1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) điều tra những cây gỗ tái sinh và các mô hình trồng cây trên núi đá vôi ở huyện đồng văn tỉnh hà giang nhằm bảo vệ môi trường và phát triển bền vững​

79 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 2,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài nguyên và đa dạng sinh học trên núi đá vôi là một nguồn tài nguyên quí giá và quan trọng đã tạo nên sự phong phú, đa dạng của các loài động thực vật cũng như các hệ sinh thái rừng ở

Trang 1

Trường đại học lâm nghiệp

-

Nguyễn Thị Hồng Diệp

Điều tra những cây gỗ tái sinh và các mô hình

trồng cây trên núi đá vôi ở huyện đồng văn tỉnh hà giang nhằm bảo vệ môi trường

và phát triển bền vững

Luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp

Hà Nội - Năm 2009

Trang 2

Trường đại học lâm nghiệp

-

Nguyễn Thị Hồng Diệp

Điều tra những cây gỗ tái sinh và các mô hình

trồng cây trên núi đá vôi ở huyện đồng văn

tỉnh hà giang nhằm bảo vệ môi trường

Trang 4

MỞ ĐẦU

Việt Nam nằm trên bán đảo Đông Dương, có diện tích tự nhiên 32.894.398 ha, trong đó núi đá 1.012.625 ha (chiếm gần 5,4% tổng diện tích đất lâm nghiệp cả nước) phần lớn là núi đá vôi (Theo số liệu thống kê tài nguyên rừng năm 2003 của Viện Điều tra quy hoạch rừng - Bộ NN&PTNT) Núi đá vôi phân bố rộng khắp trong 24 tỉnh và thành phố, nhưng tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Bắc và Bắc Trung Bộ Các tỉnh có nhiều núi đá vôi là: Lai Châu, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Bình

Từ lâu, trên núi đá vôi đã hình thành kiểu rừng đặc trưng, độc đáo với những loài chỉ gặp trên núi đá vôi mà không gặp ở bất kỳ nơi nào khác Theo sách “Thông Việt Nam, nghiên cứu hiện trạng bảo tồn 2004” nước ta hiện nay

có 33 loài thông được xếp vào danh sách các loài bị đe dọa tuyệt chủng cấp thế giới và quốc gia Trong số 33 loài này, có 16 loài chỉ gặp trên núi đá vôi,

trong đó 3 loài đặc hữu rất hẹp: Bách vàng (Xanthocyparis vietnamensis) phát

hiện năm 2002 tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, thuộc huyện Quản

Bạ, tỉnh Hà Giang, chưa gặp loài này ở bất kỳ nơi nào khác trên phạm vi cả

nước cũng như thế giới; Dẻ tùng sọc nâu (Amentotaxus hatuyenensis) được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1996 tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn,

năm 1999 đã phát hiện được loài này ở xã Thài Phìn Tủng, huyện Đồng Văn,

tỉnh Hà Giang; Bách xanh đá (Calocedrus rupestris) được tìm thấy ở vùng núi

đá vôi Bắc Kạn, Hà Giang, Sơn La, Cao Bằng Dẫn theo Nguyễn Huy Dũng

[16] Ngoài ra còn có các loài cây gỗ quí khác như Nghiến (Excentrodendron

tonkinense), Đinh (Markhamia stipulata), Trai (Garcinia fagraeoides), Pơ mu

(Fokienia hodginsii)… Núi đá vôi cũng là nơi tập trung nhiều loài cây thuốc quí như Kim ngân (Lonicera japonica), hà thủ ô đỏ (Polygonum multiflorum),

Trang 5

củ bình vôi (Stephania rotunda), cốt toái bổ (Drynaria fortunei)… và nhiều

loài cây cảnh đẹp như một số loài lan hài, hoàng thảo hoa vàng… Cùng với thực vật, nhiều loài động vật cũng gắn chặt với nơi sống là núi đá vôi, trong

đó có một số loài linh trưởng là đặc hữu như Voọc đầu trắng (Trachypithecus

francoisi nolicephalus), Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus), Voọc

mông trắng (Trachypithecus francoisi delacouri), Voọc má trắng (Trachypithecus francoisi francoisi)… [16, 21]

Tài nguyên và đa dạng sinh học trên núi đá vôi là một nguồn tài nguyên quí giá và quan trọng đã tạo nên sự phong phú, đa dạng của các loài động thực vật cũng như các hệ sinh thái rừng ở Việt nam Tuy vậy, hệ sinh thái núi

đá vôi được đánh giá là một trong những hệ sinh thái cực đoan, có sự cân bằng mỏng manh, điều kiện sống rất khắc nghiệt, luôn luôn khô vì khả năng giữ nước kém Chất dinh dưỡng và đất chỉ được giữ lại trong các hốc đá Năng suất sinh học của hệ sinh thái núi đá vôi thấp, tốc độ tăng trưởng của cây trên núi đá vôi rất chậm, trữ lượng gỗ bình quân 1 hecta rừng nguyên sinh trên núi đá vôi chỉ bằng một nửa trữ lượng gỗ bình quân của rừng nguyên sinh trên núi đất [19] Nhưng hệ sinh thái trên núi đá vôi lại có tính chống chịu cao, khả năng thích nghi của các loài cũng cao hơn so với các loài trên núi đất Thực vật có khả năng chịu hạn, đặc biệt có bộ rễ phát triển để bám chắc vào đá cho khỏi bị đổ và tìm kiếm chất dinh dưỡng Vì thế hệ sinh thái rừng này mất đi thì sẽ phải mất rất nhiều thời gian mới có thể phục hồi lại được Hiện nay một số vùng rừng trên núi đá vôi nằm trong các khu bảo tồn đang được bảo vệ, còn phần lớn chưa được quản lí chặt chẽ, việc khai thác tài nguyên rừng vẫn thường xuyên xảy ra, vì vậy công tác bảo tồn hệ sinh thái này phải được quan tâm đúng mức

Đồng Văn là huyện địa đầu cực bắc của tỉnh Hà Giang, nằm trong khu vực cao nguyên đá và là một trong những huyện khó khăn trong phát triển

Trang 6

kinh tế - xã hội của tỉnh Trên những dải dải núi đá tai mèo sắc nhọn, những khe núi sâu và hẹp, nhiều vách núi dựng đứng, tài nguyên rừng trên núi đá vôi gắn chặt với đời sống cộng đồng dân cư nơi đây Rừng là nguồn sinh thủy, điều hoà nguồn nước và giữ nước; cung cấp gỗ làm nhà và đóng đồ gia dụng, cung cấp củi đun, thức ăn chăn nuôi gia súc; cung cấp dược liệu và các lâm sản phụ khác; đây cũng là nơi cư trú truyền đời của nhiều dân tộc anh em (H’Mông, Pu péo, Dao, Lô lố…) từ xa xưa cho đến ngày nay Điều đáng tiếc

là rừng đang bị suy giảm nghiêm trọng cả về diện tích và giá trị kinh tế do khai thác cạn kiệt Nạn mất rừng làm giảm độ che phủ thực vật, dẫn đến tình trạng thiếu nước trầm trọng nhất là vào mùa khô, gây nhiều khó khăn cho sản xuất và cuộc sống của người dân Sự trơ trọc của núi đá vôi còn làm xuất hiện

đá lăn, lũ quét khi mưa lớn, gây chết người và thiệt hại về kinh tế Riêng trong năm 2006, thời tiết khô hanh, nắng hạn kéo dài gây tình trạng thiếu nước sinh hoạt, nước sản xuất; 71 ha ngô bị mất trắng; 3,5 ha lúa không cấy được do không có nước; sản lượng lượng thực thất thu là 156,84 tấn; lốc và mưa đá còn làm thiệt hại một số nhà dân, trường học; đá lăn làm chết 3 người và bị thương 2 người Nhiệm vụ bảo vệ rừng và phục hồi hệ sinh thái núi đá vôi đang ngày càng trở nên cấp bách, đòi hỏi sự quan tâm, tham gia không chỉ của các cấp chính quyền mà của cả cộng đồng cư dân nơi đây Từ nhận thức trên, chúng tôi đã tiến hành đề tài: “Điều tra những cây gỗ tái sinh và các mô hình trồng cây trên núi đá vôi ở huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang nhằm bảo vệ môi trường và phát triển bền vững”

Trang 7

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Đá vôi và những ảnh hưởng tới hệ thực vật

1.1.1 Đặc điểm của đá vôi và phân loại

Đá vôi có thành phần khoáng vật chính là canxit, có thể do trầm tích hóa học, tức là sự lắng đọng CaCO3, hoặc trầm tích sinh học, tức vỏ những sinh vật chứa nhiều cacbonate chết đi rồi tích lũy lại mà thành [25, 41]

Đá vôi thường có màu xám, trắng, đen hoặc hồng, bề mặt tương đối mịn Những khối lớn đá vôi được phân lớp rõ rệt phản ánh quá trình trầm tích Vùng núi đá vôi với địa hình đặc biệt của nó, địa hình Karst, thường có những hang động ngầm và suối nước nóng

Thành phần của đá vôi chủ yếu là CaCO3, nếu lẫn thêm nguyên tố khác thì có thể hình thành các loại đá mang tên khác như: Đôlômit, đá vôi chứa silic, đá sét vôi hay túp vôi…

Ở nước ta đá vôi hình thành những dải lớn ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Vùng Tây Bắc, Tây Nghệ An, Quảng Bình và một diện tích nhỏ ở Hà Tiên

Quá trình phong hóa đá vôi diễn ra khá chậm chạp, tùy theo thang phân loại mà người ta chia đất phong hóa từ đá vôi thành các loại khác nhau Theo Ban biên tập Bản đồ đất Việt Nam thì trên đá vôi có 3 loại đất chính: Đất đen cabonate (thuộc nhóm VI đất đen); đất đỏ trên đá vôi (thuộc nhóm VI đất đỏ vàng); đất mùn đỏ trên đá vôi (thuộc nhóm VIII đất mùn đỏ vàng) Tuy tầng mỏng nhưng đất hình thành trên núi đá vôi giàu dinh dưỡng, ít chua, là môi trường sống của nhiều loài gỗ quí (nghiến, trai, đinh…) và cây ăn quả nổi tiếng (đào, lê, mận…)

1.1.2 Vai trò của canxi đối với thực vật phát triển trên núi đá vôi

Canxi là thành phần chính của đá vôi, trong đất canxi thường tồn tại

Trang 8

dưới dạng muối cacbonate (CaCO3), sulphate (CaSO4 2H2O), phosphate, silicate… hòa tan hay không tan Sự có mặt của canxi làm cho môi trường đất trở nên kiềm và có cấu tượng vì thế nó hỗ trợ tích cực cho sự phát triển của vi sinh vật và hệ rễ, làm cho dinh dưỡng của các muối vô cơ khác được dễ dàng hơn [25]

Đối với thực vật bậc thấp, canxi có thể cần cho một nhóm này nhưng

có thể lại gây độc cho một nhóm khác Đối với thực vật bậc cao, muối canxi tác dụng đến sự phân bố nhóm thực vật ưa canxi Đặc điểm này đã tạo nên một hệ sinh thái núi đá vôi rất đặc biệt ở nước ta

1.1.3 Các vùng sinh thái trên núi đá vôi

Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu về phân bố núi đá vôi theo các vùng địa lý và tài nguyên thực vật, rừng trên núi đá vôi được phân chia thành các vùng như sau:

1.1.3.1 Vùng Cao Bằng - Lạng Sơn

Đây là vùng có núi đá vôi tập trung lớn nhất trong cả nước Hoạt động xâm nhập ở vùng Đông Bắc chủ yếu tập trung vào miền này Vùng này ở vào

vĩ độ cao của nước ta và mang dấu hiệu chuyển tiếp từ khí hậu nhiệt đới sang

á nhiệt đới Vùng núi đá vôi Cao Bằng - Lạng Sơn gồm có 2 vùng phụ núi đá vôi chủ yếu:

 Vùng núi đá vôi Ngân Sơn – Trùng Khánh

 Vùng núi đá vôi Bắc Sơn

Kiểu núi đá vôi trung bình và thấp, bao gồm một số cao nguyên đá vôi khối uốn nếp có quá trình hoạt động Karst trên mặt và Karst ngầm Núi đá vôi

có dạng núi sót có rất nhiều hang động, sông ngầm Nhiều nơi quan sát thấy các dạng địa hình Karst với thung lũng xâm thực

Hệ thực vật vùng này mang tính chất pha trộn của nhiều luồng thực vật nhưng đặc trưng là luồng thực vật bản địa Bắc Việt Nam – Nam Trung Hoa,

Trang 9

đồng thời cũng chịu nhiều ảnh hưởng của các luồng thực vật khác Các loài đại diện tiêu biểu cho vùng núi đá vôi Cao Bằng - Lạng Sơn có giá trị kinh tế

và có ý nghĩa lớn về mặt khoa học như Hoàng đàn (Cupressus tonkinensis), Thiết đinh (Markhamia stlipulata), Trai (Garcinia fagraeoides), Đinh thối

(Ferandoa brilletii), Sam kim hỉ (Pseudo tsugachinensis) Trong đó, Hoàng

Đàn là loài cây quý hiếm đã được ghi trong sách đỏ Việt Nam Đây cũng là

vùng phân bố của nhiều loài động vật quí hiếm như Hươu xạ (Moschus

moschiferus), Vượn đen (Hylabates concolor) [107]

1.1.3.2 Vùng Tuyên Quang – Hà Giang

Vùng này có diện tích núi đá vôi 130.400 ha Các loại đá vôi chiếm vai trò chủ yếu trong việc cấu tạo nên các núi trong vùng Núi đá vôi tạo thành một dải không liên tục theo hướng Tây - Bắc tập trung chủ yếu ở phía Bắc và Đông Bắc, tạo thành từng khối lớn Độ cao vùng này lớn hơn vùng Cao Bằng

- Lạng Sơn, các dãy núi phía Bắc cao tới 1.000m Khu vực này nằm trong vùng sinh thái trung tâm, bao gồm hai vùng phụ chủ yếu:

 Vùng núi đá vôi Quản Bạ - Phia Phương

 Vùng cao nguyên đá vôi Bắc Hà

Hệ thực vật núi đá vôi Tuyên Quang – Hà Giang có tính chất pha trộn của nhiều luồng thực vật Hệ thực vật ở đây mang nhiều nét đặc trưng của nhiều luồng thực vật bản địa Bắc Việt Nam – Nam Trung Hoa, tiêu biểu là các loài cây thuộc họ Re (Lauraceaeee), họ đậu (Fabaceae), họ dâu tằm (Moraceae), họ ba mảnh vỏ (Euphorbiaceae) Do vị trí địa lý nên hệ thực vật

ở đây chịu ảnh hưởng của nhiều luồng thực vật Himalaya – Vân Nam – Qúy Châu Đại diện của các loài cây lá kim xuất hiện nhiều hơn như Hoàng đàn

(Cupressus tonkinensis), Pơ mu (Fokienia hodginsii), Kim giao (Nageia fleuryi), Thông tre (Podocarpus neriifolius)… Cùng với sự có mặt của các

loài rụng lá thuộc họ dẻ (Fagaceae), sự có mặt của đại diện nhiều luồng thực

Trang 10

vật đã đóng góp phần nào đa dạng thành phần các loài thực vật trên núi đá vôi của vùng này [107,108]

1.1.3.3 Vùng Tây Bắc – Tây Hoà Bình, Thanh Hoá

Đây là một vùng tương đối rộng và kéo dài với diện tích 264.400 ha, do vậy chịu ảnh hưởng của các chế độ khí hậu khác nhau Trong vùng hình thành những sơn nguyên phức tạp chủ yếu là núi và cao nguyên đá vôi, khối uốn nếp xen kẽ đá phiến, cát kết, kéo dài thành một dải hệ từ Phong Thổ đến Thanh Hoá Vì có sự xen kẽ nham thạch nên trong kiểu địa hình này nên ta thấy xuất hiện cảnh quan Karst, trên núi đá vôi và cảnh quan xâm thực trên núi đá phiến cát kết

Vùng núi Tây Bắc – Tây Hoà Bình, Thanh Hoá có các vùng phụ chủ yếu:

 Cao nguyên đá vôi Tà Phình – Sín Chải

 Cao nguyên đá vôi Sơn La

 Cao nguyên đá vôi Mộc Châu

 Vùng núi đá vôi Sơn La – Hoà Bình - Bắc Thanh Hoá

 Vùng núi đá vôi Nam Thanh Hoá

Thực vật vùng này có những nét riêng biệt phù hợp với các điều kiện địa hình và khí hậu của miền, có đầy đủ các vành đai thực vật từ nhiệt đới, á nhiệt đới đến nhiệt đới núi cao Các loài thực vật tiêu biểu cho miền gồm các

loài cây của ngành hạt trần như Pơ mu (Fokienia hodginsii), Thông pà cò (Pinus kwangtungensis), Thông nàng (Podocarpus neriifolius), Kim giao

(Nageia fleuryi), Thông tre (Podocarpus neriifolius)…Các loài cây lá rộng

đóng vai trò chủ yếu trong các thành phần cây rừng trên núi đá vôi như các loài của họ dẻ (Fagaceae), họ Cáng lò (Betulaceae), họ Hồ đào (Juglandaceae)… Trong vùng cũng đã xuất hiện một số loài đặc trưng của

vùng phía Nam lên như Chò chỉ (Shorea chinensis), Tàu nước (Vatica

Trang 11

subglabra)… Một số loài của luồng thực vật từ Tây Á sang như Săng lẻ (Lagerstroemia callyculata), Chò nhai (Anogeisus acuminata)… Sự phong

phú của các loài cây lá kim đã hình thành nên nhiều vùng rừng hỗn giao cây

lá kim và cây lá rộng, nhất là ở các vùng có độ cao lớn Đây cũng là môi trường sống của một số loài động vật đặc hữu trên núi đá vôi là Voọc quần

đùi (Trachipythecus francoisii delacourii) [108]

1.1.3.4 Vùng Trường Sơn Bắc

Vùng Trường Sơn Bắc nằm trong miền núi thấp, hẹp ngang, sườn dốc, cấu tạo kéo dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam Diện tích của vùng là 142.500 ha Đá vôi ở đây chủ yếu tập trung ở một khu vực: Núi đá vôi Khe Ngang- Kẻ Bàng

Miền Trường Sơn Bắc được phân làm 4 vùng trong đó quan trọng nhất

là vùng núi đá vôi Kẻ Bàng Núi đá vôi ở đây tập trung chủ yếu ở Kẻ Bàng và Khe Ngang, độ cao 700-800m Các dạng địa hình hiện tại thể hiện quá trình Karst đang phát triển mạnh, dòng chảy bề mặt ít, sông suối ngầm phát triển

Vùng Trường Sơn là “một cái nút” nơi gặp gỡ của hai luồng thực vật di

cư tới Một từ Himalaya qua Vân Nam xuống và một từ Indonexia lên Do vậy, thực vật nói chung và các loài thực vật trên núi đá vôi nói riêng cũng có những nét khác biệt với các vùng khác Thành phần thực vật chủ yếu là các họ phân bố rộng ở rừng nhiệt đới như họ Xoan, họ Đậu, họ Mộc Lan, họ Bồ hòn,

họ Dâu tằm… Các loài thực vật hạt trần cũng có mặt một số loài như Hoàng

đàn giả (Dacrydium pierrei), Pơ mu (Fokienia hodginsii), Kim giao (Nageia

fleuryi), Thông tre (Podocarpus neriifolius) [109]

1.1.3.5 Vùng Đảo

Đây là vùng sinh thái tương đối đặc biệt, tuy nhiên diện tích tập trung nhiều ở vùng Đông Bắc, chủ yếu là vùng đảo Quảng Ninh Nú đá vôi ở đây tập trung vào hai vùng nhỏ:

Trang 12

 Vùng đảo Hạ Long

 Đảo Bái Tử Long

Các đảo đá vôi ở đây có đầy đủ những dạng địa hình của một miền Karst ngập nước biển Phía Đông cũng có nhiều đảo núi đá vôi rải rác và có một số đảo lớn như đảo Cát Bà, đảo Cái Bầu … Ngoài ra ở một số vùng khác cũng có một số đảo núi đá vôi không tập trung và diện tích không lớn

Do những nét đặc trưng riêng biệt về địa hình và khí hậu vùng đảo nên thực vật vùng này cũng có những nét khác biệt cới các vùng khác Tuy nhiên,

một số loài thực vật đặc trưng hạt trần vẫn có mặt như Kim giao (Nageia

fleuryi) ở đảo Cát Bà [109]

1.2 Những quan điểm về tái sinh rừng

Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng với biểu hiện đặc trưng là sự xuất hiện một thế hệ cây con của những loài cây gỗ dưới tán rừng, rừng sau khai thác, trên đất rừng sau nương rẫy… Vai trò của thế hệ cây con này là dần thay thế các thế hệ cây gỗ già cỗi

Vì vậy, hiểu theo nghĩa hẹp, tái sinh rừng là quá trình phục hồi lại thành phần

cơ bản của rừng mà chủ yếu là tầng cây gỗ Sự xuất hiện lớp cây con là nhân

tố mới làm phong phú thêm số lượng và thành phần loài trong hệ sinh thái (thực vật, động vật, vi sinh vật…), cũng như làm thay đổi cả quá trình trao đổi vật chất và năng lượng, do vậy tái sinh rừng có thể hiểu theo nghĩa rộng là sự tái sinh của một hệ sinh thái rừng [116]

Ở các vùng tự nhiên khác nhau, tái sinh rừng diễn ra theo các quy luật khác nhau Trong rừng mưa nhiệt đới, quá trình tái sinh diễn ra vô cùng phức tạp Theo Van Stennit, (1956):

Tái sinh trong rừng mưa nhiệt đới là “tái sinh phân tán, liên tục” Khác với rừng thuần loài ôn đới thời kỳ tái sinh chỉ tập trung vào một mùa nhất định, rừng mưa nhiệt đới có tổ thành loài cây phức tạp, khác tuổi nên thời kỳ

Trang 13

tái sinh của quần thể diễn ra quanh năm Tuy nhiên, chỉ có những cây mạ, cây con của loài nào chịu được bóng trong giai đoạn còn nhỏ thì mới có khả năng tồn tại dưới tán rừng với các tuổi khác nhau Những cây này buộc phải trải qua quá trình ức chế kéo dài nhiều năm do sự cạnh tranh về ánh sáng và dinh dưỡng trước khi có cơ hội chiếm một vị trí trong tầng tán mà chúng là thành viên chính thức khi gặp điêu kiện thuận lợi [124]

Đặc điểm tái sinh phổ biến khác trong rừng mưa nhiệt đới là “tái sinh vệt” Đây là cách thức tái sinh của những loài ưa sáng, mọc nhanh, có đời sống ngắn, gỗ mềm, không có mặt trong tổ thành rừng nguyên sinh nhưng được một tác nhân nào đó mang tới Khi trong rừng hình thành các lỗ trống do

sự gẫy đổ của các cây gỗ lớn, các loài cây này xuất hiện và trở thành loài tiên phong chiếm giữ khoảng trống Khi những loài cây ưa sáng tạo ra được bóng rợp thì những loài cây mạ và cây con của những loài cây gỗ lớn sống ở tầng trên mới có điều kiện tái sinh Đến khi vượt khỏi tán của các loài tiên phong, những cây mọc sau sẽ khống chế ánh sáng ở tầng trên làm cho những cây tiên phong dần tàn lụi, tạo điều kiện thuận lợi cho cây con của nhiều loài cây đã tái sinh phát triển

Rừng nhiệt đới Việt Nam mang những đặc điểm tái sinh của rừng nhiệt đới nói chung, nhưng phần lớn rừng thứ sinh phải chịu những tác động phức tạp của con người nên các quy luật tái sinh đã bị xáo trộn nhiều

Trên đất rừng sau nương rẫy, hiện tượng nảy mầm đồng thời đã tạo ra một thế hệ rừng tiên phong thuần loại tương đối nhiều tuổi có thể gặp ở nhiều

nơi: rừng Bô đề (Styrax tonkinensis) ở vùng Phú Thọ, rừng Sau sau

(Liquidambar fomosana) ở Hữu Lũng (Lạng Sơn), rừng Ràng ràng mít (Ormosia balanse)ở Bắc Quang (Hà Giang)…

Ở rừng thứ sinh sau khai thác chọn, tán rừng bị phá vỡ nhiều, tổ thành loài cây tái sinh không chỉ có trong thành phần cây mẹ tại chỗ mà còn nhiều

Trang 14

thành phần loài cây khác do nguồn giống từ nơi khác mang đến Do rừng thứ sinh nước ta bị khai thác chọn nhiều lần nên phân bố cây tái sinh theo kích thước biến động rất lớn Trong trường hợp này khó có thể tìm thấy một quy luật chung về phân bố cây tái sinh theo tuổi [126]

Nghiên cứu tái sinh rừng là một vấn đề quan trọng vì nó có liên quan đến sự biến đổi của các trạng thái thảm thực vật và su hướng diễn thế của nó Tuy vậy, những nghiên cứu về tái sinh rừng trên hệ sinh thái núi đá vôi còn rất ít

Năm 1999, Viện điều tra quy hoạch rừng, đã tiến hành điều tra, nghiên cứu bước đầu về tái sinh rừng trên núi đá vôi vùng Tuyên Quang – Hà Giang, nhằm tìm hiểu các quy luật kết cấu cũng như xem xét về khả năng tái sinh và

su thế diễn thế của rừng trên núi đá vôi, tuy nhiên kết quả nghiên cứu này chưa nhiều, mới chỉ dừng lịa ở sự phát hiện các loài tái sinh (Dẫn theo Trần Hữu Viên), [59]

Bùi thế Đồi (2002) đã tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc

và tái sinh tự nhiên của quần xã thực vật rừng trên núi đá vôi tại 3 địa phương miền Bắc Việt Nam là: xã Đa Phúc (Hoà Bình), xã Tự Do (Cao Bằng), xã Tân Hoá (Quảng Bình) và đề xuất một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm phục hồi và phát triển rừng ở 3 địa phương đó Tuy nhiên, nghiên cứu mới chỉ thực hiện ở một số quần xã thực vật rừng điển hình ở 3 địa phương nói trên nên chưa bao quát hết được những đặc điểm của loại rừng trên núi đá vôi (Dẫn theo Trần Hữu Viên), [59]

Năm 2003, Trung tâm Đa dạng và an toàn sinh học đã điều tra khảo sát tài nguyên rừng tại xã Thài Phìn Tủng, huyện Đồng Văn Kết quả, đã tìm thấy ở hệ sinh thái núi đá vôi nơi đây có tới 13 loài cây quý hiếm, đó là:

Thông đỏ Trung Quốc (Taxus chinensis), Hoàng đàn rủ (Cupressus funebris),

Dẻ tùng sọc nâu (Amentotaxus hatuyenensis), Thông tre lá ngắn (Podocarpus

Trang 15

pilgeri), Thông 5 lá Pà Cò (Pinus kwangtungensis, Đỉnh Tùng (Cephalotaxus manll), Thiết sam giả (Pseudo tsuga sinensis), Thiết sam núi đá (Tsuga chinensis), Du sam núi đá (Keteleeria davidiana, Bảy lá một hoa (Paris polyphylla), Hà Thủ ô đỏ (Fallopia multiflora), Mã hồ (Mahonia nepalensis)

và Pơ mu (Fokienia hodginsii), tiếp đó có thêm những nghiên cứu về bảo tồn

và phát triển nguồn gen quí hiếm, bảo vệ đa dạng sinh học ở Đồng Văn (Hà Giang)

Thực tế ở nước ta cho thấy vấn đề phục hồi và phát triển rừng vẫn phải trông cậy vào tái sinh tự nhiên, còn tái sinh nhân tạo mới chỉ được triển khai trên qui mô hạn chế và mang tính chất thử nghiệm Vì vậy, cần có những nghiên cứu đầy đủ về tái sinh tự nhiên và phục hồi hệ sinh thái núi đá vôi, làm

cơ sở cho phát triển bền vững rừng trên núi đá vôi

1.3 Những nghiên cứu về trồng cây trên núi đá vôi ở Việt Nam

Như đã nói ở trên, rừng trên núi đá vôi là một hệ sinh thái độc đáo và giàu tiềm năng nhưng cũng rất nhạy cảm và cực đoan, nếu bị khai thác quá mức thì khó có thể phục hồi lại được Do vậy, đã có nhiều nghiên cứu về phục hồi rừng trên núi đá vôi được tiến hành

Trường Đại học Lâm nghiệp (1990-1999) đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và khả năng gây trồng các loài cây: Nghiến, Mạy sao, Trai lý, Hoàng đàn, Mắc rạc, Xoan nhừ, Mắc mật… trên núi đá vôi

ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Cạn [7] Kết quả nghiên cứu đã xác định được một số đặc điểm sinh thái và đề xuất kỹ thuật gây trồng thử nghiệm các loài cây này ở các địa phương trên Tuy nhiên, việc áp dụng mô hình này ở các địa phương khác còn nhiều hạn chế khi chưa được nghiên cứu và thử nghiệm một cách tổng hợp và hệ thống trong các điều kiện tự nhiên và kinh tế, xã hội khác nhau

Trung tâm khoa học sản xuất Lâm nghiệp Tây Bắc thuộc Viện khoa

Trang 16

học Lâm nghiệp Việt Nam đã trồng thử loài cây Keo dậu trên núi đá vôi ở Chiềng Sinh (Sơn La) Kết quả cho thấy loài cây này sinh trưởng khá tốt, mô hình rừng này có thể là dẫn chứng cho các nghiên cứu tiếp theo nhằm phục hồi và phát triển hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi ở vùng Tây Bắc [8]

Vườn quốc gia Cát Bà (Hải Phòng); Vườn quốc gia Ba Bể (Bắc Kạn)

đã tiến hành trồng thử loài cây Kim giao (Nageia fleuryi) trên núi đá vôi

nhưng vì thiếu những nghiên cứu cơ bản trước đó nên những kết quả thu được rất hạn chế, quy mô trồng rừng đã không được mở rộng [8]

Xã Phúc Sen, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng nhân dân đã trồng cây

Mắc Rạc (Delavaya toxocarpa) trên đất rừng được giao khoán Kết quả cho

thấy loài cây này đóng vai trò quan trọng trong việc trả lại màu xanh cho rừng

và được người dân địa phương xem đây là loài cây lý tưởng để phủ xanh các vùng núi đá vôi, tạo điều kiện cho các loài cây gỗ lớn bản địa phát triển, đồng thời giải quyết nhu cầu chất đốt cho họ

Cục Phát triển Lâm nghiệp thuộc Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn năm 2002 đã giới thiệu một số loài cây lâm nghiệp trồng ở vùng núi đá

vôi như: Mắc mật (Clausena excavata), Mắc rạc (Delavaya toxocarpa), Keo dậu (Leucaena leucocephala), Gạo (Bombax anceps), Xoan nhừ

(Choerospondias axillaris), Xoan ta (Melia azedarach), Tông dù (Toona sinensis), Sấu (Dracontomelon duperreanum), Nghiến (Excentrodendron tonkinense), Lát hoa (Chukrasia tabularis), Kim giao (Nageia fleuryi), Tràm

(Melaleuca leucadendra), đồng thời tổng kết một số mô hình trồng rừng trên

núi đá vôi như: mô hình trồng Mắc rạc ở Phúc Sen (Quảng Hoà, Cao Bằng);

mô hình trồng Mắc Mật ở Khang Ninh (Ba Bể, Bắc Kạn); mô hình trồng Tông dù ở huyện Bạch Thông (Bắc Kạn); mô hình trồng rừng hỗn loài ở Cát

Bà (Hải Phòng)

Trần Hữu Viên và các cộng sự năm 2004 đã nghiên cứu cơ sở khoa học

Trang 17

nhằm xây dựng các giải pháp kinh tế, xã hội để quản lý rừng bền vững trên núi đá vôi tại 3 xã điểm đại diện cho 3 vùng phân bố tập trung rừng trên núi

đá vôi, đó là: xã Tự Do (Huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng) - đại diện cho vùng Đông Bắc; Xã Đa Phúc (huyện Yên Thuỷ, tỉnh Hoà Bình) - đại diện cho vùng Tây Bắc; xã Tân Hoá (huyện Minh Hoá, tỉnh Quảng Bình) - đại diện cho cho vùng Bắc Trung Bộ và mở rộng địa bàn nghiên cứu ra một số xã của tỉnh

Hà Giang, Lạng Sơn, Sơn La… Kết quả đã đưa ra một số mô hình tổng hợp

bố trí theo độ cao: Sườn núi có rừng tiến hành khoanh nuôi, bảo vệ; sườn núi không có rừng gieo hạt Mắc rạc; chân sườn trồng Luồng; chân núi trồng Lát hoa và Lát mê hi cô [213]

Năm 1998, Sở Khoa học công nghệ và Lâm trường Yên Minh thuộc tỉnh Hà Giang đã trồng thử nghiệm loài cây Mắc rạc tại huyện Yên Minh (Hà Giang), sau hơn một năm cây sinh trưởng tốt, chiều cao bình quân là 50cm, tỷ

lệ sống trên 90%, tuy nhiên cũng cần phải phát triển thêm những loài khác như: Nghiến, Đinh, Trai lý… thì sau này rừng mới ổn định, bền vững [8]

Nhằm tăng độ che phủ của thảm thực vật vùng núi đá vôi, những năm gần đây công tác trồng rừng ở huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang đã được đẩy mạnh Các dự án trồng rừng (dự án PAM, 327, 661…) đều đã được tiến hành nhưng chủ yếu là trên vùng có điều kiện đất đai thuận lợi với loài cây trồng phổ thông là Thông 3 lá, Sa mộc Tuy nhiên do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt

và điều kiện gây trồng hạn chế (thiếu nguồn giống, vốn, kỹ thuật…), mặt khác trình độ dân trí và nhận thức của người dân còn hạn chế nên hiệu quả của trồng rừng chưa cao

Trang 18

Chương 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu

- Xác định tập đoàn cây gỗ tái sinh trên núi đá vôi ở huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang

- Giới thiệu một số mô hình trồng cây kinh tế trên núi đá vôi của nhân dân địa phương

2.3 Nội dung nghiên cứu

* Điều tra các loài cây gỗ tái sinh trên vùng núi đá vôi huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang

+ Lựa chọn các khu vực tiêu biểu đại diện cho sinh cảnh vùng nghiên cứu

+ Thu thập mẫu vật, xác định thành phần các loài cây gỗ tái sinh

* Tìm hiểu các mô hình trồng cây phủ đất của người dân địa phương

+ Phỏng vấn trực tiếp người dân địa phương về các mô hình trồng cây của họ

+ Tập hợp các số liệu liên quan đến các mô hình như thời gian, hiệu quả kinh tế, những tác động tới hệ sinh thái rừng

+ Đánh giá tính hiệu quả của từng mô hình trên các khía cạnh tự nhiên

và xã hội Đánh giá khả năng mở rộng một số mô hình thích hợp

Trang 19

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp kế thừa

- Kế thừa các số liệu về điều kiện tự nhiên (vị trí địa lý, địa hình, địa chất, thổ nhưỡng, khí hậu ), điều kiện dân sinh, kinh tế, xã hội của khu vực nghiên cứu được tổng hợp từ các số liệu của địa phương và các nghiên cứu khác

- Kế thừa một số kết quả nghiên cứu về các lĩnh vực có liên quan của các tác giả khác (được trình bày ở mục tài liệu tham khảo của đề tài)

2.4.2 Phương pháp chuyên gia

Trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài này, chúng tôi tham khảo ý kiến của các chuyên gia, các nhà khoa học trong quá trình điều tra, khảo sát thực địa cũng như khi xác định tên khoa học của các loài thực vật

2.4.3 Phương pháp điều tra thực vật

2.4.3.1 Phương pháp thu hái và xử lý mẫu ngoài thực địa

Do địa hình chia cắt mạnh, độ dốc lớn, núi đá tai mèo sắc và nhọn rất khó khăn cho việc đi lại, do đó chúng tôi điều tra thực vật trên 4 tuyến, mỗi tuyến dài 10 km, tuyến đi là đường mòn dân sinh, trên đường đi vừa thu thập mẫu vật vừa xác định thành phần các loài cây gỗ tái sinh

Thu hái mẫu theo phương pháp chung Trường Đại học Lâm nghiệp, trường Đại học Quốc gia Hà Nội, cụ thể như sau:

+ Dụng cụ thu mẫu: Túi dứa, túi polyetylen cỡ lớn, kéo cắt cây, giấy

báo, dây buộc, nhãn, bút chì, sổ ghi chép, cồn, băng dính, máy ảnh

+ Nguyên tắc thu mẫu:

Mỗi mẫu phải có đủ các bộ phận, nhất là cành, lá và hoa (thu được hoa, quả thì càng tốt)

Mỗi cây thu từ 3-5 mẫu Các mẫu thu trên cùng một cây thì ghi cùng một số hiệu

Trang 20

Khi thu mẫu phải ghi chép ngay những đặc điểm dễ nhận biết ngoài thiên nhiên vào sổ ngoại nghiệp như: đặc điểm vỏ cây, kích thước cây, nhất là các đặc điểm dễ mất sau khi khô như: màu sắc của hoa, quả, nhựa mủ, mùi vị…, địa điểm lấy mẫu, ngày lấy mẫu Thu và ghi chép xong thì cho vào bao tải dứa hay túi polyetylen mang về nhà rồi mới làm mẫu

+ Xử lý mẫu tạm thời:

Sau một ngày lấy mẫu cần đeo nhãn cho mỗi mẫu Nhãn chỉ ghi chép

số hiệu mẫu, khi ghi phải dùng bút chì mềm hoặc bút đặc dụng để không bị nhoè khi ngâm tẩm

Đặt mẫu trong tờ giấy báo cỡ lớn gập 4, ép mẫu phẳng theo hình thái tự nhiên của loài cây đó, có lá sấp lá ngửa để quan sát dễ dàng cả 2 mặt lá mà không phải lật mẫu Đối với lá to chỉ lấy từng phần đại diện và các phần đó mang cùng một số hiệu

Mẫu được xếp thành từng chồng, dùng giấy báo bọc ngoài, bó chặt lại rồi cho các bó mẫu vào túi polyetylen cỡ lớn Dùng cồn đổ cho thấm ướt các

tờ báo để chuyển về nơi có điều kiện sấy khô

2.4.3.2 Phương pháp thu thập số liệu nội nghiệp

- Phân loại sơ bộ theo trình tự: ngành - lớp - bộ - họ - chi cho các mẫu vật thu được

- So mẫu và xác định tên loài dựa theo bộ mẫu tại Bảo tàng thực vật, khoa Sinh học, trường Đại học khoa học tự nhiên và các tài liệu chuyên ngành hiện có

- Hệ thống phân loại thực vật được áp dụng theo tài liệu: “Vascular Plant Families and Genera” (1992) của Brummitt

- Hiệu chỉnh tên khoa học của các loài theo “Thực vật chí Việt Nam” (2002) và “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” (2002, 2003, 2005); Chỉnh tên tác giả theo tài liệu “Authors of Plant Names” của Brummitt (1992)

Trang 21

- Bổ sung các thông tin cần thiết khác cho các loài thực vật tại khu vực nghiên cứu từ các tài liệu khác về thực vật và tài nguyên thực vật ở Việt Nam

- Lập bảng danh lục thực vật: các ngành được xếp theo trình tự tiến hoá Hạt trần - Hạt kín, các họ trong mỗi ngành, lớp sau đó được xếp theo trật tự alphabet

- Đánh giá tính đa dạng của cây tái sinh:

+ Đánh giá đa dạng về thành phần loài cây tái sinh: Sau khi có bảng danh lục hoàn chỉnh, chúng tôi tiến hành thống kê, tính tỷ lệ phần trăm của các taxon trong các ngành để từ đó đánh giá tính đa dạng về thành phần loài cây gỗ tái sinh

+ Đánh giá đa dạng nguồn tài nguyên sử dụng: Công dụng của các loài thực vật chúng tôi dựa vào: Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (2001); Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam (2007); Giáo trình Thực vật rừng (2000), bộ sách Cây gỗ rừng Việt Nam (1971-1988)

+ Đa dạng giá trị bảo tồn: Xác định loài quí hiếm dựa vào “Sách đỏ Việt Nam” (2007), Phần II- Thực vật; Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30

tháng 03 năm 2006 của Chính phủ “Về quản lý thực vật rừng, động vật rừng

nguy cấp, quý hiếm”

2.4.4 Phương pháp nghiên cứu mô hình trồng cây trên núi đá vôi

Để nghiên cứu các mô hình trồng cây trên núi đá vôi, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn, thu thập số liệu trực tiếp từ cán bộ lâm nghiệp và nhân dân địa phương Những nội dung phỏng vấn gồm các vấn đề có liên quan đến:

+ Tên mô hình, loài cây được sử dụng trong mô hình, chu kỳ kinh doanh, tình hình sinh trưởng phát triển hàng năm, tình hình sâu bệnh hại, biện pháp kỹ thuật xây dựng mô hình

+ Tên tổ chức, cá nhân, hộ gia đình thực hiện mô hình

+ Những thuận lợi, khó khăn khi xây dựng mô hình

Trang 22

+ Kinh nghiệm về kỹ thuật, kinh tế và xã hội đối với xây dựng và thực hiện mô hình trồng cây trên núi đá vôi

Quá trình phỏng vấn được thực hiện với tinh thần cởi mở, có chuẩn bị danh mục và chủ đề phỏng vấn, sử dụng câu hỏi gợi ý, không có câu trả lời sẵn, thời gian và địa điểm phỏng vấn không ấn định và có thể ở bất cứ nơi nào Nội dung phỏng vấn phụ thuộc vào những vấn đề mà người phỏng vấn

và người được phỏng vấn cùng quan tâm

Trang 23

Chương 3: ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI

CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1 Vị trí địa lí:

Đồng Văn là một huyện miền núi cao, nằm ở phía Bắc tỉnh Hà Giang Phía Bắc và phía Tây giáp nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa với 52km đường biên giới; Phía Đông giáp huyện Mèo Vạc; Phía Nam giáp huyện Yên Minh tỉnh Hà Giang

Tọa độ địa lý: từ 22055’ đến 23023’ độ vĩ Bắc và 105013’ đến 105042’

độ kinh Đông

3.1.2 Địa hình – Địa chất – Thổ nhưỡng:

Huyện Đồng Văn là một phần của cao nguyên đá vôi, địa hình chia cắt mạnh, phần lớn là núi đá tai mèo, có nhiều núi cao, vực sâu, (núi Lũng Táo cao 1911m, núi Tú Sán cao 1475m) Độ cao trung bình so với mặt nước biển

là 1200m

Do địa hình chia cắt mạnh, đồng thời quá trình phong hóa từ đá vôi trầm tích và đá phiến thạch nên đất đai của huyện Đồng Văn (Hà Giang) có thành phần cơ giới nặng, độ phì tương đối cao Theo kết quả điều tra phân loại đất của Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp năm 1999, toàn huyện

Trang 24

- Nhóm đất đen: Có tổng diện tích 628 ha, được hình thành ở thung lũng đá vôi và ven chân núi đá vôi, có độ dốc thấp Đất có độ phì cao, gồm các loại đất sau: Đất đen cacbonat đá nông; Đất đen cacbonat đá sâu; Đất đen cacbonat glây và Đất đen cacbonat kết von

- Nhóm đất xám: có tổng diện tích 13.758 ha và được chia thành 2 loại đất chính:

+ Đất xám feralit: được hình thành trên các loại đá mẹ nghèo kiềm với diện tích 3.153 ha Đây là một trong những loại đất tốt của huyện Đồng Văn, thích hợp cho phát triển nông lâm nghiệp

+ Đất xám mùn trên núi cao: là loại đất được hình thành ở độ cao trên 900m, với tổng diện tích là 10.605 ha Đây là loại đất có độ phì cao nhưng hạn chế việc sử dụng vì đất này nằm trên vùng có địa hình dốc, đi lại khó khăn nên chủ yếu để phát triển rừng

- Nhóm đất đỏ: Tổng diện tích 10.455ha, rất thích hợp cho việc phát triển nông lâm nghiệp nhất là cây lâu năm, cây dược liệu và cây ăn quả nhưng cần phải chú ý đến bảo vệ rừng, bảo vệ đất, chống xói mòn

3.1.3 Khí hậu - thuỷ văn

3.1.3.1 Khí hậu

Khí hậu ở đây bị ảnh hưởng nhiều bởi yếu tố địa hình, mang tính ôn đới Một năm chia làm 2 mùa rõ rệt Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 Mùa khô mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau

Lượng mưa trung bình khoảng 1600mm – 2000mm/năm, lượng nước bốc hơi trung bình 729mm

Nhiệt độ trung bình năm là 23,10C, tháng trung bình cao nhất của năm

là 28,30C và thấp nhất là 15,70C;

Độ ẩm trung bình năm là 84%; Tháng có độ ẩm thấp nhất là 78%, cao nhất là 86%

Trang 25

Mùa đông có gió mùa Đông Bắc xuất hiện thành từng đợt, mỗi đợt kéo dài 3-7 ngày, gây rét đậm và rét hại Ngoài ra còn xuất hiện sương mù, sương muối, thỉnh thoảng có năm gặp mưa tuyết nên ảnh hưởng không tốt đến sản xuất nông nghiệp

3.1.3.2 Thuỷ văn

Huyện Đồng Văn có sông Nho Quế chảy dọc theo ranh giới phía Đông Bắc của huyện và một hệ thống các dòng suối lớn, nhỏ chảy qua nhưng lưu lượng của những dòng chảy khác nhau, không ổn định theo mùa Đặc biệt, chỉ có 2 con suối chảy vào sông Nho Quế là suối Tắc Tủng ở phía Nam xã Lũng Cú và suối Séo Hồ ở phía Bắc xã Đồng Văn có nước quanh năm và lưu lượng dòng chảy lớn vào mùa mưa nhưng cũng chỉ đủ cung cấp cho một vùng rộng Nguồn nước ngầm của huyện chủ yếu tập trung trong các núi đá vôi, trữ lượng nhỏ, khai thác khó khăn Trong những năm qua, nhân dân trên địa bàn huyện hầu hết sử dụng nguồn nước dự trữ được mỗi khi mưa về cho nên tình trạng thiếu nước trong một số xã thường xuyên xảy ra vào mùa khô, gây khó khăn cho đời sống của nhân dân trong vùng

3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội và thực trạng lâm nghiệp

3.2.1 Dân số, dân tộc, lao động

Theo Niên giám thống kê huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang, năm 2006 [21], huyện Đồng Văn có 18 xã và 1 thị trấn

Tổng dân số của huyện là 61.034 người, với 11.625 hộ, gồm 17 dân tộc khác nhau, trong đó dân tộc Mông chiếm đa số với 54.073 người, chiếm 88,6%; dân tộc Kinh 1.329 người, chiếm 2,17%; dân tộc Tày 1.288 người, chiếm 2,11%; dân tộc Hoa – Hán 1.278 người, chiếm 2,09%; còn lại là các dân tộc Lô lô, Cờ lao, Dao, Pu péo, Giấy, Nùng và một số các dân tộc khác Dân cư phân bố không đều, tập trung đông ở xã Đồng Văn và Thị trấn Phố Bảng Nhiều bản làng nằm cheo leo trên các vách núi hay ở sâu trong

Trang 26

các lèn, lũng

Tổng số lao động trong huyện chiếm tỷ lệ cao, tuy nhiên lao động có chuyên môn và trình độ rất ít Đây là một nhân tố quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nhưng cũng thách thức không nhỏ đối với các nhà lãnh đạo của huyện trong vấn đề giải quyết việc làm, nâng cao tỷ lệ lao động có chuyên môn

3.2.2 Thực trạng chung về kinh tế

3.2.2.1 Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Huyện Đồng Văn là một trong những huyện khó khăn của tỉnh Hà Giang, có 18 xã nằm trong diện chương trình 135 của Nhà nước (trừ thị trấn Phố Bảng) Những năm gần đây kinh tế của huyện tăng trưởng mạnh hơn so với năm trước Theo báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2006 của Huyện ủy Đồng Văn, tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2006 đạt 11,4%, tăng 0,44% so với năm 2005 Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm tỷ trọng nông lâm nghiệp, tăng công nghiệp và dịch vụ Phân theo cơ cấu ngành kinh tế: nông lâm nghiệp chiếm 49%, giảm 2,97% so với năm 2005; Công nghiệp – xây dựng chiếm 19,5%, tăng 0,64% so với năm 2005; Dịch vụ - thương mại chiếm 31,5%, tăng 1,98% so với năm 2005

3.2.2.2 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế

 Ngành nông nghiệp:

Năm 2006, tổng diện tích gieo trồng là 14.100 ha, tổng sản lượng lương thực đạt 16.821,5 tấn, trong đó: ngô hạt 13.425,3 tấn, thóc 3.327,5 tấn, mỳ mạch 68,7 tấn

Cơ cấu cây trồng được chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa, nhiều vùng chuyên canh cây đã hình thành như: Vùng Lúa đặc sản ở xã Đồng Văn, Ma Lé, Sính Lủng; Vùng Ngô hàng hóa ở xã Sủng Là, Sính Lủng; Vùng gieo trồng đậu tương phát triển ở khắp các xã

Trang 27

Cây công nghiệp trồng chủ yếu ở địa phương là Đậu tương, Lanh, Chè Cây ăn quả có Lê, Mận, Đào

Chăn nuôi gia súc gắn liền với trồng cỏ tập trung đã tạo nguồn thu nhập

ổn định cho nhiều hộ gia đình Năm 2006, toàn huyện có 14.307 con bò, 18.446 con dê, 17.320 con lợn, 868 con trâu, 225 con ngựa, 1.923 đàn ong

 Ngành công nghiệp – xây dựng

Sản xuất công nghiệp còn nhỏ lẻ, sản phẩm chủ yếu gồm gạch, ngói, có

20 lò rèn sản xuất các loại nông cụ, đồ gia dụng Một số hộ gia đình sản xuất các mặt hàng khác phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt như làm khèn Mông, đan, đồ gỗ…

Trong những năm qua, nền kinh tế của huyện có nhiều chuyển biến, bộ mặt chung trong toàn huyện có nhiều đổi thay nên hệ thống cơ sở hạ tầng dần được hoàn thiện, 19/19 xã, thị trấn trong huyện có điện lưới quốc gia

 Các ngành Dịch vụ

Các loại hình hoạt động thương mại ngày càng phát triển, thị trường hàng hóa phong phú, đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất và đời sống của nhân dân

Hoạt động du lịch có nhiều khởi sắc và có triển vọng phát triển, huyện

đã bước đầu khai thác được các tiềm năng du lịch văn hóa lịch sử, sinh thái…

Hoạt động nhập khẩu qua cửa khẩu Phố Bảng đã có sự tăng trưởng, việc trao đổi hàng hóa của nhân dân hai nước Việt – Trung diễn ra bình thường qua các phiên chợ của hai bên, hàng hóa chủ yếu là những mặt hàng nhỏ lẻ, có giá trị thấp, phục vụ nhu cầu tiêu dùng cá nhân và dụng cụ sản xuất nông nghiệp

Kinh tế của huyện phát triển, các vấn đề xã hội cũng chuyển biến tích cực theo, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện rõ rệt cả về vật chất và tinh thần, cụ thể: Tỷ lệ học sinh đạt độ tuổi đến trường đạt 98,16% Trường

Trang 28

lớp, thiết bị, dụng cụ dạy học được nâng cấp, đội ngũ giáo viên được chuẩn hóa từng bước tạo điều kiện cho chất lượng dạy và học được nâng lên Chương trình y tế quốc gia đã được quan tâm và triển khai thực hiện tốt như phòng chống sốt rét, tiêm chủng mở rộng, công tác phòng chống lao phổi, bướu cổ và các bệnh khác…

3.2.3 Hiện trạng sử dụng đất đai, tài nguyên rừng

3.2.3.1 Hiện trạng sử dụng đất đai

Theo số liệu thống kê đất đai năm 2006 của Sở Tài nguyên – Môi trường Hà Giang (Dẫn theo Báo cáo điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến năm 2010 của huyện Đồng Văn, tỉnh Hà giang) Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 46.114,05 ha, trong đó:

 Đất nông nghiệp: 22.162,74 ha, chiếm 48,06% , trong đó:

 Đất sản xuất nông nghiệp: 14.445,61 ha,

 Đất lâm nghiệp: 7.710,60 ha, trong đó:

 Đất phi nông nghiệp: 955,84 ha, chiếm 2,07%

 Đất chưa sử dụng: 22.995,47 ha, chiếm 49,87 %, trong đó:

 Đất đồi chưa sử dụng: 6.243,50 ha

 Núi đá không có cây rừng: 16.751,97 ha

Trang 29

Hình 3.1: Biểu đồ hiện trạng sử dụng đất huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang

(Nguồn: Sở Tài nguyên – Môi trường Hà Giang, 2006)

Như vậy, đất chưa sử dụng của huyện Đồng Văn rất lớn, chủ yếu là núi

đá không có cây rừng Tiếp đó là diện tích đất nông nghiệp, được sử dụng chủ yếu để trồng cây lương thực ngắn ngày Diện tích đất lâm nghiệp không nhiều nhưng trên đó là rừng phòng hộ Với điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, thường xuyên thiếu nước vai trò bảo vệ môi trường của rừng rất quan trọng Vì vậy, việc đưa diện tích đất đất đồi chưa sử dụng được sử dụng triệt để, có hiệu quả

và bảo vệ phát triển diện tích rừng phòng hộ hiện có tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp là vấn đề đã và đang được huyện Đồng Văn quan tâm

3.2.3.2 Công tác quản lý, bảo vệ rừng

Từ năm 1994, Thực hiện Nghị định 02/CP ngày 15/1/1994 của Chính phủ “về việc giao đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp”, Huyện Đồng Văn đã giao đất, giao rừng đến từng hộ gia đình, giao cho các Đồn biên phòng, đơn vị bộ đội… khoanh nuôi bảo vệ và trồng rừng Tuy nhiên, hiệu quả chưa được như mong muốn vì khả năng phục hồi rừng trên núi đá vôi rất khó khăn, mặt khác

Trang 30

hầu hết người dân nơi đây sống bằng nghề nương rẫy, diện tích đất sản xuất nông nghiệp ít, trình độ canh tác thấp, cuộc sống người dân còn rất khó khăn nên trong nhiều trường hợp họ buộc phải vào rừng để kiếm sống Vì vậy, vừa bảo vệ rừng để duy trì, bảo vệ nguồn nước, bảo vệ môi trường, vừa đảm bảo cuộc sống trước sức ép về lương thực, về dân số hiện nay thì công tác quản lý bảo vệ nguồn tài nguyên rừng càng khó khăn hơn

Để nâng cao hiệu quả bảo vệ rừng, chính quyền địa phương cùng các ban ngành đoàn thể đã chú trọng tới công tác xã hội hóa lâm nghiệp Xây dựng phương án phòng chống cháy rừng ở các xã, xây dựng quy ước, hương ước bảo vệ rừng ở phạm vi thôn bản, tuyên truyền về công tác bảo vệ rừng

Cơ chế chính sách liên quan tới bảo vệ rừng đang từng bước được thay đổi cho phù hợp với chủ trương xã hội hóa về công tác lâm nghiệp, bảo vệ và nâng cao thu nhập cho người dân tham gia dự án

Công tác tuyên truyền đã giúp phần đông người dân hiểu được tầm quan trọng của việc bảo vệ rừng, nhưng bên cạnh đó cần phải có công tác hướng dẫn, giúp đỡ người dân làm kinh tế, nâng cao đời sống và thu nhập, có như vậy thì mới giảm bớt áp lực cho rừng

Trang 31

Chương 4: KẾT QUẢ NGHIấN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Tớnh đa dạng của cỏc cõy gỗ tỏi sinh trờn nỳi đỏ vụi ở huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang

4.1.1 Danh lục cỏc cõy gỗ tỏi sinh tự nhiờn trờn nỳi đỏ vụi

Qua điều tra, nghiờn cứu chỳng tụi đó xỏc định được 173 loài cõy gỗ tỏi sinh thuộc 123 chi, 57 họ, 2 ngành Kết quả được thể hiện trong bảng danh lục dưới đõy

Bảng 4.1: Danh lục cỏc loài cõy gỗ tỏi sinh tự nhiờn trờn nỳi đỏ vụi

huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang

Giá trị tài nguyên

Giá trị bảo tồn

1 Pinus kwangtungensis Chun ex Tsiang Thông Pà Cò G,Td, Sđ, Ia

2 Pinus kesiya Royle ex Gordon Thông 3 lá G,Td

3 Keteleeria davidiana Bertrand Du sam đá vôi G, Td, Sđ

4 Tsuga chinensis (Franch) Pritz ex Diels Thiết sam núi đá G, T, Sđ

5 Pseudotsuga sinensis Dode Thiết sam giả G, T, Sđ

2 TAXODIACEAE Họ bụt mọc

6 Cunninghamia lanceolata Hook Sa mộc G, C

3 Podocarpaceae Họ kim giao

7 Nageia fleuryi (Hickel.) de Laub Kim giao G, T,

8 Podocarpus pilgeri Foxw Thông tre lá ngắn G,

4 Cupressaceae Họ Hoàng đàn

9 Cuppressus funebris Enll Hoàng đàn rủ G,T,Td

10 Fokienia hodgintris Henry et Thomas Pơ mu G, Td Sđ, IIa

5 Taxaceae Họ sam hạt đỏ

11 Taxus chinensis (Pilg.) Rehd Thông đỏ Bắc G, Td Sđ, IIa

Trang 32

12 Amentotaxus hatuyenensis N.T.Hiep et J.E Vidal DÎ tïng säc n©u G

16 Alangium barbatum (R Rr.) Baill C©y quang G

17 Alangium chinense (Lour.) Harms Th«i ba G, Tags

18 Alangium kurzii Craib Th«i ba l«ng G

19 Choerospondias axillaris (Roxb.) Burtt et Hill L¸t Xoan G, T

20 Spondias pintana (L.f.) Kurz, Xoan nhõ G, Q

21 Semecarpus myriocarpa Evrard & Tardieu S­ng nhiÒu tr¸i G

22 Toxicodendron succedanea (L.) Mold S¬n phó thä T, Td, G

23 Mitrephora thorelii Pierre Na G S®

24 Goniothalamus tamirensis Pierre ex Fin &

28 Betula alnoides Buch - Ham C¸ng lß G,Tn

29 Alnus nepalensis D.Don Tèng qu¸ sñ G

14 Berberidaceae Hä m· hå

30 Mahonia nepalensis DC M· hå T S®

31 15 Bignoniaceae Hä ®inh

Trang 33

32 Dolichandrone columnaris Santis Quao G

33 Fernandoa brillettii (Dop.) Steen Đinh thối G

34 Oroxylon indicum (L.) Vent Núc nác T, R,C

39 Peltophorum dassyrrhachis (Miq.) Kurz Lim vang G

40 Saraca dives Pierre Vàng anh G,T,C

20 CLUSIACEAE Họ Bứa

41 Cratoxylum cochinchnensis (Lour.) Blume Thành ngạnh nam G, T

42 Cratoxylum polyanthum (Wight) Walp Thành ngạnh G

43 Garcinia fagraeoides A Chev Trai lý G IIa

44 Garcinia mutiflora Cham ex Benth Dọc G, Q

45 Garcinra tinctoria (DC.) W Wight Bứa T, K

48 Diospyros eriantha Champ ex Benth Thị lông đỏ G

49 Diospyros pilosula (A DC.) Wall Thị mít G

24 ELAEOCARPACEAE Họ Côm

50 Elaeocarpus griffithii (Wight) A Gray Côm xanh G, T

51 Elaeocarpus petiolatus (Jack.) Wall Côm cuống dài G

52 Elaeocarpus sylvestris (Lour) Poir Côm rừng G

53 Elaeocarpus tonkinenis A DC Côm tầng G

25 Ericaceae Họ Đỗ quyên

Trang 34

54 Rhododendron of emarginatum Hemol & Wils Đỗ quyên lõm C

55 Rhododendron arboreum Sm Đỗ quyên quả đỏ C

56 Vaccinium bullatum (Dop) Sleum Sơn trâm phồng C

57 Vaccinium chunii Merr ex Sleum Sơn trâm Chun G

26 EUPHORBIACEAE Họ Thầu dầu

58 Acalipha acmophylla Hemsl Chanh châu

59 Alchornea tiliifolia (Benth.) Muell Arg Vông đỏ

60 Alchornea trewioides (Benth.) Muell Arg Vông đỏ quả trơn

61 Antidesma hainanense Merr Đơn núi T

62 Antidesma montanum Blume Chòi mòi gân lõm

63 Antidesma tonkinense Gagnep Chòi mòi bắc bộ

64 Aporusa yunnanensis (Pax & Hoffm.) Metc Ngăm rừng vân nam

65 Bridelia balansae Tutcher Thẩu mật balansa G

66 Bridelia monoica (Lour.) Merr Đỏm lông

67 Cleidion bracteosum Gagnep Cơm gáo

68 Macaranga henryi (Pax & Hoffm.) Rehdr Mã rạng Henry

69 Sapium baccatum Roxb Cô nàng G, T

70 Sapium discolor (Champ ex Benth.) Muell Arg Sòi tía T,D,G,N

71 Sapium rotundifolium Hemsl Sòi lá tròn Đ

72 Ormosia balansae Drake Ràng ràng mít G

73 Castanopsis hystrix A.DC Cà ổi (lá) đỏ G, Q Sđ

74 Castanopsis seniserrata Hickel & A.Camus Dẻ đấu G, Q

75 Lithocarpus dussaudii Hickel & A.Camus Dẻ lá nhỏ G

76 Lithocarpus mucronatus Hickel & A.Camus Dẻ quả núm G,C Sđ

77 Lithocarpus hemisphaericus (Drake) Barnett Dẻ bán cầu G, Q, Tn Sđ

78 Quercus bambusaefolia Hickel & A.Camus Dẻ lá tre G

29 FLACOURTIACEAE Họ Mùng quân

79 Flacourtia rukam Zoll & Mor Hồng quân Q, G

80 Hydnocarpus kurzii (King) Warb Đại phong tử lá thuôn T, G

81 Scolopia chinensis (Lour.) Clos Bôm tàu G

Trang 35

30 ICACINACEAE Họ Thụ đào

82 Gomphandra mollis Merr Bổ béo mềm T

84 Illicium griffithii Hook.f & Th Hồi núi G,Đ

32 ITEACEAE Họ Lưỡi nai

85 Itea chinensis Hook & Arn Lưỡi nai Trung Quốc T

33 JUGLANDACEAE Họ Hồ đào

86 Carya tonkinensis Lecomte Mạy châu G Sđ

87 Engelhardtia spicata Lesch Var Chẹo lá phong G

88 Engelhardtia roxburghiana Wall Chẹo ấn độ T, G

89 Juglans regia L óc chó (hồ đào) Q T,

34 LAURACEAE Họ Long não

90 Actinodaphne pilosa (Lour.) Merr Bộp lông T

91 Cinnamomum cassia (Nees & Eberth) Presl Quế G,T

92 Cryptocarya concinna Hance Mò quả vàng G

94 Litsea cubeba (Lour.) Pers Màng tang T

95 Litsea verticillata Hance Bời lời vòng G

96 Litsea glutinosa (Lour.) Roxb Bời lời nhớt T, Q, G

97 Litsea monopetala (Roxb.) Pers Bời lời bao hoa đơn G, T

98 Machilus bonii Lecomte Kháo G

99 Machilus oreophila Hance Kháo núi đá G

100 Neolitsea halongensis Lecomte Tân bời hạ long G

101 Phoebe lanceolata (Wall ex Nees) Nees Re trắng lá mũi mác G

102 Phoebe tavoyana (Meissn.) Hook f Re trắng G

Trang 36

106 Manglietia insignis (Wall.) Blume Giổi đá G, Td

107 Manglietia fordiana Oliv Vàng tâm G Sđ

108 Michelia balansae (DC.) Dandy Giổi lông G, Gv Sđ

38 MELASTOMATACEAE Họ Mua

109 Medinilla assamica (C B Clarke) C Chen Mua leo (bọ mắm) T

110 Melastoma candidum D Don Mua vảy T

111 Memecylon edule Roxb Sâm (tràm đất ) T, G

112 Memecylon scutellatum (Lour.) Naud Sầm núi G

113 Aglaia macrocarpa (Miq.) C.M Pannell Gội quả to G

114 Aglaia tetrapetala Pierre lawii (Wight) Sald ex

Ram

Gội law G

116 Aphanamixis grandiflora Blume Gội nước G

117 Chisocheton paniculatus (Roxb.) Hiern Quyếch hoa chuỳ G

118 Chukrasia tabularis A Juss Lát hoa G Sđ

119 Cipadessa baccifera (Roth.) Miq Dọc khế T

40 MIMOSACEAE Họ Trinh nữ

120 Albizia lucidior (Steud.) I Nielsen Bản xe G, Tags

121 Archidendron clypearia (Jack) I Nielsen Mán đỉa T, G

122 Artocarpus lokoocha Roxb Chay Q,G,T

123 Broussonetia papyrifera Vent Dướng Tags, G,

T,S

124 Ficus fulva Reinw ex Blume Ngái vàng T

125 Ficus pubigera (Wall ex Miq) Miq Ngái lông T, Q

126 Ficus benjamina L Sanh C

127 Ficus stenophylla Hemsl Đa lá hẹp C

128 Ficus vasculosa Wall ex Miq Đa bóng T

129 Ficus racemosa L Sung R,Q

130 Streblus macrophylla Blume Mạy tèo G

131 Streblus indicus (Bum) Corner Ruối ô rô G,T

42 Myristicaceae Họ Máu chó

Trang 37

132 Knema erratica (Hook.f & Th.) Sircl Máu chó lưu linh G

133 Knema globularia (Lamk.) Warb Máu chó lá nhỏ G, T

43 MYRTACEAE Họ Sim

134 Ardisia perpendicularis Walk Cơm nguội

135 Rhodomyrtus tomentosa (Ait.) Hassk Sim T, Q

136 Syzygium buxifolium Hook & Arn Trâm lá cà na G

137 Syzygium cuminii (L.) Skells Vối rừng G, Q, T

138 Syzygium tsoongii (Merr.) Merr & Perry Trâm trai trắng

44 OPILIACEAE Họ Rau sắng

139 Cansjera rheedei J.F.Gmel Sắng R, T, Q

45 RUBIACEAE Họ Cà phê

140 Adina pilulifera (Lamk.) Franch ex Drake Thủ viên T

141 Aidia oxydonta (Drake) Yamazaki Đài khoai

142 Canthium dicoccum (Gaertn.) Teysm & Binn Xương cá T Sđ

143 Leptodemis lecomtei Pit Mạc bi

144 Mussaenda dehiscens Pierre ex Pit Bướm bạc

145 Psychotria rubra (Lour.) Poir Lấu đỏ T

146 Wendlandia paniculata (Roxb.) DC Hoắc quang G

147 Wendlandia thorelii Pit Hoắc quang thorel

148 Acronychia peniculata (L.) Miq Bưởi bung T, Gv

149 Clausena heptaphylla (DC.) Steud Giối bảy lá

150 Clausena anisata (willd) Hook f & Benth Giổi răng

151 Euodia aireplicifolia Ridl Ba gạc

152 Euodia lepta (Spreng.) Merr Ba chạc T

153 Glycosmis pentaphylla (Retz.) Correa Cơm rượu T, Q

154 Zanthoxylum avicennae DC Sẻn T

47 SAPINDACEAE Họ Bồ hòn

156 Allophylus petelotii Merr Mắc cá lá đơn G

157 Delavaya toxocarpa Franch Dầu choòng G, T, D

158 Nephelium lappaceum L Chôm chôm T, Q

159 Paviesia annamensis Pierre Cò kén G

Trang 38

48 SAPOTACEAE Hä sÕn

160 Madhuca pasquieri H.J.Lam SÕn mËt G, Td, T S®

49 simarubaceae hä thanh thÊt

161 Ailanthus triphysa (Dennst.) Alston Thanh thÊt G, T

50 sonneratiaceae Hä BÇn

162 Duabanga grandiflora (Roxb ex DC.) Walp Phay G

51 Sterculiaceae Hä Tr«m

163 Sterculia bracteata Gagnep Tr«m G

164 Sterculia lanceolata Cav S¶ng T, Q, S

169 Gironniera subaequalis Planch Ng¸t G

56 URTICACEAE Hä Gai

171 Villebrunea integrifolia Gaud.var silvatica Hook Nai b×a nguyªn

57 VERBENACEAE Hä Cá roi ngùa

172 Callicarpa bodinieri LÐvl Tö ch©u bodinier T

173 Vitex quinata (Lour.) Williams §Ñn n¨m l¸ T, G, R

4.1.2 Tính đa dạng các loài cây gỗ trên núi đá vôi

4.1.2.1 Đa dạng bậc ngành

Đối tượng nghiên cứu là các loài cây gỗ tái sinh, nên xét về bậc phân loại ngành chúng chỉ thuộc 2 ngành: ngành hạt kín (Angnospermae) và ngành hạt trần (Gymnospermae)

Bảng 4.2: Sự phân bố họ, chi, loài cây gỗ tái sinh và tỷ lệ % theo ngành

Trang 39

Ngành hạt trần có 13 loài (7,5%); 12 chi (9,8%), 6 họ (10,5%) Ở điều kiện khắc nghiệt, tầng đất mỏng, nước thoát nhanh và các thời kỳ mùa khô tương đối dài, nhiều loài cây hạt trần xuất hiện ở đỉnh dông của dãy núi đá vôi

như: Taxus chinensis, Pinus kwangtungensis, Keteleeria davidiana, Tsuga

chinensis, Pseudotsuga sinensis, Podocarpus pilgeri đã hình thành nên nhiều vùng hỗn giao cây lá rộng và cây lá kim, đồng thời cho thấy tính đa dạng sinh học và tính nhạy cảm của hệ sinh thái núi đá vôi ở Đồng Văn (Hà Giang)

Ngày đăng: 21/06/2021, 06:29

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm