, ngày càng xuất hiện nhiều hình thức rào cản thương mại mang tính

kỹ thuật như các quy định về vệ sinh, kỹ thuật, môi trường, nhãn mác sản phẩm Đây là phạm vi chứa đựng nhiều quy định khá phức tạp và hết sức chặt chẽ Có một số hệ thống áp dụng như:

+ Hiệp định về áp dụng các biện pháp Vệ sinh Kiểm dịch động thực vật SPS

của (WTO), gọi tắt là Hiệp định Vệ sinh Kiểm dịch động thực vật hay Hiệp định SPS, được ban hành và có hiệu lực cùng với sự ra đời của Tổ chức WTO vào ngày 01/01/1995 Hiệp định liên quan đến sự áp dụng các quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm, thú y và bảo vệ thực vật

Mục đích cơ bản của Hiệp định SPS là duy trì quyền lợi tối cao của tất cả các nước thành viên, đó là xây dựng mức bảo vệ sức khỏe và cuộc sống của con người, động thực vật thích hợp, nhưng phải đảm bảo rằng các quyền lợi này không bị lạm dụng với mục đích bảo hộ và không được tạo ra các rào cản thương mại quốc tế trá hình

Trang 40

Điều 2 Hiệp định SPS quy định cụ thể như sau: “Các thành viên không bị ngăn cản ban hành hay thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo vệ sức khỏe con người, động vật và thực vật với điều kiện các biện pháp này không được áp dụng theo cách thức tạo ra sự phân biệt đối xử không hợp lý và tùy tiện, hay hạn chế một cách vô lý tới thương mại quốc tế”

Các thành viên phải đảm bảo là việc áp dụng của bất kỳ biện pháp nào cũng chỉ trong phạm vi cần thiết để bảo vệ sức khỏe con người, động vật và thực vật, cũng phải dựa trên các cơ sở khoa học và không được phép duy trì khi không có chứng cớ khoa học đầy đủ

+ Hệ thống quản trị chất lượng ISO 9000:

Hệ thống gần như là yêu cầu bắt buộc đối với các doanh nghiệp sản xuất hàng

xuất khẩu sang thị trường EU thuộc các nước đang phát triển Bộ ISO 9000 có mục tiêu lớn nhất là đảm bảo chất lượng đối với người tiêu dùng Biện pháp đảm bảo chất lượng của bộ ISO 9000 là xây dựng hệ thống chất lượng và phòng ngừa từ khâu thiết kế, lập

kế hoạch Bộ ISO 9000 gồm 20 yêu cầu, chia thành các nhóm:

ISO 9001: Hệ thống chất lượng – Mô hình đảm bảo chất lượng trong quá trình thiết kế, sản xuất, lắp đặt và dịch vụ

ISO 9002: Hệ thống chất lượng – Mô hình đảm bảo chất lượng trong quá trình thiết kế, sản xuất, lắp đặt và dịch vụ sau bán hàng

ISO 9003: Hệ thống chất lượng – Mô hình đảm bảo chất lượng trong quá trình kiểm tra cuối cùng và thử nghiệm

Bộ ISO 9000 đưa ra những hướng dẫn đối với hệ thống chất lượng cho việc phát triển có hiệu quả, chứ không áp đặt một hệ thống chất lượng chuẩn đối với từng doanh nghiệp Mỗi loại hình doanh nghiệp sẽ có hệ thống chất lượng đặc thù, phù hợp trong từng hoàn cảnh cụ thể Thực tế cho thấy ở các nước đang phát triển Châu Á và Việt Nam, hàng của những doanh nghiệp có giấy chứng nhận ISO 9000 thâm nhập vào thị

Ngày đăng: 21/06/2021, 07:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đinh Văn Thành (2004). Nghiên cứu các rào cản trong thương mại quốc tế và đề xuất các giải pháp đối với Việt Nam” - của chủ nhiệm đề tài do Bộ Thương mại là cơ quan quản lý đề tài, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các rào cản trong thương mại quốc tế và đề xuất các giải pháp đối với Việt Nam
Tác giả: Đinh Văn Thành
Nhà XB: Bộ Thương mại
Năm: 2004
2. Đỗ Hoàn Nhất (2012). “Giải pháp thúc đẩy và nâng cao chất lượng dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam”. Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ KHĐT tại Hội thảo, ngày 15/03/2012, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp thúc đẩy và nâng cao chất lượng dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam
Tác giả: Đỗ Hoàn Nhất
Nhà XB: Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ KHĐT
Năm: 2012
3. Jim Winkler (2011). Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 2011 – Giám đốc dự án USAID/VNCI, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 2011 – Giám đốc dự án USAID/VNCI
Tác giả: Jim Winkler
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2011
4. Mutrap (2009). Cam kết về dịch vụ khi gia nhập WTO – Bình luận người trong cuộc, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cam kết về dịch vụ khi gia nhập WTO – Bình luận người trong cuộc
Tác giả: Mutrap
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2009
5. Nguyễn Hữu Khải (2005). Hàng rào phi thuế quan trong chính sách thương mại quốc tế - NXB Lao động – Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàng rào phi thuế quan trong chính sách thương mại quốc tế
Tác giả: Nguyễn Hữu Khải
Nhà XB: NXB Lao động – Xã hội
Năm: 2005
7. Niên giám thống kê cả nước năm 2012, NXB Thống kê Khác
8. Niên giám thống kê TP.HCM năm 2012, NXB Thống kê Khác
11. Võ Thanh Thu (2005). Giáo trình quan hệ kinh tế quốc tế -– NXB Thống kê Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm