Năm 1994, tổ chức PROSEA Plant Resources of South - East Asia đãđưa ra đặc điểm sinh thái học, phân bố, gây trồng, khai thác và sử dụng cácloài tre nứa trong khu vực và một số loài của V
Trang 1PHẠM THÀNH TRANG
ÐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG TÀI NGUYÊN TRE NỨA VÀ VAI TRÒ CỦA CHÚNG ĐỐI VỚI CỘNG ĐỒNG NGƯỜI DÂN TỘC THÁI Ở HUYỆN VÙNG CAO MAI CHÂU - HOÀ BÌNH
Chuyên ngành: Quản lý bảo vệ tài nguyên rừng
Mã số: 60 62 68
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS Trần Minh Hợi
Hà Nội, 2008
Trang 2Do có nhiều đặc tính quý nên tre nứa đã được sử dụng trong đời sốnghàng ngày cũng như trong thủ công nghiệp và công nghiệp hiện đại Đã thống
kê được hơn 30 công dụng của tre nứa, trong đó những công dụng chính làlàm hàng thủ công, mỹ nghệ, làm vật liệu xây dựng, làm nguyên liệu trongcông nghiệp giấy sợi và sản xuất măng tre làm thức ăn tươi hoặc khô Ngoài
ra, tre nứa là loài mọc nhanh, sớm cho sản phẩm, kỹ thuật gây trồng tương đốiđơn giản, có khả năng sinh trưởng trên đất khó canh tác và đất hoang hoá, loài
đa tác dụng,… nên tre nứa là nguồn tài nguyên phong phú đã và đang đượccon người sử dụng rộng rãi [9]
Mai Châu là huyện vùng cao tỉnh Hoà Bình nơi sinh sống của cộngđồng người dân tộc Thái, giao thông đi lại khó khăn, nơi có nhiều loài tre nứamọc tự nhiên như: Bương, Nứa tép, Nứa lá to, nguồn tài nguyên này đã vàđang trở thành nguồn thu nhập chính của người dân địa phương Tuy nhiên,hiện nay nguồn tài nguyên này đang ngày một suy giảm cả về số lượng vàchất lượng; kỹ thuật trồng, khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên này chưađược chú ý nhiều và đặc biệt là nhận thức của người dân chưa thấy rõ giá trịcủa nguồn tài nguyên này cả về mặt kinh tế, xã hội và môi trường Với những
lý do trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “ Đánh giá hiện trạng tài nguyên tre nứa và vai trò của chúng đối với cộng đồng người dân tộc Thái ở huyện vùng cao Mai Châu - Hoà Bình”.
Trang 3CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRE NỨA
Ở TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 1.1 Thành phần và phân bố tre nứa trên thế giới
Tre nứa thuộc phân họ Tre – Bambusoideae, họ Hoà thảo - Poaceae.Trên thế giới phân họ Tre có khoảng 1200 loài, 70 chi, phân bố chủ yếu ởvùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Một số ít loài tre nứa phân bố ở vùng ôn đới.Tre nứa mọc ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới thường mọc thành rừng thuầnloại hay hỗn giao với cây gỗ Tổng diện tích rừng tre nứa cả thuần loại và hỗngiao trên thế giới ước tính khoảng 20 triệu ha Trung Quốc và Ấn Độ là 2nước có thành phần tre phong phú và diện tích rừng tre lớn nhất thế giới (bảng1.1) [8]
Bảng 1.1 Diện tích và số lượng các chi, loài tre nứa của một số nước
STT Tên các Châu hay
Quốc gia
Diện tích (1 triệu ha) Số chi
Số loài (gồm cả thứ và dạng)
Trang 4STT Tên các Châu hay
Quốc gia
Diện tích (1 triệu ha) Số chi
Số loài (gồm cả thứ và dạng)
14
Châu Đại Dương và
các đảo của Thái Bình
Bảng 1.2 Số chi và loài tre nứa ở Đông Dương và Việt Nam năm 1923
Số loài ở Đông Dương
Số loài ở Việt Nam
Trang 5Tên chi Đông
Số loài ở Đông Dương
Số loài ở Việt Nam
Nguồn: E G Camus & A Camus, 1923
Theo thống kê của Cục kiểm lâm (2007) tổng diện tích rừng tre củaViệt Nam là 1.438.664ha; trong đó có 1.353.100ha rừng tre nứa tự nhiên (baogồm 664.860ha rừng tre thuần loại và 688.240ha rừng tre nứa hỗn giao)(Bảng 1.3) [50]
Bảng 1.3 Diện tích rừng tre nứa ở Việt Nam
Trang 6Ngoài rừng tre mọc tự nhiên tập trung, còn hàng triệu cây tre đượctrồng tập trung như Luồng (Thanh Hoá, Nghệ An) hoặc rải rác trong các giađình ở vùng đồng bằng, trung du và miền núi cũng tạo một trữ lượng tre nứađáng kể.
1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Một số tác giả như: Ohrnberyer D và J Georrings (1983) [36], Jean Z.Dah Dovonon (2000) [34], Zhou Fangchun (2000) [40], đã thu thập đượcmẫu vật, mô tả được nhiều loài, chi trong phân họ Bambusoideae, mô tả đặc
điểm họ Poaceae, cấu trúc thân ngầm, thân khí sinh, lá quang hợp, mo nang
một số chi, loài trong phân họ này
Năm 1960, Koichiro uede (Nhật Bản) đã công bố kết quả nghiên cứucủa mình về tre nứa tại Nhật Bản, đưa ra những kết luận về các quá trình sinh
lý của tre nứa và những biện pháp lợi dụng quá trình này [25]
Năm 1994, tổ chức PROSEA (Plant Resources of South - East Asia) đãđưa ra đặc điểm sinh thái học, phân bố, gây trồng, khai thác và sử dụng cácloài tre nứa trong khu vực và một số loài của Việt Nam Tuy nhiên, công trìnhtrên chưa nghiên cứu hết các loài có trong khu vực, trong đó có Việt Nam[37]
Năm 1998, Li D Z (Viện Thực vật Côn Minh) cho rằng số loài tre nứacủa Trung Quốc đã tăng lên đến 42 chi và 500 loài [35]
Năm 1999, Rao N và Rao V Ramanatha đã đưa ra một số kết quả vềnghiên cứu có liên quan tới đặc điểm sinh thái, như bảng tổng hợp về chỉ tiêucủa một số nhân tố sinh thái: loại đất, hàm lượng mùn trong đất, lượng mưa,
số ngày mưa trong năm của 19 loài tre nứa của Trung Quốc [38]
Năm 2000, tác giả Zhu Zhaohua cho biết: ở tỉnh đảo Hải Nam rất gầnvới Việt Nam đã phát hiện được 46 loài tre nứa, trong đó có 38 loài phân bố
tự nhiên, chủ yếu có 3 loài mọc tản thuộc chi Phyllostachys và Sasa; tại tỉnh
Trang 7Vân Nam có 250 loài đã được phát hiện, diện tích tre nứa đạt tới 331000 ha,
riêng loài Phyllostachys heterocycta var pubescens chiếm 80% diện tích kể
trên [41]
D.N Tewari (2001) cho rằng Ấn Độ là nước có diện tích tre nứa lớnnhất thế giới, khoảng 2 triệu ha, phân bố từ sát biển lên tới độ cao 3700m sátchân núi Hymalaya Có 50% số loài tập trung phân bố ở phía Tây Ấn Độ, đa
số các loài có thân mọc cụm như Bambusa, Dendrocalamus, Gigantochloa,
Oxytenanthera Tác giả cũng đưa ra dẫn liệu về độ cao phân bố của một số
loài cụ thể [39]
Từ đó có thể thấy các loài Tre nứa đang được nhiều nước trên thế giớingày một quan tâm nhiều hơn và bổ sung vào danh lục các loài Tre nứa
1.3 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Do tre nứa có giá trị về nhiều mặt đối với đời sống con người nên từ lâuchúng đã được nhiều các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Một trongnhững nhà khoa học đầu tiên nghiên cứu về tre nứa là Phạm Văn Tích Năm
1965, tác giả đã tổng kết kinh nghiệm trồng Luồng Thanh Hoá [27]
Năm 1971 Lê Nguyên và các cộng sự đưa ra các đặc điểm cơ bản củamột số loài tre nứa, cách gây trồng và phương thức khai thác chúng [23]
Năm 1978, Vũ Văn Dũng đã công bố 47 loài tre nứa khác nhau ở miềnBắc và nêu công dụng, mùa ra măng, vùng phân bố của các loài này [7]
Năm 1990, Phạm Hoàng Hộ đã thống kê 19 chi, 95 loài tre nứa và năm
1999, tác giả đã bổ sung số chi và loài tre nứa của Việt Nam là 24 chi và 121loài [17]
Năm 1994, Ngô Quang Đê đã giới thiệu tóm tắt về đặc tính sinh vậthọc, đặc điểm sinh trưởng, kỹ thuật gây trồng, chăm sóc và sử dụng tre nứanói chung Ngoài ra, còn giới thiệu kỹ thuật trồng một số loài tre nứa cụ thểđang được phát triển [10]
Trang 8Trần Ngọc Hải (1999), đã theo dõi biến đổi hình thái của Vầu đắng vànghiên cứu quy luật phân bố của Vầu trồng bằng hom thân ngầm Từ đó cóthể xác định được tuổi cây thông qua hình thái bên ngoài và xác định đượcmật độ trồng hợp lý cũng như thời gian khép tán của lâm phần Vầu đắng saukhi trồng [11].
Trần Ngọc Hải (2000) đã phân tích giá trị dinh dưỡng của măng Vầuđắng và so sánh hàm lượng một số chất (protein, lipit, xenluloza) trong măngcủa một số loài khác như: Bương, Luồng so với măng Vầu đắng [13]
Năm 2001, Trần Ngọc Hải đã giới thiệu 18 loài tre lấy măng chủ yếu ởViệt Nam [14]
Năm 2001, Nguyễn Ngọc Bích đã đưa ra kết quả nghiên cứu về đấttrồng Luồng như tính chất vật lý của đất, động thái độ ẩm đất và ảnh hưởngcủa các phương thức trồng Luồng đến đất [46]
Năm 2001, Nguyễn Hoàng Nghĩa đã đưa ra 9 loài tre nứa quan trọngnhất của Việt Nam hiện nay: Luồng Thanh Hoá, Trúc sào, Vầu, Lồ ô, Tre gai,Mạnh tông, Tầm vông, Mai, Diễn Đồng thời tác giả cũng đưa ra 3 loài tre
nứa quý hiếm đang có nguy cơ bị tiêu diệt là: Trúc vuông (Chimonobambusa
quadrangularis (Fenzi) Makino), Trúc đen (Phyllostachys nigra (Lodd.)
Munro), Trúc hoá long (P bambusoides Sieb et Zucc var aucro Makino).
Ngoài ra tác giả cũng đã nêu ra khu vực Đèo Gió, Ngân Sơn, Cao Bằng làvùng phân bố chính của cả hai loài trúc quý hiếm (Trúc hoá long và Trúcvuông) Tác giả đã đưa ra một số hướng giải pháp để bảo tồn các loài này[45]
Trần Ngọc Hải (2003), đã đưa ra một số nhóm giải pháp để phát triểnbền vững LSNG tại một số thôn thuộc vùng đệm VQG Ba Vì - Hà Tây saukhi đã phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với phát triểntre Bương Tuy nhiên, các tác giả mới chỉ dừng lại ở vấn đề nghiên cứu thành
Trang 9phần loài, phân bố, kỹ thuật gây trồng, khai thác các loài tre nứa Việc đánhgiá vai trò của chúng thì hầu như chưa được đề cập đến [15].
Năm 2005, Trần Ngọc Hải đã điều tra được 10 loài tre nứa ở 2 xã NgổLuông – Tân Lạc và Đồng Bảng – Mai Châu – Hoà Bình và khẳng định 3 loàiBương, Vầu, Mai là những loài thích hợp nên phát triển gây trồng trên diệnrộng, đem lại hiệu quả cao về kinh tế, xã hội, môi trường [16]
Năm 2005 Lê Viết Lâm đã đưa ra bảng định loại chi và loài tre nứa ởViệt Nam với 122 loài, 22 chi, kiểm tra và cập nhật 11 tên khoa học mới, đặcbiệt đưa ra được 6 chi và 22 loài tre lần đầu đầu được định tên khoa học ởViệt Nam bổ sung cho hệ thực vật Việt Nam; đưa ra 22 loài cần được xem xét
để xác nhận loài mới Theo tác giả nếu được thu thập mẫu đầy đủ để định loạithì số loài tre của Việt Nam phải trên 200 loài [20]
Năm 2005, Nguyễn Hoàng Nghĩa, Trần Văn Tiến đã công bố 7 loài nứa
mới thuộc chi Nứa (Schizostachyum) như: Khốp Cà Ná (Cà Ná, Ninh Thuận),
Nứa Núi Dinh (Bà Rịa - Vũng Tàu), Nứa đèo Lò Xo (Đắc Glei, Kon Tum),Nứa lá to Saloong (Ngọc Hồi, Kon Tum), Nứa không tai Côn Sơn (Chí Linh,Hải Dương), Nứa có tai Côn Sơn (Chí Linh, Hải Dương), Nứa Bảo Lộc (BảoLộc, Lâm Đồng – mô tả để so sánh) Các tác giả đã mô tả chi tiết về đặc điểmhình thái, sinh thái của từng loài cụ thể [44]
Năm 2006, Trần Văn Mão, Trần Ngọc Hải cùng một số tác giả khác đãdịch cuốn “Hỏi đáp về kỹ thuật trồng, chăm sóc, khai thác và chế biến tre”.Cuốn sách có tổng số 265 câu hỏi liên quan đến tre nứa như: trồng, sử dụng,bảo quản,… tre nứa, giúp cho người đọc có cái nhìn tổng quan về vai trò,cách sử dụng tre nứa có hiệu quả [21]
Năm 2006, Nguyễn Hoàng Nghĩa và cộng sự đã phát hiện ra 6 loài trequả thịt dựa trên cơ sở cấu tạo hình thái và giải phẫu hoa quả, sáu loài tre quảthịt đã được mô tả và định danh để tạo nên một chi tre mới cho Việt Nam, đó
Trang 10là chi Tre quả thịt (Melocalamus) Các loài đã được nhận biết là Dẹ Yên Bái (Melocalamus yenbaiensis), Tre quả thịt Cúc Phương (M cucphuongensis), Tre quả thịt Kon Hà Nừng (M kbangensis), Tre quả thịt Lộc Bắc (M.
blaoensis), Tre quả thịt Pà Cò (M pacoensis) và Tre quả thịt Trường Sơn (M truongsonensis) [47].
Năm 2007, Nguyễn Hoàng Nghĩa và Trần Văn Tiến đã đưa ra danhsách về các loài tre nứa hiện có ở Việt Nam bao gồm 194 loài thuộc 26 chi,trong đó có 80 loài đã tạm thời được định danh, còn lại là các loài chưa có tênhoặc có các loài/phân loài mới Quá trình khảo sát đã phát hiện ra một số chi
được coi là mới đối với nước ta là chi Giang (Maclurochloa) với 17 loài, chi Tre quả thịt (Melocalamus) với 10 loài, chi Tre Bidoup (Kinabaluchloa) có 1 loài Một số loài mới được phát hiện là Tre lông Bidoup (Kinabaluchloa) có
đặc điểm ngoại hình giống loài cùng chi ở Malaixia (Wong, 1995); Trúc dây
Bidoup (Ampelocalamus) có ngoại hình giống như trúc dây Ba Bể; nhiều loài Nứa (Schizostachyum), Le (Gigantochloa) và Lồ ô (Bambusa) Một số chi có nhiều loài là chi Tre (Bambusa) có 55 loài, chi Luồng (Dendrocalamus) có 21 loài, chi Le (Gigantochloa) có 16 loài, chi Nứa (Schizostachyum) có 14 loài
và chi Vầu đắng (Indosasa) có 11 loài [48].
Năm 2007, Nguyễn Hoàng Nghĩa và Trần Văn Tiến đã phát hiện thêm
một loài nứa mới cho Việt Nam có tên là Nứa Sa Pa (Schizostachyum
chinense Rendle) được tìm thấy trong rừng lá rộng thường xanh của Vườn
Quốc gia Hoàng Liên (tỉnh Lào Cai), tác giả đã mô tả về đặc điểm hình thái,sinh học của loài [49]
Năm 2007, tập thể các tác giả đã giới thiệu 44 loài cây có sợi trong đó
có 35 loài tre nứa Các tác giả đã mô tả đặc điểm hình thái, sinh học, phân bố,công dụng, kỹ thuật nhân giống, gây trồng, giá trị kinh tế, khoa học và bảotồn chúng [9]
Trang 11Ngoài giá trị làm thực phẩm tre nứa còn là nguyên liệu để thay thế gỗsản xuất bột giấy Từ lâu nhiều nước Đông Nam Á vẫn dùng tre nứa làmnguyên liệu để sản xuất giấy Ở các nước tiên tiến, mỗi năm bình quân sảnxuất giấy theo đầu người là 250-300kg, trong khi đó ở các nước đang pháttriển là 2-5kg Trong tương lai, ngành công nghiệp giấy của Việt Nam sẽ đòihỏi một số lượng tre và gỗ rất lớn [9] Theo chiến lược phát triển lâm nghiệp,đến năm 2010 Việt Nam sẽ sản xuất 2-2,5 triệu tấn giấy và bột giấy/năm.Chắc chắn khi đó chúng ta cần rất nhiều tre nứa để đáp ứng yêu cầu củangành giấy sợi [5].
Trong 2 năm gần đây nhóm nghiên cứu tre nứa của Viện nghiên cứuLâm Nghiệp và Viện Điều tra quy hoạch rừng đã phối hợp với 2 giáo sưngười Trung Quốc là Hà Niệm Hoà (Xia NiaNhe) của Viện Nghiên cứu HoaNam (Quảng Châu) và Li De Zu Viện Thực vật Côn Minh đã đưa số taxon trenứa của Việt Nam lên 29 chi và 140 loài trong đó có 5 loài mới và 6 chi, 22loài lần đầu tiên được thống kê ở Việt Nam Đây được coi là một trong nhữngthành công lớn của các nhà khoa học Lâm nghiệp trong việc tìm ra những loàimới cho ngành Lâm nghiệp Việt Nam nói chung [8]
Từ những phân tích trên có thể thấy rằng tre nứa đã và đang được rấtnhiều nhà khoa học trên thế giới và ở Việt Nam quan tâm Các tác giả vẫn chủyếu tập trung vào nghiên cứu về phân loại tre nứa, các loài mới liên tục đượcphát hiện bổ sung vào danh lục các loài tre nứa của Việt Nam cũng như trênthế giới Tuy nhiên, tìm hiểu về vai trò của tre nứa đối với đời sống cộng đồngngười dân chưa được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm
Trang 12CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu tổng quát
Đề tài được tiến hành nhằm bổ sung tư liệu về thành phần loài, phân bố
và đánh giá được vai trò của tài nguyên tre nứa tại huyện vùng cao Mai Châutỉnh Hoà Bình
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Thành phần loài và vùng phân bố của nguồn tài nguyên tre nứa tạikhu vực nghiên cứu
- Tình hình khai thác, sử dụng và gây trồng và khả năng phát triểnnguồn tài nguyên tre nứa của cộng đồng người Thái tại khu vực nghiên cứu
- Vai trò của tre nứa đối với kinh tế hộ tại khu vực nghiên cứu
- Thuận lợi, khó khăn và giải pháp để phát triển tài nguyên tre nứa tạikhu vực nghiên cứu
2.3 Phạm vi nghiên cứu
Do điều kiện thời gian và các hạn chế khác, luận văn giới hạn nghiêncứu một số khía cạnh sau đây:
Trang 13- Đề tài nghiên cứu hiện trạng thành phần loài, phân bố; tình hình khaithác, sử dụng; kỹ thuật gây trồng tre nứa tại 2 xã Vạn Mai và Đồng Bảngthuộc huyện Mai Châu.
- Đề tài tiến hành phân tích đánh giá vai trò của tre nứa đối với ngườidân tại địa phương
- Đề tài đề cập đến một số giải pháp để phát triển nguồn tài nguyên trenứa tại khu vực nghiên cứu
* Lý do lựa chọn địa điểm
Đề tài chọn điểm nghiên cứu tại 2 xã: Vạn Mai, Đồng Bảng (huyện MaiChâu) vì các lý do sau đây:
- Hai xã đều là nơi có các loài cây thuộc phân họ tre nứa sinh trưởng,phát triển tốt và tập trung nhiều nhất trong huyện
- Cả hai xã đều là các xã trọng điểm trong dự án 661, 327 mà cây trồngchủ yếu là cây Luồng, một trong các loài cây thuộc phân họ tre nứa sinhtrưởng phát triển tốt
- Hai xã đều là những xã thuộc diện qui hoạch là vùng nguyên liệu chonhà máy bột giấy HAPACO
- Mỗi xã đại diện cho một điều kiện về giao thông vận tải và phát triển
Trang 14- Nguồn thu chính của các nhóm hộ gia đình ở hai xã là từ tre nứa.
2.4 Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài sử dụng một số phương pháp thu thập và phân tích thôngtin sau:
- Phương pháp đánh giá nông thôn có người dân tham gia (PRA): đểxác định những yếu tố quan trọng đang thúc đẩy, cản trở, thách thức quá trìnhquản lý tài nguyên rừng nói chung và tài nguyên tre nứa nói riêng, lựa chọncác giải pháp ưu tiên, đề xuất những khuyến nghị về quản lý, sử dụng nguồntài nguyên này dựa trên cơ sở cộng đồng
- Phương pháp điều tra chuyên ngành để xác định tuyến; lập ô tiêuchuẩn (ÔTC); điều tra đặc điểm hình thái, sinh thái, sinh trưởng của các loàitre nứa v.v trong khu vực
- Phương pháp chuyên gia để kiểm tra mức chính xác của các thông tinthu được cũng như đưa ra các giải pháp phát triển có hiệu quả
Trong nghiên cứu không phải lúc nào cũng có đủ tư liệu để áp dụng cácphương pháp phân tích định lượng theo những phương pháp thống kê học, vàcũng không phải vấn đề nào nghiên cứu bằng đánh giá nhanh hay đánh giánghiên cứu tham gia cũng đưa ra được những giải pháp đúng đắn nhất, đặcbiệt là trong tình trạng không đủ thông tin, thiếu thời gian, dân trí quá thấp, Trong những trường hợp như vậy, để kiểm tra độ chính xác của các thông tinthu được, nâng cao tính đúng đắn của các giải pháp được đề xuất, người ta cóthể sử dụng phương pháp chuyên gia
- Phương pháp kế thừa sử dụng các nguồn tài liệu trong và ngoài nước
có liên quan
2.4.1 Công tác ngoại nghiệp
Điều tra ngoại nghiệp là công việc quan trọng của đề tài nhằm thu thậpthông tin phục vụ phân tích hiện trạng nguồn tài nguyên tre nứa tại khu vực
Trang 15nghiên cứu, phân tích những thuận lợi, khó khăn trong và những giải phápphát triển nguồn tài nguyên này.
a Nội dung 1 - Hiện trạng nguồn tài nguyên tre nứa tại khu vực nghiên cứu
* Sử dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có người dân tham gia: cụthể với công cụ phỏng vấn người dân để tìm hiểu về thành phần và vùng phân
bố của các loài tre nứa hiện có tại địa phương Một số câu hỏi chính:
Những loài tre nứa nào hiện có tại địa phương?
Chúng phân bố ở khu vực nào?
* Phương pháp điều tra chuyên ngành:
- Đi tuyến: Do điều kiện địa hình phức tạp nên tôi tiến hành 6 tuyếntheo các đường mòn
Tuyến 1: Từ Uỷ ban nhân dân xã Đồng Bảng đến đỉnh Thắng Nỏi
(3km)
Tuyến 2: Từ Trung tâm học tập cộng đồng thôn Đồng bảng (xã Đồng
Bảng) đến đỉnh Pom Chà Mù (3km)
Tuyến 3: Đi dọc theo khe Khi Ma đến đỉnh Pù Hin Bắc (4km).
Tuyến 4: Từ Trường trung học cơ sở Vạn Mai (Thôn Khán -Vạn Mai)
sẽ bổ sung cho số liệu điều tra trên ô
- Lập ô tiêu chuẩn (ÔTC):
Trang 16Các ÔTC được lập bằng thước dây và địa bàn Tổng số ÔTC là 42 ôđược phân bố trên các trạng thái rừng trồng thuần loài và rừng tự nhiên thuầnloài.
+ Diện tích ÔTC:
Trên ÔTC 100m2(10x10m) tiến hành đếm số cây theo mức độ sinh trưởngtốt, trung bình, xấu; xác định đường kính gốc (D00) và chiều cao vút ngọn(Hvn) bằng thước kẹp kính và sào có khắc vạch Kết quả điều tra được ghi vàomẫu biểu 01
Mẫu biểu 01 Điều tra tre nứa (mọc tản)
ÔTC số: Địa danh: Người điều tra:
Vị trí: Độ tàn che: Ngày điều tra: Trạng thái rừng: Tên loài……… Độ cao:
Ghi chú Non Trung
bình Già Tốt
Trung bình Xấu
1
2
…
Đối với tre nứa mọc cụm: Điều tra trên ô 6 bụi, diện tích của ô điều tra
là diện tích đường tròn bán kính bằng khoảng cách trung bình từ tâm ô đếncác bụi Lấy 1 bụi làm bụi trung tâm và đo 5 bụi gần bụi trung tâm nhất
Trên ô 6 bụi tiến hành xác định khoảng cách từ tâm các bụi đến tâm ô
Trang 17Mẫu biểu 02 Điều tra tre nứa (mọc cụm): ô 6 bụi
Số TT Ô 6 bụi: Địa điểm: Người điều tra:
Vị trí: Độ cao: Ngày điều tra: Trạng thái rừng: Tên loài:…… ………Độ cao:…………
TT
bụi
Khoảng cách
tới tâm ô (m)
Sử dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (PRA):
Sử dụng công cụ: phân tích lịch mùa vụ, phỏng vấn cá nhân, thảo luậnnhóm để thu được thông tin chính xác về kỹ thuật khai thác, mùa vụ khaithác, kỹ thuật gây trồng…và mục đích sử dụng nguồn tài nguyên này Kết quảthu được tổng hợp vào mẫu biểu 03
Sử dụng công cụ phân tích tổ chức và xây dựng sơ đồ quan hệ của các
tổ chức (sơ đồ VEEN) để tìm hiểu sự tác động và mức độ ảnh hưởng của các
tổ chức chính quyền tới phát triển nguồn tài nguyên tre nứa tại địa phương
Sử dụng công cụ phân loại, xếp hạng cho điểm để người dân đánh giámức độ cần thiết, ưa thích và ưu tiên một số loài tre nứa trong phát triểnnguồn tài nguyên này
Sử dụng phương pháp kế thừa số liệu: Các tài liệu thứ cấp được lấy từ:Hạt kiểm lâm, UBND xã, Nhà máy giấy,…
Trang 18Mẫu biểu 03 Điều tra tình hình khai thác, sử dụng tre nứa
(Một số loài chủ yếu)
Chủ hộ gia đình: ……….Nhóm hộ: Xã:
Mùa vụ khai thác
Bộ phận sử dụng
Mục đích sử dụng
Lượng khai thác
Mức độ khai thác
Dạng sản phẩm
Giá bán
Nơi bán
1
2
…
* Ghi chú:
- Lượng khai thác tính bằng kg hay bằng cây
- Mức độ khai thác: Mạnh (+++); Trung bình (++); ít khai thác (+)
- Phân loại hộ gia đình
Trang 19- Phân tích kinh tế hộ gia đình (đề tài phỏng vấn 40 hộ gia đình theo 3nhóm hộ: Khá, trung bình và nghèo)
- Phỏng vấn
* Những câu hỏi chính:
- Tại khu vực nghiên cứu gồm có mấy loại nhóm hộ?
- Mức thu nhập từ tre nứa? Từ các nguồn thu khác?
d Nội dung 4 – Thuận lợi, khó khăn và giải pháp để phát triển tài nguyên tre nứa tại khu vực nghiên cứu
- Sử dụng công cụ: thảo luận nhóm để thấy được những thuận lợi, khókhăn của người dân trong công tác khai thác, sử dụng, gây trồng, chế biến vàquản lý nguồn tài nguyên tre nứa
- Sử dụng phương pháp chuyên gia: tham khảo các ý kiến của cácchuyên gia trong việc đề xuất các giải pháp để phát triển tài nguyên tre nứa tạikhu vực nghiên cứu
* Những câu hỏi chính:
- Những loài lâm sản thuộc nhóm tre nứa nào đã và đang được gâytrồng ở khu vực nghiên cứu?
- Kỹ thuật trồng như thế nào?
- Những thuận lợi và khó khăn mà người dân gặp phải trong quá trìnhgây trồng?
- Phát triển tre nứa có phù hợp với điều kiện tự nhiên, nhu cầu thịtrường và nhu cầu của người dân không?
- Mức độ ảnh hưởng của các tổ chức đến việc phát triển tài nguyên trenứa tại khu vực nghiên cứu?
2.4.2 Công tác nội nghiệp
Những công việc chính được thực hiện trong quá trình tiến hành nộinghiệp gồm: nghiên cứu tài liệu trong và ngoài nước có liên quan đến nội
Trang 20dung nghiên cứu của đề tài, xử lý số liệu điều tra, thảo luận về kết quả điềutra.
2.4.2.1 Nghiên cứu tài liệu về tre nứa trong và ngoài nước
Mục đích của nghiên cứu tài liệu là nâng cao nhận thức, kiến thức vềtre nứa nói chung thông qua học hỏi kinh nghiệm của các địa phương trong vàngoài nước Quá trình nghiên cứu tài liệu được định hướng theo những vấn đềsau:
Điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế của xã Vạn Mai, xã Đồng Bảng,huyện Mai Châu do Uỷ ban nhân dân UBND xã Vạn Mai và Đồng Bảng,UBND huyện Mai Châu cung cấp [29], [30], [31], [32], [33]
Phương pháp nghiên cứu về tre nứa; Phương pháp điều tra tre nứa; Kỹthuật khai thác, sử dụng và gây trồng của một số loài tre nứa; Một số kinhnghiệm trong sử dụng, gây trồng, khai thác tre nứa [9], [10], [11], [22], [23],
2.4.2.2 Xử lý tài liệu điều tra
Trong quá trình xử lý tài liệu điều tra, cần thống kê lại các vấn đề đãphát hiện được trong thời gian ngoại nghiệp, sắp xếp thứ tự ưu tiên, thứ tựquan trọng của vấn đề, phân tích các ý kiến, quan điểm Đồng thời phân tíchđịnh lượng với một số vấn đề có thể thực hiện được, liên hệ nó với các vấn đềphát hiện bằng điều tra nhanh Những thông tin thu được bằng phân tích địnhtính và định lượng đều có tầm quan trọng ngang nhau và được sử dụng làm tưliệu cơ bản để xây dựng đề tài Các phương pháp xử lý số liệu được sử dụngtrong đề tài được tham khảo tại 2 cuốn “Thống kê toán học trong lâm nghiệp”[18] và “Tin học ứng dụng trong lâm nghiệp” [19]
Trang 21n: số bụi có trong ôS: Diện tích ô
+ Số cây trung bình /1 bụi = Σ số cây trong mỗi bụi/6
+ Số cây trung bình/1ô = Số cây trung bình/1 bụi x số bụi có trong ô+ Số cây bình quân/ ha = Số cây trung bình trong 1 ô x 10.000/ Sô
- Lập bảng hiện trạng sử dụng các loài tre nứa dựa vào mục đích sửdụng
- Lập bảng xếp hạng ưu tiên phát triển các loài tre nứa tại khu vực nghiêncứu thông qua các chỉ tiêu như: Cho năng suất cao, chất lượng tốt, dễ trồng,
dễ tiêu thụ, giá trị kinh tế cao (việc này được tiến hành bằng cách cho điểmthông qua họp nhóm)
- Tính tổng thu nhập từ các nguồn thu: Nông nghiệp, tre nứa, nguồn thukhác của từng gia đình, nhóm hộ
- Tính tỷ lệ thu nhập của tre nứa, nông nghiệp, nguồn thu khác trong tổngthu nhập đối với từng hộ gia đình, nhóm hộ của các thôn điều tra
- Xây dựng các bản đồ chuyên đề: sử dụng các phương pháp trong cuốn
“Hệ thống thông tin địa lý trong lâm nghiệp” [2]
Trang 22CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI
KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên huyện Mai Châu
a Vị trí địa lý
Mai Châu là huyện vùng cao của tỉnh Hoà Bình, nằm về phía Tây Namcủa tỉnh, cách thị xã Hoà Bình 65 km, có toạ độ địa lý 20026’ - 20047’ vĩ độBắc; 104041’ - 105020’ độ kinh Đông
- Phía Bắc giáp huyện Đà Bắc tỉnh Hoà Bình
- Phía Đông giáp huyện Tân Lạc tỉnh Hoà Bình
- Phía Nam giáp huyện Quan Hoá - Bá Thước tỉnh Thanh Hoá
- Phía Tây giáp huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La
Toàn huyện có 21 xã và một thị trấn
Với vị trí như vậy, huyện Mai Châu có điều kiện để phát triển, trao đổi
và có thể mở rộng nguồn tiêu thụ các sản phẩm từ tre nứa sang các vùng lâncận
b Địa hình
Địa hình huyện Mai Châu khá phức tạp, có nhiều dãy núi cao trên
hình không đồng nhất, độ chênh cao tạo nên bởi nhiều dãy núi đá cao, dốchiểm, nằm giữa các dãy núi cao là thung lũng bằng phẳng kéo dài từ ĐôngBắc xuống Tây Nam (điểm dân cư, đồng ruộng, nương màu của bà con cácdân tộc sinh sống lâu đời) đã ảnh hưởng đến quá trình gây trồng và phát triểnnguồn tài nguyên tre nứa tại địa phương
c Khí hậu - Thuỷ văn
* Huyện Mai Châu thuộc vùng núi cao của tỉnh, thuộc phía Tây Bắc, do đómang đặc thù khí hậu nhiệt đới vùng cao Tây Bắc, một năm có 2 mùa rõ rệt:
Trang 23- Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa bình quân 1700mm,chiếm 85% tổng lượng mưa cả năm.
- Mùa khô hanh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, mùa khô ít mưa,lượng mưa chiếm khoảng 15% lượng mưa cả năm
- Nhiệt độ bình quân 22,50, cao nhất 380 vào tháng 6-7, nhiệt độ thấpnhất 60vào tháng 11-12
- Chế độ gió: Có 3 hướng gió chính:
+ Gió Đông Bắc có từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau, thường là giólạnh trong tiết trời khô hanh
+ Gió Đông Nam thường có từ tháng 5 đến tháng 10, đặc thù của loạigió này là mang hơi nước nhiều, độ ẩm không khí lớn, thời kỳ này thường bịảnh hưởng của bão nên có nhiều trận mưa to, lượng mưa rất lớn
+ Gió Lào hay thường gọi là gió Tây xuất hiện vào tháng 3 đến tháng 4,đặc trưng của gió Lào là gió mạnh, khí trời rất khô nóng, làm ảnh hưởng xấuđến sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi và là nguy cơ dẫn đến các vụ cháy rừnglớn
- Phía Đông của huyện giáp hồ sông Đà, hai xã tiếp giáp hồ sông Đà là
xã Tân Mai và xã Phúc Sạn, chiều dài tiếp giáp hồ của 2 xã là 7,5 km
- Ngoài ra trong huyện còn có 3 suối chính:
+ Suối Xia ở phía Tây Nam bắt nguồn từ núi Pù Hoọc xã Cun Pheochảy qua các xã Piềng Vế, Xăm Khoè, Mai Hịch, Vạn Mai đổ ra sông Mã với
Trang 24chiều dài 35 km, suối Xia thường xuyên có nước, tuy vậy mùa khô nước suốithường rất cạn.
+ Suối Mùn bắt nguồn từ 2 xã Đồng Bảng, Tòng Đậu và chảy chảy quathị trấn Mai Châu, các xã Chiềng Châu, Mai Hạ, Vạn Mai và chảy vào suốiXia với chiều dài 20 km, suối có nước quanh năm nhưng cũng giống như suốiXia về mùa khô nước suối thường rất cạn
+ Suối Bãi Sang chảy từ huyện Mộc Châu (Sơn La) qua địa phận xãPhúc Sạn ra hồ Sông Đà với chiều dài 15 km là con suối lớn có nước thườngxuyên
Ngoài sông suối ra, trên địa bàn còn có một số diện tích hồ có dung tíchchứa nước khá lớn, đó là:
+ Hồ Mỏ Luông xã Chiềng Châu
+ Hồ Mó Pìn thị trấn Mai Châu
+ Hồ Khả xã Mai Hạ
+ Hồ Sam Tạng xã Noong Luông
+ Hồ Nà Phật xã Pù Bin
Các sông, hồ, suối trên cung cấp nguồn nước chủ yếu phục vụ đời sống
và sản xuất cho nhân dân các dân tộc trong huyện, ít có tác dụng trong phòngcháy chữa cháy rừng Như vậy, điều kiện khí hậu tại địa phương rất thuận lợicho việc gây trồng và phát triển nguồn tài nguyên tre nứa tại địa phương
Trang 252- Đất vườn tạp 570,11 ha
II- Đất lâm nghiệp 44.728,63 ha
Độ che phủ rừng của huyện: 68,4%
Nhìn chung, với diện tích đất lâm nghiệp lớn (chiếm 86,24%) sẽ là điềukiện tốt cho địa phương phát triển nguồn tài nguyên tre nứa
3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
- Lao động: Có 25.822 lao động trong đó: Lao động sản xuất nôngnghiệp là 24.085 lao động, chiếm 93,3%
- Mật độ dân số trung bình 112 người/km2
Trang 26b Phát triển kinh tế
Diện tích gieo trồng cây lương thực của huyện là 5.033,6 ha, bằng11,9% tổng diện tích đất đai tự nhiên của huyện, trong đó diện tích lúa nước1.250,5 ha Thu nhập bình quân đầu người 2.000.000 đồng/năm Do chủ yếu
là sản xuất cây màu trên đất nương rẫy nên nguy cơ tiềm ẩn của các vụ cháyrừng xảy ra hàng năm thường là ở tập quán này
c Giao thông
Toàn huyện có 2 tuyến đường quốc lộ đi qua:
- Quốc lộ 6A chạy qua các xã Thung Khe, Tòng Đậu, Đồng Bảng, TânSơn, Pà Cò dài 38 km
- Quốc lộ 15 chạy qua các xã Tòng Đậu, thị trấn Mai Châu, ChiềngChâu, Mai Hạ đến xã Vạn Mai có chiều dài 20 km
- Ngoài ra còn có các trục đường giao thông liên xã như Vạn Mai điCun Pheo, xã Pà Cò đi Hang Kia, Đồng Bảng đi xã Phúc Sạn, Tân Mai, thịtrấn Mai Châu đi Noong Luông- Pù Bin Hiện tại có 21/22 xã thị trấn cóđường ô tô đến được trung tâm Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn
d Hệ thống điện
Huyện Mai Châu có 2 nguồn điện chính: Điện lưới quốc gia và thuỷđiện nhỏ
Có 2 tuyến điện cao thế chạy qua địa bàn huyện:
- Tuyến 110 KVA Hoà Bình đi Mộc Châu- Sơn La chạy qua các xãThung Khe, Tòng Đậu, Đồng Bảng, Tân Sơn, Pà Cò
- Tuyến 35KVA Hoà Bình đi Mai Châu chạy qua các xã Thung Khe,Tòng Đậu, thị trấn Mai Châu
- Trong nội huyện 100% số xã có tuyến điện hạ thế
Trang 273.4 Các chương trình hỗ trợ về lâm nghiệp của Nhà nước và các tổ chức
- Dự án OXFAM – Bỉ – 1997 – Dự án trồng rừng phòng hộ và nuôiong
Dự án này được thực hiện ở hai thôn: Khán và Nghẹ (xã Vạn Mai) Câytrồng chủ yếu của Dự án là: Keo, cốt khí
Chương trình 327 (Chương trình phủ xanh đất trống đồi núi trọc)
-1997 Cây trồng của Chương trình là: Luồng
- Chương trình 661 - 1999 Loài cây trồng: Luồng, Lát
- Dự án Pù Luông - Cúc Phương (Dự án bảo tồn môi trường sinh tháinúi đá vôi) - 2002 Dự án này thực hiện tại các thôn: Nghẹ, Lọng, Khán (xãVạn Mai)
3.5 Quan hệ gia đình, phong tục, tập quán có liên quan tới quản lý, sử dụng tre nứa tại địa phương
Cộng đồng người Thái ở Mai Châu thường sống quần tụ lại theo cácdòng họ, các gia đình thường ở gần nhau thành từng đám 5 – 7 nóc nhà trênmột sườn đồi hoặc hai bên đường; họ sống đoàn kết, đùm bọc nhau Bởi vậytrong mọi công việc đều có sự bàn bạc, vai trò của người đứng đầu các dòng
họ và người cao tuổi thể hiện rõ nét khi quyết định những việc hệ trọng vớiphát triển, gây trồng tre nứa cũng vậy Trước đây, nương rẫy nhiều họ sốngtheo kiểu tự cung, tự cấp, lấy lương thực làm đầu để đáp ứng nhu cầu cấp
Trang 28thiết của bản thân mình, của gia đình mình Ngày nay, khi diện tích nương rẫygiảm đi, họ chuyển sang trồng cây lâm nghiệp như: Bương, Luồng các giađình đều có sự bàn bạc, nhất trí cùng triển khai thực hiện Vì vậy hầu hết các
hộ gia đình đều có diện tích Luồng, Bương mới trồng hoặc đã cho thu hoạch.Người dân đều có nhận thức tốt về vai trò của rừng và trồng rừng phòng hộ
Họ đã tham gia nhiệt tình vào các hoạt động trồng rừng, mở rộng diện tíchtrồng các loại rừng Luồng, Bương, cũng như khoanh nuôi phục hồi rừngnứa sau khi tre nứa bị khuy
Qua phân tích điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của khu vực nghiêncứu thấy rằng: đất nông nghiệp bình quân trên đầu người tương đối thấp(1.083m2/khẩu nông nghiệp), diện tích đất nông nghiệp ngày một thu hẹp dodân số đang ngày một tăng lên nên đã ảnh hưởng tới đời sống của người dân.Tuy nhiên, diện tích đất lâm nghiệp lại nhiều (44.728,63ha), điều kiện khí hậuđáp ứng được nhu cầu sinh thái của tre nứa Đặc biệt Mai Châu đã và đangđược sự quan tâm của các tổ chức trong và ngoài nước quan tâm đầu tư pháttriển tài nguyên tre nứa Mặt khác, số người trong độ tuổi lao động ở xã lớn sẽ
là nguồn lao động dồi dào trong việc phát triển nguồn tài nguyên này
Trang 29CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Đánh giá hiện trạng tài nguyên tre nứa khu vực nghiên cứu
4.1.1 Thành phần và phân bố các loài tre nứa ở khu vực nghiên cứu
Để xác định thành phần và phân bố của tre nứa tại địa phương, tác giảcùng với nhóm nghiên cứu của Trần Ngọc Hải - Đại học Lâm nghiệp tiếnhành điều tra tại hai xã Vạn Mai và Đồng Bảng năm 2004 và 2005 Kết quảđược thể hiện ở bảng 4.1
Bảng 4.1 Các loài tre nứa phân bố trong khu vực
Thân ngầm
Địa danh
Nơi phân bố
Ghi chú
cong
BươngTuầnGiáo
Dendrocalamus sp
Mọccụm
Nghẹ,PhiêngSa
Thungnúi đávôi
Tựnhiên
mốc
Mạytền,Bươnglớn
Dendrocalamus sinicus Chia et
Sun
Mọccụm
PhiêngSa,ĐồngBảng
Sườnnúi,khenúi
Trồng
phấn
Mạypuộc
Dendrocalamus aff pachystachys
Hsueh et D.Z.Li
Mọccụm
ĐồngBảng
Chân,sườn Trồng
trúc
Tre tàu,Bát độ
Dendrocalamus latiflorus Munro
Mọccụm
ĐồngBảng
Sườnnúi Trồng
hang Maclurochloa sp
Cụmdựa
Phiêng
Sa, VạnMai
Sườn,đỉnh
Tựnhiên
6 Giang
Mọccụm
PhiêngSa
Vách
ta luy
Tựnhiên
Mạyluồng,Luồngđịaphương
cụm
ĐồngBảng
Chân,
Trang 30Thân ngầm
Địa danh
Nơi phân bố
Ghi chú
hóp
Bambusa multiplex (Lour.)
R ex S
Mọccụm
ĐồngBảng
Chânnúi Trồng
9 Lục trúc
Tremăngngọt
Bambusa oldhami Munro
Mọccụm
ĐồngBảng
Khenúi Trồng
Dendrocalamus barbatus Hsueh
et E.Z.Li
Mọccụm Cả 2 xã
Chân,sườn Trồng
mai
Dendrocalamus aff yunanicus
Hsueh et Li
Mọccụm
ĐồngBảng
Sườn,khenúi
Trồng
12 Mai ống
Mạymười,Mạypuốc
Dendrocalamus yunnannicus
Hsueh et D.Z.Li
Mọccụm
PhiêngSa,ĐồngBảng
Sườnnúi,khenúi
Trồng
13 Măng
đắng
Lànhanh
Indosasa crassiflora
McClure
Mọctản
PhiêngSa,ĐồngBảng
Sườn,chânnúi
Tựnhiên
chà láy
Gigantochloa albociliata
(Munro) Kuzz
Mọccụm
PhiêngSa
Sườn,đỉnh
Tựnhiên
15 Nứa lá
Schizostachyum funghomii
McClure
Cụmthưa
Đồng
Tựnhiên
16 Nứa
mọc tản
Mạyđấy
Pseudostachyum polymorphum
Munro
Cụm
Sườn,chân,đỉnh
Tựnhiên
17 Nứa tép Cọ pao
Schizostachyum pseudolima
McClure
Cụmthưa
Nghẹ,Khán
Sườn,chân,đỉnh
Tựnhiên
18 Tre gai
Mạyđằngngà
Bambusa blumeana
Schultes
Mọccụm
ĐồngBảng,VạnMai
Chânđồi,vensuối
Trồng
Trang 31Thân ngầm
Địa danh
Nơi phân bố
Ghi chú
19 Tre là
ngà
Mạy làngà
Bambusa sinospinosa
McClure
Mọccụm
ĐồngBảng
Chânđồi,vensuối
Trồng
20 Tre mỡ
Mạybươngphấn
Bambusa vulgaris Schre ex
Wend
Mọccụm
ĐồngBảng
Sườnchânnúi,khenúi
Trồng
21 Tre vàng
sọc
Bambusa multiplex cv
Alphons-Kazz
Mọccụm
ĐồngBảng
Trồnglàmcảnh
Trồngcảnh
22 Trúc cần
câu
Mạybùa
Phyllostachys sulphurea A.et
C.Riv
Mọc
Đỉnhnúi
Tựnhiên
23 Vầu
đắng
Mạykhôm
Indosasa angustata
McClure
Mọctản
ĐồngBảng,Nghẹ,Khán
Sườnnúi,chânnúi
Tựnhiên
24 Vầu
ngọt
Mạyban
Indosasa parvifolia C.S.
Chao et Q.H Dai
Mọctản
ĐồngBảng
Sườnnúi
Tựnhiên
Trong số 24 loài tre nứa đã phát hiện ở khu vực có 11 loài mọc tự nhiên
và 13 loài được người dân gây trồng ở các thôn, xã Đặc biệt là các loài nhưBương mốc, Mai, Bương phấn, Mai mười, Tre gai đã được trồng từ lâu đời và
có kích thước lớn Một số loài mới trồng như Luồng, Lục trúc, Điềm trúctrong một số năm trở lại đây, trong đó Luồng được trồng phổ biến ở các hộtrên diện tích đất lâm nghiệp đã nhận qua một số chương trình dự án 327, 661tại địa phương; Điềm trúc và Lục trúc được trồng từ năm 2002 trở lại đâynhiều bụi đã ra hoa (75% số bụi đã ra hoa)
Trang 32Trong 24 loài tre nứa, có 21 loài dạng thân ngầm mọc cụm trong đó có
3 loài mọc cụm thưa với xu hướng chung có hiện tượng nâng bụi cao dần theothời gian Hầu hết các loài đều phân bố ở sườn núi, khe núi và chân đồi
4.1.2 Tình hình khai thác, sử dụng tài nguyên tre nứa ở Mai Châu
4.1.2.1 Tình hình khai thác
Điều tra thực tế và phỏng vấn các hộ gia đình cho thấy tại khu vựcnghiên cứu tất cả các loài tre nứa đều được khai thác thân và măng Kết quảđược thể hiện ở bảng 4.2
Bảng 4.2 Lịch mùa vụ khai thác một số loài tre tại khu vực nghiên cứu Tháng
măng
Khai thác thân
măng
Khai thác thân
măng Khai thác thân
a Khai thác măng
* Thời vụ khai thác tre nứa tại địa phương:
Có 2 thời điểm khai thác trong năm Đợt 1 vào mùa Xuân (tháng 2 đếntháng 4) khai thác một số loài mọc tản như: Vầu đắng, Lành anh Đợt 2 vàomùa mưa (tập trung vào tháng 6 đến tháng 9) khai thác một số loài mọc cụm
Trang 33như: Luồng, Bương, Mai, Nứa,…Đây là những tháng có lượng mưa nhiều, độ
ẩm cao thích hợp cho măng sinh trưởng và phát triển
Bương phấn, Vầu đắng, Lục trúc, Điềm trúc là những loài được khaithác nhiều nhất do măng của các loài này ngon và có giá thành cao trên thịtrường Giá thành măng tre nứa tại địa phương được thể hiện ở bảng 4.3
Bảng 4.3 Giá cả măng của một số loài tre tại chợ Mai Châu
(Tháng 6/2008)