luận văn thạc sĩ, tiến sĩ, cao học, luận văn
Trang 1BO GIAO DUC VA DAO TAO
“TRƯỜNG ĐẠI HỌC NONG NGHIỆP |
Luận ấn Phó tiên sĩ Khoa học Nông nghiệp
Người hu⁄¿ Sản kitaa lục :
PGS.PYS Pham Kude Hidu
HA NOI - (995
Trang 2MỤC LỤC PHAN THU NHAT
2.1 Tinh hình và tính phổ biến của bệnh
phân trắng lợn con ở Việt Nam
22 Triệu chứng của bệnh phân trắng lợn con
23 Nguyên nhân bệnh phân trắng lợn con mang tính
chất tổng hợp
2.4 Những nghiên cứu về bệnh phan trắng lợn con
trong và ngoài nước
2/5 Ảnh hưởng của môi trường không khí đến sức đề
kháng của co thé
96 Các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa, huyết học với trạng
thái sức khaẻ và sức đề kháng tự nhiên của lợn
Trang 3PHAN THU BA
Chương ba :
NGUYÊN LIÊU VÀ PHƯƠNG PHÁP' NGHIÊN CỨU
PHAN THU TU KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Chương bốn :
KẾT QUẢ NHIÊN CỨU CÁC CHỈ TIÊU SINH LÝ, SINH HÓA
MÁU Ở LỢN CON BÌNH THƯỜNG VÀ LỢN CON MÁC BỆNH
4.1 Chỉ sẽ hồng cầu và huyết sắc tố 61
43 Biến đổi hàm lượng các nguyên tố đa, vi lượng
trong huyết thanh lợn con bình thường và lợn con
44 Biến đổi hàm lượng đường huyết ở lợn con bình
thường và lon con phân trắng 78 4ñ, Biên đổi hàm lượng Cholesterol toàn phần trong
máu lợn con bình thường và lợn con phân trắng 81
1.6 Ham lượng vitamin Œ huyết thanh ở lợn con bình
82 thường và mắc bệnh phân trắng.
Trang 44/7 Biến đổi hàm lượng 17 - Cetosteroid (17-CS) va
17-Hydroxycorticosteroid (17-OHGS) trong nước tiểu
lợn con bình thường và mắc bệnh phân trắng
4.8 Biến đổi khối lượng, thể tích tuyến thượng thận
và một sô tuyên nội tiết ở lợn con bình thường và lợn
con phân trắng
Chương năm :
NGHIÊN CỨU CÁC CHỈ TIÊU SINH LÝ, SINH
HÓA, HUYẾT HỌC, NƯỚC TIỂU Ở LỢN CON
TRONG ĐIỂU KIỆN GÂY LẠNH ẨM THỰC NGHIỆM
Chương sấu :
NGHIEN CUL SU DUNG ACTH VA PREDNISOLON
PHONG BEN? PHAN ‘TRANG LON CON
6.1 Khao sat ham lượng ACTH thích hợp trong phòng
bệnh phân trắng lợn con
6.2 Nghiên cứu sử dụng AƠTH và Prednisolon phòng
trí ban đầu bệnh phân trắng lợn con
6.3 Tìm hiểu nhiệt độ và ẩm đô thích hợp phòng
bênh phan trang lon con
PHAN THU NAM
Trang 6hộ gia đình chăn nuôi và các cơ sở chăn nuôi lợn giống của nhà nước đã và đang trở thành yêu cầu cấp bách của sự phát triển kinh tế nông thôn ở nước ta trong thời kỳ đổi mới
Các yếu tố lạnh ẩm của môi trường tác động đột ngột hoặc kéo đài trong các vụ Hè - thu và Đông - xuân, nhất là khi có gió mùa đông bắc và mưa phùn ở các tỉnh phía Bắc nước ta đã ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình điều hòa thân nhiệt của đàn lợn con mà hệ thần kinh và nội tiết tham gia vào quá trình điều hòa thân nhiệt của chúng vốn chưa được phát triển hoàn chỉnh (Nguyễn Văn Bảo - 1976; Trịnh Văn Thịnh - 1978; Đào Trọng Dat va cong su - 1979; H6 Văn Nam - 1982) Hau qua là rối loạn trao đổi chất, giảm khả năng miễn dịch và sức đề kháng tự nhiên của cơ thể lợn con Thật vậy, nhà miễn dịch học nổi
Trang 7tiếng Nicolxki V.V (1971) đã nhấn mạnh " khi cơ thể gia sức
bị lạnh và kéo dài sẽ làm giảm phản ứng miễn dịch, giảm số lượng bạch cầu và tác dụng thực bào, giảm khả năng diệt vi khuẩn trong máu, do đó gia súc dễ bị vi khuẩn cường độc tấn công ”
Nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đã tập trung nghiên cứu xác định nguyên nhân bệnh phân trắng lợn con (Nguyễn Lương,1963; Nguyễn Hữu Nhạ, 1975; Nguyễn Thị
Nội, 1975, 1976, 1978; Trần Thị Diễm Uyên, 1977; Nguyễn
Hữu Chấn và cộng sự, 1979; Phạm Khắc Hiếu và cộng sự, 1980; Gonzalez E.A., 1986; Francis D H., 1988; Tzipori S., 1988; Nakajima, 1991; Ta Thi Vinh, 1991, 1993), nghién cứu các phương pháp nâng cao khả năng miễn dịch cho lợn con như tiêm y-globulin (Lê Xuân Cương và cộng sự, 1986;
Tạ Thị Vịnh và cộng sự, 1994) hoặc sử dụng các loại thuốc kháng sinh Furazolidon, Tetracycline, Streptomixine, Terramycine,các Sulfamid để diều trị (Phan Địch Lân, Phạm
Sỹ Lăng, I994; Trần Minh Hùng, 1994) Song dùng thuốc kháng sinh lại ảnh hưởng đến khu hệ vi sinh vật có ích trong đường ruột và sau này lợn con sẽ bị còi cọc Nhiều tác giả trong nước đã nghiên cứu sử dụng kháng sinh: sưu tầm và chế biến các bài thuốc nam chữa bệnh phân trắng
lợn con (Trần Minh Hùng và cộng sự, 1981; Trần Công
Khánh, 1983; Nguyễn Phước Tương và Hoàng $ÿ Hùng, 1986;Nguyễn Phước Tương và cộng sự, 1988;Hoàng Quốc
Trang 8Dương, I989) Một số tác giả khác tập trung nghiên cứu chống hiện tượng rối loạn khu hệ vi sinh đường ruột của bệnh phân trắng lợn con đã sản xuất Biolactyl đông khô (Lê Công Tiến, Trần Thị Thu, 1991), thử hiệu lực phòng trị của PBiolactyl (Phan Thanh Phượng và cộng sự, 1981), sản xuất chế phẩm vi sinh sống Subcolac (Vũ Văn Ngữ, Nguyễn Hữu Nhạ - 1976: Vũ Văn Ngữ, Lê Kim Thao - 1982) Để tăng khả năng diệt vi khuẩn ở lợn con mắc bệnh phân trắng, đã sản xuất vacxin Ï:.coli cho uống phòng bệnh (Lê Văn Tạo và cộng sự - 1993), sản xuất auto-vacxin tiêm cho lon nai mang thai và lợn con sơ sinh để phòng bệnh (Cao Chí Nguyên - 1992) Nhiều tác giả nước ngoài đi sâu nghiên cứu các đặc điểm đi truyền phenotyp và genotyp của các chủng E.coli cường độc mang độc tố đường ruột, nghiên cứu miễn địch và các antigen độc tố đường ruột của E.coli (Broes A., 1988; Lund A va cong su, 1991; Osek J va Svennerbolm A.M., 1991; ), phat hién va nghién cttu sâu
về các nhóm Rotavirus trong bệnh phân trắng lợn con và cách phòng chống (Gatti M.S và sảng sự, I989; Tạ Thị Vịnh, 1991; Malicki và cộng sự 1990 )
Rõ ràng nhiều tác giả đã tập trung nghiên cứu pha nhiễm trùng kế phát là hậu quả của rối loạn trao đổi chất, suy giảm miễn dịch của cơ thể lợn con dưới tác động của các yếu tố lạnh
ẩm của môi trường nguyên nhân hàng đầu và quan trọng của bệnh phân trắng lợn con Vì vậy việc nghiên cứu các phản ứng
Trang 9của cơ thể lợn con trong điều kiện tác động của không khí ẩm thấp, trong điều kiện nhiệt độ thấp và các biện pháp chống lạnh, chống ẩm cho chúng có ý nghĩa quyết dịnh đến việc bảo
vệ sức khỏe ban đầu của đàn lợn con sơ sinh trong thời kỳ bú
2/ Khảo sát ảnh hưởng của lạnh, ẩm đến sự phát bệnh và biến dộng của chỉ tiêu nói trên, đánh giá vai trò lạnh ẩm đến bệnh, định hướng cho việc nghiên cứu những vấn đề tiếp về thực nghiệm gây bệnh và phòng chống bệnh
3/ Góp phần xây dựng quy trình phòng bệnh, và phác đồ điều trị bệnh để ứng dụng trong sản xuất
Trang 10PHẦN THỨ HAI
Chương 2
TỔNG QUAN TÀI LIÊU
BEN PHAN TRANG LON CON - TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
'TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
2.1 Tình hình và tính phổ biến của bệnh phân trắng
lợn con ở Việt Nam
Theo thông báo của Cục Thú Y, bệnh phân trắng lợn con
là bệnh rất phổ biến đối với lợn con dưới í tháng tuổi ở Việt Nam, đặc biệt xảy ra ở tất cả các tỉnh phía Bắc nước ta Tại các khu vực chăn nuôi lợn tập trung, tỷ lệ đàn mắc bệnh 100%, ty
lệ con mắc bệnh 60 - 70%, tỷ lệ chết 17 - 70%
Tìm hiểu tình hình bệnh phân trắng lợn con ở các khu vực chăn nuôi ngoại thành Hà Nội chúng tôi cũng thu dược những kết quả tương tự trong thập niên vừa qua: Nông trường chăn nuôi Kiêu Ky, Toàn Thắng 70 - 90%, Trại lợn giống của Trường Đại Học Nông Nghiệp 50 - 70% (năm 1982), trại lợn giống của huyện Gia Lâm năm 1984 ty lệ dàn mắc bệnh lên tới 100%, trong đó tỷ lệ con mắc bệnh 75 - 80%, tỷ lệ chết 7 - 10% Bệnh phân trắng lợn con cũng đã làm thiệt hại lớn dối với nhiều hộ gia đình nông dân chăn nuôi ở khấp nơi trong nước Theo
10
Trang 11thông báo của Lê Công Tiến, Trần Thị Thu (1991), tỷ lệ phân trắng lợn con lên tới 70 - 80%, thậm chí có nơi lên tới 90%
2.2 Triệu chứng của bệnh phân trắng lợn con
Lon con bi đi ngoài, thể lỏng, nhão nát, mầu trắng xám,
có mùi tanh kham khó chịu Lon con bị mất nước xù lông rúm
ró, kheo và duôi dính đầy phân Lợn con bị còi cọc, chậm lớn
da khô, thiếu máu, khi bị nhiễm khuẩn kế phát do vi khuẩn, virus bệnh trở nên trầm trọng, lợn con bỏ bú và dẫn tới tử vong (Trịnh Văn Thịnh - 1977; Tạ Thị Vịnh - 1987; Phan Địch Lân, Phạm Sỹ Lãng - 1994),
2.3 Nguyên nhân bệnh phân trắng lợn con mang tính
chất tổng hợp
Ở khắp các tỉnh miền Bắc nước ta, vào các vụ Hè - thu
và Đông - xuân, nhất là khi có gió mùa Đông - bắc và mưa phùn, lợn con bị mắc bệnh phân trắng hàng loạt với nhiều nguyên nhân:
Các yếu tố lạnh ẩm của môi trường tác động đột ngột hoặc kéo dài đã ảnh hưởng trực tiếp lên bộ máy điều hòa thân nhiệt của lợn con, mà hệ thống thần kinh, nội tiết tham gia vào quá trình điều hòa thân nhiệt vốn chưa phát triển hoàn chỉnh Hậu quả là cơ thể lợn con bị rối loạn các quá trình trao đổi chất mà bắt đầu từ sự rối leanbộ máy tiêu hóa, hấp thu Ở da day dịch vị không có HICI tự do, không hoạt hóa được men
II
Trang 12pepxin, nên không tiêu hóa được sữa mẹ Hơn nữa # lợn con các enzym đường ruột cũng chưa phát triển hoàn chỉnh, sữa lại
là môi trường thuận lợi cho sự phát triển của nhiều loại vi khuẩn gây bệnh, gây hội chứng loạn khuẩn, khuẩn kế phát, phá hủy cấu trúc và chức năng của bộ máy tiêu hóa hấp thu tất cả làm cho triệu chứng phân trắng lợn con ngày càng trầm trọng
và dẫn tới tử vong ở lợn con Nhiều tác giả còn khẳng định các nguyên nhân khác về đỉnh dưỡng như do dinh dưỡng kém ở lợn
mẹ, trong khẩu phần thiếu vitamin, nguyên tố ví lượng, do nuôi dưỡng lợn con không đúng quy trình kỹ thuật, vệ sinh chuồng trại kém, bẩn và ô nhiễm
Do nhiều nguyên nhân và yếu tố gây bệnh kể trên, mà bệnh phân trắng lợn con đã được mệnh đanh với nhiều loại tên gọi khác nhau:
- Dyspepsia (chứng khó tiêu hóa)
- Three weeks enteritis (bệnh viêm ruột ở 3 tuần thổi)
- Milk scours (bệnh phân sữa )
- Colibacillosis (bénh do vi khudn coli)
Noninfective diarthoea (bénh ia chay khong truyén nhiém)
Gan đây người ta còn bổ sung thêm nguyên nhân gây bệnh phân trắng lợn con là do cầu trùng và Rotavirus (Chasey D - 1989) Có lẽ tên gọi về bệnh phân trắng lợn con và các biện pháp phòng trị sẽ còn dược bổ sung do sự phong phú về
12
Trang 13nguyên nhân và yếu tố gây bệnh Mặc đầu nguyên nhân mang tính tổng hợp, không có tính đặc hiệu, song nguyên nhân về thời tiết lạnh ẩm là yếu tố hàng đầu của bệnh phân trắng lợn
Vì nguyên nhân của bệnh phân trắng lợn con da dạng, nên các công trình nghiên cứu phòng và trị bệnh đã phát triển theo nhiều hướng khác nhau
Nhà miễn dịch học nổi tiếng Nicolski V.V (1971) đã nhấn mạnh ” khi cơ thể gia súc non bị lạnh và kéo dài sẽ làm giảm phần ứng miễn dịch, giảm số lượng bạch cầu và tác dụng thực bào, giảm khả năng diệt trùng của máu, do đó gia súc dễ bị vi khuẩn gây bệnh tấn công " Việc phòng chống bệnh phân trắng lợn con theo hướng nâng cao sức đề kháng của cơ thể lợn con bằng cách hoàn thiện quy trình nuôi dưỡng chăm sóc và bổ sung cho chúng một lượng y-globulin miễn dịch tức là đưa thêm một lượng kháng thể thụ động mà vốn cơ thể lợn con chưa tổng hợp đủ các kháng thể của chính bản thân chúng, đã
Trang 14được nhiều tác giả nghiên cứu Ở nước ta, Viện Khoa học Nông nghiệp đã sử dụng y-globulin tách từ máu lợn để thí nghiệm phòng bệnh phân trắng lợn con và dã thu được các kết quả khích lệ Lê Xuân Cương và các đồng tác giả (1986) tại Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam kết hợp với K60 Học Viện Quân y đã tách chiết thành công chế phẩm y-globulin
từ huyết thanh ngựa chửa Tác giả đã sử dụng liều { ml dung dich 10%/con dat kết quả tốt hơn các liều khác Theo tác giả thuốc sử dụng không gây các biến động quá giới hạn cho phép của các chỉ số huyết học như bạch cầu tổng số, công thức bạch cầu, nhưng hàm lượng y-globulin huyết thanh được cải thiên Kết quả là sức đề kháng của lợn con được tăng cường, tỷ lệ bệnh phân trắng lợn con giảm xuống,thời gian an toàn dài hơn
và mức tăng trọng cao hơn so với lô không dùng thuốc Như vay y-globulin chỉ có tác dụng giảm tỷ lệ phân trắng lợn con chứ không phải là thuốc đặc hiệu điều trị
Nhiều tác giả đã sử dụng các loại thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh phân trắng lợn con, đó là các loại Furazolidon, Tetracyclin, Streptomycin, Terramicin, Sulfaguanidin Tuy nhiên dùng kháng sinh lại ảnh hưởng tới khu hệ vi sinh vật có ích trong đường ruột của gai súc và lợn con sau này sẽ bị cdi cọc, mặt khác dùng các loại kháng sinh kể trên rất tốn kém, do
đó nhiều tác giả đã mở ra hướng nghiên cứu sưu tầm, chế biến các bài thuốc nam chữa bệnh phân trắng lợn con
14
Trang 15Nguyễn Phước Tương và cong su (1994) đã sử dụng cây đỉnh lăng lá nhỏ (Panax Frutieosum L) trong điều trị bệnh phan trắng lợn con Chế phẩm chiết suất từ cây đỉnh lăng lá nhỏ, cây này đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu về tác dụng y - sinh dược - học Về tác dụng kháng sinh của cây thuốc này, theo kết quả nghiên cứu của tác giả, nó có tác dụng kháng khuẩn rõ rệt đối với Staphylococcus aureus và Staphylococcus albus Ché phẩm từ cây đỉnh lăng lá nhỏ trước đây đã được sử dụng cho các nhà du hành vũ trụ của Liên Xô
cũ, như một loại thuốc " sinh thích nghi ” tức là làm tăng sức đẻo dại, khả năng chịu đựng của cơ thể trong điều kiện bất thuận lợi của môi trường Cũng như tam thất, dinh lăng lá nhỏ còn có tác dụng kích thích miễn địch và sự chống đỡ của cơ thể chống lại các bệnh tật có liên quan tới sự ức chế hoạt tính enzym monoamin oxydaza (MAO) của não và gan, và liên quan tới khả năng hoạt hóa hệ enzym atpaza trên màng tế bào não và tim, giải phóng photphat cao năng, rất cần cho sự hoạt động thần kinh và tim mạch Việc sử dụng nước sắc và rượn thuốc từ cây định lăng lá nhỏ có hiệu quả tốt trong điều trị bệnh phân trắng lợn con
Nước sắc 1/10 toàn cây đỉnh lãng lá nhỏ ( 10 phần rễ,
10 phần cây, 10 phần cành lá) có khả năng chữa khỏi 100% bệnh phân trắng lợn con trong thời gian 4 - 4,5 ngày với liều 6
ml/con/ngay
Lộ
Trang 16- Nước sắc I/I lá cây đỉnh lăng lá nhỏ có khả năng chữa khỏi 100% bệnh phân trắng lợn con trong thời gian 3,25 ngày với liều I,5ml/kg thể trọng/ngày
- Rượu thuốc 1/1 lá cây đỉnh lăng lá nhỏ có kả năng chữa khỏi 100% bệnh phân trắng lợn con trong thời gian 2,8 ngày
với liều 0,9 ml/kg thể trọng/ngày
Tác giả đã so sánh với các lô điều trị bằng Tetracycline, Streptomycine, cho thấy các lô được dùng chế phẩm dinh lăng
lá nhỏ có tỷ lệ còi cọc thấp hơn, trọng lượng sau cai sữa cao hơn Điều này nói lên tính ưu việt của các kháng sinh thực vật
so với các kháng sinh tổng hợp hóa học trong điều trị bệnh phân trắng lợn con
Trần Minh Hùng và cộng sự (198I) đã tiến bành nghiên cứu hoạt chất kháng sinh Palmatin chiết suất từ cây Hoàng ding (Vibruarea tin(oria thuộc họ Phong ký Menispermaceae) điều trị bệnh phân trắng lợn con Theo tác giả, hoạt chất Palmatin chiết suất từ cây Hoàng đăng có tác dụng ức chế sự sinh san cia vi khudn E.coli và một số tụ cầu khuẩn Hoàng đằng có tác dụng đối với cả hội chứng viêm nhiễm dường tiêu hóa và bệnh phân trắng lợn con
Palmatin ở dạng tiêm có hiệu quả diều trị 85,6%, ở dang nước sắc với hàm lượng 0,2g/ml có hiện quả điều trị 82,4% với liều Ig/con và với dạng thuốc viên hoặc dạng cao đặc, hiệu quả điều trị 84,2% với liêu 50mg/con
l6“
Trang 17Trần Công Khánh (1983) đã tiến hành nghiên cứu đề tài "
Thuốc phòng chữa bệnh phân trắng lợn con " thuộc chương trình sinh thái học phục vụ nông nghiệp đã tạo ra được chế phẩm Pexulin từ cây cỏ trong nước dưới dạng viên nén dường kính 9mm Thuốc Hexulin có tác đụng chữa bệnh phân trắng
lợn con, tỷ lệ khỏi bệnh trung bình dạt 70 - 80%
Nguyễn Phước Tương và Iloàng Sỹ Hùng (1986) đã sử dụng các bào chế từ cây vàng dắng (Cossinium fenestratum Gaerin Colebre thuộc họ tiết đê - Menis permaceae) trong điều trị bệnh phân trắng lợn con và bệnh ỉa chảy ở lợn Theo tác giả các dạng chế phẩm từ cây vàng dắng (cao đặc, berberin clorua và Tanaber) đều có khả năng chữa khỏi bệnh phân trắng lợn con trong thời gian trung bình từ 2,75 đến 3,29 ngày, chữa bệnh ỉa chảy thông thường 2,95 đến 3,12 ngày Liều diều trị khỏi bệnh đối với bệnh phân trắng lợn con của berberin clorua, Tanaber B, Tanaber A và cao đặc vàng dắng tương ứng là 20,
24, 26 vA 212me/kg thé trọng/ngày Tỷ lệ còi cọc của lợn con sau khỏi bệnh thấp hơn nhiều so với diều trị bằng Purazolidon
Như vậy các chế phẩm kháng sinh thực vật có thể thay thế các kháng sinh tổng hợp hóa học trong việc phòng và trị bệnh lon con phan trắng Các kháng sinh có nguồn gốc thực vật có
ưu việt hơn các loại kháng sinh tổng hợp bóa học ở chỗ lợn con sau khi khỏi bệnh có tỷ lệ còi sọc thấp hơn Nghiên cứu theo hướng thuốc nam chữa bệnh phân trắng lợn con cần dược tiếp tục, đặc biệt là về liều lượng và quy trình sử dụng, bởi vì
Trang 18không ft cic trường hợp, sau một thời gian ngắn điều trị có hiệu quả, lợn mắc bệnh trở lại
IHiện tượng loạn khuẩn dường ruột cũng đã dược phát hiện trong bệnh phân trắng lợn con Vũ Văn Ngữ và Lê Kim Thao (1982) cho biết nếu tính số lượng trung bình của E.coli trong
Lg phan, thi ở lợn lành là 3.29.106 và gần gấp đôi so với lợn bệnh (182.106 ) Điều này nói rằng bệnh phân trắng lợn con là hậu quả của sự loạn khuẩn, tức là mất thế quân bình về khu hệ
vi khuẩn đường ruột, ảnh hưởng xấu đến tiêu hóa và hấp thu các chất.dinh dưỡng Tác giả cho rằng, yếu tố hàng đầu gây loạn khuẩn ở lợn con là khí hậu, thời tiết, chế độ ăn uống của lợn mẹ và vệ sinh chuồng nuôi Dé điều trị bệnh phân trắng lợn con, tác giả đã sử dụng chế phẩm vị sinh sống Subcolac do
khoa vệ sinh y học của bệnh viện Bạch Mai sản xuất Subcolac
thực chất là một loại treo gồm 3 loại vi khuẩn sống Bacillus
subtilis, Lactobacillus acidophilus va E.coli Khi vào cơ thể
các vi sinh vật này cung cấp ngay các men cần thiết cho sự tiêu hóa bình thường, và đần thiết lập lại sự cân bằng vi khuẩn, chỉ ở ruột Liều điều trị từ 3-5ml Subcolac/con trong thời gian
từ 3 -5 ngày Liều phòng bệnh † - 2ml/con trong thời gian 2 - 3 ngày Theo tác giả thì subeolae có tác dụng hơn hẳn các loại kháng sinh hiện dùng như Tetracycline, Chlorocid Subcolac làm giảm tỷ lệ tái phát, tỷ lệ tử vong, và lợn con sau khi khỏi bệnh không còn bị còi cọc, mức tăng trọng tốt
Trang 19Vi khuẩn E.coli 1a một trong những tác nhân chủ yếu gây bệnh phân trắng lợn con Chính vì vậy, hiện nay việc nghiên cứu chế tạo vacxin E.eoli cho uống phòng bệnh phân trắng cho lợn con đã được đặt ra Năm 1993 đã xuất hiện công trình công
bố về vấn đề này của Lê Văn Tạo và cộng sự trong tạp chí Nông nghiệp và Công nghiệp Thực phẩm Tác giả đã xây dựng được quy trình công nghệ sản xuất vacxin E.coli cho uống Vacxin F.coli cho uống dược sản xuất từ các giống E.coli chọn
từ các giống phân lập được từ lợn con bị bệnh mang các yếu tố gây bệnh di truyền bằng Plasmid, nuôi cấy theo phương pháp
lên men Sau khi đạt độ vi khuẩn 15 - 3.8.1010 vị khuẩn/ml, đạt
hiệu giá kháng nguyên Kss 1/64 - 1/128, cho lợn con uống liều [-2ml/con, 5 lần trong 5 ngày liên tục Liều đầu sau khi đẻ 2 giờ, có thể giảm tỷ lệ phân trắng lợn con so với đàn không dùng vacxin từ I1,8 đến 33%, và giảm tỷ lệ chết từ 3,7 đến 13,7% Nếu tính theo chỉ số hiệu lực vacxin thì đạt 72,89% Bảo quản loại vacxin này dễ dàng (tong điều kiện nhiệt độ bình thường sau 6 tháng vẫn giữ được tác dụng phòng bệnh
Nghiên cứu sản xuất Aulo-vacxin với các chủng loại E.coli 026, Bo, O111, Ba, 0139, Ks2an, O142, Bs6 và các chủng
Streptococcus dysgalactiae, Proteus minabilis, Pseudomonas
acruginosa đã được thực hiện và đưa vào áp dụng trong thực tiễn phòng bệnh ỉa chảy ở lợn con sơ sinh (Cao Chí Nguyên - 1992) Tiêm phòng cho lợn cen với liều I-1.5ml auto-vacxin, mỗi ngày l lần trong 3 ngày liền, hiệu quả diều trị đạt 100%
Trang 20Trong việc phòng và trị bệnh phân trắng lợn con thì Biolactyl đông khô cũng có kết quả tốt Theo Lê Công Tiến và Trần Thị Thu (1991) lợn con 2 ngày tuổi nếu cho uống Biolactyl thì tỷ lệ bệnh phân trắng lợn con giảm từ 70% còn 13,10% và những con mắc bệnh đều ở thể nhẹ Nếu dùng liều điều trị thị bệnh khỏi trong vòng 2-3 ngày Dùng Biolacty! kết hop voi Streptomycin ngay dau tién thi dat két qua tét hon Lon không bị còi cọc, không rối loạn tiêu hóa như khi dùng kháng sinh lâu ngày Điều quan trọng là Biolactyl đã được sản xuất trong nước, rẻ hơn so với Biolactyl nhập ngoại
Trong số các chế phẩm vi sinh góp phần điều trị bệnh ïa chảy và không tiêu sữa ở các loài gia súc phải kể đến chế phẩm sản xuất từ PB.Subtilis của Nguyễn Như Viên (1976) Bacillus Subtilis được cấy vào môi trường đậu tương tạo ra được kháng sinh Các chất kháng sinh trong dịch lọc canh trùng B.Subtilis ức chế sự phát triển của nhiều ví khuẩn gây bệnh gram(+) và gram(-) các chất này bảo quản ở pH = 4-4,5; nhiệt độ 0-4C đựng trong ống hàn kín, sau 4 tháng vẫn giữ được hoạt tính kháng sinh ‘
Mot quy luat " khing hoang ” trong sinh lý lợn con ở 4 tuần tuổi đầu tiên là xuất hiện hội chứng thiếu máu do thiếu sắt (e??), Henning A (1984): Đái Duy Ban, (1980); Hội chứng
này làm cho lợn con còi cọc suy dinh dưỡng tới 25%, lại kèm theo hội chứng ỉa phân trắng, gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi lợn ở nước ta Việc nghiên cứu sản xuất Dextran-le và
Trang 21nghiên cứu tác dụng của nó trong phòng và trị bệnh phân trắng lợn con đã được tiến hành, Đinh Bích Thủy (1990), Hoàng Văn
Dự, (1993), Trần Minh Hùng và cộng sự (1984)
Điều lý thú là ở những lợn con phan trắng hàm lượng y- globulin thường giảm thấp, nhưng sử dụng Dextran-Fe lại nâng cao được hàm lượng y-globulin trong máu của lợn con mắc bệnh, do đó số bệnh phân trắng lợn con giảm xuống từ 86% còn 36%, tỷ lệ nuôi sống từ 82% tăng lên 96% Theo Đinh Bích Thủy (1990), Dextran-Fe có tác dụng hạn chế được bệnh phân trắng lợn con trong 3 tuần đầu, nâng cao được tỷ lệ nuôi sống
va tăng trọng lượng so với đối chttng I- 1,1 kg
Tóm lại điểm qua tình hình nghiên cứu trong nước có thể thấy rõ các nhà khoa học đã tiến hành các công trình nghiên cứu trong nước hoặc ra nước ngoài nghiên cứu trong lĩnh vực phòng chống bệnh phân trắng lợn con đã:
1/ Bám sát thực tiển về nguyên nhân và tình hình phát triển ở nước ta (bệnh xảy ra quanh năm, nhưng tập t:ìng vào các tháng mưa nhiều, nhiệt độ tấp, ẩm độ cao, thời tiết thay đổi đột ngột), cơ thể lợn con chưa phản ứng kịp thời với những thay đổi của môi trường do hệ thần kinh, nội tiết chưa phát triển hoàn chỉnh Hậu quả là cơ thể lợn con bị rối loạn trao đổi
chất, thiếu máu, tổn thương và rối loạn hệ tiêu hóa, chủ yếu là tiêu hóa sữa, mở đường cho các loại vi khuẩn, virus tấn công
nhất là các Serotyp có độc lực cao phát triển mạnh trong đường tiêu hóa của lợn con, làm cho bệnh càng trầm trọng dẫẪn tới tử vong.
Trang 222/ Nghiên cứu theo nhiều hướng căn cứ vào các nguyên nhân và quá trình diễn biến của bệnh, dã đưa ra hàng loạt các giải pháp gồm nhiều sinh phẩm và thuốc (từ thuốc nam đến các vacxin phòng chống bệnh, dến các chế phẩm nâng cao sức đề kháng chung của cơ thể lợn con mắc bệnh ) Những kết quả đạt được trong thực tiên chăn nuôi là rất khích lệ, hạn chế và ngăn chặn tức thời sự phát triển của bệnh, mặc đầu đến nay vẫn chưa có một loại thuốc đặc hiệu diỀu trị bệnh phân trắng lợn con (Có lúc, có nơi sau khi điền trị lợn con lại tái nhát bệnh phân trắng) Có lẽ cần có những nghiên cứu sâu ở mức dộ phân
tử và di truyền miễn địch, di vào cơ chế bệnh sinh và tác dụng của thuốc, kết hợp với những nghiên cứu tổng hợp ở tầm vĩ mô đưa ra các biện pháp phòng chống tổng hợp đối với bệnh phân trắng lợn con Do thiếu trang thiết bị hiện đại, vì hoàn cảnh kinh tế của đất nước sau những năm chiến tranh, nên những
nghiên cứu cơ bản về cơ chế sinh bệnh chưa sâu, cơ chế tác
dụng của các sinh phẩm thuốc diều trị còn nhiều hạn chế Những kết quả nghiên cứu mới về bệnh phân trắng lợn con đã được phản ánh trong công trình nghiên cứu của các nhà khoa học các nước trong khu vực và trên thế giới
Trong các tạp chí khoa học thế giới, những năm gần đây xuất hiện hàng loạt các công bố phát biện yếu tố Rotavirus trong bệnh phân trắng lợn con, trong chăn nuôi lợn ở Thụy Điển (Sorderlind.O et al - 1988: Tạ Thị Vịnh - 1991) ở Nhật
Ban (Nakazawa ef al - 1987), 4 Brazil (Gatti MSV et al - £989)
i) iV
Trang 23Các tác giả đã phân lập Rotavirus từ phân của bệnh ph.n trắng lợn con nhờ các phương pháp diện di thường và điện di trên gen poliacrilamid, sau đó định lượng, định tính bằng các phương pháp hiện đại như hiển vi điện tử, hiển vi điện tử miễn dịch, phương pháp cenzym miễn dịch và huỳnh quang miễn dich (Malicki K et al -1990) Tiến hành những nghiên cứu về mức độ phá hủy cấu trúc vi thể của hệ thống nhung mao, vi nhung mao, của các tế bào niêm mạc ruột ở lợn con mắc bệnh Theo kết quả nghiên cứu của Tạ Thị Vịnh (1991), Chsey l) et
al , (1989) những biến đổi cấu trúc vi thể lớp niêm mạc ruột thể hiện rõ rệt nhất ở các phân đoạn ruột tá trầng, không tràng
và hồi tràng Các nhung mao ruột bị co lại, dinh nhung mao phình to do hiện tượng dính kết các nhung mao lại với nhau Các tế bàơ niêm mạc biến dạng từ hình trụ bình thường sang hình vuông hoặc dẹt, niêm mạc thoái hóa và bị bong ra từng mảng Nhiều tế bào đơn nhân thâm nhiễm vào lớp đệm của nhung mao Tế bào bạch cầu đa nhân không phổ biến nhưng một số rãnh liberkhun có bạch cầu da nhân trung tính thâm nhiễm
Các vi huyết quản đưới lớp niem mạc có xung huyết nhẹ, đặc biệt có tế bào ái (toan thâm nhiễm Ilạ niêm mạc bị phù nhẹ Trong tế bào biểu mô ruột của một số lợn bệnh còn phát hiện thấy isospora suis ở các giai đoạn phát triển
¿Những kết quả trên phù hợp với bức tranh về cấu trúc và
vi cấu trúc niêm mạc ruột non bị phá hủy trong trường hợp mắc bệnh ỉa chảy ở gia súc (nhung mao ruột bị biến dạng, dãn hoặc
Trang 24co ngắn, bề mặt biểu bì bị thoái hóa và thay thế bằng các tế bào biểu bì hình khối Các tuyến 1jberkhun giảm số lượng, các nang bạch huyết tăng huyết tương Dưới kính hiển vị điện từ thấy hệ thống vi nhung mao bị thương tổn) Hàng loạt các enzym tiêu hóa bị ức chế: Tripxin, Chemotripxin, Cacboxypeptidaza, Amilaza, lipaza, Leuxinopepidaza, ) Cũng vì vậy mà một số lượng lớn các chất protein, dường, chất béo đi thẳng xuống hồi tràng và kết tràng mà không kịp phân hủy và hấp thu trong không tràng (Nguyễn Tài Lương, 1981)
„Có thể khẳng định rằng những biến đổi về cấu trúc vi thể
của lớp niêm mạc ruột non và sự ức chế của các enzym dã ảnh
hưởng trực tiếp đến quá trình hấp thu các chất dinh dưỡng qua
tế bào niêm mạc ruột vào máu Ở lợn con mắc bệnh phân trắng kém hấp thu : lipit nước và các vitamin A, D, F, K dẫn tới những biến đổi bệnh lý như viêm niêm mạc cản trở hấp thu sắt, dẫn tới thiếu máu, lợn con bị còi cọc chậm lớn và giảm sức
đề kháng (Tạ Thị Vịnh 1993)
Mặc dầu sự phát hiện lotavirus là yếu tố mới gây bệnh phân trắng lợn con và sẽ dẫn tới những biện pháp mới trong việc bảo vệ đàn lợn con sơ sinh và ở giai đoạn bú sữa, song vi khudn Escherichia Coli vd4n là yếu tố quan trọng của bệnh phân trắng ở lợn con Chính vì vậy mà I:.coli vẫn là đối tượng được nhiều tác giả trong và ngoài nước fẬp trung nghiên cứu nhiều hơn và sâu hơn cả, thậm chí ở mức độ đi truyền học phân tử (Nakazawa M., [986-1987; Johornsen U., 1986; Rroes A.,
Trang 251988: Chasey T.A., 1990; Lund A., 1991; Ollson E., 1986: )
Những nghiên cứu này phục vụ cho các mục tiêu xây dựng các quy trình công nghệ sản xuất các vacxin hữu hiệu phòng chống bệnh phân trắng lợn con và quy trình sử dụng các vacxin đó
Người ta đã nghiên cứu các đặc trưng phenotyp và genotyp của E.coli gây độc tố đường ruột, Serotyp 08 : KXI05
và 05 : KX"2829" phân lập được từ lợn con bị bệnh ia chảy (Broes A et al, 1988) Nghiên cứu các Serotyp không thông thường của E.coli phân lập được từ bệnh phân trắng lợn con ở
miền Bắc Tây Ban Nha (Suarez S et al 1988), của Indonexia
(Supa, Hirst RG, Patn B.E., 1991) Nghiên cứu xác định kháng nguyên Kss và các chủng E.coli sản sinh độc tố đường ruột phân lập từ bệnh phân trắng lợn con Ba Lan (Osek J., Svenerholm A.M, 1991) Nghiên cứu trong điều kiện in vitro su bám dinh dưỡng của các kháng nguyên Kssab, Kssac , và Kssad đương tính của E.coli lên nhung mao ruột, các tế bào chén và hồng cầu ở lợn con bú sữa (Cox I, Houvenaghel A, 1987) Cũng cần phải nhấn mạnh rằng không phải tất cả các giống E.coli phân lập được từ bệnh phân trắng lợn con đều có thể sử dụng
để sản xuất vacxin, mà chỉ chọn lọc một số giống đáp ứng đầy
đủ một số tiêu chuẩn sau đây :
- Kha nang sinh kháng nguyên bám dính Kss
- Khả năng sản xuất độc tố đường ruột
- Khả năng dung huyết
Khả năng kháng sinh
Trang 26Vấn đề không kém phần quan trọng là tiến hành nghiên cứu vai trò phòng bệnh của kháng nguyên Kss trên động vật bao gồm các khâu xác định khả năng bám dính và xâm nhập của Kss dối với E.coli gây bệnh, xác dịnh khả năng tạo miễn dịch tại chỗ chống sự bám dính và xâm nhập của Kss đối với E.coli gây bệnh trong các trường hợp dưa vacxin vào cơ thể lợn con thông qua đường uống Cũng cần nhấn mạnh thêm là để hạn chế yếu tố E.coli gây bệnh phân trắng lợn con, việc tạo ra các vacxin phòng bệnh gồm các Serotyp KNO của E.coli, tiêm cho lợn mẹ tạo miễn dịch chủ động cho lợn con bằng kháng thể truyền qua sữa có hiệu quả không cao Bởi vì nhitng E.coli chi gây bệnh khi mang các yếu tố gây bệnh tiếp nhận được trong quá trình phát triển của chủ thể và khả năng này thường không kéo dài quá một tuần từ sau khi sinh Chính vì vậy việc nghiên cứu sản xuất vacxin E.coli để đưa vào cơ thể của lợn con bằng đường uống đã đặt ra trong những năm gần dây Việc dánh giá tính hiện quả của các vacxin chống bệnh phân trắng lợn con đã được nhiều tác giả nghiên cứu một cách nghiêm túc (Trus ZcrynskiM., Closek D., I986) Phát hiện các mạng lưới thụ cảm đặc biệt (receptor) của F.coli sinh độc tố đường ruột bền nhiệt (St(a)) để xác định tính nhạy cảm của lợn con đối với
bệnh phân trắng (Saecd A., M et al, 1987 va Michael Olive,
1989) sản xuất và đánh giá các kháng thể đơn dòng kháng
kháng nguyên bám dính K88 tạo ra bởi E.coli sản sinh độc tố
đường ruột ở lợn con (Thorn J., et al 1987)
Trang 27Từ các tài liệu tổng quan trong 20 năm qua, đặc biệt là những năm gần đây đã dẫn ở trên có thể nhận định rằng do nhiều nguyên nhân gây bệnh phân trắng lợn con, mà các hướng nghiên cứu khá phong phú đối với việc phòng và tkbệnh phân trắng lợn con Từ sử dụng các thuốc Dextran-Fe và kháng sinh tổng hợp, đến kháng sinh thực vật các bài thuốc nam chữa bệnh các kháng sinh từ vi sinh vật sử dụng y-globulin miễn dịch, các biện pháp chống loạn khuẩn đường ruột như chế phẩm vi sinh chống Subcolac, chế phẩm Biolactyl đông khô đến các nghiên cứu cơ bản sâu về các ching E.coli doc tố đường ruột, các Corona-virus hoặc Rotavirus để tạo ra các loại vacxin miễn dịch phòng và chống bệnh phân trắng lợn con Tuy nhiên tìm được một loại kháng sinh hoặc vacxin '
đa hiệu quả " dể chống dược các loại vi khuẩn, virus gây bệnh này là vấn đề chờ đợi trong tương lai Trong đó cần giải quyết tính " nhờn thuốc ” tức là khả năng đề kháng lại kháng sinh của vi khuẩn, và những tác dụng phụ đối với cơ thể gia súc khi
sử dụng vacxin miễn dịch Hơn nữa việc nghiên cứu phòng chống từng yếu tố riêng rẽ thực tê đả không mang lại hiệu quả cao Điều dó giải thích tại sao đến nay vẫn chưa có một loại thuốc đặc hiệu phòng và trị bệnh phân trắng lợn con Vì nguyên nhân bệnh phân trắng lợn con mang tính tổng hợp nên các biện pháp phòng chống mang tính chất tổng hợp có ý nghĩa quan trọng : chống lạnh, chống ẩm, chống thiếu máu, chống loạn khuẩn, chống F.coli, chống virus, trong đó chống lạnh, chống ẩm có ý nghĩa hàng đầu
T7
Trang 282.5 Ảnh hưởng của môi (rường không khí đến sức đề
kháng của cơ thể,
Như trên đã trình bày nhiệt dộ thấp, ẩm độ cao, đặc biệt
là khi thời tiết có mưa phùn và gió mùa Đông bắc, thì lợn con
bị mắc bệnh ia phân trắng hàng loạt ở các tỉnh phía Bắc nước
ta
Nhìn chung môi trường không khí có nhiều tác động đến
cơ thể súc vật (tác động nhiệt, hóa quang và chuyển động của gió) Tác động của nhiệt độ môi trường lên cơ thể tăng hoặc
giảm là do độ ẩm, sự chuyển động và mức độ ô nhiễm của không khí Các thông số của không khí phụ thuộc vào thời tiết,
áp suất không khí và mức độ ô nhiễm của nó
Điều chính nhiệt độ có ý nghĩa rất lớn đối với các chức
năng hoạt động sống của cơ thể Nhiệt độ xung quanh và sự
biến đổi nhiệt độ ảnh hưởng rõ rệt đến quá trình phát sinh điều tiết thân nhiệt, ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất của gia
súc non và trạng thái tự vệ của chúng Gia súc non do hệ thần
kinh chưa hoàn chỉnh, nên quá trình điều tiết yếu ớt và chỉ
hình thành dần trong quá trình lớn lên và phát triển của chúng
Cơ thể gia súc đòi hỏi nhiệt độ thích hợp mà chúng đã thích nghỉ để giữ được thân nhiệt cố định, giữ được chức nang hoạt động bình thường của các hệ và các cơ quan trong cơ thể
Từ những nghiên cứu về nhiệt độ trong các chuông trại nuôi bê người ta đã kháng dịnh nhiệt độ giữa trần và sàn không được
Trang 29khác nhan quá 2,5 - 3°C, giữa khí trời và mặt tường không quá 35C, Tuy nhiên tác động nhiệt độ lạnh đối với cơ thể gia súc trong các chuồng nuôi không có lò sưởi phải hợp lý dựa vào
“Ac điều kiện cụ thể Những nghiên cứu trên lợn con cần phải
nudi
Theo Tran Minh Himg (1994), sau khi lợn đẻ ra cần đảm
chưồng nnôi điều tiết vào khoảng 36- 372C là thích hợp Về vụ
Đông - xuân cần sưởi ấm cho lợn con bằng nhiều hình thức linh hoạt, tùy theo điều kiện của từng nơi, giữ độ ẩm trong chuồng khoảng 70-R0% là thích hợp Nếu độ ẩm quá cao trên 90% ta
có thể mở hết cửa sổ chuồng để thông thoáng, nếu độ ẩm thấp
nhằm làm tăng độ ẩm thích hợp Vụ Đông - xuân mưa phùn gió rét nên đốt lửa sưởi cho lợn con, ở nơi có điều kiện dùng lò sưởi điện
Không khí khê lạnh không có gió lùa và nhiệt độ ít thay
đổi sẽ lầm cho cơ thể được rèn luyện, gía súc ít chết vì các
bệnh khác Theo kết quả của lacusev V.I (1953), trong trường
hợp đó hệ mạch mán của da thích ứng đần làm giảm tác hại của
lạnh đối với cơ thể, tăng hô hấp, tăng trao đổi khí và năng
lượng, tăng sinh nhiệt, súc vật ăn ngon và nhiều thức an hơn, tiêu hóa tốt hơn, từ đó tạo điều kiện cho việc hình thành kha
2°
Trang 30năng tạo ra sản phẩm và sức đề kháng cao đối với các bệnh tật, sức diệt trùng của máu cao và tăng khả năng thực bào Trên cơ
sở đó người ta đã đề ra biện pháp rèn luyện cho gia súc chịu lạnh, đặc biệt là bê con Khi chúng được ăn dầy đủ thì dễ chịu lạnh và thích nghỉ nhanh Chúng tôi chưa thấy các nghiên cứu
tương tự trên lợn con
Tuy nhiên khi nhiệt độ quá lạnh, không khí không khô mà
có ẩm độ cao, thì cơ thể tỏa nhiệt lớn hơn tạo nhiệt Lúc này
thân nhiệt và quá trình oxy hóa trong mô bào giảm.Cơ thể bị tác động lạnh kéo dài sẽ làm giảm phản ứng miên địch, giảm số lượng bạch cầu và khả năng thực bào, giảm tính chất diệt trùng trong mau, nén gia suc dễ bị các vi trùng gây bệnh tấn công (Nicolxki, 1971)
Tác động nhiệt cục bộ có ý nghĩa lớn vì nó ảnh hưởng
không những chỉ ở cục bộ mà đến cả toàn thân của gia suc Kích thích lạnh từng phần của da sẽ ảnh hưởng rõ đến các vùng
da và niêm mạc khác Gây lạnh ở chân gia súc thì thấy nhiệt độ
ở các chỗ khác cũng giảm, nhất là niêm mạc đường hô hấp (Mascat M.E et al, 1935) Khi lam lạnh o da day, thi hoat
V.I va Beeman V.M., (1948); Dractruc G.V., (1972) làm lạnh
một phần da chuột bạch sau đó tiêm thuốc nhuộm và các loại
vi khuẩn Tác giả xác dịnh rằng tại các khu da bị tác động lạnh tập trung nhiều thuốc nhuộm và vi khuẩn Điều này chứng
30
Trang 31tỏ phản ứng miễn dịch của đa ở vùng bị lạnh có giảm sút Tuy
nhiên chưa thấy các nghiên cứu gây lạnh ẩm thực nghiệm trên lợn con
Tác động nhiệt độ thấp lên cơ thể thường phụ thuộc ẩm
độ và tốc độ chuyển động của gió Độ ẩm không khí tăng, gia
súc sẽ tăng tỏa nhiệt và càng dễ bị cảm lạnh Độ ẩm trong
chuồng thường thay đổi trong phạm vi 70-98% (dộ ẩm tương
đối) và phụ thuộc vào độ ẩm của không khí, độ ẩm do gia súc tiết ra, hơi nước bốc ra từ nền chuồng và thay đổi theo ngày và
mùa ảnh hưởng lên trao đổi nhiệt Không khí ẩm thấp ở nhiệt
độ thấp và trung bình sẽ hút nhiều nhiệt của gia súc Không khí
ở trong chuồng thường tích tụ NHI, H¿z§ gây độc dối với gia
súc và làm giảm sức đề kháng của cơ thể Hàm lượng I2§ trong
chuồng tối đa là 0,015 mg/I Hàm lượng NH3 và H2S là các chỉ
số trực tiếp đánh giá trạng thái vệ sinh chuồng trại (Nicolxki V.V, 1971)
Hầu hết tất cả các chuyên gia nghiên cứu về bệnh phân
trắng lợn con ở nước ta đều có một nhận dịnh chung " lạnh ẩm
là nguyên nhân hàng đầu của bệnh phân trắng lợn con và lạnh
ẩm đột ngột có thể là các stress của môi trường " Phạm Khắc
Hiéu, Nguyễn Thị Kim Lan (1979), trên cơ sở nghiên cứu kiểm (ra một số chỉ tiêu sinh lý hóa sinh của cơ thể lợn con mắc bệnh phân trắng so với các đặc trưng của Stress đã nhận xét ˆ trong cơ thể của lợn con bị mắc bệnh phân trắng có cơ chế tác
Trang 32động của tác nhân stress " Vì vậy chống lạnh và chống ẩm có
ý nghĩa quan trọng hàng đầu trong việc bảo vệ sức khỏe của đàn lợn con sơ sinh và ở tuổi bú sữa Nó bao gồm nhiều biện pháp như sưởi ấm, thông hơi, dọn dẹp sạch sẽ, dùng chất độn
có sức hút ẩm mạnh, vệ sinh cống rãnh Biện pháp chống lạnh, chống ẩm phải kèm theo các biện pháp chống vi khuẩn và virus gây bệnh Các vấn dé nay cần dược nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống
Trong những năm qua, chúng tôi đã tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố lạnh, ẩm của môi trường lên các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa của lợn con Nghiên cứu các biện pháp chống stress thời tiết bằng các chế phẩm hormon kết hợp dùng các vacxin E.coli và ổ sưởi điện phòng chống bệnh ỉa phân trắng lợn con (Phạm Gia Ninh, Sử An Ninh, Phạm Văn Khẩn, (1976) Sử An Ninh, Dương Quang Hưng, Nguyễn Đức Tâm, (1981), Sử An Ninh, (1992) Tìm hiểu tác động của stress lạnh
ầm và ACTH nhiệt độ và ẩm độ thích hợp phòng bệnh phân trắng cho lợn con (Sử An Ninh, 1991, 1992a, 1992b, 1993a, I993b.1994).Việc nghiên cứu hiệu quả sử dụng ACTII và prednisolon trong phòng bệnh phân trắng ở lợn con (Sử An Ninh, 1992) Điều lý thú là gần đây ở Mỹ cũng đã xuất hiện hướng nghiên cứu sử dụng hormon trong điều trị bệnh phân trắng lợn con Trên cơ sở các nghiên cứu sâu về vai trò của các hormon liên quan (Luvigsen J., 1957; Judge M.D., 1968; Donal R.A.,1968; Killian D.B., 1972; Marple D.N., 1972a, 1972b,
1973,1974; Dvorak M.,J972; Blatchford D.R., 1974; Aberle E.D.,
Trang 331976;Farve BB., 1977; ), trong công trình nghiên cứu của hội sinh lý tiêu hóa Mỹ (American Gastroenterology Association), tap thé cdc tac gid gdm: Rhoads J.M., Macleod R.J., Hamilton
J.R., 1988 đã nghiên cứu hiệu quả của Glucocorticoid véi
những liều lượng khác nhau của Methylprednisolon lên cấu trúc của niêm mạc ruột non, hoạt tính của các enzym tiêu hóa, khả năng hấp thu và vận chuyển màng ruột một số muối khoáng quan trọng ở lợn con bị nhiễm Coronavirus Rõ ràng là vấn đề nghiên cứu khắc phục các yếu tố bất lợi của thời tiết, môi trường đối với cơ thể gai súc non mang tính thời sự và hiện thực trong lĩnh vực bệnh lý học động vật sơ sinh
Xuất phát từ tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước kể trên, chúng tôi đề ra nhiệm vụ cho mình là nghiên cứu các chỉ tiêu sinh lý sinh hóa huyết học, nước tiểu và hình thái đại thể một số tuyến nội tiết ở lợn con mắc bệnh phân trắng trong mối liên quan với môi trường lạnh ẩm tự nhiên ở các tỉnh phía Bắc nước ta, và trong điều kiện gây lạnh ẩm thực nghiệm Trên cơ
sở những kết quả nhận dược nghiên cứu tìm các biện pháp thích hợp góp phần phòng chống bệnh phân trắng lợn con nhằm nâng cao tỷ lệ nuôi sống và đạt sản phẩm con giống tốt
2.6 Các chỉ tiêu sinh lý sinh hóa huyết học với trạng
thái sức khỏe và sức đề kháng tự nhiên của lợn
Bằng phương pháp xét nghiệm máu thông thường, cho phép dánh giá trạng thái sức khỏe của cơ thể và khả năng tự
33
Trang 34vệ của cơ thể gia súc dưới ảnh hưởng của các điều kiện của môi trường và sự tấn công của các vi khuẩn virus gây bệnh trong máu vi khuẩn có thể bị ngưng kết hoặc tan ra, hoặc máu làm yếu vi khuẩn, tạo điều kiện cho bạch cầu làm nhiệm vụ thực bào Ngày nay nhờ các công trình nghiên cứu, đã xác định bạch cầu không chỉ có chức năng thực bào, mà trong bạch cầu còn có chất lơkin ức chế sự phát triển của nhiều loại vi khuẩn Ngoài ra đã chiết từ hồng cầu chất kháng sinh eritrin có khả năng tiêu điệt hàng loạt các vi khuẩn Đã phát hiện thận sản xuất critropoetin là chất kích thích tạo hồng cầu trong tủy xương Đời sống của hồng cầu là 63 ngày (Jensen và cộng tác viên, 1956) Số lượng hồng cầu và huyết sắc tố có mối liên quan thuận, phụ thuộc nhiều yếu tố như tuổi, giống, khí hậu, chế độ dinh dưỡng, trạng thái sinh lý và bệnh lý ở lợn con Đại bạch lúc sơ sinh có tổng số lượng hồng cầu 6,85 + 0,20 triệu/ImmÊ máu, đến tuổi cai sữa 7,08 + 0,35 triéu/ Imm” máu (Ullerey và cộng tác viên, 1960) Giống lợn Ï có số lượng hồng cầu thấp hơn Đại bạch, ở lợn I lúc sơ sinh 5,65 + 0,12
triệu/Imm? máu, đến 3 tháng tuổi số lượng là 5,55 + 0,06
triệu/ 1mm máu.( Cù Xuân Dần, 1983) Ở lợn vào các vụ Xuân
- hè có số lượng hồng cầu cao hơn các vụ Thu - đông, cá thể
dự :e có số lượng hồng cầu và huyết sắc tố cao hơn cá thể cái Các thức ăn nuôi lợn giàu protein, khoáng vitamin thì số lượng
hồng cầu và huyết sắc tố cao (Powell L.W., 1972) Trong thực
tế có tới 50% lợn con sơ sinh hàm lượng huyết sắc tố chỉ đạt 6g trong 100 ml mau, đến ngày thứ 2l sau khi sinh, lượng
34
Trang 35huyết sắc tố máu giảm xuống thấp nhất, sau đó tăng dần và đạt
ở mức bình thường ở ngày thứ 50 Nguyên nhân của bệnh thiếu máu ở lợn con là dự trữ sắt trong gan quá ít, và nồng độ sắt trong sữa mẹ thấp Cho nên trong nuôi lợn con bú sữa phải bổ sung sắt, bằng cách cho uống hoặc tiêm Để ngăn ngừa hiện tượng ngộ độc Fe** cho lợn con, cần bổ sung vào khẩu phần thức ăn của lợn mẹ vitamin E một ngày trước khi tiêm Dextran-
Fe (50 mg) hoặc đồng thời với việc tiêm Dextran, cần cho thêm chất chống oxy hóa antioxydan-etoxichinon từ 50-100 mpg/l
đầu con (Henning A.,1984)
Trong trường hợp lợn mắc bệnh phân trắng số lượng hồng cầu và huyết sắc tố giảm phụ thuộc vào mức độ nhiễm bệnh và thời gian phát triển bệnh Theo Cù Xuân Dần (1986), thì số lượng hồng cầu và hàm lượng huyết sắc tố ở lợn giảm đần theo tuổi và giảm thấp nhất ở ngày tuổi thứ 20, còn ở lợn con phân trắng giảm thấp hơn nữa trong cùng thời gian đó
Bạch cầu có số lượng ít hơn hồng cầu Trung bình cứ
1000 hồng cầu thì gặp | bach cau Chie nang cla bach cầu là bảo vệ cơ thể chống nhiễm khuẩn và ngộ độc Các nhà huyết học phân biệt 5 loại bạch cầu:
Bạch cầu có hạt gồm 3 loại (bạch cầu trung tính, bạch cầu
ái toan và bạch cầu ái kiềm) và bạch cầu không có hạt gồm 2
Trang 36loại (lâm ba cầu (lymphocyte) và bạch cầu đơn nhân (monocyte))
Bạch cầu trung tính, trong bào tương của chúng có hạt nhỏ và nhân có 2 dạng: khi còn non (nhân có hình ống hoặc hình gậy), khi trưởng thành nhân chia thành 2-5 đốt) Bạch cầu trung tính có thể nuốt tới 25 vi khuẩn Trong các trường hợp viêm nhiễm số lượng bạch cầu tăng mạnh Đời sống của bạch cầu chỉ 2-3 ngày (Sisina IU.G., 1967)
Bạch cầu ái toan tham gia vào các phản ứng bảo vệ thuộc loại dị ứng miễn dịch, có liên quan tới Histamin Bạch cầu này tăng trong trường hợp bệnh lý ký sinh trùng đường tiêu hóa, hen xuyễn , giảm trong các trường hợp nhiễm độc và tiêm ACTH
Bạch cầu ái kiềm chứa một số men, histamin và heparin Chúng có khả năng gắn các IgE (reazin) trên màng tế bào có phản ứng với các kháng nguyên Bạch cầu ái kiềm tăng trong
các bệnh ung thư, thiếu máu và viêm mãn tính
Lâm ba cầu : các tế bào gốc được tạo ra từ tủy xương,
lách, hạch lâm ba gọi là lyphocyte gốc (M), phát triển thành 2
nhóm tế bào : I nhóm từ tủy xương di tới tuyến ức (Thymus) và được biệt hóa thành tế bào T, ra ngoài biên trở thành T- Iympho Nhóm này diều khiển miễn dịch tế bào Nhóm khác di
36
Trang 37chuyển tới amidan, hạch Iympho ruột thừa, mảng Payer và trở thành nhóm tế bào B ra ngoài biên trở thành B-Iympho Nhóm này điều khiển miễn dịch thể dịch Lymphocyte B khi tiếp xúc với T thì mới được hoạt hóa và trở thành kháng thể Lâm ba cầu tăng trong bệnh bạch cầu limpho, lao, sởi, thời kỳ thoái lui của bệnh nhiễm khuẩn, giảm trong bệnh thương hàn, sốt phát ban
Ở các giống lợn nội có số lượng bạch cầu cao hơn lợn ngoại Lợn ÏỈ có số lượng bạch cầu bình quân 19 - 20 nghin/imm? máu, ở lợn đại bạch 10,5 - I1 nghìn/ImmÖ máu
Số lượng bạch cầu ở lợn vào các vụ Hè - thu cao hơn các vụ Đông - xuân (Trần Cừ và cộng tác viên, 1979)
Ở giai đoạn sơ sinh số lượng bạch cầu thấp, và tăng cao ở tuổi trưởng thành Đó là hiện tượng thích nghỉ, nhất là trong điều kiện nóng ẩm ở nước ta, do mật độ cảm nhiễm cao, vào các vụ Đông - xuân, gió rét mưa phùn lợn con thường mắc bệnh phân trắng, số lượng bạch cầu giảm mạnh hơn so với lợn con bình thường ở lợn con bình thường giảm dần theo tuổi (Cù Xuân Dần, 1966)
Các chỉ tiêu sinh lý, hóa sinh huyết học ở lợn nội, lợn ngoại nhập và lợn lai dã được nhiều tác giả trong nước nghiên cứu : chỉ tiêu sinh lý máu lợn ỉ từ sơ sinh đến tuổi cai sữa (Trần Cừ, 1974) Các chỉ tiêu sinh hóa lợn i (Lê Khác Than,
37
Trang 381982) Chỉ tiêu huyết học của lợn Móng Cái 1-8 tuần tuổi (Trần
Cừ, 1972) Các dạng hemoglobin trong quá trình phát triển cá thể của lợn ỉ Nam Hà (Đặng Hữu Lanh, 1979) Biến đổi huyết sắc tố bào thai thành huyết sắc tố trưởng thành ở lợn Lang hồng Hà Bắc (Hoàng Dán, 1979) Các chỉ tiêu sinh lý hình thái mau Ign Cornwall (Ct Xuan Dan, Dinh [Wong Luan, Vi Van Chiến - 1983) Chỉ số chọn lọc năng suất sinh sản lợn Móng Cai va i (Dang Vũ Bình, 1993) Các chỉ tiêu sinh lý hình thái máu các giống lợn nội, lợn ngoại nhập và lợn lai (Phạm Đức
Lộ, Đỗ Đức Việt, 1982) Tuy nhiên những nghiên cứu về các chỉ tiêu sinh lý huyết học ở lợn con mắc bệnh phân trắng, nghiên cứu còn ít ỏi và chưa có hệ thống
Có thể nói rằng sức đề kháng tự nhiên của cơ thể trước hết phụ thuộc vào chế độ ăn uống, dinh dưỡng Ở lợn con phân trắng do không tiêu hóa được sữa mẹ nên sức đề kháng tự nhiên của cơ thể suy giảm Khẩu phần thức ăn theo tuổi nếu được cân đối đầy đủ các thành phần đạm, đường, vitamin, các nguyên tố đa vi lượng sẽ làm tăng sức đề kháng của cơ thể Gia súc bị đói đạm sẽ làm giảm sức đề kháng của cơ thể và dễ mắc bệnh viêm phổi, giảm sức đề kháng với bệnh phó thương hàn, Brucellose và các bệnh khác Đồng thời giảm sức đề kháng do đói đạm lại liên quan tới việc tiêu thụ nhiều đạm mô bào kể cả globulin miễn dịch (Nicolski
V.V.,1971) Co thé gia súc có tới 60 nguyên tố đa, vi
lượng, trong số đó Zn, Cu, Co, Mn giữ vai trò đặc biệt
Trang 39quan trọng Thiếu muối khoáng sẽ làm rối loạn quá trình khử chất độc, rối loạn trao đổi nước, rối loạn tiêu hóa và gây nên nhiều biến đổi khác Tất cả những điều
đó làm giảm sức đề kháng ở gia súc đặc biệt gia súc non và tạo điều kiện cho sự phát triển của nhiều bệnh nguy hiểm Muối Na”, K†* giữ vai trò đảm bảo áp suất
thẩm thấu của tế bào và quá trình trao đổi nước Sức lớn của gia súc non đòi hỏi nhiều muối khoáng đa, vi lượng, các chất đó chỉ l5 ngày sau khi đẻ đã thiếu trong sữa Vì vậy nhiều tác giả trong và ngoài nước đã chú ý đến việc cung cấp cho gia súc các muối khoáng hỗn hợp Vitamin là nhóm hữu cơ lớn, gia súc chỉ cần một lượng rất nhỏ, nhưng chúng đóng vai trò kích thích sinh học trong các phản ứng trao đổi chất và tất cả các quá trình sống của cơ thể Thiếu vitamin A gây những biến đổi niêm mạc ruột, giảm tiết dịch tiêu hóa, giảm tác dụng diệt trùng gây bệnh Thiếu vitamin D gia súc
bị còi xương Thiếu vitamin C sẽ giảm khả năng tạo kháng thể và trung hòa chất độc, gia súc dễ mắc bệnh phổi và đường tiêu hóa Nó là một vitamin ảnh hưởng mạnh lên quá trình oxy hóa, hồi phục và tổng hợp, kích thích và điều khiển các phản ứng trao đổi chất, chức năng của từng hệ thống như võng mạc, hệ có vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo vệ cơ thể khỏi nhiễm trùng Vitamin C cần thiết trong việc tạo hormon hướng thượng thận và kích thích sinh kháng thể diệt
Trang 40trùng và kháng độc tố Khi thiếu vitamin C phản ứng của cơ thể đối với mầm bệnh bị giảm đi rõ rệt Giảm phản ứng bạch cầu toàn thân cũng như hiện tượng thực bào Nhiều tác giả đã khẳng đỉnh rằng vitamin nhóm B giữ vai trò quan trọng trao đổi chất và các quá trình oxy hóa và ảnh hưởng đến sức đề kháng của cơ thể, hiện tượng thực bào của bạch cầu giảm
Như vậy rõ ràng là các yếu tố dinh dưỡng ảnh hưởng lớn đến sức đề kháng tự nhiên của cơ thể gia súc (Lê Doãn Diên, Nguyễn Lân Dũng - 1974; Đái Duy Ban
- 1980)
Vai trò của hormon rất quan trọng trong điều hòa quá trình sinh kháng thể Kháng nguyên tác đụng lên men của tế bào để tạo ra globulin và từ đó tạo ra kháng thể đặc hiệu Trong cơ thể, các lymphocyte, plasmocyte, monocyte chủ yếu tập trung ở tuyến ức,
mà tuyến này hoạt động mạnh ở gia súc non Ngoài ra, cortison (hormon kích thích trao đổi protein) ức chế phản ứng tương bào và ức chế tạo kháng thể trong các mạch lâm ba khu vực Mặt khác desoxycor-ticosteron
và hormon thận (hormon tác động không chuyển hóa
protein) kích thích phản ứng tương bào và sản sinh ra
kháng thể của m6 lam ba (Nicolski V.V.,1971) Những kết quả nghiên cứu đó đóng góp cho việc hình thành
40