luận văn thạc sĩ, tiến sĩ, cao học, luận văn
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo trường đạI học nông nghiệp I
NGUYễN THị SONG HIềN
THựC TRạNG Và NHữNG GIảI PHáP NHằM Sử DụNG HợP Lý ĐấT ĐAI HUYệN HƯƠNG SƠN, TỉNH Hà TĩNH
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và ch−a từng
đ−ợc ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đ1
đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc./
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Song Hiền
Trang 3Lời cảm ơn
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đ1 nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình, chu đáo của các thầy, cô giáo, các nhà khoa học và những ý kiến đóng góp quý báu của nhiều cá nhân, tập thể để tôi hoàn thành bản luận văn
Nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn TS.Võ Tử Can đ1 trực tiếp hướng dẫn trong suốt thời gian tôi thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn sư góp ý của các thầy, cô giáo trong Bộ môn Quy hoạch - khoa Đất và Môi trường; Trung tâm
Điều tra Quy hoạch Đất đai - Bộ Tài Nguyên và Môi trường; các
đồng nghiệp trong và ngoài cơ quan
Tôi xin chân thành cảm ơn Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh
Hà Tĩnh, Uỷ ban nhân dân huyện Hương Sơn và các phòng, ban, cá nhân ở địa phương đ1 tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong thời gian thu thập thông tin, tài liệu, nghiên cứu làm luận văn
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Song Hiền
Trang 4Mục lục
4.1.1 Đặc điểm cơ bản về điều kiện tự nhiên huyện Hương Sơn 304.1.2 Tình hình phát triển các ngành kinh tế trên địa bàn huyện 31
4.2.1 Thực trạng và mức độ hợp lý trong sử dụng đất trên địa bàn
4.2.2 Thực trạng sử dụng đất và tác động của yêu cầu phát triển kinh
Trang 54.2.3 Thực trạng sử dụng đất và vấn đề môi trường trên địa bàn
4.3 Đặc điểm thổ nhưỡng, khả năng thích nghi và tiềm năng khai
4.3.2 Khả năng thích nghi và tiềm năng khai thác sử dụng 52
4.4.2 Mục tiêu và nhu cầu tổng quát sử dụng đất đến năm 2010 và
4.4.3 Cơ cấu sử dụng đất hợp lý của huyện đến năm 2010 và 2015 714.5 Những giải pháp nhằm sử dụng hợp lý đất đai trên địa bàn
4.5.2 Giải pháp về bảo vệ tài nguyên đất và môi trường 79
Trang 6Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t
Trang 7Danh mục các bảng
4.3 Biến động cơ cấu kinh tế các ngành giai đoạn 2001 - 2006 46
4.5 Yêu cầu sử dụng đất của các kiểu sử dụng đất nông nghiệp 584.6 Diện tích đất thích nghi hiện tại cho từng loại hình sử dụng đất
Trang 8Danh mục các biểu đồ
Trang 91 Mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là một bộ phận hợp thành quan trọng của môi trường, có vai trò
và ý nghĩa đặc biệt quan trọng - là điều kiện đầu tiên, là cơ sở quan trọng của mọi quá trình sản xuất, là nơi tìm được công cụ lao động, nguyên liệu lao
động và nơi sinh tồn của x1 hội loài người Việc sử dụng hợp lý đất đai sẽ góp phần điều hoà mối quan hệ người - đất trong tổ hợp với các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đồng thời mang lại lợi ích to lớn về mặt kinh tế, x1 hội cũng như bảo vệ môi trường
Thực tế cho thấy, với quỹ đất đai có giới hạn, trong khi nhu cầu sử dụng
đất của con người ngày càng tăng đ1 làm cho mối quan hệ giữa người và đất ngày càng căng thẳng Những sai lầm liên tục của con người trong quá trình
sử dụng đất (có ý thức hoặc vô ý thức) dẫn đến sự cạnh tranh, xung đột về đất
đai, các mâu thuẫn giữa phát triển và môi trường ngày càng gay gắt, đôi khi làm huỷ hoại tài nguyên nói chung, đặc biệt là tài nguyên đất
Huyện Hương Sơn có vị trí địa lý đặc biệt trong hệ thống lưu thông với cả bên trong và bên ngoài tỉnh, là nơi có địa hình đặc trưng của Hà Tĩnh cũng như của khu vực miền Trung Điều kiện tự nhiên của Hương Sơn không thuận lợi, khí hậu khắc nghiệt, thường xuyên có b1o lụt lớn vào mùa mưa và gió Tây Nam khô nóng vào mùa khô
Mặt khác, với thực trạng phát triển kinh tế - x1 hội của Hương Sơn trong những năm gần đây cũng như dự báo phát triển trong tương lai dưới tác
động của của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa cùng với sự gia tăng dân
số thì nhu cầu về sử dụng đất của huyện sẽ ngày càng tăng, trong khi quỹ đất lại có hạn Đánh giá đúng về thực trạng sử dụng, quản lý tài nguyên đất là sự cần thiết khách quan nhằm cung cấp cơ sở cho việc sử dụng đất hợp lý với các giải pháp cải tạo, bảo vệ, hạn chế những tác động xấu đến tài nguyên đất, trên
Trang 10quan điểm sinh thái và phát triển bền vững Do vậy, việc thực hiện đề tài
“Thực trạng và những giải pháp nhằm sử dụng hợp lý đất đai huyện Hương Sơn - tỉnh Hà Tĩnh” là rất cần thiết
1.2 Mục tiêu của đề tài
- Nghiên cứu thực trạng về sử dụng đất đai huyện Hương Sơn - tỉnh Hà Tĩnh, trên cơ sở đó đề xuất cơ cấu sử dụng hợp lý đất đai đến năm 2010 và 2015
- Đề xuất một số giải pháp nhằm sử dụng hợp lý đất đai huyện Hương Sơn - tỉnh Hà Tĩnh
1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
ý nghĩa khoa học: đề tài sẽ góp phần giúp cho việc nhìn nhận một cách
có hệ thống một số vấn đề cơ bản như: khái niệm, tính chất, vai trò, ý nghĩa cũng như các quan điểm khai thác sử dụng hợp lý và quản lý tài nguyên đất
ý nghĩa thực tiễn: kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở để hoạch
định các chính sách và giải pháp quản lý, sử dụng hợp lý tài nguyên đất của huyện Hương Sơn Là tài liệu tham khảo khi nghiên cứu các vấn đề liên quan
đến đất đai của các huyện có điều kiện tương đồng trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh
Trang 112 Nghiên cứu tổng quan
2.1 Cơ sở khoa học cho việc sử dụng hợp lý đất đai
2.1.1 Một số vấn đề cơ bản về tài nguyên đất và sử dụng đất
2.1.1.1 Khái niệm và bản chất tài nguyên đất
Đất là tài nguyên không thể tái tạo - tài sản vô cùng quý giá đối với mỗi quốc gia với vai trò, ý nghĩa đặc trưng: đất đai là nơi ở, xây dựng cơ sở hạ tầng của con người và thổ nhưỡng là mặt bằng để sản xuất nông, lâm nghiệp
Đất theo nghĩa thổ nhưỡng là vật thể thiên nhiên có cấu tạo độc lập lâu
đời, hình thành do kết quả của nhiều yếu tố: đá mẹ, động thực vật, khí hậu, địa hình và thời gian Giá trị tài nguyên đất được đo bằng số lượng diện tích (ha,
km2) và độ phì (độ màu mỡ thích hợp đối với các loại cây trồng trong sản xuất nông nghiệp như cây công nghiệp, cây lương thực )
Về mặt thuật ngữ khoa học, đất đai được hiểu theo nghĩa rộng như sau:
Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó bao gồm: khí hậu
bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại [6]
Theo quan điểm sinh thái học và môi trường, Winkler (1968) đ1 xem đất như một vật thể sống vì trong nó có chứa nhiều sinh vật: vi khuẩn, nấm, tảo, thực vật, động vật do đó đất cũng tuân thủ những quy luật sống, đó là phát sinh, phát triển, thoái hoá và già cỗi Tuỳ thuộc vào thái độ của con người đối với đất mà đất có thể trở nên phì nhiêu hơn, cho năng suất cây trồng cao hơn hoặc ngược lại Cũng với cách nhìn nhận như vậy, các nhà sinh thái học còn cho rằng đất là một “vật mang” (carrier) của tất cả các hệ sinh thái tồn tại trên trái đất Như vậy, đất luôn luôn mang trên mình nó các hệ sinh thái và các hệ
Trang 12sinh thái này chỉ bền vững khi “vật mang” bền vững Con người tác động vào
đất cũng chính là tác động vào các hệ sinh thái mà đất “mang” trên mình nó Một vật mang, lại có tính chất đặc thù, độc đáo của độ phì nhiêu nên đất là cơ
sở cần thiết, vững chắc, giúp cho các hệ sinh thái tồn tại và phát triển [1]
Vì vậy, một định nghĩa đầy đủcó thể như sau (định nghĩa này đ; được
sử dụng trong tài liệu về Hiệp định ngăn ngừa sa mạc hoá - LHQ 1994)
“Đất là một diện tích cụ thể của bề mặt đất liền trái đất, bao gồm tất cả các đặc tính sinh quyển ngay trên hay dưới bề mặt đó gồm có: yếu tố khí hậu gần bề mặt trái đất; các dạng thổ nhưỡng và địa hình, thuỷ văn bề mặt (gồm:
hồ, sông, suối và đầm lầy nước cạn); lớp trầm tích và kho dự trữ nước ngầm sát bề mặt trái đất; tập đoàn thực vật và động vật; trạng thái định cư của con người và những thành quả vật chất do các hoạt động của con người trong quá khứ và hiện tại tạo ra (như: các bậc thềm, hồ chứa nước hoặc các hệ thống tiêu thoát nước, đường xá, công trình xây dựng ) [34]
2.1.1.2 Các chức năng của đất
Các chức năng cơ bản của đất bao gồm (ESCAP, 1994)
- Đất là cơ sở cho rất nhiều hệ thống hỗ trợ cuộc sống của con người hoặc trực tiếp hoặc thông qua chăn nuôi (bao gồm nuôi cá nước ngọt và cá biển) và thông qua quan hệ sản xuất sinh khối nó cung cấp thực phẩm, cỏ khô, sợi, nhiên liệu, củi gỗ và các chất liệu sinh khối khác cho việc sử dụng của con người (chức năng sản xuất)
- Đất là cơ sở đa dạng sinh học trên trái đất vì nó cung cấp môi trường sống cho sinh vật và bảo vệ nguồn gen cho các thực vật, động vật, vi sinh vật sống trên và dưới mặt đất (chức năng môi trường sinh vật)
- Đất và việc sử dụng nó là nguồn, nơi chứa đựng các khí nhà kính và là một yếu tố quyết định đối với việc cân bằng năng lượng toàn cầu - phản xạ, hấp thụ, chuyển đổi năng lượng bức xạ mặt trời và tuần hoàn nước trên trái đất (chức năng điều tiết khí hậu)
Trang 13- Đất điều chỉnh việc dự trữ, dòng chảy của tài nguyên nước mặt, nước ngầm và có ảnh hưởng đến chất lượng của chúng (chức năng về nước)
- Đất là nơi chứa đựng khoáng sản và vật liệu thô cho việc sử dụng của con người (chức năng dự trữ)
- Đất có chức năng tiếp nhận, làm sạch, môi trường đệm và chuyển đổi các hợp chất nguy hiểm (chức năng kiểm soát ô nhiễm và chất thải)
- Đất cung cấp cơ sở vật chất cho việc định cư của con người, cho các nhà máy và hoạt động x1 hội như thể thao, giải trí (chức năng không gian sự sống)
- Đất là vật trung gian để lưu giữ, bảo vệ các bằng chứng lịch sử, văn hoá của loài người; là nguồn thông tin về các điều kiện thời tiết và việc sử dụng đất trước đây (chức năng lưu truyền và kế thừa)
- Đất cung cấp không gian cho sự dịch chuyển của con người, cho việc
đầu tư, sản xuất và cho sự di chuyển của thực vật, động vật giữa các vùng riêng biệt của hệ sinh thái tự nhiên (chức năng không gian tiếp nối)
Sự thích hợp của đất cho nhiều chức năng trên thể hiện rất khác nhau ở các nơi trên thế giới Các khu vực cảnh quan - là khu vực tài nguyên thiên nhiên - có động thái riêng của chúng, nhưng con người lại có rất nhiều tác
động ảnh hưởng đến động thái này (cả về không gian và thời gian) [38]
Về mặt thể trạng của toàn bộ hệ sinh thái đất (Warkentin 1995) nhiều nhà khoa học cho rằng bất cứ một khái niệm nào về chất lượng tài nguyên đất cũng nên xem xét các chức năng của đất trong hệ sinh thái (Acton và Gregoric
1995, Kenedy và Papendick 1995; Warkentin 1995, Doran và nnk 1996; Johson và nnk 1997) Các khái niệm này phải được dựa trên việc đánh giá chất lượng đất (Doran và Parkin 1994) về các mặt:
- Sản xuất: khả năng của đất đối với việc phát triển cây trồng và sản xuất sinh học
- Chất lượng môi trường: khả năng của đất đối với việc làm giảm bớt các chất ô nhiễm môi trường, mầm bệnh và nguy cơ bên ngoài
Trang 14- Sức khoẻ con người và vật nuôi: mối liên hệ qua lại giữa chất lượng
đất và sự phát triển cây trồng, vật nuôi, sức khoẻ con người
Trong điều kiện bình thường, hệ sinh thái đất luôn ổn định có khả năng
tự lập lại cân bằng giữa các quần thể sinh vật đất, giữa vòng tuần hoàn vật chất
và dòng năng lượng, khi có tác động của các nhân tố bên ngoài Tuy nhiên, sự
điều chỉnh của hệ sinh thái đất có giới hạn nhất định, nếu sự thay đổi vượt quá giới hạn này, sinh thái đất mất khả năng tự điều chỉnh và hậu quả là chúng bị
ô nhiễm, giảm độ phì và tính năng sản xuất [35]
2.1.1.3 Vấn đề sử dụng đất
Sử dụng đất liên quan đến chức năng hoặc mục đích của loại đất được người dân địa phương sử dụng Việc sử dụng đất có thể được định nghĩa là
“Những hoạt động của con người có liên quan trực tiếp tới đất, sử dụng nguồn tài nguyên đất hoặc có tác động lên chúng” [34]
Số liệu về quá trình và hình thái của các hoạt động đầu tư (lao động, vốn, nước, phân hoá học ), kết quả sản lượng (loại nông sản, thời gian, chu
kỳ vụ mùa) cho phép có những định nghĩa chính xác của việc sử dụng đất, phân tích tác động môi trường và kinh tế, lập mô hình những ảnh hưởng của việc biến đổi sử dụng đất hoặc việc chuyển đổi việc sử dụng đất này sang mục
đích sử dụng đất khác
Để xác định mức độ bền vững thì cần phải xác định những yêu cầu sử dụng đất trong tương lai theo cùng một điều kiện, ví dụ: một chất lượng đất quan trọng có thể là khả năng dự trữ độ ẩm của đất, khi đó việc sử dụng đất trong tương lai được xác định theo những yêu cầu về độ ẩm thổ nhưỡng (yêu cầu về số lượng, phân bố ) Cách đánh giá nhanh có thể được đưa ra một cách chính xác hoặc dựa trên cơ sở của các loại hình sử dụng đất bền vững Tuy nhiên, các mô hình toán học ngày càng được sử dụng nhiều để hỗ trợ cho việc đánh giá định lượng đất, đặc biệt là để dự đoán sản lượng mùa màng và
đánh giá mức độ thoái hoá đất
Trang 152.1.2 Tính chất, vai trò và ý nghĩa của đất nhìn từ góc độ sử dụng hợp lý tài
nguyên đất
2.1.2.1 Các tính chất “đặc biệt” khi sử dụng tài nguyên đất
Các tính chất “đặc biệt” của đất cần lưu ý trong quá trình sử dụng:
- Đặc điểm tạo thành: đất đai xuất hiện, tồn tại ngoài ý chí và nhận thức của con người: là sản phẩm của tự nhiên, có trước lao động, là điều kiện tự nhiên của lao động Chỉ khi tham gia vào hoạt động sản xuất của x1 hội, dưới tác động của lao động, đất đai mới trở thành tư liệu sản xuất
- Tính hạn chế về số lượng: đất đai là tài nguyên hạn chế, diện tích đất (số lượng) bị giới hạn bởi ranh giới đất liền trên bề mặt địa cầu (lưu ý: giới hạn về không gian không có nghĩa giới hạn về tính chất sản xuất của đất)
- Tính không đồng nhất: đất đai không đồng nhất về chất lượng, hàm lượng chất dinh dưỡng, các tính chất lý, hoá (quyết định bởi các yếu tố hình thành đất cũng như chế độ sử dụng đất khác nhau)
- Tính không thay thế: thay thế đất bằng tư liệu sản xuất khác là việc không thể làm được
- Tính cố định vị trí: đất đai hoàn toàn cố định vị trí trong sử dụng (khi
sử dụng không thể di chuyển từ nơi này sang nơi khác)
- Tính vĩnh cửu: đất đai là tư liệu sản xuất vĩnh cửu Nếu biết sử dụng hợp
lý, đặc biệt trong sản xuất nông - lâm nghiệp, đất sẽ không bị hư hỏng, ngược lại
có thể tăng tính chất sản xuất (độ phì nhiêu) cũng như hiệu quả sử dụng đất Khả năng tăng tính chất sản xuất của đất tuỳ thuộc vào phương thức sử dụng [6]
2.1.2.2 Những điều kiện và yếu tố ảnh hưởng tới việc sử dụng đất đai
Phạm vi sử dụng đất, cơ cấu và phương thức sử dụng đất một mặt bị
sự chi phối bởi các điều kiện và quy luật sinh thái tự nhiên, mặt khác bị kiềm chế bởi các điều kiện, quy luật kinh tế - x1 hội và các yếu tố kỹ thuật Vì vậy,
có thể khái quát những điều kiện và nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất theo 3 nội dung sau đây:
Trang 16- Điều kiện tự nhiên
Khi sử dụng đất đai, ngoài bề mặt không gian (như diện tích trồng trọt, mặt bằng xây dựng ), cần chú ý đến việc thích ứng với điều kiện tự nhiên và quy luật sinh thái tự nhiên của đất cũng như các yếu tố bao quanh mặt đất (như nhiệt độ, ánh sáng, lượng mưa, không khí và các khoáng sản dưới lòng đất )
Yếu tố khí hậu: trong điều kiện tự nhiên, khí hậu là yếu tố hạn chế hàng
đầu của việc sử dụng đất đai Các yếu tố khí hậu ảnh hưởng rất lớn, trực tiếp
đến sản xuất nông nghiệp và điều kiện sinh hoạt của con người Tổng tích ôn nhiều ít, nhiệt độ bình quân cao thấp, sự sai khác nhiệt độ về thời gian và không gian, sự sai khác giữa nhiệt tối cao và tối thấp, thời gian không có sương dài hoặc ngắn trực tiếp ảnh hưởng đến sự phân bố, sinh trưởng và phát dục của cây trồng, cây rừng và thực vật thuỷ sinh Cường độ của ánh sáng mạnh hay yếu, thời gian chiếu sáng dài hay ngắn cũng có tác dụng ức chế đối với sinh trưởng, phát dục và tác dụng quang hợp của cây trồng Chế độ nước vừa là điều kiện quan trọng để cây trồng vận chuyển dinh dưỡng, vừa là vật chất giúp cho sinh vật sinh trưởng và phát triển Lượng mưa nhiều hay ít, bốc hơi mạnh hay yếu, có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ nhiệt độ và độ ẩm của
đất, cũng như khả năng đảm bảo cung cấp nước cho sinh trưởng của cây trồng, cây rừng, gia súc và thuỷ sản
Điều kiện đất đai (địa hình và thổ nhưỡng): sự sai khác giữa địa hình,
địa mạo, độ cao so với mặt nước biển, độ dốc và hướng dốc, sự bào mòn mặt
đất và mức độ xói mòn thường dẫn tới sự khác nhau về đất đai và khí hậu,
từ đó ảnh hưởng đến sản xuất và phân bố các ngành nông, lâm nghiệp, hình thành sự phân dị địa giới theo chiều thẳng đứng đối với nông nghiệp Địa hình và độ dốc ảnh hưởng đến phương thức sử dụng đất nông nghiệp, đặt ra yêu cầu xây dựng đồng ruộng để thuỷ lợi hoá và cơ giới hoá Đối với đất phi nông nghiệp, địa hình phức tạp sẽ ảnh hưởng tới giá trị công trình và gây khó khăn cho thi công Điều kiện thổ nhưỡng quyết định rất lớn đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp Độ phì của đất là tiêu chí quan trọng về sản lượng cao hay
Trang 17thấp Độ dày tầng đất và tính chất đất có ảnh hưởng lớn đối với sinh trưởng của cây trồng
Đặc thù của điều kiện tự nhiên mang tính khu vực cũng là một yếu tố
ảnh hưởng đến việc sử dụng đất Vị trí địa lý của vùng với sự khác biệt về điều kiện ánh sáng, nhiệt độ, nguồn nước và các điều kiện tự nhiên khác sẽ quyết
định đến khả năng, công dụng và hiệu quả sử dụng đất đai Vì vậy, trong thực tiễn sử dụng đất cần tuân thủ quy luật tự nhiên, tận dụng các lợi thế nhằm đạt hiệu ích cao nhất về x1 hội, môi trường và kinh tế
- Điều kiện kinh tế - x> hội
Bao gồm các yếu tố như chế độ x1 hội, dân số và lao động, thông tin và quản lý, chính sách môi trường và chính sách đất đai, yêu cầu quốc phòng, sức sản xuất và trình độ phát triển của kinh tế hàng hoá, cơ cấu kinh tế và phân bổ sản xuất, các điều kiện về công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, giao thông, vận tải, sự phát triển của khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý, sử dụng lao động, điều kiện và trang thiết bị vật chất cho công tác phát triển nguồn nhân lực, đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất
Điều kiện kinh tế - x1 hội thường có ý nghĩa quyết định, chủ đạo đối với việc sử dụng đất Thực vậy, phương hướng sử dụng đất được quyết định bởi yêu cầu của x1 hội và mục tiêu kinh tế trong từng thời kỳ nhất định Điều kiện tự nhiên của đất đai cho phép xác định khả năng thích ứng về phương thức sử dụng đất, còn sử dụng đất như thế nào được quyết định bởi sự năng
động của con người và các điều kiện kinh tế - x1 hội, kỹ thuật hiện có cũng như được quyết định bởi tính hợp lý, tính khả thi về kinh tế kỹ thuật và mức độ
đáp ứng của chúng hay quyết định bởi nhu cầu của thị trường
Trong một vùng hoặc trên phạm vi một nước, điều kiện vật chất tự nhiên của đất thường có sự khác biệt không lớn, về cơ bản là giống nhau, nhưng với điều kiện kinh tế - x1 hội khác nhau, dẫn đến tình trạng có vùng đất
đai được khai thác sử dụng triệt để từ lâu đời và đ1 đem lại những hiệu quả kinh tế - x1 hội rất cao, trong khi có nơi thì bỏ hoang hoá hoặc khai thác với
Trang 18hiệu quả rất thấp Có thể nhận thấy, điều kiện x1 hội, kinh tế, kỹ thuật không tương ứng, thì ưu thế tài nguyên khó có thể trở thành sức sản xuất hiện thực, cũng như chuyển hoá thành ưu thế kinh tế Ngược lại, khi điều kiện kinh tế kỹ thuật được ứng dụng vào khai thác và sử dụng đất, sẽ phát huy mạnh mẽ tiềm lực sản xuất của đất, đồng thời góp phần cải tạo điều kiện môi trường tự nhiên, biến điều kiện tự nhiên từ bất lợi thành điều kiện có lợi cho phát triển kinh tế - x1 hội
Các yếu tố điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - x1 hội tạo ra nhiều
tổ hợp ảnh hưởng đến việc sử dụng đất Tuy nhiên mỗi yếu tố giữ vị trí và có tác động khác nhau, trong đó: điều kiện tự nhiên là yếu tố cơ bản để xác định công dụng của đất, có ảnh hưởng trực tiếp, cụ thể, sâu sắc, nhất là đối với sản xuất nông nghiệp; điều kiện kinh tế sẽ kiềm chế tác dụng của con người trong việc sử dụng đất; điều kiện x1 hội tạo ra những khả năng khác nhau cho các yếu tố kinh tế, tự nhiên tác động tới việc sử dụng đất Vì vậy, cần phải đưa vào quy luật tự nhiên các quy luật kinh tế - x1 hội để nghiên cứu, xử lý mối quan
hệ giữa các nhân tố tự nhiên, kinh tế - x1 hội trong lĩnh vực sử dụng đất Căn
cứ vào yêu cầu của thị trường và của x1 hội, xác định mục đích sử dụng đất, kết hợp chặt chẽ yêu cầu sử dụng với ưu thế tài nguyên của đất để đạt tới cơ cấu tổng thể hợp lý nhất, với diện tích đất đai có hạn chế, nhưng mang lại hiệu quả kinh tế, hiệu quả x1 hội ngày càng cao và sử dụng đất đai được bền vững
Không gian mà đất đai cung cấp có đặc tính vĩnh cửu, cố định vị trí khi
Trang 19sử dụng, số lượng không thể vượt phạm vi quy mô hiện có Do vị trí và không gian của đất đai không bị mất đi và cũng không tăng thêm trong quá trình sử dụng nên phần nào đ1 giới hạn sức tải nhân khẩu và số lượng người lao động,
có nghĩa tác dụng hạn chế của không gian đất đai sẽ thường xuyên xảy ra khi dân số và kinh tế - x1 hội luôn phát triển
Sự bất biến của tổng diện tích đất đai không chỉ hạn chế khả năng mở rộng không gian sử dụng đất mà còn chi phối giới hạn thay đổi của cơ cấu đất
đai Điều này quyết định việc điều chỉnh cơ cấu đất đai theo loại, số lượng
được sử dụng căn cứ vào sức sản xuất của đất và yêu cầu sản xuất của x1 hội nhằm đảm bảo nâng cao lực tải của đất đai
Khả năng không chuyển dịch của đất đai dẫn đến việc phân bố về số lượng và chất lượng đất đai mang tính khu vực rất chặt chẽ Cùng với mật độ dân số của các khu vực khác nhau, tỷ lệ cơ cấu và lượng đầu tư sẽ có sự khác biệt rất rõ rệt Tài nguyên đất đai có hạn lại giới hạn về không gian, đây là yếu
tố hạn chế lớn nhất trong việc sử dụng đất Vì vậy, cần phải thực hiện nghiêm ngặt nguyên tắc sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả kết hợp bảo vệ tài nguyên đất và môi trường [6]
2.1.2.3 Vai trò và ý nghĩa của đất trong quá trình sử dụng
Đất đai là điều kiện vật chất chung nhất đối với mọi ngành sản xuất và hoạt động của con người, vừa là đối tượng lao động (xây dựng nhà xưởng, bố trí máy móc, làm đất ), vừa là phương tiện lao động (cho công nhân nơi
đứng, dùng để gieo trồng, nuôi gia súc )
- Vai trò và ý nghĩa của đất đai trong các ngành phi nông nghiệp: Đất
đai giữ vai trò thụ động với chức năng là cơ sở không gian và vị trí để hoàn thiện quá trình lao động, là kho tàng dự trữ trong lòng đất (các ngành khai thác khoáng sản) Quá trình sản xuất và sản phẩm được tạo ra không phụ thuộc vào đặc điểm, độ phì nhiêu của đất, chất lượng thảm thực vật và các tính chất tự nhiên có sẵn trong đất
Trang 20- Vai trò và ý nghĩa của đất đai trong các ngành nông - lâm nghiệp: Đất
đai là yếu tố tích cực của quá trình sản xuất, là điều kiện vật chất - cơ sở không gian, đồng thời là đối tượng lao động (luôn chịu tác động trong quá trình sản xuất như cày bừa, xới xáo ) và công cụ lao động hay phương tiện lao động (sử dụng để trồng trọt, chăn nuôi ) Quá trình sản xuất nông - lâm nghiệp luôn liên quan chặt chẽ với độ phì nhiêu và quá trình sinh học tự nhiên của đất [6]
2.1.2.4 Những lợi ích khác nhau về sử dụng đất
Đất đai là điều kiện chung nhất (khoảng không gian l;nh thổ cần thiết) đối với mọi quá trình sản xuất trong các ngành kinh tế quốc dân và hoạt
động của con người Điều này có nghĩa: thiếu khoảnh đất (có vị trí, hình thể, quy mô diện tích và yêu cầu về chất lượng nhất định) thì không một ngành nào, doanh nghiệp nào có thể bắt đầu công việc và hoạt động được Nói khác
đi, không có đất sẽ không có sản xuất (đối với mọi ngành) cũng như không có
sự tồn tại của chính con người
Lợi ích của việc sử dụng đất rất đa dạng, song có thể chia thành 3 nhóm lợi ích cơ bản sau:
- Sử dụng đất làm tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt để thoả m1n nhu cầu sinh tồn và phát triển của con người
- Dùng đất làm cơ sở sản xuất và môi trường hoạt động
- Đất cung cấp không gian môi trường cảnh quan mỹ học cho việc hưởng thụ tinh thần
Trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế - x1 hội, khi mức sống con người còn thấp, các lợi ích chủ yếu của đất đai thể hiện tập trung ở sản xuất vật chất, đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp Khi cuộc sống x1 hội phát triển
ở mức cao, lợi ích của đất từng bước được mở rộng, việc sử dụng đất cũng phức tạp hơn, vừa là phương tiên đối với sản xuất nông - lâm nghiệp vừa là không gian và địa bàn cho sản xuất công nghiệp, xây dựng và dịch vụ Điều
Trang 21này có nghĩa, đất đai đ1 cung cấp cho con người tư liệu vật chất để sinh tồn và phát triển, cũng như cung cấp điều kiện cần thiết về hưởng thụ và đáp ứng nhu cầu cho cuộc sống của nhân loại
2.1.2.5 Các xu thế phát triển sử dụng đất
Sử dụng đất là hệ thống các biện pháp nhằm điều hoà mối quan hệ người - đất trong tổ hợp các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và môi trường Căn cứ vào nhu cầu của thị trường sẽ phát hiện, quyết định phương hướng chung và mục tiêu sử dụng hợp lý nhất tài nguyên đất, phát huy tối đa công dụng của đất nhằm đạt tới hiệu ích sinh thái, kinh tế và x1 hội cao nhất Vì vậy, sử dụng đất thuộc phạm trù hoạt động kinh tế của nhân loại Trong mỗi phương thức sản xuất x1 hội nhất định, việc sử dụng đất theo yêu cầu của sản xuất và đời sống cần căn cứ vào thuộc tính tự nhiên của đất đai Với ý nghĩa là nhân tố của sức sản xuất, các nhiệm vụ và nội dung sử dụng đất được thể hiện theo 4 mặt sau:
- Sử dụng đất hợp lý về không gian, hình thành hiệu quả kinh tế không gian sử dụng đất
- Phân phối hợp lý cơ cấu đất đai trên diện tích đất được sử dụng, hình thành cơ cấu kinh tế sử dụng đất
- Quy mô sử dụng đất cần có sự tập trung thích hợp, hình thành quy mô kinh tế sử dụng đất
- Giữ mật độ sử dụng đất thích hợp, hình thành việc sử dụng đất một cách kinh tế, tập trung, thâm canh
Hiện nay, xu thế sử dụng đất được phát triển theo các hướng sau:
* Sử dụng đất phát triển theo chiều rộng và tập trung
Lịch sử phát triển của x1 hội loài người chính là lịch sử biến đổi của quá trình sử dụng đất Khi con người còn sống bằng phương thức săn bắn và hái lượm, chủ yếu dựa vào sự ban phát của tự nhiên và thích ứng với tự nhiên
để tồn tại, vấn đề sử dụng đất hầu như không tồn tại Thời kỳ du mục, con
Trang 22người sống trong lều cỏ, những vùng đất có nước và đồng cỏ bắt đầu được sử dụng Khi xuất hiện ngành trồng trọt với những công cụ sản xuất thô sơ, diện tích đất đai được sử dụng tăng lên nhanh chóng, năng lực sử dụng và ý nghĩa kinh tế của đất đai cũng gia tăng Tuy nhiên trình độ sử dụng đất vẫn còn rất thấp, phạm vi sử dụng cũng rất hạn chế, mang tính kinh doanh thô, đất khai phá nhiều nhưng thu nhập rất thấp Với sự tăng trưởng của dân số và phát triển của kinh tế, kỹ thuật, văn hoá và khoa học, quy mô, phạm vi và chiều sâu của việc sử dụng đất ngày một nâng cao Yêu cầu sinh hoạt vật chất và tinh thần của người dân ngày càng cao, các ngành nghề cũng phát triển theo xu hướng phức tạp và đa dạng dần, phạm vi sử dụng đất càng mở rộng (từ cục bộ một vùng đ; phát triển trên phạm vi cả thế giới, thậm chí cả ở những vùng đất trước đây không thể sử dụng được)
Cùng với việc phát triển sử dụng đất theo không gian, trình độ tập trung cũng sâu hơn nhiều Đất canh tác cũng như đất sử dụng theo các mục đích khác đều được phát triển theo hướng kinh doanh tập trung, với diện tích đất ít nhưng hiệu quả sử dụng cao
Tuy nhiên, thời kỳ quá độ từ kinh doanh quảng canh sang kinh doanh thâm canh cao trong sử dụng đất là một nhiệm vụ chiến lược lâu dài Để nâng cao sức sản xuất và sức tải của một đơn vị diện tích, đòi hỏi phải liên tục nâng mức đầu tư về vốn và lao động, thường xuyên cải tiến kỹ thuật và công tác quản lý ở những khu vực khác nhau của một vùng hoặc một quốc gia, có sự khác nhau về trình độ phát triển kinh tế kỹ thuật cũng như các điều kiện đặc thù, do đó phải áp dụng linh hoạt, sáng tạo nhiều phương thức sử dụng đất tuỳ từng thời điểm khác nhau
* Sử dụng đất phát triển theo hướng phức tạp hoá và chuyên môn hoá Khoa học kỹ thuật và kinh tế của x1 hội phát triển, quá trình sử dụng
đất chuyển dần từ hình thức quảng canh sang thâm canh, kéo theo xu thế từng bước phức tạp hoá và chuyên môn hoá cơ cấu sử dụng đất
Thực tế cho thấy, khi kinh tế phát triển, nhu cầu của con người về vật
Trang 23chất, văn hoá, tinh thần và môi trường ngày một cao sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp đòi hỏi yêu cầu cao hơn đối với đất đai ở thời kỳ mức sống còn thấp, việc sử dụng đất chủ yếu tập trung vào sản xuất nông nghiệp nhằm giải quyết vấn đề thường nhật của cuộc sống là đủ cơm ăn, áo mặc và chỗ ở Khi
đời sống đ1 nâng cao, chuyển sang giai đoạn hưởng thụ, vấn đề sử dụng đất ngoài việc sản xuất vật chất còn phải thoả m1n được nhu cầu vui chơi, giải trí, văn hoá, thể thao và môi trường trong sạch đ1 làm cho cơ cấu sử dụng
đất trở nên phức tạp hơn
Tiến bộ khoa học kỹ thuật đ1 cho phép mở rộng khả năng kiểm soát tự nhiên của con người, áp dụng các biện pháp bồi bổ và cải tạo sẽ nâng cao sức sản xuất của đất đai, thoả m1n các loại nhu cầu của x1 hội Trước đây, việc sử dụng đất rất hạn chế do kinh tế và khoa học kỹ thuật còn ở trình độ thấp, chủ yếu sử dụng bề mặt của đất đai, nông nghiệp thì độc canh, đất lâm nghiệp,
đồng cỏ, mặt nước ít được khai thác, khai thác khoáng sản còn hạn chế, xây dựng chủ yếu là chọn đất bằng Khi khoa học kỹ thuật hiện đại phát triển, ngay cả đất xấu cũng được khai thác triệt để, hình thức sử dụng đa dạng, ruộng nước phát triển đ1 làm cho nội dung sử dụng đất ngày một phức tạp hơn theo hướng sử dụng toàn diện, triệt để các chất dinh dưỡng, sức tải, vật chất cấu thành và sản phẩm của đất đai để phục vụ lợi ích con người
Hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân và phát triển kinh tế hàng hoá, dẫn
đến sự phân công trong sử dụng đất theo hướng chuyên môn hóa Do đất đai
có đặc tính khu vực rất mạnh, sự sai khác về ưu thế tài nguyên hết sức rõ rệt, phương hướng và biện pháp sử dụng đất của các vùng cũng rất khác nhau Để
sử dụng hợp lý đất đai, đạt được sản lượng và hiệu quả kinh tế cao nhất cần có
sự phân công và chuyên môn hoá theo khu vực Cùng với việc đầu tư, trang bị
và ứng dụng các công cụ kỹ thuật, công cụ quản lý hiện đại sẽ nẩy sinh yêu cầu phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp có quy mô lớn và tập trung,
đồng thời cũng hình thành các khu vực chuyên môn hoá sử dụng đất khác nhau về hình thức và quy mô
Trang 24* Sử dụng đất phát triển theo hướng x> hội hoá và công hữu hoá
Sự phát triển của khoa học, kỹ thuật và x1 hội dẫn tới việc x1 hội hóa sản xuất Mỗi vùng đất thực hiện sản xuất tập trung một loại sản phẩm và hỗ trợ bổ sung lẫn nhau đ1 hình thành nên sự phân công hợp tác mang tính x1 hội hoá sản xuất, cũng như x1 hội hóa việc sử dụng đất đai
Đất đai là cơ sở vật chất và công cụ để con người sinh sống và x1 hội tồn tại Vì vậy, việc chuyên môn hoá theo yêu cầu x1 hội hóa sản xuất phải
đáp ứng nhu cầu của x1 hội hướng tới lợi ích cộng đồng và tiến bộ x1 hội Ngay cả ở x1 hội mà mục tiêu sử dụng đất chủ yếu vì lợi ích của tư nhân, những vùng đất đai hướng dụng cộng đồng như: nguồn nước, núi rừng, khoáng sản, sông ngòi, mặt hồ, biển cả, hải cảng, danh lam thắng cảnh, động thực vật quý hiếm vẫn cần có những quy định về chính sách thực thi hoặc tiến hành công quản, kinh doanh của Nhà nước nhằm ngăn chặn, phòng ngừa việc tư hữu tạo nên những mâu thuẫn gay gắt của x1 hội
X1 hội hóa sử dụng đất là sản phẩm tất yếu và là yêu cầu khách quan của
sự phát triển x1 hội hóa sản xuất Vì vậy, x1 hội hóa sử dụng đất và công hữu hóa là xu thế tất yếu Muốn kinh tế phát triển và thúc đẩy x1 hội hóa sản xuất cao hơn, cần phải thực hiện x1 hội hóa và công hữu hóa sử dụng đất
2.1.3 Sử dụng đất và các mục đích kinh tế, x> hội, môi trường
Trong thời kỳ cuộc sống x1 hội phát triển ở mức cao, việc sử dụng đất luôn hướng tới mục tiêu kinh tế, nhằm đạt được lợi nhuận tối đa trên một đơn vị diện tích đất nhất định (xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất, chuồng trại chăn nuôi quy mô lớn ) Bên cạnh đó, một phần diện tích đất không nhỏ được
sử dụng để phục vụ nhu cầu sinh hoạt, ăn ở cũng như thỏa m1n đời sống tinh thần của con người (xây dựng nhà cửa, hệ thống giao thông, các công trình dịch
vụ thể dục thể thao, văn hoá x; hội, mở mang phát triển đô thị và khu dân cư nông thôn )
Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng đất, các mục đích sử dụng đất nêu trên
Trang 25luôn nảy sinh mâu thuẫn làm cho mối quan hệ giữa người và đất ngày càng căng thẳng Những sai lầm liên tục của con người trong quá trình sử dụng đất (sai lầm có ý thức hoặc vô ý thức) dẫn đến huỷ hoại môi trường nói chung và môi trường đất nói riêng (các thảm hoạ sinh thái như lũ lụt, hạn hán, cháy rừng, trượt lở đất liên tục xẩy ra với quy mô ngày càng lớn và mức độ ngày càng nghiêm trọng), làm cho một số chức năng của đất bị yếu đi Để thoả m1n nhu cầu của con người cả về 3 lợi ích kinh tế - x1 hội - môi trường nhất thiết phải giải quyết những xung đột này để sử dụng đất có hiệu quả Việc sử dụng
đất như một thể thống nhất tạo ra điều kiện để giảm thiểu những xung đột, tạo
ra hiệu quả sử dụng cao và liên kết được sự phát triển kinh tế - x1 hội với bảo vệ
và nâng cao chất lượng môi trường Sử dụng đất hợp lý, bền vững là hài hoà
được các mục tiêu kinh tế - x1 hội và môi trường
Những xung đột giữa 3 lợi ích kinh tế, x1 hội và môi trường rất đa dạng:
- Đất sản xuất nông nghiệp đối lập với quá trình đô thị hoá
- Phát triển thủy lợi đối lập với việc phân chia các nguồn tài nguyên nước cho đô thị và phát triển công nghiệp
- Phát triển kinh tế - x1 hội vùng ven biển đối lập với việc bảo vệ hệ sinh thái ven biển
- Sản xuất thuốc phiện đối lập với sản xuất lương thực thực phẩm ở một
số địa phương
- Quyền lợi của người bản địa và những người di cư
- Bảo vệ các giá trị sinh thái đối lập với nhu cầu về thực phẩm hoặc nông sản khác
- Các chủ sử dụng đất nhỏ mâu thuẫn với việc canh tác quy mô lớn 2.1.3.1 Sử dụng đất và mục tiêu kinh tế
Sử dụng đất trước hết bao giờ cũng gắn với mục tiêu kinh tế, những mục tiêu kinh tế trong sử dụng đất giữa chủ sử dụng thực tế và cộng đồng lớn hơn
có lúc trùng nhau và có lúc không trùng nhau
Trang 26Các hộ nông dân trong việc sử dụng đất của mình luôn đặt ra mục tiêu làm ra sản phẩm để bán hoặc tự tiêu dùng, nếu thấy việc đó không có lợi họ có thể thay đổi cây trồng để sản xuất có hiệu quả hơn hoặc nếu việc canh tác không có lợi họ có thể bán phần đất của họ cho người nông dân khác, những người mà sản xuất nông nghiệp đem lại lợi nhuận cao hơn hoặc họ cũng có thể thay đổi mục đích sử dụng đất của mình kể cả việc bán đất sét cho nhà máy gạch, bán cát dưới dạng vật liệu xây dựng hoặc sử dụng đất làm khu vui chơi giải trí cho khách du lịch
Trong khi đó cộng đồng (x;, huyện, tỉnh, cả nước) luôn có những mối quan tâm kinh tế lâu dài trong sử dụng đất, trước hết đó là đảm bảo các mục tiêu kinh tế lâu dài và cần thiết cho cả cộng đồng, đó là vấn đề an toàn lương thực; có đất để mở mang đô thị, xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng các khu cụm công nghiệp, bảo vệ môi trường và các khu vui chơi giải trí
Như vậy các mối quan tâm kinh tế nhất thời của người sử dụng đất cụ thể mâu thuẫn với mối quan tâm lâu dài của cả cộng đồng
Sử dụng đất và các mục tiêu kinh tế được xem là hợp lý không có nghĩa
là thoả m1n được nguyện vọng của từng chủ sử dụng đất và toàn thể cộng
đồng mà là quá trình xem xét cân nhắc để sử dụng đất hài hoà về mặt lợi ích của toàn thể cộng đồng và các chủ sử dụng đất cụ thể Trong vấn đề này bao giờ cũng đặt ưu tiên cho việc sử dụng đất lâu dài và mối quan tâm chung của toàn thể cộng đồng
2.1.3.2 Sử dụng đất và mục tiêu x; hội
Sử dụng đất trước tiên liên quan đến những người sống trên mảnh đất
đó, họ có những nhu cầu thiết yếu của mình và đó là mục tiêu x1 hội rõ rệt của bất cứ một Nhà nước nào nhằm tạo ra hay duy trì các điều kiện mà nó có tác dụng giúp thoả m1n những nhu cầu thiết yếu này Việc tạo ra công ăn việc làm trong quá trình phát triển bền vững là một phương pháp hữu hiệu nhằm cùng một lúc đạt được 3 mục tiêu (x; hội, kinh tế và môi trường) Những nhu
Trang 27cầu thiết yếu này bao gồm các cơ sở vật chất công cộng hoặc các phương tiện phục vụ cho sức khoẻ, giáo dục, định cư, thu nhập ngoài ra còn tạo ra một ý thức về công bằng x1 hội và kiểm soát chính tương lai của họ
Công bằng x1 hội là rất cần thiết cho mọi người Trong sử dụng đất Chính phủ thường có những dự án ưu đ1i cho nhóm người nghèo trong x1 hội Việc làm giảm tình trạng căng thẳng giữa các nhóm dân số cũng là một mục tiêu x1 hội của Chính phủ (mâu thuẫn giữa dân bản địa, dân di cư ) Một mục tiêu x1 hội nữa cần phải kể đến là mâu thuẫn giữa các thế hệ
về việc sử dụng đất Đó là việc sử dụng đất của các thế hệ hiện tại không nghĩ
đến lợi ích của các thế hệ con cháu Do đó đ1 có khuyến cáo: “Đất không thể
là đối tượng của từng cá thể! Đất mà chúng ta đang sử dụng, tự coi là của mình, không chỉ thuộc về chúng ta! Đất là điều kiện vật chất cần thiết để tồn tại và tái sản xuất các thế hệ tiếp nhau của loài người Vì vậy, trong sử dụng cần làm cho đất tốt hơn cho các thế hệ mai sau” [5]
2.1.3.3 Sử dụng đất và mục tiêu môi trường
Đối với bất kỳ vùng đất nào trong sử dụng đất đai gắn với mục tiêu môi trường thì điều quan trọng là phải phân biệt được mục tiêu chung và mục tiêu riêng Chính phủ các nước đều đưa ra các tiêu chuẩn và mục tiêu về môi trường
Việc nhìn nhận “môi trường” không chỉ có nghĩa là một hệ thống các tiêu chuẩn về hoá học Đất nước, phong cảnh thiên nhiên là các tài sản có giá trị Vì thế, những vấn đề về môi trường chỉ có thể giải quyết một cách có hiệu quả nếu nó được thực hiện kết hợp với các mục tiêu kinh tế - x1 hội 2.2 Các quan điểm khai thác, sử dụng hợp lý đất đai
2.2.1 Các khía cạnh đa nguyên tắc của việc quản lý sử dụng hợp lý tài nguyên đất
Quản lý, sử dụng tài nguyên đất bền vững phải theo một phương pháp tiếp cận đa nguyên tắc Phương pháp này không chỉ giới hạn đối với riêng ngành khoa học đất Về cơ bản hệ thống quản lý này phải xét tới 3 khía cạnh chính sau:
Trang 28- Các khía cạnh lý - sinh: quản lý, sử dụng tài nguyên đất bền vững là phải duy trì và cải thiện các điều kiện tự nhiên và sinh học của đất đối với sự phát triển của cây trồng và đa dạng sinh học
- Các khía cạnh văn hoá - x1 hội: quản lý, sử dụng tài nguyên đất bền vững là phải thoả m1n được các nhu cầu của cuộc sống con người ở cấp vùng hoặc cấp quốc gia theo một cách thức phù hợp về văn hoá và x1 hội
- Các khía cạnh kinh tế: quản lý, sử dụng tài nguyên đất bền vững là phải tính đến mọi chi phí của người sử dụng đất riêng lẻ và của x1 hội
Khái niệm về quản lý, sử dụng tài nguyên đất bền vững có thể được áp dụng ở các phạm vi khác nhau để giải quyết các vấn đề khác nhau, đồng thời tiếp tục cung cấp hướng dẫn về tiêu chuẩn khoa học và các quy định đối với việc đánh giá sự phát triển bền vững trong tương lai Trên cơ sở này, việc quản
lý tài nguyên đất bền vững sẽ là cơ sở để phát triển bền vững [37]
2.2.2 Quan điểm sử dụng đất bền vững
Đất là một trong những tài nguyên quan trọng nhất để phát triển nông - lâm nghiệp Do đó, nội hàm của việc quản lý đất bền vững phải đồng nhất với nội hàm của một nền nông nghiệp bền vững
Từ sự phát triển của nhiều dân tộc trên thế giới, đ1 rút ra bài học phải phát triển nông nghiệp bền vững bới lẽ: những tin tức về sự mất cân bằng sinh thái, ô nhiễm môi trường gây lo lắng cho loài người những năm gần đây không
hề giảm bớt mà có phần gia tăng hơn: trên thế giới nạn phá rừng vẫn còn tiếp tục, dù được báo động từ nhiều thập kỷ, sự sa mạc hóa gia tăng, sự xói màn làm giảm năng suất cây trồng trên 1/3 diện tích đất trồng trọt, tầng ozôn mỏng dần, quả đất nóng dần lên do lượng dioxit cácbon (CO2) và methane (CH4) ngày càng tăng trong khí quyển, băng sẽ tan nhiều hơn và nhiều vùng thấp sẽ bị ngập lụt và hậu quả là đất trồng ngày càng bị thu hẹp Thêm vào đó, do đô thị hóa, công nghiệp hóa và nạn ô nhiễm môi trường không khí, đất đai, nguồn nước ngày càng trầm trọng Nước cho nông nghiệp - một trong những yếu tố quyết
Trang 29định đến năng xuất cây trồng sẽ kém đi Chính vì vậy nông nghiệp bền vững phải là một hệ thống bắt buộc của mỗi nước, nó phải là một hệ thống hài hòa giữa cây trồng, vật nuôi, loài thủy sinh
Theo Lê Văn Khoa [9] để phát triển nông nghiệp bền vững cần phải loại
bỏ ý nghĩa đơn giản rằng nông nghiệp, công nghiệp hóa sẽ đầu tư từ bên ngoài vào Phạm Chí Thành [12] cho rằng có 3 điều kiện để tạo nông nghiệp bền vững đó là công nghệ bảo tồn tài nguyên, những tổ chức đơn phương, tác giả cho rằng xu thế phát triển nông nghiệp bền vững được các nước phát triển khởi xướng, hiện nay đ1 trở thành đối tượng mà nhiều nước nghiên cứu theo hướng thừa kế, chắt lọc các tinh túy của các nền công nghiệp chứ không chạy theo hiện tại mà bác bỏ những cái thuộc về truyền thống
Trong nông nghiệp bền vững khi chọn con gì? cây gì? Trong một hệ thống sinh thái tương ứng không thể áp đặt theo ý muối chủ quan mà phải
điều tra, nghiên cứu để hiểu biết thiên nhiên Không có ai hiểu biết hệ sinh thái nông nghiệp ở một vùng bằng chính những người sinh ra và lớn lên ở đó, vì vậy xây dựng nông nghiệp bền vững cần thiết phải có sự tham gia của nông dân trong vùng nghiên cứu Phát triển bền vững là việc quản lý, bảo tồn cơ sở tài nguyên thiên nhiên, định hướng những thay đổi công nghệ và thể chế theo một phương thức sao cho đạt đến sự thỏa m1n một cách tiên tục những nhu cầu của con người, của những thế hệ hôm nay và mai sau [35]
Fetry A.J [35] cho rằng, sự phát triển bền vững trong lĩnh vực nông nghiệp chính là sự bảo tồn đất, nước, các nguồn động, thực vật không bị suy thoái môi trường, kỹ thuật thích hợp, sinh lợi kinh tế và chấp nhận được về mặt x1 hội
Theo FAO (1989) thì nông nghiệp bền vững bao gồm quản lý có hiệu quả tài nguyên cho nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu cuộc sống của con người,
đồng thời giữ gìn, bảo vệ và cải thiện tài nguyên thiên nhiên và môi trường
FAO định nghĩa về phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững là:
“việc quản lý và bảo vệ cơ sở tài nguyên thiên nhiên, định hướng sự thay đổi
Trang 30về kỹ thuật, tổ chức thay đổi theo cách này để đảm bảo đáp ứng và tiếp tục thoả m1n nhu cầu của con người cho thế hệ hiện tại và tương lai Sự phát triển lâu bền như vậy (trong lĩnh vực lâm nghiệp, nông nghiệp, thuỷ sản) nhằm bảo
vệ nguồn tài nguyên đất đai, nước, nguồn gen động - thực vật là không gây hại tới môi trường, đúng về mặt kỹ thuật, có thể thực hiện được bằng kinh tế và
được x1 hội chấp nhận”
Quản lý đất bền vững chính là sử dụng hợp lý tài nguyên đất, giữ vững
và cải thiện môi trường đất, khai thác đất có hiệu quả và kinh tế, năng suất cao
và ổn định để tăng cường chất lượng cuộc sống, đồng thời giữ gìn, bảo vệ và cải thiện tài nguyên thiên nhiên và môi trường
Trong thực tế, đôi khi có sự nhầm lẫn giữa bảo vệ đất và quản lý đất bền vững Khái niệm bền vững của một hệ thống quản lý sử dụng đất bao gồm 3 phương diện:
- Duy trì, nâng cao sản lượng (hiệu quả sản xuất)
- Giảm rủi ro sản xuất (an toàn)
- Bảo vệ tiềm năng nguồn lực tự nhiên và ngăn ngừa thoái hoá đất và nước (bảo vệ)
- Có hiệu quả lâu dài (lâu bền)
- Được x1 hội chấp nhận (tính chấp nhận)
Năm nguyên tắc trên đây được coi như những trụ cột của việc sử dụng
đất bền vững Nếu trong thực tế đạt được cả 5 nguyên tắc trên thì khả năng bền vững sẽ thành công, còn nếu chỉ đạt một vài mục tiêu chứ không phải tất cả thì khả năng bền vững chỉ thành công được ở từng bộ phận
Trang 31Mollison.B và Holingren.D - tác giả của 2 cuốn sách Pevmaculture One (1978) và Permacu Hure Two (1979) [13] đ1 đề xuất học thuyết về phát triển nông nghiệp bền vững, đồng thời triển khai ở Australia và một số nước trên thế giới Theo Mollisan.B, nông nghiệp bền vững là một hệ thống thiết kế để chọn môi trường bền vững cho con người liên quan đến cây trồng, vật nuôi, các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng (nước, năng lượng, đường sá ) Tuy vậy, nông nghiệp bền vững không hẳn là những yếu tố đó mà là mối liên quan giữa các yếu tố do con người tạo ra, sắp đặt và phân bố chúng trên bề mặt trái đất
Mục tiêu của nông nghiệp bền vững là xây dựng một hệ thống ổn định về mặt sinh thái, có tiềm lực kinh tế, có khả năng thoả m1n nhu cầu của con người
mà không bóc lột đất, không gây ô nhiễm môi trường Nông nghiệp bền vững
sử dụng những đặc tính vốn có của cây trồng, vật nuôi, kết hợp với đặc trưng của cảnh quan và diện tích của sử dụng đất một cách thống nhất Nông nghiệp bền vững là một hệ thống mà nhờ đó con người có thể tồn tại được, sử dụng nguồn lương thực và tài nguyên phong phú của thiên nhiên mà không liên tục hủy diệt sự sống của trái đất Đạo đức của nông nghiệp bền vững bao gồm 3 phạm trù: Chăm sóc trái đất, chăm sóc con người và dành thời gian, tiềm lực, vật lực vào các mục tiêu đó Nông nghiệp bền vững là một hệ thống nông nghiệp thường trực, tự xây dựng bền vững, thích hợp cho mọi tình trạng ở đô thị
và nông thôn với mục tiêu đạt được sản lượng cao, giá thành hạ, kết hợp tối ưu giữa sản xuất cây trồng, vật nuôi và cấu trúc họat động của con người
Như vậy sử dụng bền vững đất đai phải đảm bảo nuôi dưỡng được người
sử dụng đất, phương pháp quản lý đất phải thúc đẩy sự cân bằng giữa việc sử dụng đất và các điều kiện môi trường, giảm rủi ro sản xuất, các hoạt động sử dụng đất không phương hại cho việc sử dụng trong tương lai, bảo vệ các tiềm năng và môi trường sống; hệ thống sử dụng phải tồn tại và phát triển được trong môi trường chung thay đổi Quản lý sử dụng đất chấp nhận được về mặt x1 hội, phù hợp với lợi ích của các bên tham gia quản lý, lợi ích quốc gia, cộng đồng và người sử dụng [8]
Trang 322.2.3 Các mục tiêu sử dụng đất hợp lý
Các mục tiêu sử dụng đất hợp lý có thể được cấu thành bởi 3 tiêu thức: tính hiệu quả (nhìn từ góc độ kinh tế), tính công bằng và có thể chấp nhận
được (thể hiện góc độ x; hội), tính bền vững (góc độ môi trường, sinh thái)
Tính hiệu quả: việc sử dụng đất phải đạt được hiệu quả kinh tế vì vậy một trong những mục tiêu của quy hoạch phát triển là phải tạo ra việc sử dụng
đất có năng suất và hiệu quả Đối với bất kỳ một phương thức sử dụng đất nào thì đều có những vùng đất thích hợp nhất định tốt hơn những vùng đất khác Hiệu quả đạt được bằng cách sắp xếp những kiểu sử dụng đất khác nhau phù hợp với loại đất sao cho có được lợi ích cao nhất mà chi phí lại ở mức thấp nhất
Tuy nhiên với những đối tượng khác nhau thì ý nghĩa của hiệu quả cũng khác nhau Với những người sử dụng đất riêng lẻ thì hiệu quả có nghĩa là lợi nhuận cao nhất thu được từ số vốn và nhân công được đầu tư hoặc lợi nhuận cao nhất từ diện tích có sẵn Các mục tiêu của chính phủ lại phức tạp hơn nhiều, chúng có thể bao gồm cả việc cải thiện tình hình trao đổi với nước ngoài bằng cách sản xuất để xuất khẩu hoặc để thay thế nhập khẩu
Tính công bằng và có thể chấp nhận được: việc sử dụng đất cũng phải
được x1 hội chấp nhận Các mục đích bao gồm: an ninh lương thực, nghề nghiệp và sự bảo đảm về thu nhập ở những vùng nông thôn.Việc cải thiện và tái phân bổ lại đất đai có thể được tiến hành nhằm làm giảm được sự bất bình
đẳng hoặc để chống lại sự đói nghèo
Một trong những biện pháp để đạt được điều này là phải tạo ra một tiêu chuẩn mức sống Tiêu chuẩn mức sống có thể bao gồm: mức thu nhập, chất dinh dưỡng, an toàn thực phẩm và nhà cửa Khi đó quy hoạch để đạt được những tiêu chuẩn này sẽ có liên quan đến việc giao đất để sử dụng cho các mục đích đặc biệt cũng như liên quan đến việc phân bổ nguồn tài chính và các nguồn khác
Tính bền vững: sử dụng đất bền vững là việc sử dụng vừa đáp ứng được các nhu cầu hiện tại đồng thời lại vừa bảo vệ được nguồn tài nguyên cho các thế hệ tương lai Điều này đòi hỏi phải có một sự kết hợp giữa sản xuất và bảo
Trang 33vệ môi trường: sản xuất hàng hoá cần thiết cho con người hiện tại kết hợp với bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên mà quá trình sản xuất phụ thuộc vào nhằm đảm bảo việc tiếp tục sản xuất trong tương lai [38]
Vấn đề sử dụng đất đai phải được quy hoạch cho toàn thể cộng đồng bởi vì việc bảo vệ đất, nước và các tài nguyên đất đai khác thường nằm ngoài khả năng của những người sử dụng đất riêng lẻ
Các chính sách trong sử dụng đất phải đảm bảo mục tiêu nhằm xác định khả năng của đất trong việc hỗ trợ phát triển bền vững, nghĩa là phải đáp ứng
đồng thời các mục tiêu sinh thái - kinh tế - x1 hội
- Sử dụng đất phù hợp với các điều kiện sinh thái: khi xem xét khả năng phát triển tiềm năng của đất, cần thiết phân biệt giữa: tính phù hợp - sẽ hoàn lại
sự phù hợp sau khi đ1 phát triển; tính thích hợp - là sự thích hợp ngay lập tức của trạng thái đất đai ở thời điểm đó và tính khả thi - có thể có tiềm năng
- Năng suất bền vững: việc tạo ra năng suất bền vững đối với các hệ thống sản xuất lương thực phụ thuộc không những vào khả năng thích ứng mà còn vào khả năng khắc phục các vấn đề mâu thuẫn về mặt môi trường của bản thân hệ thống
Việc đẩy mạnh các nghiên cứu theo hướng phát triển bền vững đối với các hệ thống canh tác nông nghiệp trong nhiều thập kỷ qua ở rất nhiều nước
đặc biệt các nước vùng Đông Nam á (Việt Nam, Inđônêxia, Thái Lan, Philipin ) và trên thế giới cho phép tạo ra các mô hình tốt cho sản xuất nông nghiệp và thường được phát triển trên cơ sở kết hợp các kinh nghiệm truyền thống của người dân với những hiểu biết ngày càng sâu sắc trong các lĩnh vực nông, lâm nghiệp, kinh tế học, x1 hội học và cả lĩnh vực môi trường
- Bảo tồn tự nhiên và sinh vật hoang dại: bảo tồn tự nhiên và sinh vật hoang dại là mục tiêu quan trọng trong bảo vệ môi trường đ1 được khẳng định trong chiến lược môi trường thế giới của Việt Nam Các nhân tố này bị tác
động mạnh trong những thập kỷ gần đây do hàng loạt các hoạt động của con người đặc biệt là quá trình sử dụng đất không hợp lý, làm biến đổi hay mất đi sinh cảnh của sinh vật hoang dại [15]
Trang 343 Đối tượng, nội dung
và phương pháp nghiên cứu
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là toàn bộ quỹ đất đai trong phạm vi ranh giới tự nhiên của huyện Hương Sơn và được tiến hành điều tra, khảo sát theo các mục
đích sử dụng đất, một số loại hình sử dụng đất nhằm đánh giá đúng thực trạng
và đề xuất các giải pháp trong sử dụng
Việc đánh giá thực trạng sử dụng đất và đề xuất các giải pháp được nghiên cứu đối với 3 nhóm đất được quy định trong Luật Đất đai năm 2003, gồm: đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng Trong đó nghiên cứu một số loại đất chính sau:
- Nhóm đất nông nghiệp gồm: đất sản xuất nông nghiệp gồm có đất trồng cây hàng năm (đất trồng lúa, đất trồng cây hàng năm khác) và đất trồng cây lâu năm; đất lâm nghiệp; đất nuôi trồng thuỷ sản
- Nhóm đất phi nông nghiệp gồm: đất ở, đất chuyên dùng (đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp, đất giao thông, đất di tích danh thắng, đất sông suối và mặt nước chuyên dùng, đất thủy lợi, đất chợ)
- Đất chưa sử dụng
- Các loại đất khác còn lại (đất trụ sở cơ quan công trình sự nghiệp, đất quốc phòng an ninh, đất để truyền dẫn năng lượng chuyền thông, đất cơ sở văn hóa, đất thể dục thể thao, đất giáo dục và đào tạo, đất tôn giáo tín ngưỡng, đất nghĩa trang nghĩa địa, đất phi nông nghiệp khác) đề cập ở mức độ nhất định, nhưng không nghiên cứu sâu do những loại đất này cơ bản được áp dụng theo định mức sử dụng đất, sự thay đổi quy mô diện tích của chúng dưới tác động của quá trình phát triển kinh tế - x1 hội là không đáng kể
3.2 Nội dung nghiên cứu
Các nội dung nghiên cứu chính của đề tài gồm:
- Nghiên cứu tổng quan các vấn đề chung về tài nguyên đất và sử dụng
Trang 35đất Trong đó nghiên cứu về một số vấn đề cơ bản: vai trò và ý nghĩa của việc quản lý, sử dụng hợp lý tài nguyên đất đai; các quan điểm khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên đất
- Đánh giá khái quát về địa bàn nghiên cứu: điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và kinh tế - x1 hội của huyện Hương Sơn
- Nghiên cứu đánh giá thực trạng sử dụng đất với các vấn đề: mức độ hợp
lý trong sử dụng đất, tác động đến yêu cầu phát triển kinh tế x1 hội và vấn đề môi trường
- Phân tích đánh giá đặc điểm thổ nhưỡng, khả năng thích nghi và tiềm năng khai thác sử dụng quỹ đất đai
- Đề xuất hướng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất hợp lý của huyện đến năm 2010 và năm 2015
- Những giải pháp nhằm sử dụng hợp lý đất đai trên địa bàn huyện 3.3 Phương pháp nghiên cứu và quy trình thực hiện
3.3.1 Phương pháp nghiên cứu
Những phương pháp chính được áp dụng trong quá trình thực hiện đề tài bao gồm:
3.3.1.1 Phương pháp điều tra, khảo sát
Điều tra, thu thập các số liệu, tài liệu về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, thực trạng phát triển kinh tế - x1 hội, thực trạng sử dụng đất của huyện những năm gần đây và các tài liệu có liên quan đến vấn đề sử dụng
đất của huyện Hương Sơn
Để đảm bảo nguồn số liệu điều tra được đầy đủ, có tính thống nhất cao, không chồng chéo, mâu thuẫn, báo cáo đ1 được xây dựng trên cơ sở thu thập tài liệu của các ban ngành ở Trung ương, thu thập tài liệu - bản đồ và trực tiếp
điều tra nguồn số liệu ở cả 3 cấp (cấp tỉnh, cấp huyện và cấp x;)
- Cấp tỉnh: đ1 tiến hành điều tra số liệu ở các sở: sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, sở Tài nguyên và Môi trường, sở Công nghiệp, sở Thương mại - Du lịch, sở Giáo dục và Đào tạo, sở Giao thông - Vận tải, Bộ chỉ
Trang 36huy Quân sự và Công an tỉnh, sở Thuỷ Sản, sở Công Nghiệp
- Cấp huyện: tài liệu, số liệu được điều tra từ các phòng ban và các tổ chức sử dụng đất: phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Xây dựng - Giao thông, phòng Thống kê, phòng Công thương, trung tâm y tế, bưu điện, Uỷ ban dân số - gia đình và trẻ em, Ban chỉ huy quân sự huyện, công an huyện, phòng Giáo dục- Đào tạo, các trường trung học phổ thông trong toàn huyện, Trung tâm giáo dục thường xuyên, Trung tâm kỹ thuật tổng hợp và dạy nghề
- Cấp x;: tiến hành điều tra tài liệu, số liệu, xây dựng bản đồ hiện trạng
sử dụng đất, bản đồ quy hoạch sử dụng đất và nhu cầu sử dụng đất đến năm
2010 ở các x1, thị trấn trong toàn huyện
3.3.1.2 Phương pháp xử lý số liệu, tài liệu
- Phương pháp thống kê: trên cơ sở các số liệu, tài liệu thu thập được, tiến hành tổng hợp xử lý trên máy tính bằng phần mềm Excel, phân nhóm, phân tích tương quan giữa các yếu tố về tình hình sử dụng đất, mối quan hệ và
sự phụ thuộc lẫn nhau giữa điều kiện tự nhiên, kinh tế - x1 hội và các vấn đề
sử dụng hợp lý tài nguyên đất
- Phương pháp tiếp cận: tiếp cận vĩ mô từ trên xuống và tiếp cận vi mô
từ dưới lên
Căn cứ vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - x1 hội của tỉnh, của huyện, quy hoạch phát triển của các ngành ở Trung ương, vùng có liên quan hoặc có ảnh hưởng đến việc sử dụng đất đai tại địa bàn huyện Hương Sơn
Căn cứ vào nhu cầu, kế hoạch sử dụng đất đai của các x1, quy hoạch phát triển của các ngành trong huyện để tổng hợp, phân tích các vấn đề về sử dụng đất của huyện
3.3.1.3 Phương pháp dự báo, tính toán
Căn cứ vào tốc độ tăng trưởng GDP, tăng dân số, thực trạng cơ cấu sử dụng đất, thực trạng việc thực hiện các chỉ tiêu kinh tế x1 hội, dự báo nhu cầu
sử dụng đất và phát triển kinh tế x1 hội để đưa ra cơ cấu sử dụng đất khoa học
Trang 37hợp lý trên địa bàn huyện
3.3.1.4 Phương pháp kế thừa
Phân tích các tài liệu đ1 có trên địa bàn huyện, các tài liệu có liên quan
đến việc sử dụng đất đai để xem xét các vấn đề về sử dụng đất đai của huyện 3.3.1.5 Phương pháp minh họa trên bản đồ
Xây dựng một số bản đồ như bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ đề xuất
sử dụng đất, xử lý bản đồ đất, bản đồ thích nghi bằng các phần mềm Microstation, Mapinfo để có các biện pháp quản lý, sử dụng hợp lý tài nguyên đất 3.3.2 Quy trình thực hiện
Các bước thực hiện trong nghiên cứu đề tài được áp dụng theo quy trình sau:
BƯớC CHUẩN Bị
Thu thập các tài liệu tổng quan
Điều tra, thu thập các tài liệu tại địa phương
Xử lý tổng hợp tài liệu thuộc tính
Xử lý tổng hợp số liệu bằng số liệu
Tổng hợp, xây dựng tài liệu bản đồ
Phân tích, đánh giá
thực trạng sử dụng đất với các vấn đề:
mức độ hợp lý trong sử dụng đất;
tác động yêu cầu phát triển kinh tế xã hội
và vấn đề môi trường
Phân tích, đánh giá đặc điểm thổ nhưỡng, khả năng thích nghi và tiềm năng khai thác sử dụng
Đề xuất phương hướng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất hợp lý
Đề xuất những giải pháp sử dụng
hợp lý đất đai
Xử Lý, TổNG HợP
TàI LIệU
VIếT BáO CáO KếT
QUả NGHIÊN CứU
Trang 384 Kết quả nghiên cứu
4.1 Khái quát chung về địa bàn nghiên cứu
4.1.1 Đặc điểm cơ bản về điều kiện tự nhiên huyện Hương Sơn
Hương Sơn là huyện miền núi thuộc tỉnh Hà Tĩnh, nằm trong vùng Bắc Trung Bộ, cách thị x1 Hà Tĩnh 70 km về phía Tây Bắc, có vị trí quan trọng đối với sự nghiệp phát triển chung của nền kinh tế Hà Tĩnh Toàn huyện có 32 đơn
vị hành chính gồm 30 x1 và 02 thị trấn Tổng diện tích tự nhiên là 110314,98
ha, với 3/4 diện tích là đồi núi Dân số năm 2006 là 125.589 người, mật độ trung bình 114 người/km2 Các đặc trưng cơ bản về điều kiện tự nhiên có tác
động ảnh hưởng đến vấn đề sử dụng đất của Hương Sơn như sau:
Về địa hình, Hương Sơn là một huyện miền núi thấp, hẹp ngang, sườn dốc, cấu trúc kéo dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam bao gồm nhiều d1y núi song song và so le với nhau Độ cao trung bình khoảng 600 - 700 m và được chia thành 3 kiểu địa hình núi trung bình, địa hình đồi núi thấp, địa hình thung lũng kiến tạo - xâm thực
Địa bàn huyện chịu ảnh hưởng bởi chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa
Do bị chi phối bởi yếu tố địa hình sườn Đông Trường Sơn nên có sự phân hóa khá rõ rệt với đặc trưng là mùa đông lạnh ẩm, mưa nhiều, mùa hè khô, nóng Nền nhiệt độ trung bình cả năm tương đối thấp khoảng 23,40C, độ ẩm trung bình 85% Huyện chịu ảnh hưởng bởi 2 hướng gió chính là gió mùa Đông Bắc
và gió Tây Nam (gió Lào) Ngoài ra hàng năm, trên địa bàn huyện còn chịu
ảnh hưởng trực tiếp từ 1 - 2 cơn b1o và áp thấp nhiệt đới
Về đặc điểm thủy văn, mạng lưới sông suối trong vùng khá dày đặc, mật độ trung bình là 1,1km/1km2, có chỗ đạt tới 2,4 km/km2 Sông chính của huyện là sông Ngàn Phố bắt nguồn từ d1y núi Trường Sơn, chảy từ Tây Bắc xuống Đông Nam của huyện, diện tích lưu vực của sông khoảng 1.060 km2, lưu lượng bình quân khoảng 51,2 m3/s
Trang 394.1.2 Tình hình phát triển các ngành kinh tế trên địa bàn huyện
Trong những năm gần đây, cùng với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung trong cả nước, nền kinh tế của Hương Sơn đ1 có sự chuyển dịch tích cực, theo hướng tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp; dịch vụ
- thương mại, giảm dần tỷ trọng ngành nông - lâm nghiệp Nhờ đó thu nhập bình quân trên đầu người của huyện tăng lên đáng kể, năm 2006 đạt 4,7 triệu
đồng/người/năm, tăng 1,6 lần so với năm 2000 Tuy nhiên sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các ngành diễn ra còn chậm và chưa rõ nét Ngành nông - lâm nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu nền kinh tế, ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp cũng như ngành dịch vụ - du lịch mặc dù đ1 có những bước phát triển đáng kể với mức tăng trưởng khá nhưng vẫn là ngành thứ yếu, chưa chiếm được vị trí chủ đạo trong nền kinh tế Đây là vấn đề hạn chế
ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế chung toàn huyện Chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 2001 - 2006 của Hương Sơn được thể hiện như sau:
Bảng 4.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 2001 - 2006
1 Nông - lâm - ngư nghiệp % 52,76 52,66 48,99 46,35 45,45 45,14 44,76
2 Công nghiệp - Xây dựng % 13,72 13,72 22,72 24,68 27,31 16,68 17,84
3 Dịch vụ-Du lịch-Thương mại % 33,62 33,62 28,29 28,97 27,24 38,18 37,40
Tổng số 100 100 100 100 100 100 100
(Nguồn: Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ huyện Hương Sơn khoá XIX trình
Đại hội Đảng bộ khoá XX, nhiệm kỳ 2005 - 2010) [29]
+ Ngành Nông - Lâm - Ngư nghiệp: sản xuất nông nghiệp của huyện trong những năm qua đ1 tập trung vào việc thâm canh tăng năng suất, thay đổi cơ cấu mùa vụ, chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi nên đ1 mang lại hiệu quả kinh tế cao, tăng giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích canh tác Tổng giá trị sản xuất kinh tế nông nghiệp năm 2006 đạt 316.680 triệu đồng, tăng
Trang 40gấp 1,28 lần so với năm 2000 với tốc độ tăng trưởng bình quân chung của cả giai đoạn đạt 5,55% Tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2006 đạt 36.600 tấn, tăng gấp 1,34 lần so với năm 2000; bình quân lương thực trên đầu người
đạt 291 kg/người/năm, tăng gấp 1,25 lần so với năm 2000
Về trồng trọt: tổng diện tích gieo trồng hàng năm có xu hướng giảm dần trong những năm gần đây Diện tích gieo trồng năm 2006 đạt 16.495 ha, giảm
509 ha so với năm 2000 Tuy nhiên, do đẩy mạnh việc đầu tư, thâm canh, tăng vụ,
áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất nên sản lượng các loại cây trồng vẫn tăng (bình quân hàng năm giai đoạn 2001 - 2006 tăng 6,86%)
Về chăn nuôi: chăn nuôi ở Hương Sơn đ1 được quan tâm đầu tư, phát triển, trong đó tỷ trọng chăn nuôi tăng dần trong cơ cấu ngành nông nghiệp từ 20,53% năm 2000 lên 22,67% năm 2006
Về lâm nghiệp: công tác lâm nghiệp đ1 đạt được nhiều kết quả thiết thực, thể hiện trên các mặt: trồng, nuôi dưỡng và bảo vệ rừng Diện tích, chất lượng, trữ lượng và độ che phủ rừng ngày càng được nâng cao, trong giai đoạn 2001 -
2005 đ1 trồng được 2.580 ha rừng tập trung và khoảng 5.000.000 cây phát tán Kinh tế trang trại, vườn đồi trồng cây ăn quả được khuyến khích phát triển và đ1
đạt được kết quả tốt
Về thủy sản: phát triển khá ổn định, bình quân hàng năm mức tăng trưởng của ngành đạt khá cao chiếm khoảng 16,42% giá trị sản xuất ngành nông - lâm - ngư nghiệp Năm 2006 giá trị sản lượng ngành thuỷ sản đạt 496 tấn, tăng gấp 1,91 lần so với năm 2000
+ Ngành Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp: mặc dù đ1 có những chuyển biến tích cực nhưng tỷ trọng ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp còn thấp, phát triển chưa tương xứng với tiềm năng của huyện, mới chỉ chiếm 19,52% (giai đoạn 2000 - 2006) và 17,84% (năm 2006)
+ Ngành Thương mại - Dịch vụ - Du lịch: thương mại dịch vụ của