1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) nghiên cứu đặc điểm sinh thái của loài vượn cao vít làm cơ sở cho việc phục hồi sinh cảnh vượn cao vít, huyện trùng khánh, tỉnh cao bằng​

98 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Đặc Điểm Sinh Thái Của Loài Vượn Cao Vít Làm Cơ Sở Cho Việc Phục Hồi Sinh Cảnh Vượn Cao Vít, Huyện Trùng Khánh, Tỉnh Cao Bằng
Tác giả Nguyễn Thế Cường
Người hướng dẫn TS. Đồng Thanh Hải
Trường học Trường Đại Học Lâm Nghiệp
Chuyên ngành Quản Lý Bảo Vệ Tài Nguyên Rừng
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1 (14)
    • 1.1. Một số đặc điểm về Linh trưởng ở Việt Nam (14)
      • 1.1.1. Phân loại học thú linh trưởng ở Việt Nam (14)
      • 1.1.2. Một số đặc điểm giống Nomascus (16)
      • 1.1.3. Một số đặc điểm Vượn Cao Vít – N. nasutus (20)
      • 1.1.4. Tình trạng bảo tồn loài VCV (23)
    • 1.2. Sinh cảnh và mối quan hệ giữa đặc điểm thực vật với phân bố của Vượn (23)
      • 1.2.1. Khái niệm chung về sinh cảnh (23)
      • 1.2.2. Sinh cảnh Vượn Cao Vít (23)
      • 1.2.3. Nghiên cứu về mối quan hệ giữa đặc điểm của thực vật với phân bố của (24)
      • 1.2.4. Nghiên cứu về phục hồi sinh cảnh cho loài Vượn Cao Vít (26)
  • CHƯƠNG 2 (27)
    • 2.1. Mục tiêu nghiên cứu (27)
      • 2.1.1. Mục tiêu chung (27)
      • 2.1.2. Mục tiêu cụ thể (27)
    • 2.2. Đối tượng nghiên cứu (27)
    • 2.3. Địa điểm nghiên cứu (27)
    • 2.4. Nội dung nghiên cứu (27)
    • 2.5. Phương pháp nghiên cứu (28)
      • 2.5.1. Công tác chuẩn bị (28)
    • 3.1. Điều kiện tự nhiên của Khu bảo tồn Loài và Sinh cảnh Vượn Cao Vít (35)
      • 3.1.1. Vị trí địa lý (35)
      • 3.1.2. Địa hình, địa chất, thổ nhưỡng (36)
      • 3.1.3. Khí hậu, thuỷ văn (36)
      • 3.1.4. Khu hệ thực vật (37)
      • 3.1.5. Khu hệ động vật (38)
    • 3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội (38)
      • 3.2.1. Dân số (38)
      • 3.2.2. Cơ sở hạ tầng (39)
  • CHƯƠNG 4 (35)
    • 4.1. Hiện trạng và phân bố của VCV tại KBT (40)
      • 4.1.1. Hiện trạng quần thể VCV tại KBT (40)
      • 4.1.2. Biến động quần thể qua các năm (41)
      • 4.1.3. Phân bố VCV tại KBTLSC (42)
    • 4.2. Đặc điểm hệ thực vật trong khu vực VCV phân bố (44)
      • 4.2.1. Thành phần các loài thực vật có mạch trong khu vực VCV phân bố (44)
      • 4.2.2. Đặc điểm cấu trúc tổ thành rừng trong khu vực VCV phân bố (45)
      • 4.2.3. Đặc điểm phân bố và cấu trúc tầng thứ của thực vật theo độ cao (53)
      • 4.2.4. Đặc điểm tầng cây tái sinh trong khu vực nghiên cứu (54)
      • 4.2.5. Thành phần cây bụi thảm tươi (55)
    • 4.3. Mối quan hệ giữa đặc điểm của thực vật với sự phân bố của VCV (55)
      • 4.3.1. Mật độ VCV trong các trạng thái (55)
      • 4.3.2. Mối quan hệ giữa đặc điểm thực vật với sự phân bố của VCV (57)
      • 4.3.3. Thảo luận (64)
      • 4.4.3 Đặc điểm phân bố và cấu trúc tầng thứ của thực vật theo độ cao (75)
      • 4.4.4. Đặc điểm tầng cây tái sinh trong khu vực nghiên cứu (75)
      • 4.4.5. Thành phần cây bụi thảm tươi (78)
      • 4.4.6. Thành phần thức ăn của VCV tại ngoài khu VCV phân bố (78)
    • 4.5. Sức chứa của KBT cho loài VCV (81)
    • 4.6. Hiện trạng quản lý và giải pháp phục hồi sinh cảnh cho loài VCV (82)
      • 4.6.1. Hiện trạng quản lý (82)
      • 4.6.2. Giải pháp phục hồi sinh cảnh cho loài VCV (85)
  • CHƯƠNG 5 (40)
    • 5.1. Kết luận (89)
    • 5.2. Tồn tại (90)
    • 5.3. Kiến nghị ............................................................................................................ 79 TÀI LIỆU THAM KHẢO (90)

Nội dung

Một số đặc điểm về Linh trưởng ở Việt Nam

1.1.1 Phân loại học thú linh trưởng ở Việt Nam

Theo phân loại của Brandon - Jone và cộng sự (2004), Việt Nam có 24 loài và phân loài linh trưởng thuộc 3 họ chính: họ Cu li (Loridae), họ Khỉ (Cercopithecidae) và họ Vượn (Hylobatidae).

Trong số 24 loài và phân loài, có 6 loài và phân loài là đặc hữu của Việt

Nam: gồm Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus), Voọc mông trắng

The article highlights several notable primate species, including Trachypithecus delacouri, Voọc Cát Bà (Trachypithecus policocephalus poliocephalus), Chà vá chân xám (Pygathrix nemaeus cinerea), Khỉ đuôi dài Côn Đảo (Macaca fascicularis condorensis), and Vượn đen Cao Vít (Nomascus nasutus nasutus) These species are significant for biodiversity and conservation efforts.

Theo hệ thống phân loại học phân tử các loài linh trưởng Đông Dương

(Christian, 2007) [63] thì Khu hệ thú linh trưởng ở Việt Nam có 25 loài và phân loài thuộc 3 họ: Họ cu li – Loridae, họ khỉ - Cercopithecidae, họ Vượn – Hylobatidae

Trong phần này, đề tài sẽ tập trung mô tả phân loại học và khu phân bố của họ

Các loài Vượn gộp chung thành họ Vượn (Hylobatidae) được gọi là khỉ giả nhân nhỏ, phân bố trên toàn bộ các vùng rừng mưa nhiệt đới ở Đông Nam Á [7, 34,

Vượn là loài động vật đặc trưng với lối vận động độc đáo, cấu trúc xã hội phong phú và cách giao tiếp đặc biệt Chúng sống hoàn toàn trên cây, chủ yếu ăn quả, và có khả năng đu tay, tạo ra những chuyển động linh hoạt Tập tính treo thân và tư thế đứng thẳng thường xuyên của chúng thể hiện sự chuyên hóa cao độ đối với môi trường sống và chế độ ăn uống hàng ngày.

Các nghiên cứu trước đây về phân loại vượn chia thành hai nhóm gồm

Symphalangus và Hylobates là hai nhóm vượn có sự khác biệt rõ rệt, trong đó Symphalangus nặng hơn và sở hữu giọng hót sâu hơn, cùng với bao cổ họng bên ngoài và màng chân giữa các ngón 2 và 3 Các nghiên cứu di truyền học và đặc điểm giải phẫu xương sọ đã phân loại vượn thành các giống khác nhau: Symphalangus với bộ nhiễm sắc thể 2n = 50, Nomascus 2n = 52, Bunopithecus 2n = 38 và Hylobates 2n = 44.

Bảng 1.1: Các loài thuộc họ Hylobatidae

Giống Số lượng bộ nhiễm sắc thể Loài và phân loài Vùng phân bố

H agilis albibarbis Phía đông Borneo

H muelleri abbotti Tây bắc Borneo

Symphalangus 50 S syndactylus Bán đảo Malay

N gabriellae Nam Việt Nam, Bắc

N.leucogenys Lào, Bắc Việt Nam,

N l Siki Trung Lào, miền trung Việt Nam Nguồn (Geissmann và cs., 2000)

Các loài vượn thuộc họ Hylobatidae chủ yếu sinh sống trong các khu rừng mưa nhiệt đới ở Đông Nam Á, với vùng phân bố được xác định rõ ràng (Hình 1.1) [43].

Hình 1.1: Vùng phân bố của họ vượn Hylobatidae 1.1.2 Một số đặc điểm giống Nomascus

Kích thước cơ thể: những cá thể vượn mào hoang dã có trọng lượng cơ thể trung bình là 7 - 8 kg, nặng tương đương với trọng lượng của giống Bunopithecus

Loài vượn này nặng khoảng 7kg, lớn hơn giống Hylobates với trọng lượng khoảng 5kg, nhưng nhỏ hơn giống Symphalangus nặng khoảng 11kg Đặc điểm nổi bật của sọ là trán cao và tròn, cùng với các cạnh trên ổ mắt phẳng.

Bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội của loài này là 2n = 52 Về đặc điểm hình thái, con đực có túm lông dựng đứng trên đầu, phát triển thành mào, trong khi con cái có đám lông đen tương phản với lông màu nhạt xung quanh Sự lưỡng sắc giới tính rõ rệt ở cá thể trưởng thành: con đực thường có lông màu đen, còn con cái có lông vàng nhạt, vàng da cam hoặc be nhạt, với mảng lông chẩm màu đen Trong quá trình phát triển, con non có lông màu đen giống con đực trưởng thành, và khi đến thời kỳ trưởng thành sinh dục (5 - 8 năm tuổi), con cái sẽ thay đổi màu lông lần thứ hai, mang màu sáng đặc trưng của cá thể cái trưởng thành.

Phân loại học phân tử giống Nomascus

Theo nghiên cứu của Theo Roos Christian et al (2007), phân loại học phân tử dựa trên trình tự gen cytochrome b ty thể của 64 cá thể vượn và một cá thể Hylobates lar làm đối chứng cho thấy có 44 dạng khác nhau Sự khác biệt giữa các cặp cá thể dao động từ 0,1% đến 8,2%, trong đó sự khác biệt lớn nhất được ghi nhận giữa hai loài N nasutus và N hainanus với tỷ lệ 6,8%.

Bảng 1.2: Tỉ lệ sai khác giữa các cặp nucleotit giữa các loài thuộc giống Nomascus

Theo cống bố mới nhất năm 2010, các nhà khoa học Đức và Việt Nam đã công bố sự xuất hiện của một loài vượn mới mang tên vượn mào đen má hung Trung bộ N.anamensis.

Hình 1.2: Sơ đồ phân tích Gen các loài thuộc giống Nomascus

Dựa trên các dữ liệu về các cặp khác nhau và mối quan hệ phát sinh chủng loại, các loài N nasutus, N hainanus, N concolor, N gabriellae và N leucogenys đã được công nhận là các loài riêng biệt.

Dựa trên sơ đồ phát sinh chủng loại của giống Nomascus như trên thì loài N.concolor được coi là loài đơn

Hình 1.3: Sơ đồ mối quan hệ chủng loại phát sinh giữa các loài vượn giống Nomascus

Phân bố của giống Nomascus

Vượn mào (Nomascus) chỉ có mặt tại Đông Dương, bao gồm Việt Nam, Lào, phía đông Campuchia và Tây - Nam Trung Quốc (tỉnh Vân Nam và đảo Hải Nam) Sông Mê Kông đánh dấu giới hạn phía tây của vùng phân bố của chúng, ngăn cách với giống Hylobates Hiện nay, các khu vực phân bố của vượn mào đã bị chia cắt thành những mảnh rừng nhỏ, biệt lập và phần lớn còn nguyên sinh Loài vượn mào hiện tại đã được xác nhận là N annamensis.

Hình 1.4: Sự phân bố của các loài thuộc họ vượn thuộc giống Nomascus

Vượn đen tuyền (N concolor) chủ yếu phân bố ở miền Trung và miền Tây tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, cũng như tại Bắc Lào, nơi có khoảng 9 đàn sống trong khu vực rộng 20 km² của thung lũng Nam Kan, tỉnh Bokeo Tại Việt Nam, loài này được tìm thấy giữa sông Hồng và sông Đà, với các mẫu vật được thu thập ở Lào Cai, Yên Bái và Sơn La.

La, Thanh Hóa Hiện nay theo kết quả điều tra của Lê Trọng Đạt và cs., 2006 ở Sơn

La và Yên Bái thì số lượng quần thể vượn đen tuyền đang bị suy giảm từ 39 nhóm với 91 cá thể năm 2000-2001 còn 25 nhóm với 68 cá thể năm 2006 [51]

Vượn má trắng (N l leucogenys) có vùng phân bố rộng rãi tại Trung Quốc, đặc biệt ở miền cực Nam tỉnh Vân Nam và phía đông sông Hắc Long Giang Tại Lào, loài này xuất hiện ở nửa Bắc đất nước, với sông Mê Kông là giới hạn phía Tây Ở Việt Nam, vượn má trắng phân bố chủ yếu ở các tỉnh miền Tây-Bắc, kéo dài đến phía Tây sông Đà, trong khi giới hạn phía Nam của chúng nằm ở phía Nam sông Cả, thuộc tỉnh Nghệ An.

Vượn má trắng siki (N l siki) phân bố chủ yếu ở phía bắc miền Trung Việt Nam và miền Trung Lào, với sông Mêkông là ranh giới phía Tây Tại Việt Nam, giới hạn phía Bắc của loài này nằm ở hạ lưu sông Cả, trong khi giới hạn phía Nam vẫn chưa được xác định.

Vượn mào đen má hung Trung bộ (N annamensis) là một loài vượn mới được phát hiện và công bố vào năm 2010, thuộc chi vượn mào đen Nomascus, họ Vượn Hylobatidae Loài vượn này nổi bật với các đặc điểm âm thanh gọi bầy và cảnh báo kẻ thù xâm nhập lãnh thổ khác biệt so với các loài vượn mào má sáng màu Vượn mào đen má hung phân bố ở Nam Lào, Nam Việt Nam và Đông-Bắc Campuchia, tuy nhiên, ranh giới phân bố của loài vẫn chưa được xác định rõ.

Sinh cảnh và mối quan hệ giữa đặc điểm thực vật với phân bố của Vượn

Sinh cảnh, hay còn gọi là môi trường sống, là một hệ sinh thái hoặc khu vực cụ thể mà các loài động vật, thực vật và sinh vật khác sinh sống Đây là môi trường tự nhiên nơi mà một sinh vật tồn tại, bao gồm cả các yếu tố vật lý xung quanh ảnh hưởng đến sự sống và sự phát triển của loài đó.

Phục hồi sinh cảnh là quá trình khôi phục môi trường sống đã bị suy thoái về trạng thái khỏe mạnh tự duy trì, nhằm đưa nó trở lại gần nhất với tình trạng ban đầu trước khi bị xáo trộn.

1.2.2 Sinh cảnh Vượn Cao Vít

VCV, giống như các loài vượn mào khác, sinh sống trong nhiều loại sinh cảnh rừng, tùy thuộc vào độ cao và sự thích nghi của loài Nghiên cứu trước đây cho thấy vượn mào thường cư trú tại các khu rừng thứ sinh, nơi đáp ứng tốt điều kiện sống của chúng, trong khi hầu như không xuất hiện ở những khu rừng bị tàn phá nặng nề.

VCV sinh sống tại trung tâm miền Bắc, trong các khu rừng trên núi đá vôi và rừng núi thấp ở vùng nhiệt đới gió mùa ẩm ướt, với độ cao từ 50-900m Chúng kiếm ăn ban ngày, chủ yếu trên cây và rất hiếm khi xuống đất, thức ăn chủ yếu là các loại quả (Geissmann, 2000).

Rừng khu vực VCV hiện đang ở trong tình trạng kém chất lượng do tác động mạnh của con người từ nhiều năm trước, với độ che phủ chỉ đạt 33% và trữ lượng rừng thấp Các loài cây gỗ lớn như nghiến đã bị khai thác mạnh, chỉ còn lại ít cây tái sinh Rừng chủ yếu có hai tầng: tầng cây cao và tầng cây bụi, trong đó tầng cây cao không có cây lớn, chỉ còn cây nhỡ và nhỏ với độ tàn che thấp, không thuận lợi cho hoạt động sống của vượn Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Hiền (2009), VCV thường xuyên xuất hiện và kiếm ăn ở các kiểu rừng á nhiệt đới thường xanh, bao gồm rừng ở thung lũng và sườn núi đá vôi Nghiên cứu của Fan (2010) đã xác định 114 loài cây thuộc 79 chi và 40 họ trong cấu trúc rừng, với chiều cao cây từ 9 – 32m, và vùng sống của VCV dao động từ 1,024 – 1,191 km²/đàn sau khi theo dõi 3 đàn vượn tại Trung Quốc.

Theo tác giả, sinh cảnh sống của VCV cần bao gồm tất cả các mối quan hệ cấu trúc lâm phần, với sự tham gia của các loài thực vật và động vật khác Những yếu tố này hỗ trợ cho việc di chuyển, kiếm ăn và duy trì cuộc sống của chúng Tuy nhiên, các nghiên cứu hiện tại chưa phản ánh đầy đủ các mối quan hệ này.

1.2.3 Nghiên cứu về mối quan hệ giữa đặc điểm của thực vật với phân bố của linh trưởng

Nhiều nghiên cứu cho thấy cấu trúc rừng với các thuộc tính khác nhau có mối tương quan đáng kể với mật độ các loài linh trưởng Mật độ của nhiều loài linh trưởng phụ thuộc chặt chẽ vào mật độ và kích thước của cây, tỷ lệ tán che phủ, kích thước, lỗ hổng, cây chết và sinh khối của thực vật.

Medley (1993b) đã nghiên cứu 6 thuộc tính của rừng để xác định các yếu tố tạo ra môi trường sống phù hợp cho khỉ mặt xanh tại sông Tana Kết quả cho thấy rằng mật độ khỉ mặt xanh (Cercocebus galeritus) có mối tương quan tích cực với chiều cao và tán cây, cũng như với diện tích và chu vi của rừng Ngược lại, mật độ khỉ lại tỉ lệ nghịch với diện tích rừng trống trên tán.

Vượn là loài chủ yếu sống trên cây và hoạt động nhiều ở tầng cây cao Tuy nhiên, chúng có khả năng thích nghi với môi trường khi tán cây bị phá vỡ, chuyển sang sử dụng tán của những cây thấp hơn Những khoảng trống trong tán cây có thể ảnh hưởng đến sự di chuyển của một số loài linh trưởng như Tana colobus.

Cercocebus galeritus, Medley, 1993; Đười ươi: Felton và cộng sự, 2003)

Nghiên cứu của Hamard (2009) chỉ ra rằng cấu trúc rừng và mật độ vượn có mối tương quan chặt chẽ với các đặc điểm thực vật như chiều cao, tán cây, cây thức ăn, tổng tiết diện ngang và mật độ cây cao.

Nghiên cứu của Felton et al (2003) chỉ ra rằng mật độ vượn có mối tương quan với mật độ cây lớn và tỷ lệ các cây thức ăn Thông tin này được củng cố bởi Hamard, cho thấy tầm quan trọng của các yếu tố môi trường trong việc duy trì quần thể vượn.

(2009) [45] mật độ vượn tương quan với mật độ cây lớn trong một đầm lầy than bùn, ở rừng Tây Kalimantan

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng mật độ vượn có mối tương quan chặt chẽ với sự phong phú và tỉ lệ của cây thức ăn (Balcomb et al., 2000; Chapman, 1999) Tương tự, nghiên cứu của Wieczowski (2004) về linh trưởng dọc sông Tana cũng phát hiện mối liên hệ mạnh mẽ giữa mật độ của chúng và sự phong phú của các loài cây thức ăn quan trọng Kết quả tương tự cũng được báo cáo bởi Lehman et al (2006) trong nghiên cứu về loài vượn cáo.

Theo Li và Rogers (2004) [45], chất lượng nơi sống của loài Vooc má trắng

Sự gia tăng của Trachypithecus francoisi được thể hiện qua số lượng loài thức ăn ưa thích nhiều hơn, làm tăng sự hấp dẫn của con cái với con đực, từ đó kích thích sự gia tăng kích cỡ đàn phù hợp với chất lượng môi trường sống Theo Boonratana (2000), tỷ lệ hoa quả trong chế độ ăn của một số loài linh trưởng có ảnh hưởng đến mật độ quần thể của chúng.

Mật độ vượn cao hơn ở những khu vực có nhiều cây thức ăn và cây gỗ lớn, theo các nghiên cứu cho thấy mối tương quan giữa sự phong phú của cây thức ăn và mật độ linh trưởng (Wieczowski, 2004; Mather, 1992a; Mather, 1992b) Sự phong phú của cây thức ăn ưa thích có ảnh hưởng mạnh mẽ đến mật độ vượn (Mather, 1992a).

Matsuda và cộng sự (2008) đã nghiên cứu loài khỉ vòi mốc (Nasalis larvatus) và nhận thấy rằng mức độ sẵn có của loại quả ảnh hưởng đến mật độ của chúng Nhóm tác giả cho rằng sự sẵn có của nguồn thức ăn cùng với mối nguy hiểm từ loài ăn thịt là những yếu tố chính ảnh hưởng đến vùng phân bố của loài này.

1.2.4 Nghiên cứu về phục hồi sinh cảnh cho loài Vượn Cao Vít

Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu đặc điểm sinh thái của loài Vượn Cao Vít (Nomacus natusus) tại khu bảo tồn Loài và sinh cảnh Vượn Cao Vít ở Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng nhằm tạo tiền đề cho các chương trình phục hồi sinh cảnh cho loài vượn quý hiếm này.

1 Xác định được mối liên hệ giữa đặc điểm của thực vật với sự phân bố VCV

2 Đánh giá được khả năng phục hồi sinh cảnh ngoài khu phân bố VCV

3 Xác định được sức chứa của Khu bảo tồn cho loài VCV

4 Đề xuất được một số giải pháp cho công tác bảo tồn và phát triển quẩn thể VCV tại KBTLSC.

Đối tượng nghiên cứu

1 Loài vượn Cao Vít – Nomascus nasutus

2 Thảm thực vật, các loài thực vật bậc cao và các loài thực vật là thức ăn của VCV ở KBT LSC huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng

3 Sự tác động của người dân tới KBT.

Địa điểm nghiên cứu

Khu bảo tồn Loài và sinh cảnh vượn Cao Vit thuộc huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng

Nội dung nghiên cứu

1 Nghiên cứu hiện trạng và phân bố Vượn Cao Vít – Nomascus natutus tại KBT

2 Nghiên cứu cấu trúc của các trạng thái rừng trong khu phân bố VCV và trạng thái rừng ngoài khu phân bố của VCV tại KBT

3 Nghiên cứu mối liên hệ giữa đặc điểm của thực vật với sự phân bố của VCV tại khu vực phân bố VCV

4 Nghiên cứu khả năng phục hồi sinh cảnh VCV tại khu vực ngoài khu phân bố VCV trong KBT thông qua xác định thành phần các loài cây làm thức ăn cho VCV, và cấu trúc rừng trong các trạng thái rừng

5 Xác định sức chứa của KBT cho loài VCV

6 Đề xuất một số giải pháp cho công tác bảo tồn và phát triển quẩn thể VCV tại KBTLSC.

Phương pháp nghiên cứu

Tổng hợp tài liệu nghiên cứu về đặc tính sinh thái và sinh cảnh của giống vượn Nomascus và VCV, cùng với các nghiên cứu phục hồi sinh cảnh và các vấn đề liên quan đến VCV Tìm hiểu về KBTLSC tại Trùng Khánh, Cao Bằng.

Để chuẩn bị cho công tác ngoại nghiệp, cần trang bị đầy đủ các thiết bị như bảng biểu, máy ảnh, la bàn, GPS cầm tay, các loại thước đo, bản đồ địa hình và ống nhòm.

2.5.2 Thu thập số liệu ngoài thực địa

Thời gian thu thập số liệu diễn ra từ tháng 02 đến tháng 06 năm 2011, với sự hỗ trợ của ba sinh viên thực tập từ Trường ĐHLN, cùng các trợ lý nghiên cứu và nhân viên của Tổ tuần rừng cộng đồng Dữ liệu nghiên cứu được cập nhật vào máy tính theo từng đợt, giúp xác định thông tin cần thu thập bổ sung và tiếp tục quy trình thu thập Để thực hiện nghiên cứu, đề tài đã áp dụng nhiều phương pháp khác nhau.

Mục đích của phỏng vấn là xác định khu vực phân bố và không phân bố của loài VCV, từ đó thiết lập các ô tiêu chuẩn nghiên cứu sinh cảnh cho loài này trong các trạng thái rừng điển hình của KBT Đối tượng phỏng vấn bao gồm các nhân viên BQL Khu bảo tồn, 06 nhân viên trong tổ tuần rừng, tổ trợ lý nghiên cứu Vượn, cùng với người dân địa phương canh tác tại các thung lũng trong vùng lõi KBT mà chúng tôi gặp trong quá trình điều tra.

Bài phỏng vấn nhằm thu thập thông tin ban đầu về các tuyến tuần tra, đường mòn và vị trí thường xuyên gặp VCV Qua đó, xác định số đàn, số lượng cá thể trong mỗi đàn và các vị trí quan sát cho khảo sát thực địa Dựa trên kết quả thu được, khu vực phân bố của VCV và các vùng sinh cảnh chính sẽ được xác định.

Phương pháp phỏng vấn sử dụng bản đồ địa hình là một công cụ hữu ích cho cán bộ kiểm lâm và tổ tuần rừng, cũng như tổ trợ lý nghiên cứu Vượn Việc kết hợp kiểm chứng thông tin với người dân trong quá trình điều tra giúp nâng cao độ chính xác và hiệu quả của nghiên cứu.

2.5.2.2 Phương pháp điều tra theo tuyến

Mục đích của điều tra theo tuyến là nhằm nghiên cứu VCV và khu vực phân bố của chúng Điều này bao gồm việc xác định các khu vực lập OTC để khảo sát đặc điểm thực vật trong và ngoài khu phân bố VCV Đồng thời, việc đánh giá hiện trạng và mức độ tác động của con người đối với KBTLSC và VCV cũng là một phần quan trọng trong nghiên cứu này.

Nguyên tắc lập tuyến điều tra yêu cầu các tuyến phải được phân bố rộng rãi khắp các khu vực nghiên cứu và đi qua nhiều dạng sinh cảnh khác nhau Các tuyến điều tra có thể là mới hoặc sử dụng lại các tuyến có sẵn, bao gồm cả các đường mòn nhỏ Trong nghiên cứu này, chúng tôi áp dụng hệ thống tuyến điều tra đã được thiết lập từ trước, do tác giả phát triển trong chương trình giám sát đa dạng sinh học năm 2009 Tổng cộng có 13 tuyến điều tra được xác lập, mỗi tuyến có chiều dài khoảng 2.5 km.

Trên mỗi tuyến 5 km, cần xác định các khu vực lập ô tiêu chuẩn để nghiên cứu các trạng thái rừng điển hình trong và ngoài khu vực phân bố VCV, phù hợp với địa hình.

Nguyên tắc điều tra trên tuyến yêu cầu sự cẩn thận và nhẹ nhàng, tránh tạo tiếng ồn, nói chuyện riêng, hút thuốc lá hoặc thực hiện các hoạt động không liên quan Tốc độ di chuyển lý tưởng là từ 1,5 đến 2,5 km/giờ, tùy thuộc vào địa hình Cần chú ý quan sát cả hai bên tuyến để phát hiện vượn Để đảm bảo việc lập OTC đúng nội dung nghiên cứu, các vị trí lập OTC sẽ được kiểm tra và đánh dấu trên bản đồ địa hình tỷ lệ 1/25000 và sử dụng máy GPS.

Các tuyến điều tra được trình bày theo Hình 2.1 và Phụ lục 1.1

Hình 2.1: Các tuyến điều tra tại KBTLSC

Trên mỗi tuyến khảo sát, chúng tôi xác định các điểm quan sát vượn, số lượng điểm này phụ thuộc vào chiều dài của tuyến Tại mỗi điểm, chúng tôi dành khoảng 1-2 giờ để quan sát; nếu không phát hiện vượn, sẽ chuyển sang điểm khác Khi phát hiện, chúng tôi thu thập dữ liệu về thời gian, vị trí, số lượng cá thể, vị trí kiếm ăn, loại thức ăn và hướng di chuyển của đàn vượn Quan sát được thực hiện bằng mắt thường và ống nhòm, thông tin sẽ được ghi chép vào sổ thực địa Đồng thời, chúng tôi khoanh vùng phân bố trên bản đồ địa hình các khu vực đã quan sát và lập các vị trí OTC theo các trạng thái điển hình bằng cách sử dụng GPS và bản đồ địa hình tỷ lệ 1/25000 để ghi lại vị trí.

2.5.2.3 Phương pháp lập ô tiêu chuẩn

Mục đích lập ô tiêu chuẩn (OTC) là nghiên cứu các chỉ tiêu sinh cảnh của loài VCV, bao gồm cấu trúc tổ thành, mật độ cây, đường kính thân (DBH), chiều cao (Hvn), diện tích (Dt), và thành phần cây cung cấp thức ăn cho vượn trong các trạng thái rừng khác nhau Các ô tiêu chuẩn sẽ được thiết lập tại tất cả các sinh cảnh trong khu vực nghiên cứu, với số lượng từ 3-6 ô tùy thuộc vào diện tích và địa hình, kích thước mỗi ô là 10m x 50m Việc xác định vị trí ô tiêu chuẩn dựa trên tài liệu nghiên cứu trước, quan sát thực địa và phỏng vấn nhân viên tuần rừng để đảm bảo tính đại diện cho sinh cảnh sống của vượn Ngoài ra, các ô tiêu chuẩn cũng được thiết lập tại khu vực ngoài phân bố VCV nhằm nghiên cứu khả năng phục hồi sinh cảnh Tổng cộng có 36 ô tiêu chuẩn được thiết lập trong khu bảo tồn, bao gồm ba kiểu rừng chính: rừng á nhiệt đới thường xanh thung lũng đá vôi núi thấp, rừng á nhiệt đới thường xanh sườn đá vôi núi thấp, và rừng á nhiệt đới thường xanh ở đỉnh và phụ cận đỉnh.

Diện tích nghiên cứu chiếm 0,1125% tổng diện tích Khu bảo tồn, bao gồm 30 ô tiêu chuẩn Các nội dung nghiên cứu trong ô tiêu chuẩn tập trung vào phẫu đồ cây, điều tra tầng cây cao, tái sinh tự nhiên dưới tán rừng, và điều tra cây bụi cùng thảm tươi (xem chi tiết tại phụ lục 2.1).

2.5.2.4 Phương pháp phân loại trạng thái rừng

Tất cả các chỉ số thực vật đã được tính toán và so sánh với hệ thống phân loại rừng của Loestchau, với các tiêu chí cụ thể được nêu rõ trong phụ lục 3.1.

2.5.2.5 Phương pháp xác định các cây là thức ăn của VCV

Trong quá trình điều tra, chúng tôi đã tiến hành quan sát trực tiếp và phỏng vấn để xác minh thông tin từ các nghiên cứu trước đây về danh mục các loài cây cung cấp thức ăn cho VCV, dựa trên báo cáo của FFI từ 2006 đến 2011 Chúng tôi xác định mật độ và chất lượng của các loài cây tại các ô tiêu chuẩn, đồng thời đánh giá tỷ lệ phần trăm sự tham gia của các cây làm thức ăn cho VCV ở các trạng thái rừng khác nhau Đặc biệt, chúng tôi so sánh mức độ khác biệt giữa hai khu vực có vượn đang phân bố và chưa phân bố.

Điều kiện tự nhiên của Khu bảo tồn Loài và Sinh cảnh Vượn Cao Vít

Khu Bảo tồn Loài và Sinh cảnh Vượn đen Cao Vít nằm tại huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, bao gồm ba xã Phong Nậm, Ngọc Khê và Ngọc Côn Khu bảo tồn cách thị xã Cao Bằng khoảng 70km và cách Hà Nội khoảng 300km về phía Đông-Bắc.

KBT nằm ở phía tây bắc dãy núi đá vôi Đông Bắc Việt Nam, giáp với huyện Trịnh Tây, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc Khu bảo tồn có dải rừng kéo dài theo hướng Tây Bắc-Đông Nam và là nguồn đầu của hai nhánh sông Quây Sơn Toàn bộ khu vực rừng của Khu Bảo tồn Vượn Cao Vít nằm trong tọa độ từ 22°53' đến 22°56.4' Vĩ độ Bắc.

Khu Bảo tồn được thành lập theo quyết định số 2536/QĐ-UBND ngày 15 tháng 11 năm 2006 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Cao Bằng, với tổng diện tích vùng lõi là 1.656,8 ha, chủ yếu là rừng phục hồi sau khai thác Trong đó, diện tích VCV phân bố là 881,59 ha, còn lại 774,41 ha, bao gồm 21 ha được người dân sử dụng cho nông nghiệp Vùng đệm có diện tích 5.723 ha, nằm trên địa bàn hai xã Phong Nậm và Ngọc Khê.

Hình 3.1: Vị trí và ranh giới KBTLSC

3.1.2 Địa hình, địa chất, thổ nhưỡng Địa hình Khu bảo tồn gồm một loạt các dãy núi đá vôi xen lẫn các thung lũng Các dãy núi đá vôi bị chia cắt mạnh hình thành các dốc đứng và tháp nhọn riêng biệt nằm rải rác ở một số nơi tại các thung lũng bằng và nhỏ Độ cao so với mặt nước biển trung bình của khu vực từ 500 đến 800m, cao nhất là 921m Địa chất Khu bảo tồn bao gồm các loại đất chính sau:

- Đất phù sa không bồi đắp

- Đất đỏ nâu trên núi đá vôi

- Đất đỏ nâu vàng trên núi đá vôi

- Đất đỏ vàng trên phiến sét

- Đất vàng nhạt trên sa thạch

Cảnh quan vùng này nổi bật với các dãy núi đá vôi cổ, cứng, được hình thành từ đá nham thạch bị bào mòn mạnh, chủ yếu từ thời kỳ Paleozone muộn và Meozoi sớm Sự bào mòn sâu hơn 900m của lớp đất bồi tích đã tạo ra một diện tích lớn, kéo dài từ Cao nguyên Quý Châu, Trung Quốc Quá trình nâng địa chất mạnh mẽ trong kỷ Trung sinh đã nâng các lớp bồi tích biển cổ lên cao, tạo nên những đỉnh núi đá vôi độc đáo với độ cao từ 800 đến 900m, cùng với những vách dựng đứng và sườn dốc ấn tượng.

Khu vực Trùng Khánh có khí hậu á nhiệt đới ẩm với nhiệt độ trung bình hàng năm dao động từ 16-20 độ C Mùa lạnh kéo dài hơn 4 tháng, trong khi lượng mưa trung bình hàng năm đạt từ 1.500 - 2.500mm, và mùa khô thường ngắn, chỉ kéo dài dưới 2 tháng.

Nhiệt độ trung bình năm dao động từ 19,8oC ở độ cao 500m đến 18oC ở độ cao 800m, với nhiệt độ giảm nhẹ ở các đỉnh cao trên 800m Biên độ nhiệt năm đạt 14,5oC, trong khi mùa lạnh kéo dài 5 tháng từ tháng XI đến tháng III ở độ cao 500m và 7 tháng từ tháng X đến tháng IV ở độ cao trên 800m Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.665,5mm, không có tháng khô, và mùa mưa diễn ra từ tháng IV đến tháng X Các tháng từ tháng XI đến tháng III có lượng mưa ít nhưng vẫn gấp đôi nhiệt độ Độ ẩm tương đối trung bình của không khí chỉ đạt 62%, cho thấy mức độ ẩm thấp.

Sông Quây Sơn có hai nhánh chính bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy qua các xã Ngọc Côn, Ngọc Khê và Phong Nậm Nhánh thứ nhất, dài 18km và rộng trung bình 9m, chảy qua các địa điểm Đông Si, Nà Giào, Tử Bản, Pác Ngà và Bó Hay thuộc xã Ngọc Côn - Ngọc Khê Nhánh thứ hai, dài 14km và rộng trung bình 8m, chảy qua Đá Bè, Nà Hâu, Nà Chang, Giộc Rùng của xã Phong Nậm trước khi đổ về xã Ngọc Khê qua Giộc Sung, Pác Thay và Đổng Đoạ Hai nhánh sông này bao quanh khu bảo tồn và gặp nhau tại Giàng Nốc.

Hệ thống phân loại thảm thực vật tại Khu Bảo tồn loài và sinh cảnh Vượn đen Cao Vít, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng được chia thành bốn dạng chính.

+ Rừng thứ sinh thường xanh ở thung lũng và chân núi đá vôi (đất dốc tụ) + Rừng thứ sinh thường xanh ở sườn núi đá vôi

+ Rừng thứ sinh thường xanh hỗn giao cây hạt trần, cây lá rộng giông núi đá vôi

- Trảng cây bụi thứ sinh

- Thảm thực vật nhân tác

Theo nghiên cứu của Vũ Anh Tài và Nguyễn Hữu Tứ (2007), Khu Bảo tồn Loài và Sinh Cảnh Vượn đen Cao Vít đã ghi nhận 543 loài thực vật thuộc 356 chi và 16 họ của 4 ngành thực vật bậc cao có mạch Trong số này, có 27 loài có giá trị bảo tồn, bao gồm 11 loài được liệt kê trong Sách Đỏ Việt Nam, 4 loài trong Sách Đỏ IUCN, và 19 loài theo Nghị định 32 của chính phủ.

Khu bảo tồn thiên nhiên (KBT) ghi nhận sự đa dạng sinh học với 23 loài thú thuộc 14 họ, 61 loài chim và 11 loài lưỡng cư bò sát Nơi đây còn là môi trường sống của nhiều loài động vật quý hiếm như gấu, báo lửa, báo gấm, hươu xạ, sơn dương, tê tê, khỉ vàng, khỉ mặt đỏ, khỉ mốc và đặc biệt là loài Vượn Cao Vít (Nomascus nasutus).

Hiện trạng và phân bố của VCV tại KBT

4.1.1 Hiện trạng quần thể VCV tại KBT

Dựa trên kết quả khảo sát năm 2007 và các cập nhật thường xuyên đến nay, tôi đã tiến hành điều tra bổ sung trong chuyến thu thập số liệu năm 2011 Đề tài đã xác định trong vùng phân bố của vượn có 18 đàn VCV với tổng số lượng cá thể lên tới 99.

Trong nghiên cứu, tổng cộng có 101 cá thể được ghi nhận, với đàn lớn nhất gồm 9 cá thể và đàn nhỏ nhất có 2 cá thể, trung bình mỗi đàn có từ 5 đến 6 cá thể Trong số này, có 26 cá thể đực trưởng thành và 30 cá thể cái trưởng thành Thông tin chi tiết về các đàn được cung cấp trong phụ lục 1.5.

Tỉ lệ thành phần giới tính theo tuổi của quần thể VCV tại KBT năm 2011 được phân tích và tổng hợp theo biểu đồ sau:

Biểu đồ 4.1: Tỉ lệ thành phần giới tính theo tuổi của quần thể VCV

Biểu đồ 4.1 cho thấy sự khác biệt về tỉ lệ thành phần giới tính và tuổi trong quần thể VCV tại khu vực điều tra, với cá thể cái trưởng thành chiếm 30.31%, cá thể đực trưởng thành 26.27%, con bán trưởng thành 27.28%, và con non 13.14% Cá thể non, từ 1-2 tuổi, vẫn phụ thuộc vào mẹ, cho thấy tỉ lệ cao và khả năng sinh sản tốt của nhóm bán trưởng thành, có độ tuổi sinh sản từ 5-7 năm Điều này chỉ ra sự tăng trưởng về số lượng cá thể trong các đàn vượn tại khu vực nghiên cứu.

4.1.2 Biến động quần thể qua các năm

Từ năm 2002, khi VCV lần đầu được phát hiện với chỉ 28 cá thể, đến năm 2011, số lượng này đã tăng lên 101 cá thể, gấp 3.6 lần so với ban đầu chỉ trong vòng chưa đầy 10 năm Số liệu về số lượng cá thể VCV được ghi nhận trong các cuộc khảo sát được trình bày trong bảng 4.1.

Bảng 4.1: Số lượng các đàn VCV ghi nhận được từ năm 2002 đến 2011

TT Số đàn Số cá thể Điều tra/Tổng khảo sát QS

1 03 08 Lã Quang Trung & Trịnh Đình Hoàng (01/2002) 6

2 03 17 Lã Quang Trung và cs (05/2002) 14

6 10 27 Vũ Ngọc Thành và cs (11/2005) 8

9 17 94-96 Lê Trọng Đạt và cs (09/2007).* 12

10 18 99 – 101 Nguyễn Thế Cường và cs (02/2011).* 15

Ghi chú: QS: Số ngày quan sát;* Các cuộc khảo sát mà tác giả tham gia

Từ số liệu thống kê từ bảng 4.1 ta có biểu đồ so sánh sau:

Biểu đồ 4.2: So sánh sự gia tăng về số lượng đàn VCV qua các năm

Biểu đồ 4.3: So sánh sự gia tăng về số lượng cá thể VCV qua các năm

Biểu đồ 4.2 và 4.3 cho thấy sự gia tăng đáng kể về số lượng đàn và cá thể VCV qua các năm, phản ánh nỗ lực bảo tồn loài linh trưởng quý hiếm này ở Việt Nam và toàn cầu Điều này khẳng định thành công trong công tác bảo tồn VCV cũng như đa dạng sinh học tại khu vực.

Nguyên nhân cho sự phát triển của loài linh trưởng quý hiếm ở Việt Nam có thể được giải thích qua ba điểm chính: Thứ nhất, đây là dấu hiệu tích cực trong nỗ lực bảo tồn loài này cả trong nước và trên thế giới Thứ hai, những nỗ lực điều tra trong những năm gần đây đã gia tăng đáng kể Thứ ba, các quần thể được bảo tồn tốt đang cho thấy xu hướng phát triển, thể hiện qua sự xuất hiện thường xuyên của các con non trong các đàn được quan sát gần đây.

4.1.3 Phân bố VCV tại KBTLSC Điều tra về phân bố của VCV được tiến hành tại hai Quốc gia Việt Nam và Trung Quốc trong những năm gần đây Cho tới nay, đợt điều tra quy mô nhất được thực hiện vào tháng 9 năm 2007, đây là cuộc điều tra tổng thể đầu tiên được kết hợp giữa hai Quốc gia tại khu vực VCV phân bố Tại Việt Nam, đã ghi nhận được 17 đàn với khoảng 94 (96) cá thể, địa điểm ghi nhận VCV được thể hiện trên hình 4.2; Trung Quốc ghi nhận được 3 đàn với khoảng 19 cá thể

Vào tháng 2 năm 2011, đợt điều tra bổ sung đã phát hiện thêm đàn thứ 18 với 5 cá thể, nâng tổng số cá thể VCV trong khu bảo tồn lên 101 Tuy nhiên, số lượng cụ thể của từng đàn chưa được cập nhật chính xác do không thể quan sát tất cả các đàn trong KBT tại thời điểm nghiên cứu KBTLSC, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, hiện là nơi có số lượng cá thể VCV lớn nhất và duy nhất ở Việt Nam và trên thế giới, khẳng định tầm quan trọng quốc gia và quốc tế của khu bảo tồn trong việc bảo tồn loài VCV quý hiếm này.

Ghi chú: G1 – G7 là đàn Vượn ghi nhận tháng 09/2007

Vị trí OTC tại khu phân bố của VCV Vị trí các đàn VCV trong KBT

Vị trí OTC ngoài khu phân bố của VCV

Hình 4.2: Vị trí các OTC và các đàn vượn trong KBTLSC

Đặc điểm hệ thực vật trong khu vực VCV phân bố

4.2.1 Thành phần các loài thực vật có mạch trong khu vực VCV phân bố

Qua điều tra nghiên cứu theo tuyến, đã thống kê được 87 loài thực vật bậc cao thuộc 71 chi và 53 họ trong khu vực nghiên cứu Sự phân bố các taxon trong các ngành được trình bày trong bảng 4.2 và biểu đồ 4.4 Chi tiết về thành phần các loài có thể tham khảo tại Phụ lục 1.2, trong khi vị trí các OTC được thể hiện trong hình 4.2.

Trong khu vực VCV, thành phần thực vật có mạch được phân bố theo các ngành khác nhau Cụ thể, số lượng ngành và tỷ lệ phần trăm của chúng được ghi nhận, cùng với số họ và số loài tương ứng Thông tin này giúp hiểu rõ hơn về sự đa dạng sinh học trong khu vực này.

Biểu đồ 4.4: Tổng hợp theo họ, chi, loài thực vật bậc cao trong khu phân bố

Nhìn vào biểu đồ ta thấy: Trong khu vực nghiên ngành Mộc lan chiếm tỉ lệ cao nhất 95.4%, trong đó:

- Lớp Mộc lan (Hai lá mầm) - Magnoliopsida (Dicotyledoneae) có 69 loài chiếm 79.3% thuộc 55 chi và 40 họ

- Lớp Hành (Một lá mầm) - Liliopsida (Monocotyledoneae) có 14 loài chiếm 16.1% thuộc 12 chi và 9 họ

Sự phân bố các loài trong các họ và các chi không đồng đều, trong đó họ Dâu tằm (Moraceae) có 6 loài, chiếm 6.89%, và họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) với 5 loài, chiếm 5.74%, là hai họ có số loài nhiều nhất Ngược lại, những họ có số loài ít như họ Thích (Aceraceae), họ Dương đào (Actinidiaceae), và họ Bứa (Clusiaceae) đều chỉ có một loài, chiếm 1.14%.

4.2.2 Đặc điểm cấu trúc tổ thành rừng trong khu vực VCV phân bố

Tổ thành rừng là yếu tố quyết định cấu trúc sinh thái và hình thái của rừng, đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá tính bền vững, ổn định và đa dạng sinh học của hệ sinh thái rừng Sự phức tạp của tổ thành rừng phản ánh khả năng bảo vệ và duy trì cân bằng sinh thái, cho thấy rằng tổ thành rừng càng đa dạng thì càng đạt được sự thống nhất hoàn hảo và cân bằng.

Cấu trúc tổ thành rừng là yếu tố quan trọng trong nghiên cứu về đặc điểm của hệ thực vật Hệ số tổ thành phản ánh mức độ tham gia của từng loài trong lâm phần, và sự kết hợp của các hệ số này cùng với các loài cây tương ứng tạo thành công thức tổ thành Công thức này không chỉ có ý nghĩa về mặt thống kê mà còn mô phỏng các mối tương tác sinh vật giữa các loài cây và giữa quần thể thực vật với môi trường sinh thái.

Trong nghiên cứu này, tổ thành rừng là yếu tố quan trọng nhất, thể hiện các đặc điểm cơ bản cho sinh cảnh sống của loài VCV

4.2.2.1 Tổ thành tầng cây cao chung toàn khu vực VCV phân bố

Sau khi phân tích dữ liệu từ 18 ô tiêu chuẩn trong khu vực nghiên cứu, tôi đã ghi nhận tổng cộng 87 loài thực vật với 979 cá thể được phát hiện trong 18 OTC.

Như vậy số cá thể bình quân của mỗi loài: XTB 87

979 = 11.25 (cây/loài) Những loài tham gia vào công thức tổ thành chung có số lượng ≥ 11.25 là 10 loài và được thể hiện qua bảng 4.3:

Bảng 4.3: Những loài chính tham gia vào tổ thành của khu vực VCV phân bố

TT Tên loài Số cây Tỉ lệ % (K) K i Kí hiệu

Công thức tổ thành chính:

Rừng tại khu vực này chủ yếu được hình thành bởi loài Mạy puôn với hệ số tổ thành 5.48, tiếp theo là Bã đậu, Rè, và Dướng, trong khi các loài khác xuất hiện với số lượng rất ít từ 0.26 – 0.48 Sự thay đổi cấu trúc rừng là do người dân tại các thôn lân cận đã khai thác gỗ để xây dựng và đốt than, dẫn đến sự suy giảm các loài cây có giá trị cao như Nghiến và Trai lý Mạy puôn, mặc dù có giá trị thương phẩm thấp do đặc tính rỗng ruột, lại có khả năng tái sinh tốt trên núi đá vôi từ 600 đến 650 m, nơi mà các loài cây ưu thế trước đây đã biến mất Bã đậu và Rè là những loài cây tiên phong ưa sáng, thường xuất hiện ở chân núi và cận sườn, cao từ 4 đến 6 m, phù hợp với môi trường núi đá vôi, do đó chiếm tỷ lệ lớn trong công thức tổ thành.

4.2.2.2 Các trạng thái rừng nằm trong khu VCV phân bố

Sau khi phân tích giá trị trung bình của các yếu tố điều tra và so sánh với bảng phân loại rừng của Loestchaus, nghiên cứu đã xác định được 4 trạng thái rừng trong khu vực nghiên cứu Thông tin chi tiết về các trạng thái này được trình bày trong bảng 4.4.

Bảng 4.4: Các nhân tố điều tra trong các trạng thái

Các loài cây chủ yếu

Mạy puôn, bã đậu, dẻ, cau, dướng, han voi, núc nác, rè, thổ mật xoan, trúc tiết

Mạy puôn, cò ke, dầu chòong, nóng, thổ mật xoan

Mạy puôn, nghiến, dướng, rè, núc nác, bã đậu IIIB 0.71 17.02 10.55 3.75 1026 41.75 326.779 82.14 Mạy puôn

Ghi chú: T.T: Trạng thái; TC: Độ tàn che; CTA: Cây thức ăn

Mật độ cây giữa các trạng thái trong bảng 4.4 chỉ ra rằng có ít sự khác biệt, với mật độ trung bình từ 1012 đến 1154 cây/ha Tuy nhiên, sự khác biệt rõ rệt nhất xuất hiện ở các nhân tố D1.3, H, G, M Trạng thái IIIA1 cho thấy sự chênh lệch đáng kể về độ tàn che, đường kính và chiều cao so với các trạng thái khác.

Kết quả điều tra cho thấy khu rừng chủ yếu gồm các cây tái sinh, trong khi một số cây lớn có giá trị thấp vẫn còn tồn tại Do đó, các chỉ số điều tra cần được xem xét kỹ lưỡng.

D1.3 có mật độ cây trung bình cao, đạt 1078 cây/ha, dẫn đến tổng tiết diện ngang và trữ lượng lớn Các cây lớn đóng vai trò quan trọng trong tổng tiết diện và trữ lượng của các trạng thái Trong số đó, trạng thái IIIB có thành phần cây đơn giản, với gần 90% là Mạy puôn, tạo nên một khu rừng gần như thuần loài Diện tích rừng này tập trung tại khu vực trung tâm của vùng lõi, với diện tích khoảng 20ha.

Biểu đồ 4.5: Tỉ lệ cây thức ăn của VCV có trong các trạng thái rừng

Biểu đồ 4.5 cho thấy tỉ lệ cây thức ăn cao nhất đạt 86.8% ở trạng thái IIIA2, mặc dù trạng thái này không đa dạng về tổ thành loài cây Trong khi đó, trạng thái IIIA1, theo bảng 4.4, có tổ thành loài cây đa dạng nhất nhưng chỉ có tỉ lệ cây thức ăn 49.9%, thấp nhất trong các trạng thái Nguyên nhân là do IIIA1 đã từng bị tác động mạnh, nhưng sau gần 10 năm, quá trình phục hồi đã giúp các cây tái sinh phát triển và hình thành tầng cây gỗ Tuy nhiên, sự đa dạng của các loài tái sinh trong trạng thái này không cao và nhiều trong số đó không phải là thức ăn cho VCV.

Diện tích các trạng thái rừng trong khu VCV phân bố

Biểu đồ 4.6: Diện tích các trạng thái rừng trong khu VCV phân bố

Biểu đồ 4.6 chỉ ra rằng trạng thái IIIA1 chiếm 34.97% diện tích, tiếp theo là IIIA2 với 24.44%, IIIA3 chiếm 24.30%, và trạng thái IIIB chiếm 12.28% trong vùng bảo vệ nghiêm ngặt của khu bảo tồn Điều này cho thấy rừng ở khu vực này đang trong quá trình phục hồi mạnh mẽ.

Biểu đồ 4.7: Mật độ cây theo trạng thái rừng trong khu VCV phân bố

Biểu đồ 4.7 cho thấy mật độ cây trong các trạng thái biến động không lớn, dao động từ 1012 đến 1154 cây/ha Trong đó, trạng thái IIIA1 có mật độ cây cao nhất với 1154 cây/ha, tiếp theo là trạng thái IIIA2 với 1120 cây/ha Trạng thái có mật độ thấp nhất là IIIA1 với 1012 cây/ha.

Tổ thành thực vật ở trạng thái rừng IIIA 1

Tổng hợp kết quả điều tra tầng cây cao trên 4 OTC ( 01 Chân, 09 Sườn, 16 Đỉnh, 16 Chân ) lập trên trạng thái rừng IIIA1 tôi thông kê được 33 loài thực vật, với

Số cá thể bình quân của mỗi loài: XTB 33

Các loài chính trong công thức tổ thành trạng thái IIIA1 có số lượng cá thể từ 6.0 trở lên Danh sách cụ thể các loài này được trình bày trong bảng 4.4.

Bảng 4.5: Các loài chính tham gia tổ thành ở trạng thái IIIA1

STT Tên loài Số cây Tỷ lệ % (K) K i Kí hiệu

Công thức tổ thành chính:

Mối quan hệ giữa đặc điểm của thực vật với sự phân bố của VCV

4.3.1 Mật độ VCV trong các trạng thái

Sau khi thống kê diện tích và vị trí các đàn VCV, chúng tôi đã tính toán mật độ đàn và mật độ cá thể vượn trong các trạng thái Thông tin chi tiết về số lượng đàn, số lượng cá thể, diện tích các trạng thái và các đàn có mặt trong từng trạng thái được trình bày trong bảng 4.9.

Bảng 4.9: Mật độ VCV trong các trạng thái

TT T.T S Số đàn MĐ đàn

Các đàn có trong trạng thái CT MĐ cá thể

Ghi chú: T.T: Trạng thái; S: Diện tích; MĐ: Mật độ; CT: Cá thể

Từ bảng 4.9 ta có biểu đồ sau:

Mật độ đàn VCV trong các trạng thái rừng

Biểu đồ 4.8: Mật độ đàn VCV có trong các trạng thái rừng trong KBT

Mật độ vượn trung bình trong khu vực được ghi nhận là 2.04 đàn/km², với mật độ cao nhất ở trạng thái IIIB đạt 3.48 đàn/km² Trạng thái IIIB, chiếm 12.28% diện tích khu bảo vệ nghiêm ngặt, có rừng khai thác ít, trữ lượng cao và cấu trúc rừng chưa bị phá vỡ, là nơi sinh sống của 5 đàn vượn (G7, G12, G13, G14, G18) Trạng thái IIIA3 có 6 đàn vượn (G3, G4, G5, G15, G16, G7) với mật độ trung bình 2.8 đàn/km², trong khi trạng thái IIIA2 chỉ có 3 đàn (G8, G9, G10) với mật độ 1.39 đàn/km² Trạng thái IIIA1, chiếm 34.97% tổng diện tích khu phân bố vượn, chỉ phát hiện 4 đàn (G1, G2, G6, G11) với mật độ 1.3 đàn/km².

Kết quả phân bố VCV cho thấy trạng thái IIIB có mật độ vượn cao nhất, đạt 3.48 đàn/km², gấp 1.55 lần so với mật độ vượn trung bình trong toàn khu vực.

Mật độ cá thể VCV trong các trạng thái rừng

Biều đồ 4.9: Mật độ cá thể VCV có trong các trạng thái rừng trong KBT

Mật độ trung bình của VCV trên tổng diện tích phân bố đạt 13.12 cá thể/km², đồng thời cũng phản ánh mật độ trung bình của cá thể vượn trong từng trạng thái rừng.

Trạng thái IIIB ghi nhận mật độ vượn trung bình đạt 23.69 cá thể/km², cao gấp 1.6 lần so với mật độ trung bình Trong khi đó, trạng thái IIIA3 có mật độ 16.34 cá thể/km², tương đối ổn định và gần bằng mật độ vượn trung bình khu vực Trạng thái IIIA2 và IIIA1 lần lượt có mật độ 6.96 và 5.51 cá thể/km², trong đó IIIA1 và IIIA2 là hai trạng thái có sự xuất hiện của vượn ít nhất, mặc dù diện tích của chúng lớn nhất.

4.3.2 Mối quan hệ giữa đặc điểm thực vật với sự phân bố của VCV

Tất cả dữ liệu thực vật được thu thập được tóm tắt thành 8 biến cho mỗi OTC, bao gồm: 1) độ tàn che, 2) chiều cao cây trung bình, 3) đường kính trung bình, 4) đường kính tán trung bình, và 5) tổng tiết diện ngang của tất cả các cây có đường kính.

≥ 6 cm, 6) tổng số cây có đường kính ≥ 6 cm, 7) tỉ lệ cây thức ăn, 8) tổng tiết diện ngang của tất cả các cây là thức ăn của VCV

Bảng 4.10: Tổng hợp các giá trị trung bình của các nhân tố điều tra trong khu vực VCV phân bố Descriptive Statistics

N Mean Std Deviation Minimum Maximum Độ tàn che 18 0.6611 0.09839 0.40 0.75

Tỉ lệ cây thức ăn 18 72.5733 23.27982 20.00 98.40

Đường kính trung bình của tầng cây gỗ trong khu vực là 14.23 ± 2.4 cm, với OTC 16Chân có độ tàn che nhỏ nhất là 0.4 và 5 OTC có độ tàn che cao nhất đạt 0.75 Đường kính ngang ngực trung bình là 14.24 ± 2.41 cm, trong đó OTC 09Sườn có đường kính thấp nhất 10.03 cm và OTC 02Sườn có đường kính cao nhất đạt 18.7 cm Chiều cao vút ngọn trung bình là 10.02 ± 1.95 m, với OTC 16Chân có chiều cao thấp nhất 6.93 m và OTC 02Sườn có chiều cao cao nhất đạt 14.77 m Độ tàn che trung bình là 0.66 ± 0.098, Dt là 3.64 ± 0.47 m, tổng tiết diện ngang là 25.14 ± 1 m2/ha, và mật độ trung bình là 1088 ± 18.68 cây/ha Tỉ lệ cây thức ăn đạt 72.57 ± 2.33 %, với OTC 07Chân có tỉ lệ thấp nhất 20% và OTC 15Sườn có tỉ lệ cao nhất 98.4% Tổng tiết diện ngang của cây thức ăn là 19.18 ± 1.01 m2/ha, và mật độ đàn là 2.04 ± 0.64 đàn/km2.

Sau khi xử lý số liệu và xác định phân bố của các nhân tố điều tra bằng phương pháp Kolmogorovo – Smirnov ta có bảng thống kê sau:

Bảng 4.11: Kết quả kiểm tra phân bố bằng phương pháp Kolmogorov-Smirnov của các nhân tố điều tra

TC D1.3 Hvn Dt G N Tỉ lệ

Ghi chú: TC: Độ tàn che; CTA: Cây thức ăn; MĐ: Mật độ

Nhìn vào bảng 4.10 ta thấy Pz > 0.05 vì vậy tất cả các nhân tố điều tra điều có phân bố chuẩn

Bảng 4.12: Kết quả so sánh các nhân tố điều tra trong các trạng thái bằng tiêu chuẩn Kruskal – Wallis Test Statisti

TC D1.3 Hvn Dt G N Tỉ lệ

Ghi chú: TC: Độ tàn che; CTA: Cây thức ăn; MĐ: Mật độ

Khi xác suất của X2 (Px) nhỏ hơn 0.05, điều này cho thấy các yếu tố được điều tra có sự khác biệt rõ rệt giữa các trạng thái Ngược lại, nếu X2 lớn hơn 0.05, các yếu tố điều tra không có sự khác biệt đáng kể.

Kết quả từ bảng 4.12 cho thấy có sự khác biệt rõ rệt về mật độ đàn vượn giữa các trạng thái D1.3, G và Gta, trong khi các nhân tố khác không cho thấy sự khác biệt đáng kể.

Tiêu chuẩn Kruskal-Wallis không chỉ giúp xác định sự khác biệt giữa các nhân tố trong các trạng thái mà còn cho phép chúng ta nhận diện trạng thái nào là tối ưu nhất cho nhân tố điều tra.

Bảng 4.13: Kết quả so sánh các nhân tố điều tra trong các trạng thái bằng tiêu chuẩn Kruskal – Wallis

T.T N TC D1.3 Hvn Dt G N Tỉ lệ

Ghi chú: TC: Độ tàn che; CTA: Cây thức ăn; MĐ: Mật độ

Trạng thái IIIA2 có độ tán che cao nhất và tỉ lệ cây thức ăn cao nhất, trong khi trạng thái IIIB nổi bật với D1.3, G, Gta và mật độ vượn cao nhất Đồng thời, trạng thái IIIA3 thể hiện Hvn, Dt, N ở mức cao nhất.

Nghiên cứu đã sử dụng tương quan Pearson để phân tích mối quan hệ giữa mật độ vượn và các biến thực vật Phân tích dữ liệu bằng phần mềm SPSS cho thấy kết quả đáng chú ý trong bảng dữ liệu.

Bảng 4.14: Kết quả kiểm tra sự tương quan giữa các biến với mật độ vượn bằng tiểu chuẩn R 2 của Pearson

TC D1.3 Hvn Dt G N Tỉ lệ

Ghi chú: * Tương quan có ý nghĩa với P r

Ngày đăng: 21/06/2021, 06:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Khoa học, Cộng nghệ và Môi Trường (2000), Sách Đỏ Việt Nam, Phần Động vật, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách Đỏ Việt Nam, Phần Động vật
Tác giả: Bộ Khoa học, Cộng nghệ và Môi Trường
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2000
2. Chi Cục Kiểm lâm tỉnh Cao Bằng (2006), Dự án đầu tư xây dựng Khu Bảo tồn loài sinh cảnh Vượn Cao Vít tại huyện Trùng Khánh – Tỉnh Cao Bằng, FFI Hà Nội, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án đầu tư xây dựng Khu Bảo tồn loài sinh cảnh Vượn Cao Vít tại huyện Trùng Khánh – Tỉnh Cao Bằng
Tác giả: Chi Cục Kiểm lâm tỉnh Cao Bằng
Năm: 2006
4. Lưu Tường Bách (2009), Nghiên cứu thú linh trưởng và một số đặc điểm sinh thái của loài Vượn đen Cao vít (Nomascus nasutus nasutus) tại Khu bảo tồn Loài và Sinh cảnh Vượn Cao vít, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, Luận án Thạc sĩ khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thú linh trưởng và một số đặc điểm sinh thái của loài Vượn đen Cao vít (Nomascus nasutus nasutus) tại Khu bảo tồn Loài và Sinh cảnh Vượn Cao vít, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng
Tác giả: Lưu Tường Bách
Năm: 2009
5. Nguyễn Thế Cường (2009), Báo cáo điều tra Vượn Cao Vít khu vực Ngọc Chung, Phong Nậm, Khâm Thành, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, Báo cáo kỹ thuật FFI - Chương trình Đông Dương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo điều tra Vượn Cao Vít khu vực Ngọc Chung, Phong Nậm, Khâm Thành, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng
Tác giả: Nguyễn Thế Cường
Năm: 2009
6. Hà Đình Đức (1991), Tình trạng hiện nay của các loài khỉ ở Việt Nam và biện pháp bảo vệ chúng, Trường Đại học Tổng hợp Hà nội, Trung tâm Tài nguyên và Môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng hiện nay của các loài khỉ ở Việt Nam và biện pháp bảo vệ chúng, Trường Đại học Tổng hợp Hà nội, Trung tâm Tài nguyên và Môi trường
Tác giả: Hà Đình Đức
Năm: 1991
7. Geissman, T., Nguyễn Xuân Đặng, Lomée, N. và Momberg, F., (2000), Tình trạng bảo tồn Linh trưởng Việt Nam-Đánh giá tổng quan năm 2000, Phần 1: Các loài Vượn, FFI-Chương trình Đông Dương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng bảo tồn Linh trưởng Việt Nam-Đánh giá tổng quan năm 2000, Phần 1: Các loài Vượn
Tác giả: Geissman, T., Nguyễn Xuân Đặng, Lomée, N. và Momberg, F
Năm: 2000
8. Lê Hiền Hào (1973), Thú kinh tế miền Bắc Việt Nam, Tập 1. Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thú kinh tế miền Bắc Việt Nam, Tập 1
Tác giả: Lê Hiền Hào
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1973
10. Vũ Tiến Hinh, Phạm Văn Điển, Phạm Minh Toại, Vũ Đại Dương, Vương Văn Quỳnh, Hà Quang Khải (2006), Phục hồi rừng khoanh nuôi tại một số tỉnh trung du và miền núi miền Bắc Việt Nam, Báo cáo khoa học đề tài, Bộ NN&PTNT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phục hồi rừng khoanh nuôi tại một số tỉnh trung du và miền núi miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Vũ Tiến Hinh, Phạm Văn Điển, Phạm Minh Toại, Vũ Đại Dương, Vương Văn Quỳnh, Hà Quang Khải
Năm: 2006
11. Nguyễn Văn Hoàn, Lê Ngọc Công (2006), “Bước đầu nghiên cứu đặc điểm quá trình tái sinh tự nhiên tại vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử, Bắc Giang”, Tạp chí Lâm nghiệp (số 12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu nghiên cứu đặc điểm quá trình tái sinh tự nhiên tại vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử, Bắc Giang
Tác giả: Nguyễn Văn Hoàn, Lê Ngọc Công
Năm: 2006
12. Phạm Xuân Hoàn, Trương Quang Bích (2009), “Động thái phục hồi rừng trên đất bỏ hóa sau di dân tại Vườn Quốc Gia Cúc Phương”, Tạp chí NN&PTNT, (số 11/2009), Tr.19-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Động thái phục hồi rừng trên đất bỏ hóa sau di dân tại Vườn Quốc Gia Cúc Phương
Tác giả: Phạm Xuân Hoàn, Trương Quang Bích
Năm: 2009
13. Trịnh Đình Hoàng (2007), Tập huấn điều tra quần thể xây dựng mẫu báo cáo điều tra và lập kế hoạch điều tra tổng thể cho dự án bảo tồn vượn đen Cao Vít (Nomascus nasutus), FFI Hà Nội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập huấn điều tra quần thể xây dựng mẫu báo cáo điều tra và lập kế hoạch điều tra tổng thể cho dự án bảo tồn vượn đen Cao Vít (Nomascus nasutus)
Tác giả: Trịnh Đình Hoàng
Năm: 2007
14. Đặng Huy Huỳnh, Đào Văn Tiến, Cao Văn Sung, Phạm Trọng Ảnh, Hoàng Minh Khiên (1994), Danh lục các loài thú (Mammalia) Việt Nam, Nxb. Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh lục các loài thú (Mammalia) Việt Nam
Tác giả: Đặng Huy Huỳnh, Đào Văn Tiến, Cao Văn Sung, Phạm Trọng Ảnh, Hoàng Minh Khiên
Nhà XB: Nxb. Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1994
15. Trần Quốc Hưng và cộng sự (2007), Bước đầu đánh giá tái sinh rừng tại khu vực bị tác động mạnh trong Khu bảo tồn Vượn đen Cao Vít, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, FFI Hà Nội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Quốc Hưng và cộng sự (2007), Bước đầu đánh giá tái sinh rừng tại khu vực bị tác động mạnh trong Khu bảo tồn Vượn đen Cao Vít, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng
Tác giả: Trần Quốc Hưng và cộng sự
Năm: 2007
16. Trần Quốc Hưng và cộng sự (2009), Báo cáo kế hoạch phục hồi rừng tại khu Bảo tồn Loài và sinh cảnh Vượn Cao Vít huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, FFI Hà Nội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kế hoạch phục hồi rừng tại khu Bảo tồn Loài và sinh cảnh Vượn Cao Vít huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng
Tác giả: Trần Quốc Hưng và cộng sự
Năm: 2009
19. Nguyễn Hùng Mạnh, Luân Việt Quốc, Phạm Hoàng Linh (2005), Báo cáo đánh giá ban đầu về sử dụng tài nguyên tại xã Phong Nậm và Ngọc Khê huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, FFI Hà Nội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá ban đầu về sử dụng tài nguyên tại xã Phong Nậm và Ngọc Khê huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng
Tác giả: Nguyễn Hùng Mạnh, Luân Việt Quốc, Phạm Hoàng Linh
Năm: 2005
20. Nguyễn Thị Nhàn (2009), Nghiên cứu đặc điểm tái sinh lỗ trống rừng tự nhiên lá rộng thường xanh tại vườn quốc gia Cúc Phương, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình, Luận văn tốt nghiệp đại học. Đại học Lâm nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm tái sinh lỗ trống rừng tự nhiên lá rộng thường xanh tại vườn quốc gia Cúc Phương, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình
Tác giả: Nguyễn Thị Nhàn
Năm: 2009
22. Trần Văn Phùng và nhóm quy hoạch sử dụng tài nguyên (2006), Quy hoạch sử dụng các nguồn tài nguyên có sự tham gia-xã Ngọc Khê, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, FFI Hà Nội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch sử dụng các nguồn tài nguyên có sự tham gia-xã Ngọc Khê, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng
Tác giả: Trần Văn Phùng và nhóm quy hoạch sử dụng tài nguyên
Năm: 2006
23. Vũ Anh Tài, Nguyễn Hữu Tứ (2007), Hệ thực vật và thảm thực vật ở khu bảo tồn loài Vượn Cao Vít, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, FFI Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thực vật và thảm thực vật ở khu bảo tồn loài Vượn Cao Vít, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng
Tác giả: Vũ Anh Tài, Nguyễn Hữu Tứ
Năm: 2007
24. Vũ Ngọc Thành, Nguyễn Xuân Đặng, Nguyễn Mạnh Hà, Luu Tường Bách, Nguyễn Thị Hiền (2005), Điều tra, đánh giá quần thể vượn Cao Vít (Nomascus nastus nasutus) ở Khu Bảo tồn loài và sinh cảnh (đề xuất) Phong Nậm - Ngọc Khê, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, với những kiến nghị bảo tồn, FFI Hà Nội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra, đánh giá quần thể vượn Cao Vít (Nomascus nastus nasutus) ở Khu Bảo tồn loài và sinh cảnh (đề xuất) Phong Nậm - Ngọc Khê, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, với những kiến nghị bảo tồn
Tác giả: Vũ Ngọc Thành, Nguyễn Xuân Đặng, Nguyễn Mạnh Hà, Luu Tường Bách, Nguyễn Thị Hiền
Năm: 2005
25. Phạm Ngọc Thường (2003), Nghiên cứu đặc điểm quá trình tái sinh tự nhiên và đề xuất một số giải pháp kỹ thuật lâm sinh phục hồi rừng sau nương rẫy ở hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn, Luận án tiến sĩ nông nghiệp, Viện khoa học lâm nghiệp, Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm quá trình tái sinh tự nhiên và đề xuất một số giải pháp kỹ thuật lâm sinh phục hồi rừng sau nương rẫy ở hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn
Tác giả: Phạm Ngọc Thường
Năm: 2003

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w