luận văn thạc sĩ, tiến sĩ, cao học, luận văn
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học nông nghiệp hà nội
- -
văn trọng thuỷ
Vai trò của giới trong các x" có áp dụng
hệ thống Thâm canh lúa cải tiến (SRI)
tại huyện Mỹ Đức – TP Hà Nội
Trang 2Lời cam đoan
- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và ch−a đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn
đ1 đ−ợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Văn Trọng Thuỷ
Trang 3Lời cảm ơn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Phạm Thị Mỹ Dung, người
đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn chỉnh luận văn của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Bộ môn Kinh tế tài nguyên và môi trường các thầy cô trong Khoa Kinh tế, khoa Kế toán Quản trị kinh doanh, Viện sau đại học, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn này
Để hoàn thành luận văn, tôi còn nhận được sự động viên, khích lệ của bạn
bè và những người thân trong gia đình Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả những tình cảm cao quý đó
Hà Nội,ngày thỏng năm 2009
Tác giả
Văn Trọng Thuỷ
Trang 4Mục lục
Lời cam đoan Error! Bookmark not defined Lời cảm ơn Error! Bookmark not defined Mục lục Error! Bookmark not defined Danh mục các chữ viết tắt Error! Bookmark not defined Danh mục bảng Error! Bookmark not defined Danh mục biểu đồ Error! Bookmark not defined Danh mục hình ảnh Error! Bookmark not defined
1 Đặt vấn đề 1
1.1 ý nghĩa và tầm quan trọng của việc nghiên cứu đề tài 1 1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2 1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối t−ợng và phạm vi nghiên cứu 3 1.3.1 Đối t−ợng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.3.2.1 Về nội dung 3
1.3.2.2 Về không gian 3
2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4
2.1 Một số khái niệm cơ bản về giới 4 2.1.1 Khái niệm về giới 4
2.1.2 Định kiến giới 5
2.1.3 Giá trị giới 6
2.1.4 Vai trò giới 6
2.2 Phân tích giới 7 2.2.1 Khái niệm phân tích giới 7
2.2.2 Các tiếp cận phân tích giới……….8
2.2.3 Các nhu cầu về giới 10
2.3 Lịch sử phát triển giới trên thế giới 11
2.4 Lịch sử phát triển luật bình đẳng giới ở Việt Nam 12
2.5 Nguyên nhân và những đóng góp của giới trong phát triển triển 13
Trang 52.5.1 Nguyên nhân 13
2.5.2 Đóng góp của giới với những tác động đến phụ nữ 14
2.5.3 Môi trường thể chế bình đẳng giới trong sản xuất lúa ở Việt Nam 16
2.6 Một số nét về hệ thống thâm canh lúa cải tiến (SRI) 17 2.6.1 Sự ra đời và nguyên tắc của SRI 17
2.6.2 Thực tiễn Hệ thống thâm canh lúa cải tiến (SRI) 20
3 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu 26
3.1 Điều kiện tự nhiên kinh tế – x1 hội 26 3.1.1 Điều kiện tự nhiên 26
3.1.2 Điều kiện kinh tế - x1 hội 28
3.1.3 Lich sử áp dụng hệ thống canh tác lúa cải tiến SRI huyện Mỹ Đức 40
3.2.1 Tiếp cận nghiên cứu 41
3.2.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 42
3.2.3 Phương pháp thu thập thông tin và sử lý số liệu 44
3.2.4 Phương pháp phân tích và đánh giá 45
3.2.5 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 45
4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 47
4.1 Những thông tin cơ bản về các x1 và hộ điều tra 47 4.1.1 Thông tin cơ bản tại các x1 nghiên cứu 47
4.1.2 Đặc điểm nhân khẩu hộ nghiên cứu 49
4.1.3 Cơ cấu nguồn thu nhập trong hộ điều tra 51
4.2 Phân tích vai trò giới trong công tác x1 hội 53 4.2.1 Giới tham gia cơ quan đoàn thể x1 hội 53
4.2.2 Giới tham gia các hoạt động x1 hội 57
4.3 Giới trong công tác khuyến nông và tiếp cận các mô hình dự án 59 4.3.1 Một số nét về khuyến nông có tiếp cận về giới 59
4.3.2 Giới và hiểu biết về Khuyến nông 60
4.3.3 Giới và hiểu biết về mô hình SRI 63
4.3.4 Giới và hiểu biết mô hình ghi sổ kế toán hộ thuộc dự án SRI 65
4.4 Vai trò và năng lực hoạt động của giới trong tiếp cận SRI 67 4.4.1 Giới trong tập huấn dự án thâm canh lúa cải tiến SRI 67
4.4.2 Vai trò giới tham gia mô hình ghi sổ kế toán hộ thuộc SRI 69
4.4.3 Vai trò giới tham gia tập huấn TOT (Đào tạo giảng viên kế toán hộ) 73
4.5 Phân tích giới trong nhóm hộ có SRI và hộ không có SRI 77 4.5.1 Quyết định người tham gia SRI 77
Trang 64.5.2 Đóng góp thu nhập của giới trong hộ có SRI 78
4.5.3 Giới với quyết định công việc trong hộ có SRI và không SRI 79
4.5.4.Phân bố quỹ thời gian của giới trong hộ có SRI và hộ không SRI85 4.5.5 Các hình thức phân công lao động theo giới trong hộ có SRI 87
4.5.6 Phân tích giới đóng góp lao động trong hộ có SRI 90
4.6 Năng lực giới trong hộ có SRI và hộ không có SRI 97 4.6.1 Thay đổ nhận thức của giới trong hộ có SRI và hộ không có SRI 97 4.6.2 Tác động và nguyên nhân sự khác biệt của SRI tới giới 100
4.7 Đề xuất giải pháp tăng cường sự tham gia của giới vào mô hình dự án 105 4.7.1 Thay đổi quan điểm và nhận thức của cán bộ các cấp 105
4.7.2 Tăng cường các vị trí ra quết định 106
4.7.3 Nâng cao trình độ cho hộ nông dân 108
4.7.4 Nâng cao kinh tế hộ 108
4.7.5 Hoàn thiện công tác khuyến nông 110
5 kết luận và kiến nghị 112
5.1 Kết luận 112 5.2 Kiến nghị 113 Tài liệu tham khảo 115
Lời cam đoan Error! Bookmark not defined
Lời cảm ơn Error! Bookmark not defined
Danh mục bảng iError! Bookmark not defined
DANH MụC SƠ Đồ Error! Bookmark not defined
Trang 7Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t
Trang 8WID Phô n÷ trong ph¸t triÓn
Trang 9
Danh mục bảng
Bảng 3.1 Hiện trạng sử dụng đất huyện Mỹ Đức năm 2006 – 2008 29
Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động của huyện năm 2006 - 2008 30
Bảng 3.3 Diện tích, năng xuất, sản lượng một số cây trồng chính 34
Bảng 3.4 Tổng giá trị - cơ cấu kinh tế huyện Mỹ Đức 33
Bảng 3.5 Cơ sở hạ tầng huyện Mỹ Đức năm 2008 36
Bảng 3.6 Cơ cấu nhóm hộ điều tra 44
Bảng 4.7 Tình hình đất đai và nhân khẩu năm 2008 của 3 x1 nghiên cứu 48
Bảng 4.8 Quy mô hộ và lực lượng lao động 50
Bảng 4.9 Giới trong công tác x1 hội địa phương 54
Bảng 4.10 Giới tham gia công tác cơ quan đoàn thể 56
Bảng 4.11 Tham gia của giới trong hoạt động x1 hội 58
Bảng 4.12 Công tác tập huấn cho nông dân của Trạm khuyến nông 60
Bảng 4.13 Giới hiểu về khuyến nông 61
Bảng 4.14 Giới hiểu về mô hình SRI
66
Bảng 4.15 Giới hiểu về mô hình ghi sổ kế toán hộ nông dân 66
Bảng 4.16 Giới và các hoạt động trong tập huấn SRI 68
Bảng 4.17 Giới các x1 tham gia ghi sổ kế toán hộ 73
Bảng 4.18 Giới trong tập huấn TOT 74
Bảng 4.19 Lớp (TOT) thảo luận nhóm theo các chủ dề trong hộ 78
Bảng 4.20 Quyết định công việc sản xuất trong 2 nhóm hộ 81
Bảng 4.21 Vai trò giới quyết định công việc trong hộ 83
Bảng 4.22 Quỹ thời gian cho một ngày điển hình của nam và nữ 86
Bảng 4.23 Phân công lao động theo giới trong công việc nhà 88
Bảng 4.24 Một ngày lao động của giới trong Trồng trọt 91
Trang 10Bảng 4.25 Một ngày lao động của giới trong Chăn nuôi 93
Bảng 4.26 Một ngày lao động của giới trong Ngành nghề – DV 96
Bảng 4.27 Thay đổi của giới sau khi tiếp cận SRI 97
Bảng 4.28 Năng lực của giới trong hộ không áp dụng SRI 99 Bảng 4.29 Vai trò của giới sau khi đ−ợc tiếp cân các mô hình 101
Trang 11Danh mục biểu đồ
Biểu đồ 4.1 Thu nhập của các hộ năm 2008 51
Biểu đồ 4.2 Cơ cấu nguồn thu trong hộ năm 2008 52
Biểu đồ 4.3 Ai là người quyết định tham gia vào SRI 78
Biểu đồ 4.4 Cơ cấu thu nhập của giới trong các nhóm hộ 78
Biểu đồ 4.5 Gia đình nam làm chủ hộ 89
Biểu đồ 4.6 Gia đình nữ làm chủ hộ 89
Danh mục hình ảnh STT Tên hình Trang Hình ảnh 2.1 Sự phát triển của Hệ thống thâm canh lúa cảI tiến ( SRI ) 19
Hình ảnh 2.2 Tập huấn SRI và thăm mô hình SRI có lồng ghép vấn đề giới 24 Hình ảnh 4.3 Tham gia của giới trong SRI 69
Hình ảnh 4.4 Sự tham gia của giới trong mô hình ghi sổ kế toán hộ 72
Hình ảnh 4.5 Khoá đào tạo TOT ( Đào tạo giảng viên là nông dân) 75
Hình ảnh 4.6 Các giảng viên là nông dân đang thảo luận nhóm theo chủ đề77 Hình ảnh 4.7 Đoàn Bangdader tham quan mô hình SRI tai x1 Đại Nghĩa 92
DANH MụC SƠ Đồ STT Tên sơ đồ Trang Sơ đồ 2.1 Các vùng Việt Nam áp dụng (SRI) 23
Sơ đồ 4.2 Vùng nghiên cứu giới 55
Trang 121 Đặt vấn đề
1.1 ý nghĩa và tầm quan trọng của việc nghiên cứu đề tài
Việt Nam là một nước nông nghiệp với 76% dân cư sống ở nông thôn Trong đó lực lượng lao động nữ chiếm khoảng 70% lao động nông thôn, họ đ1
có nhiều đóng góp to lớn cho phát triển nông nghiệp và nông thôn Cũng như trên thế giới; ở Việt Nam chưa có sự cân bằng giới một cách thực sự trong mọi lĩnh vực Bởi vậy tăng cường cân bằng giới là một trong những mục tiêu phát triển chung và riêng trong quá trình sản xuất nông nghiệp
Đưa giới vào các hoạt động phát triển kinh tế nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng là một chiến lược đúng đắn Nhưng trên thực tế khi đưa kỹ thuật mới vào áp dụng chúng ta thường định hướng cho hộ, cho cộng đồng mà chưa định hướng phân biệt giới Điều đó đ1 phần nào cản trở việc chuyển giao
và khai thác lợi ích của một tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp
Hiện nay khá nhiều nghiên cứu về giới nói chung và vai trò của phụ nữ nói riêng trong các lĩnh vực như quản lý nhà nước, giáo dục, hoạt động kinh tế… Nhưng với nghiên cứu cụ thể về vai trò giới áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới trong sản xuất nông nghiệp là chưa nhiều Tuy nhiên đ1 cung cấp được kinh nghiệm về phân tích vai trò của giới trong x1 hội một cách cơ bản
Đặc điểm riêng của mỗi tiến bộ kỹ thuật mới là khác nhau nên khi áp dụng vào thực tế cũng có sự phân biệt về giới khác nhau Nghiên cứu này tiến hành tại huyện Mỹ Đức, Hà Nội Với những đặc điểm riêng nhằm có những
đóng góp cho cân bằng giới trong áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới của huyện Mỹ
Đức nói riêng và phần nào đóng góp cho tổng kết đánh giá định hướng giới và các hoạt động trong quá trình đưa kỹ thuật mới vào áp dụng đạt hiệu quả cao nhất cả về mặt kinh tế và x1 hội
Mỹ Đức là huyện có thế mạnh phát triển về nông nghiệp Trong giai
Trang 13đoạn hiện nay mục tiêu phát triển kinh tế nông nghiệp là bước đi quan trọng nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện Trong những năm gần đây đ1 có nhiều chương trình dự án quốc gia tập trung nâng cao năng suất cho cây lúa
được cán bộ và nhân dân Mỹ Đức áp dụng như chương trình Quản lý dịch bệnh tổng hợp (IPM), Hệ thống thâm canh lúa cải tiến (SRI).v.v Các hoạt
động chuyển giao kỹ thuật SRI có sự nghiên cứu phân biệt về giới là cần thiết cho thành công của một tiến bộ mới
Hiện nay chưa có một nghiên cứu nào về vai trò của giới trong các x1
áp dụng Hệ thống thâm canh lúa cải tiến (SRI) ở huyện Mỹ Đức cũng như Thành phố Hà Nội
Vậy từ những vấn đề trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài :
“Vai trò của giới trong các x có áp dụng Hệ thống thâm canh lúa cải tiến (SRI) tại huyện Mỹ Đức – TP Hà Nội “
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu vai trò, năng lực và các hoạt động của giới trong các x1, trong hộ có áp dụng Hệ thống thâm canh lúa cải tiến (SRI) Nhằm nâng cao năng suất cây trồng, phát huy được thế mạnh và nguồn lực để phát triển kinh
tế hộ gia đình, tăng thu nhập cải thiện đời sống, đồng thời nâng cao vai trò giới trong gia đình và x1 hội
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận thực tiễn về giới và SRI
- Đánh giá và so sánh vai trò hoạt động x1 hội cùng năng lực quyết định của giới trong x1 có áp dụng SRI và các hộ có áp dụng SRI với hộ không áp dụng SRI
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò và các hoạt
động của giới tại các x1 có áp dụng Hệ thống thâm canh lúa cải tiến
Trang 141.3 Đối t−ợng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối t−ợng nghiên cứu
- Nghiên cứu vai trò của nam giới, nữ giới trong các hoạt động của Hệ thống thâm canh lúa cải tiến (SRI)
- Đề tài nghiên cứu nhóm hộ có điều kiện kinh tế khác nhau (Hộ khá,
hộ trung bình, hộ nghèo) nhóm hộ tham gia mô hình dự án và nhóm hộ ngoài mô hình dự án
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1 Về nội dung
Đề tài tập trung nghiên cứu vai trò năng lực của giới tham gia các hoạt
động trong gia đình, các hoạt động x1 hội tại hộ có áp dụng SRI và hộ không
áp dụng SRI
1.3.2.2 Về không gian
Đề tài tập trung nghiên cứu chủ yếu một số x1 có áp dụng Hệ thống thâm canh lúa cải tiến (SRI) của huyện Mỹ Đức, gồm (3 x1) đó là x1 Đại Nghĩa, x1 Hợp Tiến, x1 An Tiến Hộ đ−ợc đại diện nghiên cứu đều là các hộ
có áp dụng SRI và hộ không áp dụng SRI
Trang 152 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
2.1 Một số khái niệm cơ bản về giới
2.1.1 Khái niệm về giới
“Giới” khác biệt giữa nam và nữ từ giác độ x1 hội, liên quan tới quan niệm, hành vi, quan hệ và địa vị x1 hội trong bối cảnh x1 hội cụ thể Giới được
đề cập theo tiêu chuẩn nhóm tập thể mà không theo thực tế cá nhân riêng biệt
- “Giới tính” Là sự khác biệt giữa nam và nữ từ giác độ sinh lý học, liên quan chủ yếu đến tái sản xuất nòi giống Giới tính dẫn đến đặc điểm của nam giới và phụ nữ khác nhau
Sự khác biệt giữa nam và nữ [5]
- Nguồn gốc x1 hội của những khác bịêt về giới và giới tính Nam giới
và nữ giới là hai nửa hoàn chỉnh của loài người bảo đảm cho việc tái tạo sản xuất con người và x1 hội Sự khác biệt về giới quy định thiên chức của họ trong gia đình và x1 hội Khi sinh ra đứa trẻ được đối sử tuỳ theo nó là trai hay gái Đó là sự khác nhau về đồ chơi, quần áo, tình cảm của bố mẹ, đứa trẻ được dạy dỗ và điều chỉnh hành vi của chúng theo giới tính Khi lớn lên, bắt đầu đi học, những tri thức x1 hội cũng hướng chúng theo sự khác biệt về giới Tất cả các tác động của x1 hội vô tình hay hữu ý đều làm tăng sự khác biệt về giới trong x1 hội Tuy nhiên người ta lại lấy sự khác biệt về giới tính để giải thích
sự khác biệt về giới [1]
Trang 16Các đặc trưng cơ bản và sự khác biệt của giới và giới tính [7]
Ví dụ: trên toàn thế giới chỉ có phụ
nữ mới có thể sinh con
Đa dạng ở mỗi vùng, mỗi địa phương có
Luôn biến đổi
Ví dụ: Trong một x1 hội, phụ nữ có thể ít hơn nam giới hoăc nam giới có thể ít hơn phụ nữ Trong đơn vị công tác có thể thay thế làm những việc của nam giới
sự lựa chọn nào khác, tuy nhiên phụ nữ thường bị chịu tác động tiêu cực bởi những định kiến nhiều hơn [7]
Trang 17Ngay từ khi sinh ra em bé gái (nữ) đ1 có những suy nghĩ rằng họ không thể làm được nhiều điều này hay điều khác như nam giới vì họ nghĩ răng họ không có khả năng và sức lực để gánh vác một công việc như nam giới Từ những suy nghĩ cá nhân và những định kiến của x1 hội đ1 tước đoạt sự tự tin
và hạn chế sự lựa chọn của phụ nữ trong x1 hội, tuy nhiên định kiến giới có thể thay đổi nhưng thay đổi rất chậm
2.1.3 Giá trị giới
Giá trị giới là các ý tưởng mà mọi người nghĩ nam và nữ nên như thế này và những hoạt động nào họ nên làm Như phụ nữ nên dịu dàng, tỉ mỉ trong công việc, nam giới nên mạnh mẽ là người để nữ giới làm chỗ dựa tinh thần, kinh tế và các mối quan hệ x1 hội phức tạp Các giá trị giới có thể thay đổi nhưng thay đổi rất chậm
điểm Hộ gia đình được xem như một hệ thống phân chia nguồn lực
Trong một ngày cũng như cả cuộc đời, phụ nữ và nam giới thường làm các công việc khác nhau, thể hiện vai trò của mình trong cuộc sống như; Đi làm nhà máy, xí nghiệp, công sở, cửa hàng, nấu ăn, đi chợ , các công việc này có thể nhóm lại trong 3 loại sau [6]
a Vai trò sản xuất: Bao gồm những công việc do cả phụ nữ và nam giới
Trang 18cùng làm nhằm tạo ra thu nhập bằng tiền hoặc bằng hiện vật Chúng có thể
được tiêu dùng trong gia đình hoặc trao đổi, mua bán trên thị trường, chúng có thể là các sản phẩm vật chất hoặc các dịch vụ
b Vai trò tái sản xuất: Bao gồm các hoạt động tạo ra nòi giống, duy trì
và tái tạo sức lao động Vai trò đó không chỉ là bao hàm là sự tái sản xuất sinh học mà còn cả việc chăm lo, duy trì và phát triển lực lượng lao động cho hiện tại và tương lai như việc nuôi dạy con, nuội dưỡng và chăm sóc các thành viên khác trong gia đình, làm công việc nội chợ …Vai trò này hầu như của người phụ nữ đảm nhiệm
c Vai trò cộng đồng: Đây là những hoạt động do nam và nữ thực hiện ở cấp cộng đồng nhằm duy trì, bảo dưỡng các nguồn lực khan hiếm của cộng
đồng Vai trò của cộng đồng được thể hiện trên hai khía cạnh
Thứ nhất: Vai trò tham gia cộng đồng chủ yếu do phụ nữ thực hiện ở cấp độ cộng đồng như là sự mở rộng vai trò tái sản xuất của mình Các hoạt
động này nhằm duy trì bảo vệ nguồn lực khan hiếm được sử dụng chung trong cộng đồng như nước sinh hoạt, chăm sóc sức khoẻ và giáo dục gìn giữ môi trường … Đây là những công việc tự nguyện không được trả công và thường
được làm vào thời gian dỗi
Thứ hai: Vai trò l1nh đạo cộng đồng, bao gồm các hoạt động ở cấp cộng đồng nhưng mang tính thể chế, chính trị của quốc gia Những công việc này thường do nam giới thực hiện và thường được trả công trực tiếp bằng tiền hoặc gián tiếp bằng tăng thêm vị thế quyền lực trong x1 hội [6]
2.2 Phân tích giới
2.2.1 Khái niệm phân tích giới
Phân tích giới là quá trình phân tích một tình huống cụ thể trên quan
điểm giới để có được sự hiểu biết tốt hơn về vấn đề giới, khoảng cách giữa các tác động nam giới và phụ nữ Nói cách khác, phân tích giới là sự mô tả trường hợp về địa vị kinh tế-x1 hội của nữ và nam giới bằng cách xem những hoạt
động mà phụ nữ và nam giới làm có thể tiếp cận với những khác biệt khác[7]
Trang 192.2.2 Các tiếp cận phân tích giới
2.2.2.1 Tiếp cận và kiểm soát
Mọi hoạt động công việc đều đòi hỏi phải sử dụng các nguồn lực và mang lại lợi ích cho người thực hiện hoặc cho người khác Để xác định được các cấp độ tiếp cận và kiểm soát giữa phụ nữ và nam giới đối với các nguồn lực và lợi ích
+ Nguồn lực: Là những điều kiện cần thiết để tiến hành các hoạt động như vốn và các nguồn lực khác đối với con người
+ Lợi ích: Là những điều mà phụ nữ và nam giới nhận được từ kết quả công việc của họ
+ Tiếp cận: Là nói đến khả năng tiếp xúc, sử dụng các nguồn lực và lợi ích các yếu tố khách quan
+ Kiểm soát: Là nói đến quyền được quản lý và quyết định những nguồn lực lợi ích
Tiếp cận và kiểm soát là hai cấp độ khác nhau trong mối quan hệ giữa con người với các nguồn lực lợi ích
Trong thực tế hiện nay, phụ nữ có khả năng tiếp cận rất nhiều nguồn lực
và lợi ích Từ việc tiếp cận đến kiểm soát là một khoảng cách, muốn cho phụ nữ kiểm soát được nguồn lực và lợi ích thì phải nâng cao năng lực cho phụ nữ
Đây chính là khoảng cách giới trong lĩnh vực tiếp cận và kiểm soát Đó cũng
là điều kiện giúp cho các nhà lập kế hoạch tìm giải pháp để cân bằng giữa tiếp cận và kiểm soát của phụ nữ
2.2.2.2 Giới và quyết định
Cũng gần giống như mô hình tiếp cận kiểm soát, những việc cần phải tách biệt chúng khi xem xét là rất quan trọng trong tất cả các loại công việc lao động gia đình, lao động sản xuất, hoạt động chính trị Đều cần phải ra quyết định có những quyết định mang tính quan trọng nhiều và cũng có những quyết định ít quan trọng có những quyết định dễ nhưng nhìn chung công việc
ra quyết định là rất khó khăn Phụ nữ và nam giới sẽ có những quyết định khác
Trang 20nhau và điều đó sẽ tác động đến cuộc sống của những người chịu tác động đó
Thực tế hiện nay phụ nữ thường chỉ có những quyết định ở những công việc nhỏ và quyết định ở cấp thấp hơn còn hầu hết những quyết định quan trọng đều là do nam giới quyết định
2.2.2.3 Phân công lao động theo giới truyền thống
Trong hầu hết các x1 hội, phụ nữ và nam giới đều tham gia vào công việc sản xuất và việc gia đình Bản chất và quy mô sự tham gia của họ trong mỗi hoạt động phản ánh sự phân công lao động luôn theo xuất phát từ truyền thống, những hoạt động mà phụ nữ và nam giới tham gia có thể phân chia các hoạt động sau [19]
đàn bà hái lượm, cách phân công này tiếp tục duy trì trong những thời kỳ lịch
sử muộn hơn, vào cuối x1 hội nguyên thuỷ và ngay cả trong x1 hội có giai cấp tiền tư bản chủ nghĩa Tuy phạm vi thu hẹp lại rất nhiều nhưng cơ bản vẫn thể hiện rõ vai trò của người đàn ông trong gia đình như việc săn bắn, chặt cây, cày cuốc , đều do đàn ông làm còn phụ nữ thì làm những việc nhặt cỏ, gieo hạt chăm lo công việc gia đình…
Ngày nay người làm việc trong ngành nông nghiệp gọi là lao động nông nghiệp và được phân loại như sau [18]
1) Theo độ tuổi và mức độ tham gia có lao động chính và lao đông phụ, trên độ tuổi (người lớn), dưới độ tuổi (trẻ em)
2) Theo ngành nghề, có lao động trồng trọt, chăn nuôi, nghề phụ, thợ cày, thợ cấy, thợ gặt, công nhân cơ khí nông nghiệp
Trang 213) Theo thành phần kinh tế, lao động cá thể, lao động tập thể, công nhân nông nghiệp quốc doanh [18]
2.2.2.4 Các yếu tố tác động đến phân công lao động theo giới
Các yếu tố tác động đến việc phân công lao động theo giới cụ thể đó là do quan niệm sai trái mang tính truyền thống của người Việt Nam Cho rằng người con trai phải làm công to việc lớn còn việc vặt v1nh là dành cho phụ nữ [8]
Do ý thức x1 hội cũ còn lạc hậu trong việc nhận thức tính chất các công việc mà người phụ nữ nông thôn gặp phải và cũng do chính người phụ nữ không tự ý thức hết được những gì mình có thể làm dẫn tới việc phân công lao
động nông nghiệp theo giới không được cân bằng
Phụ nữ tham gia trong lực lượng lao động với tỷ lệ cao Với thực tế là người phụ nữ có mức thu nhập thấp hơn trong mỗi ngày lao động họ không
được làm những công việc có mức thù lao cao hơn Sự phân chia lao động theo giới khiến cho phụ nữ không thể có được những công việc mang lại thu nhập cao cũng như để xoá bỏ khoảng cách về thu nhập giữa nam và nữ
Một nhu cầu quan trọng của phụ nữ Việt Nam là được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em có chất lượng, vì họ phải vật lộn với hai gánh năng cùng một lúc là công việc gia đình và công việc tạo thu nhập Nam giới được kiểm soát nhiều hơn đối với tài sản có giá trị như đất
đai, vốn hay cả tri thức, giáo dục và có nhiều sự lựa chọn trong cuộc sống Người phụ nữ nông thôn không chỉ giới hạn trong x1 hội mà ngay cả trong gia
đình, nhiều gia đình người chồng đi học kiến thức sản xuất nhưng người làm thì là phụ nữ, công việc chăn nuôi hay trồng trọt đều qua tay nữ giới
Bạo lực phụ nữ - về cả thể xác và tinh thần vẫn diễn ra ngoài x1 hội Việt Nam, nhất là ở nông thôn, mọi gánh nặng âu lo đặt nặng lên vai phái nữ khi
mà họ quá ít sức lực (Theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng) [19]
2.2.3 Các nhu cầu về giới
Khái niệm Nhu cầu: Là những mong muốn cần có để cải thiện đáp ứng
được nhu cầu cần có của cá nhân, tập thể hay toàn x1 hội
Trang 22Khái niệm nhu cầu giới: Đó là những mong muốn mà mỗi giới cần có phụ nữ và nam giới Có các nhu cầu khác nhau căn cứ vào những vai trò khác nhau của họ như đ1 được xác định trong sự phân công lao động truyền thống, mô hình tiếp cận và kiểm soát [7]
Có hai loại nhu cầu:
Thứ nhất : Nhu cầu thực tế là những nhu cầu đáp ứng những công việc trước mắt ngắn hạn trên cơ sở sự phân công lao động theo giới hiện tại Vì vậy nếu chỉ đáp ứng được nhu cầu thực tế thì không làm thay đổi những bất bình
đẳng và mối quan hệ về giới
Thứ hai : Nhu cầu chiến lược là những nhu cầu đáp ứng những mục tiêu lâu dài của giới nhằm cải thiện vị trí kinh tế, x1 hội của phụ nữ Nhu cầu chiến lược thể hiện sự thách thức đối với phân công lao động theo giới Nếu
đáp ứng được nhu cầu chiến lược của giới mới có thể thay đổi được vị trí, vai trò của phụ nữ trong gia đình và x1 hội
Các thông tin bổ sung về nhu cầu giới
Các nhu cầu khác
Chia sẻ bình đẳng và trách nhiệm
với gia đình
Tập huấn về gới cho nam giới và phụ nữ
Các nhu cầu khác
2.3 Lịch sử phát triển giới trên thế giới
Thuật ngữ “Phụ nữ trong phát triển” (WID) được đưa vào những năm
70 nhằm kết hợp hàng loạt các hoạt động của phụ nữ trong phát triển với sự tài
Trang 23trợ kinh tế của tổ chức Chính phủ và phi Chính phủ (NGOs) [7] Phong trào
“Phụ nữ trong phát triển” (WID) [18] quan tâm đến khía cạnh như Cơ hội việc làm, bình đẳng tham gia vào các hoạt động chính trị, x1 hội “Phụ nữ trong phát triển” đặc biệt quan tâm đến vai trò sản xuất của phụ nữ điều này là hoàn toàn ngược lại với trước đây Các cơ quan phát triển, các tổ chức phi Chính phủ nhìn nhận phụ nữ hầu như chỉ đóng vai trò người vợ, người mẹ Do
đó các chính sách đối với phụ nữ chỉ giới hạn những mối quan tâm về phúc lợi x1 hội như: Giáo dục, dinh dưỡng, công việc nội trợ, có thể nói đó là quan
điểm phúc lợi Một công trình nghiên cứu có ảnh hưởng lớn nhất đến WID của một chuyên gia kinh tế người Đan Mạch tên là Estet Bosrup với nhan đề “Vai trò phụ nữ trong phát triển kinh tế” (1970) Ông đ1 nêu bật vai trò của phụ nữ trong nền kinh tế nông nghiệp niềm Nam Sahara, Châu Phi; Nói phát triển
“Hệ thống canh tác phụ nữ” Boserup thừa nhận mối tương quan tích cực giữa vai trò của phụ nữ trong sản xuất nông nghiệp và địa vị của họ đối với nam giới Những người ủng hộ WID còn cho rằng việc không chịu thừa nhận và sử dụng vai trò sản xuất của phụ nữ trong gia đình là những sai lầm dẫn đến việc
sử dụng kém hiệu quả nguồn lực WID đ1 coi việc phụ nữ không nắm giữ nguồn lực như là chìa khoá mở đường cho họ vào sự lệ thuộc nhưng lại không
đưa ra vấn đề về vai trò của các mối quan hệ giới trong việc hạn chế phụ nữ sử dụng tài nguyên, phá vỡ chính sách để họ có cơ hội sử dụng tài nguyên theo luật định Do đó, nguyên nhân sâu xa của vấn đề vẫn đang còn tồn tại Những năm gần đây “Nhân chủng học” về nam, nữ bình quyền đ1 chú trọng ngày càng nhiều hơn việc trình bày giới tính liên quan về mặt văn hoá, cấu trúc x1 hội, thuật ngữ “Giới và phát triển” ra đời Các phương pháp tiếp cận “Giới và phát triển” (GAD)[18] ngày càng được hình thành một cách đa dạng trong những năm gần đây
2.4 Lịch sử phát triển luật bình đẳng giới ở Việt Nam
- Luật Hồng Đức (Thế kỷ 13) “Phụ nữ được quyền bình đẳng trong thừa
Trang 24kế tài sản, có quyền được ly hôn và được bảo vệ không được đánh đập xâm hại”
- Năm 1930 Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam dân chủ cộng hoà 1946,
Điều 9 “Sức mạnh của cả nước nằm trong tay người Việt Nam, không phân biệt chủng tộc, nam hay nữ, giàu hay nghèo, giai cấp, tôn giáo …Và phụ nữ
có quyền bình đẳng với nam giới trong mọi lĩnh vực”[7]
- Hiến pháp nước Cộng hoà x1 hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 Điều
63 “ … Phụ nữ được hưởng quyền bình đẳng với nam giới trong mọi lĩnh vực về hoạt động kinh tế, chính trị, văn hoá, ở trong gia đình cũng như ở x1 hội …Nam giới và phụ nữ được hưởng thù lao như nhau đối với công việc như nhau”
- Căn cứ vào hiến pháp nước Cộng hoà x1 hội chủ nghĩa Việt Nam năm
1992 đ1 được sửa đổi bổ sung theo Nghị quyết 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10 “Bình đẳng giới là xoá bỏ phân biệt đối sử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế – x1 hội và phát triển nguồn nhân lực tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ
và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của
đời sống x1 hội và gia đình”[17]
2.5 Nguyên nhân và những đóng góp của giới trong phát triển triển 2.5.1 Nguyên nhân
Theo tổ chức Liên hợp quốc, UNDP có 3 lý do mấu chốt có tính chất cấp thiết phải quan tâm đến vấn đề giới trong phát triển x1 hội
+ Phụ nữ và nam giới có quyền bình đẳng trong việc hưởng lợi từ sự phát triển
+ Đưa quan điểm giới vào phát triển không chỉ vì sự bình đẳng về các vấn đề x1 hội mà còn vì hiệu quả kinh tế và phát triển bền vững
+ Phát triển con người : Là tái sản xuất sức lao động
Trong phát triển kinh tế Kinh nghiệm rút ra từ các dự án phát triển của UDNP cho thấy Đầu tư nâng cao khả năng của phụ nữ và đào tạo quyền cho
họ lựa chọn các cơ hội không chỉ đem lại lợi ích cho phụ nữ mà còn là cách
Trang 25Các nghiên cứu của Ngân hàng thế giới cũng khẳng định: “Những kết quả về mặt x1 hội từ việc đầu tư vào giáo dục, vào sức khoẻ cho phụ nữ là đặc biệt lớn hơn so với các đầu tư tương tự cho nam giới, chủ yếu do mối quan hệ chặt chẽ giữa giáo dục, sức khoẻ dinh dưỡng của phụ nữ với giáo dục, sức khoẻ và năng suất lao động trong tương lai” “Tăng trưởng kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào việc cải thiện giáo dục, sức khoẻ toàn dân” Đầu tư vào phát triển của phụ nữ mang lại lợi ích cao hơn bất kỳ sự đầu tư khác ở các nước đang phát triển
“UNDP cũng đưa ra những cảnh báo về việc không xem xét các vấn đề giới trong khi ra quyết định như sau”
Thứ nhất : Sẽ đưa ra những chương trình và dự án không phù hợp, không bình đẳng dẫn đến sự l1ng phí hoặc thất bại
Thứ hai : Gây ra ảnh hưởng tiêu cực với sức khoẻ của phụ nữ và trẻ em Thứ ba : Gây ra tiêu cực với môi trường tự nhiên
Thứ tư : Loại trừ phụ nữ ra khỏi lợi ích và các hoạt động phát triển kinh
tế, x1 hội
Thứ năm : Làm sâu sắc thêm sự phân biệt đối xử với phụ nữ và hành
động xâm phạm nhân quyền đối với phụ nữ
2.5.2 Đóng góp của giới với những tác động đến phụ nữ
Theo tổng kết của UNDP thì tình hình phụ nữ Việt Nam năm 2003[7]:
+ Phụ nữ chiếm 52% lực lượng lao động trên toàn quốc
+ Lực lượng lao động nữ chiếm 70% tại khu vực nông thôn
+ Phụ nữ trong các cơ quan dân cử
- Quốc hội 26,6%[9]:
- Hội đồng nhân dân tỉnh 20%
- Hội đồng nhân dân huyện 18%
- Hội đồng nhân dân x1 14%
Như vậy: Tuy rằng phụ nữ chiếm 52% lực lượng lao động, nhưng phụ nữ
và nam giới vẫn tập trung ở những ngành nghề khác biệt nhau, như ở khu vực
Trang 26nông thôn, có tới 80% công việc thuộc về lĩnh nông nghiệp do đó sự lựa chọn nghề nghiệp là rất hạn chế sự phân biệt giới trong nghề nghiệp là rõ ràng
ở khu vực đô thị nữ giới tập trung nhiều vào buôn bán, rệt may, công sở nhà nước và các dịch vụ khác Còn nam giới lại chiếm ưu thế trong các ngành nghề có kỹ năng, tay nghề cao như Cơ khí, Chế tạo…
Mức lương trung bình một giờ của nữ giới chỉ bằng 78% so với mức lương của nam giới Sự khác nhau về thu nhập vẫn còn tồn tại trong mọi ngành nghề thì nữ giới luôn có thu nhập thấp hơn nam giới
Sự bất bình đẳng về thu nhập trong lao động của giới có thể phản ánh sự kết hợp của các yếu tố trong đó có sự khác biệt về trình độ văn hoá, chuyên môn, kinh nghiệm công tác, vị trí địa lý cùng những nguyên nhân khác với sự phân biệt đối xử giới
Giáo dục-Đào tạo: Vẫn còn những thách thức lớn trong công tác giáo dục và phát triển nguồn nhân lực, ở khu vực miền núi, vùng nông thôn Sự chênh lệch về giới trong tỷ lệ học sinh đến trường cao hơn vùng khác Đặc biệt với các dân tộc thiểu số mặc dù đ1 có nhiều cố gắng trong việc đào tạo chuyên môn và trình độ kỹ thuật nhưng vẫn đạt được ở mức khiêm tốn Năm 2002, cứ
100 dân số nữ từ 15 tuổi trở lên thì có 25,5 người tốt nghiệp THCS và 9,4 người tốt nghiệp THPT các tỷ lệ tương ứng ở dân số nam là 27,3 ; 29,5 Bậc trung học chuyên nghiệp không có sự khác biệt lớn nữ đạt 2,9 % và nam 2,8%; Bậc Cao
đẳng và Đại học nữ đạt 2,7% và nam đạt 4,2%; Riêng bậc trên Đại học, tỷ lệ nữ thấp hơn 3 lần so với nam, cụ thể nữ đạt 0,04% và nam 0,13%[19]
- Trình độ chuyên môn, phụ nữ ít có cơ hội tiếp cận với công nghệ, tín dụng và giáo dục đào tạo, thường gặp nhiều khó khăn do gánh nặng công việc gia đình vì vậy điều kiện để nâng cao chuyên môn ít hơn nam giới, bồi dưỡng nghiệp vụ về quản lý nhà nước đối với nữ cũng chỉ chiếm tỷ lệ 30% Do đó trong đa số trường hợp lao động nữ không có trình độ chuyên môn cao bằng nam giới nên dẫn đến chênh lệch trong thu nhập so với nam giới
Trang 27- Vùng địa lý: Do yếu tố địa lý nên tỷ lệ nam, nữ tham gia hoạt động kinh tế ở nước ta cũng có nhiều khác biệt Trong hoạt động kinh tế thì nữ giới thường tham gia tương đối cao so với nam giới, năm 2005 tỷ lệ này ở nữ là 68,5% còn ở nam là 75,8% Giữa các vùng có sự khác biệt lớn về tỷ lệ nữ tham gia hoạt động kinh tế, năm 2005 tỷ lệ nữ hoạt động kinh tế là cao nhất ở Tây Bắc đạt 80%, Tây Nguyên đạt 78% Tỷ lệ nữ tham gia hoạt động kinh tế thấp nhất là ở Đông Nam Bộ đạt 60% đặc biệt đây là vùng có mức chênh lệch lớn nhất về tỷ lệ tham gia hoạt động kinh tế của nam và nữ ở khu vực nông thôn và thành thị Số liệu năm 2003 tỷ lệ nữ ở thành thị có việc làm thường xuyên là 94,5% còn ở nông thôn là 95,8% các tỷ lệ tương ứng với nam là 95,8% và 96,3% Trong thời kỳ 2002-2003 song tỷ lệ thất nghiệp của nam có
su hướng giảm thì tỷ lệ thất nghiệp của nữ tăng lên, năm 2003 tỷ lệ thất nghiệp của nữ là 6,9% của nam là 4,4% [18]
- Nhóm các yếu tố khác Tình trạng sức khoẻ có quan hệ thời với gian lao động khối lượng và chất lượng công việc thực hiện nên nó quan hệ thuận
đối với thu nhập của mỗi người lao động và theo giới
2.5.3 Môi trường thể chế bình đẳng giới trong sản xuất lúa ở Việt Nam
Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp Với việc triển khai chính sách kinh tế mới ở cuối những năm 80 chuyển từ một nước nhập khẩu gạo sang môt nước xuất khẩu gạo Trong thành công đó phụ nữ đóng một vai trò rất quan trọng do họ chiếm hơn một nửa trong lực lượng lao động sản xuất nông nghiệp Bình đẳng giới ở Việt Nam được đảm bảo ở cấp độ cao nhất trong các
điều khoản của Hiến pháp Việt Nam [3] Tuy nhiên, ở cấp độ thấp hơn đặc biệt ở cấp độ cơ sở những điều luật và chính sách này thường không được triển khai đầy
đủ Nhìn chung phụ nữ và nam giới đều biết đến chính sách bình đẳng giới thông qua các phương tiện thông tin đại chúng hay các cuộc họp ở làng, x1 hay thông qua các hoạt động của Hội phụ nữ Nhưng có thể nói rằng phụ nữ và nam giới cũng khá thân thuộc với cụm từ “Bình đẳng giới” nhưng họ không hiểu lắm về
Trang 28các nội dung cũng như bản chất của nó Điều nay thường xảy ra tương tự đối với nhóm l1nh đạo nam ở trong các x1 nghiên cứu do họ vẫn có thành kiến về giới trong cấp giấy sử dụng đất, phân công lao động theo giới, kết quả là bất bình
đẳng giới vẫn còn tồn tại ở hình thức này hay hình thức khác
Hộp Các chính sách bình đẳng giới [19]
Với việc đưa ra Luật bình đẳng giới Việt Nam có một khung pháp lý vững chắc để thúc đẩy và triển khai bình đẳng giới trong thực tế Tuy nhiên, một số quy phạm trong các điều luật đôi khi tự nhượng bộ trước “Các phong tục tập quán” ở các địa phương Bên cạnh đó, phụ nữ nông thôn và nữ nông dân vẫn
do dự nhiều về thực hiện các quyền đ1 được đảm bảo trong luật của mình 2.6 Một số nét về hệ thống thâm canh lúa cải tiến (SRI)
2.6.1 Sự ra đời và nguyên tắc của SRI
1 - Đảm bảo bình đẳng giới trong tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, x1 hội và gia đình; để hỗ trợ và tạo điều kiện cho nam giới và phụ nữ thể hiện các khả năng của họ; tạo cho họ có cơ hội bình đẳng để tham gia trong quá trình phát triển và được hưởng lợi các thành quả của sự phát triển
2 – Bảo vệ và hỗ trợ các bà mẹ trong thời kỳ thai sản, sinh nở và nuôi con; tạo
điều kiện cho phụ nữ và nam giới trong việc chia sẻ các công việc gia đình
3 - áp dụng các tiêu chuẩn đánh giá phù hợp để xoá bỏ các phong tục tập quán lạc hậu cản trở việc triển khai các mục tiêu bình đẳng giới
4 – Khuyến khích các cơ quan, tổ chức, gia đình và cá nhân tham gia vào các hoạt động thúc đẩy bình đẳng giới
5 – Hỗ trợ các hoạt động bình đẳng giới ở các vùng sâu vùng xa và miền núi,
ở các khu vực dân tộc thiểu số và các khu vực đặc biệt khó khăn về kinh tế – x1 hội; đưa ra các hỗ trợ cần thiết để tăng các chỉ số phát triển giới (GDI) trong các ngành, lĩnh vực và các địa phương mà ở đó chỉ số phát triển giới (GDI) thấp hơn so với mức trung bình của cả nước
Trang 29do Fr Henri de Laulanié (người pháp) tổng hợp những năm 80 của thế kỷ trước, sau hơn 30 năm ông làm việc và nghiên cứu ở Mađagatscar
* Mục đích Canh tác lúa sinh thái, tăng năng suất nhưng lại giảm chi phí đầu vào như giống, phân bón, thuốc trừ sâu và nước tưới [16]
* Các nguyên tắc cụ thể của SRI
Nguyên tắc 1 : Cấy mạ non, cấy khi mạ mới chỉ có 2-2,5 lá đối với đất thường, 4-5 lá đối với đất phèn, mặn
Nguyên tắc 2 : Cấy 1 dảnh, cấy thưa
Cấy 1 dảnh, cấy nông và cấy nhẹ tay, tránh làm tổn thương bộ rễ Mạ phải được cấy ngay để rễ nhanh bám đất và mạ non chóng hồi phục
Cấy thưa có nhiều khoảng trống, nhiều ánh sáng, cây quang hợp tốt đẻ nhánh nhiều
Cấy thưa bộ rễ có nhiều chỗ trống, nhiều ánh sáng, cây quang hợp tốt sẽ
Trang 30Nguyên tắc 5: Bón phân hữu cơ
Bón phân chuồng hoai mục 200–300 kg/ sào trước khi bừa lần cuối Bón thêm phân đạm, lân, kali theo nhu cầu dinh dưỡng của cây lúa
*Sự phát triển của SRI
SRI được áp dụng ở Mađagatscar từ năm 1980, sau đó được Giáo sư Norman Uphoff thuộc Trường đại học Cornell của Mỹ tuyên truyền để áp dụng
và nhân rộng ra nhiều nước trên thế giới, đến nay SRI được hơn 10 nước áp dụng trong trồng lúa đặc biệt là trong khu vực châu á và lưu vực sông Mê Kông[15]
0 20 40 60 80 10 0 12 0 14 0 16 0 18 0
Trang 312.6.2 Thực tiễn Hệ thống thâm canh lúa cải tiến (SRI)
2.6.2.1 Vì sự tiến bộ của những người nông dân trồng lúa trong khu vực sông
đầu thừa đuôi thẹo Trong khi dân số tăng và nguồn tài nguyên cho sản xuất nông nghiệp có hạn, đặc biệt là nước và nhu cầu về gạo của khu vực trong tương lai vẫn rất cao
Chương trình này sẽ được thực hiện trong 3 năm nhằm quảng bá logic
về An ninh thu nhập và sinh kế cũng như lý thuyết về sự thay đổi Nói một cách khác là mục tiêu phục vụ cho những người nông dân trồng lúa quy mô nhỏ có quyền được quyết định cách kiếm sống của mình dựa trên sự hiểu biết
và tiếp cận với các nguồn lực giúp họ thực hiện được điều này thông qua các cơ hội lựa chọn đa dạng hoá hoạt động hoặc các cơ cấu cho phép đối phó với các cú sốc cũng cũng như quyền có một môi trường thuận lợi không cản trở tiến bộ mà còn hỗ trợ họ Môi trường thuận lợi cùng với sự tổ chức cộng đồng
có thể tăng cường khả năng kinh tế x1 hội của những nông dân sản xuất nhỏ ở lưu vực sông MêKông bằng cách trao cho họ nhiều quyền hơn như tiếng nói
và sự kiểm soát các quyết định liên quan đến đời sống, cơ sở vật chất mạnh hơn và giảm sự tổn thương các thảm hoạ và rủi ro
Hệ thống thâm canh lúa cải tiến, được thực hiện tại Cămpuchia và gần đây
là tại Lào Là một sáng kiến nằm trong khuôn khổ Chương trình An ninh thu nhập
và Sinh kế của Oxfam Mỹ[16] Phục vụ cho mục tiêu hỗ trợ các quyền của những người nông dân nhỏ tại Việt Nam trong khu vực hạ lưu sông MêKông trong việc
Trang 32theo đuổi sinh kế của mình
Biểu đồ miêu tả các phương thức hoạt động cũng như cách đóng góp của mỗi hợp phần vào việc thực hiện các mục đích chung và mục đích tổng thể của chương trình Trong giai đoạn đầu chương trình sẽ tập trung vào nâng cao nhận thức và năng lực của người nông dân thông qua việc áp dụng các nguyên tắc/kỹ thuật SRI qua các thí điểm tại Việt Nam [16]
Sơ đồ hoạt động
2.6.2.2 Lịch sử áp dụng Hệ thống thâm canh lúa cải tiến ở Việt Nam
Thay đổi tập quán canh tác lúa truyền thống áp dụng Hệ thống thâm canh lúa cải tiến cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao đối với hộ nông dân trồng lúa tại các tỉnh Miền Trung và một số tỉnh phía bắc của Việt Nam[15]
SRI vào Việt Nam năm 2003 nằm trong chương trình An ninh thu nhập
và sinh kế do Tổ chức Oxfam Mỹ thực hiện tại Campuchia, Lào, Việt Nam Nhằm hỗ trợ nông dân trong khu vực hạ lưu sông Mê Kông trong việc cải
Cămpuchia CEDAC Nhóm làm việc quốc gia SRI, FNN
Cămpuchia CEDAC Hội nông dân FNN
Cămpuchia Tiếp tục SRI bằng nguồn vốn của EARO CEDAC, OGB (SLF)
Việt Nam Khởi ủầu với vốn tài trợ của EIIF & OQ
OQ, PPD, SRD FNN
Việt Nam Hội phụ nữ
Hội nông dân Mạng lưới SRI địa phương
Việt Nam OA/LIS.OQ, CIIFAD,SRD,PPD JVC, chính phủ
Lào Vốn của EARO Tiếp cận vốn của FY08, JVC, WWF, Oaus OSB, chớnh phủ
Kiến thức cơ bản tốt hơn và chia sể cộng đồng quốc tế và khu vực thực hành SRI các điểm thâm nhập để thực hiện vận động chính sách cấp khu vực
Trang 33thiện sinh kế của mình và được thí điểm ở các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Hà Tây, sau thí điểm thành công tiếp tục nhân rộng thêm tỉnh Yên Bái Tới năm
2006 SRI được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận là một tiến
bộ kỹ thuật mới trong sản xuất lúa và được mở rộng hơn 2500 ha diện tích trên
địa bàn tỉnh Hà Tây, Nghệ An là 1500 ha, Hà Tĩnh 2100 ha Năm 2007 mở rộng 2 tỉnh Thái Nguyên và Phú Thọ, hiệu quả của mô hình trình diễn được bà con tham quan và đánh giá rất cao Vụ xuân năm 2007 Hà Tây đ1 đưa ra đại trà được 5000 ha, năm 2008 tỉnh Hà Tây (cũ) là địa phương đi đầu trong áp dụng SRI với 33.000 ha vụ xuân và 35000 ha vụ mùa
Năm 2008, Hà Nội đ1 mở được nhiều lớp đào tạo cho nông dân các huyện Chương Mỹ, Ba Vì, ứng Hoà Mỗi lớp 30 nông dân họ được thực hành trên cơ sở là các mẫu so sánh để tìm ra cách thâm canh hiệu quả nhất Các thí nghiệm trên đồng ruộng bao gồm cách sử dụng phân bón, mật độ cấy, việc
điều tiết nước, cách sử dụng thuốc BVTV Các nhà chuyên môn không đưa ra một mô hình cứng nhắc mà hướng dẫn nông dân từ kết quả thực tiễn cho thấy
ở đâu nông dân được đào tạo thì ở đó việc đưa các ứng dụng KHKT đều rất dễ dàng và cho hiệu quả cao [20]
Năm 2009 SRI tiếp tục được mở rộng 5 tỉnh Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nam Được l1nh đạo các địa phương khẳng định, mô hình canh tác lúa cải tiến SRI sẽ giúp bà con nông dân giảm được chi phí các loại như; Phân bón, Thuốc BVTV, Nước và cải thiện được tình trạng ô nhiễm môi trường lâu nay
Trang 34Sơ đồ 2.1 Các vùng Việt Nam áp dụng (SRI)
Dự kiến đến năm 2010, dự án SRI sẽ ảnh hưởng trực tiếp dến 350.000
hộ nông dân trong 3 nước (Trong đó 125.000 hộ ở Cămpuchia, 5000 hộ ở Lào và 220.000 hộ ở Việt Nam) Đặc biệt, đối tượng chính được hưởng lợi
từ chương trình là phụ nữ, nông dân nghèo sống ở các vùng cao và dân tộc thiểu số [15]
Ngoài việc đưa KHKT vào cho nông dân nâng cao thu nhập gia đình SRI còn là môi trường để nông dân phát triển năng lực và khẳng định vai trò của mình trong việc tiếp cận và tham gia các hoạt động x1 hội mà không có sự phân biệt giới khi thực hiện các chương trình của SRI SRI đ1 thiết lập mối quan hệ bình đẳng giới mới trong môi trường sản xuất lúa
2.6.2.3 Lồng ghép Giới trong áp dụng SRI tại Việt Nam
Các x1 có áp dụng SRI còn nhiều quan niện khác nhau về bình đẳng giới trong sản xuất nông nghiệp cũng như các công việc khác và quyền ra quyết định Nông dân thực hiện theo SRI trong đó có các chương trình lồng ghép giới là tiến hành những khoá tập huấn về lồng ghép giới cho l1nh đạo x1
Trang 35và lợi ích trong việc thay đổi mối quan hệ về giới nói riêng
Thực hiện các hoạt động lồng ghép giới trong các x1 thuộc SRI đó là
mời tất cả những lao động chính trong hộ gia đình, kể cả nam giới và phụ nữ
đây là điều quan trọng để người nông dân hiểu được lợi ích và quyền của
mình
“Những hoạt động cần được thực hiện lồng ghép giới trong Hệ thống thâm
canh lúa cải tiến (SRI)” [3]
a Tổ chức Hội thảo
Hội thảo là chương trình có sự tham gia của các bên liên quan khác
nhau bàn về việc lồng ghép giới trong chương trình SRI với mục tiêu của hội
thảo là
- Giới thiệu “ Chiến lược giới trong phát triển Nông nghiệp và nông
thôn” trong những năm tiếp theo của Bộ NN và Phát triển nông thôn cùng hội
Phụ nữ Việt Nam
- Giới thiệu bối cảnh giới trong khu vực thuộc chương trình SRI
- Giới thiệu những chỉ số cơ bản cho quá trình thực hiện, kiểm tra và
đánh giá những vấn đề nhạy cảm về giới
Hội thảo Chương trình SRI có Tham quan Mô hình Lúa SRI có
lồng ghép giới lồng ghép giới
Hình ảnh 2.2 Tập huấn SRI và thăm mô hình SRI có lồng ghép vấn đề giới
b Thông tin - Giáo dục - Truyền thông
Đây được coi là một cách thiết yếu để tạo dư luận x1 hội điều này rất
Trang 36cần thiết cho việc đẩy mạnh bình đẳng giới hiệu quả của chiến dịch truyền thông cần thực hiện song song với những cải tiến về mặt kỹ thuật Lồng ghép giới trong SRI cần những việc sau đây
- Xây dựng thông cáo báo chí trên Đài truyền hình cấp tỉnh về Chương trình SRI và việc đẩy mạnh bình đẳng giới Những thông cáo báo trí thể hiện bối cảnh giới tại các x1 trong vùng có SRI và những ảnh hưởng tiềm năng của SRI lên mối liên hệ giới
- Xây dựng sổ tay giới thiệu thông tin về SRI cùng với việc trình bày về những chỉ số giới cơ bản
- Thông tin - Giáo dục - Truyền thông:
Chương trình (SRI) có thể là các cuộc thi trong từng thôn về “Cặp vợ chồng/hộ gia đình” bình đẳng nhất Cuộc thi trong từng thôn về “Luật bình đẳng giới”
và “Quyền đứng tên sở hữu đất đai của phụ nữ”…
c Tham quan học hỏi
Tại những gia đình ở những khu vực khác nhau như miền núi, trung du hay đồng bằng hay ở các dân tộc khác nhau Cần có các mô hình riêng cho lao
động theo giới từ đó để biết được những hành vi tốt liên quan đến mối quan hệ
về giới từ những cộng đồng khác nhau Tổ chức tham quan học hỏi lẫn nhau giữa các gia đình thuộc SRI để nâng cao sự hiểu biết về giới giữa các gia đình tại các khu vực địa lý khác nhau Giữa các gia đình thuộc SRI với các gia đình không thuộc SRI hộ gia đình người Kinh, dân tộc thiểu số, gia đình Công giáo
Trang 373 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu
3.1 Điều kiện tự nhiên kinh tế – xã hội
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
Phía bắc giáp huyện Chương Mỹ
Phía đông giáp huyện ứng Hoà
Phía tây giáp huyện Lương Sơn, huyện Kim Bôi – Hoà Bình
Phía nam giáp huyện Kim Bảng – Hà Nam
Với tổng diện tích đất tự nhiên 23031,21 ha được chia làm 23 đơn vị hành chính trong đó có 22 x1 và 1 thị trấn Huyện có đường 21B Đường tỉnh
lộ 73 chạy qua tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu đi lại của huyện với các huyện khác trong vùng, trên địa bàn huyện có khu di tích Hương Sơn hàng năm thu hút hàng triệu khách du lịch tới thăm quan
b Địa hình
Mỹ Đức là huyện thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ là nơi nối tiếp gữa
đồng bằng và miền núi địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây tạo thành hình lòng máng trũng ở giữa và cao dần về hai phía sông Đáy và Núi, độ cao ruộng đất không đều chia thành ba miền rõ rệt
3.1.1.2 Khí hậu và thuỷ văn
a Khí hậu
Khí hậu huyện Mỹ Đức là khí hậu của vùng đồng Bằng Bắc Bộ Mùa hè bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10 nhiệt độ cao dao động khoảng từ 33,20 – 35,30nắng lắm mưa nhiều, gió thịnh hành là gió đông nam, ngoài ra còn chịu ảnh
Trang 38hưởng của gió lào Biên độ giữa ngày và đêm cao do ảnh hưởng của núi đá vôi nên về đêm thường lạnh hơn so với các vùng khác
Lượng mưa bình quân năm là 1520,7 mm phân bố trong năm không đều mưa tập trung từ tháng 4 đến tháng 10 chiếm 85,2% tổng lượng mưa cả năm tháng ít mưa nhất trong năm là tháng 12, tháng 1, tháng 2, chỉ có 17,5 – 23,2mm Lượng bốc hơi bình quân cả năm 859 mm bằng 56,6% so với lượng mưa trung bình năm
Nhìn trung điều kiện khí hậu của Mỹ Đức tương đối thuận lợi để phát triển nông nghiệp cho phép phát triển hệ thống cây trồng đa dạng sản xuất
được nhiều vụ trong năm Song do tính bất ổn của khí hậu hiện tượng giông b1o, gió xoáy, kèm theo lượng mưa lớn gây nên hiện tượng úng lụt về mùa hè, khô hạn về mùa đông gây ảnh hưởng không nhỏ tới sản xuất và đới sống nhân dân trong huyện
b Thuỷ văn
Huyện Mỹ Đức có dòng sông Đáy chảy qua ở phía đông, dọc theo chiều dài của huyện theo hướng Bắc Nam dài 40 km, phía Tây có sông Thanh
Hà và sông Mỹ Hà chảy qua dài 30 km Ngoài ra trong huyện còn có hệ thống
hồ chứa nước với diện tích lớn như Hồ Tuy Lai, hồ Quan Sơn với tổng diện tích là 850 ha đây là nguồn nước trực tiếp tưới và dự chữ cho nông nghiệp Hệ thống thuỷ lợi (Kênh mương) khá hoàn chỉnh đảm bảo việc tưới tiêu cho đồng ruộng Song đối với vùng trũng vẫn thường xảy ra úng lụt cục bộ khi có lượng mưa lớn ảnh hưởng tới năng suất, sản lượng cây trồng
3.1.1.3 Động thực vật
Huyện có d1y núi đá vôi ở phía tây và với diện tích rừng tự nhiên lớn Tổng diện tích rừng tự nhiên là 2.341,38 ha với 757,58 ha rừng trồng tập trung chủ yếu ở vùng Hương Sơn Vì vậy hệ Động thực vật ở đây rất đa dạng và phong phú theo kết quả điều tra của huyện có tới 350 loài thực vật, rừng tự nhiên có nhiều loại cây quý hiếm như Lát Hoa, Cây Xưa, cây Nho Vàng, các
Trang 39loại cây làm thuốc, cây phong cảnh Động vật có tới 88 loài chim, 35 loài bò sát và 32 loài thú …
Thảm thực vật ở vùng đồng bằng phân bổ chủ yếu ở phía đông của huyện, chủ yếu là cây trồng hàng năm như Lúa, Ngô, Khoai, Sắn Đậu
Đỗ…Các loại cây ăn quả như, nh1n, vải Hồng Xiêm , được trồng chủ yếu ở các vườn tạp
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Hiện trạng sử dụng đất của huyện Mỹ Đức – Hà Nội
Trong những năm gần đây tình hình sử dụng đất của huyện tương đối
ổn định đất đai nhìn chung không có biến động Đặc điểm riêng của huyện phần lớn dân số sống bằng nghề nông nghiệp với diện tích đất nông nghiệp năm 2008 chiếm 58,23% tổng diện tích đất tự nhiên Qua số liệu thống kê ta thấy:
Diện tích đất nông nghiệp trong 3 năm tăng bình quân 0,95% tức tăng 252,98 ha trong đó cơ cấu đất trồng cây hàng năm có sự biến động bình quân
3 năm tăng 2,31% tức tăng 405,99 ha đất nuôi trồng thuỷ sản có chiều hướng giảm mạnh bình quân giảm 2,55 % tức giảm 166,49 ha
Diện tích đất lâm nghiệp không có nhiều biến đổi Trong đó đất rừng tự nhiên bình quân 3 năm là không đổi, đất rừng trồng bình quân 3 năm có giảm nhẹ giảm 0,1% mức giảm này chưa phản ánh được sự khai thác rừng không hợp lý của huyện Đó cũng là nhờ sự ra tay mạnh của các cấp chính quyền địa phương và nhân dân ý thức được tầm quan trọng của rừng, giảm được nạm khai thác rừng trái pháp luật gây ảnh hưởng tới hệ sinh thái tự nhiên Đất chuyên dùng năm 2008 giảm 24,18 ha so với năm 2006 bình quân 3 năm giảm 0,36% Năm 2008 nhu cầu về nhà ở của huyện tăng cao do sự gia tăng dân số nhanh của huyện Diện tích đất ở tăng 17,58 ha so với năm 2007 bình quân 3 năm tăng 1,32% diện tích đất chưa sử dụng giảm mạnh bình quân 3 năm giảm 5,71% tức giảm 247,87 ha được chuyển thành đất nông nghiệp và sử dụng vào
đất nhà ở
Trang 40Bảng 3.1 Hiện trạng sử dụng đất huyện Mỹ Đức năm 2006 – 2008
3.1.2.2 Dân số và lao động
Năm 2008 dân số là 177.819 người bình quân 3 năm tăng 5,2% trong
đó nữ là 90.749 người tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên là 1,02% Bình quân 3 năm tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên của huyện là 1,3% Tỷ lệ người sinh con thứ
3 là 15% tăng 14% so với năm 2007 Mật độ dân số năm 2008 là 772,1 người/km2 dân số tăng dẫn tới mật độ dân số bình quân 3 năm tăng lên 5,3%