luận văn thạc sĩ, tiến sĩ, cao học, luận văn
Trang 1LEQ _A40
Dưïc Với - G9)
` ~ MxG
HÀ NỘI - 1999
Trang 2
LOI CAM DOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các thông tin trích dẫn trong luận án đêu đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận án
\¿„M hey il k
Lê Thị Ngọc Diệp
Trang 3LOI CAM ON
Hoàn thành luận án này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ quý báu, chỉ bảo tận tình của Thầy hướng dẫn PGS PTS Phạm Khác Hiếu trong suốt quá trình thực hiện luận án
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với sự quan tâm của Thầy hướng dẫn, cùng các thầy cô giáo và cán bộ
của Bộ môn Nội chẩn - Dược, Bộ môn Vi sinh vật - Truyền
nhiễm - Bệnh lý, các thầy cô giáo Khoa Chăn nuôi - Thú y và Khoa Sau đại học Trường Đại học nông nghiệp I Hà Nội các cán bộ Bộ môn Vệ sinh thú y và độc chất nấm mốc - Viện Thú y quốc gia, Khoa Sinh hoá - Bệnh viện 108, các cán bộ
Vụ đào tạo sau đại học - Bộ Giáo dục và đào tạo đã động viên giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu Xin chân thành cám ơn Ban giám hiệu nhà trường, Thư viện, Phòng thí nghiệm trung tâm Trường Đại học nông nghiệp I Hà Nội và tất cả bạn bè, đồng nghiệp, người thân đã tạo điều kiện, động viên tôi trong quá trình thực hiện đề tài
và hoàn thành luận án
Hà Nội, tháng 11 nam 1998
Lê Thị Ngọc Diệp
Trang 4MUC LUC
MO DAU
1 Tính cấp thiết của đề tài
2 Mục tiêu nghiên cứu
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4 Ý nghĩa khoa học của dé tai
5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 MỘT SỐ HIỂU BIẾT CƠ BẢN VỀ THUỐC THẢO MỘC
1.1.1 Cơ sở khoa học để nghiên cứu tác dụng
của được liệu có nguồn gốc thảo mộc
1.1.1.1 Thành phần hoá học và hoạt chất của thuốc thảo mộc
1.1.1.2 Đường đưa thuốc chủ yếu
1.1.1.3 Cách tác dụng của dược liệu có nguồn gốc thảo mộc
1.1.2 Một số thành tựu nghiên cứu khoa học về
cây thuốc ở Việt Nam trong thời gian qua
1.1.2.1 Điều tra, sưu tầm cây thuốc
1.1.2.2 Nghiên cứu di thực, trồng trọt cây thuốc
1.1.2.3 Nghiên cứu hoá thực vật
1.1.2.4 Nghiên cứu dược lý và độc tính
1.1.2.5 Nghiên cứu tiêu chuẩn hoá dược liệu và chế phẩm
4.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
Trang 51.2.6.5 Tác dụng kích thích tiêu hoá, nhuận tràng, -
bồi bổ cơ thể, tăng trọng
Trang 61.3.2.4 Bệnh do độc tố Aflatoxin gây ra
1.3.3 Tình hình nhiễm Aflatoxin trong thức ăn
chăn nuôi ở Việt Nam
1.3.4 Một số nghiên cứu phòng chống độc
hại của Aflatoxin
1.3.4.1 Các biện pháp phòng chống nấm Aspergillus flavus
trong lương thực, thực phẩm, thức ăn chăn nuôi
1.3.4.2 Các biện pháp hạn chế độc hại của Aflatoxin
Chương 2
NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Nghiên cứu một số tác dụng dược lý của Actiso
2.1.2 Nghiên cứu tác dụng của Actiso trên một số
mô hình bệnh lý thực nghiệm
2.1.3 Một số ứng dụng thử nghiệm Actiso trong
chăn nuôi, thú y
2.2 VAT LIEU DUNG TRONG NGHIÊN CỨU
2.3 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ BỐ TRÍ THÍ NGHIỆM
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu
2.4.2 Bố trí thí nghiệm
2.4.2.1 Tác dụng chống phù, chống tích nước của Actiso
2.4.2.2 Tác dụng kháng Histamin của Actiso
2.4.2.3 Tác dụng của Actiso đối với viêm gan thực nghiệm
2.4.2.4 Tác dụng chữa vết thương thực nghiệm cua Actiso
2.4.2.5 Tác dụng của Actiso đến khả năng tăng trọng
Trang 76 ga cong nghiép tir 1 - 49 ngay tuổi
2.4.2.6, Tác dụng của Actiso hạn chế độc hại ở gà Hybro
2.4.3
bị nhiễm độc A flatoxin B, có trong thức ăn
Xử lý số liệu nghiên cứu
Chương 3
KET QUA NGHIÊN CỨU
3.1 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU MỘT SỐ TÁC DỤNG
DƯỢC LÝ CỦA ACTISO
Ảnh hưởng của Actiso đến hoạt động
của tim ếch cô lập
Ảnh hưởng của Actiso đến huyết áp
động mạch thỏ
Ảnh hưởng của Actiso đến hoạt động
hô hấp thỏ
Ảnh hưởng của Actiso trên nhu động ruột
Khả năng kháng khuẩn của Actiso
3.2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG CỦA ACTISO
TRÊN MỘT SỐ MÔ HÌNH BỆNH LÝ THỰC NGHIỆM
32:1
B22
3.2.3
Kết quả xác định tác dụng của Actiso chống
phù thực nghiệm chân chuột cống trắng
Kết quả nghiên cứu tác dụng kháng
Histamin của Actiso
Kết quả xác định tác dụng của Actiso đối với
viêm gan thực nghiệm ở chuột cống trắng
3.2.3.1 Kết quả nghiên cứu tác dụng của Actiso đến biểu
hiện lâm sàng và biến đổi bệnh lý gan chuột cống
trắng gây viêm gan thực nghiệm bằng CCI,
Trang 83.2.3.2 Kết quả nghiên cứu tác dụng của Actiso đến
một số chỉ tiêu huyết học ở chuột cống trắng
gây viêm gan thực nghiệm bằng CCI,
3.2.4 Kết quả xác định tác dụng chữa vết thương
thực nghiệm của Actiso
3.3 KET QUA UNG DUNG THU NGHIỆM ACTISO
TRONG CHAN NUOI, THU Y
3.3.1 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của Actiso đến khả
năng tăng trọng ở gà công nghiệp
3.3.1.1 Kết quả theo dõi chỉ tiêu tăng trọng
3.3.1.2 Kết quả mổ khảo sát phẩm chất thịt của
gà thí nghiệm ở 49 ngày tuổi
3.3.1.3 Ảnh hưởng của Actiso đến hiệu quả sử dụng
thức ăn của gà thí nghiệm
3.3.1.4 Một số chỉ tiêu huyết học của gà thí nghiệm
ở 49 ngày tuổi
3.3.2 Kết quả nghiên cứu tác dụng của Actiso hạn
chế độc hại ở gà công nghiệp bị nhiễm độc
Aflatoxin B, 06 trong thtfc an
3.3.2.1 Ảnh hưởng của Actiso đến khả năng tăng trọng
của gà thí nghiệm
3.3.2.2 Ảnh hưởng của Actiso đến hiệu quả
sử dụng thức ăn của gà thí nghiệm
3.3.2.3 Ảnh hưởng của Actiso đến một số chỉ tiêu
huyết học của gà nhiễm độc Aflatoxin B,
3.3.2.4 Ảnh hưởng của Actiso đến biến đổi
bệnh lý ở gà thí nghiệm
3.3.2.5 Kết quả xác định lượng Aflatoxin B,
tồn dư trong cơ và gan gà thí nghiệm
Trang 9Chuong 4 THAO LUAN KET QUA 4.1 TAC DUNG DUGC LY CUA ACTISO VA MỘT SỐ
NGHIEN CUU THUC NGHIEM
4.2 UNG DUNG THU NGHIEM ACTISO TRONG
CHAN NUOI, THU Y
4.2.1 Ảnh hưởng của Actiso đến khả năng tăng
trọng của gà công nghiệp
4.2.2 Tác dụng của Actiso hạn chế độc hại ở gà công
nghiệp bị nhiễm độc Aflatoxin B; có trong thức ăn
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, cây cỏ quanh năm xanh tốt, rừng chiếm 1/3 tổng diện tích tự nhiên Sự ưu đãi đó của thiên nhiên đã tạo ra cho chúng ta một nguồn dược liệu rất đa dạng, phong phú gồm các loại cây thuốc và những động vật làm thuốc
Dược liệu nước ta là cơ sở của nền y học dân tộc, đồng thời giữ vị trí quan trọng trong nên y học hiện đại, không những đủ cung cấp cho nhu cầu trong nước mà còn là nguồn hàng xuất khẩu có giá trị (Đỗ Tất Lợi, 1991 [20))
Qua điều tra khảo sát, đã phát hiện được 1863 loài cây và gần 40 loài động vật làm thuốc Trong thực tế con số này chắc chắn còn cao hơn nhiều Hàng trăm loại cây thuốc đã được di thực từ nước ngoài về trồng ở Việt Nam, trong đó có cây Actiso, bạch truật, bạc hà, bạch chỉ, huyền sâm, xuyên khung (Viện Dược liệu, 1996 [40])
Từ xa xưa nhân dân ta đã áp dụng các bài thuốc thảo mộc để chữa bệnh cho vật nuôi Có thể nói, lịch sử của quá trình sử dụng thuốc thảo mộc trong thú y trước đây là lịch sử kinh nghiệm, mang tính truyền miệng trong dân gian (Phạm Khác Hiếu, 1995 [12])
Trong những năm gần đây, với sự tiến bộ mạnh mẽ của nên khoa học thú y, đã có nhiều công trình nghiên cứu về đông dược và sử dụng thuốc nam để chữa bệnh cho vật nuôi Thuốc có nguồn gốc từ thảo mộc thường dễ kiếm, quy trình bào chế đơn giản, giá thành rẻ, dễ sử dụng, ít
gây độc, lại có hiệu quả cao Ưu điểm nổi bật của thuốc nam hay thuốc bắc là không để lại chất tồn dư có hại trong các sản phẩm chăn nuôi Vì
vậy, dược liệu thảo mộc trở thành nguồn thuốc quan trọng, góp phần vào
Trang 11việc phòng, chữa bệnh cho gia súc, gia cầm Trong số các nguồn dược
liệu quý phải kể đến cây Actiso
Actiso (Cynara Scolymus L họ ctic- Compositae) được trồng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới như Pháp, Ý, Đức, Liên Xô cũ, Rumani, Ba Lan, Bungari, Chilé, Trung Quốc Ở Việt Nam, Actiso được trồng nhiều ở
Đà Lạt, Sa Pa, Tam Đảo và gần đây đã trồng thành công ở Quỳnh Lưu (Nghệ An), Tứ Lộc (Hải Dương) và được đưa vào danh mục dược điển
một số nước như Pháp 1818 va 1965 (Paris R., Priot, 1971 [196]), Rumani
1965 và Việt Nam năm 1977 Actiso là một trong số 96 cây thuốc được Bộ
Y tế ghi vào danh mục các cây thuốc cần được trồng và sử dụng ở Việt Nam (Dược điển Việt Nam, 1983 [5])
Hàng loạt công trình nghiên cứu đã chứng minh trong Actiso chứa nhiều hoạt chất có tác dụng chống viêm, thông mật, lợi tiểu, bổ gan và
bồi dưỡng cơ thể Ưu điểm này rất quý giá, cần được nghiên cứu áp dụng
trong chăn nuôi như một dược liệu mới có tác dụng chống viêm, tăng cường công năng giải độc gan, kích thích sinh trưởng khi bổ sung trong thức ăn hoặc nước uống
Việc sử dụng kháng sinh có nguồn gốc vi sinh vật hoặc tổng hợp
để kích thích tăng trọng có ý nghĩa to lớn trong chăn nuôi ở nhiều nước, song nó cũng bộc lộ những nhược điểm nghiêm trọng như:
- Tồn lưu của thuốc trong thịt, trứng, sữa làm ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm, một trong những vấn đề mà Tổ chức sức khoẻ thế giới đang hết sức quan tâm
- Sự kháng thuốc của vi khuẩn đang ngày một trầm trọng và phổ biến, gây khó khăn cho công tác thú y và y tế cộng đồng, ảnh hưởng đến môi sinh của người và vật nuôi
Trang 12Dược liệu có nguồn gốc thảo mộc được dùng để kích thích tiêu hoá, tăng trọng gia súc, gia cầm sẽ hạn chế và khác phục được những hậu quả nêu trên
Trong chăn nuôi ở nước ta hiện nay, bên cạnh một số bệnh truyền nhiễm do virus, vi khuẩn còn có những thiệt hại đáng chú ý do độc tố nấm mốc gây ra Trong số các độc tố đã tìm thấy, Aflatoxin B, được coi
là nguy hiểm nhất, gây bệnh về gan cho người và gia súc, là một tác nhân hoá học gây ung thư gan Nhiều biện pháp để phòng và xử lý thức an nhiễm Aflatoxin đã được thử nghiệm Khí hậu nóng, ẩm của Việt Nam
là điều kiện rất thuận lợi cho nấm mốc phát triển, khó tránh khỏi một lượng nhỏ độc tố tồn tại trong thức an, gây tác hại cho gia súc, gia cầm Những thành tựu mới của di truyền học đã bước đầu tạo ra những cây trồng, vật nuôi có sức để kháng tự nhiên với Aflatoxin và sử dụng sự đối kháng của các vi sinh vật với nấm mốc nhưng kết quả còn hết sức hạn chế Hiện nay chưa có các công trình nghiên cứu về thuốc thảo mộc và các biện pháp có tác dụng táng cường khả năng giải độc của cơ thể vật
nuôi khi nhiễm độc Aflatoxin từ thức ăn hàng ngày
Với mục đích đưa các chế phẩm Actiso vào thực tế sản xuất, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trong chan nuôi, đồng thời giữ gìn vệ sinh an toàn thực phẩm chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Tác dụng dược lý và một số úng dụng của dược liệu Actiso trong chăn nuôi thú y”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu một số tác dụng được lý quan trong của Actiso đến
hệ tuân hoàn, hô hấp, tiêu hoá
~- Nghiên cứu tác dụng của Aetiso đối với một số mô hình bệnh lý
Trang 13thực nghiệm như kháng Histamin, điều trị viêm phù, viêm gan và vết thương ngoại khoa thực nghiệm
- Nghiên cứu khả năng của Actiso kích thích tăng trọng và giảm tiêu tốn thức ăn ở gà công nghiệp
- Thử nghiệm tác dụng của Actiso hạn chế độc hại ở gà công nghiệp bị nhiễm độc Aflatoxin B; có trong thức ăn chăn nuôi
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
e Đối tượng nghiên cứu:
Các động vật thí nghiệm như thỏ, ếch, chuột cống trắng, chuột lang được sử dụng trong các nghiên cứu cơ bản Ở các thí nghiệm ứng dụng trong sản xuất, đối tượng nghiên cứu chủ yếu là gà công nghiệp (các giống Hybro, Arbor - Acres và ISA)
e Phạm vi nghiên cứu:
~ Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
~ Thí nghiệm trên mô hình thực nghiệm
- Thử nghiệm trong chăn nuôi gà công nghiệp
4 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Đây là công trình đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu các tác dụng dược lý và ứng dụng của dược liệu Actiso trong lĩnh vực chăn nuôi, thú
y Để tài đã nghiên cứu một cách có hệ thống về dược liệu này, từ nghiên cứu tác dụng dược lý in vitro đến nghiên cứu thực nghiệm nhỏ trên các mô hình bệnh lý của động vật, tiếp đó mở rộng thử nghiệm trên động vật nuôi trong sản xuất ở dạng pilot
Hy vọng rằng các tư liệu để cập đến trong luận án này sẽ là một trong những nguồn tài liệu tham khảo về dược liệu, đặc biệt là cây Actiso
Trang 14và một số vấn đề về độc tố nấm mốc Aflatoxin B, cho những người làm công tác nghiên cứu và giảng dạy
Kết quả thí nghiệm sẽ giúp ích nhiều cho việc nghiên cứu các tác dụng dược lý của cây thuốc; nghiên cứu các chế phẩm có nguồn gốc thảo mộc nhằm phòng và chữa bệnh cho gia súc, gia cầm, góp phần giải thích một số cơ chế tác dụng của được liệu nói chung và Actiso nói riêng
Số liệu thu được sẽ bổ sung thêm thông tin về các chỉ tiêu huyết học, giải phẫu tổ chức của một số khí quan nội tạng động vật (chuột cống trắng, gà công nghiệp ) ở trạng thái bình thường và những biến đổi bệnh lý khi bị nhiễm độc do CCI; và độc tố Aflatoxin Bị
5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu sẽ mở ra khả năng ứng dụng rộng rãi dược liệu Actiso trong chăn nuôi, thú y về nhiều phương diện: kích thích tăng trọng; điều trị vết thương ngoại khoa; chống dị ứng; làm lợi tiểu và đặc biệt là tăng cường công năng gan trong một số bệnh rất phổ biến, thường gây nhiễm độc gan ở gia súc, gia cảm Ví dụ như:
- Ngộ độc độc tố nấm mốc, ngộ độc thuốc và các hoá chất bảo
Trang 15Chương 1 TONG QUAN
1.1 MOT SO HIEU BIET CO BAN VỀ THUỐC THẢO MỘC
Từ thời nguyên thuỷ, để tồn tại con người đã biết tìm kiếm thức an
và các vị thuốc trong cây cỏ của thiên nhiên Những hiểu biết về phân biệt các loại cây cỏ có lợi và độc hại được truyền miệng, ghi chép và đúc kết thành kinh nghiệm qua nhiều thế hệ nối tiếp nhau của loài người
Ngày nay, nhiều cây thuốc đã có hiệu quả điều trị rõ rệt nhưng cơ chế tác dụng vẫn chưa được giải thích và chứng minh Xu hướng chung hiện nay là kết hợp giữa đông y và tây y, với phương châm vừa áp dụng những kinh nghiệm chữa bệnh của ông cha ta bằng thuốc nam, vừa nghiên cứu, khảo sát các tính năng, tác dụng của cây thuốc bằng cơ sở khoa học hiện đại (Đỗ Tất Lợi, 1991 [20])
1.1.1 Cơ sở khoa học để nghiên cứu tác dụng của dược liệu
có nguồn gốc thảo mộc
1.1.1.1 Thành phần hoá học và hoạt chất của thuốc thảo mộc
Khi xét tác dụng của một vị thuốc theo khoa học hiện đại chủ yếu căn cứ vào thành phần hoá học của vị thuốc, nghĩa là tìm trong vị thuốc
đó có những chất gì? Tác dụng của những chất đó trên cơ thể động vật và người ra sao?
Các chất chứa trong vị thuốc, hay gọi là thành phần hoá học có thể chia làm 2 nhóm chính: nhóm những chất vô cơ và nhóm những chất hữu
cơ Những chất vô cơ tương đối ít và tác dụng dược lý không phức tạp Trái lại, các chất hữu cơ có rất nhiều loại và tác dụng dược lý hết sức phức tạp Hiện nay khoa học vẫn chưa phân tích được hết các chất có trong cây, trong cơ thể động vật làm thuốc do đó chưa giải thích được
Trang 16đầy đủ tác dụng của những thứ thuốc mà ông cha ta đã dùng
Việc nghiên cứu tác dụng chữa bệnh của một vị thuốc không đơn giản, vì trong một vị thuốc đôi khi chứa nhiều hoạt chất Những hoạt chất
đó có lúc phối hợp, hiệp đồng làm tăng cường, kéo dài tác dụng Nhưng đôi khi có tác dụng đối lập giữa các thành phần của một cây Vì vậy, tác dụng của một dược liệu không bao giờ được quy hẳn về một thành phần chính có tác dụng (Paris R Moyse H, 1965 [195]) Thay đổi liều lượng cũng có thể ảnh hưởng đến kết quả chữa bệnh Trong đông y thường sử dụng phối hợp nhiều vị thuốc, hoạt chất của các vị thuốc sẽ tác động lẫn nhau làm cho việc nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị lại càng khó (Phạm Khắc Hiếu, 1995 [12])
Nghiên cứu tác dụng dược lý của thuốc trên động vật thí nghiệm là một khâu hết sức quan trọng Khi kết quả nghiên cứu tác dụng dược lý phù hợp với những kinh nghiệm của nhân dân, có thể yên tâm sử dụng những loại thuốc đó Trong trường hợp nghiên cứu một vị thuốc nhưng không có kết quả, chưa nên kết luận vị thuốc ấy không có tác dụng điều trị vì phản ứng của các cơ thể sinh vật có thể rất khác nhau Chính vì thế, những kết quả nghiên cứu trong phòng thí nghiệm phải được xác nhận trên lâm sàng, mà những kinh nghiệm chữa bệnh của ông cha ta đã có từ hàng ngàn năm về trước là những kết quả thực tiễn có giá trị Nhiệm vụ của chúng ta là tìm ra cơ sở khoa học hiện đại của những kinh nghiệm đó
Trang 17trong hắc phàn, thuỷ ngân, selen trong chu sa, thần sa, magiê trong hoạt
thạch, kali trong bong mã để, rể cỏ tranh, Actiso Các chất vô cơ thường
có trong thành phần tro của các vị thuốc (Wattieze N et Sternon N.,
1990 [50])
Tác dụng của các axit này không giống nhau, có thể thanh nhiệt tả hoả như axit citric; sát trùng chữa ho như benzoic; nhuận tràng, tăng cường tiêu hoá như axit trong me, sơn trà; lợi mật, nhuận gan như axit có trong Actiso
- Các chat glucozid: rat hay gap trong các vị thuốc Cấu tạo hoá học gồm 2 phần, một phần là đường và một phân không phải là đường gọi là genin hay aglycon Các glucozid có tác dụng khác nhau trên cơ thể (Vincent S Venturella, 1990 [197]) gồm các loại sau: glucozid trợ tim, glucozid dang, saponin hay saponozid, antraglucozid, tanin, flavonoid va anthocyanozid
Flavonoid và anthocyanozid là những chất màu trong dược liệu Flavonoid có tính chất giống vitamin P, làm táng sức bền và giảm tính thấm của thành mạch máu, chống các hiện tượng tổn thương mao mạch do phóng xạ, hoá chất Ngoài ra còn có tác dụng điều hoà huyết áp, lợi tiểu,
Trang 18nhuận gan, (Dương Hữu Lợi, 1993 [19]) Chat này có nhiều trong hoa hoè, Actiso Anthocyanozid cũng là chất màu trong dược liệu có tác dụng lợi tiểu, giải nhiệt và có nhiều trong đậu đen (Đỗ Tất Lợi, 1991 [20])
- Alcaloid: đóng vai trò rất quan trọng trong điều trị Đó là
những chất hữu cơ chứa nitơ có tính kiểm, thường có vị rất đắng
(Alfonso R Gennaro,1990 [Š0]) Các alcaloid thường rất độc nên phải dùng thận trọng
- Chất kháng sinh: có rất nhiều loại khác nhau và có nhiều ở thảo
mộc như hoàng đằng, hoàng liên (Đặng Hạnh Khôi, 1978[17]) Nguyễn Đức Minh và cộng sự (1985) [24] đã sơ bộ thử tác dụng kháng sinh của hơn 1500 cây thuốc, điều tra ở miền trung Trung bộ, thống kê được hơn 60 cây kháng sinh Trường Đại học Quân y phát hiện được hơn
1.1.1.2 Đường đưa thuốc chủ yếu
Các thuốc thảo mộc thường được chế biến dưới dạng bột, cao, thuốc sắc, ngâm kiệt, do vậy được đưa vào cơ thể chủ yếu qua đường uống Trong nhân y, đây cũng là đường đưa thuốc thông dụng nhất Cách này đơn giản, không gây khó chịu và ít nguy hiểm Trong chăn nuôi thú
Trang 19y, đặc biệt là chăn nuôi theo phương pháp công nghiệp thì đường đưa thuốc qua miệng lại càng ưu việt (Phạm Khắc Hiếu, 1997 [14])
Khi cho uống thuốc, quá trình hấp thu được tiến hành ở dạ dày và ruột non Biểu mô tiêu hoá được coi như một màng lipoprotein có lỗ nhỏ,
do đó sự hoà tan trong lipid sẽ là yếu tố chủ yếu quyết định sự hấp thu bằng khuyếch tán Nếu thuốc không tan trong lipid mà tan trong nước sẽ hấp thu theo phương thức lọc, thuận chiều gradien nồng độ Những chất
mà cơ thể cần có sự tích luỹ nhiều sẽ hấp thu theo kiểu ngược chiều gradien nồng độ Sự hấp thu này cần có sự cung cấp năng lượng Thường dùng đến năng lượng của tế bào, đó là các ATP (Drago Drumev, 1975
[92]; Lê Khắc Thận, 1997 [30])
Sự hấp thu thuốc ở niêm mạc dạ dày biến đổi theo pH của chất chứa trong dạ dày và pH của da dày cũng có thể bị thay đổi do nhiều thứ thuốc Những chất không ion hoá ở trong máu có thể qua màng
dạ dày, do đó chúng được tìm thấy trong dịch dạ dày Những chất này sẽ được tái hấp thu ở biểu mô ruột non và thiết lập một vòng ruột
non - đạ dày
Ở ruột non, độ pH thay đổi từ 7,8 - 8 (tuỳ loài động vật) Những
điều kiện hấp thu của ruột non có thể thay đổi bằng cách thay đổi hệ
số phân chia lipid/ nước của các phân tử được dùng Những ion hữu cơ thấm vào cơ thể chậm hơn là những phân tử không ion hoá hoà tan
trong mỡ (Đỗ Doãn Đại, Dương Hữu Lợi, 1987 [6]; Richard Adams
H 1995 [155])
1.1.1.3 Cách tác dụng của dược liệu có nguồn gốc thảo mộc
Một trong những mục đích của việc khảo sát dược liệu là xác định tác dụng của thuốc trên người và động vật Trước khi nghiên cứu khả
Trang 20năng điều trị của một dược liệu cần phải biết độc lực của chúng
Có loại dược liệu khi sử dụng sẽ gây dị ứng hoặc hiện tượng đặc ứng thuốc Ở một số cây thuốc, liễu điều trị tương đương với liều độc, đó
là các dược thảo có giới hạn an toàn trong điều trị thấp (dương địa hoàng, curarơ, ô đầu Paris Moyse H 1965 [195])
Phần lớn các loại được liệu lại hoàn toàn không gây độc, điển hình
là Actiso (Đỗ Tất Lợi, 1991 [20] và nhiều tác giả)
Khi nghiên cứu cách tác dụng của dược liệu, chúng ta cần phân biệt các cây thuốc có tác dụng điều trị nguyên nhân (các cây có chứa kháng sinh thảo mộc, ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh) và các cây thuốc đơn thuần chữa triệu chứng Ví dụ: thuốc phiện chỉ có tác dụng làm giảm đau mà không tiêu diệt nguồn gốc gây dau (Phạm Khác Hiếu, 1997 [14])
Cần lưu ý là dược liệu toàn bộ không phải bao giờ cũng có tác dụng như từng thành phân riêng biệt chứa trong cây thuốc Có thể có tác
dụng hiệp đồng giữa chúng Hành biển lợi tiểu đồng thời do xilaren,
fructozan và flavonoid
Tuy hiếm nhưng trong một cây dược liệu cũng có các chất đối lập
Ví dụ: trong đại hoàng, phản tả diệp vừa có các anthraglucozid gây nhuận tràng, vừa có tanin làm se niêm mạc, cầm ỉa chảy
*
* *
Như vậy, mỗi tác dụng dược lý của cây thuốc đều có cơ sở khoa học của nó Để giải thích đầy đủ những điều còn ẩn chứa trong tác dụng tổng hợp của thuốc thảo mộc, việc tiếp tục nghiên cứu về cây thuốc là rất cần thiết
Trang 211.1.2 Một số thành tựu nghiên cứu khoa học về cây thuốc ở
Việt Nam trong thời gian qua
1.1.2.1 Điều tra, sưu tầm cây thuốc
Cho đến nay, 1863 loài cây thuốc của 238 họ thực vật, 8000 tiều bản của 1296 loài đã được sưu tầm Hơn 1000 loài đã có mùa hoa quả được tập hợp thành danh mục (Viện Dược liệu, 1996 |43])
1.1.2.2 Nghiên cứu di thực, trồng trọt cây thuốc
® Nghiên cứu kỹ thuật trồng trot:
Đã có nhiều nghiên cứu về kỹ thuật thuần hoá cây thuốc hoang
dại Những chỉ dẫn kỹ thuật trồng trọt đã được xây dựng và phổ biến
trong nhân dân Đối với các cây thuốc quý đã nghiên cứu chuyên hoá sâu hơn về chọn giống, bảo vệ thực vật, sinh hoá cây trồng và những biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao hàm lượng hoạt chất Chuyên khoa nuôi cấy mô tế bào bước đầu phục vụ nghiên cứu chọn giống và nhân giống (Trần Toàn, Trần Hùng, 1993 [44])
e Di thực cảy thuốc nước ngoài:
Hàng trăm loài cây thuốc nước ngoài đã được nhập giống và nghiên cứu thuần hoá trong nhiều năm Khoảng 70 loài đã thích nghi và sinh
trưởng phát triển ổn định trong điều kiện khí hậu của Việt Nam Những
cây Actiso, bạc hà, bạch truật, bạch chỉ, huyền sâm, ngưu tất, sinh địa đã được phổ biến trồng rộng rãi ở những vùng có khí hậu thích hợp
1.1.2.3 Nghiên cứu hoá thực vật
Trong phân tích hoá học, áp dụng các phương pháp hiện đại như phổ hồng ngoại, tử ngoại, cộng hưởng từ hạt nhân, sắc ký lớp mỏng, sắc
ký khí, sắc ký lỏng cao áp
Về kỹ thuật chiết xuất, các kỹ thuật ổn định và làm giầu hoạt
Trang 22chất ngày càng hoàn thiện Áp dụng các phương pháp chuyển hoá
men, các chất xúc tác hoá học vào việc chiết các glucozid trợ tim, các chất steroid và các hoạt chất khác (Vũ Ngọc Lộ, Phạm Kim
Mãn, 1993 [44])
1.1.2.4 Nghiên cứu dược lý và độc tính
Các phương pháp điện sinh lý, sinh hoá, tổ chức học, vi sinh vật học đã được áp dụng ngày càng nhiều
Nhiều mô hình bệnh lý thực nghiệm theo những cơ chế bệnh sinh khác nhau cho phép chứng minh tác dụng điều trị thực nghiệm của dược liệu trên súc vật được gây bệnh đã làm tăng độ tin cậy và
sự trùng hợp giữa các kết quả nghiên cứu dược lý và điều trị lâm sàng Nhiều tác dụng dược lý mới đã được phát hiện trong các cây thuốc hoang dại và cây nhập nội (Đoàn Thị Nhu, Phạm Duy Mai,
1993 [44])
1.1.2.5 Nghiên cứu tiêu chuẩn hoá dược liệu và chế phẩm
Nhà nước đã có quy định tiêu chuẩn của 215 được liệu dùng trong
y học cổ truyền và 27 chế phẩm thuốc cổ truyền từ được liệu Ngoài
những quy định về tiêu chuẩn chất lượng, phương pháp kiểm nghiệm, bảo quản, còn có quy định về phương pháp chế biến, bào chế, tính vị, công năng, cách dùng, liều lượng, kiêng ky
Những tiêu chuẩn cấp ngành, cơ sở đã được xây dựng đối với những dược liệu ít phổ biến
Từ những vấn đề nêu trên có thể thấy rõ tầm quan trọng của thuốc thảo mộc đối với đời sống của nhân dân ta Những hiểu biết cơ
Trang 23bản về cây thuốc sẽ góp phần làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu tác dụng của Actiso và đưa dược liệu này vào ứng dụng trong thực tế chăn nuôi, thú y
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
VE CAY ACTISO
Cây dược liệu Actiso (Cyrana Scolymus L họ cúc Compositae) da được di thực trồng ở nước ta từ lâu Tên cây được phiên âm từ nguyên bản tiếng Pháp là Artichaut Actiso được trồng ở một số vùng cao nguyên như Đà Lạt, Sa Pa, gần đây còn được phát triển trồng ở một số vùng đồng bằng thuộc các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Hải Dương Riêng ở
Đà Lạt, hàng năm có thể thu mua tới hàng trăm tấn lá Actiso khô (Bùi Văn Uy, 1980 [36]) Trong những năm gần đây, trên thị trường dược liệu
ở nước ta đã lưu hành nhiều loại sản phẩm chế từ Actiso và đã được sử
dụng có hiệu quả trong y học Trên thế giới, Actiso đã được bổ sung vào thức ăn gia súc, gia cầm như ở Pháp (Paris R., 1965 [195]), Chilê (Tame
- Nerni C., 1978 [198]), Y (Bonomi va cộng sự, 1990 [64]) Ở Bungari, một số nghiên cứu về Actiso trong chăn nuôi thú y đã được tiến hành (Foteva S ,1986 [100])
1.2.1 Mô tả cây
Cây Actiso có tên khoa học là Cynara Scolymus L thuộc họ cúc Compositae Cây thảo lớn cao gần 1m hay hơn, có khi tới 2m, trên thân
và lá có lông trắng như bông, lá to mọc cách, phiến lá bị khía sâu, có gai,
mặt dưới có lông trắng, hoa tự hình đầu, màu tím nhạt, lá bắc ngoài của
hoa tự dày và nhọn, đế cụm hoa nạc, phủ đầu lông tơ, mang toàn hoa hình ống Quả nhắn bóng, màu nâu sẵm có mào lông trắng (Bùi Chí Hiếu, 1985[11]; Bruckart W L., 1996 [66])
Trang 25
Anh 3: Ré cay Actiso
Trang 27thích hợp với giống trồng, một vài cây lai đời F1 hầu như vô sinh Điều
đó cho thấy giống Cardoon dại - Cynara carcundulus L là tổ tiên hoang đại của cây Actiso gieo trồng phổ biến hién nay - Cynara Scolymus L Điều này được khẳng định bởi thí nghiệm của Rottenberg A và Zohary D (1996) [158] và cộng sự khi thử trên 20 hệ enzym Sự đồng nhất di truyền giữa cây Actiso gieo trồng và cây dại cardoon là 0,92 -
0,96, trong khi với 5 giống còn lại là 0,67 - 0,79
Tivang J và cộng sự (1996) [178] đã xác định tổ tiên của cây Actiso bằng phương pháp đánh dấu RAPD (Randomly ampliefied polymorphic DNA) và cho cùng kết luận trên
Với một dự án 2 năm Mauromicale G và lerna A Italy (1995) [136] đã thử nghiệm tác dụng của axit gibberellic (GA) đến thời gian gieo hạt, thu hoạch và sản lượng của cây Actiso loại lai F1 orlando trồng theo lối gieo hạt Thời vụ gieo hạt thường từ 1/7 đến 10/8 hàng năm Ở những cây không xử lý bằng GA, đầu cây được thu hoạch vào mùa xuân năm sau Thời tiết lạnh cần thiết cho việc ra hoa GA có thể thay thế được yêu cầu về thời tiết lạnh, cho phép gieo trồng vào mùa thu Trên thực tế, gieo hạt sém (1-10 tháng 7) kết hợp với bổ sung GA (2 - 3 lần) cây Cynara orlando cho sản lượng đầu cây tương tự như Cynara violetto
Trang 28di sicilia (một giống Actiso có thể trồng sớm) Hơn nữa tổng sản lượng
của Cynara loại orlando (cuối đợt thí nghiệm) cao hơn nhiều so với loại violetto di sicilia
Actiso có thể được nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô Nhánh của chồi Actiso mới nhú lên được dùng làm primary explants
để trồng trong ống nghiệm axit 6 N benzyladenin (BA) và 1 naphthalene acetic axit (NAA) được dùng để xác định cách kết hợp điều khiển sinh trưởng thích hợp đối với nhân giống bằng mầm (Iapichino G Italy, 1996 [119])
Theo nghiên cứu của Trần Toàn, Trần Hùng (1993) [44] Actiso
được trồng bằng hạt và mầm nhánh, trồng ở miền núi cao, mát, cây vừa
ra hoa quả, vừa đẻ mầm nhánh xung quanh gốc Ở miền núi các tỉnh phía Bắc, có thể gieo hạt vào tháng 1, 2 hoặc vào cuối mùa thu (tháng 9, 10)
Tuổi ở vườn ươm là 45 - 50 ngày Khi cây có lá xẻ lông chim có thể
đánh trồng Ở đồng bằng và trung du Bắc bộ, gieo vào đầu tháng 10,
đánh trồng vào hạ tuần tháng 11 Sau khi làm đất nhỏ, lên luống cao 20 - 25cm, mặt luống rộng 40cm, bổ hốc thành một hàng giữa luống Hốc cách nhau 70 - 80cm Dùng phân chuồng mục 10 - I5 tấn/ha, bón lót Mỗi ha trồng khoảng 10.000 cây, thúc nước phân chuồng hoặc phân đạm
2 - 3 lần tuỳ tình hình sinh trưởng của cây, tưới thúc lần thứ nhất sau khi
trồng độ 15 ngày, lần thứ hai cách lần trước khoảng 20 ngày Có thể dùng đạm urê 80 - 100 kg/ha cho mỗi lần tưới Làm cỏ vun xới kết hợp
khi tưới thúc Về sau, mỗi tháng làm cỏ vun xới một lần cho đến khi
cây dao tán Ở đồng bằng và trung du Bắc bộ, khoảng đầu tháng 2 có thể
ngừng chăm sóc
Actiso ưa khí hậu lạnh mát quanh năm Nhiệt độ thích hợp khoảng
15 - 189C Ở Việt Nam, thường trồng ở độ cao 1.000 - 1.500 m so với mặt
Trang 29biển Ở độ cao này, cây có thể sống nhiều năm, vừa sản xuất giống vừa cung cấp dược liệu Ở đồng bằng và trung du Bắc bộ, có thể trồng Actiso
vào vụ đông xuân và cây chỉ sản xuất dược liệu Aetiso là cây sinh trưởng mạnh, cho nên cần chọn đất màu dày, thoát nước và bón nhiều phân
Ngoài các nghiên cứu về nguồn gốc, kỹ thuật trồng trọt, một số
nghiên cứu về bệnh cây Actiso (Tavazza M., 1994 [174], Kyria Kopoulou P E., 1995 [126]; Duffus J E và công sự, 1996 [93]) và biện pháp phòng, chống (Tavladoraki P và cộng sự, 1993 [175]; Tort M.,
1995 [179]; Vanstaden J và cộng sự, 1996 [185]) đã được tiến hành
1.2.3 Phân bố, thu hái và chế biến
Loài Actiso đang được dùng làm thuốc hiện nay không thấy mọc hoang dại, có thể đó là một dạng được thuần hoá từ cây Cynara cardunculus L (Cardoon) Loài này mọc hoang ở những vùng đồi khô, miền Địa Trung Hải và được trồng nhiều ở Pháp, Ý, Tây Ban Nha và Bắc Phi để làm rau ăn (Granado E., 1996[104])
Ở miền núi, có thể trồng Actiso một lần và thu hoạch trong 2 - 3 năm Cây mẹ lụi đi, cây con lại tiếp tục phát triển Sau khi trồng 3
tháng, có thể bắt đầu thu hái Dùng dao sắc tỉa lá Tuỳ khả năng chăm
sóc, mỗi năm có thể thu hái 2 - 3 lần Sau mỗi lần thu hái cần bón thúc, làm cỏ và vun xới
Ở đồng bằng, thường thu hái một lần vào tháng 4 - 5 tuỳ tình hình
thời tiết Cắt toàn bộ thân lá về xử lý, có thể dùng cả rễ làm thuốc Dùng hơi nước sôi có áp lực cao để xử lý nhanh thân lá Sau đó phơi hoặc sấy
khô Năng suất lá khô 1,5 - 2 tấn/ha (Trần Toàn, Tran Hing, 1993 [44])
Lá Actiso thu hái vào năm thứ nhất của thời kỳ sinh trưởng hoặc
vào cuối mùa hoa, mùa khô Có tài liệu nói là nên thu hái lá còn non vào
Trang 30lúc cây chưa ra hoa Ở Đà Lạt, nhân dan thu hái lá vào thời kỳ trước Tết
Ở các chợ miền Nam nước ta, nhân dân thường mua bán lá, thân, rễ
Actiso thái mỏng, phơi khô và dùng dưới dạng thuốc sắc
Hiện nay Actiso được bào chế dưới các dạng sau:
1.2.4.1 Dạng dịch chiết cô đặc
Dịch chiết thu được bằng phương pháp ngâm kiệt phân đoạn với cồn 60% được loại tạp bằng dung dịch natri hydrocacbonat bão hoà và dung dịch axit clohydric 10% Ở môi trường pH = 8, tanin kết tủa; ở môi trường pH = § - 6, albumin thực vật, chất nhầy kết tủa và bị loại
ra khỏi dịch chiết, cô giảm áp để đưa dịch chiết về độ đậm đặc mong
muốn (Iml dịch chiết bằng 3g dược liệu khô Trong quá trình bào chế, tỷ lệ hao hụt hoạt chất là 12,5% - Đặng Thị Hồng Vân và cộng
su, 1983[38])
1.2.4.2 Cao mềm
Cao thuốc là các chế phẩm điều chế bằng cách cô đặc đến đậm
độ hoặc thể chất nhất định các dịch chiết thu được từ các được liệu thực vật, động vật với các dung môi thích hợp như ethanol dược dụng, nước, ether
Tuỳ theo thể chất, cao thuốc được chia thành các loại sau:
- Cao lỏng: Có thể chất lỏng, hơi sánh Quy ước Iml cao lỏng tương đương với lg dược liệu tương ứng
Trang 31- Cao mềm: Là một khối đặc quánh, dẻo, có chứa 10 - 20% nước
- Cao khô: Là một khối hoặc bột khô, đồng nhất nhưng rất dễ hút
ẩm, độ ẩm < 5% (Đặng Thị Hồng Vân và cộng sự, 1984 [35])
1.2.4.3 Thuốc tiêm
Thuốc tiêm Actiso được chế theo quy trình tổng quát như sau:
- Dùng dung môi nước gấp 7 lần, dược liệu chiết 3 lần, mỗi lần
30 phút ở nhiệt độ 70°C
- Dùng sữa vôi Ca(OH); để tủa hoạt chất ở pH = 12 Tạp chất cũng lẫn vào sữa vôi và tủa cùng hoạt chất
- Lắc với cồn 96% Dùng axit sunfuric 20% đưa dịch chiết về pH =
3 Tủa hoạt chất tan ra và ở lại dung dịch Tủa tạp chất không tan được,
đem loại đi, có thể làm lại một vài lần để sạch tạp chất
- Điều chỉnh dịch chiết về pH = 7 bằng dung dịch NaOH 20%, bốc hơi hết cồn
- Lấy dung dịch tinh khiết này pha thuốc tiêm, đóng ống 1 - 2 ml
(Iml = 2g dược liệu khô)
Dịch tiêm này đã được kiểm tra hàm lượng hoạt chất, tương đương
với chế phẩm Actiso tiêm của Pháp là Cophytol (Đặng Thị Hồng Vân và cộng sự, 1981 [37])
Xí nghiệp liên hợp dược tỉnh Lâm Đồng đã bào chế viên bao Cynaraphytol Mỗi viên chứa 0,2g hoạt chất toàn phần lá tươi Actiso tương
đương với 20mg cynarin (Vũ Ngọc Lộ, Phạm Kim Mãn, 1993 [44])
Ngoài ra, Xí nghiệp dược phẩm TW6 OPC đã sản xuất trà túi lọc
Actiso với thành phần:
Thân cây Actiso: 40%
Ré cay Actiso: 40%
Trang 32Hoa: 20%
Đây là loại thức uống hàng ngày, vừa là thuốc (thực phẩm dược) được bào chế từ thân, rễ và hoa của cây Actiso theo kinh nghiệm dùng thuốc của Việt Nam (VIDAL,1996 [40])
1.2.5 Thành phần hoá học
Ở nhiều nước trên thế giới, Actiso đã được sử dụng từ lâu đời và là một dược liệu phổ biến Vì thế đã có nhiều công trình khoa học nghiên
cứu về dược liệu này
Năm 1954 một số tác giả người Ý như Panizzi - Scarpati đã xác
định được trong lá của Actiso có hoạt chất cyranin (axit Ì - 4 - dicafeyl quinic) va cùng trong năm 1954 nó đã được tổng hợp Sau đó trong các năm 1956, 1958, 1964 cũng trong lá Actiso, Masquilier và Michaud da phát hiện có các flavonoid 1a chat f.luteolin glycozid Cac hợp chất trên được coi là thành phần hoạt chất cơ bản, quyết định tác dụng lợi mật, lợi tiểu của Actiso (Đặng Thị Hồng Vân, Bùi Văn Ủy, 1981137])
Theo tiến sỹ Đỗ Tất Lợi (1991) [20], trong lá của Actiso có một
chất đắng có phản ứng axít gọi là cyranin Đó là axit 1 - 4 - dicafeyl quinic Cyranin có công thức cấu tạo như sau;
OH
Ngoài ra còn thấy inulin, inulinaza, các muối hữu cơ của các kim
loại kali, canxi, magie, natri (tỷ lệ kali rat cao)
Ballaud đã phân tích thành phần của phần dé hoa va phan mau
trắng có thé an được của lá cây Actiso như sau (Mono - G., 1933 [194]):
Trang 33Nét đặc trưng của Actiso là rất giàu chất inulin (Schorgalindo S
va cong su, 1995 [162]; Abasaeed A E., 1996 [47]), đó là một hop chat hữu cơ có vai trò như tỉnh bột trong các loại hạt nhưng dễ chuyển hoá
thành levuloza Inulin hoà tan trong dịch tế bào Ở nhiệt độ 55 - 60°C dé
bị thuỷ phân với axit HCI để cho ra dudng fructoza (Balint P Forgacs I.,
1964 [202]; Auriac M.C., 1995 [54]; Mokhtari A., 1996 [139]) Người ta
đã vận dụng nguyên lý này để định tính và định lượng inulin trong dược liệu Inulin có trọng lượng phân tử là 5000M Hàm lượng inulin trong
máu ảnh hưởng đến quá trình siêu lọc ở thận Vì vậy, khi chiết xuất
không nên đưa nhiệt độ lên cao quá
Ở phần đầu cây, lá và thân người ta đã phân tích và cho thấy cứ
trong 100g nguyên liệu có:
Bộ phận cây | Chất khô (gr) | Dam Axit P K Ca
Phan dau cay 20,7 0,2846 | 0,2445 | 0,5250 | 0,1115
Trang 341995 [97]; Elia A.,1996 [96]; Deliki A.,1996 [85])
Những nghiên cứu của các tác giả Đặng Thị Hồng Vân, Bùi Văn
Ủy (1981) [37] đã định tính các flavonoid bằng phản ứng Shinoda, dùng sắc ký giấy để xác định gốc luteolin của flavonoid và xác định cyranin, axit clorogenic Trong 3 loại dịch chiết (lá, thân và rễ) thì chỉ trong lá mới tìm thấy flavonoid
Định lượng các hoạt chất chủ yếu - flavonoid và polyphenol ở các
bộ phận khác nhau của Actiso cho thấy:
(cuống, gân chính và phiến lá)
Vũ Ngọc Lộ, Phạm Kim Mãn (1993) [44] xác định lá Actiso chứa:
® Axửt hữu cơ gồm:
- Axit phenol: cynarin (axit 1 - 3 đicafeyl quinic) và các sản pham của sự thuỷ phân (axit cafeic, axit clorogenic,axit neoclorogenic)
~ Các axit suxinic, fumaric
ø Hợp chất flavonoid (dẫn chất của luteolin) gom:
Cynarozid (luteolin - 7 - D glucopyranozid), scolymozid (luteolin -
7 - rutinozid) va cynarotriozid (luteolin - 7 - rutiozid - 3° - glucozid)
e Thanh phan khdc: cynaropicrin 1a chat cé vi đắng thuộc nhóm
Trang 35quaianolid
Duge dién Rumani VIII quy định dược liệu phải chứa trên 1%
polyphenol toàn phần và 0,2% hợp chất flavonoid
Theo Paris R (1965) [195], Ortuno J (1996) [145] hoạt chất (polyphenol) tập trung ở lá, có nhiều nhất ở phiến lá (7,2%), rồi đến hoa (3,48%), đế cụm hoa, rễ, cuống lá
Trong lá Actiso chứa 1,23% polyphenol, 0,4% hop chat flavonoid, sau đó đến thân (0,75%), rễ (0,54%) Lá non chứa nhiều hoạt chất (0,84%) hơn lá mọc thành hình hoa thị ở mặt đất (0,38%) Lá cần được
ổn định trước rồi mới chuyển thành dạng bào chế
Ngọn có hoa chứa inulin, protein (3,6%), dầu béo (0,1%), carbon
hydrat (16%), chất vô cơ (1,8%), trong đó: Ca (0,12%), P (0,10%), Fe (2;3mg/100g) caroten (60 đơn vị quốc tế /100g tính ra vitamin A)
Thân và lá còn chứa muối hữu cơ của các kim loại K, Ca, Mg, Na Hàm lượng kali rất cao (Demalach Y., 1996 [86])
Hinon J và cộng sự (1989) tại Hy lạp [114] đã chiết được từ lá Actiso các hoạt chất sau: apigenin, luteolin, luteolin - 4 - glucoisid, cynarosid, scolymosid, cosmosid, quercetin, rutin, axit chlorogennic axit, axit cafeic, axit isochlorogenic , luteolin -7 - gentiobiosid va cdc chat it thong dung nhu scopoletin, hesperidin, hesperidosid, esculetin - 6
- 0 - beta - glucosid Dac biệt là hoạt chất maritimeim lần đầu tiên được phát hiện và xác định về cấu trúc hoá học
1.2.6 Tác dụng dược lý và công dụng
Cây Actiso đã được dùng để chữa bệnh trong dân gian nhiều nước
Từ thời cổ xưa, người ta đã sử dụng một loại Actiso hoang đại (Cynara Cardunculus L Compositae - cây cardoo) làm rau ăn, làm thuốc để chữa bệnh sỏi niệu (rễ Actiso ngâm trong rượu vang) Vào thế ky XVIII
Trang 36Lemery dùng cây Actiso hoang dại này để chữa bệnh phù thũng Thế kỷ
XIX, ở nhiều nước người ta đã dùng nước sắc Actiso làm thuốc lợi tiểu
và chữa các bệnh về gan (Paris R Moyse H 1965 Vũ Ngọc Lộ dịch,
1977 [195]; Kyria Kopoulou P E., 1995 [126])
Từ cây Actiso gieo trồng (Cyrana Scolymus L.) Edger Rose đã tách
ra được một chất kết tỉnh, mà tác dụng trên các bệnh về gan, mật của nó được Brell và cộng sự phát hiện năm 1929 (Mono G 1933 [194])
Trong những năm 30 của thế kỷ này, nhiều nhà y học trên thế giới đã dùng nước sắc Actiso để chữa các bệnh vàng da do gan, phù thũng, tâm phế
mãn Nhân dân nhiều nơi trên thế giới đã chữa các bệnh về thiểu năng gan,
xơ mỡ động mạch, thấp khớp, gút bang Actiso (Bùi Văn Uy, 1980 [36])
Hiện nay ở nước ta, Actiso được dùng làm rau ăn, thuốc an thần, lợi tiểu, thuốc chữa các bệnh về gan, thận (Đặng Thị Hồng Vân và cộng
sự, 1984 [39])
Trên thế giới, việc dùng Actiso để chữa bệnh đã có một lịch sử lâu đời Do vậy việc nghiên cứu về tác dụng dược lý của cây thuốc quý này cũng được rất nhiều nhà khoa học quan tâm Mặc dù nhiều hoạt chất khác nhau của Actiso đã được xác định, các tác giả nghiên cứu về Actiso
đều cho rằng tác dụng dược lý của Actiso là tác dụng hiệp đồng giữa các
hoạt chất có trong cây (Mono G., 1933 [194]; Paris R Moyse H., 1965 [195]; Tame - Nerni C., 1978 [198]; Đặng Thị Hồng Vân, 1983 [38]; Đỗ Văn Tráng và cộng sự, 1986 [32]; Bonomi và cộng sự, 1990 [64]; Dé Tat
Lợi, 1991 [20]; Bùi Kim Tung, 1995 [33])
1.2.6.1 Độc lực của Actiso
Theo công bố của rất nhiều tác giả, Actiso được xác định là không
gây độc (Đỗ Tất Lợi, 1968-1991 [20]; Đặng Thị Hồng Vân, 1981 [37];
Bùi Chí Hiếu, 1985 [11]; Phạm Hoàng Hộ, 1992 [15]; Đoàn Thị Nhu,
Trang 371993 [44]; Võ Văn Chi, 1996 [2])
Những nhận xét này rất phù hợp với kết quả nghiên cứu của Foteva
S V (1986) [100] Tác giả đã tiến hành nghiên cứu độc lực của Actiso
trên gà lơgo 3 ngày tuổi Ở các nồng độ khác nhau, dịch chiết Actiso đều không ảnh hưởng đến biểu hiện lâm sàng, các chỉ tiêu huyết học của gà,
không gây ra các biến đổi bệnh lý ở cơ và các khí quan nội tạng về vi
thể và đại thể
Ở Việt Nam, bác sỹ Đô Văn Tráng và cộng sự (1986) [32] đã
nghiên cứu ứng dụng chế phẩm Actiso dạng viên (Cynaraphytol do Xí nghiệp Liên hợp được Lâm Đồng sản xuất ) trên người Kết quả cho thấy thuốc không gây ảnh hưởng đến huyết ấp tuần hoàn, tim, không có các tác dụng phụ Không có sự sai khác về số liệu các chỉ tiêu huyết học như
sGOT, sGPT, đường huyết Một lần nữa, có thể khẳng định Actiso hoàn
toàn không gây độc
1.2.6.2 Tác dụng đến gan, mật và hạn chế quá trình ung thư
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về tác dụng dược lý của Actiso
nhưng tác dụng đến gan, mật vẫn là vấn đề được tập trung nghiên cứu nhiều nhất
Từ năm 1929, Chabrol M, Charonat Maxin và Watz đã nghiên
cứu về tác dụng lợi mật của Actiso Sau khi tiêm tĩnh mạch dung dịch
Actiso từ 2 - 3 giờ, lượng mật tiết ra tăng gấp 4 lần (Đỗ Tất Lợi, 1991
[20))
Cùng trong năm này (1929) Brell đã nhận xét (trích theo Bùi Văn
Uy, 1980 [36]): với liều 3 chén nước sắc lá Actiso, bệnh nhân viêm gan
đỡ vàng da và ăn ngon miệng hơn
Mono G (1933) [194] cho biết nước sắc của lá Actiso (20 - 40g lá
Trang 38sắc trong | lit nuéc, dun cạn còn một nửa ) có tác dụng chữa xơ gan cổ
trướng ở người Lá Actiso sắc lẫn với cỏ gà (liều bằng nhau) cho uống
300 ml một ngày có tác dụng thông mật
Theo Lecler M., 1955 , Actiso tăng cường khả năng chống độc của gan Ở Rumani Maroet và cộng sự (1959) đã nhận thấy dịch chiết lá Actiso sau khi loại bỏ phần protein, kích thích sự tái tạo các tế bào gan
của chuột cống trắng đã bị cắt bỏ gan cục bộ (trích theo Đỗ Văn Tráng,
1986 [32])
Xí nghiệp Dược phẩm Trung ương 2, năm 1977 [34] đã phân tích
bằng sắc ký lớp mỏng và sắc ký giấy dịch chiết của lá Actiso phơi khô
đều thấy các vết flavonoid và polyphenol Từ lá Actiso đã nghiên cứu bào chế xiro nhuận gan (chiết xuất bằng dung môi thông dụng), viên nhuận gan Xiro nhuận gan được đưa thử nghiệm trên lâm sàng ở một số bệnh nhân viêm gan do vi rút thể hoàng đản Kết quả cho thấy thuốc có tác dụng giảm nhanh bilirubin huyết thanh, tế bào gan ít bị huỷ hoại hơn Các bệnh nhân cảm thấy ăn ngon và dễ tiêu hơn
Cao lỏng Actiso được tác giả Dương Hữu Lợi (1979) [18] xếp vào nhóm thuốc lợi mật trong danh mục các thuốc nam thông dụng (liều lượng dùng cho người: 6 - 10 ml/ngay)
Bác sỹ Đỗ Văn Tráng và cộng sự (1986) [32] trong công trình
nghiên cứu tác dụng lợi mật của Actiso trên người đã sử dụng viên
Cynaraphytol do Xí nghiệp liên hợp dược Lâm Đồng sản xuất Tác giả
cho biết Cynaraphytol có tác dụng lợi mật, tác dụng này biểu hiện ngay
sau 1 giờ và phân bố đều trong 24 giờ, tiếp tục duy trì trong 48 giờ sau
khi ngừng cho thuốc Với liều lượng 6 viên/ 24 giờ, lượng dịch mật tiết
ra trung bình 24 giờ tăng 24,3% Uống Cynaraphytol có tác dụng lợi mật thực sự (choleretique) chứ không phải tăng tiết nước trong mật vì các
Trang 39thành phần chủ yếu trong dịch mật và hàm lượng nước chứa trong mật không thay đổi đáng kể trên mỗi bệnh nhân Sự tăng tiết mật do Cynaraphytol không phải do thuốc gây co thắt cơ vòng Oddi, gây co bóp túi mật và hoàn toàn loại trừ yếu tố tâm lý Thuốc có tác dụng kích thích
tế bào gan tổng hợp và bài tiết mật
Lá Actiso, dưới hình thức thuốc sắc 5 - 10% Cao lỏng dùng 2 - 10
g/ngay hoac 10 - 40 giot/ 1 lan, 3 lần/ ngày Ngoài ra cao mềm, cao khô,
trà túi lọc đều có tác dụng thông mật, chữa các bệnh sưng gan, thận
(Đoàn Thị Nhu, Phạm Duy Mai, 1993 [44] )
Shini S và cộng sự (1990) [204] mổ dẫn lưu ống mật ở chó để kiểm tra dịch chiết Actiso 10% ảnh hưởng đến công năng của gan Kết quả cho thấy:
- Lượng mật trong gan tăng từ 15 - 20% Hàm lượng axit mật sau
một giờ là 12 mmol/ ml, sau 5 ngày là 10 mmol/ ml và giảm dân dưới 7
mmol/ ml
Hiện tượng axit mật tăng kéo đài 5 - 7 ngày ảnh hưởng rất có lợi
đến quá trình tiêu hoá và hấp thụ các chất dinh dưỡng (các chất béo và vitamin hoà tan trong chất béo)
Chế phẩm cophytol (chế từ lá Actiso) dùng tiêm tĩnh mạch để chữa bệnh gan cho các loài gia súc (Nguyễn Hữu Nhạ, Hà Quang Nghị, 1978
[27], Nguyễn Phước Tương, 1994 [35])
Chất silymarin, một loại antioxydant flavonoid có trong Actiso cé
tác dụng chống nhiễm độc gan và các rối loạn chức năng sinh lý khác
Agarwal R và cộng sự (1994) [49] đã chứng minh tác dụng của silymarin qua thực nghiệm gây ung thư cho chuột giống Sencar bằng 12
- 0 - tetradecanoflphorbol - 13 acetat (TPA) Sau đó do hoạt lực của enzym ornithin decarboxylaza (ODC) và hàm lượng ODC mRNA ở trong
Trang 40máu chuột thí nghiệm (ODC được coi như chất đánh dấu quá trình ung thu) Silymarin ở liều lượng 0,5-18 mg/chuột có tác dụng ức chế đáng kể
hiệu lực của ODC (ở chuột gây ung thư bằng TPA) Nhiều nghiên cứu
khác cũng đã chứng minh tác dụng hạn chế ung thư của Actiso đối với các chất gây ung thư khác nhau
Hai loại triterpen hydroxyd là taraxasterol và fradiol chiết từ hoa Actiso có tác dụng hạn chế ung thư rất tốt đối với các trường hợp gây ung
thư thực nghiệm ở chuột bằng TPA với chất khởi đâu là dimethylbenzen
anthracen (Yasukawa K và cộng sự 1997 [192])
Men cytochrome P,;, monooxygeneza thực vật có trong cây Actiso được cây sử dụng trong quá trình sinh tổng hợp và giải độc Đó là các oxydaza với chức năng hỗn hợp (mixed), sử dụng NADPH hoặc NADH
và phân tử oxygen để sản sinh ra các sản phẩm hữu cơ chuyên hoá Sinh tổng hợp cytochrom P„sy, đóng vai trò quan trọng trong tổng hợp lignin, sterols, terpen, flavonoid, isoflavonoid, furanocoumarin và hàng loạt các sản phẩm khác Các enzym cytochrom P„;o, chuyển hoá các loại thuốc trừ cỏ và thuốc trừ sâu thành các sản phẩm không độc (Lesot A và cộng
sự, 1995 [130]; Shuler M A USA 1996 [166])
Gebhardt R và cộng sự (1997) [102] đã nghiên cứu tác dụng chống oxy hoá và bảo vệ gan của Actiso thông qua khảo nghiệm trên mẫu tế bào gan chuột Tác giả sử dụng Tert - butylhydroperoxid (T - BHP) hoặc cumene hydroperoxid như một tác nhân stress tác động đến các mẫu tế bào gan chuột Cả 2 loại peroxid này đều kích thích sản sinh malodialdehyd (MDA), đặc biệt khi các tế bào này đã được xử lý trước
bằng diethylmaleate (DEM) với mục đích làm giảm hàm lượng glutation
tế bào (GSH) Dịch chiết Actiso không tác động trực tiếp đến quá trình
sản sinh MDA mà cản trở ảnh hưởng của hydroperoxid đến sự hình