1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu ảnh hưởng của các mức phân đạm, tuổi mạ đến sinh trưởng vμ năng suất giống lúa hương cốm trong điều kiện quản lý nước tiết kiệm trên đất gia lâm hà nội

148 523 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu ảnh hưởng của các mức phân đạm, tuổi mạ đến sinh trưởng và năng suất giống lúa hương cốm trong điều kiện quản lý nước tiết kiệm trên đất Gia Lâm - Hà Nội
Tác giả Dương Quang Sáu
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Văn Dung
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Trồng trọt
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 148
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn thạc sĩ, tiến sĩ, cao học, luận văn

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học nông nghiệp hà nội

-

Dương quang sáu

Tìm hiểu ảnh hưởng của các mức phân đạm, tuổi mạ đến sinh trưởng và năng suất giống lúa hương cốm trong điều kiện quản lý nước

tiết kiệm trên đất Gia Lâm - Hà Nội

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đ0

được cảm ơn và các thông tin trích dẫn đ0 được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Dương Quang Sáu

Trang 3

Lời cảm ơn

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Nguyễn Văn Dung, người đ0 trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực tập Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Bộ môn Cây lương thực - Khoa Nông học, Bộ môn Tài nguyên nước - Khoa Tài nguyên và Môi trường, Khoa Sau đại học, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đ0 tận tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến tất cả những bạn bè, người thân và gia

đình đ0 tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình hoàn thành luận văn

Với lòng biết ơn sâu sắc, một lần nữa tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó

Hà Nội, ngày tháng năm 2008

Tác giả luận văn

Dương Quang Sáu

Trang 4

Môc lôc

Danh môc ch÷ viÕt t¾t

Danh môc b¶ng

Danh môc h×nh

2.1 T×nh h×nh s¶n xuÊt lóa nãi chung vµ diÖn tÝch lóa chÊt l−îng cao nãi

2.2 T×nh h×nh th©m canh, sö dông ph©n, n−íc, gièng chÊt l−îng cao ë

2.3 TriÓn väng vÒ lóa chÊt l−îng cao vµ øng dông trong s¶n xuÊt

Trang 5

4.1 ảnh hưởng của các mức phân đạm và tuổi mạ đến khả năng sinh

4.4 ảnh hưởng của các mức phân đạm và tuổi mạ đến các yếu tố cấu

Trang 6

Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t

ha : Hecta IRRI : ViÖn nghiªn cøu lóa quèc tÕ LAI : ChØ sè diÖn tÝch l¸

NAR : Kh¶ n¨ng tÝch luü chÊt kh«

NSLT : N¨ng suÊt lý thuyÕt NSSVH : N¨ng suÊt sinh vËt häc

NSTT : N¨ng suÊt thùc thu NXB : Nhµ xuÊt b¶n SRI : HÖ thèng th©m canh lóa míi

TK : Thêi kú

Trang 7

4.1 ảnh hưởng của các mức phân đạm và tuổi mạ đến động thái

4.2 ảnh hưởng của các mức phân đạm và tuổi mạ đến động thái

4.3 ảnh hưởng của các mức phân đạm và tuổi mạ đến động thái đẻ

4.4 ảnh hưởng của các mức phân đạm và tuổi mạ đến động thái đẻ

4.5 ảnh hưởng của các mức phân đạm và tuổi mạ đến hệ số đẻ nhánh 474.6 ảnh hưởng của các mức phân đạm và tuổi mạ đến chỉ số diện

4.10 ảnh hưởng của các mức phân đạm và tuổi mạ đến các yếu tố

4.11 ảnh hưởng của các mức phân đạm và tuổi mạ đến các yếu tố

Trang 8

cấu thành năng suất trong vụ xuân 2008 624.12 ảnh hưởng của các mức phân đạm và tuổi mạ đến năng suất và

4.13 Hiệu quả sử dụng phân đạm của giống lúa Hương Cốm 664.14 Hiệu quả sử dụng nước quy thóc của giống lúa Hương Cốm 70

Danh mục hình

4.1 Diễn biến độ sâu mực nước trên mặt ruộng, lượng nước tưới và mưa

4.2 Diễn biến độ sâu mực nước trên mặt ruộng, lượng nước tưới và mưa

Trang 9

1 Mở đầu

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Cây lúa (Oryza sativa.L) là cây lương thực quan trọng của nhiều quốc gia, trên toàn thế giới có khoảng 50% dân số sử dụng lúa làm thức ăn hàng ngày Gần 100% dân số các nước Đông Nam Châu á và Châu Mỹ La Tinh sử dụng lúa làm lương thực chính của mình

ở Việt Nam, lúa là cây lương thực chính trong sản xuất nông nghiệp,

đảm bảo lương thực cho 82 triệu dân và đóng góp vào xuất khẩu Nông nghiệp Việt Nam có một vị trí hết sức quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, chính vì vậy từ trước đến nay Đảng và Nhà nước rất quan tâm và có những chủ trương

đúng đắn để đẩy nhanh sự phát triển kinh tế, x0 hội cho khu vực này Đặc biệt,

từ sau nghị quyết X của Trung ương trong sản xuất nông nghiệp có những bước phát triển vượt bậc Từ một nước thiếu ăn phải nhập khẩu lương thực đến nay không những sản xuất đủ nhu cầu lương thực trong nước mà còn có phần dư cho xuất khẩu Năm 1997 Việt Nam đ0 trở thành quốc gia xuất khẩu gạo

đứng thứ 2 trên thế giới sau Thái Lan Tuy nhiên, nền nông nghiệp nước ta vẫn còn lạc hậu, cơ sở sản xuất còn nghèo nàn thiếu thốn, năng suất bình quân thấp hơn so với nhiều nước khác Một trong những nguyên nhân là do có khá nhiều vùng trồng lúa không chủ động được nước đ0 ảnh hưởng đến năng suất lúa bình quân Mặt khác, tuy nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới song

có những tiểu vùng chịu ảnh hưởng của hiện tượng khô nóng kéo dài (mùa khô khoảng 8 - 9 tháng/năm) và có chỉ số độ ẩm bình quân cả năm chỉ đạt

được ở mức dưới 0,6 đây là những vùng có nguy cơ tiềm ẩn hạn hán cao

Đồng bằng Sông Hồng bao gồm 11 tỉnh với diện tích đất tự nhiên 1.497.500 ha (chiếm 4,5% diện tích đất tự nhiên của cả nước) Trong đó diện

Trang 10

tích đất nông nghiệp là 857.600 ha (chiếm 9,2% đất nông nghiệp của cả nước), là vùng đồng bằng lớn thứ hai với ngành sản xuất nông nghiệp chính là lúa nước Đất canh tác của vùng Đồng bằng Sông Hồng có độ phì nhiêu cao,

điều kiện khí hậu thời tiết thuận lợi, địa hình tương đối bằng phẳng, hệ thống tưới tiêu chủ động Hàng năm diện tích trồng lúa khoảng 1,2 triệu ha, cho sản lượng thóc từ 5,10 triệu tấn (1995) đến 6,68 triệu tấn (2002) tương đương khoảng 20% sản lượng lương thực của cả nước và được coi là vựa lúa của Miền Bắc Năng suất lúa trung bình ở Đồng bằng Sông Hồng cũng tăng nhanh, vụ xuân tăng từ 47,1 tạ/ha (1995) đến 59 tạ/ha (2002) và lúa mùa 41,7 tạ/ha (1995) đến 51,9 tạ/ha (2002) Để đạt được những thành tựu trên trước hết

là nhờ vào sự nỗ lực của hàng triệu người dân trồng lúa của vùng này, cùng với những đóng góp của các tiến bộ khoa học kỹ thuật thâm canh giống và quản lý dinh dưỡng, tưới tiêu và phòng trừ dịch hại tổng hợp

Hiện nay, việc sử dụng phân bón cho lúa đang được nông dân áp dụng ở những vùng thâm canh chủ yếu dựa vào các loại phân khoáng N, P, K và cách

sử dụng phân còn nhiều bất hợp lý như: bón không cân đối, hiện tượng sử dụng đạm quá mức trong khi lượng phân hữu cơ được sử dụng ở mức rất thấp

và các loại phân P và K đôi khi không được đáp ứng đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng của lúa Do vậy, cây lúa không phát huy hết tiềm năng về năng suất của giống Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài đề tài:

“Tìm hiểu ảnh hưởng của các mức phân đạm, tuổi mạ đến sinh trưởng và năng suất giống lúa Hương Cốm trong điều kiện quản lý nước tiết kiệm trên đất Gia Lâm - Hà Nội”

1.2 Mục đích nghiên cứu

Xác định được mức phân đạm và tuổi mạ thích hợp trong điều kiện quản

lý nước tiết kiệm góp phần xây dựng qui trình kỹ thuật thâm canh lúa mới ở Việt Nam

Trang 11

1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

1.3.1 ý nghĩa khoa học

- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học về

ảnh hưởng của các mức phân đạm, tuổi mạ đến sinh trưởng và năng suất lúa trong điều kiện quản lý nước tiết kiệm tại Hà Nội

- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ làm tài liệu tham khảo và giảng dạy về

hệ thống thâm canh lúa mới ở Vịêt Nam

1.3.2 ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp các nhà khoa học đề xuất một số biện pháp kỹ thuật áp dụng trong quy trình kỹ thuật thâm canh lúa mới nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất lúa ở Việt Nam

Trang 12

2 Tổng quan tài liệu

2.1 Tình hình sản xuất lúa nói chung và diện tích lúa chất lượng cao nói riêng 2.1.1 Tình hình sản xuất lúa nói chung

Nhiều nhà khoa học cho rằng, cây lúa trồng có nguồn gốc ở đông nam châu á, trong đó ấn Độ, Miến Điện và Việt Nam là những nơi xuất hiện nghề trồng lúa đầu tiên của loài người

Sản xuất lúa trên thế giới giai đoạn 2001- 2005 (số liệu của FAO năm 2006) [49]:

- Có 114 nước trồng lúa và phân bố ở tất cả các Châu lục trên thế giới Trong

đó, Châu Phi có 41 nước trồng lúa, Châu á - 30 nước, Bắc Trung Mỹ - 14 nước, Nam Mỹ - 13 nước, Châu Âu - 11 nước và Châu Đại Dương - 5 nước

- Diện tích lúa biến động và đạt khoảng 152.000 triệu ha, năng suất lúa bình quân xấp xỉ 4,0 tấn/ha

- ấn Độ là nước có diện tích trồng lúa lớn nhất 44.790 triệu ha, ngược lại Jamaica là nước có diện tích trồng lúa thấp nhất 24 ha

- Năng suất lúa cao nhất đạt 9,45 tấn/ha tại Australia và thấp nhất là 0,9 tấn/ha tại IRAQ

Bảng 2.1 Sản lượng lúa của thế giới và các Châu lục giai đoạn 2001- 2005

569.035 515.255 3.210 1.218 19.601 12.195 17.556

584.272 530.736 2.260 1.457 19.973 11.623 18.223

606.268 546.919 2.468 1.574 23.726 12.816 18.765

618.441 559.349 2.340 1.344 24.020 12.537 18.851 Nguồn: Số liệu thống kê của FAO, 2006 [49]

Trang 13

Giai đoạn 2001- 2005, sản lượng lúa thế giới đều tăng, năm 2005 đạt 618.441 triệu tấn Trong đó, sản lượng lúa Châu á đạt 559.349 triệu tấn chiếm 90,45%; tương tự ở Nam Mỹ- 24.020 triệu tấn (3,88%); ở Châu Phi- 18.851 triệu tấn( 3,04%); ở Bắc Trung Mỹ- 12.537 triệu tấn ( 2,03%); ở Châu Âu và Châu Đại Dương- 3.684 triệu tấn ( 0,6%)

Như vậy, lúa gạo nuôi khoảng 3 tỉ người trên thế giới, phần lớn lúa gạo trên thế giới được tiêu thụ bởi những nông dân trồng lúa Sản lượng lúa gia tăng trong thời gian qua đ0 mang lại sự an sinh Ngày 16/12/2002, kỳ họp thứ

57 hàng niên của Hội đồng Liên hiệp Quốc đ0 chọn năm 2004 là năm Lúa gạo Quốc tế với khẩu hiệu Cây lúa là Cuộc sống

Ước tính đến năm 2030 sản lượng lúa của thế giới phải tăng thêm 60% so với sản lượng năm 1995 Về mặt lý thuyết, lúa có khả năng cho sản lượng cao hơn nếu điều kiện canh tác như hệ thống tưới tiêu, chất lượng đất, biện pháp thâm canh và giống được cải thiện [49]

Dân số hiện nay của thế giới đ0 là hơn 6 tỷ người Con số này sẽ đạt tới

8 tỷ vào năm 2030 Trong khi dân số tăng thì diện tích đất canh tác bị thu hẹp dần do đất được chuyển sang các mục đích sử dụng khác áp lực của tăng dân

số cùng với áp lực từ thu hẹp diện tích đất trồng trọt lên sản xuất lương thực của thế giới ngày càng tăng Cách duy nhất để con người giải quyết vấn đề này là ứng dụng khoa học kỹ thuật tìm cách nâng cao năng suất các loại cây trồng [48]

Cây lúa là cây lương thực chính trong mục tiêu phát triển nông nghiệp của Việt Nam để đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia và xuất khẩu Hiện nay diện tích trồng lúa cả nước từ 7,3 đến 7,5 triệu ha, năng suất trung bình 46 ha, sản lượng giao động trong khoảng 34,5 triệu tấn/năm, xuất khẩu chưa ổn định từ 2,5 triệu đến 4 triệu tấn/năm Trong giai đoạn tới sẽ duy trì ở mức 7,0 triệu ha, phấn đấu năng suất trung bình 50 tạ/ha, sản lượng lương thực

35 triệu tấn và xuất khẩu ở mức 3,5 - 4 triệu tấn gạo chất lượng cao [47]

Trang 14

Hiện nay, nước ta đ0 xuất gạo sang hơn 85 nước, trong đó khu vực Châu á

và Châu Mỹ là thị trường tiêu thụ lớn nhất Việt Nam đứng thứ 2 về xuất khẩu gạo sau Thái Lan và trong tương lai xuất khẩu vẫn là tiềm năng lớn của chúng ta Tuy nhiên, chất lượng gạo của ta vẫn còn kém: bạc bụng, dài trung bình, hương

vị kém Nguyên nhân sâu xa của tình trạng này là chưa có được bộ giống chất lượng cao Trong khi đó, xu hướng yêu cầu gạo phẩm chất cao trên thị trường Châu á và Châu Mỹ ngày càng tăng Bên cạnh mục tiêu đề ra năm 2005 cả nước xuất khẩu từ 3,5 - 3,8 triệu tấn gạo/năm và năm 2010 xuất khẩu được 4 - 4,5 triệu tấn thì đề án quy hoạch 1,5 triệu ha lúa chất lượng cao đạt 5 triệu tấn gạo ngon/năm ở Đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long là đề án sẽ nâng tổng kim ngạch xuất khẩu gạo tăng từ 735 triệu USD như hiện nay lên 1176 triệu USD và

sẽ mang lại l0i từ làm lúa cho nông dân đồng bằng sông Cửu Long tăng từ 3.775

tỷ đồng lên gần 11 tỷ đồng (Nguyễn Tài, 1996) [24]

2.1.2 Tình hình sản xuất lúa chất lượng cao ở Việt Nam

Sản xuất lúa chất lượng cao đang là hướng đi bền vững trong cả nước Chỉ riêng x0 Trường Long A (Long An) có đến 950 ha được nông dân sử dụng giống lúa chất lượng cao trong đó có 450 ha được hợp đồng bao tiêu sản phẩm Diện tích lúa tẻ thơm ở Việt Nam chiếm khoảng 1,2% trong tổng diện tích lúa toàn quốc (khoảng 80.000 ha), trong đó vụ xuân 30.000 ha, vụ mùa 50.000

ha ở miền Bắc, hai tỉnh Nam Định và Thái Bình là vùng trồng lúa tẻ thơm nhiều nhất chiếm khoảng 30% toàn vùng

ở vùng Trung Bộ, diện tích trồng lúa thơm không đáng kể, chiếm khoảng 10% sản lượng lúa tẻ thơm của Việt Nam với sản lượng 25.000 tấn

Các tỉnh miền Nam trồng lúa tẻ thơm phục vụ cho tiêu dùng và xuất khẩu chiếm 35% so với sản lượng toàn quốc (khoảng 105.000 tấn) (Lê Vĩnh Thảo, Bùi Chí Bửu, Lưu Ngọc Trình, Nguyễn Văn Vương, 2004) [27]

Nhiều giống lúa tẻ thơm địa phương có những đặc điểm chung là thời gian

Trang 15

sinh trưởng dài, phản ứng chặt chẽ với ánh sáng ngày ngắn, chỉ cấy một vụ trong năm, mức thâm canh trung bình hoặc thấp, dễ bị đổ ng0 và nhiễm một số đối t-

ượng sâu bệnh Các giống này thích nghi cao trong những điều kiện nhất định,

đặc biệt điều kiện khó khăn: úng, trũng, phèn, mặn Các giống lúa tẻ thơm địa phương có đặc điểm quý là phẩm chất gạo tốt, hạt thon dài, cơm dẻo, ngọt, thơm Nhiều giống lúa mùa có tỷ lệ gạo trắng cũng như tỷ lệ gạo nguyên cao hơn các giống lúa cao sản (Bùi Chí Bửu, Nguyễn Thị Lang, 1999) [3]

Lúa tẻ thơm Việt Nam được phân bố rộng từ Bắc vào Nam, từ đồng bằng đến miền núi Thời gian trước đây, lúa tẻ thơm ở miền Bắc được chia thành hai nhóm: lúa tám và lúa nương (Lê Vĩnh Thảo, 2003) [26] Hiện nay trong sản xuất tồn tại nhiều giống lúa tẻ thơm cải tiến có dạng thấp cây, hạt màu vàng đến nâu, cơm thơm và ngon như các giống HT1, LT2, Bắc thơm số

7, DT122, Việt Hương Chiêm, là những giống lúa nhập nội từ Trung Quốc và lai tạo tại Việt Nam Các giống lúa tẻ thơm cải tiến có năng suất cao, không phản ứng với ánh sáng ngày ngắn nên bố trí sản xuất được hai vụ trong năm nên diện tích trồng lúa tẻ thơm của cả nước ngày càng phát triển phục vụ nhu cầu ngày càng tăng của người dân Việt Nam đồng thời tham gia xuất khẩu gạo

đứng thứ hai trên thế giới Năm 2005, Việt Nam xuất khẩu được 5,2 triệu tấn gạo, cao nhất từ trước đến nay

*Gieo trồng và tiêu thụ lúa chất lượng cao ở miền Nam

Các giống lúa tẻ thơm như Nanh Chồn, Thơm Nhỏ, Nàng Hương, Nàng Nhen, Nàng Thơm Chợ Đào, Xương Gà ở miền Nam được sản xuất nhiều ở các tỉnh Long An, Thành phố Hồ Chí Minh, Sóc Trăng, An Giang, Bến Tre,

Cà Mau

Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam, Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long có các công trình khoa học đ0 tập trung nghiên cứu, chọn tạo các giống lúa hạt dài phục vụ xuất khẩu Kết quả trong 10 năm qua, nhiều giống lúa mới năng suất cao đ0 đáp ứng xuất khẩu và tiêu thụ trong nước (Bùi Chí Bửu, 2000) [4]

Trang 16

Giống lúa tẻ thơm ở miền Nam thường có hạt dài, thon, dạng Indica (Lê Vĩnh Thảo, Bùi Chí Bửu, Lưu Ngọc Trình, Nguyễn Văn Vương, 2004) [27]

* Gieo trồng và tiêu thụ lúa tẻ thơm ở miền Bắc

Hiệp hội Xuất khẩu Lương thực Việt Nam cho biết, xuất khẩu gạo thơm

và gạo nếp của Việt Nam tăng kỷ lục và đạt trên 100.000 tấn từ đầu năm đến nay, tăng 25.000 tấn so với cả năm 2003 Loại gạo thơm giống Khawdakmali

có giá trị xuất khẩu cao nhất với giá 400 USD/tấn Các loại gạo khác có giá xuất khẩu cao như gạo nếp 240 - 250 USD/tấn, Hương Nhài 240 USD/tấn, trong khi gạo 5% tấm chỉ xuất khẩu với giá 220-225 USD/tấn Hiện nay, diện tích lúa thơm của cả nước khoảng 115.000 ha, tập trung chủ yếu ở các tỉnh

Đồng bằng sông Cửu Long [47]

Nhiều giống lúa tẻ thơm, nếp thơm gieo trồng mở rộng trong 6 năm trở lại đây như Bắc thơm số 7, HT1, N99, Chiêm Hương Giống lúa HT1 được nông dân chấp nhận và quy mô ngày càng được nhân rộng Giá trị lúa tẻ thơm ở các tỉnh Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh cao hơn lúa tẻ thường từ 20 – 30%

Giống lúa Tám Thơm thường được trồng trên chân ruộng nhiều dinh dưỡng, được phù sa bồi đắp hàng năm, nhưng có những giống thích hợp trên ruộng xấu hơn Năm 1964, lúa Tám chiếm 22% diện tích canh tác lúa ở Bắc

Bộ (Bùi Huy Đáp, 1999) [6] Bằng phương pháp phân tích isozyme, phân tích khoảng cách di truyền, các giống lúa tám thơm Việt Nam lần đầu tiên được xác định thuộc nhóm Japonica (Lưu Ngọc Trình, 1999) [29]

Trong các giống lúa tám quý nhất là giống Tám Xoan và Tám Thơm, Tám ấp bẹ Các giống lúa tám đều phản ứng chặt chẽ với ánh sáng ngày ngắn, gieo cấy tháng 7, thu tháng 12 hàng năm Các loại lúa tám có hạt màu vàng t-

ươi, thời gian sinh trưởng xung quanh 150 ngày, là giống mùa chính vụ Giống lúa Tám Xoan có thời gian sinh trưởng từ 155 – 165 ngày, là giống mùa muộn, màu hạt dài, vàng sẫm Giống lúa Tám Xoan và Tám Thơm có chất l-

ượng gạo cao nhất trong các giống lúa vụ mùa ở Đồng bằng Bắc Bộ Hai

Trang 17

giống lúa này khó trồng đòi hỏi ruộng tốt, hạt dai khó rụng, diện tích gieo trồng hai giống lúa này trước đây tương đối hẹp (Bùi Huy Đáp, 1980 [9] Để lúa mùa đạt năng suất cao cần thực hiện nghiêm ngặt các quy trình canh tác và thời vụ gieo cấy (Nguyễn Văn Hoan, 1999) [13] Dự kiến mở rộng 300.000 ha lúa chất lượng ở đồng bằng Sông Hồng là chủ trương của Bộ Nông nghiệp & PTNT trong thời gian tới (Vũ Tuyên Hoàng, 1999) [14]

Các tỉnh Bắc Bộ đang sản xuất các giống lúa tẻ thơm nhập nội từ Trung Quốc như Bắc Thơm số 7, Việt Hương Chiêm, Quá Dạ Hương, mặc dù chất lượng của các giống giống này không bằng các giống lúa mùa đặc sản nhưng đây là những giống lúa ngắn ngày có thể trồng được 2 vụ trong năm, năng suất tương đối cao và được nông dân nhiều vùng chấp nhận (Nguyễn Văn Hoan, 1999) [13]

2.2 Tình hình thâm canh, sử dụng phân, nước, giống chất lượng cao ở trên thế giới và Việt Nam

2.2.1 Tình hình thâm canh, sử dụng phân, nước, giống chất lượng cao trên

thế giới

* Tình hình nghiên cứu về sử dụng đạm

Đạm đóng vai trò quan trọng trong đời sống cây lúa, giữ vị trí đặc biệt trong việc tăng năng suất lúa Tại các bộ phận non của cây lúa có hàm lượng

đạm cao hơn các các bộ phận già Đạm là một trong những nguyên tố hóa học cơ bản của cây lúa, đồng thời cũng là yếu tố cơ bản trong quá trình phát triển của tế bào và các cơ quan rễ, thân, lá

Đạm có tác dụng mạnh trong thời gian đầu sinh trưởng và tác dụng rõ nhất của đạm đối với cây lúa là làm tăng hệ số diện tích lá và tăng nhanh số nhánh đẻ Tuy nhiên, hiệu suất quang hợp và hiệu suất nhánh đẻ hữu hiệu có ngưỡng nhất định nên khi sử dụng đạm cần phải chú ý điều chỉnh lượng bón và thời điểm bón đạm cho cây lúa Nếu thiếu đạm, cây lúa thấp, đẻ nhánh kém, phiến lá nhỏ, hàm lượng diệp lục giảm, lá lúa ngả màu vàng và lúa sẽ trỗ sớm

Trang 18

hơn, số bông và số lượng hạt ít hơn, năng suất lúa bị giảm Nếu bón nhiều đạm

và trong điều kiện ruộng thừa chất dinh dưỡng cây lúa thường dễ hút đạm, dinh dưỡng thừa đạm sẽ làm cho lá lúa to, dài, phiến lá mỏng, nhánh lúa đẻ vô hiệu nhiều, lúa sẽ trỗ muộn, cây cao vóng dẫn đến hiện tượng lúa lốp, đổ non dẫn

đến năng suất, hiệu suất lúa không cao Cây lúa hút đạm nhiều nhất vào hai thời kỳ: thời kỳ đẻ nhánh và thời kỳ làm đòng [10]

Theo S.Yoshida (1975) [41], đạm là yếu tố quan trọng nhất đối với lúa Cây lúa phản ứng với đạm rõ hơn so với lân và kali Đạm thúc đẩy sự tăng trưởng nhanh (tăng theo chiều cao cây và số nhánh), tăng kích thước lá, số hạt/bông, tỷ lệ hạt chắc và hàm lượng protêin trong hạt Vì vậy đạm ảnh hưởng tới tất cả các đặc tính góp phần tạo năng suất

Theo S.Yoshida (1985) [41] việc cây lúa hút đạm ở thời kỳ này quyết ủịnh tới 74% năng suất lúa Ngoài ra lúa cũng cần nhiều ủạm trong thời kỳ phân hóa đòng và phát triển đòng thành bông tạo các bộ phận sinh sản

Theo De.Datta (1978) [33] cung cấp ủủ ủạm cho lúa khi cấy và khi làm ủòng sẽ làm tăng số nhánh và số bông, khi cây lúa hút đạm ở thời kỳ hình thành bông sẽ làm tăng tỷ lệ hạt chắc trên bông, hút ủạm sau giai ủoạn phân hóa đòng sẽ làm tăng trọng lượng hạt

Tác giả S.Yoshida (1978) [41] cho rằng: ở các nước nhiệt ủới, lượng các chất dinh dưỡng N, P, K cần ủể tạo một tấn thóc khô trung bình là 20,5 kg

N + 5,5 kg P2O5 + 44 kg K2O Tỷ lệ hút ủạm tuỳ theo từng chất ủất, phương pháp, số lượng, thời gian bón ủạm và các kỹ thuật quản lý khác Ở các vùng nhiệt ủới hiệu suất sử dụng ủạm ủối với sản lượng hạt vào khoảng 50g chất khô/1kg ủạm hút ủược

Theo Cooke, 1975 [32]: khi nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón tới năng suất và chất lượng hạt lúa đ0 kết luận Năng suất của các giống lúa tăng dần theo lượng đạm bón, nếu bón 100 - 150 kg N/ha có thể tăng năng suất từ 10,34 lên 38,92 tạ/ha

Trang 19

* Những kết quả nghiên cứu về tuổi mạ

Đối với lúa gieo thẳng (lúa sạ), sau thời kỳ nảy mầm là thời kỳ cây con rồi bước vào thời kỳ đẻ nhánh khi cây có 4 - 5 lá thật Còn ở lúa cấy thì phải qua thời kỳ mạ Căn cứ vào đặc điểm sinh trưởng của cây mạ có thể chia thời

kỳ mạ ra 2 thời kỳ nhỏ: thời kỳ mạ non và thời kỳ mạ khoẻ

Thời kỳ mạ non được tính từ lúc gieo đến khi ra được 3 lá thật Trong thời kỳ này vì phôi nhũ tiếp tục phân giải để cung cấp cho mầm và rễ nên tốc

độ hình thành các lá đầu tương đối nhanh, do kích thước lá còn nhỏ nên nhu cầu dinh dưỡng không đáng kể Mặt khác, ở dưới mặt đất rễ phôi cũng bắt đầu phát triển và bước đầu hình thành vài lứa rễ đầu tiên, số lượng rễ không nhiều Thời kỳ này khả năng chống chịu của cây mạ kém

Kết thúc thời kỳ 3 lá, cây mạ chuyển sang thời kỳ sống tự lập, chất dự trữ trong phôi nhũ đ0 sử dụng hết, cây mạ phải trực tiếp đồng hoá dinh dưỡng

từ môi trường để sống và phát triển Thời kỳ này chiều cao cây mạ tăng rõ, có thể ra 4 - 5 lứa rễ do vậy khả năng chống chịu cũng tăng lên rõ rệt

Tuỳ thuộc vào giống, mùa vụ, phương pháp, kỹ thuật làm mạ mà thời

kỳ mạ dài hay ngắn Tuy thời kỳ mạ kéo dài không nhiều nhưng có ý nghĩa

đáng kể trong toàn bộ quá trình sinh trưởng của cây lúa, bởi nếu tạo được mạ tốt, mạ khoẻ làm cơ sở cho quá trình đẻ nhánh và các quá trình sinh trưởng tiếp theo diễn ra một cách thuận lợi [11]

ở Madagasca: Phương pháp cấy lúa truyền thống với tuổi mạ 30 - 90 ngày trong hệ thống thâm canh lúa mới (SRI) là 7 - 10 ngày tương ứng với cây mạ khoảng 2 lá đ0 góp phần đạt năng suất 6,19 tấn/ha (năng suất thâm canh theo phương pháp truyền thống là 1,95 tấn/ha)

ở Campuchia: biện pháp quan trọng của SRI tại trung tâm nghiên cứu

và phát triển nông nghiệp: cấy mạ non đ0 cho năng suất trung bình đạt 6 tấn/ha, tăng 65% so với phương pháp canh tác truyền thống

Trang 20

ở Thái Lan: cuối năm 2000, tại Chiềng Mai đ0 thử nghiệm cấy lúa ở tuổi mạ 34 ngày và 17 ngày trong SRI Năng suất lúa theo phương pháp canh tác thông thường là 4,30 tấn/ha, theo SRI là 5,11 tấn/ha

ở Trung Quốc, Indonesia, Băngladet, ấn Độ, nepal và nhiều nước thuộc châu Phi, châu Mỹ La Tinh cũng đ0 thử nghiệm SRI cho năng suất đạt 9,10 - 9,56 tấn/ha

• Những kết quả nghiên cứu về quản lý và sử dụng nước

Cây lúa sống trong ruộng nước, là cây cần và ưa nước, ở nước ta đại bộ phận ruộng lúa đều tưới ngập nước, tuy nhiên cũng có những giống lúa có khả năng chịu hạn (lúa cạn, lúa nương .) sinh trưởng hoàn toàn phụ thuộc vào nước trời, nhưng năng suất không cao bằng lúa nước Lại có những giống lúa chịu được nước sâu, ở vùng đồng Tháp Mười những giống lúa cổ truyền có thể chịu ngập sâu đến 3 mét

Nước là thành phần chủ yếu của cây lúa, nếu lấy 100g lá lúa tươi đem sấy thì lượng lá khô chỉ còn lại 12g (còn 88g là lượng nước bốc hơi), đem phần lá khô đốt cháy hoàn toàn thì lượng tro còn lại là 1,5g Với 88% trọng lượng cây lúa, nước là thành phần chủ yếu và cực kỳ quan trọng đối với đời sống cây lúa Nước là điều kiện để thực hiện các quá trình sinh lý trong cây lúa, đồng thời cũng là môi trường sống của cây lúa, là điều kiện ngoại cảnh không thể thiếu được đối với cây lúa

Nước là một trong những nguồn vật liệu thô để chế tạo thức ăn, vận chuyển thức ăn lên xuống trong cây, đến những bộ phận khác nhau của cây lúa Bên cạnh đó lượng nước trong cây lúa và nước ruộng lúa là yếu tố điều hòa nhiệt độ cho cây lúa cũng như quần thể, không gian ruộng lúa Nước cũng góp phần làm cứng thân và lá lúa, nếu thiếu nước thân lá lúa sẽ khô, lá lúa bị cuộn lại và rủ xuống, còn nếu cây lúa đầy đủ nước thì thân, lá lúa sẽ đứng, bản lá mở rộng

Trang 21

Nhu cầu về nước qua các thời kỳ sinh trưởng phát triển của cây lúa cũng khác nhau:

+ Thời kỳ nảy mầm: hạt thóc khi bảo quản thường phải giữ độ ẩm 13%, khi ngâm ủ hạt thóc hút nước đạt 22% có thể hoạt động và nảy mầm tốt khi độ

ẩm đạt 25 - 28% Những giống lúa cạn lại được gieo khô khi đất đủ ẩm hoặc trời mưa có nước mới nảy mầm và mọc được

+ Thời kỳ mạ: từ sau gieo đến mạ mũi chông chỉ cần giữ ruộng đủ ẩm Trong điều kiện như vậy rễ lúa được cung cấp nhiều oxy để phát triển và nội nhũ cũng phân giải thuận lợi hơn Khi cây mạ được 3 - 4 lá có thể giữ ẩm hoặc

để một lớp nước nông cho đến khi nhổ cấy

+ Thời kỳ ruộng cấy: từ sau cấy đến khi lúa chín là thời kỳ cây lúa rất cần nước Nếu ruộng khô hạn, các quá trình sinh trưởng gặp trở ngại rõ rệt Ngược lại nếu mức nước trong ruộng quá cao, ngập úng cũng không có lợi: cây lúa đẻ nhánh khó, cây vươn dài, yếu ớt, dễ bị đổ và sâu bệnh Người ta còn dùng nước để điều tiết sự đẻ nhánh hữu hiệu của ruộng lúa [11]

Philippin

Điều khiển nước theo phương thức canh tác SRI: giảm lượng nước chỉ vừa đủ ẩm cho đất, không ngập nước trong suốt thời kỳ sinh trưởng giúp cho

bộ rễ phát triển tốt, nhu cầu về nước giảm khoảng 50% và làm giảm sự tạo khí

CH4 từ các ruộng lúa nước, đây là một trong những loại khí chính gây hiệu ứng nhà kính góp phần gây ra sự nóng lên của toàn cầu

Trang 22

lớp nước mỏng và duy trì trong suốt giai đoạn lúa trỗ Trong khi đó, ruộng canh tác theo phương thức truyền thống giữ nước ngập liên tục Kết quả cho thấy trên mảnh ruộng SRI cho số nhánh tối đa và năng suất hạt đạt 10 tấn/ha còn trên mảnh ruộng canh tác truyền thống cho năng suất là 8,25 tấn/ha

- Thiếu nước làm tăng số nhánh: nếu giữ ruộng lúa ẩm nhưng trong

điều kiện hơi khô (không có nước thường xuyên) làm tăng số nhánh Mạ khoảng 15 – 20 ngày tuổi cũng có thể tạo ra nhiều nhánh Nếu để ruộng lúa ngập nước thì tỷ lệ đẻ nhánh sẽ giảm

- Đủ ẩm trong giai đoạn bắt đầu đẻ nhánh và trỗ: độ ẩm trong suốt giai

đoạn đầu của thời kỳ đẻ nhánh và giai đoạn trỗ làm tăng số nhánh hữu hiệu cũng như số hạt/bông nhiều hơn

Thời kỳ lúa phát triển, duy trì lớp nước tới dưỡng trên mặt ruộng 4 - 8 cm Mao Zhi (1992) [36] tổng lượng nước cần trong suốt giai đoạn sinh trưởng

từ 270 – 280 mm và giá trị trung bình ngày thay đổi từ 30 – 78 mm/ngày ở từng vùng thời kỳ sinh trưởng khác nhau và thay đổi theo từng giống lúa khác nhau V.S.Tomar and J.C.Otole (1979) [42] cho biết ở Philippin lượng nước cần tăng từ đầu đến thời kỳ sinh trưởng cuối và đạt tối đa 4 – 7 mm/ngày ở giai đoạn

đẻ nhánh đến phân hoá đòng ở Thái Lan, ấn Độ, Nhật Bản lượng nước tăng dần

từ đầu thời kỳ sinh trưởng đến thời kỳ chín sau đó giảm dần Nhìn chung ở vùng nhiệt đới lượng nước cần thay đổi bình quân từ 4 – 6 mm/ngày

Wibool Boon Yathrokul (1991) [43] lượng nước thấm trên đồng ruộng

là không thể tránh khỏi và cần xem xét như một yêu cầu cần thiết phụ thuộc vào cấu trúc đất và độ sâu mực nước ngầm Lượng nước dùng cho thời kỳ làm

đất là lượng b0o hoà tầng đất canh tác, bốc hơi mặt nước và một lớp nước cần thiết trên mặt ruộng trước khi cấy nhìn chung thời kỳ này yêu cầu nước thay

đổi lớn 20 – 30 mm lượng nước tới dưỡng sau khi cấy để cung cấp cho cây trong suốt quá trình sinh trưởng có thể nhiều hoặc ít hơn lượng nước dùng vào thời kỳ làm đất

Trang 23

Theo Dedatta (1973) [34], lúa yêu cầu độ sâu lớp nước trên mặt ruộng từ 5 – 7 cm là phù hợp nhất cho hầu hết các loại đất Lớp nước có tác dụng kìm h0m sinh trưởng cỏ dại tăng cường phát triển cho lúa

Po Nampurama [dẫn theo 22] cho rằng: trước khi cấy hai tuần mà để ngập nước sẽ hoà tan được nhiều P, K, giảm chất độc, phát sinh NH4+ Như vậy, khi cấy xong lúa bén rễ sẽ hút được dinh dưỡng một cách nhanh nhất Trên những vùng đất giàu chất hữu cơ ở giai đoạn đẻ nhánh tối đa, khi rút nước sẽ cung cấp được nhiều oxy cho cây đồng thời làm giảm các chất độc trong đất như CH4, H2S và giảm được sự hút đạm của cây tránh hiện tượng lốp đổ và sâu bệnh Đến thời kỳ trỗ, lúa rất cần nước vì vậy phải để ngập một lớp nước từ 2 - 3 cm trên mặt ruộng

A.Bulfal và Msiled (1993) [31] lúa yêu cầu một lớp nước trên mặt ruộng từ 25 – 50 mm trong suốt quá trình sinh trưởng và cần 884 mm lớp nước trong 100 ngày sau cấy Đồng thời cũng cần 100 mm lớp nước trong thời kỳ làm đất; lượng nước thấm dọc và ngang bình quân là 5 mm/ngày

Theo R.S Sarion (1993) [40] nếu duy trì tình trạng tưới ngập ẩm tức

là độ ẩm gần b0o hoà trong suốt thời kỳ sinh trưởng có thể tiết kiệm được 41% lượng nước tới so với phương pháp tưới ngập

2.2.2 Tình hình thâm canh, sử dụng phân, nước, giống chất lượng cao ở

Trang 24

việc sử dụng phân bón đặc biệt là đạm trong sản xuất lúa là rất cần thiết nhưng phải bón đủ, bón hợp lý, cân đối và đúng cách Nếu bón phân không cân đối

và hợp lý sẽ làm giảm 20 – 50% năng suất (Nguyễn Văn Bộ, 1999) [2]

ở Việt Nam, theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Hiển (1992) trên các giống lúa địa phương và nhập nội thì bón phân phối hợp NPK có hiệu lực làm tăng hàm lượng protein trong hạt hơn là các bón riêng [15]

Các nghiên cứu về vai trò của đạm cho lúa trên đất phù sa sông Hồng cho thấy: trong điều kiện bón (6 tấn phân chuồng + 90 kg P2O5 + 60 kg

K2O)/ha, lượng bón 160 kg đạm cho năng suất cao nhất Nhưng bón tới 240

kg đạm năng suất chỉ còn tương đương mức bón 80 kg đạm (Mai Văn Quyền,

2000 [dẫn theo 21]

Theo Phạm Văn Cường (2003), việc cung cấp ủạm lỳc cõy trưởng thành là ủiều kiện cần thiết ủể làm chậm quỏ trỡnh già húa của lỏ, duy trỡ cường ủộ quang hợp khi hỡnh thành hạt chắc và tăng trưởng protein tớch luỹ vào hạt [38]

Phân tích các bộ phận non của cây trồng, trong các bộ phận non hàm lượng đạm nhiều hơn ở các bộ phận già Hàm lượng đạm trong các mô non có

từ 5,5 - 6,5% vì vậy trong thực tế cây lúa cần nhiều đạm trong những thời kỳ

đầu [6]

Khi nghiên cứu các dạng nitơ và hàm lượng protêin ở trong gạo, Lê Do0n Diên và L0nh Danh Gia (1969) đ0 đi đến kết luận: trong gạo loại nitơ protein là chủ yếu, hàm lượng axit amin tự do trong gạo rất ít Các tác giả cho biết khi bón tăng lượng phân đạm thì hàm lượng protein trong hạt tăng

Phân đạm có vai trò quan trọng trong việc làm tăng năng suất và sản lượng lúa Việt Nam Hơn 2/3 lượng phân đạm ở Việt Nam sử dụng bón cho lúa [dẫn theo 23]

Tăng liều lượng đạm (0 - 150 kg/ha) đ0 làm tăng số dảnh và tăng lượng

Trang 25

ệỰm tÝch lòy trong cẹy lóa L−ĩng tẽng nộy râ hển khi bãn ệỰm phèi hĩp vắi phẹn chuăng vộ tẽng liÒu l−ĩng bãn lẹn (Trẵn Thóc Sển, 1996) [23]

Theo Trẵn Thóc Sển (1996), hỷ sè sỏ dông phẹn ệỰm cựa cẹy lóa ẻ 2 vỉng ệÊt nh− sau

Bờng 2.2 Hiỷu quờ sỏ dông ệỰm vắi cẹy lóa ẻ ệÊt phỉ sa sềng Hăng

ậÊt bỰc mộu

xuẹn mỉa mỉa

47,4 - 17,1 38,6 - 24,3 37,5 - 17,7 Nguăn: Trẵn Thóc Sển - 1996

Viện nghiên cứu lúa ựồng bằng sông Cửu Long ựã có nhiều thắ nghiệm

về ỘẢnh hưởng của liều lượng ựạm khịc nhau ựến năng suất lóa vụ ậềng xuẹn vộ HÌ thu trến ệÊt phỉ xa ệăng bỪng sềng Cỏu LongỢ Kết quả nghiên cứu nhiều năm, từ năm 1985 - 1994 ựã chứng minh: trên ựất phù sa ựược bồi hàng năm có bón 60 kg P2O5 và 30 kg K2O làm nền khi có bón ựạm ựã làm tăng năng suất lúa từ 15 - 48,5% trong vụ đông xuân và vụ Hè thu tăng từ 8,5

- 35,6% Hướng chung của 2 vụ ựều bón ựến mức 90 kg N có hiệu quả cao hơn cả Bón trên mức 90 kg N, năng suất lúa tăng không ựáng kể [46] Theo Nguyễn Thị Lẫm (1994) khi nghiên cứu về bón phân ựạm cho lúa cạn ựã kết luận: liều lượng ựạm bón thắch hợp cho các giống có nguồn gốc ựịa phương là

60 kg N/ha đối với những giống thâm canh cao như (CK136) thì lượng ựạm thắch hợp từ 90- 120 kg N/ha [16]

Theo Nguyễn Như Hà (1999) ảnh hưởng của mật ựộ cấy và ảnh hưởng

Trang 26

của liều lượng ủạm tới sinh trưởng của giống lỳa ngắn ngày thõm canh cho thấy: tăng liều lượng ủạm bún ở mật ủộ cấy dày cú tỏc dụng tăng tỷ lệ nhỏnh hữu hiệu [12]

Thực tế sản xuất hiện nay, các giống lúa cao sản ngắn ngày, chịu thâm canh đang ngày càng được ứng dụng rộng r0i, một điều kiện thuận lợi giúp người nông dân thâm canh tăng vụ Do đó mục tiêu nghiên cứu hiện nay không chỉ là thâm canh tăng năng suất mà phải từng bước cải thiện và nâng cao chất lượng lúa gạo để phục vụ xuất khẩu

Đề tài Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón đến năng suất

và phẩm chất lúa cao sản trên đất phù sa Đồng bằng sông Cửu Long được tiến hành với mục đích là tìm ra các loại phân bón và liều lượng thích hợp, chủ yếu là kali và phân hữu cơ để có thể đưa ra các khuyến cáo về phân bón thích hợp, cân đối cho lúa cao sản ở Đồng bằng sông Cửu Long

Kết quả cho thấy: chưa thấy sự tương hỗ giữa các liều lượng đạm và liều lượng kali bón cho lúa Hiệu lực của phân đạm và phân kali bón cho lúa trong

vụ Đông xuân cao hơn vụ Hè thu và không có sự sai khác giữa vụ Hè thu và

vụ Thu đông [54]

2.2.2.2 Kỹ thuật gieo mạ và thâm canh lúa, ảnh hưởng của lượng nước và tuổi

mạ đối với năng suất lúa

* Những kết quả nghiên cứu tuổi mạ

Theo Lương Đình Của: cấy mạ 20 ngày tuổi cho năng suất 34 tạ/ha, 25 ngày tuổi là 22 tạ/ha và 30 ngày tuổi là 17,3 tạ/ha

Nguyễn Văn Luật, Hồ Đào, Phạm Bình Nhưỡng: ở các ruộng mạ bón nhiều phân, cấy mạ đúng (5 - 6 lá), giữ nước vừa phải, lúa đẻ nhánh sớm, đẻ gọn và tập trung

Bùi Huy Đáp: cấy mạ 30 – 35 ngày tuổi mạ (mạ chính vụ), 40 – 45 ngày tuổi (mạ mùa muộn dài ngày) và 40 - 45 ngày tuổi mạ (mạ mùa sớm ngắn ngày) là tốt nhất

Trang 27

Tại Triệu Sơn – Thanh Hoá, vụ mùa năm 2002 đ0 bước đầu thử nghiệm SRI trên giống lúa lai với tuổi mạ cấy 8 ngày, cây lúa đẻ 24 nhánh/khóm và

Sử dụng phương pháp gieo mạ ném bằng khay nhựa cho những trà lúa thu hoạch trước 25/6, dùng 0,8 - 1,5 kg thóc giống/25, 30 khay/sào lúa Tuổi mạ 7 - 10 ngày, phương pháp gieo mạ ném bằng khay nhựa bộ rễ mạ ít bị tổn thương, cây lúa nhanh bén rễ hồi xanh, đẻ nhánh sớm, rút ngắn được thời gian sinh trưởng của cây lúa 5 - 7 ngày so với gieo mạ dược truyền thống

Bón phân, chăm sóc sớm: biện pháp bón phân chăm sóc sớm giúp lúa đẻ nhánh thuận lợi, tập trung rút ngắn được thời gian sinh trưởng của cây lúa 3 - 5 ngày so với chăm sóc muộn

* Hệ thống thâm canh lúa

- Hệ thống thâm canh lúa truyền thống

Hàng ngàn năm nay, người nông dân đ0 áp dụng các biện pháp thâm canh lúa truyền thống như:

- Cấy mạ tương đối già, 3 - 4 tuần tuổi

- Cấy dầy (3 - 4 dảnh/khóm)

- Giữ nước liên tục trên ruộng trong suốt thời gian sinh trưởng

Ngoài ra, nông dân nâng cao năng suất bằng việc:

- Sử dụng phân hóa học: biện pháp này không phát huy tác dụng một

Trang 28

cách đầy đủ tiềm năng sinh học của cây lúa

- Hệ thống thâm canh lúa mới

SRI được đề xuất bởi một cố đạo người Pháp, ông đ0 giành 30 năm làm việc với những nông dân Madagasca Cha Henri de laulanie đ0 nhìn thấy SRI như là một biện pháp đóng góp cho sự phát triển của con người hơn là chỉ cho với ngành sản xuất lúa

Những người nông dân đ0 từng thực hiện SRI và đánh giá của các nhà khoa học đ0 chỉ ra rằng kĩ thuật SRI chú ý đến tiềm năng di truyền của giống

Nguyên tắc:

SRI được hình thành là dựa trên việc quan sát trồng lúa trong điều kiện

có tưới Hệ thống này có thể phù hợp không chỉ với lúa cấy mà còn phù hợp với lúa gieo thẳng Nhưng trước hết chúng ta tập trung áp dụng kĩ thuật này cho lúa cấy Năng suất lúa sẽ cao hơn khi chú ý đến những vấn đề sau:

- Tiêu nước tốt và thoáng khí trong thời kì sinh trưởng (thời kì đẻ nhánh)

- Đất có hoạt tính sinh học cao và có nhiều vi sinh vật sinh sống

Cây lúa cũng giống như các sinh vật khác đều có nhu cầu về oxy, đất luôn

bị ngập nước dẫn đến tình trạng thiếu oxy cho rễ lúa Cũng tương tự như vậy, nhiều vi sinh vật có lợi cho sự sinh trưởng của lúa cũng cần oxy để sinh sống [37]

* Một số quan điểm mới về trồng lúa

Chọn giống cây kiểu mới :

Trang 29

Kiểu cây được đặc trưng nhờ cách kết hợp nào đó giữa các tính trạng của lá, thân và bông lúa Các giống cây khác nhau có nhiều kiểu cây khác nhau

Dựa vào quan hệ giữa kiểu cây và năng suất, tác giả Jennings (1979) [39] cho rằng: những tính trạng đặc trưng đặc biệt kết hợp với năng suất lúa cao và phản ứng mạnh với đạm mà thường không thấy ở những giống thương mại trồng ở nhiệt đới là:

- Thời gian sinh trưởng ngắn, khoảng 100 - 125 ngày và không mẫn cảm với chu kỳ ánh sáng

- Những đặc trưng dinh dưỡng kể cả mọc khoẻ vừa phải và có số nhánh vừa phải, kết hợp với lá tương đối nhỏ, màu lục sẫm, mọc thẳng đứng

- Đâm chồi kém để sản xuất những chồi to và mạnh: 6 - 10 chồi lúa hữu hiệu (đối với 20 - 25 chồi của giống lúa cải tiến hiện nay);

- Loại gié lúa to với nhiều nhánh đầu tiên: 200 - 250 hạt lúa mỗi gié;

- Những bó mạch của cuống gié lúa to để chuyên chở các chất quang hợp đến hạt lúa;

- Thân lúa dày và cứng có nhiều bó mạch để chống đổ ng0, hỗ trợ gié lúa to và có thể cung cấp nơi tích tụ chất quang hợp;

- Lá dày, xanh đậm và thẳng để nhận ánh sáng tốt hơn và mức độ quang hợp cao hơn trên đơn vị diện tích lá;

- Bẹ của lá cờ xanh đậm để tăng sản xuất chất quang hợp;

Trang 30

- Cây lúa lâu già để tăng sản xuất chất quang hợp và kéo dài thời kỳ làm

đầy hạt (grain filling period);

- Mức quang hợp cao và phản xạ ánh sáng thấp để cung cấp chất tinh bột cho gié không bị giới hạn trong mùa mưa;

- Thời kỳ sinh trưởng trung bình để có tích tụ tinh bột trước khi trổ bông (những giống lúa sớm không có sự tích tụ này);

- Chiều cao cây lúa trung bình với chỉ số thu hoạch HI 0,55 vì giống lúa nửa lùn có khuynh hướng đâm chồi nhiều: chiều cao từ 90 đến 100 cm;

- Hệ thống rễ mạnh;

- Chống kháng nhiều loại sâu bệnh;

- Chất lượng gạo được chấp nhận.[51]

Quan điểm mới về trồng lúa

Những biện pháp của SRI là ngược với kĩ thuật trồng lúa được hiểu như

từ trước đến nay Những kĩ thuật này là:

+ Lúa sinh trưởng tốt nhất trong điều kiện đất ngập liên tục, điều này là không đúng Nước ngập liên tục làm cho rễ lúa bị chết sau 1 - 2 tuần và vào thời gian trỗ, khoảng 1/2 bộ rễ lúa bị suy thoái hạn chế việc lấy các chất dinh dưỡng của rễ và làm cho cây chống đổ kém hơn

+ Cấy lúa nhiều dảnh sẽ làm tăng năng suất Thực tế, cấy dày sẽ làm hạn chế sinh trưởng của rễ và tán lá làm cho chúng sinh trưởng kém hơn, khả năng chống chịu với sâu bệnh bị suy giảm Cấy ít dảnh nhưng dảnh khoẻ mạnh hơn sẽ tạo điều kiện để có năng suất cao hơn

+ Cấy mạ già sẽ làm cho cây lúa sinh trưởng tốt hơn Nhưng trong thực tế, cấy mạ non sẽ có bộ rễ sinh trưởng tốt hơn và tạo ra nhiều bông hơn, có khả năng chống chịu tốt hơn với thiếu nước và tạo ra nhiều hạt hơn [dẫn theo 28]

* Các biện pháp kỹ thuật

- Làm đất gieo mạ dược

Chuẩn bị ruộng mạ: chọn chân ruộng cao, chủ động tưới tiêu, đất cát pha

Trang 31

hoặc thịt nhẹ và tiện chăm sóc

+ Làm đất:

Đất cày ngả sớm, bừa 4 - 6 lần, nhuyễn và sạch cỏ Nếu đất chua có thể bón vôi 15 - 20 kg/sào Bắc Bộ Bón lót 3 - 4 tạ phân chuồng, 7 - 10 kg supe lân, 2 kg urê và 3kg kali/sào

Lên luống rộng 1,2 - 1,4 m, có r0nh thoát nước, mặt luống phẳng ở vụ

đông xuân, mặt luống hơi vồng ở vụ mùa để dễ thoát nước

+ Gieo mạ: hạt giống sau khi xử lí, ngâm ủ nẩy mầm đều là đem gieo + Mật độ và kỹ thuật gieo: vụ đông xuân gieo 40 - 45 kg/sào Bắc bộ, vụ mùa ít hơn (tùy theo giống, thời vụ và khối lượng hạt) Gieo hơi chìm hạt, nhất là

vụ đông xuân để chống rét, sau gieo có thể phủ một lớp tro mộc (8-10 kg/sào)

- Mạ sân, mạ trên nền đất cứng:

Là giải pháp tình thế trước đây để khắc phục hiện tượng thiếu mạ trong

vụ đông xuân, do thời tiết rét đậm kéo dài, mạ dược bị chết nhiều Song hiện nay biện pháp này đ0 trở thành tiến bộ kỹ thuật được áp dụng rộng r0i Làm mạ sân hay mạ trên nền đất cứng không phức tạp chỉ cần chọn được nền đất cứng (bờ mương, ven đường, sân, vườn ), làm cho mặt đất phẳng, rải một lớp bùn hoặc đất bột mỏng lên sân hay nền đất cứng (nếu đất xấu nên trộn thêm với phân chuồng hoai mục đ0 được ủ với lân để đảm bảo dinh dưỡng cho mạ), gieo hạt đ0 xử lí, ngâm ủ, nẩy mầm đều

Lượng gieo: 1,0 - 1,5 kg hạt giống/m2, tưới nước giữ ẩm [44]

* ảnh hưởng của lượng nước đối với sự phát triển của cây mạ

ở thời kỳ mạ non (từ gieo đến 3 lá), mặt luống cần được giữ ẩm để rễ phát triển thuận lợi Khi mạ có 4 lá nhổ cấy tùy theo thời tiết và sinh trưởng của mạ để quyết định chế độ tưới nước Khi cần chỉ tưới nước vào r0nh để luống mạ đủ ẩm Trước khi nhổ có thể tưới trước 5 - 7 ngày cho đất mềm, dễ nhổ, tránh đứt rễ

- Lượng nước: chọn chân đất để làm dược mạ rất quan trọng trong việc

Trang 32

làm mạ, nó ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của cây mạ và bộ rễ mạ, liên quan gián tiếp đến lượng nước, sự điều tiết lượng nước của ruộng mạ

ở chân đất thấp, lượng nước phân bố đều thì cây mạ phát triển đồng

đều, bộ rễ mạ phát triển kém Ngược lại, dược mạ ở chân vàn cao, lượng nước phân bổ không đều dẫn tới cây mạ phát triển không đều nhưng bộ rễ lại phát triển mạnh

- Độ sâu của nước

Điều khiển lượng nước cho ruộng mạ là kỹ thuật rất quan trọng trong khâu làm mạ Mực nước trong ruộng mạ không chỉ ảnh hưởng đến độ cao, thấp của dược mạ mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển của bộ rễ mạ

Nếu để ruộng quá khô, thiếu nước cây mạ phát triển chậm, cây còi cọc Nếu quá nhiều nước, để cây mạ ngập sâu trong nước sẽ dẫn đến bộ rễ phát triển kém, cây mạ gầy do thiếu không khí trong đất, khi cấy cây mạ dễ bị chết

Độ sâu nước vừa phải, dược mạ ngắn, cây mạ khoẻ, bộ rễ phát triển tốt, khó bị chết khi cấy ra ruộng [52]

* Tiêu chuẩn cây mạ tốt

Cây mạ tốt có chiều cao vừa phải và tất cả các cây mạ trong dược mạ phát triển đồng đều Để có cây mạ trong dược mạ phát triển đồng đều cần phải chú ý đến rất nhiều khâu kỹ thuật trong làm mạ

- Cây mạ phát triển không đồng đều có thể do các nguyên nhân sau: + Gieo hạt giống không đều, không đúng kỹ thuật

+Hạt thóc giống nảy mầm không đồng đều

+họn đất dược mạ chưa đúng hoặc làm đất chưa tốt

+Chế độ nước cho dược mạ chưa tốt

+Chất dinh dưỡng trong đất thiếu

+Cây mạ tốt có bẹ lá ngắn

Trang 33

Bẹ lá là phần phía dưới của lá, bẹ lá ôm lấy thân cây lúa và các lá non ở bên trong Bẹ lá dài chứng tỏ sự vươn lóng ban đầu của cây mạ nhanh, như vậy sẽ làm yếu cây mạ

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của bẹ lá, nhưng ảnh hưởng lớn nhất là 2 yếu tố: độ sâu của nước và điều kiện ánh sáng

Độ sâu của nước: nếu quá nhiều nước sẽ làm cho bẹ lá dài và cây mạ yếu, khi cấy lúa hồi xanh chậm và phát triển kém; cây mạ xấu có bộ lá dài, rũ xuống, bộ lá mạ dễ bị bết bùn khi cấy

ánh sáng: thiếu ánh sáng do trời âm u kéo dài hoặc do gieo mạ dầy, do bóng của cây cối đều có thể làm cho bẹ lá dài ra

- Cây mạ tốt phải không có sâu bệnh

ở thời kỳ mạ, cây mạ có thể bị rất nhiều rất nhiều loại sâu bệnh tấn công, gây hại Nếu chăm sóc mạ tốt, đúng kỹ thuật để có một dược mạ khoẻ, phát triển đồng đều mà không chú ý phòng trừ sâu bệnh trong thời kỳ này thì cây mạ vẫn không thể có đầy đủ sức sống ban đầu

Có nhiều loại sâu bệnh phá hại trong thời kỳ mạ Các loại sâu, bọ hại nhiều nhất trong thời kỳ mạ: bọ rầy, sâu đục thân và các loại sâu ăn lá Bệnh phổ biến nhiều nhất trong thời kỳ mạ là bệnh đạo ôn

Ngoài ra các loại cỏ dại cũng là yếu tố cạnh tranh dinh dưỡng, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển của cây mạ

- Cây mạ tốt phải có nhiều rễ và khối lượng lớn

Ngoài những yếu tố để đánh giá về cây mạ tốt: cây mạ trong dược mạ phát triển đồng đều, cây mạ có bẹ lá ngắn, không có sâu bệnh, mạ non khả năng hồi phục nhanh thì một yếu tố cũng không kém phần quan trọng là cây mạ phải có nhiều rẽ, tức là có bộ rễ phát triển mạnh, màu sắc rễ phải có màu vàng sáng

Một yếu tố quan trọng khác là cây mạ nặng Cây mạ nặng tức là cây mạ

có khối lượng lớn, điều đó chứng tỏ cây mạ đ0 tích luỹ được nhiều chất dinh

Trang 34

dưỡng, chính nhờ chất dinh dưỡng này sẽ giúp cây mạ sau khi cấy hồi phục nhanh Khối lượng cây mạ lớn không có nghĩa là cây mạ cao, già tuổi, có nhiều lá và có bộ lá phát triển tốt

- Đúng tuổi: tuổi mạ cấy tùy thuộc vào giống, thời vụ và phương pháp làm mạ Để tính tuổi mạ có thể dùng ngày tuổi hoặc số lá Ví dụ: ở vụ mùa tính tuổi mạ theo ngày tuổi, còn ở vụ đông xuân theo số lá (mạ dược 5 - 6 lá, mạ sân hoặc mạ trên nền đất cứng 2 - 3 lá) [53]

Làm đất cấy: không có thay đổi nào so với biện pháp làm đất từ trước

đến nay, nhưng cần chú ý là đồng ruộng nên bằng phẳng sao cho nước có thể

được tới đồng đều trên khắp mặt ruộng trong suốt thời kì sinh trưởng của cây lúa Điều này sẽ tiết kiệm nước và tạo điều kiện để nông dân giữ đất ẩm hợp lý không có lớp nước đứng trên mặt ruộng

Cấy: cây mạ nên được cấy khi còn rất non, thích hợp là từ 8 đến 12 ngày tuổi, thông thường trước 15 ngày tuổi kể từ khi mọc mầm (đối với cây lúa sinh trưởng ở vĩ độ cao trong khí hậu lạnh hơn thì tuổi mạ tối đa nên là

- Cây mạ được đặt cẩn thận trên đồng ruộng, sâu trong bùn 1 - 2 cm

- Đầu rễ nên đặt theo chiều ngang, không được nhấn sâu vào đất Nếu

đầu rễ hướng lên phía trên sẽ làm chậm sự sinh trưởng của cây mạ khi đưa ra môi trường mới

Trong vài năm gần đây, các nhà khoa học khuyến cáo người dân gieo cấy theo phương pháp mới, phương pháp SRI cấy mạ non, mật độ thưa, thâm

Trang 35

canh cao, tưới nước tiết kiệm: cụ thể cấy mật độ 20 - 25 khóm/m2; 2-3 dảnh/khóm vụ xuân, 1-2 dảnh/khóm vụ mùa, cấy các khóm lúa theo hình răng lược tận dụng tốt ánh sáng mặt trời, với phương pháp này chỉ cần 0,7- 1,2kg thóc giống/sào Bắc Bộ Số bông/khóm cao, bông dài, ruộng thông thoáng các loại sâu, bệnh hại giảm đáng kể Phương pháp gieo mạ ném bằng khay nhựa, cấy nông tiết kiệm lượng thóc giống, chỉ cần 1,5 - 2 kg thóc giống/sào Từ những phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới mật độ gieo cấy lúa và căn cứ vào

điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật của gia đình, bà con tự lựa chọn mật độ gieo cấy hợp lý, phương pháp thâm canh phù hợp với khả năng để áp dụng [37] Quản lý nước: để đảm bảo rễ lúa sinh trưởng khoẻ, không nên giữ một lớp nước trên mặt ruộng, ít nhất cho đến hết thời kì đẻ nhánh bắt đầu phân hoá

đòng Sau thời kì phân hoá đòng, giữ một lớp nước mỏng trên mặt ruộng với độ sâu 1 - 2 cm và tháo kiệt nước trước khi thu hoạch 10 - 20 ngày

Có hai cách quản lý nước trong thời kì đẻ nhánh:

- Theo dõi nước liên tục và cẩn thận: phương pháp tốt nhất là tưới một lượng nước nhỏ hàng ngày, nên tưới vào buổi chiều tối trừ khi có mưa trong ngày Mục đích là giữ cho đất ẩm nhưng không được b0o hoà Nếu có lớp n-

ước trên mặt ruộng vào buổi sáng cần phải tháo ngay sao cho mặt ruộng

đư-ợc phơi dưới ánh nắng mặt trời tạo điều kiện để không khí có thể đi vào trong đất Nếu có lớp nước trên mặt ruộng sẽ phản chiếu và hấp thụ ánh nắng mặt trời làm mất năng lượng Trong thời kì đẻ nhánh, từ 2 - 6 ngày tưới nước một lần để cho đất ẩm, thậm chí mặt ruộng có thể nứt nẻ Điều này sẽ tạo

điều kiện để rễ ăn sâu hơn vào trong đất

- Ngập ẩm luân phiên: sau khi cấy, nông dân có thể thực hiện lịch trình ngập nước 3 - 6 ngày sau đó rút nước 3 ngày Thực tế, lịch trình này có thể thay đổi, tuỳ theo loại đất mà thời kì ngập - khô kéo dài từ 2 - 7 ngày Nguyên tắc là tạo điều kiện cho cây đủ nước để sinh trưởng tốt nhưng không để cho

Trang 36

đất b0o hoà nước quá dài đến nỗi rễ lúa có thể bị chết Người nông dân cần rút kinh nghiệm từ việc quản lý nước để xem quản lý như thế nào cho kết quả tốt nhất Hạn chế chủ yếu của SRI là khả năng quản lý nước và việc tưới nước cho lúa khi cần thiết Khi để ngập nước liên tục có tác dụng làm giảm cỏ dại

và lo sợ bị thiếu nước nên người nông dân tìm cách trữ nước trong ruộng lúa của mình Cách làm này dẫn đến làm giảm sự sinh trưởng của rễ Trong tr-

ường hợp người nông dân không kiểm soát được nước, họ có thể áp dụng các biện pháp khác của SRI nhưng không mang lại kết quả tốt nhất

Phân bón: ban đầu SRI phát triển để sử dụng phân hoá học nhưng khi phân hoá học trở nên quá đắt đối với người nông dân, phân ủ được sử dụng để thay thế cho kết quả tốt hơn Phân hoá học có thể được sử dụng với SRI, như-

ng chúng tôi đề nghị sử dụng phân ủ hoặc phân xanh vì tác dụng có lợi hơn cho hoạt động của vi sinh vật

Việc sản xuất phân ủ rất đơn giản, bất kỳ phân hữu cơ nào được ủ cũng

sẽ có lợi Phân ủ tốt là phân làm từ cây họ đậu như Tephrosia hoặc Crotalaria (bổ sung N), lá chuối (bổ sung K), và cỏ như cỏ gừng (bổ sung P) Rơm rạ thêm vào phân ủ rất lý tưởng

Nông dân ở Madagasca cũng đ0 phát hiện thấy rằng sau khi trồng lúa trồng các cây khác như khoai tây, đậu hoặc các cây rau khác cho kết quả rất tốt khi bón phân ủ cho cây trồng trước Phân ủ phân giải tốt và được vùi vào trong đất khi trồng lúa không những làm nhiệm vụ cung cấp dinh dưỡng mà còn cải thiện tính chất sinh học của đất [37]

* Những kết quả nghiên cứu về quản lý và sử dụng nước ở Việt Nam

Hơn 20 năm sau ngày giải phóng ở vùng đồng bằng Nam Bộ, các hệ thống kênh ngang nối các kênh dọc lại với nhau để dẫn nước sâu vào cho đồng ruộng với tổng chiều dài 3200 km để khai thác 3,9 triệu ha đất của 13 tỉnh thuộc Đồng Bằng sông Cửu Long là những ví dụ cho lượng nước tưới đ0 bị tổn

Trang 37

thất Lượng nước tổn thất do thấm đứng ở mặt ruộng và bốc hơi trên mặt kênh dẫn nước là tổn thất rất khó khống chế, cũng giống như sự bốc hơi nước qua thân lá cây là một tai họa tất yếu nhưng phải có Nếu quản lý tưới tốt, các công trình làm việc tốt thì thành phần chủ yếu của lượng nước tổn thất chỉ do thấm ở lòng kênh mương trong quá trình chuyển nước và như thế góp phần tiết kiệm nước rất lớn

Theo thống kê trong 15 năm trở lại đây, hiệu quả phục vụ tưới tiêu của

hệ thống thuỷ lợi đạt kết quả thấp Trong phạm vi toàn quốc, hệ thống tưới mới chỉ tưới được 1.261.901 ha trong tổng số 2.085.062 ha, đạt 62,7% năng lực thiết kế Trong rất nhiều nguyên nhân dẫn đến hiệu quả hoạt động của hệ thống tới thấp có nguyên nhân quản lý mặt ruộng không khoa học [20] Nguyễn Văn Dung, Nguyễn Tất Cảnh (2006) [8]: với chế độ tưới nước giữ ẩm

và ngập ẩm luân phiên trong thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng, cấy mật độ 25 -

35 khóm/m2 với 2 dảnh lúa/khóm là thích hợp tuỳ theo từng chân đất và trình

độ thâm canh

Cũng theo tác giả trên: tưới theo phương pháp rút nước trong thời kỳ sinh trưởng của lúa (phương pháp tới tiết kiệm nước) đ0 tiết kiệm được 25% lượng nước tưới và nâng cao hiệu quả sử dụng nước so với biện pháp tưới truyền thống là 24% Bón phân viên nén và chất hữu cơ khi tưới tiết kiệm đ0 làm tăng năng suất so với bón phân v0i và tưới theo phương pháp truyền thống 35,4%, tiết kiệm được 33% lượng đạm bón [6]

Theo Nguyễn Đình Ninh, Nguyễn Thị Kim Vân (2004) [17], nhu cầu

n-ước cho lúa là rất cao

- Lúa xuân:

+ Tổng lượng nước tưới cho cả vụ là: 6000 – 7000m3/ha

+ Thời kỳ đổ ải: 1500 – 2500 m3/ha

+ Thời kỳ cấy đến bén rễ duy trì lớp nước tưới dưỡng trên mặt ruộng là 3 - 5 cm

Trang 38

Nguyễn Hùng Nguyện (1983) [18] lượng nước cần ngả ải trung bình trong

3 năm (1981 - 1983) ở Gia Lâm – Hà Nội: 1471,5 m3/ha nếu áp dụng chế độ nước nông thường xuyên phải cần đến một lượng nước 2074,5 m3/ha Lượng nư-

ớc cần từ thời kỳ cấy đến đẻ nhánh là 1,496 – 1,838 mm/ngày tương ứng với 477

m3/ha – 585 m3/ha và giá trị tối đa là 6,53 – 7,50 mm/ngày ở thời kỳ phân hoá

đòng đến trỗ là 1962,8 m3/ha – 2248,6 m3/ha Trong toàn vụ lượng nước bốc hơi mặt lá chiếm 61,65 – 68,89% so với tổng nhu cầu nước của cây

Đánh giá hiệu quả sử dụng nước trên mặt ruộng tác giả khẳng định: để nước tưới đạt hiệu quả kinh tế cao thì áp dụng chế độ nước tưới nông thường xuyên (3 -5 cm) là thích hợp và cho năng suất cao nhất

Nguyễn Văn Dung (1996) [7] tổng nhu cầu nước của cây lúa trong suốt quá trình sinh trưởng bao gồm lượng nước làm b0o hoà tầng đất và một lớp nước trên mặt ruộng trước khi cấy, lượng nước bốc hơi tự do trong thời kỳ làm

đất, lượng nước bốc hơi mặt lá và khoảng trống, lượng nước thấm sâu và rò rỉ qua bờ và lượng nước tiêu hao khác do yêu cầu kỹ thuật thâm canh lúa, lượng nước cần tưới cho cả vụ là hiệu số của tổng nhu cầu nước của cây và lượng nước mưa lợi dụng được Nhu cầu tưới cho cây trồng thay đổi theo từng giai

đoạn sinh trưởng phát triển khác nhau và theo điều kiện khí hậu của từng vùng, từng vụ, từng năm Việc xác định lượng nước cần tưới trong nghiên cứu cân bằng nước trên đồng ruộng là cơ sở khoa học để xác định chế độ nước hợp

lý cho cây trồng đạt hiệu quả cao

2.3 Triển vọng về lúa chất lượng cao và ứng dụng trong sản xuất nông nghiệp nước ta

Cùng với xu thế phát triển kinh tế chung của đất nước, sản xuất lúa

đang trở thành vấn đề thời sự cấp bách về năng suất cũng như chất lượng lúa gạo Thực tế sản xuất hiện nay, các giống lúa cao sản ngắn ngày, chịu thâm canh đang ngày càng được ứng dụng rộng r0i, một điều kiện thuận lợi giúp người nông dân thâm canh tăng vụ Do đó mục tiêu nghiên cứu hiện nay không

Trang 39

chỉ là thâm canh tăng năng suất mà phải từng bước cải thiện và nâng cao chất lượng lúa gạo để phục vụ xuất khẩu Cho nên tiếp tục sản xuất và xuất khẩu gạo chất lượng thấp sẽ đồng nghĩa với giảm hiệu quả Năm 2005, tỷ lệ gạo xuất khẩu chất lượng trung bình và thấp tăng thêm 9,37% so với năm 2004, chiếm 60,02% tổng lượng gạo xuất khẩu; gạo cao cấp chiếm 32,36%, giảm 4% so với năm 2004 làm cho giá gạo xuất khẩu bình quân thấp hơn khoảng 4 USD/tấn so với gạo cùng loại của Thái Lan (Bùi Chí Bửu, 2005) [5] Do vậy việc trồng và cải tiến giống lúa thơm vừa có năng suất cao, vừa có chất lượng tốt (hạt gạo thon dài, trong, cơm thơm ngon) đang được các địa phương trong cả nước quan tâm

Các phương pháp chọn tạo giống lúa thuần thường sử dụng là nhập nội, gây đột biến, lai hữu tính và chọn lọc Gần đây các nhà khoa học đ0 ứng dụng các công nghệ hiện đại như chuyển gen, nuôi cấy bao phấn … nhằm hỗ trợ chọn tạo giống lúa nói chung và lúa chất lượng cao nói riêng một cách nhanh nhất

Các giống lúa thơm được cải tiến bằng phương pháp chọn lọc dòng thuần như các giống Nàng thơm chợ đào, giống Bảy núi, giống Phanh chồn, giống Tám xoan, Dự lùn,

Ngoài phương pháp chọn lọc dòng thuần, phương pháp nhập nội các giống lúa thơm cũng đem lại kết quả cao

Một phương pháp cải tiến giống lúa thơm khác là lai thuần gần đây cũng

được quan tâm tại Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long, Viện KHKTNNVN Một số giống lúa thơm cải tiến được công nhận như: OM59-7, OM3536, lúa

256 (Nguyễn Hữu Nghĩa, 2002) [19]

Các dòng lúa thơm triển vọng được tạo ra bằng phương pháp lai kết hợp với nuôi cấy bao phấn như AC5, DS104, đột biến kết hợp nuôi cấy bao phấn như OM5930

Giống YTT 83, HYT100 là giống lúa lai 3 dòng, hạt thon, cơm mềm, năng suất cao Nghi hương 2308 là giống lúa lai 3 dòng có hạt thon, cơm mềm, thơm nhẹ

Trang 40

* ứng dụng

- Miền Bắc

Trong năm 2001, dưới sự chỉ đạo và hỗ trợ của Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn, Sở khoa học công nghệ, môi trường, Công ty giống cây trồng tỉnh Hải Dương đ0 triển khai có hiệu quả chương trình giống quốc gia Công ty

đ0 khôi phục được giống lúa nếp Hoa vàng và Tám xoan Theo Nguyễn Công Mai ( 2004), giống nếp Hoa Vàng là giống quí của địa phương còn được lưu giữ trong dân (so với những giống được gieo trồng trên cùng chân đất như U17, Mộc Tuyền, nếp Hoa Vàng cho năng suất tăng hơn 0,8-1,6 tấn/ha, giá trị tăng 5 - 7 triệu đồng/ha) Vụ mùa năm 2002, Công ty giống cây trồng tỉnh Hải Dương đ0 triển khai sản xuất 30 ha nếp Hoa Vàng Qua chọn lọc, khử lẫn, kết quả thu

được gần 120 tấn giống nếp Hoa Vàng Lượng giống này có thể cung ứng cho

bà con gieo cấy ở vụ mùa 2003.Trung tâm KN&KN Thái Bình đ0 tham gia khảo nghiệm giống Hương cốm tại Kiến Xương, Tiền Hải, Đông Hưng Kết quả cho thấy giống Hương Cốm đều sinh trưởng tốt, sạch sâu bệnh, chưa thấy đạo

ôn gây hại, đẻ nhánh khoẻ, hy vọng một vụ thu hoạch tốt [50]

Vụ mùa 2006, Trung tâm khuyến nông tỉnh Hà Tây đ0 xây dựng mô hình trình diễn, khảo nghiệm các giống lúa mới trên diện tích 40 ha Trong đó có 20

ha giống lúa chất lượng cao là N46 và Hương Cốm tại HTX Đại Đồng, Dị Nậu (Thạch Thất) 15 ha, Tiên Phong (Ba Vì) 5 ha Giống lúa N46 lai giữa lúa tẻ thơm với dòng IRBB7 chứa gen kháng bệnh bạc lá Xa-7 Năng suất ước đạt 49,76 - 51,12 tạ/ha Giống lúa Hương cốm được lai tạo bởi nhiều giống gen quý, cơm mềm dẻo, thơm ngon Năng suất ước đạt 50,2 tạ/ha

Qua khảo nghiệm cho thấy giống lúa N46 và Hương Cốm có khả năng

đẻ nhánh trung bình, cứng cây, bông to, dài, chịu thâm canh, tiềm năng năng suất và thời gian sinh trưởng ngắn, chịu hạn tốt, thích ứng rộng và phù hợp với cơ cấu 3 vụ của tỉnh Trung tâm Khuyến nông tỉnh đ0 đề nghị các địa phương tiếp tục cho khảo nghiệm trên tất cả 14 huyện, thị x0 vào năm 2007 để đánh

Ngày đăng: 14/12/2013, 16:37

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Sản l−ợng lúa của thế giới và các Châu lục giai đoạn 2001- 2005 - Tìm hiểu ảnh hưởng của các mức phân đạm, tuổi mạ đến sinh trưởng vμ năng suất giống lúa hương cốm trong điều kiện quản lý nước tiết kiệm trên đất gia lâm   hà nội
Bảng 2.1. Sản l−ợng lúa của thế giới và các Châu lục giai đoạn 2001- 2005 (Trang 12)
Bảng 2.2. Hiệu quả sử dụng đạm với cây lúa ở đất phù sa sông Hồng   và đất bạc màu [23] - Tìm hiểu ảnh hưởng của các mức phân đạm, tuổi mạ đến sinh trưởng vμ năng suất giống lúa hương cốm trong điều kiện quản lý nước tiết kiệm trên đất gia lâm   hà nội
Bảng 2.2. Hiệu quả sử dụng đạm với cây lúa ở đất phù sa sông Hồng và đất bạc màu [23] (Trang 25)
Bảng 4.1. ảnh hưởng của các mức phân đạm và tuổi mạ đến động thái  tăng tr−ởng chiều cao cây trong vụ mùa 2007 (cm) - Tìm hiểu ảnh hưởng của các mức phân đạm, tuổi mạ đến sinh trưởng vμ năng suất giống lúa hương cốm trong điều kiện quản lý nước tiết kiệm trên đất gia lâm   hà nội
Bảng 4.1. ảnh hưởng của các mức phân đạm và tuổi mạ đến động thái tăng tr−ởng chiều cao cây trong vụ mùa 2007 (cm) (Trang 51)
Bảng 4.3. ảnh hưởng của các mức phân đạm và tuổi mạ đến động thái đẻ  nhánh trong vụ mùa 2007 - Tìm hiểu ảnh hưởng của các mức phân đạm, tuổi mạ đến sinh trưởng vμ năng suất giống lúa hương cốm trong điều kiện quản lý nước tiết kiệm trên đất gia lâm   hà nội
Bảng 4.3. ảnh hưởng của các mức phân đạm và tuổi mạ đến động thái đẻ nhánh trong vụ mùa 2007 (Trang 53)
Bảng 4.4. ảnh hưởng của các mức phân đạm và tuổi mạ đến động thái đẻ  nhánh trong vụ xuân 2008 - Tìm hiểu ảnh hưởng của các mức phân đạm, tuổi mạ đến sinh trưởng vμ năng suất giống lúa hương cốm trong điều kiện quản lý nước tiết kiệm trên đất gia lâm   hà nội
Bảng 4.4. ảnh hưởng của các mức phân đạm và tuổi mạ đến động thái đẻ nhánh trong vụ xuân 2008 (Trang 54)
Bảng 4.5. ảnh hưởng của các mức phân đạm và tuổi mạ đến hệ số đẻ nhánh - Tìm hiểu ảnh hưởng của các mức phân đạm, tuổi mạ đến sinh trưởng vμ năng suất giống lúa hương cốm trong điều kiện quản lý nước tiết kiệm trên đất gia lâm   hà nội
Bảng 4.5. ảnh hưởng của các mức phân đạm và tuổi mạ đến hệ số đẻ nhánh (Trang 55)
Bảng 4.6. ảnh hưởng của các mức phân đạm và tuổi mạ đến chỉ số diện  tích lá (m 2  lá/m 2  đất) - Tìm hiểu ảnh hưởng của các mức phân đạm, tuổi mạ đến sinh trưởng vμ năng suất giống lúa hương cốm trong điều kiện quản lý nước tiết kiệm trên đất gia lâm   hà nội
Bảng 4.6. ảnh hưởng của các mức phân đạm và tuổi mạ đến chỉ số diện tích lá (m 2 lá/m 2 đất) (Trang 59)
Bảng 4.7. ảnh hưởng của các mức phân đạm và tuổi mạ đến khả năng  tích luỹ chất khô (g/m 2  đất) - Tìm hiểu ảnh hưởng của các mức phân đạm, tuổi mạ đến sinh trưởng vμ năng suất giống lúa hương cốm trong điều kiện quản lý nước tiết kiệm trên đất gia lâm   hà nội
Bảng 4.7. ảnh hưởng của các mức phân đạm và tuổi mạ đến khả năng tích luỹ chất khô (g/m 2 đất) (Trang 62)
Bảng 4.8. ảnh hưởng của các mức phân đạm và tuổi mạ đến khả năng  chống chịu của lúa vụ mùa 2007 - Tìm hiểu ảnh hưởng của các mức phân đạm, tuổi mạ đến sinh trưởng vμ năng suất giống lúa hương cốm trong điều kiện quản lý nước tiết kiệm trên đất gia lâm   hà nội
Bảng 4.8. ảnh hưởng của các mức phân đạm và tuổi mạ đến khả năng chống chịu của lúa vụ mùa 2007 (Trang 65)
Bảng 4.10. ảnh hưởng của các mức phân đạm và tuổi mạ đến các yếu tố  cấu thành năng suất trong vụ mùa 2007 - Tìm hiểu ảnh hưởng của các mức phân đạm, tuổi mạ đến sinh trưởng vμ năng suất giống lúa hương cốm trong điều kiện quản lý nước tiết kiệm trên đất gia lâm   hà nội
Bảng 4.10. ảnh hưởng của các mức phân đạm và tuổi mạ đến các yếu tố cấu thành năng suất trong vụ mùa 2007 (Trang 68)
Bảng 4.11. ảnh hưởng của các mức phân đạm và tuổi mạ đến các yếu tố  cấu thành năng suất trong vụ xuân 2008 - Tìm hiểu ảnh hưởng của các mức phân đạm, tuổi mạ đến sinh trưởng vμ năng suất giống lúa hương cốm trong điều kiện quản lý nước tiết kiệm trên đất gia lâm   hà nội
Bảng 4.11. ảnh hưởng của các mức phân đạm và tuổi mạ đến các yếu tố cấu thành năng suất trong vụ xuân 2008 (Trang 70)
Bảng 4.12. ảnh hưởng của các mức phân đạm và tuổi mạ đến năng suất  và hệ số kinh tế của lúa - Tìm hiểu ảnh hưởng của các mức phân đạm, tuổi mạ đến sinh trưởng vμ năng suất giống lúa hương cốm trong điều kiện quản lý nước tiết kiệm trên đất gia lâm   hà nội
Bảng 4.12. ảnh hưởng của các mức phân đạm và tuổi mạ đến năng suất và hệ số kinh tế của lúa (Trang 71)
Bảng 4.13. Hiệu quả sử dụng phân đạm của giống lúa Hương Cốm  Công thức  Tuổi mạ  Vụ mùa năm 2007  Vô xu©n n¨m 2008  Mức phân đạm  Tuổi mạ  Kg thãc/kg N  Kg thãc/kg N - Tìm hiểu ảnh hưởng của các mức phân đạm, tuổi mạ đến sinh trưởng vμ năng suất giống lúa hương cốm trong điều kiện quản lý nước tiết kiệm trên đất gia lâm   hà nội
Bảng 4.13. Hiệu quả sử dụng phân đạm của giống lúa Hương Cốm Công thức Tuổi mạ Vụ mùa năm 2007 Vô xu©n n¨m 2008 Mức phân đạm Tuổi mạ Kg thãc/kg N Kg thãc/kg N (Trang 74)
Hình 4.1: Diễn biến độ sâu mực nước trên mặt ruộng, lượng nước tưới và  m−a vụ mùa 2007 - Tìm hiểu ảnh hưởng của các mức phân đạm, tuổi mạ đến sinh trưởng vμ năng suất giống lúa hương cốm trong điều kiện quản lý nước tiết kiệm trên đất gia lâm   hà nội
Hình 4.1 Diễn biến độ sâu mực nước trên mặt ruộng, lượng nước tưới và m−a vụ mùa 2007 (Trang 76)
Hình 4.2: Diễn biến độ sâu mực nước trên mặt ruộng, lượng nước tưới và  m−a vô xu©n 2008 - Tìm hiểu ảnh hưởng của các mức phân đạm, tuổi mạ đến sinh trưởng vμ năng suất giống lúa hương cốm trong điều kiện quản lý nước tiết kiệm trên đất gia lâm   hà nội
Hình 4.2 Diễn biến độ sâu mực nước trên mặt ruộng, lượng nước tưới và m−a vô xu©n 2008 (Trang 77)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w