1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) nghiên cứu đặc điểm biến đổi một số thành phần môi trường khi chuyển từ rừng tự nhiên sang rừng trồng cao su ở bình phước​

144 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Đặc Điểm Biến Đổi Một Số Thành Phần Môi Trường Khi Chuyển Từ Rừng Tự Nhiên Sang Rừng Trồng Cao Su Ở Bình Phước
Tác giả Nguyễn Văn Phú
Người hướng dẫn PGS.TS Vương Văn Quỳnh
Trường học Trường Đại Học Lâm Nghiệp
Chuyên ngành Quản Lý Bảo Vệ Tài Nguyên Rừng
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Đồng Nai
Định dạng
Số trang 144
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (0)
    • 1.1. Nghiên cứu ngoài nước (12)
      • 1.1.1. Nghiên cứu hiệu quả môi trường của rừng (12)
      • 1.1.2. Đánh giá hiệu quả môi trường của rừng cao su (15)
    • 1.2. Nghiên cứu trong nước (17)
  • CHƯƠNG II: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (0)
    • 2.1. Mục tiêu nghiên cứu (24)
    • 2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (24)
    • 2.3. Nội dung nghiên cứu (25)
  • CHƯƠNG III: ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU (0)
    • 3.1. Điều kiện tự nhiên (38)
      • 3.1.1. Vị trí địa lý (38)
      • 3.1.2. Đặc điểm địa hình và địa mạo (38)
      • 3.1.3. Đặc điểm thổ nhưỡng (39)
      • 3.1.4. Đặc điểm khí hậu, thủy văn (40)
    • 3.2. Điều kiện dân sinh - Kinh tế - Xã hội (44)
      • 3.2.1. Dân số (44)
      • 3.2.2. Lao động (45)
      • 3.2.3. Trình độ văn hoá (45)
      • 3.2.4. Thu nhập (46)
      • 3.2.5. Cơ sở hạ tầng (46)
  • CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (0)
    • 4.1. Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng khi chuyển từ rừng tự nhiên sang rừng trồng Cao su (47)
      • 4.1.1. Đặc điểm biến đổi tầng cây cao (47)
      • 4.1.2. Đặc điểm của tầng cây bụi, thảm tươi (50)
      • 4.1.3. Đặc điểm lớp thảm khô (51)
    • 4.2. Nghiên cứu đặc điểm biến đổi môi trường đất, nước khi chuyển rừng tự nhiên sang rừng cao su (53)
      • 4.2.1. Nghiên cứu đặc điểm biến đổi môi trường đất khi chuyển từ rừng tự nhiên sang rừng trồng cao su (53)
      • 4.2.2. Nghiên cứu đặc điểm biến đổi môi trường nước khi chuyển từ rừng tự nhiên sang rừng trồng cao su (67)
      • 4.2.3. Nghiên cứu nguyên nhân gây biến đổi và giải pháp bảo vệ môi trường (0)

Nội dung

TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu ngoài nước

1.1.1 Nghiên cứu hiệu quả môi trường của rừng:

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra giá trị môi trường của rừng, với Tarancop (1986) ước tính giá trị sinh thái của rừng ở Voronhez, Nga chiếm khoảng 70% tổng giá trị Tại Trung Quốc, Trương Gia Bình (2003) ước lượng giá trị giữ đất, giữ nước và cung cấp phân bón của rừng ở Vân Nam là 4.450 USD/ha, tương đương 88% tổng giá trị Zhang (2005) cho biết giá trị hấp thụ carbon của rừng nhiệt đới dao động từ 500 - 2.000 USD/ha và rừng ôn đới từ 100-300 USD/ha Ở Nhật Bản, giá trị môi trường của rừng ven các thành phố lớn có thể lên đến 95% tổng giá trị của rừng.

Trong thời gian dài, nghiên cứu về giá trị môi trường của rừng chỉ giúp tăng cường kiến thức, mà chưa ảnh hưởng đến quyết định về biện pháp tác động vào rừng Gần đây, người ta đã nhận ra rằng một trong những nguyên nhân chính gây suy thoái rừng là do không xác định được hiệu quả môi trường của rừng Điều này dẫn đến việc người sản xuất không tính đến chi phí môi trường trong hoạt động nghề rừng, cũng như thiếu biện pháp cần thiết để nâng cao hiệu quả môi trường Hệ quả là tình trạng không công bằng trong việc chia sẻ lợi ích liên quan đến rừng, khi người hưởng lợi không phải chịu chi phí nào, trong khi người làm nghề rừng không nhận được thù lao hợp lý để duy trì và phát triển các lợi ích môi trường Tình trạng này đã thúc đẩy việc sử dụng rừng một cách lãng phí, mà không tính đến tác động môi trường.

Trước những nguy cơ sinh thái, con người ngày càng nhận thức rõ giá trị môi trường của rừng và tầm quan trọng của việc ghi nhận nó trong hệ thống hạch toán để đảm bảo sự bền vững cho con người và thiên nhiên Nỗ lực nghiên cứu xác định hiệu quả môi trường của rừng đã nâng cao hiểu biết về giá trị của rừng, từ việc chỉ coi trọng giá trị gỗ sang nhận thức rằng, khi được quản lý tốt, tổng lợi ích từ các sản phẩm ngoài gỗ như dầu, nhựa, sợi, thực phẩm, dược liệu và nguyên liệu thủ công mỹ nghệ có thể vượt xa giá trị gỗ.

Đánh giá hiệu quả môi trường rừng không chỉ giúp nhận diện những giá trị trực tiếp như gỗ, củi, dầu, nhựa, sợi và dược thảo, mà còn mở rộng nhận thức về các giá trị gián tiếp như giữ nước, giữ đất, điều hòa khí hậu, giảm nhẹ thiên tai, cũng như các giá trị tinh thần, lịch sử và văn hóa.

Đến nay, có ba phương pháp phổ biến được sử dụng để đánh giá hiệu quả môi trường của rừng, bao gồm hình thức lý sinh, hình thức tiền tệ hóa và hình thức hỗn hợp.

Trong hình thức lý sinh, thông tin về sự biến đổi các nguồn tài nguyên sinh vật, nước, đất, và không khí được thu thập và trình bày, liên quan đến sự tồn tại và phát triển của rừng Những biến đổi này được thể hiện dưới dạng thông tin về biến động của từng thành phần môi trường mà chưa được tiền tệ hoá, không quy đổi về cùng một đơn vị tính.

Hình thức tiền tệ hóa kết hợp dữ liệu lý sinh với định giá quy đổi để xác định giá trị tiền tệ cho các biến đổi môi trường và tài nguyên thiên nhiên Một trong những thách thức lớn nhất là định giá chính xác các biến đổi này, vì sai sót trong định giá có thể dẫn đến phân tích không chính xác về tổn thất tài nguyên môi trường, từ đó ảnh hưởng đến các quyết định kinh tế xã hội Hiện nay, ba phương pháp chính được áp dụng để đánh giá hiệu quả môi trường bao gồm lượng giá theo thiện ý chi trả, lượng giá theo chi phí phát sinh và lượng giá theo tổn thất lợi ích.

Trong hình thức hỗn hợp, hiệu quả môi trường của rừng được đánh giá thông qua việc kết hợp dữ liệu lý sinh, dữ liệu xã hội và giá trị tiền tệ của các tổn thất về tài nguyên môi trường Hình thức này không chỉ đơn thuần là tiền tệ hóa mà còn bổ sung thông tin về biến đổi của các yếu tố môi trường Đây là phương pháp phổ biến và có ý nghĩa nhất trong việc đưa ra quyết định nhằm giải quyết các vấn đề môi trường.

Khi đánh giá hiệu quả môi trường của rừng, người ta thường sử dụng các phương pháp phổ biến, bao gồm cả những phương pháp đơn giản và những phương pháp định lượng hóa ở mức cao.

Các phương pháp ĐTM đơn giản:

Phương pháp liệt kê số liệu môi trường

Phương pháp danh mục các điều kiện môi trường

Phương pháp ma trận môi trường pháp chập bản đồ môi trường

Phương pháp sơ đồ mạng lưới

Các phương pháp ĐTM được định lượng hoá ở mức cao:

Phương pháp phân tích lợi ích chi phí mở rộng

Các phương pháp đánh giá hiệu quả môi trường thường được lựa chọn dựa trên điều kiện kinh phí, trình độ cán bộ và mục đích của việc đánh giá Để nâng cao độ chính xác và độ tin cậy của kết quả, các phương pháp này thường được phối hợp với nhau.

1.1.2 Đánh giá hiệu quả môi trường của rừng cao su:

Cao su là một trong những loài cây trồng được phát triển ở nhiều quốc gia

Rừng cao su không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế cao mà còn cung cấp nguyên liệu chiến lược cho nhiều lĩnh vực sản xuất và đời sống Mặc dù thường bị chỉ trích về hiệu quả môi trường thấp, như khả năng giữ nước và bảo vệ đất, nhưng nghiên cứu thực tế cho thấy rừng cao su có khả năng bảo vệ đất và nước tốt hơn nhiều mô hình rừng thuần loài khác Tại Trung Quốc, nghiên cứu của Wang Xianpu chỉ ra rằng dưới rừng cao su ở Hải Nam có mức đa dạng sinh học tương đối cao, với 207 loài cây có mạch thuộc 113 giống và 61 họ Mức độ đa dạng sinh học này phụ thuộc vào lượng mưa, độ phì của đất và tuổi của cây cao su, với sự gia tăng đa dạng sinh học theo lượng mưa và sự giảm dần theo tuổi rừng Tại Singapore, nghiên cứu của Đại học Quốc gia cho thấy xói mòn đất và dòng chảy mặt dưới rừng cao su ở mức thấp, với xói mòn chỉ từ 2-3 tấn/ha/năm, nhỏ hơn 20 lần so với đất nương rẫy.

Việc trồng cao su có ảnh hưởng chưa rõ ràng đến đa dạng sinh học (Donald 2004), mặc dù rừng trồng thường có sự đa dạng sinh học thấp hơn so với rừng tự nhiên Tuy nhiên, rừng cao su theo kiểu nông lâm kết hợp có thể góp phần tăng cường đa dạng sinh học Aiken (1982) đã chỉ ra rằng rừng cao su ở Bán đảo phía tây Singapore có hiệu quả thấp trong việc giữ nước và bảo vệ đất, dẫn đến gia tăng dòng chảy mặt và xói mòn đất Quá trình phát dọn thực bì dưới tán rừng càng làm tình trạng xói mòn trở nên nghiêm trọng hơn Nhiều tác giả, như Gao Suhua (1985), đã nghiên cứu khả năng bảo vệ môi trường của rừng cao su.

Wu Eryu (1984) và Chen Yongshan (1982) đã nghiên cứu hiệu quả bảo vệ đất và nước của các đồn điền cao su tại Trung Quốc Các nghiên cứu trên toàn cầu chủ yếu tập trung vào đặc điểm và chức năng sinh thái của hệ sinh thái rừng cao su, nhưng một số tác động môi trường khác vẫn chưa được làm rõ.

Cao su là cây trồng phù hợp nhất với khí hậu vùng xích đạo và nhiệt đới, yêu cầu nhiệt độ trung bình từ 22°C đến 30°C, tối ưu từ 26°C đến 28°C, cùng với lượng mưa tối thiểu 1.500mm/năm Mặc dù cây cao su không đòi hỏi chất lượng đất cao, nhưng thường được phát triển trên đất Bazan phì nhiêu, sâu, dễ thoát nước và giàu mùn Ban đầu, cao su chủ yếu được trồng trên những vùng đất bazan màu mỡ của vùng nhiệt đới nóng ẩm, dẫn đến quan niệm rằng cây chỉ phát triển trên đất tốt Tuy nhiên, với sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp cao su, đặc biệt tại Trung Quốc, cây đã được trồng trên nhiều loại đất khác và ở vĩ độ cao hơn, tới 24-25 độ, cùng với độ dốc lên đến trên 20 độ và độ cao hàng nghìn mét Tuy nhiên, sự giới hạn về sinh lý đã ảnh hưởng đến sự phát triển của cây cao su trong điều kiện đất cao và dốc.

Các tác giả toàn cầu chủ yếu tập trung vào việc nghiên cứu đặc điểm và chức năng sinh thái của hệ sinh thái rừng cao su Tuy nhiên, một số tác động môi trường khác của hệ sinh thái này vẫn chưa được làm rõ Đặc biệt, cần có sự so sánh về biến đổi các thành phần môi trường khi chuyển từ trạng thái rừng tự nhiên sang rừng trồng cao su.

Nghiên cứu trong nước

Cây cao su đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam vào năm 1878, được lấy giống từ Singapore nhưng không thích nghi với khí hậu, dẫn đến thất bại trong trồng trọt Năm 1892, dược sỹ Raoult gửi hạt giống và cây con từ Java đến vườn thí nghiệm Yêm, trong khi bác sỹ Yersin cũng trồng cây con tại viện Pasteur Nha Trang Đến năm 1897, cây cao su chính thức có mặt tại Việt Nam Công ty cao su đầu tiên, Suzannah, được thành lập vào năm 1907 tại Dầu Giây, Đồng Nai, mở đầu cho sự phát triển của nhiều công ty cao su khác của người Pháp tại Đông Nam Bộ như SIPH, SPTR, và CEXO.

Cây cao su, với hơn 100 năm phát triển, đã trở thành một trong những cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao tại Việt Nam, đặc biệt là sau năm 1975 Hiện nay, cây cao su phân bố chủ yếu ở khu vực Đông Nam bộ và Tây Nguyên, góp phần quan trọng vào nền kinh tế quốc gia.

Việt Nam hiện có gần 800.000 ha cao su, sản lượng đạt khoảng 800.000 tấn/năm, xếp thứ 6 thế giới về sản lượng và thứ 4 về xuất khẩu cao su thiên nhiên Trước đây, cao su chủ yếu được trồng ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên, nhưng sau năm 1975, diện tích trồng cao su đã mở rộng ra các tỉnh trung Trung Bộ và Bắc Trung Bộ như Quảng Nam, Quảng Ngãi, Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An và Thanh Hóa.

Kể từ năm 2005, giá trị kinh tế cao và kinh nghiệm trồng cao su thành công trên nhiều loại đất ở Việt Nam và thế giới, đặc biệt là miền núi phía Nam Trung Quốc, đã thúc đẩy phong trào trồng cao su tại nhiều địa phương Nhiều tỉnh mới như Sơn La, Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai, Yên Bái, và Hòa Bình đã tham gia vào việc trồng cao su, dẫn đến việc phá hủy nhiều cánh rừng tự nhiên và rừng trồng để dành đất cho loại cây này.

Trồng rừng cao su ở Việt Nam có lịch sử hàng trăm năm và ngày càng trở thành một hoạt động sử dụng đất truyền thống phát triển mạnh mẽ trên toàn quốc.

Ngành cao su hiện nay mang lại thu nhập cao cho người lao động, với mức lương trung bình của công nhân tại các công ty cao su đạt khoảng 4 triệu đồng/tháng Tại các rừng cao su tiểu điền, thu nhập của các hộ gia đình có thể dao động từ vài chục triệu đến hàng trăm triệu đồng mỗi năm Nhờ những ưu điểm nổi bật, cây cao su đang và sẽ tiếp tục là một trong những cây trồng chủ lực cho sự phát triển kinh tế ở miền núi Việt Nam.

Cây cao su, theo tác giả Nguyễn Khoa Chi (1997), được xem là một trong những loài cây có khả năng bảo vệ môi trường hiệu quả, giúp chống xói mòn và bảo vệ độ phì nhiêu của đất.

Trần Ngọc Kham đã nghiên cứu “hiệu quả kinh tế của mô hình trồng cao su phủ xanh đất trống sau nương rẫy ở Đắc Lắc” và chỉ ra rằng các mô hình trồng cao su mang lại lợi ích kết hợp giữa tư nhân và xã hội lớn hơn so với nương rẫy truyền thống Mô hình này không chỉ có triển vọng mà còn tạo cơ hội cho các nông hộ tham gia vào các chương trình phủ xanh đất trống, đảm bảo lợi ích ngắn hạn và bền vững cho họ.

Các tác giả Đoàn Thị Thanh Nhàn, Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Thế Côn, và Vũ Đình Chính đã chỉ ra rằng cây cao su không chỉ mang lại giá trị kinh tế cao mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc làm sạch môi trường và ổn định hệ sinh thái.

Theo nghiên cứu của Trương Đình Trọng (2007) về thoái hóa đất Bazan ở Quảng Trị, một số vùng sau khi lột bỏ lớp phủ rừng đã được trồng cây công nghiệp lâu năm như cà phê, chè và cao su Những khu đất này thường được chọn lựa vì có địa thế ổn định, giúp duy trì độ phì nhiêu của đất Bazan.

Kết quả nghiên cứu từ Trung tâm Phòng chống Sốt rét Ký sinh trùng Côn trùng Thừa Thiên Huế cho thấy số lượng loài muỗi Anopheles thu thập được trung bình trong một lượt điều tra là 7 ± 3 loài tại thời điểm rừng cao su mới trồng, trong khi ở thời điểm rừng đã khép tán, số lượng này tăng lên đáng kể.

Nguyên nhân chính dẫn đến sự xuất hiện của 3 loài này có thể liên quan đến tình trạng ẩm ướt tăng lên ở rừng cao su khép tán, thay vì do các đặc điểm sinh thái khác biệt của rừng cao su.

Các nghiên cứu hiện tại chưa chỉ ra sự khác biệt rõ rệt về tác động môi trường của rừng cao su so với các loại rừng khác Điều này cho thấy rừng trồng cao su có thể tương tự như các loại rừng trồng khác về mặt tác động môi trường Do đó, việc trồng rừng cao su trên đất lâm nghiệp có thể chỉ là một sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng, không phải là chuyển đổi mục đích sử dụng đất như một số ý kiến đã đề cập.

Trồng rừng cao su là hoạt động canh tác sử dụng đất, trong đó khai thác chủ yếu các thành phần môi trường như đất và nước Tuy nhiên, quá trình này cũng phát sinh chất thải như dư lượng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, và các chất phân hủy từ cành khô, lá rụng, nhựa cao su Những rủi ro môi trường có thể xảy ra bao gồm việc làm chết thực vật và động vật trong quá trình xử lý thực bì, xói mòn đất, cháy rừng, và cạn kiệt nguồn nước do làm đất bí chặt Do đó, hiệu quả môi trường của trồng rừng cao su cần được xem xét qua tác động của nó đến đất, nước, không khí và đa dạng sinh học.

Hiệu quả môi trường của rừng trồng cao su phụ thuộc vào kỹ thuật trồng và chăm sóc Do đó, giải pháp bảo vệ môi trường cho rừng cao su cần điều chỉnh và bổ sung các kỹ thuật nhằm bảo vệ đất, nước, không khí và đa dạng sinh học, đồng thời hạn chế chất thải độc hại và giảm thiểu rủi ro môi trường.

MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1 Mục tiêu nghiên cứu tổng quát Đề xuất được một số giải pháp bảo vệ môi trường khi chuyển rừng tự nhiên sang trồng rừng cao su

2.1.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể Đánh giá được tác động của rừng trồng cao su đến môi trường đất, nước trên cơ sở so sánh với các trạng thái rừng tự nhiên Đề xuất được những giải pháp khắc phục tác động xấu của rừng trồng cao su đến môi trường.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là rừng tự nhiên thuộc Vùng đệm VQG Bù Gia Mập và Rừng cao su được chuyển mục đích sử dụng từ rừng tự nhiên thuộc Vùng đệm VQG Bù Gia Mập của người dân thuộc xã Đăk Ơ - Huyện Bù Gia Mập - Tỉnh Bình Phước Để nghiên cứu sự biến đổi của một số thành phần môi trường đề tài đã thu thập phân tích những đặc điểm môi trường đất và nước của rừng cao su trên cơ sở so sánh với đặc điểm môi trường đất và nước của 3 trạng thái rừng tự nhiên là: rừng nghèo, rừng nghèo kiệt và rừng phục hồi trên điều kiện tương tự nhau về địa hình và thổ nhưỡng ở khu vực nghiên cứu

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu Đề tài nghiên cứu tại VQG Bù Gia Mập và xã Đăk Ơ - Huyện Bù Gia Mập - Tỉnh Bình Phước

Nghiên cứu tập trung vào các nhân tố môi trường, bao gồm tính chất vật lý và thuỷ văn của đất, cùng với một số loài động vật đất và cây bụi thảm tươi Những loài này khá nhạy cảm với sự biến đổi của môi trường.

Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Nghiên cứu biến đổi đặc điểm cấu trúc rừng khi chuyển rừng tự nhiên sang rừng cao su

- Nghiên cứu đặc điểm tầng cây cao

- Nghiên cứu đặc điểm tầng cây bụi thảm tươi

- Nghiên cứu đặc điểm lớp thảm khô

2.3.2 Nghiên cứu đặc điểm biến đổi môi trường đất, nước khi chuyển rừng tự nhiên sang rừng cao su a/ Nghiên cứu biến đổi môi trường đất khi chuyển các trạng thái rừng tự nhiên sang rừng trồng cao su

- Nghiên cứu đặc điểm độ xốp đất

- Nghiên cứu đặc điểm xói mòn đất

- Nghiên cứu đặc điểm biến đổi động vật đất

Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường đất tại rừng cao su cho thấy sự chuyển đổi từ rừng tự nhiên sang rừng trồng cao su có tác động đáng kể đến đặc điểm môi trường nước Việc hiểu rõ những biến đổi này là cần thiết để quản lý bền vững tài nguyên rừng và bảo vệ môi trường.

- Nghiên cứu biến đổi về độ ẩm đất

- Nghiên cứu biến đổi về dung tích chứa nước của đất

- Nghiên cứu biến đổi về tính thấm nước của đất

- Nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến môi trường nước ở rừng cao su

2.3.3 Nghiên cứu giải pháp bảo vệ môi trường khi chuyển rừng tự nhiên sang rừng trồng cao su a/ Nghiên cứu đặc điểm các biện pháp kỹ thuật liên quan đến biến đổi môi trường khi chuyển rừng tự nhiên sang rừng cao su

- Lựa chọn đất rừng để chuyển sang trồng cao su

- Bảo vệ thực vật b/ Những giải pháp bảo vệ môi trường đất, nước khi chuyển từ các trạng thái rừng tự nhiên sang rừng trồng cao su

Tác động đến môi trường là sự thay đổi về số lượng và chất lượng của các thành phần môi trường, có thể mang tính tích cực, tiêu cực, bình thường hoặc nguy hiểm Đánh giá tác động môi trường bao gồm việc phân tích, đánh giá và dự báo những ảnh hưởng đến môi trường từ một chiến lược, chính sách hoặc dự án, đồng thời đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm bảo vệ môi trường.

Đánh giá tác động môi trường không chỉ giúp xác định những ảnh hưởng đến môi trường mà còn cần đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu và khắc phục những tác động tiêu cực này.

Trồng rừng cao su và các hoạt động phát triển khác có thể gây tác động tiêu cực đến môi trường do ba nguyên nhân chính: khai thác quá mức tài nguyên, thải chất độc hại và tạo ra rủi ro môi trường Mức độ tác động này phụ thuộc vào công nghệ áp dụng trong hoạt động phát triển Do đó, việc đánh giá tác động môi trường cần phân tích kỹ lưỡng các khía cạnh công nghệ và kỹ thuật của hoạt động đó Qua phân tích này, ta có thể xác định ảnh hưởng của việc khai thác tài nguyên, lượng chất thải phát sinh và nguy cơ tiềm ẩn cho môi trường Điều này không chỉ giúp nhận diện các tác động mà còn hỗ trợ tìm ra nguyên nhân và giải pháp cần thiết để bảo vệ môi trường.

Trong đánh giá tác động môi trường, khi phát hiện tác động tiêu cực, người đánh giá cần đề xuất nhiều biện pháp bảo vệ môi trường khác nhau Các phương án này phải phù hợp với trình độ khoa học kỹ thuật, nhu cầu về nhân lực, thiết bị và yêu cầu kinh phí Điều này giúp các chủ thể phát triển lựa chọn giải pháp phù hợp nhất với hoàn cảnh của họ để bảo vệ môi trường.

Trồng rừng cao su là một hoạt động phát triển

Trồng rừng cao su là hoạt động phát triển nhằm khai thác tiềm năng đất đai, sản xuất nhựa và gỗ cao su để đáp ứng nhu cầu kinh tế xã hội Do đó, các giải pháp bảo vệ môi trường cần dựa trên phân tích tổng hợp về kinh tế và môi trường Theo quan điểm này, hoạt động phát triển có tác động tiêu cực đến môi trường vẫn có thể thực hiện nếu chi phí bảo vệ môi trường không vượt quá lợi ích kinh tế mang lại.

Rừng trồng cao su mang lại hiệu quả môi trường quan trọng, tác động tích cực đến đất, nước và không khí Đồng thời, rừng cũng góp phần bảo vệ đa dạng sinh học và giảm thiểu nguy cơ rủi ro môi trường như cháy rừng và dịch bệnh.

Trồng rừng cao su là hoạt động canh tác sử dụng đất, chủ yếu khai thác các thành phần môi trường như đất và nước Trong quá trình này, chất thải chủ yếu bao gồm dư lượng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, cùng với các chất phân huỷ từ cành khô, lá rụng và nhựa cao su Các rủi ro môi trường có thể xảy ra bao gồm thiệt hại cho thực vật và động vật do xử lý thực bì, làm đất, phòng trừ bệnh dịch, xói mòn và cháy rừng Do đó, nghiên cứu hiệu quả môi trường của trồng rừng cao su cần xem xét ảnh hưởng đến đất, nước, không khí, đa dạng sinh học và các rủi ro môi trường Việc thu thập và phân tích thông tin về các yếu tố này, cũng như so sánh với các địa điểm lân cận, là cần thiết để làm rõ hiệu quả môi trường của rừng trồng cao su.

Hiệu quả môi trường của trồng rừng cao su có thể tích cực, có thể tiêu cực phụ thuộc vào kỹ thuật trồng, chăm sóc và khai thác rừng

Rừng trồng cao su có những đặc điểm chung của các thảm thực vật khác, và hiệu quả môi trường của chúng phụ thuộc vào kỹ thuật trồng và chăm sóc Tương tự như các loại rừng trồng khác, tác động môi trường của rừng cao su có thể tích cực hoặc tiêu cực, tùy thuộc vào cách thức trồng và chăm sóc Do đó, để nghiên cứu hiệu quả môi trường của rừng trồng cao su, cần thu thập thông tin về toàn bộ quy trình trồng, chăm sóc và khai thác, đồng thời phân tích mối quan hệ giữa các yếu tố môi trường và những biến đổi do hoạt động trồng rừng gây ra.

Hiệu quả môi trường của rừng trồng cao su cần được đánh giá dựa trên sự so sánh với các trạng thái rừng và thảm thực vật khác Việc đánh giá tác động môi trường dựa vào hai nguồn tư liệu chính: chỉ số hiện trạng môi trường tại khu vực phát triển và tiêu chuẩn môi trường Khi thực hiện đánh giá, cần so sánh các chỉ số hiện trạng với tiêu chuẩn để đưa ra kết luận khác nhau dựa trên mức độ vượt quá tiêu chuẩn Phân tích nguyên nhân vượt tiêu chuẩn giúp xây dựng biện pháp bảo vệ môi trường Tuy nhiên, đánh giá tác động môi trường vẫn là nhiệm vụ mới và nhiều lĩnh vực chưa có tiêu chuẩn Trong trường hợp này, cần so sánh chỉ số môi trường tại khu vực dự án với khu vực không thực hiện dự án và các hoạt động phát triển khác Trồng rừng cao su ảnh hưởng đến nhiều thành phần môi trường như đất, nước và đa dạng sinh học Một số chỉ tiêu môi trường đã có tiêu chuẩn như cường độ xói mòn, nhưng nhiều chỉ tiêu khác như đa dạng sinh học và khả năng giữ nước vẫn chưa có Do đó, đánh giá tác động môi trường cho rừng trồng cao su cần dựa vào tiêu chuẩn hiện có và các chỉ số từ các mô hình sử dụng đất khác, đồng thời xem xét ngưỡng của các chỉ số môi trường để duy trì sự ổn định của các thành phần môi trường.

Trong đánh giá tác động môi trường của rừng trồng cao su, việc so sánh với các phương thức sử dụng đất khác như cà phê, nương rẫy và rừng trồng là cần thiết Rừng trồng keo tai tượng, được coi là có hiệu quả tích cực với môi trường, thường được sử dụng làm đối chứng trong các nghiên cứu này Khoảng 80% mô hình sử dụng đất được so sánh với rừng cao su là rừng keo tai tượng Hơn nữa, các chỉ tiêu môi trường của rừng cao su cũng được đối chiếu với chỉ tiêu của rừng tự nhiên trong cùng khu vực để xác định hiệu quả tác động của nó.

Giải pháp bảo vệ môi trường thông qua việc trồng rừng cao su khi chuyển đổi từ rừng tự nhiên cần tập trung vào việc điều chỉnh và bổ sung các kỹ thuật trồng cũng như chăm sóc rừng.

Theo quan điểm sinh thái, không có thực vật hay động vật nào gây hại cho môi trường, mà chính công nghệ nuôi trồng mới là nguyên nhân chính Tác động của rừng trồng cao su trên đất dốc phụ thuộc vào kỹ thuật trồng, chăm sóc và các giải pháp bảo vệ môi trường Đề tài này tập trung vào việc điều chỉnh và bổ sung kỹ thuật trồng và chăm sóc rừng nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường trong điều kiện địa hình dốc.

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

2.4.2.1 Phương pháp tổng hợp tài liệu về tác động của rừng trồng cao su đến môi trường

Tra cứu dữ liệu lưu trữ tại các cơ quan nghiên cứu và quản lý cao su:

ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU

Điều kiện tự nhiên

Vườn quốc gia Bù Gia Mập tọa lạc tại phía Bắc tỉnh Bình Phước, bao gồm các xã Đăk Ơ và Bù Gia Mập thuộc huyện Bù Gia Mập.

+ Phía Tây và Tây Bắc giáp sông Đăk Huýt, là ranh giới giữa Việt Nam và Campuchia

+ Phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đăk Nông

+ Phía Nam giáp Nông lâm trường Đăk Mai và Đăk Ơ

+ Từ 12 0 8'30" đến 12 0 7'3" vĩ độ Bắc

+ Từ 107 0 3'30" đến 107 o 4'30" kinh độ Đông

Vườn Quốc gia Bù Gia Mập có tổng diện tích tự nhiên là 25.926 ha, được xác nhận theo Quyết định số 11/2007/QĐ-UBND của UBND tỉnh Bình Phước, phê duyệt Quy hoạch 3 loại rừng giai đoạn 2006 – 2010.

3.1.2 Đặc điểm địa hình và địa mạo

Vườn quốc gia Bù Gia Mập, nằm ở đoạn cuối dãy Trường Sơn Nam, là khu vực chuyển tiếp giữa vùng đồi núi và núi thấp, với độ cao giảm dần từ Đông Bắc sang Tây Nam Vùng này thuộc sườn đồi Tây Nam cao nguyên Bù Rang, Đăk Nông, có độ cao từ 850 đến 950m, với điểm cao nhất đạt 738m và điểm thấp nhất 150m tại suối Đăk Huýt Địa hình bị chia cắt mạnh bởi các sông suối, tạo điều kiện thuận lợi cho xây dựng công trình thủy lợi, nhưng cũng gây khó khăn cho việc tuần tra bảo vệ rừng và thi công, đặc biệt ở những khu vực không có đường giao thông Đặc điểm địa mạo chủ yếu là đồi lượn sóng và đồi núi thấp, với lớp phong hoá dày tại các sườn và đỉnh đồi, cùng với địa hình tích tụ dọc theo các suối.

Thổ nhưỡng tại VQG Bù Gia Mập thuộc nhóm đất đỏ vàng, đặc trưng bởi cường độ feralit hoá tự hình Mặc dù phát triển trên các loại đá gốc khác nhau, nhưng quá trình feralit là yếu tố chủ yếu trong hình thành đất Đất nâu đỏ thể hiện quá trình feralit hóa mạnh mẽ, trong khi đất nâu vàng có quá trình feralit hóa yếu hơn.

Vườn quốc gia Bù Gia Mập chủ yếu có nhóm đất đỏ vàng, hình thành từ quá trình phong hóa bazan, cùng với một lượng nhỏ đất phát triển trên đá phiến Trong khu vực này, có ba nhóm phụ đất khác nhau.

Đất đỏ nâu, hay còn gọi là Feralit nâu đỏ, là loại đất tự hình phát triển trên bazan, với đặc điểm là chưa và ít phân dị Loại đất này có tầng sâu trên 100cm và có thành phần cơ giới từ thịt đến sét nặng.

Đất nâu vàng (Fb2), hay còn gọi là đất Feralit nâu vàng, chiếm diện tích nhỏ ở phía Nam Vườn quốc gia, giáp lâm trường Bù Gia Mập Đây là loại đất tự hình phát triển trên nền bazan chưa và ít phân dị, với thành phần cơ giới tương tự như các loại đất khác trong khu vực.

Đất vàng trên phiến sét - Fp1 được hình thành từ đất trầm tích cổ với quá trình feralit yếu, có tầng đất mỏng và nghèo dinh dưỡng Loại đất này chiếm diện tích rất nhỏ, ít hơn cả loại Fb2, không có tầng kết von và đáy phẫu diện là đá gốc mục nát, không phân tầng rõ rệt Đất này phân bố hẹp tại cực Tây Nam và một vài điểm ven suối Đak Ca, Đak Huýt Tại VQG Bù Gia Mập, đất có thành phần cơ giới từ thịt đến sét nặng, chặt và có đặc điểm hóa học riêng.

Đất có pH từ 4,5 đến 5,7 thường là loại đất chưa hoặc ít phát triển trên nền bazan, thể hiện tính chất hơi chua và độ pH thấp, đặc biệt ở các khu vực rừng bị tác động.

+ Độ tích tụ mùn nằm trong khoảng 2,0 - 5,1% Tại các khu vực rừng bị tác động, lượng mùn giảm đáng kể

+ P, K phần trăm tổng số: N có hàm lượng từ trung bình đến trên trung bình

Hàm lượng P trong đất dao động từ 0,11% đến 0,29%, với mức trung bình từ 0,11% đến 0,19%, đặc biệt tại khu vực không có rừng ở đỉnh đồi có hàm lượng rất thấp chỉ 0,06% Trong khi đó, hàm lượng K trong đất nhìn chung là nghèo, thấp hơn 0,1%.

+ N, P, K dễ tiêu có hàm lượng trung bình, không có nhiều biến đổi

Khả năng trao đổi cation (CEC) của đất nằm trong khoảng từ 15,25 đến 29,50 me/100g, cho thấy mức độ trung bình đến cao Hàm lượng Al3+ ở mức thấp đến trung bình, trong khi Fe3+ ở mức trung bình đến cao, điều này chỉ ra rằng quá trình feralit hóa đang diễn ra Sự kết von của đất có thể dễ dàng xảy ra trong các điều kiện thích hợp, như là khi mất rừng.

Đất tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập có đặc điểm của vùng đất bazan đồi núi thấp Đông Nam Bộ, với độ dinh dưỡng trung bình, phụ thuộc vào lớp phủ thực vật Khi còn rừng, độ dinh dưỡng cao, nhưng mất rừng dẫn đến giảm mạnh độ dinh dưỡng do xói mòn và rửa trôi chất hữu cơ, khoáng, đặc biệt ở khu vực đồi núi dốc.

3.1.4 Đặc điểm khí hậu, thủy văn

Theo dữ liệu từ Trạm khí tượng Phước Long, nhiệt độ bình quân nhiều năm đạt 25,7°C, với nhiệt độ cao nhất trong tháng là 28,8°C và nhiệt độ thấp nhất trung bình tháng là 22,7°C Mặc dù nhiệt độ bình quân các tháng trong năm không chênh lệch nhiều, nhưng sự chênh lệch giữa nhiệt độ ban ngày và ban đêm thường dao động từ 8°C đến 10°C.

Bảng 3.1 Nhiệt độ trung bình hàng tháng và cả năm tại trạm Phước Long

Độ ẩm tương đối trung bình hàng năm tại Phước Long đạt 79,9% Trong đó, độ ẩm cao nhất ghi nhận trong tháng là 93,0%, trong khi độ ẩm thấp nhất trung bình tháng là 63,0%.

Tháng Nhiệt độ bình quân

Nhiệt độ ở mức Cao nhất

Nhiệt độ ở mức Thấp nhất

Độ ẩm không khí thường tăng cao trên 80% trong các tháng mùa mưa, trong khi đó, vào mùa khô, độ ẩm giảm xuống và dao động từ 70% đến 75%.

Bảng 3.2 Độ ẩm không khí bình quân trạm Phước Long (%)

Tháng Độ ẩm bình quân Độ ẩm bình quân cao nhất Độ ẩm bình quân thấp nhất

(Nguồn Đài khí tượng thuỷ văn Phước Long năm 2009) 3.1.4.3 Lượng bốc hơi

Theo số liệu đo đạc tại trạm Phước Long, lượng bốc hơi bình quân năm của vùng khoảng 1130,1 mm

Điều kiện dân sinh - Kinh tế - Xã hội

Theo nguồn số liệu của Phòng Giáo dục Môi trường và Du lịch Sinh thái VQG

Tính đến tháng 5/2009, dân số tại các xã xung quanh Vườn quốc gia Bù Gia Mập đạt 3.889 hộ với tổng cộng 18.376 nhân khẩu, bao gồm xã Đăk Ơ và Bù Gia Mập thuộc tỉnh Bình Phước, cùng xã Quảng Trực tỉnh Đăk Nông.

Phân chia theo đơn vị hành chính:

+ Xã Bù Gia Mập : 4.899 khẩu

Trong Vườn quốc gia, có 31 hộ dân nằm trong vùng lõi, chủ yếu tập trung dọc theo trục lộ 741 và trung tâm xã Bù Gia Mập Đây là vấn đề quan trọng cần được xem xét trong quy hoạch xây dựng và phát triển VQG trong giai đoạn tới.

Phân chia theo dân tộc

Tổng số lao động trên địa bàn là 1.800 người nhưng hầu hết là lao động phổ thông không qua các trường lớp đào tạo

Thấp với tỷ lệ mù chữ cao

+ Hộ nghèo có tỷ lệ 70% số người biết đọc biết viết và 30% mù chữ

+ Hộ trung bình có 87% biết đọc biết viết và 13% mù chữ

+ Hộ khá giả có tỷ lệ người biết đọc biết viết lên tới 99%

Người Tày và người Nùng có tỷ lệ biết đọc biết viết cao, đạt 90%, trong khi đó, người S’tiêng và người M’nông chỉ đạt 70% Đặc biệt, dân tộc Kinh có tỷ lệ biết đọc biết viết lên tới 99%.

Bình quân thu nhập đầu người 2.400.000 đồng/người/năm

Mỗi xã đều có trường cấp I và cấp II, 1 trạm xá (05 gường bệnh) và 01 trạm bưu điện

Trong VQG Bù Gia Mập, có 1km đường nhựa từ ĐT 741 vào trung tâm xã Bù Gia Mập, đánh dấu ranh giới phía Nam của vườn quốc gia Hệ thống đường liên tỉnh ĐT 741 chạy theo hướng Đông – Tây, kéo dài 20Km qua Vườn quốc gia.

Với mật độ dân cư thấp và quỹ đất nông nghiệp phong phú, khu vực này có tiềm năng phát triển kinh tế công nông nghiệp, góp phần củng cố an ninh quốc phòng biên giới Tuy nhiên, trình độ dân trí và ý thức bảo vệ rừng của người dân còn hạn chế, cùng với sản xuất nông nghiệp lạc hậu, khiến nhiều hộ dân xung quanh VQG sống trong nghèo đói, dẫn đến tình trạng phá rừng Hệ thống giao thông cũng còn hạn chế, gây khó khăn cho công tác bảo vệ rừng.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Ngày đăng: 21/06/2021, 06:28

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w