1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phương hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp tỉnh hòa bình

157 487 1
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phương Hướng Và Những Giải Pháp Chủ Yếu Nhằm Chuyển Dịch Cơ Cấu Kinh Tế Nông Lâm Nghiệp Tỉnh Hòa Bình
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
Chuyên ngành Nông Lâm Nghiệp
Thể loại Bài Luận
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 157
Dung lượng 10,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn thạc sĩ, tiến sĩ, cao học, luận văn

Trang 1

LÂM NGHIỆP TỈNH HOÀ BÌNH

Chuyên ngành: Kinh tế, quản lý và kế hoạch hoá Kinh tế quốc dân

(Kinh tế nông nghiệp)

LA 404/96)

LUAN AN PHO TIEN SY KHOA HOC KINH TE

Ngudi huéng dan khoa hgc : ;

1 PHAM TH] MY DUNG PTS Kinhtế

2 NGUYEN NGUYEN CU PTSKinhtế

HÀ NỘI-1996

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

2, Mục đích của dé tai

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4 Phương pháp nghiên cứu

Chương I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ

NÔNG LÂM NGHIỆP

1.- Cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

1- Khái niệm về cơ cấu kinh tế

2- Tính chất và đặc trưng của cơ cấu kinh tế

3 Những nhan tố ảnh hưởng đến sự hình thành cơ cấu kinh tế

4 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

II Cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp và chuyển dịch cơ cấu

kinh tế nông lam nghiệp

1, Kinh tế nông lâm nghiệp và vai trò của nó trong nền kinh tế

quốc dân

2, Cơ cấu kinh tế nông lam nghiệp và các bộ phận của nó

3, Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nóng lam nghiệp

HI Các kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông

lâm nghiệp

1 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp của

các nước trong khu vực

Trang 3

3 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp của

một số tỉnh miền núi Tay Bắc

IV Các chỉ tiêu thể hiện cơ cấu kinh tế và chuyển dịch

cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp

Chương 2 'THỰC TRẠNG VÀ QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH

'TẾ NÔNG LÂM NGHIỆP TỈNH HOẢ BÌNH

1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của tỉnh hoà bình

1 Điều kiện tự nhiên

2 Điều kiện kinh tế - xã hội

3 Các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội đặc trưng theo vùng

của tỉnh Hoà Bình

4 Các lợi thế và hạn chế

II Quá trình chuyển địch cơ cấu kinh tế tỉnh Hoà Binh

1 Thực trạng kinh tế của tỉnh từ sau ngày tách tỉnh

2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Hoà Bình

II Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp tỉnh

Hoà Bình

1- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp

2 Chuyển dịch cơ cấu sẵn xuất nông nghiệp và các bộ phận

của nó

3, Chuyển dịch cơ cấu sẵn xuất lâm nghiệp

4 Thực trạng công nghiệp và dịch vụ có quan hệ với nông

lâm nghiệp

5 Đánh giá chung về kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông

lam nghiệp của tỉnh Hoà Bình

82

89

93

95

Trang 4

CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG LÂM NGHIỆP

TINH HOA BINH

I Phương hướng và mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế

nông lâm nghiệp tỉnh Hoà Bình

1 Một số quan điểm chủ đạo trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế

nông lâm nghiệp tỉnh Hoà Bình

2 Phương hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp

tỉnh Hoà Bình

3 Một số mục tiêu phát triển nông làm nghiệp của tỉnh tới

nam 2000

4 Dự báo cơ cấu kinh tế nông lam nghi¢p t6i nam 2000

Il Những giải pháp chủ yếu nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh

tế nông lam nghiệp tỉnh Hoà Bình cho tới nim 2000

1 Xây dựng các vùng sản xuất nông lam nghiệp tập trung

2 Xây dựng và nàng cấp cơ sở hạ tầng

3 Tang cường nghiên cứu khoa học công nghệ và đào tạo cán bộ

4 Phát triển nông lâm nghiệp gắn với công nghiệp chế biến

5 Gần việc tổ chức sản xuất nông lâm nghiệp với thị trường tiêu

thụ nông lâm sén

6 Giải pháp về vốn

7 Cơ chế và chính sách

KẾT LUẬN TAI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Nên kinh tế của mỗi nước đều được tạo thành từ 3 nhóm ngành: nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ Tuỳ trình độ phát triển của mỗi nước

mà bộ phận nào trong đó sẽ chiếm tưu thế nhưng theo quy luật chung của

sự phát triển thì nông nghiệp phải có tỷ trọng ngày càng giảm di Muốn

chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung thì với các nước đang phát triển như Việt Nam phải tập trung trước hết vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lâm

nghiệp

Sdn xuất nông lam nghiệp của tỉnh Hoà Bình chiếm tỷ lệ lớn trong

tổng thu nhập quốc dân và dân số toàn tỉnh Nhìn chung sẳn xuất nông,

lâm nghiệp hiện nay còn mang nặng tính tự cung, tự cấp, năng suất cây trồng, vật nuôi thấp, đời sống nông dân còn nhiễu khó khan với 25% số hộ

nông dân ở diện đói nghèo Để dưa nông lam nghiệp phát triển theo hướng

sẵn xuất hàng hoá trong cơ chế kinh tế nhiều thành phần, việc chuyển dịch

cơ cấu kinh tế là một vấn để cốt lõi quyết định sự phát triển nông lâm nghiệp, từng bước cải thiện đời sống nhân dân đồng thời tạo điêu kiện dể phát triển công nghiệp, du lịch, nhất là du lịch sinh thái và các ngành kinh

tế khác trong tỉnh Những năm gần đây đã có một số nghiên cứu cũng nhĩr

hội thảo về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp của Hoà Bình nhưng nói chung các nghiên cứu này vẫn chưa mang tính hệ thống và chưa gần được lý luận với thực tiễn Việc tính toán các chỉ tiêu cũng chưa thực

sự khoa học Chính vì lẽ đó chúng tôi chọn để tài "Phương hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lam nghiệp tỉnh Hoà Bình" làm để tài luận án Đây là một để tài có tính cấp bách và quan

Trang 6

của một tỉnh miễn núi :

2 MỤC ĐÍCH CỦA ĐỂ TÀI

~ Lâm rõ cơ sở lý luận về cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp và chuyển

địch cơ cấu kinh tế nông lam nghiệp

~ Đánh giá thực trạng cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp Từ đó rút ra những điểm mạnh, điểm yếu của cơ cấu kinh tế nông lam nghiệp hiện nay

~ Nghiên cứu quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp trong thời gian qua và khái quát hoá các nhóm nguyên nhân ảnh hưởng tới

chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp của Hoà Bình

~ Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp tỉnh Hoà Bình cho tới năm 2000

3 ĐỐI TƯỢNG VẢ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

~ Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu cơ cấn kinh tế nông lâm nghiệp

và quá trình chuyển dịch nó Nghiên cứu các nguyên nhan ảnh hưởng tới quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp trong thời gian qua

~ Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành trên phạm vỉ toàn tinh, 3 vùng sinh thái va mot số tiểu vũng điển hình từ thời kỳ tách tỉnh tới nay

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Ngoài các phương pháp nghiên cứu chung có tính chất phương pháp

luận, để tài chủ yếu sử dụng cúc phương pháp sau:

~ Phương pháp thống kê kinh tế để thu thập, xử lý và phân tích thông tin

Số liệu được thu thập đưới 2 dạng Thứ nhất là số liệu sơ cấp từ việc kiểm kê, đánh giá nguồn lực, kết quả sắn xuất kinh doanh nông lâm nghiệp

Trang 7

dùng cho việc đánh giá chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời gian qua

Các số liệu đã được xử lý theo phương pháp phân tổ như từ các ngành cấp 1, cấp 2 đã phân thành các ngành cấp 3, các nhóm ngành

Các chỉ tiêu phân tích chủ yếu là chỉ tieu số bình quan, chÏ tiên tốc

độ phát triển, chỈ tiên cơ cấu

~ Phương pháp phan vùng sinh thái kết hợp chọn lát cất trên bản đồi

và thực địa để chọn điểm nghiên cứu

Dựa vào việc phân loại các điểu kiện sinh thái như đất nước, khí

hau, địa hình, thẩm thực vật, động vật để chia tỉnh Hoà Bình ra 3 vùng sinh thái từ đồ có định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế cho từng vùng

'Từ một lát cắt Bắc Nam trên bẩn đổ và khảo sát thực địa chọn ra

các điểm nghiên cứu nhằm kiểm tra một số mô hình s4n xuất nông lâm nghiệp tiến bộ

~ Phương pháp nghiên cứu hệ thống để nghiên cứu các quan hệ trong, sẵn xuất nông lâm nghiệp và quan hệ của sẵn xuất nông lâm nghiệp với môi trường xung quanh

Khi phân tích cơ cấu kinh tế hoặc đưa ra các giải pháp về chuyển

dịch cơ cấu kinh tế đều đặt trong mối quan hệ ràng buộc với các bộ phận xung quanh Nông lâm nghiệp là một hệ thống con của hệ thống kinh tế

cổ tỉnh nên việc chuyển dịch nó vừa có tác dụng tới hệ thống chung nhưng lại phải chịu sự chỉ phối của hệ thống chung

- Phương pháp đánh giá nông thôn nhanh có sự tham gia của nông

dân để kiểm tra các nhận định, các đề xuất.

Trang 8

được các kinh nghiệm sẩn xuai, lý do sẵn xuất khác nhau giữa mỗi vùng

và thấy đươc khổ năng áp dụng các hệ thống sẩn xuất nông lâm nghiệp mới

~ Phương pháp cân đối và dự đoán kinh tế để để ra phương hướng chuyển dịch cơ cấấu kinh tế nông lâm nghiệp

Các cân đối chủ yếu được để cạp đến là cân đối giữa mục tiêu và

Trang 9

NÔNG LÂM NGHIỆP 1- CƠ CẤU KINI TẾ VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ

1- Khái niệm về cơ cu kinh tế

‘Tren quan điểm hệ thống, cơ cấu là một trong những khái niệm cơ bắn của lý thuyết hệ thống Cu cấu là hình thức cấu tạo bên trong của một

hệ thống, bao gồm sự sắp xếp vị trí của các phần tử và các phân hệ có trong hệ thống cùng các mối quan hệ tác động và rằng buộc giữa chúng Sau một thời gian biến đổi các quan hệ giữa các phản tử và phân hệ sẽ làn cho cơ cấu của hệ thống thay đổi, nó chuyển sang một trạng thái khác vẻ chất hay trổ thành một cơ cất: khác [4] Khái niệm cơ cấu có vai trò cực kỳ quan trọng trong nghiên cứu hệ thống Hiểu biết cơ cấu của một hệ thống

là hiểu biết quy luật sinh ra các phân tử, các phân hệ của hệ thống Nếu biết được cấu trúc của toàn bộ liệ thống thì sẽ nghiên cứu được quy luẠt để

xác định các vấn để có tính định lượng của hệ thống Nếu chỉ biết một phân cơ cấu của hệ thống thì vấn để nghiên cứu hệ thống có tính định tính Phải tập trung quan sát các cơ cấu có thể quan sát được, rồi bằng cách biến đổi hệ thồng để phát triển những cơ cấu đã bị che dấu [4]

Hệ thống kinh tế quốc dân có các đặc điểm sau: là hệ thống mở, phức tạp, động, đa cấu trắc, phân cấp, tự điêu chỉnh và bị điều khiển Các đầu vào của hệ thống kinh tế quốc dân là các nguồn lực tự nhiên, nguồn lao động, nguồn vốn, trình dộ thông tin, trình độ quản lý và khoa học kỹ thuật, mức độ và cấp tự chủ, trình độ kiến trúc hạ tầng, quan hệ sẳn xuất, các thời cơ vận hội có thể có Các đâu ra là tái sẵn xuất quan hệ xã hội, tái sẩn xuất mở rộng sức lao động, tái mở rộng và củng cố thượng tầng

Trang 10

Co cấu của hệ thống kinh tế quốc dân gồm: cơ cấu sản xuất (xét ở góc độ giá trị sẩn phẩm xã hi), cơ cấu tổ chức (xét ở góc độ giá trị sử dụng), cơ cấu quần lý (xét ở góc độ quần lý) và cơ cấu tâm lý xã hội (xét ở góc độ tâm lý tình cẩm con người) [4]

Cơ cấu kinh tế của một nước là những mối liên hệ giữa các bộ phận hợp thành nên kinh tế của nước đó như các lĩnh vực (sẳn xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng), các ngành kinh tế (công nghiệp, nông nghiệp, ngư nghiệp, giao thông vận tải), các thành phân kinh tế (quốc doanh, tập thể, tư nhân), các vùng kinh tế Ở mỗi vùng, mỗi ngành lại có cơ cấu kinh tế riêng của mình tuỳ theo điều kiện tự nhiên, xã hội, kinh tế cụ thể

“Trên phạm vi cẳ nước cơ cấu kinh tế là biểu hiện tập trung của chiến lược kinh tế - xã hội Một cơ cấu kinh tế hợp lý phải phẩn ánh sự tác động của các quy luật phát triển khách quan Vai trò của yếu tố chủ quan chỉ là thông qua nhận thức ngày càng sâu sắc những quy luật đó mà phân tích, đánh giá những xu thế phát triển khác nhau để tìm ra những phương án thay đổi cơ cấu có hiệu quả cao nhất trong những điều kiện cụ thể của đất nước Mọi ý định chủ quan, nóng vội hay bảo thủ trong việc tạo ra sự thay

đổi cơ cấu thường dẫn đến hậu quả không nhỏ đối với nên kinh tế [10]

“Trong cơ cấu kinh tế có sự thống nhất giữa lực lượng sẩn xuất và quan hệ sẵn xuất Theo Mác: cơ cấu kinh tế của xã hội là toàn bộ những quan hệ phù hợp với một quá trình phát triển nhất định của các lực lượng sẵn xuất vật chất Do tổ chức quá trình lao động và phát triển kỹ thuật một cách mạnh mẽ mà làm đảo lộn toàn bộ cơ cấu kinh tế của xã hội Vì thế có

thể hiểu cơ cấu kinh tế là tổng thể các mối quan hệ chủ yếu vẻ chất lượng,

Trang 11

hội với những điều kiện kinh tế - xã hội và thời gian nhất định [10]

Như vậy cơ cấu kinh tế hiểu một cách đầy đủ là một hệ thống kinh tế bao gồm nhiêu yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhan, tác động qua lại lẫn nhau trong những không giau và thời gian nhất định, trong những di kiện kinh tế xã hội nhất định Nó dược thể hiện cả vẻ mặt định tính và định lượng phù hợp với mục tiêu được xác định của nền kinh tế, Cơ cấn kinh tế

mà còn mang tính chất lượng thể hiện sự ràng buộc giữa quan hệ san xuất

và lực lượng san xuất

Cơ cấn kinh tế muốn phát huy tác dụng phải có một quá trỉnh, một thời gian nhất định Thời gian đó đài hay ngắn là tuỳ thuộc trước tiên vào đặc điểm của từng loại cơ cấu kinh tế Tuy nhiên cơ cấu kinh tế không cố định lau dài mà phải có các chuyển dịch cẩn thiết thích hợp với sự biến động của diễu kiện tr nhiên kinh tế xã hội Sự duy trì quá lau hoặc sự thay đổi quá nhanh chóng cơ cấu kinh tế không dựa vào những biến đổi của điểu kiện tự nhiên, kinh tế xã hội đều gây nên những thiệt hại về kinh tế, Việc duy trì hay thay đổi cơ cấu kinh tế không phải là mục tiêu mà chỉ là phương tiện của việc tăng trưởng và phát triển kinh tế Vì vậy có nên biến

Trang 12

nào Hiểu được điều này là câu

của mỗi nước, mỗi vùng, mỗi địa phương và mỗi đơn vị sẵn xuất Từ các

iết cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế

phân tích trên có thể đưa ra khái niệm về cơ cấu kinh tế như sau:

Cơ cấu kinh tế là tổng thể các mối quan hệ vẻ chất lượng và số lượng, tương đối ổn định của các bộ phận kinh tế trong điểu kiện thời gian

và không gian nhất định nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao [27]

2- Tính chất và đặc trưng của cơ cấu kinh tế

Nhằm nêu lên các nét đặc trưng của cơ cấu kinh tế, trước hết phải

xem xét tính chất cơ bản của cơ cấu kinh tế, đó là: cơ cấu kinh tế có tính khách quan và mang tính lịch sử, xã hội nhất định Như vậy khi nhìn nhận

một cơ cấu kinh tế phải có phương pháp luận cốt lõi của chủ nghĩa Mác -

Lê nin, chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

Vì có tính khách quan nên nó phải hình thành, tổn tại và phát triển

theo quy luật khách quan Con người chỉ có thể vạn hành nên kinh tế trên

cơ sở tuân theo quy luật khách quan của nó Con người cũng không thể áp đặt cơ cấu kinh tế một cách giáo điển cho mọi nơi, mọi lúc vì nó có tính lịch sử và xã hội nhất định Nền kinh tế chỉ phát triển khi các bộ phận của

quá trình tái sẩn xuất xã hội giữ được mối liên hệ can đối Mỗi phương

thức sin xuất có những yêu câu về số lượng và tỷ lệ cân đối khác nhau do

các quy luật kinh tế đặc thù mà trước hết là các quy luật kinh tế cơ bản của phương thức sẳn xuất đó Ngay trong cùng một hình thái kinh tế - xã hội nhưng ở những nước khác nhau thì cơ cấu kinh tế cũng khác nhau do điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau quy định Cơ cấn kinh tế thường biến động gắn với sự phát triển không ngừng của bẩn thân các yếu tố, bộ phận trong,

Trang 13

quan trọng của quá trình tái sản xuất trong đó có vấn dé co cấu kinh tế, chỉ khi nào giải quyết thông suốt những vấn để đó thì toàn bộ quá trình sản xuất mới diễn ra trôi chẩy

Phân tích kỹ hai tính chất trên của cơ cấu kinh tế, có thể nêu lên các đặc trưng chủ yếu của cơ cấu kinh tế là:

- Cơ cấu kinh tế là một phạm trù khách quan Vì vậy không thể áp đặt một cách chủ quan một cơ cấu kinh tế, cũng không thể nóng vội với

"phong trào" Chuyển dịch cơ cấu kinh tế để được dán nhãn là thức thời, tiến bộ trong khi điêu kiện khách quan chưa cho phép Sự nóng vội của người có trọng trách nhỏ sẽ ảnh hưởng đến kinh tế của một đơn vị sản xuất, một làng, xã; nhưng nó sẽ tai hại hơn nếu do sự nóng vội của những người có quyên lực cao Nói như vậy cũng không phải là rụt rè, kim him chuyển dịch cơ cấn kinh tế để chờ kinh nghiệm của người di trước

~ Cơ cấu kinh tế phải bảo đảm mối quan hệ cân đối đồng bộ giữa các

bộ phận kinh tế nằm trong một tổng thể bao gồm hệ thống lớn, hệ thống vừa, hệ thống nhỏ gắn với nhau chặt chẽ [27] Trong cơ cấu kinh tế, các yếu tố, các bộ phận kinh tế không tách rời một cách độc lập mà liên hệ với nhau hết sức chặt chẽ theo những quy luật đặc thù riêng

Một cơ cấu kinh tế có thể bao gồm nhiều bộ phận kinh tế khác nhau,

có bộ phận kinh tế chủ yếu, có bộ phận kinh tế thứ yếu xếp theo thứ tự ưu tiên khác nhau Bộ phận kinh tế chủ yếu có thể được gọi là bộ phận kinh tế then chốt, mũi nhọn quyết định chiêu hướng, quy mô và nhịp độ phát triển của công nghệ và các chính sách tr tiên Sự tổn tại của bộ phận kinh tế then chốt, mũi nhọn xuất phát từ nguyên tắc lợi thế so sánh của bộ phận

Trang 14

kinh tế này so với bộ phận kinh tế khác để đạt hiện quả cao với các nguồn lực hạn chế [42] Việc phân tán vốn đầu tư cho tất cả các bộ phận kinh tế

sẽ đi ngược lại nguyên lắc hiệu quả, còn nếu quá tập trung vào một bộ

phận kinh tế lại gây ra sự mất can đối của cơ cấu kinh tế, đôi khi còn dẫn

đến nên kinh tế què quặt, thiếu hụt giả tạo

~ Cơ cấu kinh tế không cố định mà có sự điêu chỉnh và chuyển dịch

điêu kiện kinh tế - xã hội và tiến bộ khoa học công nghệ để đẩm bảo quy mô và nhịp điệu phát triển kinh tế Mặt

cho thích hợp với sự biến đổi cá

khác cơ cấu kinh tế phải tương dối ổn dinh dé dai bảo sự phù hợp với quá trình hình thành và phát triển khách quan của nó Nếu cơ cấu kinh tế luôn

thay đổi sẽ không ổn định trong sẳn xuất, sẽ không ổn định trong trang bị, trong việc đâu tư vào các nghiên cứu phát triển công nghệ sản xuất Việc chạy đua theo chuyển dịch cơ cấu thường xuyên còn tạo ra một sự lúng

túng trong định hướng thị trường tiêu thụ sẩn phẩm

- Cơ cấu kinh tế không khép kín mà ngày càng mở rộng trong quá trình phân công và hợp tác lao động giữa các ngành, các vùng, các đơn vị kinh tế trong nước và trên phạm vi quốc tế Một cơ cấu kinh tế tự cung tự cấp, tự sản, tự tiêu là một cơ cấu kinh tế lạc hậu đi ngược lại với quá trình phân công hiệp tác và sẽ kém hiệu quả [27]

- Cơ cấu kinh tế được hoàn thiện trong quan hệ hiệp tác và cạnh tranh theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Trong quá trình phát triển, các ngành kinh tế các vùng kinh tế và các đơn vị kinh tế phải lựa chọn cho mình một cơ cấu kinh tế hợp lý để đạt hiệu quả kinh tế cao

“Trong quá trình đó các ngành kinh tế, các vùng kinh tế phải hợp tác với nhau trên nhiều mặt như xây dựng cơ cấu hạ tâng, hố trí sẩn xuất, áp dụng khoa học công nghệ, tiêu thụ sản phẩm Mặt khác cũng phải cạnh tranh với

Trang 15

nhau trong việc bố tri sin xuất, nâng cao năng suat va chat lugng sin phẩm Như vậy cơ cấu kinh tế không chỉ có quan hệ gắn bó hỗ trợ nhau mà còn có quan hệ loại trừ để hoàn thiện Khi nghiên cứu mối quan hệ hỗ trợ

này phải đặt trong một mô hình kinh tế cụ thể Mỗi mô hình kinh tế sẽ có

sự lựa chọn sử dụng nguồn lực hiếm hoi theo cách riêng của mình

“Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, tất cả sự lựa chọn ba vấn dé co bẩn: sẵn xuất cái gì, sẳn xuất như thế nào và sén xuất cho ai đêu do Nhà nước giao chỉ tiên pháp lệnh cho các ngành, các địa phương và cơ sổ sản

xuất kinh doanh

Cơ chế

¡ trường giải quyết ba vấn đê kinh tế cơ bẩn qua hoạt động

của quan hệ cung câu, quan hệ cạnh tranh, giá cả thị trường Lợi nhuận sẽ

là dong cơ cao nhất kích thích sự hình thành cơ cấn kinh tế Như vậy nến

để cho "bàn tay vỏ hình" của thị trường điểu khiển dẫn dắt thì các quan hệ

tỷ lệ trong cơ cấu kinh tế sẽ không tránh khổi sự lộn xộn, tuỳ tiện

Để khắc phục nhược điểm của cả 2 cơ chế kinh tế trên, hiện nay nhiều nước trên thế giới lựa chọn cơ chế kinh tế hỗn hợp để tạo nên một cơ cấu kinh tế hợp lý Cơ chế hỗn hợp trước hết dòi hỏi phát triển các quan hệ cung câu, cạnh tranh, tôn trọng vai trò của giá cả thị trường, lấy lợi nhuận làm mục tiêu và động cơ phấn dấu Mặt khác nó cũng dòi hỏi phải tăng cường vai trò và sự can thiệp của Nhà nước Nước ta phát triển kinh tế theo

cơ chế thị trường dưới sự quản lý của Nhà nước Đó là một định hướng cho việc xác định cơ cấu kinh tế hợp lý

3 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành cơ cấu kinh tế

Mỗi cơ cấu kinh tế chịu tác động của một số nhân tố khác nhau, theo

các mức độ và chiều hướng không đồng nhất Tổng hợp các nhân tố riêng

Trang 16

rẽ thành các nhóm nhân tố đặc trưng sẽ có ý nghĩa cho việc nghiên cứu Có thể tóm tắt thành các nhóm nhan tố sau [10]: ,

+ Các nhân tố địa lý - tự nhiên (như tài nguyên khoáng sản, nguồn nước, nguồn năng lượng, đất đai, khí hận)

Ở vị trí địa lý khác nhau và vùng khí hậu khác nhau thì việc xác lập

eơ cấu kinh tế cũng phải khác nhau Cơ cấu kinh tế của một nước, bao giờ

cũng dựa trên ưu thế địa lý và khí hậu của nước đó Có các nguồn tài

nguyên khoáng sẩn hay không, có nhiền hay ít, sẽ ảnh hưởng tới việc tạo

ra cơ cấu kinh tế Một điều phải liết sức chú ý là nhóm nhân tố này tồn tại

khách quan do sự sắp đặt của tự nhiên Trong nghiên cứu kinh tế một số

trong chúng được coi là các biến không theo quy luật " Random" Nhiều

khi các biến này lại làm thay đổi cơ cấu kinh tế ngoài ý muốn của con

người

+ Các nhân tố kinh tế - xã hội bên trong mỗi nước

Các dạng hoạt động của con người cũng như kết quả của những hoạt động đó là do nhu cầu của con người quy định Trong nên sẩn xuất

Trong các nhân tố kinh tế xã hội cân lưu ý mấy điểm sau:

~ Nhan tố về phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ thể hiện qua phương pháp sản xuất, cơ sở hạ tầng để tạo ra một cơ cấu kinh tế phù hợp với nó

~ Nhân tố về con người có ý nghĩa quyết định trong việc hình thành

cơ cấu kinh tế Cơ cấu kinh tế mang tính khách quan nhưng sự hình thành.

Trang 17

nó nhanh hay chậm, hợp lý hay không hợp lý lại do tác động chủ quan Con người là yếu tố động nhất, cách mạng nhất trong lực lượng sản xuất xã hội Mot dan tộc muốn mở mang phát triển phải có những con người có

văn hoá, có trí tuệ Cơ cấu kinh tế hợp lý được đánh giá bằng sự ting

trưởng và phát triển toàn diện nên kinh tế xã hội, mà trước hết phẩi do sự tác động của con người có trí tuệ [69]

~ Nhan tố về phong tục tập quán và truyền thống dân tộc cũng ảnh hưởng không ít đến sự hỉnh thành cơ cấu kinh tế, Đay là nhân tố vừa có

tính chất thúc đẩy vừa mang tính chất kìm hãm Ở đâu phong tục tập quán

lạc hậu thĩ cơ cấu kinh tế cũng lạc hậu Ở nơi có lối sống tiến bộ, hiện đại thì cơ cấu kinh tế cũng ở mức cao, tiến bộ

+ Các nhân tố kinh tế đối ngoại và phân công lao động quốc tế Tính đa dạng của nhu cẩu và sự khác nhau về điểu kiện sẩn xuất ở mỗi nước đồi hỏi phải có sự trao đổi kết quả hoạt động với bên ngoài ở

mức độ và phạm vi khác nhau Quá trình tham gia vào phân công lao động quốc tế dưới nhiễu hình thức sẽ tăng khả năng thích ứng và phù hợp với cơ cấu của nên kinh tế thế giới và khu vực

Trong điều kiện tự cung tự cấp và nên kinh tế ít giao lưu với bên ngoài thì cơ cấu kinh tế có tính tương đối "trơ" so với các diễn biến ở ngoài biên giới Hiện nay giao lưu quốc tế rộng rãi do có hệ thống kinh tế mổ, do

sự bùng nổ của công nghệ thông tìn, phân công lao động quốc tế ở mức

cao thì các yếu tố bên ngoài có vai trò ngày càng lớn Nghiên cứu cơ cấu kinh tế mà không nhìn ra bên ngoài thì thật phi lý và chủ quan

4 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trang 18

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình làm thay đổi cấu trúc và các mối liên hệ của một nên kinh tế (lieo một chỗ đích và phương hướng nhất

định [9] Phân tích khái niệm trên qua may khia cạnh:

+ Cuuyển dịch cơ cấu kinh tế là một quá trình nên không thể có một

cơ cấu kinh tế nào hoàn thiện mãi mãi mà cơ cấu kinh tế luôn luôn vận động, biến đổi và phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Sự: phát triển và chuyển hoá cơ cấu kinh tế cũ sang cơ cấu kinh tế mới đòi hỏi phải có thời gian và trải qua những thang bạc nhất định của sự phát triển Đâu tiên là những sự biến dồi về lượng và khi lượng đã tích luỹ tới một độ nhất định tất yếu sẽ dẫn tới sự thay đổi về chất Đó là quá trình chuyển hoá

cơ cấu kinh tế cũ thành cơ cấu kinh tế mới phù hợp hơn và cô hiệu quả hơn Sự chuyển hoá đó không phải trong chốc lát có được mà phẩi có thời

gian Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ tuỳ thuộc vào nhiều nhân tố

Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế không thể tự phát mà con người có thể và phải tác động Điều cơ bản là con người phải biết tác động vào khâu nào Lê Nin đã nói: "Trong mỗi giai đoạn đặc biệt cần lìm ra các mắt xích và chuẩn bị để chuyển sang mắt xích kế bên" [66] Rõ ràng sự can thiệp của con người phải trên cơ sở nhận thức được các quy luật vận

động khách quan để tác động tlieo đúng các mục tiêu đã hoạch định

+ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải theo một chủ đích và phương

hướng nhất định Nước ta đang chủ trương phát triển một nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trong quá trình vận hành này có thể xẩy ra hai xu hướng Một xu hướng chuyển dịch có định hướng đúng đấn, một xu hướng khác là tự phát (59] Đưa ra một chủ đích và phương hướng chuyển dịch đúng sẽ hạn chế được xu hướng thứ hai.

Trang 19

+ Chuyển địch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá: Trong lịch sử phát triển kinh tế hàng hoá lâu dài của loài người đã trải qua 6 lên chuyển dịch cơ cấu kinh tế mới đạt đến trình độ kinh tế thị trường như ngày nay ở các nước công nghiệp phát triển Nền kinh tế thị trường hiện đại và dịch vụ phát triển cao Đó là nên móng hạ tầng của chủ nghĩa tư bẩn ngày nay [60]

“Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá [3] là nhiệm vụ hàng đâu trong thời gian tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá là quá trình làm biến đổi nên kinh tế từ chỗ có cơ cấu chủ yếu là nông nghiệp lạc hậu sang cơ cấu kinh tế nông nghiệp - công nghiệp và dịch vụ hiện đại Đó là quá trình làm tăng thêm tốc độ và tỷ trọng của sẳn xuất công nghiệp gắn liên với đổi mới căn ban về công nghệ, tạo nên tẩng cho sự tăng trưởng, hiệu quả cao

và lâu bền của toàn bộ nền kinh tế quốc dân

II CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG LÂM NGHIỆP VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU

KINH TẾ NÔNG LÂM NGHIỆP

1 Kinh tế nông lâm nghiệp và vai trò của nó trong nên kinh tế

quốc dân

Nông nghiệp là điểm xuất phát đầu tiên của nên sản xuất xã hội Từ

những bước sơ khai gieo trồng, nuôi gia súc phục vụ cho nhu câu gia đình

đến nay nó đã chiếm một pham vi lớn trên thế giới

C6 những cách hiểu khác nhau về thuật ngữ kinh tế nông nghiệp Nếu theo nghĩa rất hẹp thì kinh tế nông nghiệp chỉ gồm sản xuất trồng trọt, chăn nuôi Khi còn thông qua trồng tỉa lương thực và chăn thả gia súc để lấy sản phẩm sinh sống thì phạm trà ngành sắn xuất chưa được đặt ra Cho tới cuộc phân công lao động lân thứ nhất, chăn nuôi đã bắt đâu được tách

Trang 20

ra khổi trồng trọt Và mãi sau cuộc phân công lao động xã hội lần thứ hai,

công nghiệp mới tách khổi nông nghiệp Với phạm vi hẹp này thì ở nhiêu

nước phát triển tỷ trọng ngành nông nghiệp sẽ rất bé nhỏ Ví dụ nước Mỹ

chỉ c6 gần 3% lao động nông nghiệp, 2% dân số nông nghiệp và nông nghiệp chỉ mang lại gần 2% sẵn phẩm quốc dân [5]

“Theo nghĩa rộng, nông nghiệp là một tổ hợp các ngành kinh tế sinh

học cụ thể trong lĩnh vực nông - lam - ngư nghiệp được hình thành trên cơ

sở phân công lao động xã hội và trình độ sản xuất Đến một trình độ nhat

định cho phép tách các nhóm sản phẩm hoặc các sản phẩm thành các

ngành kinh tế cụ thể tương dối doc lap nhưng lại gắn bó hữu cơ với nhan trong quá trình phát triển các thứ ngành, tiểu thứ ngành sản xuất trong lĩnh: vực nông nghiệp với qui mô phát triển của mình, kết hợp hữu cơ với nhau

tạo nên cơ cấu ngành nông nghiệp [66] Với quan niệm này thì nông nghiệp sẽ là ngành có liên quan với các cơ thể sống ở trên cạn, dưới nước

và cẢ trên không Nó có thể là nuôi trồng đánh bất, chan thả các cơ thể

sống và thu lại các sẩn phẩm tươi sống hoặc chÏ qua sơ chế sơ cấp

Hai cách quan niệm trên về kinh tế nông nghiệp mới dừng lại ở khía cạnh sẵn xuất ra sẳn phẩm nông nghiệp thô Nông nghiệp theo nghĩa hẹp

là một quan niệm đã ăn sâu vào tiêm thức con người đặc biệt là ở các nước lac hau Néng nghiệp theo nghĩa rộng cũng đã dẫn dân được biết đến Ở 'Việt Nam, quan niệm kiểu này được xâm nhập vào từ sau khi chuyển sang

cơ chế thị trường và ngày càng có nhiêu người biết đến

Hiện nay một quan niệu mới mẻ và toàn điện hơn về ngành nông nghiệp đã xuất hiện vì người sẩn xuất nông nghiệp cùng vận hành trong cơ chế thị trường với quá trình tích tụ, tập trung liên kết trong việc đầu tư vốn

để tìm kiếm lợi nhuận từ kinh doanh nông nghiệp Một hệ thống đồng bộ

Trang 21

từ cung ng đâu vào, sẵn xuất ở các trang trại chế biến, bẢo quẩn và phân phối nông sẵn tạo ra một bức tranh toàn cảnh về lĩnh vực kinh tế này nên không ngạc nhiên khi thấy con số nông nghiệp Hoa Kỳ chiếm gần 21% lao động cả nước và sẵn xuất 18% giá trị sản phẩm quéc dan [5]

Từ đó có thể rút ra hai kết luận: Một là ngành nông nghiệp được

định nghĩa như là một hệ thống từ cung ứng đầu vào, sản xuft, chế biến, bảo quản và phan phối sản phẩun và là một bộ phan lớn cña nền kinh tế quốc dân Hai là sản xuất nông nghiệp thuần tuý chỉ là một bộ phận rất

nhỏ của nên kinh tế Từ kết luận thứ nhất nên trong khi đánh giá tình hình

lương thực và nông nghiệp thế giới tổ chức nông lương của Liên hiệp quốc

(FAO) đều điểm qua các khâu sẳn xuất, chế biến, buôn bán, tiêu dùng [48]

Ở nước ta cho tới nay mọi nghiên cứu về nông nghiệp đang tập trung vào kết luận thứ hai Dù theo khái niệm nào thì vai trò của nông, lâm nghiệp cũng là cơ sở cho sự phát triển xã hội nên nó yêu cầu các bô phận khác của nén kình tế phải có các tác động thích đáng nhằm tạo ra một cơ cất nông, lâm nghiệp hợp lý

2 Cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp và các bộ phận của nó

+ Cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp là một bộ phận của cơ cấu kinh tế chung, là sự thể hiện của cơ cấu ngành trong một nên kinh tế rộng lớn Nó vừa chịu sự chỉ phối, rằng buộc của cơ cấu kinh tế chung vừa thể hiện các

đặc thù của một ngành sẳn xuất lấy sinh vật sống làm đối tượng tác động

và sin phẩm của nó lại có tính phổ biến để mọi nơi mọi nhà, mọi lứa tuổi

déu biết đến Xã hội càng phát triển thì nhu cầu về các nông sẳn càng

giảm, nhưng điểm đặc biệt là không bao giờ giảm tới không như một số

hàng hoá khác

| LA 81746 i

Trang 22

phải là vấn dễ ăn, mặc, củi đun rồi mới đến các nhu cẩu khác, Như vậy cơ cấu kinh tế nông lam nghiệp vừa là chỗ dựa, vừa là động lực thúc đẩy và cũng vừa là sự trì tr, lạc hậu nhất trong cả hệ thống kinh tế Tuỳ vào sự

phát triển của từng nơi mà mức độ quan trọng và sự trì trệ sẽ lớn hay nhỏ

Nhưng kinh nghiệm phát triển xã hội đã chỉ rõ không bao giờ các kỹ thuật

và công nghệ sẩn xuất trong nông lâm nghiệp vượt hơn các ngành khác

Cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp vừa có đây đủ các đặc tmg chung

là có tính khách quan, tính lịch sử và xã hội nhất định, tính ẩn định tương đối và luôn tác động lẫn nhau van động biến đổi không ngừng và ngày càng hoàn thiện Nó cũng chịu tác động của các nhóm yếu tố như địa lý -

tự nhiên, kinh tế xã hội, các yếu tố quốc tế Nếu coi nông thôn là một khu

vực, cơ cấu kinh tế nông thôn là cơ cấu kinh tế lãnh thổ thì cơ cấu kinh tế

nông lâm nghiệp lại là cơ cấu ngành của kinh tế nông thôn Cơ cấu ngành: của kinh tế nông thôn bao gồm ba nhóm ngành lớn (còn gọi là ba khu vực): nông nghiệp (theo nghĩa rộng), công nghiệp và dịch vụ Mỗi nhóm ngành lớn lại phân chia thành nhiều ngành, ví đụ nông nghiệp gồm nông

nghiệp (theo nghĩa hẹp), lâm nghiệp và ngư nghiệp Công nghiệp gồm

công nghiệp chế biến và công nghiệp khai thác Dịch vụ gồm vận chuyển,

thương nghiệp, bưu điện, y tế, văn hoá nghệ thuật Mỗi ngành lại chia thành các phân ngành như nông nghiệp gồm trồng trọt, chân nuôi, lam

nghiệp thành trồng, khai thác, thu lượm Trong quá trình hình thành và

hoàn thiện cơ cấu kinh tế nông lam nghiệp phải xuất phát từ các đặc điển

riêng của lĩnh vực sẵn xuất này.

Trang 23

“Thứ nhất: sẵn xuất nông lâm nghiệp lấy đối tượng là sinh vật sống

nên chúng có qui luật sinh ra và lớn lên, có thời gian lao động và thời gian

sẵn xuất không trùng khớp, sự phẩn ứng của đâu ra với số lượng và chất

lượng đâu vào là không đều, không tỷ lệ thuận nên không thể dùng các

tính toán cơ giới hoặc tính toán hàng loạt để xác định được cơ cấu hợp lí Trên thực tế nhiều nhà toán học đã thu thập số liệu và xử lí bằng các phương tiện hiện đại, dùng các thuật toán cao siêu để xác định cơ cấu cây trồng, vật nuôi cho một vũng sẩn xuất đều chỈ dừng lại ở mức lí thuyết [75] Sở dĩ có hạn chế đó vì không phải mọi quan hệ tỷ lệ dêu có thể dùng phép tính lượng để xác định ra mà nhiều khi phải xem xét sự đối trọng về mặt chất với nhau

“Thứ hai: việc hình thành cơ cấu kinh tế nông lam nghiệp luôn gắn với quan hệ cung câu và giá cả trên thị trường Theo qui luật cung câu thì giá tăng, lượng cung sẽ lăng và lượng câu sẽ giảm Khi cung cầu gặp nhau

sẽ có điểm cân bằng, tại đây sẽ xác định được lượng hàng hoá sẵn xuất ra Nếu tính chung cho cả ngành nông lâm nghiệp thì điểm cân bằng sẽ xác định tổng giá trị sản xuất sản phẩm nông lâm nghiệp Đặt trong quan hệ

chung với các ngành kinh tế quốc dân khác sẽ xác định được cơ cấu kinh

tế chung Đó là về nguyên tắc, còn đối với nông lâm nghiệp có chủ kỳ sản

xuất dài, nguồn lực khó di chuyển từ sẵn xuất này sang san xuất khác nên

việc hình thành cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp bị chỉ phối bởi một qui luật mà ở trong kinh tế gọi là "qui luật chậm trễ" [72] Có nghĩa là giá cả

thời kỳ trước ảnh hưởng tới cơ cấn kinh tế nông lam nghiệp thời kỳ sau, điển đồ tạo nên một chu kỳ theo một số vụ sẵn xuất nào đó Trong cơ chế thị trường muốn có một cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp hợp lý và theo chủ

Trang 24

định thì phẩi tác động bằng nhiều cách như chính sách, dự trữ, hướng dẫn tiêu dàng, đự đoán

“Thứ ba: chuyển địch cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp phải coi trọng

sự kết hợp của đa dạng hoá và chuyên môn hoá Sẵn xuất nông lâm nghiệp

là ngành phụ thuộc lớn nhất vào nhóm diều kiện địa lý - tự nhiên so với các lĩnh vực sẵn xuất khác, có tính dàn trải trên nhiều vùng địa lý khác nhau với nhiều trình độ khác nhau từ phổ thông cho tới kinh nghiệm, từ sự

phổ biến làm theo cho tới các bí quyết gia truyền Nếu đồng nhất hoá sản

xuất nông lâm nghiệp với các ngành khác để vận hành theo kiểu chuyên

môn hoá cao độ sẽ dẫn đến thất bại

Kết hợp đa dạng hoá và chuyên môn hoá không hoàn toàn như nhau với mọi nơi, mọi lúc Những nơi điều kiện về nguồn lực và thị trường đâu

ra chắc chắn thì mức độ chuyên môn hoá cao hơn Ở nơi mà tính tự cung tự

cấp trội lên và trình độ sẩn xuất thấp thì phải đa dạng hoá hơn Địa giới đất nước hoặc các địa phương cằng trải dài, địa hình càng phức tạp, càng có nhiều kiểu đất thì sự da dang hoá thể hiện càng rõ Việc lựa chọn một cơ

cấu kinh tế nông lam nghiệp nghiêng về phía đa dạng hoá hay chuyên môn

hoá sẽ có mức độ khác nhau tuỳ theo thứ hệ của cơ cấu kinh tế Với cơ cất kinh tế của toàn nước hay một tỉnh sẽ da dạng hoá hơn so với một đơn vị

kinh doanh Bởi vậy trong thực tế có những đơn vi sin xuất chỉ chuyên

môn hoá sẵn xuất một số ít các loại sẩn phẩm hàng hoá Ở đây cẩn phân

biệt chuyên môn hoá và độc canh Thường chuyên môn hoá gắn với sẵn xuất hàng hoá, sẳn xuất với kỹ thuật cao, còn độc canh là cách sẵn xuất tự cung tự cấp vì con người còn lệ thuộc nhiều vào thiên nhiên

“Thứ tư: cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp vừa lệ thuộc vào cơ cấu kinh

tế nông thôn vừa có tác dụng thúc đẩy cơ cấu kinh tế nông thôn phát triển

Trang 25

Cơ cấu kinh tế nông thôn gồin ba bộ phận chủ yếu là nõng nghiệp theo nghĩa rộng, công nghiệp và dịch vụ Nông thôn là vùng sinh sống, làm

việc của một cộng đồng chủ yếu là nông dàn, là vùng chủ yến sản xuất

nông nghiệp Các hoạt động sản xuất và dịch vụ khác chủ yếu phục vụ cho nông nghiệp và cộng đồng nông dan [21]

Kinh tế nông thôn bao trùm lên kinh tế nông nghiệp, các trương trình

phát triển nông thôn sẽ quyết định sự phát triển của nông nghiệp, ngược lại nông lâm nghiệp phát triển sẽ kéo theo các ngành công nghiệp nông thôn, đặc biệt là công nghiệp chế biến nông sản, chế biến gỗ, giấy phát triển Các dịch vụ dâu vào, đâu ra, các dịch vụ giao thông, môi giới phát triển

Cũng cần lưu ý là khi phát triển dịch vụ nông thôn nếu không điều tiết tốt thì các dịch vụ không phù hợp cũng xuất hiện và theo trào lưu của thành

thị như là dịch vụ gây rối thị trường, dịch vụ tìm kiếm lỗ hồng pháp luật

‘Thong thường cụm từ cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn trở thành quen thuộc và nhiều khi lắm tưởng nông nghiệp nông thôn là một

“Thực ra nông nghiệp và nông thôn có sự gắn bó hữu cơ, có sự đan xen vào

nhau trong từng vùng, từng làng xã, từng gia đình và từng con người lao

động nhưng thực tế là hai lĩnh vực khác nhan Kinh tế nông nghiệp thuộc

về cơ cấu ngành còn kinh tế nông thôn lại là cơ cấu vùng lãnh thổ của nền

kinh tế quốc dan

+ Các thứ hệ của cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp: Khi đặt trong một tổng thể kinh tế quốc dan hoặc kinh tế nông thôn thì kinh tế nông lâm nghiệp chỉ là một bộ phận Muốn nghị

nó là một hệ con và phải chỉ tiết ra các thứ bậc khác nhau Chỉ tiết hoá là

một phương pháp lâu đời và phổ biến trong nghiên cứu kinh tế Chỉ tiết

hoá sâu sắc là một thước đo để đánh giá kỹ năng của người nghiên cím

cứu riêng bộ phận này phải coi

Trang 26

Cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp cũng được chỉ tiết theo ngành, theo lãnh

Cơ cấu nông lâm nghiệp theo ngành gồm hai bộ phận là kinh tế nông

nghiệp và kinh tế lam nghiệp Chúng lại được chia nhỏ ra hơn tuỳ theo mức độ nghiên cứu

Nông nghiệp gồm trồng trọt, chăn nuôi (kể cả chân nuôi gia súc, gia câm và thuỷ sản nước ngọt Qua mối quan hệ tỷ lệ giữa hai ngành trồng trọt và chãn nuôi sẽ thấy cơ cấu kinh tế nông nghiệp tiến bộ hay không Một nước càng phát triển thì tỷ trọng sẳn phẩm trồng trọt càng giảm, tỷ

trọng sẵn phẩm chăn nuôi càng tăng Iliện nay ngành trồng trọt ở nước ta

dang chiếm tới 75% giá trị sắn lượng nông nghiệp, trong khi đó ở các nước

nông nghiệp phát triển ngành này chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ Vấn dé quan

trong trong cơ cấu nông nghiệp là quan hệ hợp lý giữa trồng trọt và chan nuôi, giữa các nhóm cây lương thực, cây công nghiệp, cây thực phẩm và cây thức ăn gia súc, giữa cây dài ngày và ngắn ngày, giữa đại gia súc và tiểu gia súc với gia cầm và nuôi cá nước ngọt

Mối quan hệ giữa các bộ phận trong lam nghiệp, trong nông nghiệp, đặc biệt là giữa các nhóm cây trồng, loại cây trồng, giữa các nhóm gia súc

sẽ phụ thuộc rất lớn vào nhóm yếu tố địa lý - tự nhiên Phải xác định các cây trồng vật nuôi phù hợp với diễu kiện tự nhiên hơn là cải tạo, bat ép tự nhiên nến lượn theo ý thức của con người Có nghĩa là cơ cấu kinh tế nông lam nghiệp là một vấn để thuộc lĩnh vực nghiên cứu kinh tế, thuộc lĩnh vực

phát triển nhưng khi phát triển cơ cấu kinh tế nông lam nghiệp phải có

những kiến thức tổng hợp của những nhà kinh tế, nhà sinh học, nhà khoa học đất, nước, môi trường Sở đĩ nhiều để án về xác lập cơ cấu kinh tế, cơ cấu nông lam nghiệp, cơ cấu cây trồng vật nuôi rất tối ưu về việc tính toán

Trang 27

sử dụng nguồn lực nhưng lại không được chấp nhận hoặc chỉ chấp nhận về

mặt học thuật, lý luận vì chúng thin mit mot nhân tố điều hành của tự

nhiên Trong kinh tế thị trường có " bàn tay vô hình" của thị trường {63| thì

trong sẵn xuất cụ thể đừng quên "bàn tay vô hình" của tự nhiên

~ Cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp theo vùng: Mỗi nước có những

vùng khác nhau với các điều kiện khác nhau Việc bố trí sẩn xuất nông lam

nghiệp trên mỗi vùng sẽ có các đặc trưng riêng và tạo ra các quan hệ tỷ lệ

khác nhau Nông lâm nghiệp ở mỗi vùng có vai trò, vị trí khác nhan, nếu xét mối quan hệ giữa các vùng so với toàn ngành nông lâm nghiệp sẽ có cơ cấu vùng Nước ta có 7 vùng thì sẳn xuất lương thực chủ yếu ở đồng bằng

sông Hồng và sông Cửu Long (hai vùng sẳn xuất 58% sản lượng lương thực và 64% san lượng lúa cả năm) Cay ngô được bố trí nhiều nhất ở phía

Bác và Tây Nguyên, khoai lang chủ yếu ở khu 4 cũ, đậu ở Nam Bộ, cây an

quả ở Nam Bộ Chân muôi lợn ở miễn Bắc, chân nuôi bồ ở miền Trung [42] 'Ở mỗi tỉnh, mỗi huyện đều chia ra các vùng, như tỉnh Hoà Bình có 3 vùng, trong tỉnh Hoà Bình huyện Yen 'Thuỷ cũng chia ra 3 tiểu vùng Huyện Việt

Yen - Hà Bắc có hai vùng Huyện Gia Lam - Hà Nội gồm vùng bãi, ving đồng

Sự phân công lao động sẩn xuất nông lâm nghiệp theo các vùng sẽ

tạo nên cơ cấu vũng nông lâm nghiệp Cơ cấu ngành sẽ tạo nên sự chuyên

môn hoá, còn cơ cấu vùng là sự bố trí sin xuất Cơ cấu vùng biểu hiện quan hệ tỷ lệ của từng vùng so với tổng thể kinh tế nông lâm nghiệp

Trong mỗi vùng lại có những cơ cấu ngành khác nhau Vấn dễ quan trọng

khi xác định eơ cấu ngành của từng vùng là phẩi xác định được ngành và

sẵn phẩm cạnh tranh, ngành và sản phẩm hỗ trợ, ngành và sẵn phẩm bổ

Trang 28

sung, ngoài ra còn phải xác định mức độ tới đâu sẩn phẩm hỗ trợ và bổ

sung sẽ trở thành cạnh tranh [53]

Muốn bố trí sẵn xuất hợp lý theo vùng phải xem xét kỹ đâu là lợi thế tuyệt đối, lợi thế so sánh của mỗi vùng Điều này gắn chặt với việc vận

dụng nguyên lý và lợi thế so sánh đo David Ricardo đưa ra vào năm 1817

[73] Đầu tiên nguyên lý này dưa ra cho vấn để thương mại và phân công lao động quốc tế nhưng hiện nay nó đã được vận dụng cho nhiều lĩnh vực

Về nhiệm vụ chủ yếu trong thời gian tới, Đẳng ta cũng đã vạch ra: "Thát

huy lợi thé so sánh của cả nước cũng như từng vùng, từng ngành, từng lĩnh vực trong từng thời kỳ Không ngừng nâng cao sức cạnh tranh tren

trường trong nước, thị trường khu vực và thị trường quốc tế" [3]

Cơ cấu các thành phân kinh tế trong sẩn xuất nông lâm nghiệp: Đa dạng hoá các thành phân kinh tế vừa là mục tiêu chiến lược, vừa là biện pháp để khai thác mọi tiềm năng và sức sáng tạo trong nên kinh tế xã hội nói chung và nền kình tế nông lâm nghiệp nói riêng

© Việt Nam hiện nay vẫn duy trì các loại hình thức tổ chức như nông lâm trường, hợp tác xã, các trang trại và các hộ Kinh tế hộ đang là hình thức phổ biến ở nước ta Có cả hộ nông dân, hộ công nhân nông trường, hộ công nhân lâm trường Nghị quyết 10 đã xác nhận hộ nông dan 1a don vi kinh tế độc lập, có quyển ra quyết định sẳn xuất kinh doanh, có trách nhiệm và nghĩa vụ trước nhà nước Hiện nạy nước ta có 10 triệu hộ nông dân [2] và các đơn vị kinh tế khác tham gia vào sắn xuất nông lam nghiệp

Việc phân chia cơ cấu nông lâm nghiệp theo thành phần kinh tế nhằm xác định được thành phân nào chiếm vị trí chỗ lực trong mỗi nước, mỗi vùng, xu hướng phát triển của chúng, các biện pháp, các chính sách tác động để thúc dẩy Nhằm phát huy vai trò của cơ cấu kinh tế nhiều

Trang 29

thành phần trong nông nghiệp thì vai trò, hướng đi của kinh tế hộ nông

dan, kinh tế hợp tác xã, kinh tế quốc doanh và cả kinh tế tư nhân trong

nông nghiệp đã được chỉ rõ Đó là: "hộ nông dân xã viên là đơn vị kinh tế

tự chủ", "các tổ chức kinh tế hợp tác của hộ nông dân tự chủ có nhiều hình thức, nhiều quy mô Kinh tế quốc doanh có vai trò quan trọng tiếp tục

khuyến khích kinh tế tư nhân" [25]

Cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp theo thành phân còn được chia heo một đạng khác, đó là nông lam nghiệp tư bản chủ nghĩa và nõng lâm nghiệp hộ gia đình Nông lam nghiệp tư bản chủ nghĩa thực chất là doanh nông nghiệp hoàn toàn theo cơ chế thị trường, nhà tư bẩn dâu tư

vốn, thuê lao động, kế cả lao động quan lý, mua hoặc thuê các nguồn lực khác để kinh doanh kiếm lợi nhuận như các nhà tư bản trong các ngành khác Nông lâm nghiệp hộ gia đình vừa có phần lao động làm thuê vừa có phân lao động của gia đình Chủ các nông trại vừa là người đâu tư vốn,

người quản lý và có tham gia một phần lao động chân tay Chính sách khai

thác nông nghiệp gia đình đang dược nghiên cứu ở nhiều nước [ 15]

3 Chuyển địch cơ cấu kinh tế nông lam nghiệp

+ Tính cấp thiết của chuyển địch cơ cấu kinh tế nông lam nghiệp Việt Nam: Nông thôn Việt Nam là một khu vực rộng lớn, ở đây 80% dan số sinh sống Nông nghiệp là ngành sẩn xuất vật chất quan trọng chiếm tren 75% lực lượng lao động xã hội Điểm nổi bật trong sẳn xuất nông nghiệp

là đã giải quyết cơ bản vấn đê lương thực Từ một nước hàng nãm phải

nhập từ 70-80 vạn tấn lương thực, chỉ mới 5-6 năm lại đây không phải nhập lương thực mà còn có lương thực dự trữ và xuất khẩu Từ năm 1900

lại đây xuất khẩu tăng lên, bình quân trên 1,5 triệu tín/nãm Đặc biệt năm

1995 đã xuất được 2 triệu tấn lương thực, đứng thứ ba trên thế giới sau Mỹ

Trang 30

va Thái Lan C6 thể nói sự thành công trong vấn đề lương thực là tiền đề để

giải quyết các vẫn dé khác trong nông nghiệp nông thôn cấu nông

nghiệp đang có xu hướng chuyển dịch sang phát triển chãn nuôi, rau quả,

cây công nghiệp Tỷ trọng ngành chân nuôi trong giá trị sin lượng nông nghiệp từ 24,6% năm 1985 đã tăng lên 27,0% năm 1994 Diện tích rau đậu, cây ăn quả, cay công nghiệp tăng từ 17,7% năm 1985 lên 21,0% năm

1993 Nông nghiệp với hơn 7 triệu ha dất trồng cay lương thực, trong đó hơn 6 triệu ha lúa đã đẩm bảo ổn định lương thực cho hơn 70 triệu dân và

c6 xuất khẩu

Sẵn xuất lâm ngư nghiệp cũng có những bước chuyển biến đáng kể

“Thuỷ sẵn phát triển cả về đánh bất và nuôi trồng Giá trị sẩn lượng hàng năm thời kỳ 1989-1992 tăng 4% kim ngạch xuất khẩu tñng 25% Lam

nghiệp nhờ đẩy mạnh giao dất giao rừng cho hộ gia đình nên việc trồng

rừng, vườn đổi đang có bước phát triển mới

Tuy có một số thành tựu trong phát triển và chuyển dịch kinh tế nông nghiệp nhưng nói chung quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn diễn ra chậm chap Noi nay, nơi kia có những chuyển

biến nhưng nhìn trên tổng thể thì vẫn mất cân đối trầm trọng Năm 1985

nông nghiệp chiếm 85% giá trị sản lượng nông lâm ngư nghiệp, lâm

nghiệp chiếm 7,8%, ngư nghiệp 7,2%; nam 1990 là 83,8% - 7,7% và 8,35%; năm 1992 là 84,3% - 6,8% và 8,9% Trong 3 ngành này thì nông nghiệp đã

có bước chuyển từ sẩn xuất tự túc, tự cấp sang nông nghiệp hàng hoá Thuy san có bước phát triển mới cả về lượng và cơ cấu Lâm nghiệp là ngành gập nhiễu khó khăn nên không chỉ tỷ trọng giẩm mà lượng tuyệt đối

cũng giảm Nguyên nhân là do rừng và đất rừng không được quản lý tốt,

Trang 31

diện tích rừng tự nhiên bị đốt phá hàng năm lên tới hàng trăm ngàn ha

trong khi rừng trồng bị thu hẹp do thiếu vốn trồng rừng (34)

Rõ rằng cơ cấu kinh tế nông - lâm - ngư nghiệp vẫn chưa hợp lý và

thể hiện rõ nhất trong ngành lân nghiệp Ngành này chiếm 61% diện tích

tự nhiên nhưng chỉ được đâu tư 3,8% vốn đầu tư cơ bẩn và chỉ tạo ra 3,8%

tổng sẩn phẩm và 5,1% thu nhập quốc dan, chưa đây 7% giá tri san lượng,

nông - lâm - ngư nghiệp, 6,5% tlin nhập của nông dân [34] Sẵn xuất lam nghiệp diễn ra ở các địa phương miễn núi, biên giới và liên quan đến đời sống của các dân tộc Ít người Nếu không chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp ở các vùng này thì càng tạo ra sự mất cân bằng, làm sâu sắc thêm quy luật phát triển khong déu trong nông thôn Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp là một tất yếu khách

quan, gắn liền với sự phân công lao động xã hội, với nền sẳn xuất hàng hoá Đy là một quá trình lâu dài, tất yếu nhưng phải tuân thủ những quy

luật kinh tế tự nhiên, xã hội nghiêm ngặt, không thể nóng vội, đốt cháy

giai đoạn và phải chấp nhận những sự cẩn trở do khó khăn chung của đất nước gây ra nhưng cũng không thể ngồi chờ mà phải có sự tác động tích cực thông qua hoạt động thực tiễn sẳn xuất của con người

'Thực tế cuộc sống cia dan cư nông thôn, đặc biệt dân cư vùng núi

cũng như yêu cẩu phát triển đất nước, hợp tác phân công lao động trong

nên kinh tế mở với cộng đồng quốc tế đang thôi thúc nông lam nghiệp phải

chuyển đổi cơ cấu của nó Trong quá trình chuyển đổi này cân giải quyết

tốt một số vấn để sau đây:

Thứ nhất: về nhận thức cẩn coi nó là một quá trình tất yếu điễn ra

theo những quy luật nhất định Nó là một quá trình chuyển dần từng bước

từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện và phụ thuộc vào các

Trang 32

điều kiện cụ thể trước hết là sự phát triển của lực lượng sẵn xuất Quá trïnh

đó phải được giải quyết một cách thích hợp trong những điều kiện lịch sử

cụ thể Không nóng vội nhưng cũng không thờ ơ bổ mặc Vai trò của con người, trong đó sự can thiệp của Nhà nước bằng các chính sách sẽ là định hướng cho sự chuyển dịch

"Thứ hai: chuyển dịch cơ cấu nông lâm nghiệp cũng phải hướng vào

sẵn xuất hàng hoá trên cơ sở chuyên môn hoá nhằm khai thác lợi thế của

từng vùng để sắn xuất hàng hoá và bảo vệ môi trường

Thứ ba: phải xem chuyển dịch cơ cấn kinh tế nông lam nghiệp là sự nghiệp chung của mọi ngàn

uọi cấp vì hiện nay nông nghiệp nước ta đang ở giai đoạn sơ cấp, nên nó sẽ đồng vai trò lớn nhất cho sự phát triển

Trong khi xác định tính cấp thiết của việc chuyển dịch cơ cất kinh

tế nông lâm nghiệp cũng phải tránh tư trởng quá để cao vai trò của mình

và đồi hổi các ngành khác phải đáp ứng yêu cẩu vượt quá khả năng hiện

có Tính cấp thiết của chuyển dịch cơ cấn kinh tế nông lam nghiệp phải thể

hiện trên cả khía cạnh yêu cầu các ngành khác phục vụ tạo diễu kiện cho

nó và cả khía cạnh nông lâm nghiệp phải tạo chuyển đổi để phục vụ tốt

nhất cho các bộ phận kinh tế khác

+ Những xu hướng có tính quy luật trong phát triển và chuyển dịch

cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp: Trong lich sit lan dài phát triển kinh tế

hàng hoá của loài người đã diễn ra 6 lân chuyển dịch cơ cấu mới đạt được trình độ kinh tế thị trường nlur ngày nay, trong đó 3 lân diễn ra trong lình

vực nông nghiệp, nông thôn Những lần chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong lĩnh vực công nghiệp và đô thị cũng thúc đẩy lĩnh vực nông nghiệp, nông

thôn Trong quá trình phát triển vai trò của nông lâm nghiệp thể hiện khác

nhau và đi theo các trình tự nhất định ‘Theo Chenery và Syrquin (1986) thì

Trang 33

ở giai đoạn sản xuất sơ cấp mức tt nhập bình quân đâu người từ 100-600

USD Với tốc độ tăng trưởng 4 - 5% thì nông nghiệp và dịch vụ đóng góp

nhiều nhất cho sự tăng trưởng kinh tế Giai đoạn công nghiệp hoá mức thu nhập bình quân đâu người từ 600 - 7200 USD, với tốc độ tăng trưởng 5 - 7% năm thì đóng góp của nên nông nghiệp ngày càng thấp Giai đoạn kinh:

tế đã phát triển cao hơn mức tliu nhập bình quân dầu người trên 7200 USD

với tốc độ tăng trưởng 4 - 5% nãm thì sự đóng góp của công nghiệp và cơ

sở hạ tầng càng cao, đóng góp của dịch vụ giảm dân, nông nghiệp được hỗ

trợ nhiều hơn [58]

Theo Tìmner (1988): ở giai đoạn bắt đâu phát triển, nông nghiệp chiếm phân lớn san phẩm trong nước, tích luỹ chủ yếu từ nông nghiệp, nguồn thu chủ yếu do các loại thuế đánh vào nông nghiệp là giai đoạn

nông nghiệp đóng góp chủ yếu cho sự tăng trưởng, một phần nguồn Ihin từ nông nghiệp được đâu tư lại cho nông nghiệp, sản lượng nông nghiệp tàng lên Giai đoạn lao động nông nghiệp bắt đâu giảm, nông nghiệp phải được liên kết với thị trường, liên kết kinh tế thành thị và nông thôn Nông nghiệp ngày càng phụ thuộc vào thị trường Giai doạn lao động nông nghiệp đưới mức 20% so lao động cả nước, nông nghiệp cần được hỗ trợ bằng nhiều biện pháp lĩnh hoạt của Nhà nước [58]

Qua các giai đoạn phát triển nông nghiệp của thế giới và trong nước cho thấy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp mang tính quy luật như

SAU:

Từ nông nghiệp mở ra lâm nghiệp và ngư nghiệp - những ngành có

gif iri kinh tế cao song việc sẩn xuất khó khân hơn, đòi hỏi một trình độ cơ

sở vật chất - kỹ thuật nhất định và vốn dầu tư cao Trong phát triển tỷ trong của lâm và ngư nghiệp sẽ tăng lên còn của nông nghiệp sẽ giẩm đi mặc dù

Trang 34

ngành này vẫn phát triển Trong nông nghiệp theo nghĩa hẹp, trên cơ sở

phát triển trồng trọt trước hết là sẩn xuất thức ăn gia súc, chăn nuôi phát

triển ngày càng nhanh hơn, tỷ trọng của nó lớn dân lên và lớn hơn tỷ trọng trồng trọt để đáp ứng nhu câu ăn ngon, đã dinh dưỡng cho con người và

yêu cầu ngày càng cao của ngành chăn nuôi Trên cơ sở phát triển lương thực, nhất là khi đã vượt được ngưỡng về nhu cầu lương thực, sẩn xuất các loại rau đậu cao cấp, cây ăn quả và cây công nghiệp phát triển nhanh, trở

thành các ngành nông nghiệp hàng hoá lớn trong đó c6 nhiên loại sẩn xuất

trở thành ngành xuất khẩu quan trọng: Gắn liễn với sự phát triển của kinh

tế thu nhập và đời sống của nhân dân được nâng cao, nhu câu ăn, ở, vui

chơi giải trí, du lịch, nghỉ ngơi của con người cũng tăng lên Do đó sản xuất các cây con đặc sẵn, hoa cay cảnh, chim thú, cá cảnh cũng được phát

triển nhanh chóng và đóng góp ngày càng to hơn vào giá trị sẵn lượng và

thu nhập của nông nghiệp

Những xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp một cách

khách quan như trên thể hiện ngành nông nghiệp phát triển ngày càng hợp

lý, tiến bộ và văn minh Tuy vậy ngành nông nghiệp và cơ cấu các ngành

là cụ thể với từng cơ sé sin xuất nông nghiệp, từng vùng kinh tế nông

nghiệp và mỗi quốc giá Phát triển nông nghiệp hay lam nghiệp, sẵn xuất cây con gì, quy mô ra sao, sự kết hợp như thể nào, quan hệ tỷ lệ bao nhiêu

là do các nhân tố như:

Che dang tai nguyen sinh vật cụ thể, quy mô diện tích từng cay, số

đâu con có thể phát triển được trong giới hạn tài nguyên có hạn

“Thị trường và nhu cẩu thị trường về các sẩn phẩm gắn lién tài

nguyên sinh vật cụ thể của minh Kha nang van chuyển va hm thong hàng

hoá.

Trang 35

Trinh độ khoa học kỹ thuật, nguồn vốn và kỹ năng lao động

Sự kết hợp của tập đoàn cây con, giữa nông - lâm - ngư với điều kiện

sinh thái cụ thể

Hình thù cụ thể của các ngành và cơ cấu của chúng rất khác nhan Tai mdi nơi mỗi lúc sẽ có các ngành chuyên môn hoá, ngành bổ sung kết hợp thành một cơ cấu nông lâm ngư hợp lý Vị trí các ngành sẽ có sự chuyển đổi cho nhau theo quan hệ cung câu của chúng trên thị trường Do

đồ cơ cấu các ngành nông nghiệp không những là cụ thể mà còn luôn biến đổi theo sự phát triển của sẵn xuất hàng hoá và thị trường

+ Diéu kiện thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lân

nghiệp: chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp phù hợp quy luật

khách quan và đáp ứng được mục tiêu phát triển của đất nước phải dựa tren một số điểu kiện nào đó Mức thấp là các điều kiện có sẵn, con người sẽ

xác định cơ cấu và định hướng chuyển dịch dựa trên các lợi thế sẵn có Ở

mức độ này sẽ có nhiều thuận lợi nhưng đến một mức nào đó điều kiện sẽ không còn nhiễu thuận lợi như lúc sơ khai và chính quá trình chuyển dịch

cơ cấu cũng đã tạo ra các điều kiện bất thuận lợi Mức độ thứ hai yêu cầu

phẩi có sự tác động tích cực hơn để tạo ra các điều kiện mới Dù là điển

kiện có sẵn hay điều kiện tự tạo cũng gồm mấy dạng sau:

~ Điều kiện thị trường phát triển: có nhiều loại thị trường liên quan

tới sản xuất nông lâm nghiệp như thị trường vật tư, thị trường sản phẩm hàng hoá, thị trường vốn, thị trrờng sức lao động, thị trường chất xám Trong các nước dang phát triển thì thị trường đầu ra là quan trọng nhất vì nông dân san xuất nhỏ, phân tán lạc hậu nên bước dâu họ cân có nơi tiêu

thự sắn phẩm thì mới sẵn xuất hàng hoá được Thị trường gồm hai loại, loại

do Nhà nước tạo ra như xuất khẩu nông sẳn hoặc chế biến nông sản phục

Trang 36

vụ dân sinh và xuất khẩu, loại tự do được tạo ra từ sức mua của khu vực công nghiệp, thành thị và cả khu vực nông thôn Nếu tạo điển kiện cho

người sẩn xuất nông lâm nghiệp khai thác được cả hai loại thị trường sẽ

thúc đẩy mạnh sẳn xuất hàng hoá

Nến theo mục tiêu sẵn xuất thì hộ nông dan được chia ra các kiển,

kiểu hộ hoàn toàn tự cấp không phản ứng với thị trường, kiểu hộ bán phân

lon san phẩm sẽ phần ứng nhiều với thị trường và kiểu hộ hoàn toan san

xuất hàng hoá có mục tiêu là kiếm lợi nhuận như một xí nghiệp tr bản chủ nghĩa [17] Như vậy sẽ tiến hoá từ trình trạng tự cấp tự túc sang sẳn xuất hàng hoá ở các mức độ khác nhau, tạo ra cơ cấu ngành khác nhau

Sản phẩm hàng hoá từ nông lâm nghiệp ở Việt Nam được phân thành

ba nhóm Hàng thủ công mỹ nghệ hoặc nông cụ chỈ được sản xuất cảm chừng vì xuất khẩu bị hạn chế còn sức mua nội địa kém Hàng chế biến từ

nông san chi yếu phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng nội địa, không xuất khẩu

được vì công nghệ chế biến thủ công thô sơ, quy mô nhỏ Hàng nông sản

thô rất phong phú và là mặt hàng chủ yếu ở nông thôn, phục vụ cho đông dẫo người tiêu dùng Muốn thúc đẩy dược loại thị trường này cần có những chính sách nhằm tập trung sẳn xuất để mỗi nông hộ sẩn xuất "ra tấm ra

Trang 37

con gì phù hợp với trình độ và kinh nghiệm của người lao động, sẩn phẩm sẵn xuất không bị hổng và tiêu tụ được, tiên thụ với giá cao Sử dụng dâu vào và công nghệ sản xuất hợp lý cũng góp phân nâng cao năng suất lao

động Tạo điều kiện để với quy mô sẩn xuất nhổ, vốn ít mà nông dân vẫn

sử dụng được máy móc 'Trên thế giới, người nông dan có thể có máy hằng

cách như mua máy riêng, mua thuê, hợp đồng và thuê hợp đồng, thuê hoặc

sử dụng máy của các tổ chức, nghiệp đoàn [53]

~ Điều kiện và kết cấu hạ tầng phục vụ nông lâm nghiệp: Trước đây quen gọi là cơ sở hạ tẳng, gần dây được làm sáng tỏ Đó là các cấu trúc vật chất, kỹ thuật, hệ thống công trình xây dựng, thiết bị là nền tẳng cho các hoạt động vi vậy "Cơ sở hạ tầng là tổng thể của các ngành kinh tế, các ngành dịch vụ bao gồm việc xây dựng đường xá, kênh đào tưới nước, hải cẳng, cầu cống, sân bay, kho tầng, cung cấp năng lượng, cơ sở kinh doanh, giao thông, bưu điện, cấp nước và tiêu thoát nước, giáo dục, khoa học, bảo

vệ sức khoẻ" [28]

Như vậy kết cấu hạ tầng không phải chỉ có "phần cứng" (hệ thống công trình) mà còn e6 "phần mềm" là các hoạt động tạo ra phẩn cứng và vận hành chúng để làm nền tẩng cho các hoạt động kinh tế - xã hội khác Kết cấu hạ tâng bao gồm cả việc giáo dục, đào tạo, dạy nghề, nghiên cứu khoa học, kinh tế công cộng Kết cấu hạ tầng có các đặc trưng là có tính hệ thống, tính kiến trúc, tính tiên phong định hướng, tính tương hỗ, tính vùng

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lam nghiệp hiểu một cách đơn giản là

thay đổi từng bước kết cấu của nó trên cơ sở hệ thống kết cấu hạ tầng phù

hợp

- Điểu kiện và môi trường chính sách: Nhà nước tác dong vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lam nghiệp qua các can thiệp bằng chính

Trang 38

sách Ở đây không nói tới các chính sách cụ thể mà bàn tới cơ chế hoạt

động của các chính sách và quan niệm về vai trò của chính: sách

Cho tới nay vẫn chưa có một định nghĩa duy nhất về thuật ngữ

"chính sách" với tất cả các tác giả nhưng các nhà kinh tế cho rằng chính

sách là mục tiêu và phương pháp mà Chính phủ đưa ra nhầm tác động vào

các biến kinh tế còn "các chính sách" là kiểu can thiệp riêng Chính sách là

"nghệ thuật của Chính Phả" để tạo ra các diễu chỉnh [70] Nếu diễu kiện

chính sách thuận lợi thì sự điều chỉnh sẽ đễ dàng Chuyển dịch cơ cấu kinh

tế nông lâm nghiệp chính là một sự điển chỉnh trong phạm vi một lĩnh vực sản xuất vat chất của xã hội nên sẽ chịu sự chỉ phối của diều kiện ràng buộc đo chính sách đưa ra

Khi nói tới chính sách phải nói tới các mục tiêu, che ring buộc và các dụng cụ của nó Các mục tiêu can thiệp của chính sách nông nghiệp có thể đa dạng theo phạm vi địa phương, phạm vi tỉnh hoặc phạm vi quốc gia Mục tiêu chung nhất của chuyển dịch co cấu kinh tế nông lâm nghiệp là

chuyển lên sắn xuất hàng hoá Khi theo đuổi một mục tiêu cụ thể hoặc một

tập hợp các mục tiêu phải xem xét các ràng buộc mà chính sách phải cách tháo gỡ Ví dụ: thiếu nước là một ràng buộc có thể hỗ trợ bằng chính: sách thuỷ lợi để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp Nhờ đó chính sách đầu tư thuỷ lợi mà nhiều khu vực chỉ có vụ chiêm đã trồng được

2,3 vụ Các công cụ chính sách được đặt ra để xem xế! cả mục tiêu lẫn

ràng buộc Nếu các ràng buộc trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp là một khái niệm tuyệt đối nào đó (ví dụ: nhiệt độ trang bình, lượng mưa) thì các công cụ có thể dược đưa ra xoay quanh ràng buộc đó (ví dụ: bằng cách trồng một loại cây, nuôi một loại con thích hợp hơn với khí hậu và lượng mưa) Nếu ràng buộc chỉ là tương đối (ví dụ: thiến hụt

Trang 39

vốn) thì chỉ cân làm giẩm rang buộc này bằng các chính sách tín dụng

~ Điều kiện về năng lực nội sinh của nông dân: Day 1a diéu kién bên

trong của người sẩn xuất nông In nghiệp Nếu tít cả các diéu kiện ben

ngoài không được bản thân người nông dân tiếp nhận và phát triển lên thì

cũng không thể chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lam nghiệp Muốn nâng

cao sự sáng tạo, sự năng động của người nông dân trong việc tìm kiếm và

ra quyết định chuyển dịch cơ cấu phải tác động vào các mật sau:

Trước hết là phải làm cho người nông dân hiểu rõ tâm quan trong

của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lam nghiệp đối với gia đình họ,

cộng đồng của họ Chuyển dich cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hoá là một bước đi bắt buộc để chuyển nông dân từ sự quá độ giữa sự tự cung tự cấp, cô lập và phân tñn tiến tới nên kinh tế thị trường hoàn toàn có

tổ chức Có chuyển dịch cơ cấu kinh tế mới giẩm được sự lệ thuộc cña nông đân vào tâng lớp khác ngoài xã hội nông đan Sự lệ thuộc ám chỉ sự

không công bằng xã hội, sự áp bức bóc lột về kinh tế qua việc chiếm đoạt

thậng dư của nông dân [80] Sự nhận thức ra vấn để sẽ giúp nông dân vượt qua được tư tưởng tự ty, ngại vất vả, chịu khổ còn hơn chịu khó

Nang cao hiểu biết cho nông dan về các mặt kinh tế, kỹ thuật, chính: sách để họ có đủ khổ năng tìm kiếm ra các quyết định sẳn xuất, tìm thị trường bán sẵn phẩm Người nông dân có trình độ sẽ biết tiếp thu và phân tích thông tin có lợi cho mình, họ sẽ sản xuất có chủ định chứ không phải

làm theo một cách mù quáng Người nông dân có trình độ cũng sẽ không

chịu làm theo sự áp đặt của những nhà khuyến nông, nhà tuyên truyền với

tư tưởng bán xong hàng của họ rồi bổ mặc nông dan.

Trang 40

Làm cho nông dân đỡ bị rủi ro và không sợ rủi ro Rỗi ro có lhể đến

với mọi ngành nhưng nông lâm nghiệp là ngành chịu rải ro lớn nhất Các

nguyên nhân rủi ro có thể là từ thiên nhiên, từ thị trường, từ chính sách của Nhà nước, từ chiến tranh Theo lý thuyết kinh tế về ứng xử tải ro thì người sẵn xuất nông, lâm nghiệp được chia ra ba loại là người sợ rủi ro, người

chấp nhận rủi ro và người trung hoà rỗi ro [39] Người sợ rẫi ro sẽ luôn

luôn sợ sệt và thường chấp nhận các cơ cấu sẳn xuất ở mức thấp phục vụ tự cung tự cấp Người chấp nhận rải ro sẽ sẵn sàng tìm kiếm cái mới và hướng ra thị trường Nếu càng có nhiễu người chấp nhận rủi ro, càng nhanh chóng chuyển dịch được cơ cấu sẵn xuất,

+ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp và vấn đề hiệu quả: Hiệu quả là vấn để mà mọi xã hội quan tam và mong nuốn có thể đánh giá hiệu quả trên khía cạnh kỹ thuật, hiệu quả kinh tế Có những trường hợp

hiệu quả kỹ thuật cao nhưng hiệu quả kinh tế lại không cao Muc dich sản xuất trong kinh tế thị trường là tìm kiếm lợi nhuận tối da thì hiệu quả kỹ

thuật chỉ là một phương tiện để dạt hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kỹ thuật hoặc hiệu quả kinh tế dêu biểu hiện quan he đầu vào, đầu ra theo các quan hệ tuyệt đối hoặc tương đối Trong mục tiêu của phát triển thì hiệu quả kinh tế là một khía cạnh, một tiên để bước đầu

nhưng nó chưa phải là tất cả Hiệu quả kinh tế cao phải đi liền với phát

triển bền vững và có hiệu quả xã hội, tức tạo ra một quan hệ công bằng,

một xã hội văn minh với những con người có học vấn

Mục tiêu của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp nói riêng

và chuyển dịch cơ cấu tế nói chung là đạt hiệu quả kinh tế, hiệu quả

xã hội, mõi trường cao Hiệu quả kinh tế có thước do thống nhất với tất cả

các nước, các vùng Hiệu quả xã hội môi trường có tính chất tương đối vĩ

Ngày đăng: 14/12/2013, 16:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w