Khái niệm về định giá hệ sinh thái
1.1.1 Phân hạng các dịch vụ hệ sinh thái và các giá trị kinh tế
Nghiên cứu phân loại dịch vụ hệ sinh thái thành bốn hạng mục cơ bản: dịch vụ cung ứng, dịch vụ điều tiết, dịch vụ hỗ trợ và dịch vụ văn hóa Theo báo cáo đánh giá của Thiên niên kỷ, các dịch vụ này không chỉ tạo ra hàng hóa và nguyên liệu thô mà còn cung cấp các dịch vụ thiết yếu cho cuộc sống và hoạt động sản xuất, đóng vai trò quan trọng trong phúc lợi con người và nền kinh tế Hiện nay, các nhà quy hoạch bảo tồn và hoạch định chính sách áp dụng khái niệm dịch vụ hệ sinh thái theo phân loại này.
Các dịch vụ hệ sinh thái gồm:
Dịch vụ cung ứng bao gồm thực phẩm, nước sạch, gỗ, sợi và nhiên liệu, trong khi dịch vụ điều tiết tập trung vào việc điều tiết khí hậu, kiểm soát lũ lụt, phòng chống dịch bệnh và làm sạch nước.
+ Dịch vụ hỗ trợ: chuỗi thức ăn, giữ gìn địa tầng, sản xuất cơ bản … Nhu cầu cơ bản của con người gồm:
+ An toàn: an toàn cá nhân, đảm bảo tiếp cận nguồn lực, an toàn trước những thảm họa …
+ Nhu cầu căn bản: Đủ sinh kế, đủ thức ăn, đủ nơi trú ngụ, tiếp cận hàng hóa …
+ Sức khỏe: thể lực, tinh thần, tiếp cận nguồn nước và không khí sạch
+ Các mối quan hệ xã hội tốt: gắn kết xã hội, tôn trọng lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau …
Tự do lực chọn và hành động: cơ hội có thể đạt những giá trị cá nhân đang có và thực hiện
Khái niệm tổng giá trị kinh tế (Total Economic Value - TEV) được sử dụng để đánh giá giá trị của đa dạng sinh học và các dịch vụ hệ sinh thái trong kinh tế học Trong hai thập kỷ qua, TEV đã được áp dụng rộng rãi để xác định và phân loại các giá trị hệ sinh thái Điểm mới của TEV là nó không chỉ giới hạn ở các hàng hóa có giá và có thị trường, mà còn xem xét tất cả các hàng hóa và dịch vụ có giá trị kinh tế quan trọng từ các dịch vụ hệ sinh thái.
Nghiên cứu tổng giá trị kinh tế của các hệ sinh thái liên quan đến việc phân tích các đặc điểm của chúng như hệ thống tổng hợp, kho dự trữ tài nguyên, các dòng dịch vụ và các thuộc tính của hệ sinh thái.
Các giá trị trực tiếp bao gồm nguyên liệu thô và sản phẩm cơ học, đóng vai trò quan trọng trong quy trình sản xuất, tiêu thụ và kinh doanh Những giá trị này tạo ra thu nhập, cung cấp năng lượng, nơi trú ngụ, thực phẩm, dược phẩm và các cơ sở giải trí.
Các giá trị gián tiếp bao gồm các chức năng sinh thái quan trọng như duy trì chất lượng nguồn nước, giữ dòng chảy, điều tiết lũ lụt, kiểm soát xói mòn, điều hòa tiểu khí hậu và hấp thụ carbon, góp phần bảo vệ các điều kiện tự nhiên và con người.
Các giá trị lựa chọn là những giá trị chưa được khám phá từ nguồn gen và các loài động thực vật hoang dã, có tiềm năng ứng dụng trong tương lai Những giá trị này có thể bao gồm các lĩnh vực như giải trí, sản xuất dược phẩm, nông nghiệp, công nghiệp, thương mại và phát triển dựa vào nguồn nước.
Các giá trị tồn tại trong hệ sinh thái bao gồm giá trị nội tại của các thành phần của nó, không phụ thuộc vào khả năng sử dụng hiện tại hay tương lai Điều này thể hiện tầm quan trọng của văn hóa, thẩm mỹ di sản và tài sản cho các thế hệ mai sau.
Giá trị sử dụng gồm: các giá trị trực tiếp, các giá trị gián tiếp, các giá trị lựa chọn
Giá trị phi sử dụng: Các giá trị tồn tại
1 1.2 Xác định ước lượng và nhận thức các giá trị hệ sinh thái
Để đánh giá sự thay đổi của các dịch vụ hệ sinh thái, cần xác định rõ ràng tác động của chúng đối với các nhóm chủ thể trong xã hội Việc này đòi hỏi sự tham gia đầy đủ của các bên liên quan, bao gồm những người bị ảnh hưởng và những người hưởng lợi từ sự biến đổi của các dịch vụ hệ sinh thái và đa dạng sinh học.
Để ước lượng và biểu thị giá trị của các dịch vụ hệ sinh thái một cách phù hợp, cần phân tích mối liên hệ giữa mức độ và thời điểm ảnh hưởng đến lợi ích và chi phí của việc sử dụng đa dạng sinh học và các hệ sinh thái Điều này giúp xác định tác động của các quyết định liên quan đến việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên.
Thứ ba, cần thừa nhận giá trị của các dịch vụ hệ sinh thái và tìm kiếm giải pháp để giải quyết những đánh giá thấp về giá trị của chúng Điều này có thể thực hiện thông qua việc sử dụng các công cụ xây dựng chính sách dựa trên giá trị kinh tế được chứng minh.
Một số nghiên cứu đã thực hiện
Trước đây, khái niệm tổng giá trị kinh tế của rừng (Total Economic Value - TEV) thường bị giới hạn, với các nhà kinh tế chỉ tập trung vào giá trị sản phẩm hữu hình mà rừng cung cấp cho nhu cầu sản xuất và tiêu thụ của con người.
Rừng không chỉ mang lại giá trị thông qua 6 sản phẩm có thể sử dụng trực tiếp, mà còn tạo ra lợi ích kinh tế vượt xa giá trị của các sản phẩm hữu hình đang được giao dịch trên thị trường.
Với Nghị định thư Kyoto, vai trò của rừng trong việc hấp thụ khí CO2 đã được khẳng định rõ ràng Cụ thể, một khu rừng nguyên sinh có khả năng hấp thụ lượng lớn khí CO2, góp phần quan trọng vào việc giảm thiểu hiệu ứng nhà kính và bảo vệ môi trường.
Rừng trồng có khả năng hấp thụ khoảng 115 tấn carbon trên mỗi hecta, tuy nhiên, con số này sẽ giảm từ 1/3 đến 1/4 khi rừng được chuyển đổi sang canh tác nông nghiệp Nếu đất rừng bị chuyển đổi thành đất canh tác hoặc đồng cỏ, sẽ có sự giải phóng khoảng 200 tấn carbon, và lượng carbon giải phóng sẽ tăng lên nếu chuyển sang đồng cỏ hoặc đất nông nghiệp.
Theo tổ chức FAO vào năm 1995, rừng đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết dòng chảy, giúp giảm lưu lượng nước mặt và góp phần giảm thiểu lũ lụt.
Với giá trị to lớn của rừng đối với dịch vụ môi trường, nhiều quốc gia đã triển khai cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng (PES) để quản lý bền vững Các sự cố môi trường như lũ lụt, hạn hán và biến đổi khí hậu gia tăng gần đây được coi là hệ quả của việc chặt phá rừng Để đảm bảo các dịch vụ môi trường mà rừng cung cấp, tổ chức Nông Lâm Quốc tế (ICRAF) đã khởi xướng chương trình “Hỗ trợ nông dân vùng cao trong việc bảo vệ và duy trì các dịch vụ môi trường của rừng” từ tháng 1/2002.
Cơ cấu giá trị môi trường của rừng được phân chia như sau: Hấp thụ carbon chiếm 27%, bảo tồn đa dạng sinh học chiếm 25%, bảo vệ đầu nguồn chiếm 21%, vẻ đẹp cảnh quan chiếm 17%, và giá trị khác chiếm 10%.
Nghiên cứu rừng đầu nguồn ở lưu vực sông Vân Nam – Trung Quốc liên quan đến khả năng giữ đất, nước và phân bón của rừng cho thấy giá trị
7 này là khoảng 4.450,5 NDT (khoảng 8.455.855 VND) chiếm 87,9% trong khi đó giá trị trực tiếp (gỗ, than củi) là 528.5 NDT (khoảng 1.384.245 VND) chiếm 12,1%[0]
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã tiến hành nhiều nghiên cứu nhằm định lượng giá trị của các hệ sinh thái rừng Những nghiên cứu này chứng minh rằng giá trị của các hệ sinh thái rừng ngày càng được quan tâm và thừa nhận, cho thấy sự cần thiết và cấp bách trong công tác bảo vệ và phát triển rừng.
Rừng có tác động quan trọng đến dòng chảy kiệt và lũ, với việc tăng diện tích rừng che phủ giúp giảm lưu lượng lũ Cụ thể, khi diện tích rừng giảm 20%, lưu lượng lũ trung bình tăng khoảng 12% ở sông lớn và 40% ở sông nhỏ Ngược lại, tăng diện tích rừng 10% có thể làm giảm lưu lượng lũ trung bình khoảng 5% cho sông lớn và 20% cho sông vừa và nhỏ.
Trong một năm, rừng hấp thụ khoảng 100 tỷ tấn khí carbon và thải ra khoảng 80 tấn oxy Theo cơ chế phát triển sạch, giá trị cố định và lưu giữ carbon của rừng ước tính từ 14.680 đến 18.350 tỷ USD, trong khi giá trị hấp thu carbon hàng năm khoảng 1.835 tỷ USD, tính theo giá 5 USD mỗi tấn.
Xói mòn đất là một trong những nguyên nhân chính gây ra sa mạc hóa, với ước tính khoảng 9,3 triệu ha đất ở Việt Nam, chiếm 28% tổng diện tích tự nhiên, liên quan đến hiện tượng này Trong số đó, có khoảng 5 triệu ha đất chưa sử dụng, 2 triệu ha đang sử dụng nhưng đã bị thoái hóa nặng, và hơn 2 triệu ha có nguy cơ thoái hóa cao Khoảng 20 triệu dân đang phải đối mặt với những tác động tiêu cực từ quá trình sa mạc hóa.
Nghiên cứu cho thấy giá trị lưu giữ carbon của rừng tự nhiên dao động từ 2.300 đến 5.700 USD/ha, trong khi giá trị hấp thụ carbon của rừng trồng cây mọc nhanh theo chu kỳ 7 năm khoảng 1.300 đến 1.500 USD/ha Các giá trị và dịch vụ môi trường như bảo vệ đất, điều tiết nước, cảnh quan và hấp thụ carbon đã được nghiên cứu bước đầu.
Theo Vũ Tấn Phương, giá trị phòng hộ đầu nguồn của rừng tại các điểm nghiên cứu dao động từ 95.000 đến 895.000 đ/ha/năm, với giá trị bảo vệ đất khoảng 189.000 đến 231.000 đ/ha/năm tại Yên Bái Tại miền Trung, cụ thể là Thừa Thiên Huế, giá trị bảo vệ đất cũng được xác định tương tự.
Giá trị điều tiết nước và bảo vệ đất ở Việt Nam biến động theo từng vùng, với mức giá từ 120.000 – 419.000 đ/ha/năm cho điều tiết nước và 116.000 – 142.000 đ/ha/năm cho giá trị điều tiết nước ở miền Bắc Tại miền Nam (Gia Lai), giá trị bảo vệ đất dao động từ 148.000 – 520.000 đ/ha/năm, trong khi giá trị điều tiết nước là 36.000 – 47.000 đ/ha/năm Rừng ngập mặn tại Nam Định có giá trị phòng hộ đê biển khoảng 852.000 đ/ha/năm, và rừng phi lao tại Quảng Bình có giá trị phòng hộ chống cát bay khoảng 525.000 đ/ha/năm Giá trị cảnh quan cũng có sự chênh lệch lớn, từ 700.000 – 2.300.000 đ/ha/năm ở miền Bắc (Yên Bái), 500.000 – 1.200.000 đ/ha/năm ở miền Trung (Thừa Thiên Huế) đến 200.000 – 500.000 đ/ha/năm ở miền Nam (Gia Lai).
Giá trị lưu giữ carbon của rừng gỗ tự nhiên ở miền Bắc dao động từ 35 đến 84 triệu đồng/ha/năm, trong khi giá trị hấp thụ carbon khoảng 0,4 đến 1,3 triệu đồng/ha/năm Tại miền Trung, giá trị lưu giữ carbon đạt từ 37 triệu đồng/ha/năm.
Mục tiêu nghiên cứu
* Mục tiêu chung: Đánh giá một số giá trị gia tăng góp phần tăng cường nguồn lực cho công tác bảo tồn ĐDSH, BV&PTR tại VQG Cát Tiên
- Xác định đƣợc các giá trị kinh tế về bảo tồn ĐDSH và HST của VQG Cát Tiên
- đánh giá một số giá trị gia tăng của VQG Cát Tiên
- Đề xuất được một số thông tin có thể sử dụng để tăng cường nguồn lực cho công tác bảo tồn ĐDSH, BV&PTR tại VQG Cát Tiên.
Đối tƣợng nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu là một số giá trị gia tăng tại VQG Cát Tiên
- Phạm vi nghiên cứu: VQG Cát Tiên
- Thời gian: Từ tháng 10/2016 đến 4/2017.
Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Kh ảo sát hi ệ n tr ạ ng r ừ ng, ch ức năng nhiệ m v ụ c ủa VQG Cát Tiên 2.3.2 Nghiên cứu các giá trị gia tăng của VQG Cát Tiên
2.3.2.2 Giá trị phi sử dụng
2 3.3 Giá trị dịch vụ môi trường rừng của VQG Cát T iên
2.3.3.1 Giá trị cảnh quan (Du lịch sinh thái)
2.3.3.2 Chi trả dịch vụ môi trường rừng của VQG Cát Tiên
2.3.3.3 Giá trị hấp thụ các bon
2 3.4 Đề xuất một số giải pháptăng cường nguồn lực tại VQG Cát Tiên.
Phương pháp nghiên cứu
Hình 2.1 Sơ đồ nghiên cứu
Xác định vấn đề nghiên cứu
- Các nhà quản lý, cán bộ nhân viên Vườn liên quan đến công tác bảo tồn
- Du khách, hộ nhận khoán
Thu thập tài liệu có liên quan
- Tham khảo các tài liệu có liên quan
- Phân tích, nhận xét sơ bộ
Thu thập số liệu liên quan đến du lịch sinh thái, chi trả dịch vụ môi trường rừng, hấp thụ các bon
Phân tích, tổng hợp, đánh giá các kết quả nghiên cứu Đề xuất giải pháp tăng thu nhập và nguồn lực
2.4.1 Kh ảo sát hi ệ n tr ạ ng r ừ ng, ch ức năng nhiệ m v ụ c ủa VQG Cát Tiên
Sử dụng phương pháp kế thừa để thu thập tài liệu hiện trạng liên quan đến khu vực nghiên cứu, bao gồm bản đồ địa hình, bản đồ thực vật rừng, và các tài liệu về điều kiện tự nhiên cùng kinh tế - xã hội Cần tham khảo các nguồn tài liệu đã được xuất bản như sách, tạp chí, và các báo cáo nghiên cứu khoa học, cũng như các tài liệu công bố hoặc chưa công bố về hiện trạng tài nguyên đa dạng sinh học trong khu vực nghiên cứu.
2.4.2 Nghiên cứu các giá trị gia tăng của VQG Cát T iên
Sử dụng phương pháp chuyên gia:
Xác định giá trị kinh tế của hệ sinh thái (HST) trên toàn cầu và tại Việt Nam, cũng như các khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) và vườn quốc gia (VQG), là một nhiệm vụ quan trọng Cần xác định nhóm giá trị để đánh giá, từ đó xây dựng phiếu hỏi và câu hỏi phỏng vấn nhằm đánh giá các giá trị gia tăng tại VQG Cát Tiên.
2 4.3 Giá trị dịch vụ môi trường rừng của VQG Cát T iên
Phương pháp phỏng vấn được áp dụng với đối tượng là người dân, du khách và các nhà quản lý có liên quan đến công tác bảo tồn và bảo vệ ĐDHS Mục tiêu là thu thập thông tin và dữ liệu cần thiết để xác định giá trị kinh tế và đề xuất giải pháp nhằm tăng thu nhập và nguồn lực cho công tác bảo vệ và phát triển rừng tại VQG Cát Tiên.
2.4.3.1 Phương pháp điều tra giá trị DLST
* Phương pháp thu thập số liệu:
Trong bài viết này, chúng tôi sẽ thu thập số liệu thứ cấp về các tuyến và điểm du lịch tại VQG Cát Tiên, đồng thời khảo sát các dịch vụ được cung cấp cho du khách Bên cạnh đó, chúng tôi sẽ phân tích tổng doanh thu từ du lịch sinh thái (DLST) và các khoản kinh phí hỗ trợ nhằm tăng thu nhập cho cán bộ công nhân viên của Vườn, cũng như các khoản kinh phí hỗ trợ cho công tác bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR) trong 5 năm qua.
Phỏng vấn trực tiếp du khách và các nhà quản lý, những người làm việc trong lĩnh vực bảo tồn và bảo vệ đa dạng sinh học, nhằm thu thập thông tin và dữ liệu đầu vào Thông tin thu thập được sẽ được tổng hợp vào mẫu biểu 01 và 02.
2.4.3.2 Phương pháp điều tra giá trị chi trả DVMTR
* Phương pháp thu thập số liệu:
Trong vòng 5 năm qua, việc thu thập số liệu thứ cấp liên quan đến chi trả DVMTR đã được thực hiện, bao gồm thông tin về khoán bảo vệ rừng cho người dân vùng ven, như số hộ tham gia nhận khoán, đơn giá giao khoán bảo vệ rừng hàng năm và tổng kinh phí trung bình mà mỗi hộ nhận được hàng năm Ngoài ra, cũng cần xem xét kinh phí hỗ trợ cho chủ rừng trong công tác bảo vệ và phát triển rừng, bao gồm quản lý phí hàng năm và kinh phí tự tổ chức bảo vệ rừng.
Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn trực tiếp người dân tham gia nhận khoán và các nhà quản lý, nhằm thu thập thông tin liên quan đến công tác bảo tồn và bảo vệ đa dạng sinh học Dữ liệu thu thập được sẽ được tổng hợp vào mẫu biểu 01 và 03 để phục vụ cho công tác phân tích và báo cáo.
2.4.3.3 Giá trị hấp thụ các bon
Sử dụng phương pháp kế thừa và thu thập số liệu:
Số liệu thứ cấp được thu thập từ kết quả kiểm kê rừng của VQG Cát Tiên năm 2014 tại tỉnh Lâm Đồng và năm 2016 tại tỉnh Đồng Nai, Bình Phước, bao gồm bản đồ và các số liệu liên quan Kết quả thu thập này được ghi lại trong biểu dưới đây.
BIỂU ĐIỀU TRA CÁC TRẠNG THÁI RỪNG Ở VQG CÁT TIÊN
3 Rừng phục hồi hỗn giao
2.4.4.1 Phương pháp xử lý thống kê
Sử dụng phần mềm excel để xử lý số liệu
Tính giá trị hấp thụ các bon sử dụng phương pháp ước lượng sinh khối dựa vào số liệu điều tra, kiểm kê rừng
Bước 1: Sử dụng kết quả xác định trữ lượng lâm phần theo trạng thái rừng
Bước 2: Xác định hệ số hấp thụ (lượng hấp thụ lưu trữ CO2 của 1 ha rừng)
Hệ số thấp thụ (EF) hay tổng lƣợng khí CO2 hấp thụ của 1 ha rừng (tấn/ha) đƣợc tính theo công thức sau:
EF(CO2 tấn/ha) = (AGB + BGB) * CF * 44/12 (1)
EF: là tổng trữ lƣợng CO2 hấp thụ của 1 ha rừng (tấn/ha)
AGB: Sinh khối trên mặt đất của cây rừng (kg) đƣợc xác định theo công thức (i) GS: trữ lƣợng của 1 ha rừng (m 3 )
BCEF: hệ số chuyển đổi mở rộng (tấn) (tra từ bảng 4.5 - Hướng dẫn của IPCC năm 2006)
BGB, hay sinh khối dưới mặt đất của cây rừng, được tính toán theo công thức (ii) Tỷ lệ carbon trong cây gỗ được xác định là 0,47, theo thông tin từ bảng 4.3 trong Hướng dẫn của IPCC năm 2006.
R: tỷ lệ sinh khối trên mặt đất và dưới mặt đất = 0,37[0] (tra từ bảng 4.4
- Hướng dẫn của IPCC năm 2006)
Hệ số 44/12 là hệ số chuyển đổi từ khối lƣợng các bon sang CO2
Bước 3: Tính giá trị lưu giữ các bon
Mc = ∑Efi * Si (3) i=1 Trong đó:
- Vc: giá trị lưu giữ các bon của rừng tính bằng USD hoặc đồng
- Mc: tổng trữ lƣợng các bon rừng tính bằng tấn CO2e/ha
- EFi: là tổng lƣợng khí CO2 hấp thụ của 1 ha rừng theo từng trạng thái (tấn/ha)
- Si: diện tích trạng thái rừng
- Pc: giá bán tín chỉ các bon (CER) trên thị trường tính bằng USD hoặc đồng/tấn CO2
2.4.4.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Sử dụng trong quá trình viết và hoàn thiện báo cáo, các số liệu đã xử lý sẽ đƣợc diễn giải, phân tích và thảo luận chi tiết
2.4.4.3 Phương pháp đánh giá tài nguyên dựa vào thị trường Đánh giá tài nguyên dựa vào thị trường thực, thị trường thay thế và thị trường giả định
Chương 3 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC
3.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Trong những năm chiến tranh, khu rừng Cát Tiên là căn cứ địa cách mạng thuộc chiến khu D Sau khi đất nước hòa bình, rừng Cát Tiên được Sư đoàn 600 thuộc Bộ Quốc phòng quản lý nhằm phát triển kinh tế Với tính đa dạng sinh học cao, Chính phủ đã quyết định chuyển rừng Cát Tiên thành khu rừng đặc dụng theo Quyết định 360/TTg ngày 07/07/1978, mang tên Khu rừng Cấm Nam Bãi Cát Tiên Kiểm lâm Đồng Nai chịu trách nhiệm bảo vệ khu rừng quý hiếm này, với diện tích 38.100 ha, nằm trong huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
Vào ngày 13 tháng 1 năm 1992, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 08/CT, thành lập Vườn Quốc gia Cát Tiên dựa trên khu rừng Cấm Nam Bãi Cát Tiên Vườn Quốc gia này được giao cho tỉnh Đồng Nai quản lý, đồng thời Chính phủ cũng giao Bộ Lâm nghiệp (hiện nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) cùng với UBND tỉnh Đồng Nai, Lâm Đồng và Bình Phước tiếp tục nghiên cứu để mở rộng diện tích của VQG này.
Ngày 16/02/1998, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 38 – 1998/QĐ – TTg, về việc chuyển giao VQG Cát Tiên cho Bộ NN & PTNT quản lý
Tháng 12/1998, VQG Cát Tiên đƣợc Chính phủ cho phép mở rộng trên địa bàn 3 tỉnh (Đồng Nai, Lâm Đồng, Bình Phước), với diện tích 73.878 ha
Vào ngày 10 tháng 11 năm 2001, Ủy ban MAB/UNESCO đã công nhận Vườn quốc gia Cát Tiên là Khu dự trữ Sinh quyển thứ 411 của thế giới, khẳng định vai trò quan trọng của nó trong hệ thống Khu dự trữ Sinh quyển toàn cầu.
Ngày 19/8/2003, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 173/2003/QĐ – TTg, về việc điều chỉnh ranh giới VQG Cát Tiên, diện tích sau điều chỉnh còn 71.350 ha
Sau khi tiếp nhận khu vực Tây Cát Tiên và Cát Lộc, VQG Cát Tiên đã tiến hành tuyển dụng thêm nhân viên Kiểm lâm và xây dựng các chốt, trạm Kiểm lâm tại những khu vực xung yếu nhằm bảo vệ rừng một cách kịp thời.
Ngày 09/01/2015, TCLN ra Quyết định số 08/QĐ-TCLN-VP về việc
Vườn quốc gia Cát Tiên được giao tổng số 211 biên chế sự nghiệp năm 2015, theo chỉ tiêu biên chế của Tổng cục Lâm nghiệp đối với các đơn vị sự nghiệp trực thuộc.
- Biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước là 185 biên chế;
- Biên chế sự nghiệp tự lo lương là 26 biên chế
Hiện tại, tổng số biên chế tại cửa Vườn là 207 người, bao gồm 172 người (01 công chức và 171 viên chức), 13 người hợp đồng lao động theo Nghị định 68, cùng với 22 hợp đồng do đơn vị tự trả lương.
Trình độ chuyên môn: Tiến sĩ 02 người; Thạc sĩ 04 người; Đại học 55 người; Cao đẳng 02, Trung cấp 100 người; sơ cấp 44 người
Trình độ lý luận chính trị: Cao cấp 04 người; Trung cấp 31 người
Ngoại ngữ: Trình độ B, C tiếng Anh 62 người
Tin học: Tin học văn phòng 165 người
Lịch sử hình thành và phát triển
Trong những năm chiến tranh, khu rừng Cát Tiên đóng vai trò là căn cứ địa cách mạng của chiến khu D Sau khi đất nước hòa bình, rừng Cát Tiên được quản lý bởi Sư đoàn 600 thuộc Bộ Quốc phòng nhằm phát triển kinh tế Với tính đa dạng sinh học cao, các chuyên gia lâm nghiệp đã đề xuất Chính phủ chuyển khu rừng này thành khu rừng đặc dụng theo Quyết định 360/TTg ngày 07/07/1978, mang tên Khu rừng Cấm Nam Bãi Cát Tiên Kiểm lâm Đồng Nai có trách nhiệm bảo vệ khu rừng quý hiếm này với diện tích quản lý là 38.100 ha, nằm trong huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
Vào ngày 13/01/1992, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 08/CT, thành lập Vườn Quốc gia Cát Tiên từ diện tích của Khu rừng Cấm Nam Bãi Cát Tiên, giao cho tỉnh Đồng Nai quản lý Quyết định này cũng yêu cầu Bộ Lâm nghiệp (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) cùng với UBND tỉnh Đồng Nai, Lâm Đồng và Bình Phước tiếp tục nghiên cứu để mở rộng diện tích Vườn Quốc gia trên địa bàn của ba tỉnh này.
Ngày 16/02/1998, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 38 – 1998/QĐ – TTg, về việc chuyển giao VQG Cát Tiên cho Bộ NN & PTNT quản lý
Tháng 12/1998, VQG Cát Tiên đƣợc Chính phủ cho phép mở rộng trên địa bàn 3 tỉnh (Đồng Nai, Lâm Đồng, Bình Phước), với diện tích 73.878 ha
Vào ngày 10/11/2001, Ủy ban MAB/UNESCO đã công nhận Vườn Quốc gia Cát Tiên là Khu dự trữ Sinh quyển thứ 411 trên thế giới, khẳng định vai trò quan trọng của nó trong hệ thống Khu dự trữ Sinh quyển toàn cầu.
Ngày 19/8/2003, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 173/2003/QĐ – TTg, về việc điều chỉnh ranh giới VQG Cát Tiên, diện tích sau điều chỉnh còn 71.350 ha.
Tổ chức bộ máy
Sau khi tiếp nhận khu vực Tây Cát Tiên và Cát Lộc, VQG Cát Tiên đã tiến hành tuyển dụng thêm nhân viên Kiểm lâm nhằm xây dựng các chốt và trạm Kiểm lâm tại những khu vực nhạy cảm, nhằm bảo vệ rừng một cách kịp thời và hiệu quả.
Ngày 09/01/2015, TCLN ra Quyết định số 08/QĐ-TCLN-VP về việc
Vào năm 2015, Vườn quốc gia Cát Tiên đã được giao tổng số 211 biên chế sự nghiệp, theo chỉ tiêu biên chế của Tổng cục Lâm nghiệp cho các đơn vị sự nghiệp trực thuộc.
- Biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước là 185 biên chế;
- Biên chế sự nghiệp tự lo lương là 26 biên chế
Hiện tại, Vườn có tổng số biên chế là 207 người, bao gồm 172 người (1 công chức và 171 viên chức), 13 lao động hợp đồng theo Nghị định 68 và 22 lao động hợp đồng tự trả lương.
Trình độ chuyên môn: Tiến sĩ 02 người; Thạc sĩ 04 người; Đại học 55 người; Cao đẳng 02, Trung cấp 100 người; sơ cấp 44 người
Trình độ lý luận chính trị: Cao cấp 04 người; Trung cấp 31 người
Ngoại ngữ: Trình độ B, C tiếng Anh 62 người
Tin học: Tin học văn phòng 165 người
Bộ máy tổ chức bao gồm Ban Giám đốc, các phòng chức năng như Phòng Tổ chức, Hành chính, Phòng Kế hoạch, Tài chính, Phòng Khoa học và Hợp tác quốc tế, cũng như các trung tâm như Trung tâm Giáo dục môi trường và Dịch vụ, Trung tâm cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật Hạt Kiểm lâm có 137 Kiểm lâm, được phân bổ tại 1 chốt, 22 trạm và một bộ phận văn phòng.
Đặc điểm tự nhiên
VQG Cát Tiên nằm trên địa phận các huyện Vĩnh Cửu, Tân Phú (tỉnh Đồng Nai), Cát Tiên, Bảo Lâm (tỉnh Lâm Đồng) và Bù Đăng (tỉnh Bình Phước),
+ Phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Đắc Nông và tỉnh Bình Phước + Phía Nam giáp Công ty lâm nghiệp La Ngà (tỉnh Đồng Nai)
+ Phía Đông có ranh giới là sông Đồng Nai, giáp tỉnh Lâm Đồng + Phía Tây giáp Lâm trường Vĩnh An (tỉnh Đồng Nai)
* Tổng diện tích tự nhiên là 72.663,53 ha, trong đó:
Khu vực Nam Cát Tiên, nằm trong tỉnh Đồng Nai, có diện tích lên đến 41.020,43 ha Trong khi đó, khu vực Tây Cát Tiên thuộc tỉnh Bình Phước có diện tích 4.382,84 ha Cuối cùng, khu vực Bắc Cát Tiên nằm trong tỉnh Lâm Đồng với diện tích 27.260,26 ha.
Hình 4.1 Bản đồ hành chính VQG Cát Tiên
VQG Cát Tiên nằm trong khu vực chuyển tiếp giữa cao nguyên Nam Trung Bộ và Đồng bằng Nam Bộ, sở hữu các kiểu địa hình đặc trưng của dãy Trường Sơn và vùng Đông Nam Bộ Khu vực này có năm kiểu địa hình chính, phản ánh sự đa dạng và phong phú của thiên nhiên nơi đây.
Kiểu địa hình núi cao và sườn dốc chủ yếu nằm ở phía Bắc VQG Cát Tiên, với độ cao từ 200 đến 600m so với mặt nước biển và độ dốc từ 15 đến 20 độ, có nơi vượt quá 30 độ Địa hình này bao gồm các sườn dốc phân bố giữa thung lũng sông, suối và các đỉnh bằng phẳng, với mức độ chia cắt phức tạp, đồng thời là nguồn gốc của nhiều suối nhỏ chảy ra sông Đồng Nai.
Khu vực phía Tây Nam VQG Cát Tiên có kiểu địa hình trung bình sườn ít dốc, với độ cao từ 200 – 300m so với mặt nước biển và độ dốc dao động từ 15 – 20 độ Địa hình này có độ chia cắt cao và là nguồn cung cấp cho nhiều con suối lớn, trong đó có suối Đaklua và Đatapok, chảy ra sông Đồng Nai.
+ Kiểu địa hình đồi thấp, bằng phẳng: ở phía Đông Nam VQG Cát Tiên Độ cao so với mặt nước biển 130 – 150m, độ dốc 5 – 7 0 Độ chia cắt thƣa
Kiểu địa hình bậc thềm sông Đồng Nai và đồi bát úp tiếp giáp đầm hồ có độ cao 130m so với mực nước biển, kéo dài dọc theo sông Đồng Nai và vùng ven phía Tây Bắc Vườn, từ khu vực giáp ranh Bình Phước – Đồng Nai đến Tà Lài, với bề rộng khoảng 1.000m.
+ Kiểu địa hình thềm suối xen kẽ với hồ đầm: Độ cao so với mặt nước biển thấp hơn 130m, như các bàu nước: Bàu Cá, Bàu Chim, Bàu Sấu
VQG Cát Tiên có độ cao giảm dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông, với điểm cao nhất đạt 626m tại Lộc Bắc và điểm thấp nhất là 115m ở Núi Tượng.
Nền địa chất của VQG Cát Tiên với 3 cấu tạo chính là Trầm tích, Bazal và Sa phiến thạch đã phát triển hình thành 4 loại đất chính:
Đất Feralit, phát triển trên đá bazan (Fk), chiếm gần 60% diện tích Vườn và chủ yếu phân bố ở khu vực phía Nam Đây là loại đất giàu dinh dưỡng, tốt, sâu, với màu sắc đỏ, nâu đỏ và nâu đen, chứa nhiều đá Tubf núi lửa chưa bị phong hóa Trên loại đất này, rừng phát triển mạnh mẽ, có nhiều loài cây gỗ quý và khả năng phục hồi của rừng diễn ra nhanh chóng.
Đất Feralit, chiếm khoảng 20% diện tích VQG, chủ yếu phân bố ở phía Bắc Vườn dọc thượng nguồn sông Đồng Nai, phát triển trên đá cát (Fq) Một số tài liệu gọi loại đất này là đất xám bạc màu trên đá axit hoặc đá cát Mặc dù độ phì của đất kém hơn so với đất phát triển trên đá bazal, nhưng nhờ có thảm thực vật rừng che phủ, tầng đất vẫn dày và giữ được các tính chất tự nhiên.
Đất Feralit, phát triển trên phù sa cổ (Fo), chiếm khoảng 10% tổng diện tích Vườn, chủ yếu tập trung ở phía Bắc và Đông Nam Loại đất này phân bố ở những vùng địa hình bằng phẳng và các khu vực trũng ngập nước vào mùa mưa Mặc dù nghèo dinh dưỡng, nhưng với mực nước ngầm nông, đất Feralit tạo điều kiện thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của cây rừng trong mùa khô.
Đất Feralit, phát triển trên đá sét (Fs), chỉ chiếm khoảng 8% tổng diện tích Vườn và phân bố chủ yếu ở phía Nam, xen kẽ với các vùng đất trên đá bazal Mặc dù loại đất này có độ phì khá, nhưng với thành phần cơ giới nặng, nó dễ bị thoái hóa nhanh chóng khi mất rừng.
- VQG Cát Tiên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Trong năm
24 có 2 mùa mưa và mùa khô Mùa mưa thường từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô thường từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau
VQG Cát Tiên có địa hình đa dạng, bao gồm cả vùng núi và vùng đồi với độ cao khác nhau, dẫn đến sự khác biệt rõ rệt về khí hậu giữa khu Bắc và khu Nam của VQG.
Số liệu thu thập từ 2 trạm thủy văn:
Trạm Cát Tiên ở Lâm Đồng thu thập dữ liệu về lượng mưa, trong khi trạm Bảo Lộc cũng thuộc tỉnh Lâm Đồng ghi nhận thông tin về nhiệt độ và độ ẩm, đại diện cho khu vực Cát Lộc.
Trạm Tà Lài tại Đồng Nai thực hiện việc thu thập dữ liệu về lượng mưa, trong khi trạm Bến Cát ở Bình Dương ghi nhận thông tin về nhiệt độ và độ ẩm, đại diện cho khu vực Cát Tiên.
Bảng 3.1 Chỉ tiêu khí hậu VQG Cát Tiên
Stt Mô tả Vùng Cát Lộc Vùng Cát Tiên
1 Nhiệt độ trung bình năm (oC) 21,7 26,5
2 Nhiệt độ trung bình cao nhất (oC) 23,0 (tháng 6) 28,6 (tháng 6)
3 Nhiệt độ trung bình thấp nhất (oC) 21,1 (tháng 12) 20,5 (tháng 1)
4 Lƣợng mƣa trung bình hàng năm (mm) 2.675 2.175
5 Lƣợng mƣa trung bình tháng cao nhất (mm) 494,8 (tháng 9) 368 (tháng 9)
6 Lƣợng mƣa trung bình tháng thấp nhất
7 Số ngày mƣa trung bình hằng năm (ngày) 182 145
8 Độ ẩm trung bình hằng năm (%) 87 82
9 Thời gian mƣa t.bình trong mùa mƣa
10 Lƣợng mƣa mùa mƣa/L mƣa hàng năm
Khu Cát Lộc có nhiệt độ trung bình năm thấp hơn và lượng mưa cùng độ ẩm tương đối cao hơn so với khu Nam và Tây Cát Tiên, dẫn đến sự phân bố khác nhau về thảm thực vật và thành phần thực vật trong khu vực này.
3.3.4 Thủy văn Điều kiện thủy văn ở VQG Cát Tiên liên quan đến chế độ dòng chảy của sông Đồng Nai và các hệ thống suối, các bàu nước
Sông Đồng Nai bao quanh VQG Cát Tiên ở phía Bắc, Tây và Đông, với chiều dài khoảng 90km và rộng trung bình 100m Lưu lượng nước trung bình đạt 405m³/giây, mực nước cao nhất ghi nhận là 8,03m, trong khi mực nước trung bình là 5m và mùa kiệt dao động từ 2-3m Khu vực phía Bắc, Tây Bắc và Đông từ Bến Cự đến Tà Lài cho phép thuyền máy di chuyển thuận lợi.
Trong VQG Cát Tiên có nhiều hệ suối lớn nhƣ:
+ Đaleh, Đa R’soui, Đa M’Bri (Lộc Bắc)
+ Đa Dim bo, Đa Thai, Đa Ce Nac, Đa Nhor (Bắc Cát Tiên)
+ Đa Louha, Đa Bitt, Đa Bao, Đa Tapoh, Đa Sameth (Nam Cát Tiên) Các hệ suối này đều chảy ra sông Đồng Nai
Khái quát đặc đặc điểm kinh tế - xã hội
Vùng đệm VQG Cát Tiên có diện tích 728.756 ha, nằm trên địa bàn của
86 xã, thị trấn của 11 huyện thuộc 4 tỉnh Đồng Nai, Bình Phước, Lâm Đồng, Đắc Nông Vùng chuyển tiếp gồm 53 xã, thị trấn bao quanh vùng đệm, diện tích 403.433ha
* Những tác động của vùng đệm đối với công tác quản lý bảo vệ rừng của VQG Cát Tiên gồm:
- Sự di dân tự do và sự gia tăng dân số trên các xã địa bàn vùng đệm vẫn chƣa kiểm soát đƣợc
VQG Cát Tiên có chiều dài đường ranh giới khoảng 250 km, khu vực giáp ranh với tỉnh Đắc Nông và Bình Phước không có đường tuần tra, cùng với việc lực lượng kiểm lâm ít và vị trí gần sông Đồng Nai, dẫn đến khó khăn trong việc đi lại, tuần tra và bảo vệ rừng.
- Dân cƣ phân bố trên quy mô rộng, phân tán, rất khó quản lý, kiểm soát
Các hoạt động xâm phạm rừng trái phép diễn ra khi kẻ xấu lợi dụng những sơ hở trong công tác tuần tra và bảo vệ rừng Khi không có lực lượng giám sát, những hành vi này dễ dàng xảy ra, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái rừng.
Các hoạt động xâm phạm vào rừng tại VQG Cát Tiên, đặc biệt ở những địa phương có đường ranh giới với sông Đồng Nai, bao gồm khai thác lâm sản và săn bắt thú rừng.
Các địa phương có đất nông nghiệp gần ranh giới VQG Cát Tiên đang đối mặt với nhiều vấn đề, bao gồm khai thác lâm sản, săn bắt thú rừng, chăn thả gia súc vào khu vực VQG và lấn chiếm đất rừng để làm nương rẫy.
Việc chuyển đổi đất lâm nghiệp sang trồng cao su tại các xã vùng đệm VQG Cát Tiên, huyện Bù Đăng, Bình Phước, đang tạo ra áp lực lớn đối với khu vực này Nguồn tài nguyên rừng tự nhiên và rừng trồng đang bị cạn kiệt, khiến một bộ phận dân cư, đặc biệt là đồng bào dân tộc, thiếu đất sản xuất nông nghiệp và vốn đầu tư trồng cao su Điều này dẫn đến gia tăng các hoạt động xâm phạm trái phép vào rừng VQG Cát Tiên để tìm kiếm sinh kế và việc làm.
Sự phát triển cơ sở hạ tầng quanh VQG Cát Tiên đã cải thiện đáng kể việc đi lại, giao lưu hàng hóa và nâng cao chất lượng cuộc sống cho cư dân, bao gồm cả điều kiện học tập cho trẻ em Tuy nhiên, điều này cũng dẫn đến tình trạng gia tăng xâm nhập trái phép vào khu vực VQG Cát Tiên.
* Dân số, dân tộc và lao động:
VQG Cát Tiên có diện tích nằm trên địa bàn của 7 xã: Đắc Lua (huyện Tân Phú), Phú Lý (huyện Vĩnh Cửu) thuộc tỉnh Đồng Nai; Đăng Hà (huyện
Bù Đăng là một xã thuộc tỉnh Bình Phước, trong khi Lộc Bắc, Phước Cát 2, Tiên Hoàng và Đồng Nai Thượng nằm trong huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng Khu vực này bao gồm một xã Đồng Nai Thượng và hai thôn 3 và 4 thuộc xã Phước Cát 2, huyện Bảo Lâm.
Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng, nằm trong ranh giới Vườn Quốc gia Cát Tiên, đóng vai trò là vùng đệm quan trọng Trong khu vực này, có 6 xã với nhiều hoạt động có ảnh hưởng đến công tác quản lý bảo vệ rừng và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên của VQG Cát Tiên.
Những đặc điểm về dân số, dân tộc của các xã đƣợc tổng hợp ở bảng 3.2
Bảng 3.2 Dân số, dân tộc của các xã vùng đệm VQG Cát Tiên
STT Tên xã Số hộ Số khẩu Dân tộc
Thƣợng 415 1.739 Mạ, Tày, Chil, Stiêng, Khmer, Kinh Thôn 3 và 4, xã Phước Cát 2 53 278 Châu mạ, Stiêng
2 Tiên Hoàng 775 3.151 Kinh, Dao, Tày, Mường, Châu Mạ
Kinh, Tày, Nùng, Dao, Châu Mạ, Mường, Ê Đê, K Ho, Stiêng, Cao Lan, Chăm, Thái
5 Đắc Lua 1.559 6.878 Kinh, Mường, Tày
Kinh, Nùng, Tày, Hoa, Dao, H Mông, Thái Mường, Cao Lan, Sán Dìu, Kh Mer, Stiêng
(Nguồn dự án Bảo vệ và Phát triển rừng giai đoạn 2016 – 2020)
* Kinh tế hộ gia đình:
Thu nhập chủ yếu của người dân đến từ sản xuất nông nghiệp, nhưng diện tích đất nông nghiệp hạn chế và phương thức canh tác lạc hậu khiến năng suất thấp Nhiều hộ đồng bào dân tộc chỉ trồng cây Điều với giống đại trà, dẫn đến khó khăn trong đời sống kinh tế và tình trạng thiếu đói thường xuyên.
Tỷ lệ hộ nghèo tại vùng vẫn còn cao, với xã Phước Cát 2 đạt 19,86% và xã Đăng Hà là 18,80% Đây là những xã có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống.
Bảng 3.3 Thu nhập và tỷ lệ đói nghèo
Hạng mục ĐVT Bình quân
Phân theo xã Đồng Nai Thƣợng
(Nguồn dự án Bảo vệ và Phát triển rừng giai đoạn 2016 – 2020)
* Các hoạt động kinh tế chủ yếu:
Sản xuất nông nghiệp tại các thôn, bản chủ yếu tập trung vào cây trồng như cao su, điều, cây ăn quả và cây hoa màu, trong khi diện tích trồng cây lương thực chỉ chiếm một phần nhỏ.
Chăn nuôi gia súc và gia cầm quy mô hộ gia đình đang gặp nhiều khó khăn do dịch bệnh như lở mồm long móng, dịch heo tai xanh và cúm gia cầm Những rủi ro lớn từ dịch bệnh, cùng với giá thức ăn gia súc cao và khả năng phòng trừ dịch bệnh hạn chế, đã làm giảm sự đầu tư vào chăn nuôi Hơn nữa, diện tích đất chăn thả trâu bò ngày càng thu hẹp, dẫn đến lợi nhuận từ chăn nuôi cũng giảm sút do thiếu lợi thế cạnh tranh về giá cả và quy mô nhỏ.
Khu vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ tại đây phát triển hạn chế, thiếu các khu công nghiệp và cơ sở gia công lớn, điều này gây khó khăn trong việc thu hút lao động địa phương và giải quyết việc làm Sự thiếu hụt này cản trở quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nông - công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ.
Hệ thống giáo dục tại địa phương bao gồm các trường tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông đã đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh trong độ tuổi đi học Tuy nhiên, ở bậc trung học phổ thông, số lượng học sinh phụ thuộc nhiều vào điều kiện kinh tế của từng gia đình, dẫn đến việc ít hộ gia đình quan tâm đến việc học của con em do khoảng cách trường lớp xa, học phí cao và các khoản đóng góp khác.
Các xã đã thiết lập trạm y tế với đội ngũ y bác sĩ chuyên nghiệp, thực hiện khám chữa bệnh thông thường và tiêm chủng mở rộng các loại vắc xin phòng ngừa dịch bệnh Những bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo được chuyển lên các tuyến trên để được cứu chữa kịp thời.
- Về bưu chính, viễn thông: việc thông tin liên lạc đã được phủ sóng 100% với 2 hình thức là các mạng điện thoại cố định, di động
- Tất cả các xã đều có hệ thống loa phát thanh, truyền hình của trung ương và địa phương
- Trên 85% số hộ sử dụng điện lưới quốc gia phục vụ sản xuất và sinh hoạt
- Trên 80% số hộ sử dụng nước giếng khoan đạt tiêu chuẩn phục vụ sinh hoạt
* Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội