luận văn thạc sĩ, tiến sĩ, cao học, luận văn
Trang 1Vò Sü KI£N
X¸C §ÞNH MéT Sè YÕU Tè M¤I TR¦êNG TRONG QUY HO¹CH Sö DôNG §ÊT HUYÖN SãC S¥N - THµNH PHè Hµ NéI
Trang 2
Vũ Sỹ KIÊN
XáC ĐịNH MộT Số YếU Tố MÔI TRƯờNG
TRONG QUY HOạCH Sử DụNG ĐấT HUYệN SóC SƠN - THàNH PHố Hà NộI
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu
sử dụng trong luận án là trung thực, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng Những kết quả trình bày trong luận án chưa từng được công bố ở nơi nào khác
Người cam đoan
Vũ Sỹ Kiên
Trang 4Để hoàn thành luận án này, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đến thầy, cô giáo hướng dẫn trực tiếp là PGS.TS Nguyễn Thị Vòng, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội và TS Trần Hồng Hà, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện Luận
án Tôi cũng xin gửi lời cám ơn chân thành đến các thầy, cô giáo trong Bộ môn Quy hoạch đất đai, Khoa Tài nguyên và Môi trường, Ban Quản lý Đào tạo, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Hội Khoa học Đất Việt Nam đã góp ý cho tôi những kiến thức quý báu trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện Luận án Tôi cũng xin cám ơn Lãnh đạo Tổng cục Quản lý đất đai, Lãnh đạo Cục Quy hoạch đất đai và các đồng nghiệp trong Bộ Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, UBND huyện Sóc Sơn đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình nghiên cứu Đặc biệt tôi muốn được cám ơn những người thân trong gia đình tôi đã luôn chia sẻ và tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi thực hiện công trình nghiên cứu này
Xin trân trọng cám ơn!
Tác giả luận án
Vũ Sỹ Kiên
Trang 53 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
1.1 Tổng quan về sử dụng đất và quy hoạch sử dụng đất 4
1.1.2 Cơ sở khoa hoc của quy hoạch sử dụng đất 6
1.2 Yêu cầu bảo vệ môi trường trong quy hoạch sử dụng đất 7
1.3.2 Bảo vệ môi trường vùng gò đồi, đất dốc 20
1.4 Xác định các yếu tố môi trường trong quy hoạch sử dụng đất 32 1.4.1 Các yêu cầu chung trong quá trình lập quy hoạch sử dụng đất 32 1.4.2 Các chỉ tiêu môi trường cần kiểm soát 33
Trang 62.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Sóc Sơn 38 2.1.2 Đánh giá việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất huyện Sóc
Sơn đến năm 2010 theo yêu cầu bảo vệ môi trường
38
2.1.3 Những yêu cầu bảo vệ môi trường trong quy hoạch sử dụng
đất đến năm 2020 huyện Sóc Sơn
38
2.1.4 Đề xuất một số yếu tố môi trường trong quy hoạch sử dụng
đất huyện Sóc Sơn
38
2.2.1 Phương pháp điều tra thu thập thông tin, tài liệu 38
2.2.3 Phương pháp tổng hợp, xử lý dữ liệu 40 2.2.4 Phương pháp kế thừa, chọn lọc những tư liệu sẵn có 40 2.2.5 Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp bền
3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Sóc Sơn 45
3.1.2 Các điều kiện sinh thái tự nhiên của huyện Sóc Sơn 45 3.1.3 Các nguồn tài nguyên của huyện Sóc Sơn 49 3.1.4 Đặc điểm kinh tế - xã hội huyện Sóc Sơn 54
3.2 Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất huyện
Sóc Sơn đến năm 2010 theo yêu cầu bảo vệ môi trường
67
3.2.1 Khái quát phương án quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010
huyện Sóc Sơn
67
3.2.2 Xác định các yếu tố môi trường trong quy hoạch sử dụng đất
đến năm 2010 huyện Sóc Sơn
73
Trang 73.4.2 Những yêu cầu bảo vệ môi trường đến năm 2020 112
3.5 Đề xuất một số yếu tố môi trường trong quy hoạch sử dụng
đất huyện Sóc Sơn đến năm 2020
120
3.5.1 Đề xuất một số yếu tố môi trường trong quy hoạch sử dụng
đất huyện Sóc Sơn đến năm 2020
120
3.5.2 Giải pháp để kiểm soát các yếu tố môi trường trong quy
hoạch sử dụng đất nông nghiệp huyện Sóc Sơn đến năm
Trang 8Chữ viết tắt Nội dung của chữ viết tắt
BVMT bảo vệ môi trường
ĐMC Đánh giá môi trường chiến lược
FAO Food and Agriculture Organization (Tổ chức Nông Lương thế giới) GIS Hệ thống thông tin địa lý
GTSX giá trị sản xuất
HĐND Hội đồng nhân dân
KCN khu công nghiệp
Trang 9STT Tên bảng Trang
1.1 Tổng hợp các yếu tố liên quan đến môi trường chiến lược đối
với quy hoạch sử dụng đất
14
1.2 Các tiêu chí đánh giá sự phù hợp phương án quy hoạch sử dụng
đất
16
1.3 Kết quả điều tra, nghiên cứu thực tế về nguồn gây tác động và
yếu tố tác động đến môi trường từ quy hoạch sử dụng đất
17
1.4 Vật chỉ thị quản lý đất bền vững xác định dưới từng tiêu chí 23 1.5 Tiêu chuẩn đánh giá bền vững đất đồi núi 24 1.6 Một số chỉ tiêu môi trường và phát triển bền vững năm 2009 35
3.2 Diễn biến cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông nghiệp huyện Sóc Sơn 56 3.3 Diện tích, năng suất và sản lượng một số cây trồng chính huyện Sóc Sơn 57 3.4 Cơ cấu đàn vật nuôi năm 2009 theo vùng của Sóc Sơn 58 3.5 Cơ cấu lao động theo ngành trên địa bàn Sóc Sơn 61 3.6 Phương án quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 73 3.7 Tình hình thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất của các
công trình thuỷ lợi đến năm 2010 huyện Sóc Sơn
76
3.8 Tình hình thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất các công
trình công viên cây xanh đến năm 2010 huyện Sóc Sơn
78
3.9 Tnh hình thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất các công
trình cấp nước và bảo vệ đa dạng sinh học đến năm 2010 huyện
Sóc Sơn
79
3.10 Tình hình thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất các công
trình bãi thải, xử lý chất thải đến năm 2010
80
3.11 Tiếng ồn tại một số điểm khu vực Sóc Sơn 82 3.12 Môi trường không khí gần tuyến giao thông và làng nghề 83 3.13 Môi trường nước mặt, nước thải một số khu vực 84 3.14 Kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 huyện
Sóc Sơn
86
3.15 Các khu du lịch sinh thái, sân golf trong quy hoạch sử dụng đất 88
Trang 103.17 Kết quả sản xuất kinh doanh mô hình 1 (Vườn cây ăn quả, cây
công nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản)
92
3.18 Kết quả sản xuất kinh doanh của mô hình 2 (Đồi rừng, vườn
cây ăn quả, cây công nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản)
93
3.19 Kết quả sản xuất kinh doanh mô hình 3 (Vườn cây ăn quả và
chăn nuôi lợn thịt, lợn giống)
94
3.20 Kết quả sản xuất kinh doanh mô hình 4 (Đồi rừng, vườn cây ăn
quả, nuôi trồng thuỷ sản và chăn nuôi)
95
3.21 Kết quả sản xuất kinh doanh mô hình 5 (Đồi rừng, vườn cây ăn
quả, nuôi trồng thuỷ sản)
96
3.22 Kết quả sản xuất kinh doanh mô hình 6 (Đồi rừng, vườn cây ăn
quả và cây hàng năm, du lịch sinh thái)
97
3.23 Hiệu quả sử dụng đất của các mô hình thực nghiệm 98 3.24 Đánh giá hiệu quả xã hội các mô hình sử dụng đất 100 3.25 Đánh giá hiệu quả môi trường các mô hình sử dụng đất 102 3.26 Diện tích sử dụng đất Khu du lịch văn hoá nghỉ ngơi cuối tuần
khu vực Đền Sóc
103
3.27 Nồng độ bụi đo được tại khu vực các mô hình sử dụng đất 105 3.28 Môi trường nước mặt, nước thải một số công trình, dự án 107 3.29 Các vấn đề phân tích theo khung ma trận Áp lực - Trạng thái -
3.34 Dự tính chỉ số yếu tố môi trường trong quy hoạch sử dụng đất
đến năm 2020 huyện Sóc Sơn
124
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BẢN ĐỒ
2.1 Mô hình Áp lực - Tình trạng - Phản hồi 42
Sơ đồ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 2001-2010 55
Sơ đồ Không gian huyện Sóc Sơn đến năm 2020 70
3.8a Cảnh quan khu du lịch văn hoá nghỉ ngơi cuối tuần Đền Sóc 104 3.8b Cảnh quan khu Học viện Phật Giáo - Sóc Sơn 104
Trang 123.10b Cảnh quan khu vực gần Khu liên hợp xử lý rác Nam Sơn 107
3.12 Cảnh quan một trang trại sử dụng đất gây xói mòn 115 3.13 Cảnh quan môi trường bị phá huỷ do khai thác các mỏ đất 116
Bản đồ Hiện trạng sử dụng đất năm 2006 huyện Sóc Sơn 153 Bản đồ Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 huyện Sóc Sơn 154 Bản đồ Hiện trạng sử dụng đất năm 2010 huyện Sóc Sơn 155 Bản đồ Định hướng sử dụng đất đến năm 2020 huyện Sóc Sơn 156
Trang 14Trong những năm gần đây, quy hoạch sử dụng đất đã được chú trọng
và thực thi nhằm đảm bảo việc khai thác sử dụng nguồn tài nguyên đất một cách tiết kiệm và có hiệu quả Tuy nhiên, việc sử dụng đất trong những thập
kỷ qua ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển như Việt Nam đã và đang phải đối mặt với những vấn đề môi trường trong quá trình sử dụng đất
Hội nghị Stockholm về Môi trường và Con người (1972) đã đánh dấu
sự ra đời của nhận thức về phát triển bền vững, đồng thời kêu gọi công tác quy hoạch theo phương thức tích hợp được cả những nội dung môi trường; tiếp đó là Hội nghị thượng đỉnh Trái Đất về Môi trường và Phát triển (Tháng
6 năm 1992) tại Rio De Janeiro với việc thông qua Chương trình Nghị sự 21 kêu gọi xây dựng các chiến lược phát triển bền vững quốc gia, lồng ghép các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ môi trường
Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 của nước ta đã được Quốc hội Khoá
XI, kỳ họp thứ 8 thông qua, trong đó quy định các phương án quy hoạch sử dụng đất phải tiến hành đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC) Chính vì vậy việc nghiên cứu lồng ghép các yếu tố bảo vệ môi trường vào công tác quy hoạch sử dụng đất là cần thiết, nhằm giải quyết các mục tiêu chiến lược cho phát triển bền vững và hạn chế, giảm thiểu những rủi ro đối với nguồn tài nguyên đất trong tương lai, đặc biệt đối với đất nông nghiệp
Sóc Sơn là huyện ngoại thành Hà Nội, nằm trong vùng bán sơn địa với đặc điểm địa hình rất đa dạng: vùng gò đồi, vùng ruộng bậc thang và vùng đồng trũng ven sông Trong đó đặc biệt là vùng đất gò đồi có vị trí rất quan trọng, rừng ở đây được coi là “lá phổi xanh” điều hoà khí hậu cho Thủ đô, nó
Trang 15không chỉ là rừng cảnh quan phục vụ du lịch, nghỉ ngơi cuối tuần trong cụm
đô thị Hà Nội - Nội Bài - Việt Trì,… mà còn có ý nghĩa phòng hộ môi trường, giữ nước, điều tiết nước phục vụ đời sống sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp của các huyện phía Bắc thành phố Hà Nội Những năm gần đây vấn đề đô thị hoá và công nghiệp hoá trên địa bàn đã gây áp lực không nhỏ đến việc sử dụng đất, cụ thể như việc mở rộng sân bay quốc tế Nội Bài, sân golf Minh Trí, khu du lịch văn hoá Đền Sóc, Học viện Phật giáo, di dời các trường đại học, các khu công nghiệp, bãi rác, nghĩa địa,… cùng với việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, hình thành các trang trại trên các vùng gò đồi đã đặt ra những vấn đề cấp bách trong công tác quản lý đất đai và bảo vệ môi trường, đảm bảo
sự tăng trưởng kinh tế, đồng hành với ổn định xã hội và phát triển bền vững
Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, chúng tôi thực hiện đề tài “Xác định
một số yếu tố môi trường trong quy hoạch sử dụng đất huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định một số chỉ tiêu, yếu tố bảo vệ môi trường cần kiểm soát gắn với các mô hình sử dụng đất của huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội
Đề xuất một số yếu tố môi trường trong quy hoạch sử dụng đất huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu làm rõ về các chỉ tiêu, yếu tố bảo vệ môi trường trong điều kiện sử dụng đất đặc thù ở vùng gò đồi huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, góp phần bổ sung, hoàn thiện cơ sở khoa học về sử dụng đất bền vững đối với vùng gò đồi, đất dốc phục vụ công tác lập và thẩm định quy hoạch sử dụng đất cấp huyện
Trang 163.2 Ý nghĩa thực tiễn
Xác định một số yếu tố môi trường cần kiểm soát phục vụ công tác lập
và thẩm định quy hoạch sử dụng đất huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội nhằm giải quyết các mục tiêu phát triển bền vững và giảm thiểu những rủi ro đối với
sử dụng đất nông nghiệp trong tương lai ở một huyện vùng gò đồi đang trong quá trình đô thị hoá
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Quy hoạch sử dụng đất huyện Sóc Sơn và các vấn đề bảo vệ môi trường, trong đó tập trung nghiên cứu một số chỉ tiêu, yếu tố bảo vệ môi trường đối với quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp
Các mô hình sử dụng đất nông nghiệp bền vững, bảo vệ môi trường trong quy hoạch sử dụng đất huyện Sóc Sơn
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Toàn bộ huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, trong đó tập trung thực nghiệm trên diện tích vùng gò đồi sản xuất nông lâm nghiệp trên địa bàn
5 Những đóng góp mới của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án là căn cứ quan trọng để BVMT trong SDĐ nông nghiệp ở huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội thuộc vùng gò đồi, đất dốc của Việt Nam Theo đó, đã xác định một số yếu tố MT cần thiết phải kiểm soát phục vụ lập và thẩm định QHSDĐ huyện Sóc Sơn đến năm 2020,
đó là: tổng quỹ đất NN cần bảo vệ, quỹ đất trồng lúa cần bảo vệ nghiêm ngặt; tổng quỹ đất rừng, quỹ đất rừng thông cần bảo vệ nghiêm ngặt; độ che phủ rừng, độ che phủ chung gồm cả cây lâu năm; diện tích đất bảo đảm cảnh quan, nguồn nước và quỹ đất xây dựng các công trình bãi rác, xử lý chất thải Đây là những chỉ tiêu kép: sử dụng đất - bảo vệ môi trường và được
lồng ghép trong phương án QHSDĐ theo hướng phát triển bền vững
Trang 17Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan về sử dụng đất và quy hoạch sử dụng đất
1.1.1 Đất và sử dụng đất
Đất là một hệ thống phức tạp bao gồm phần vô cơ, hữu cơ, sinh vật, nước, khí và sự vận động liên tục từ bản thân nó cũng như tác động to lớn của con người Vận động của con người là sự phát triển Sự phát triển gắn liền với ô nhiễm
và suy thoái môi trường đất (Trần Văn Nhân, Nguyễn Thị Lan Anh, 2006)
Đất không đơn giản chỉ là lớp vỏ bề mặt của thạch quyển mà nó là sản phẩm của quá trình phong hoá lý hoá học tầng đá mẹ và sự chuyển hoá, nhào trộn của các chất khoáng và chất hữu cơ Đất được hình thành với sự tham gia của các loài sinh vật Sự phong hoá vật lý và hoá học giải phóng các chất khoáng từ đá mẹ, đồng thời xảy ra trong quá trình phân huỷ các sản phẩm của thực vật và sinh vật đất Đất có vai trò quan trọng trong phân bố sinh thái của sinh vật Đất ở các vùng, các đới khác nhau có những đặc điểm và tính chất khác nhau về độ dày tầng đất, độ thoáng khí, độ chua, lượng nước, hàm lượng các chất khoáng, Đất cũng là môi trường sống thuận lợi đối với đa số các loài sinh vật Cảnh quan không có đất là cảnh quan không có sự sống (Lương Đức Phẩm và cộng sự, 2009)
Sử dụng đất (Land Use): Bao gồm toàn bộ các hoạt động can thiệp của con người đối với tài nguyên đất đai tự nhiên Sử dụng đất là quá trình thực hiện các hoạt động kinh tế, xã hội, sản xuất, an ninh, quốc phòng,… theo các định hướng quy hoạch sử dụng đất hoặc tự phát diễn ra trên một khu vực hoặc vùng lãnh thổ và có liên quan tới các biện pháp chính sau:
- Khai thác (khai thác quặng mỏ, khai thác đá, khai thác rừng tự nhiên,…)
Trang 18- Xây dựng (khu dân cư, đường xá giao thông và các công trình dân sinh khu đô thị, công nghiệp,…) và phân bố lại dân cư
- Canh tác (hoạt động quản lý, sản xuất nông, lâm nghiệp)
- Bảo vệ (bảo vệ các giống loài, hệ sinh thái hay cảnh quan, bảo vệ các
di sản,…)
Như vậy, sử dụng đất là hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan
hệ người - đất trong tổ hợp với các nguồn tài nguyên khác và môi trường Căn
cứ vào nhu cầu của thị trường sẽ phát hiện, quyết định phương hướng chung và mục tiêu sử dụng hợp lý nhất tài nguyên đất đai, phát huy tối đa công dụng của đất đai nhằm đạt tới lợi ích sinh thái, kinh tế - xã hội cao nhất
Mục đích của sử dụng đất là làm thế nào để nguồn tư liệu có hạn này đem lại hiệu quả kinh tế, hiệu quả sinh thái, hiệu quả xã hội cao nhất, đảm bảo được lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài
Hiệu quả kinh tế được biểu hiện ở quan hệ so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra Một phương án hay, một giải pháp quản lý, giải pháp kỹ thuật có hiệu quả kinh tế cao phải đạt được tương quan tối ưu giữa kết quả đem lại và chi phí đầu tư Tiêu chuẩn của hiệu quả kinh tế sử dụng đất là mức tăng thêm của các kết quả sản xuất và mức tiết kiệm chi phí lao động xã hội Hiệu quả kinh tế thể hiện bằng giá trị tổng thu nhập, tổng sản phẩm, lợi nhuận
Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xã hội (kết quả xét về mặt xã hội) và tổng chi phí bỏ ra Các chỉ tiêu hiệu quả xã hội thể hiện mức thu hút lao động, mức độ sử dụng lao động, tạo việc làm, tăng thu nhập, trình độ dân trí, trình độ hiểu biết khoa học
Hiệu quả môi trường sinh thái thể hiện qua các chỉ tiêu: tỷ lệ diện tích đất đai được bảo vệ và cải tạo, bị ô nhiễm hay thoái hóa, mức độ bảo vệ môi
Trang 19trường sinh thái trong vùng (đất - nước - không khí, động, thực vật); sự thích hợp với môi trường đất khi thay đổi kiểu sử dụng đất
1.1.2 Cơ sở khoa học của quy hoạch sử dụng đất
Quy hoạch sử dụng đất (Land Use Planning) là một hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp chế của Nhà nước về tổ chức sử dụng đất đai đầy
đủ và hợp lý có hiệu quả cao thông qua việc phân phối và tái phân phối quỹ đất của quốc gia, tổ chức sử dụng đất như một tư liệu sản xuất cùng với các tư liệu sản xuất khác gắn liền với đất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất và bảo vệ môi trường (Đoàn Công Quỳ và cộng sự, 2006)
Theo Tổ chức Nông nghiệp và lương thực thế giới FAO (1993) “Quy hoạch sử dụng đất là sự đánh giá có hệ thống về tiềm năng tài nguyên đất và nước, về các mô hình sử dụng đất trong các điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội khác nhau nhằm mục đích lựa chọn và thông qua các phương thức sử dụng đất mang lại nhiều lợi ích nhất cho người sử dụng mà không phá hủy tài nguyên và môi trường, đồng thời đề xuất lựa chọn và thực hiện các biện pháp thích hợp nhất để thực hiện việc sử dụng đất như vậy”
Mục đích chung của quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ hành chính là đáp ứng nhu cầu đất đai một cách tiết kiệm, khoa học, hợp lý và có hiệu quả
Quy hoạch sử dụng đất là việc xác định, phân bổ hợp lý quỹ đất cho các mục đích sử dụng như đất nông nghiệp, lâm nghiệp, xây dựng, giao thông, thủy lợi, đất cho phát triển khoa học kỹ thuật, văn hóa, giáo dục, y tế, thể dục thể thao, quốc phòng, an ninh, đất ở đô thị, nông thôn,… theo mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của vùng và của quốc gia
Quy hoạch sử dụng đất thực hiện chức năng phân phối và tái phân phối quỹ đất nhằm đáp ứng nhu cầu về đất sử dụng cho các ngành, các đơn vị sử dụng đất Nó là công cụ hữu hiệu của Nhà nước để điều chỉnh mối quan hệ
Trang 20đất đai, thiết lập thể chế quản lý sử dụng tài nguyên đất, góp phần ổn định phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững
Việc quy hoạch sử dụng đất bền vững cần được coi trọng đúng mức, trong đó nhất thiết phải lồng ghép yếu tố bảo vệ môi trường Kết hợp yếu tố môi trường vào trong quy hoạch tổng thể và quy hoạch sử dụng đất là một vấn
đề còn rất mới mẻ ở Việt Nam, đến nay chưa có nhiều các công trình nghiên cứu về lĩnh vực này
1.2 Yêu cầu bảo vệ môi trường trong quy hoạch sử dụng đất
Để thấy được một cách đầy đủ những yêu cầu về môi trường trong quy hoạch sử dụng đất chúng ta xem xét mối quan hệ này ở cả hai khía cạnh: yêu cầu khách quan và yêu cầu chủ quan - do tính pháp lý mang lại
1.2.1 Yêu cầu khách quan
Xét về mặt khái niệm, môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật, cụ thể gồm các thành phần như đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật, hệ sinh thái và các hình thái vật chất khác (Luật Bảo vệ môi trường, 2005)
Môi trường là tập hợp tất cả các điều kiện và hiện tượng bên ngoài tác động lên cá thể Khí quyển, thuỷ quyển, thạch quyển tồn tại trước khi sự sống xuất hiện trên hành tinh chúng ta, nhưng chỉ khi các cơ thể sống xuất hiện mới gọi chúng là môi trường Có nghĩa là chỉ có cơ thể sống mới có môi trường (Nguyễn Thị Kim Thái, Lê Thị Hiền Thảo, 2003)
Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo
vệ đa dạng sinh học và phát triển bền vững
Trang 21Trạng thái hoặc tình trạng môi trường của một khu vực hoặc quốc gia chính là trạng thái chủ yếu của môi trường trên hai phương diện: tình trạng vật lý - sinh học và tình trạng kinh tế - xã hội Môi trường luôn có một trạng thái nào đó và không hoàn toàn ổn định dưới tác động của tự nhiên và hoạt động sản xuất Các hoạt động của tự nhiên và con người tạo ra áp lực làm thay đổi trạng thái môi trường Xã hội (và cả các yếu tố tự nhiên) phải đáp ứng với hiện trạng mới bằng sự phát triển (Nguyễn Đình Mạnh và cộng sự, 2007)
Đất đai, bao gồm cả nguồn nước, sinh vật và hệ sinh thái là các thành phần quan trọng của môi trường, mối quan hệ này là tồn tại khách quan, tự nhiên và gắn bó hữu cơ, không thể tách rời
Đối tượng của quy hoạch sử dụng đất bao gồm toàn bộ đất đai, trong đó đất đai được hiểu với nghĩa rộng, bao hàm một thửa đất đơn thuần, bên cạnh
đó là những mối quan hệ hữu cơ như:
- Điều kiện tự nhiên: vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, thuỷ văn,
- Các nguồn tài nguyên gắn với đất: thổ nhưỡng, nước ngầm, nước mặt, khoáng sản, rừng, biển và đặc biệt là tài nguyên nhân văn
- Môi trường và cảnh quan: môi trường đất, môi trường nước và đặc điểm cảnh quan, các hệ sinh thái
- Các đặc điểm kinh tế - xã hội và đặc điểm sử dụng đất
Quy hoạch sử dụng đất là hoạt động điều tra, nghiên cứu, đánh giá tổng hợp toàn bộ các đối tượng trên để rút ra những nhận xét, đánh giá mang tính quy luật khách quan của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tiềm năng của các nguồn tài nguyên gắn với đất phục vụ cho công tác hoạch định phương án khai thác sử dụng đất trong tương lai phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế
- xã hội, đảm bảo sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả và bền vững
Quy hoạch sử dụng đất cũng bao gồm những hoạt động mang tính dự báo, bố trí quỹ đất cho các nhu cầu trong tương lai, kể cả các nhu cầu cho
Trang 22hoạt động phòng ngừa, ứng phó với những rủi ro, sự cố môi trường trong tương lai (trồng rừng chắn sóng, chắn cát, xây dựng đê, kè, đập, ); những hoạt động nhằm cải thiện, giữ môi trường trong lành (trồng cây, trồng rừng, xây dựng hồ chứa nước, ); sử dụng tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ đa dạng sinh học (quy hoạch bảo vệ các khu vực khoáng sản, các khu rừng đặc dụng, vườn quốc gia, )
Tuy nhiên, bên cạnh đó quy hoạch sử dụng đất cũng bao hàm những hoạt động có ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường, cụ thể như:
- Việc khai thác chuyển mục đích sử dụng đất rừng, đặc biệt là diện tích rừng đầu nguồn, rừng đặc dụng, rừng của các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia,
- Việc khai thác tài nguyên (đất, nước, khoáng sản) một cách quá mức
và không hợp lý
- Quy hoạch sử dụng đất, bố trí các dự án chưa tính đến hoặc tính toán không đầy đủ đến các giải pháp bảo vệ môi trường
- Quy hoạch sử dụng đất ảnh hưởng đến đa dạng sinh học
- Quy hoạch sử dụng đất có ảnh hưởng tiêu cực đến danh lam, thắng cảnh, di tích lịch sử, văn hoá,
Có thể nói rằng công tác quy hoạch sử dụng đất rất gần gũi và gắn liền với hoạt động bảo vệ môi trường, giữa môi trường và quy hoạch sử dụng đất
có những tác động qua lại, tồn tại một số yêu cầu, quan hệ khách quan như:
- Hoạt động bảo vệ môi trường (đất, nước, tài nguyên và hệ sinh thái)
- Hoạt động phòng ngừa, ứng phó với suy thoái, các sự cố môi trường
- Phương án khai thác và sử dụng tổng hợp tài nguyên
1.2.2 Yêu cầu về pháp lý
Luật Đất đai năm 2003 quy định việc lập quy hoạch sử dụng đất phải đảm bảo các nguyên tắc căn bản sau:
Trang 23- Sử dụng đất tiết kiệm và có hiệu quả
- Khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường
- Bảo vệ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh
Để đảm bảo đạt được những yêu cầu trên, những quy định về nội dung quy hoạch sử dụng đất đã bao hàm những hoạt động nhằm bảo vệ môi trường:
- Điều tra, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp điều kiện tự nhiên, kinh tế,
xã hội và hiện trạng sử dụng đất
- Đánh giá tiềm năng đất đai
- Xác định diện tích các loại đất phân bổ cho nhu cầu phát triển kinh tế
- xã hội, quốc phòng, an ninh
- Xác định các biện pháp sử dụng, bảo vệ, cải tạo đất và bảo vệ môi trường Các phương án quy hoạch sử dụng đất đưa ra đều được xem xét, cân nhắc và tính toán trên cả 3 khía cạnh: kinh tế - xã hội - môi trường để từ đó
lựa chọn được phương án phù hợp Đó là phương án đảm bảo Phát triển bền
vững, tức là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không
làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ
sở kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội
và bảo vệ môi trường
Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 quy định đối tượng phải đánh giá môi trường chiến lược là quy hoạch sử dụng đất đối với khu vực liên tỉnh, liên vùng, tức là đối với quy hoạch sử dụng đất cấp vùng và quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia phải đánh giá môi trường chiến lược
1.2.3 Thực trạng việc lồng ghép các vấn đề môi trường trong quy hoạch sử dụng đất
Một nguyên tắc căn bản đã được Luật Đất đai quy định, yêu cầu trong
sử dụng đất phải đảm bảo “Tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường và không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người sử dụng đất xung quanh”
Trang 24Chính nguyên tắc này có ảnh hưởng xuyên suốt, đòi hỏi công tác quy hoạch
sử dụng đất phải quan tâm đến khía cạnh môi trường Đồng thời, bản thân quy hoạch sử dụng đất cũng là một hoạt động tổng hợp bảo vệ môi trường
Pháp luật đất đai và pháp luật bảo vệ môi trường cũng đã có những quy định về công tác bảo vệ môi trường trong sử dụng đất nói chung và quy hoạch
sử dụng đất nói riêng, tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan đã ảnh hưởng đến việc áp dụng những quy định, lồng ghép các vấn đề môi trường trong quy hoạch sử dụng đất, bên cạnh đó cũng còn có nhiều tồn tại cần bổ sung, hoàn thiện
Thực tế thời gian vừa qua chúng ta còn lúng túng trong quan niệm và phương pháp lồng ghép các yếu tố môi trường trong quy hoạch sử dụng đất
Thứ nhất là quan niệm về vấn đề lồng ghép, từ trước đến nay công tác
quy hoạch sử dụng đất vẫn được quan niệm tự thân nó đã bao hàm các hoạt động môi trường, do đó đây là hoạt động tương đối độc lập, đầy đủ các yếu tố cấu thành: tự nhiên - kinh tế - xã hội - môi trường
Thứ hai thì coi công tác quy hoạch sử dụng đất mới là một phần của
hoạt động môi trường, cần có sự lồng ghép các hoạt động bảo vệ môi trường
để đảm bảo sự phát triển bền vững
Thứ ba là phương pháp tiếp cận, những năm trước đây việc lồng ghép
thường được quan tâm nghiên cứu là những ảnh hưởng đến môi trường của phương án quy hoạch sử dụng đất, tuy nhiên ngày nay cách tiếp cận này đã thay đổi “Lồng ghép các yêu cầu bảo vệ môi trường ngay từ khâu xây dựng, thẩm định và phê duyệt chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, các chương trình dự
án phát triển”, thậm chí phải được nghĩ đến ngay từ khâu hình thành ý tưởng quy hoạch, những xu hướng ban đầu của phương án quy hoạch, như vậy việc lồng ghép mới đem lại hiệu quả cao
Trang 25Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 của cả nước đã được Quốc hội thông qua từ năm 2004, trong đó có nhiều vấn đề về môi trường mang tính chiến lược quốc gia đã được các nhà hoạch định chính sách và Đại biểu Quốc hội quan tâm, chỉ đạo, cho ý kiến, cụ thể như:
- Vấn đề bảo vệ đất trồng lúa, đất nông nghiệp năng suất cao gắn với chiến lược an ninh lương thực, ổn định chính trị - xã hội (vấn đề môi trường sâu xa là bảo vệ diện tích đất ngập nước)
- Vấn đề bảo vệ và phát triển rừng, kiểm soát tổng diện tích đất lâm nghiệp và diện tích cho phép chuyển mục đích đất lâm nghiệp sang các mục đích khác, có ảnh hưởng lớn đến môi trường
- Vấn đề phát triển các loại đất phi nông nghiệp, như: đất ở, đất các khu công nghiệp, đô thị, sản xuất kinh doanh,
- Đặc biệt là diện tích khai hoang đất chưa sử dụng để cải tạo đưa vào sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp, tránh tình trạng bỏ đất hoang hoá Theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường, đây là đối tượng phải đánh giá môi trường chiến lược Cũng theo quy định hiện hành thì phương pháp tiếp cận là môi trường được lồng ghép, quan tâm từ khâu xây dựng ý tưởng, phương
án quy hoạch sử dụng đất Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã có hướng dẫn nội dung, phương pháp đối với đánh giá môi trường chiến lược nói chung, riêng đối với quy hoạch sử dụng đất cấp vùng cũng đã có nghiên cứu và hướng dẫn cụ thể (Cục Thẩm định và Đánh giá tác động môi trường, 2009)
Đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC) là việc phân tích, dự báo các tác động đến môi trường của dự án chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển trước khi phê duyệt nhằm đảm bảo phát triển bền vững
Mục đích của ĐMC là để lồng ghép việc xem xét các tác động môi trường trong quá trình xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và hỗ trợ cho việc ra quyết định minh bạch và có sự tham gia của các bên liên quan
Trang 26Tuy nhiên, thực tế việc áp dụng những quy định trên còn hạn chế, do quy hoạch sử dụng đất cấp vùng và cả nước đã được triển khai trước, công tác đánh giá môi trường chiến lược mới được nghiên cứu, hướng dẫn trong thời gian gần đây
Hiện nay chưa có quy định về đánh giá môi trường chiến lược đối với quy hoạch sử dụng đất cấp huyện, cấp xã, do đó việc lồng ghép môi trường được vận dụng theo các quy định hiện hành của pháp luật đất đai và các yêu cầu khách quan về bảo vệ môi trường
Yêu cầu về môi trường trong quy hoạch sử dụng đất cũng dần được quy định rõ ràng hơn, nhưng thực tế việc áp dụng còn rất nhiều hạn chế, cụ thể là:
- Điều tra, đánh giá các điều kiện tự nhiên còn chung chung, chưa có tiêu chí, phương pháp rõ ràng, cụ thể
- Chưa có những quy định bắt buộc trong việc khảo sát, đánh giá hiện trạng môi trường trong các phương án quy hoạch sử dụng đất, nên việc áp dụng còn tuỳ tiện, theo khả năng thực tế của dữ liệu có sẵn
- Đối với phương án quy hoạch sử dụng đất cấp huyện, đặc biệt là quy hoạch sử dụng đất chi tiết cấp xã, chúng ta cũng có thể nhìn nhận đánh giá ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của từng phương án Đồng thời việc lồng ghép
có thể được vận dụng trực tiếp thông qua các phương án công trình cải thiện, cải tạo môi trường (trồng rừng, trồng cây xanh, đắp hồ, đập, ), công trình bảo
vệ môi trường (bãi xử lý chất thải),
- Mặc dù đã có những quy định về đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường của các phương án quy hoạch sử dụng đất để lựa chọn phương án hợp lý, nhưng thực tế việc làm này hiện nay còn mang tính hình thức
Quy hoạch sử dụng đất là một công cụ quản lý giúp sử dụng tài nguyên đất một cách hợp lý, tuy nhiên nó vừa mang tính bảo vệ môi trường, vừa có ảnh hưởng xấu đến môi trường Vì vậy việc thực hiện ĐMC ngay từ giai đoạn
Trang 27lập quy hoạch để giúp các nhà quản lý quy định một quy hoạch khoa học và
hợp lý hơn để nâng cao chất lượng quy hoạch, chi tiết tại Phụ lục 6 (Trung
tâm Môi trường khu công nghiệp và xây dựng, 2006) Mặt khác mục đích sử
dụng bền vững tài nguyên đất có thể đạt được thông qua việc gắn kết các vấn
đề kinh tế, xã hội và môi trường vào quy hoạch sử dụng đất
Sử dụng đất tức là tác động đến tất cả các yếu tố (về điều kiện tự nhiên,
kinh tế, xã hội) có liên quan đến đất đai, tác động trực tiếp đến môi trường
Những yếu tố liên quan đến môi trường chiến lược đối với quy hoạch sử dụng
đất được tổng hợp theo bảng 1.1
Bảng 1.1 Tổng hợp các yếu tố liên quan đến môi trường chiến lược
đối với quy hoạch sử dụng đất
1 Điều kiện tự nhiên
1.1 Đặc điểm địa hình, địa mạo - Đặc điểm địa hình: núi, đồi, đồng bằng
- Đặc điểm cấu tạo đất, sụt lún, trượt lở, xói mòn 1.2 Đặc điểm khí hậu, khí tượng - Nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm, chế độ gió
- Tần suất bão và các hiện tượng thời tiết bất thường 1.3 Đặc điểm chế độ thuỷ văn - Đặc điểm sông, hồ: dòng chảy, lưu lượng, dung tích
- Đặc điểm thuỷ triều, hải văn
- Đặc điểm ngập lụt, hạn hán
2 Tài nguyên thiên nhiên
2.1 Tài nguyên đất - Tổng diện tích đất tự nhiên và chất lượng
- Hiện trạng và quy hoach sử dụng đất 2.2 Tài nguyên nước mặt - Đặc điểm hệ thống thuỷ văn trong khu vực
- Hiện trạng và quy hoạch sử dụng nước mặt 2.3 Tài nguyên nước ngầm - Đặc điểm tầng trữ nước, trữ lượng nước ngầm
- Hiện trạng và quy hoạch khai thác sử dụng 2.4 Tài nguyên ven biển - Rừng ngập mặn, đầm phá
- Đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản 2.5 Tài nguyên đa dạng sinh học - Thảm thực vật, hệ động vật, thuỷ sinh (nước ngọt, ven biển)
- Rừng quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên
3 Đặc điểm kinh tế xã hội
3.1 Dân cư - lao động - Cấu trúc dân số
Trang 28- Phong tục tập quán của địa phương
4 Hạ tầng cơ sở và dịch vụ
4.1 Giao thông - Đặc điểm của hệ thống giao thông
- Tai nạn, sự cố giao thông
- Khả năng đáp ứng yêu cầu vận chuyển cho dự án 4.2 Điện, nước, liên lạc - Đặc điểm hệ thống cung cấp điện, nước, liên lạc
- Đặc điểm hệ thống thoát nước
- Khả năng đáp ứng nhu cầu của dự án 4.3 Dịch vụ, thương mại - Hiện trạng và khả năng cung cấp dịch vụ, thương mại
5 Hiện trạng chất lượng môi trường tự nhiên
5.1 Chất lượng không khí - CO, SO 2 , NO x , bụi (TSP và PM 10 )
- Hydrocarbon bay hơi (VOC)
- H 2 S, ClO 2
5.2 Chất lượng nước mặt, nước
biển ven bờ, nước ngầm
- Gia tốc, vận tốc, tần số chấn động
Trang 29Bộ tiêu chí đánh giá sự phù hợp của phương án quy hoạch sử dụng đất được thể hiện trong bảng 1.2
Bảng 1.2 Các tiêu chí đánh giá sự phù hợp phương án quy hoạch sử dụng đất
2 Thay đổi kết cấu
đất - Xói mòn, lở đất, hoang hoá (suy kiệt các chất hữu cơ và tổng N)
3 Ô nhiễm đất - Nhiễm dầu mỡ;
- tích luỹ kim loại nặng;
- thuốc BVTV và các chất hữu cơ khó phân huỷ;
- nhiễm phèn và nhiễm mặn
4 Nguồn nước mặt
và chế độ thuỷ
văn
- Suy kiệt nguồn nước, nhiễm mặn;
- Thay đổi dòng chảy, giảm lưư lượng nước;
- Giảm số loài và số lượng sinh vật;
- Xuất hiện sinh vật ngoại lai
8 Ô nhiễm môi
trường biển - Trầm tích cửa sông;
- Chất lượng nước biển ven bờ và hiện tượng “thuỷ triều đỏ
9 Biến đổi khí hậu - Tích luỹ khí thải nhà kính;
- Chỉ số thất nghiệp (an ninh việc làm, sự đa dạng công việc);
- Chỉ số rủi ro (an toàn VSTP, an toàn GT, an ninh xã hội)
2 Các ngành kinh tế - Diện tích đất sử dụng;
- Giá trị sản xuất/ đơn vị diện tích;
- Tăng trưởng kinh tế bình quân năm;
- Tỷ trọng giá trị sản xuất so với tổng GDP
Trang 30TT Tiêu chí Chỉ số
3 Đời sống người
dân - GDP bình quân đầu người;
- Bình quân lương thực đầu người;
5 Biến động xã hội - Thay đổi cấu trúc phân bố dân số (di dân);
- Thay đổi cấu trúc việc làm;
- Thay đổi phong tục, tập quán
Nguồn: Nguyễn Đắc Nhẫn và cộng sự, 2010
Trên đây là bộ tiêu chí đánh giá sự phù hợp của phương án quy hoạch
sử dụng đất với các chỉ số tương ứng với mỗi tiêu chí
Về nguồn gây tác động đến môi trường: Kết quả điều tra, nghiên cứu thực tế cho thấy nguồn và yếu tố tác động đến môi trường dự báo phát sinh từ quy hoạch sử dụng đất được thể hiện trong bảng 1.3
Bảng 1.3 Kết quả điều tra, nghiên cứu thực tế về nguồn gây tác động và yếu tố
tác động đến môi trường từ quy hoạch sử dụng đất
Nguồn gây tác động Yếu tố tác động
1 Đô thị, khu công
nghiệp, làng nghề
- Khí thải công nghiệp, giao thông, khói, bụi
- Nước thải công nghiệp, sinh hoạt
- Chất thải rắn công nghiệp, bệnh viện, sinh hoạt
- Phá huỷ hệ sinh thái
- Thay đổi mục đích sử dụng đất
- Thay đổi cảnh quan
- Thay đổi số lượng và cơ cấu việc làm ở địa phương
2 Phát triển hạ tầng kỹ
thuật: giao thông, điện,
nước, bưu chính viễn
thông
- Khí thải giao thông, bụi xây dựng
- Nước thải sinh hoạt, dịch vụ
- Phá huỷ hệ sinh thái
- Thay đổi mục đích sử dụng đất
- Thay đổi cảnh quan
- Thay đổi số lượng và cơ cấu việc làm, văn hoá, giáo dục
Trang 31Nguồn gây tác động Yếu tố tác động
3 Phát triển du lịch - Khí thải giao thông
- Nước thải sinh hoạt, dịch vụ
- Chất thải rắn sinh hoạt
- Phá huỷ hệ sinh thái
- Thay đổi mục đích sử dụng đất
- Thay đổi cảnh quan
- Thay đổi số lượng và cơ cấu việc làm, văn hoá, giáo dục ở địa phương
4 Phát triển nông thôn:
phát triển khu dân cư, sản
xuất nông nghiệp, lâm
nghiệp, thuỷ sản
- Khí thải sinh hoạt
- Nước thải sinh hoạt, bệnh viện
- Chất thải rắn nông nghiệp, sinh hoạt (bao bì phân bón hoá học, thuốc BVTV, chất kích thích tăng trưởng,…)
5 Khai thác tài nguyên,
bao gồm tài nguyên nước,
khoáng sản, biển
- Phá vỡ cảnh quan
- Phá huỷ hệ sinh thái
- Khí thải, nước thải và chất thải từ các hoạt động khai thác
- Thay đổi số lượng và cơ cấu việc làm ở địa phương
6 Chuyển đổi mục đích
sử dụng đất
- Phá vỡ cảnh quan
- Phá huỷ hệ sinh thái
- Thay đổi các yếu tố vi khí hậu
- Thay đổi kết cấu đất
- Thay đổi cơ cấu việc làm, văn hoá, lối sống
Trang 32Về môi trường đất - chỉ thị phổ cập nhất cho đất đai được sử dụng nhiều, phần lớn các công trình sử dụng chỉ thị đất đai là (Nguyễn Đình Mạnh
và cộng sự, 2007):
- Tài nguyên gỗ và đồng cỏ;
- Tài nguyên gỗ, đất nông nghiệp, chất lượng môi trường và chất thải
- Năng suất cây trồng, cân bằng dinh dưỡng, sự tồn tại của lớp phủ đất, chất lượng đất (soil) và quỹ đất (land), chất lượng và trữ lượng nước, khả năng sinh lợi của hệ thống trang trại, sự tham gia của người dân và xã hội trong bảo vệ môi trường
Hiện nay quan điểm nghiên cứu các vấn đề về môi trường đất, đã xác định 4 quá trình gây suy thoái đất do tác nhân của con người: xói mòn do gió
và nước, suy thoái do dư thừa các chất hoá học, suy thoái vật lý và suy thoái sinh học (Trung tâm Điều tra, Đánh giá tài nguyên đất, 2009)
Xói mòn do nước bao gồm: mất lớp đất mặt, biến dạng địa hình và ảnh hưởng vị trí Xói mòn do gió bao gồm: mất lớp đất mặt, biến dạng địa hình và sức gió cao
Suy thoái hoá học đất bao gồm: mất dinh dưỡng đất hay vật liệu hữu
cơ, sự mặn hoá, sự chua hoá, sự ô nhiễm đất, sự phèn hoá, nitrate hoá
Suy thoái vật lý đất bao gồm: sự nén ép, lấp đầy và tạo vỏ bề mặt đất;
sự ngập úng, sự hạ thấp mực nước ngầm, sự giảm sút chất hữu cơ trong đất,
sự khai thác mỏ hay đô thị hoá
Sự suy thoái sinh học đất, tức là sự suy giảm về số lượng hoặc chất lượng sinh vật đất, bao gồm cả số lượng và số lượng loài
1.3.2 Bảo vệ môi trường vùng gò đồi, đất dốc
1.3.2.1 Đặc điểm vùng gò đồi, đất dốc
Vùng gò đồi là vùng được xác định trong phạm vi độ cao tuyệt đối dưới
500 m, trừ trường hợp đặc biệt có địa hình chia cắt mạnh và có địa mạo đa
Trang 33dạng (lượn sóng, bát úp, núi thấp) Trước đây, khu vực này chủ yếu phát triển lâm nghiệp, sản xuất nông nghiệp chưa được quan tâm đúng mức, người dân được Nhà nước hỗ trợ để bảo vệ rừng Tuy nhiên, thực tế trong những năm qua cho thấy nếu không phát triển nông nghiệp ở các vùng đất dốc thì tài nguyên rừng sẽ suy kiệt rất nhanh, bởi những người dân vì mưu sinh sẽ buộc phải khai thác các nguồn lợi từ rừng Một số mô hình bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng, Chứng chỉ nhóm FSC về quản lý rừng (Chương trình Lâm nghiệp WWF, 2004), Bộ công cụ xác định rừng có giá trị bảo tồn cao Việt Nam đã được thiết lập (WWF, Quỹ Quốc tế về Bảo vệ Thiên nhiên, 2008)
Diện tích đất dốc ở Việt Nam rất lớn, đáng chú ý là đất đồi núi chưa sử dụng, năm 2000 còn khoảng 7,69 triệu ha (chiếm 23,36% tổng DTTN) (Nguyễn Đình Bồng, 2002), năm 2005 còn khoảng 4,31 triệu ha (chiếm 13,02% tổng DTTN) (Chính phủ, 2006), năm 2010 giảm xuống còn khoảng 2,69 triệu ha (chiếm 8,13% tổng DTTN) (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2011) Trên đất dốc cũng có nhiều loại đất tốt có thể trồng được các loại cây công nghiệp, cây ăn quả nhiệt đới, cây lương thực, thực phẩm và cây thuốc quý Tuy nhiên, do phân bố ở địa hình cao, dốc, giao thông không thuận lợi, dân cư thưa thớt, dân trí thấp, trình độ canh tác lạc hậu nên đất đã bị xói mòn, rửa trôi mạnh, thoái hoá nhanh
Đất dốc cũng đang phải gánh chịu những áp lực nặng nề về sự gia tăng dân số, đặc biệt là di cư tự do, dẫn đến tình trạng "tự chặt phá rừng để làm đất sản xuất nông nghiệp" (Chính phủ, 2006) Khó khăn lớn nhất cho khai thác sử dụng đất dốc là địa hình chia cắt mạnh, tạo ra nhiều tiểu vùng sinh thái khác biệt, cùng với khí hậu nhiệt đới ẩm, mưa nhiều làm cho động năng phá huỷ môi trường tăng nhanh
Trong canh tác bền vững phải có biện pháp giảm thiểu cả hai yếu tố: khối lượng nước chảy và vận tốc dòng chảy Vậy mà trong canh tác đất dốc ở
Trang 34một số nơi người ta đã đốt trụi thảm thực vật giữ nước và giữ đất, cuốc xới và gieo trồng tuỳ tiện nên nước mưa cùng với đất cuốn đi, làm cho khối lượng nước chảy tăng cao Thiếu thảm thực vật, lớp cây trồng cản dòng nước, nước theo độ dốc mà chảy nên vận tốc nước chảy cũng rất lớn
Chúng ta nhấn mạnh tác dụng của rừng, cây rừng, bởi lẽ thảm rừng ngăn nước chảy và làm ngấm nước xuống sâu dưới đất, nghĩa là làm giảm cả hai yếu tố trên Nhưng nếu tất cả là rừng cả thì người dân ở vùng cao cũng không có lương thực, thực phẩm để sinh sống Do vậy, sáng tạo quan trọng là tạo nên vườn nhiều tầng và nhiều lợi ích mà dân ta đã xây dựng từ nhiều đời nay Những mô hình nông lâm kết hợp, với sự bảo vệ của các tầng cây người
ta có thể trồng cây lương thực và thực phẩm có giá trị như lạc, đỗ, các loại củ
và ngũ cốc Ngoài ra, có thể xây dựng những đồi cây, bãi cỏ để chăn thả gia súc, tạo nên một hệ sinh thái bền vững Kết quả nghiên cứu một số mô hình nông lâm kết hợp phát triển cây hồi cho thấy: Nhờ thực hiện mô hình tạo điều kiện cho các hộ gia đình làm ăn ổn định và có nguồn thu nhập vững chắc từ trồng hồi và các cây ăn quả, chè, kinh tế vườn và chăn nuôi Rừng được bảo
vệ và nâng cao được độ che phủ 77%, trong đó độ che phủ từ cây trồng lâu năm 4% và của rừng là 73% (Trần Đức Viên và Phạm Chí Thành, 1996) Tuy nhiên, chúng ta cần phải nhận thức sâu sắc rằng lớp đất mặt để duy trì cuộc sống của nhân loại là rất mỏng và rất dễ bị tổn thương Khi lớp đất mỏng trên bề mặt đã bị xói mòn thì khó mà khôi phục lại Đối với vùng nhiệt đới ẩm thì nguy cơ xói mòn đất thường cao hơn các vùng khác Nếu thiếu sự bảo vệ do việc canh tác, trồng trọt không đúng cách, đất sẽ bị thoái hoá trầm trọng trong một thời gian ngắn
Tóm lại, các vùng gò đồi, đất dốc là một phần đất đai quan trọng của
quốc gia, có đặc điểm đặc thù về vị trí địa lý, địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu, sinh thái, tập quán canh tác của người dân, chính vì vậy cần thiết phải nghiên
Trang 35cứu phát triển nông lâm nghiệp của khu vực này trong một tổng thể thống nhất nhằm hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, giữ gìn
đa dạng sinh học và đảm bảo an ninh chính trị, an toàn xã hội
1.3.2.2 Sử dụng đất dốc bền vững
Về phát triển bền vững (dẫn theo Lê Quốc Doanh và cộng sự, 2006), khái niệm của Uỷ ban thế giới về môi trường và sự phát triển (WCED): Phát triển bền vững là sự phát triển có khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện nay mà không phương hại đến khả năng của các thế hệ mai sau đáp ứng được những nhu cầu của họ
a) Các quan điểm sử dụng đất dốc bền vững
Theo Smith và Dumanski (1993) quan điểm sử dụng đất bền vững phải đảm bảo 5 nguyên tắc: Duy trì hoặc nâng cao hơn nữa hoạt động sản xuất; giảm mức độ rủi ro với sản xuất; bảo vệ tiềm năng của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, chống lại sự thoái hoá chất lượng đất và nước; khả thi về mặt kinh tế; được xã hội chấp nhận
Quản lý đất bền vững (Suitainable Land Management - SLM), là một tập hợp các kỹ thuật áp dụng vào tất cả các mức độ của sử dụng đất, đóng góp vào nền nông nghiệp bền vững Mục đích không chỉ để tối ưu hoá hiệu quả của đầu vào trong mối quan hệ với tối đa hoá đầu ra, mà còn quan tâm đến chi phí dài hạn về đất và môi trường với đầu ra Người ta coi SLM là sự kết hợp công nghệ, chính sách và hoạt động với mục đích kết hợp các nguyên tắc kinh
tế - xã hội với sự liên quan tới môi trường Nó nhằm đồng thời đạt được 5 tiêu chí trên Với đất dốc, xói mòn là nguyên nhân chính gây nên thoái hoá đất Sau đây là những ví dụ về dấu hiệu SLM do Pieri (1995) đề ra, trích dẫn bởi Maglinao (1999) được tổng hợp trong Bảng 1.4
Cũng theo Dumanski (1993) các chỉ tiêu chung để đánh giá và giám sát việc sử dụng đất bền vững, gồm: Năng suất cây trồng, cán cân chất dinh
Trang 36dưỡng, sự bảo toàn của độ che phủ đất, chất lượng/số lượng đất, chất lượng/số lượng nước, lợi nhuận của nông trại, sự áp dụng các biện pháp bảo vệ đất
Khái niệm về tính bền vững bao gồm sự ghi nhận về những giới hạn của dự trữ nguồn lực, tác động đến môi trường, tính kinh tế, đa dạng sinh học
và tính hợp pháp Bền vững là một khái niệm động, bền vững ở nơi này nhưng có thể không bền vững ở nơi khác, bền vững ở thời điểm này có thể không còn bền vững ở thời điểm khác
Bảng 1.4 Vật chỉ thị quản lý đất bền vững xác định dưới từng tiêu chí
Sức sản xuất Sự an toàn Tính bảo vệ Tính khả thi Tính chấp nhận
được
Chất hữu cơ
trong đất
Lượng mưa TB hàng năm
Xói mòn Tỷ lệ lợi nhuận/chi
phí
Quyền sử dụng đất
N dễ tiêu Khối lượng
sinh học bị chôn vùi
Hệ thống canh tác và phạm vi của sự bảo vệ
Phần trăm của thu nhập ngoài trang trại
Sự giúp đỡ của dịch vụ khuyến nông
P dễ tiêu Cường độ hạn Sự khác nhau giữa
giá thành sản xuất
và giá thị trường
Phương tiện y tế
và giáo dục trong làng
động trang trại
Phần trăm tiền trợ giúp để bảo tồn Quy mô trang trại Huấn luyện nông dân
về bảo tồn đất và nước
% nông sản được bán trên thị trường
Khả năng đầu vào nông nghiệp trong bán kính 5-10km Đường sá đảm bảo lưu thông
Nguồn: Vũ Thị Bình và cộng sự, 2004
Mặc dù đo lường trực tiếp tính bền vững là một điều khó khăn, nhưng
sự đánh giá nó có thể thực hiện được dựa vào những biểu hiện và chiều hướng của các quá trình chi phối chức năng của một hệ nhất định ở một địa phương
cụ thể Điều này đòi hỏi ngày càng phải cụ thể hoá, định lượng hoá sự bền vững để có thể đánh giá được các hệ canh tác cụ thể Trong một số trường
Trang 37hợp để dễ thực hiện người ta đo lường mặt không bền vững của vấn đề (chẳng hạn chất lượng đất mất, năng suất giảm, ) Những nguyên tắc đánh giá bền vững: Tính bền vững được đánh giá cho một kiểu sử dụng đất nhất định; Đánh giá cho một đơn vị lập địa cụ thể; Đánh giá cả về ba mặt: kinh tế, xã hội
và môi trường; Đánh giá cho một thời hạn xác định; Dựa trên quy trình và dữ liệu khoa học, những tiêu chuẩn và chỉ số phản ảnh nguyên nhân và dấu hiệu
Tóm lại: Muốn phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững, cần áp dụng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp để vừa sản xuất đủ nhu cầu tiêu dùng vừa
“bảo vệ đất hôm nay để nuôi sống các thế hệ mai sau”, hoặc nói cách khác
“sản xuất phải hài hoà với tự nhiên” (Hội nghị Quốc tế lần thứ hai về Nông nghiệp bảo tồn, Iguassu, Brazil -2003) Đối với các vùng miền núi, phát triển bền vững phải gắn liền với bảo vệ tài nguyên đất, nước, rừng và phát triển chăn nuôi (Lê Quốc Doanh và cộng sự, 2006)
b) Kinh nghiệm sử dụng đất dốc bền vững ở Việt Nam
Để tiến một bước trong việc đánh giá sử dụng đất bền vững đối với đất đồi núi Việt Nam, các nhà khoa học đất đã đề nghị sử dụng các tiêu chí và chỉ tiêu chủ yếu trong bảng 1.5
Bảng 1.5 Tiêu chuẩn đánh giá bền vững đất đồi núi
I Hiệu quả kinh tế
1 Năng suất cao
2 Chất lượng tốt
3 GTSX trên đơn vị diện tích cao
4 Giảm rủi ro:
4.1 Ít mất trắng do thiên tai, sâu bệnh 4.2 Có thị trường ổn định >7năm
Dễ bảo quản và vận chuyển
II Hiệu quả xã hội
1 Đáp ứng nhu cầu nông hộ 1.1 Nông hộ có đủ lương thực do SX hoặc tạo ra
Trang 38Tiêu chí Nội dung tiêu chí
2.2 Phù hợp với lao động trong hộ hoặc thuê tại địa phương
2.3 Không phải vay lãi cao 2.4 Phát huy được tri thức bản địa, kỹ năng nông dân, nông hộ tự làm nếu được tập huấn
3.1 Tham gia mọi khâu kế hoạch 3.2 Nông dân tự quyết việc SDĐ và được hưởng lợi ích (không áp đặt)
4.1 Không làm phụ nữ phải nặng nhọc hơn 4.2 Không làm trẻ em mất cơ hội học hành 5.1 Phù hợp với Luật Đất đai và các luật khác 6.1 Phù hợp với văn hoá dân tộc
6.2 Phù hợp với tập quán địa phương (hương ước)
III Hiệu quả về môi trường
1 Giảm thiểu xói mòn, thoái hoá
đất đến mức chấp nhận được
2 Tăng độ che phủ đất
3 Bảo vệ nguồn nước
4 Nâng cao đa dạng sinh học của
hệ sinh thái tự nhiên
1.1 Xói mòn dưới mức cho phép 1.2 Độ phì nhiêu đất được duy trì hoặc cải thiện 1.3 Trả lại tàn dư hữu cơ ở mức có thể
2.1 Độ che phủ đạt > 35% quanh năm 3.1 Duy trì và tăng nguồn sinh thuỷ 3.2 Không gây ô nhiễm nguồn nước 4.1 Duy trì số loài động thực vật cao nhất 4.2 Khai thác tối đa các loài bản địa 4.3 Bảo tồn và làm phong phú quỹ gen
Nguồn: Nguyễn Tử Siêm, Thái Phiên, 1999
Các nghiên cứu khoa học đã khẳng định: lượng đất bị xói mòn phụ thuộc khá nhiều yếu tố như: lượng mưa, cường độ mưa, độ dốc, loại đất, độ che phủ, biện pháp canh tác, yếu tố kinh tế - xã hội,
Đất có rừng che phủ có lượng xói mòn ít nhất (khoảng 2 - 5 tấn/ha/năm), đất trồng chè theo rãnh đồng mức 3 - 4 tấn/ha/năm, đất trồng sắn
Trang 39và các loại cây ngắn ngày khác có lượng đất mất khoảng 40 - 100 tấn/ha/năm tuỳ theo độ dốc, loại đất và mức độ che phủ Trên đất trống không có thảm thực vật lượng đất trôi lớn nhất, với khoảng 80 - 100 tấn/ha/năm hoặc nhiều hơn Thực tế người ta đã áp dụng nhiều hình thức để bảo vệ đất chống xói mòn, rửa trôi như sau:
- Biện pháp sinh học luôn tạo lớp phủ cây trồng, đặc biệt là trong mùa mưa, có ý nghĩa quyết định trong việc bảo vệ đất, chống xói mòn, rửa trôi Tổ hợp cơ cấu cây trồng theo nông lâm kết hợp có thể tạo lớp phủ tốt cho đất trong mùa mưa, giảm lượng xói mòn đáng kể
- Tạo hàng rào cây xanh theo đường đồng mức có thể làm giảm tốc độ dòng chảy và lượng đất trôi tới 50 - 60% so với đối chứng Năng suất cây trồng tăng 15 - 25% mặc dù hàng rào cây xanh chiếm khoảng 10% diện tích
- Biện pháp sinh học nếu kết hợp được với biện pháp công trình đơn giản như tạo mương bờ theo đường đồng mức, rãnh, luống, hố chứa nước, thì hiệu quả chống xói mòn càng cao hơn
- Biện pháp bón phân hoá học kết hợp hữu cơ và trả lại phụ phẩm cây trồng cho đất để cải thiện và duy trì độ phì nhiêu đất cho cây trồng sinh trưởng nhanh, sớm tạo lớp phủ tốt sẽ làm hạn chế xói mòn
Biện pháp chống thoái hoá hoá học và hiện tượng chua hoá: Diện tích đất chua vùng đồi núi nước ta chiếm tới 70% diện tích với pHKCl tầng mặt dao động trong khoảng 4,0 - 5,5 Nguyên nhân do diện tích đất được bao phủ bởi thảm thực vật rừng thứ sinh, đất được trồng các loại cây ngắn ngày vốn có năng lực giữ đất rất kém Xu hướng của các loại đất này là chua hoá tăng lên rất nhanh, tạo thành quỹ đất bị trơ xỏi đá, làm cho những loại cây trồng không chịu được chua, chịu hạn nhất cũng khó mọc được
Biện pháp hữu hiệu là bón vôi, góp phần làm giảm độ chua cục bộ, giảm độ độc của sắt, nhôm di động, cải thiện tình trạng dinh dưỡng Ca và Mg,
Trang 40tăng khả năng hấp thu trao đổi của đất Tuy nhiên thực tế thì biện pháp này khá tốn kém, và không có khả năng trung hoà được độ chua của đất Người ta thường chọn các giống cây trồng thích ứng với phạm vi độ chua rất rộng hoặc chịu chua (như: cà phê, chè, vải, nhãn, mơ, mận, chanh, )
1.3.2.3 Sử dụng đất vùng gò đồi và vấn đề bảo vệ môi trường
Việc sử dụng đất của các vùng gò đồi nói chung thường gắn với hai xu hướng: sử dụng đất hiệu quả, bảo vệ được đất và xu hướng thứ hai là quá trình thoái hoá đất, bao gồm xói mòn, rửa trôi hoặc sa mạc hoá, do việc sử dụng đất quá mức, phá rừng hoặc canh tác không đúng cách
Xói mòn đất luôn là yếu tố quan trọng làm thoái hoá đất đối với cây trồng cạn trên vùng đồi núi, ảnh hưởng đến năng suất cây trồng Các kết quả nghiên cứu về xói mòn đất ở Việt Nam rất phong phú và đa dạng, trong đó điển hình là các nghiên cứu của các tác giả: Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm (1998), (2002), Nguyễn Tử Siêm, Thái Phiên (1999), Bùi Quang Toản (1990), (1991), Trần Đức Viên và Phạm Chí Thành (1996), … trên vùng đất dốc Đông Bắc và Tây Bắc Có thể phân tích các kết quả nghiên cứu của các tác giả theo ba đối tượng chủ yếu là: Canh tác nương rãy ở vùng núi có độ dốc cao; Hệ canh tác nông nghiệp luân canh cây trồng cạn trên đất dốc; Đất lâm nghiệp với các thảm thực bì khác nhau
Xói mòn trên đất canh tác nương rãy của đồng bào dân tộc thiểu số, nghiên cứu của Bùi Quang Toản cho thấy rằng mỗi năm tầng đất bị bào mòn từ 1,5-3cm, mỗi ha có thể bị trôi mất 130 - 200 tấn đất (Bùi Quang Toản, 1990)
Xói mòn trên đất một hệ thống luân canh điển hình: Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Tử Siêm, Thái Phiên (1999) cho thấy ở những nơi cây trồng theo phương thức bình thường, không áp dụng các biện pháp chống xói mòn, lượng nước chảy trung bình năm là 2.100 - 2.300m3/ha, lượng đất trôi trung bình năm là 23tấn/ha Ở những nơi đất trống, lượng xói mòn có thể lên tới