luận văn thạc sĩ, tiến sĩ, cao học, luận văn
Trang 1
NGUYÊN BÁ THANH
NHŨNG VẤN ĐỀ KINH TẾ - TỔ CHỨC TRONG CHUYỂN ĐỔI CƠ CẤU CÂY TRỒNG
TINH QUANG NAM - DA NANG
Chuyên ngành: Kinh tế, quan lý và kế hoạch hoá kinh tế quốc dân
( Kinh tế nông nghiệp)
Vaiss WEES
| en 47 alt mens HY
LUẬN AN PHO TIEN SI KHOA HOC KINH TE
Người hướng dẫn khoa học: GS.PTS Tô Dũng Tiến
Hà Nội 1996
Trang 2Tôi xin cam đoan dây là công trình pghien cim cla riêng tôi Các số liệu kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa :Ÿng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TAC GIA LUAN AN
Nguyễn Bá Thanh
Trang 3Tính cấp thiết của dé tai
Muc dich cha dé tai
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp duy vật biện chứng
Phương pháp duy vật lịch sử
Phương pháp thống kê kinh tế
Phương pháp toán kinh tế
Những đóng góp của luận án
Kết cấu cuẩ luận án
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HOC CUA VIỆC XÁC DỊNH NỘI
DUNG KINH TẾ - TỔ CHỨC TRONG CHUYỂN ĐỔI CƠ CẤU CÂY
TRỒNG
Khái niệm về cơ cấu cây trồng
Vai trò và đặc trưng của CCCT
Vai trò của CCCT
Đặc trưng của CCCT
Xu hướng phát triể: CCCT
CCCT phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá
CCCT phát triển theo hướng một nền kinh tế phát triển và
một nền nông nghiệp ổn định, bên vững
CCCT phát triển theo hướng bảo vệ tốt môi trường sinh
Trang 4Quan điểm nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội
Quan diém phat triển kinh tế nhiêu thành phần, đa dạng
hoá hình thức sở hữu và tảng cường ứng dụng các tiến bộ
khoa học kỹ thuật
Quan diểm bố trí cây trồng ưu tiên sản xuất nhiều nông
san xuất khẩu
Thực tiền về CCCT trên thế giới và ở Việt Nam
CCCT ở các nước trên thế giới
Tình hình phát triển CCCT ở Việt Nam
Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của cơ cấu cây trồng
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CƠ CẤU CÂY TRỒNG TRÊN DAT
NÔNG NGHIỆP CỦA TỈNH QUẢNG NAM - ĐÀ NẴNG
Đặc điểm chủ yếu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
của tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng
Đặc điểm đất dai và địa hình
Nguồn nước
Khí hậu, thời tiết
Khái quát tình hình kinh tế - xã hội
Dân số và lao động
Về tổ chức sẵn xuất kinh doanh nông nghiệp
Thực trạng cơ cấu cây trồng của tỉnh Quảng Nam - Đà
Nẵng trên đất nông nghiệp
Cơ cấu cây trồng theo nhóm cây
Cơ cấu cay trồng theo loại cây
Trang 53.4
3.1.2
8.1.3
vùng sinh thái của tỉnh
Đánh giá kết quả sản xuất và hiệu quả kinh tế - xã hội -
môi trường của cơ cấu cây trồng tỉnh Quảng Nam - Đà
Nẵng
Kết qủa sẵn xuất
Hiệu qủa kinh tế
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ
YẾU! NHẰM CHUYỂN ĐỔI CƠ CẤU CÂY TRỒNG TINH QUANG
NAM - DA NANG TU 1995 DEN NAM 2000
Can cứ xác định phương hướng và những giải pháp chủ
yến chuyển đổi CCCT ở Quảng Nam - Đà Nẵng từ 1995
dén nam 2000
Những điêu kiện tự nhiên- kinh tế - xã bội của Quảng
Nam - Đà Nẵng cho phép phát triển mạnh sẩn xuất nông
nghiệp với một CCCT đa dạng và hình thành những vùng
chuyên canh sẩn xuất hàng hoá
Những thành tựu và tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sẩn
xuất nông nghiệp hiện nay và kinh nghiệm thực tiễn phát
triển sẵn xuất ngành trồng trọt ở Quảng Nam - Đà Nẵng
trong nhiền năm qua là tiên đề cho các định hướng và giải
pháp chuyển đổi CCCT của tỉnh
Chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần hó nông
đân là đơn vị kinh tế tự chủ đã tạo điểu kiện giải phóng
năng lực sẵn xuất trong nông thôn, đồi bỏi phải xác định
72
82
85
Trang 63.2
3.2.1
32.2
địa bàn tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng phải đáp ứng nhu cầu
hàng hoá của thị trường và nguyên liệu cho công nghiệp
Phương hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng tỉnh Quảng
Nam - Đà Nẵng
Quan điểm chung
Phương hướng chuyển đổi CCCT ở Quảng Nam - Đà Nẵng
Trang 71 TINH CAP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Cay trồng là đối tượng chủ yếu của sản xuất nông nghiệp
Cơ cấu cây trồng (CCCT) là một phạm trù khoa học biểu hiện
trình độ tổ chức và quản lý sản xuất nông nghiệp, đồng thời CCCT cũng là chỉ tiêu rất quan trọng của chiến lược nông sản
phẩm Muốn phát triển một nên nông nghiệp với tốc độ nhanh
nông nghiệp Việc xác định CCCT hợp lý sẽ tạo điều kiện tăng
nâng suất, sản lượng và hiệu quả kinh tế của sản xuất nông
nghiệp nói chung và trồng trọt nói riêng
Nên kinh tế Việt Nam cho đến nay vÂn còn ở trình độ thấp, về cơ bẩn chưa thoát khỏi tình trạng sẳẩn xuất tự cấp, tự tức, trình độ sản xuất còn lạc hậu, Điển hình là CCCT thường không hợp lý, bố trí tẩn mạn không trở thành những vùng chuyên môn hoá dựa trên lợi thế của từng địa phương và từng tiểu vùng sinh thái, khiến cho canh tác bị lệ thuộc bởi các tập quán sản xuất lạc hậu và đất đai bị chia cắt thành nhiều diện tích nhỏ, hẹp khó thực hiện các tiến bộ kỹ thuậi thâm canh
Trang 8CCCT ở tỉnh Quảng Nam - Đà Năng (trên đất nông nghiệp) "là nhằm góp phần thiết thực triển khai nghị quyết Đại hội VII Đẳng cộng sản Việt Nam và Nghị quyết 5 của Ban chấp hành Trung ương khoá VII về lĩnh vực đổi mới quản lý kinh tế trên địa bàn tỉnh
Đề tài được nghiên cứu thành công sẽ góp phần giải quyết vấn đề chuyển nền nông nghiệp từ tự túc, tự cấp sang sẩn xuất hàng hoá và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá Vì vậy để tài có ý nghĩa lý luận và
thực tiên, đáp ứng nhu cầu bức xúc hiện nay của tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng nói riêng và của cả nước nói chung
2 MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
- Làm sáng tổ cơ sở khoa học của những vấn đề kinh tế -
tổ chức trong chuyển đổi CCCT trên địa bàn một tỉnh miễn
Trang 9CCCT trên đất nông nghiệp Đề tài đứng trên góc độ kinh tế -
tổ chức để nghiên cứu những vấn để có tính lý luận và thực tiên về CCCT và ảnh hưởng của nó trong quá trình phát triển nông nghiệp theo cơ chế thị trường có sự quần lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay
- Phạm vi nghiên cứu là các tiểu vùng sinh thái khác nhau
của tỉnh Quảng nam - Đà nẵng và tập trung ở các loại đất nông
nghiệp
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở áp dụng những phương
pháp nghiên cứu kinh tế phổ biến là:
4.1- Phương pháp duy vật biện chứng
Đay là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng kinh tế -
xã hội trong trạng thái vận động và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Nó cho phép phan tích và dánh giá một cách khách quan các vấn dé nghiên cứu, như hiện trạng sẩn xuất trồng trọt và
ảnh hưởng của việc bố trí cây trồng đến sự phát triển nông nghiệp của tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng Mật khác trên cơ sở
nhìn nhận vấn đề theo sự phát triển và đứng trên quan điểm lịch sử, luận án đưa ra những căn cứ khoa học cho định hướng
bố trí CCCT và những biện pháp kinh tế - tổ chức thích hợp nhằm khai thác có hiệu quả mọi tiểm nàng về đất đai, nguồn
nước, khí hậu, thời tiết và cây trồng trong các tiểu vùng sinh
Trang 10pháp luận trong toàn bộ luận án
4.2- Phương pháp duy vật lịch sử
Phương pháp này dựa trên những phạm trù khoa học về
sản xuất vật chất và các quy luật kinh tế khách quan để nghiên cứu quá trình hình thành và vận động của ngành sản xuất trồng
trọt, một ngành quan trọng đang chiếm tỷ trọng chủ yếu trong
nông nghiệp nói chung và của tỉnh Quảng Nam -Đà Nẵng nói
riêng Dựa trên qui luật sự phù hợp giữa tính chất và trình bộ
của lực lượng sẵn xuất với quan hệ sản xuất, luận án luận giải chính xác những yếu tố khách quan đang tác động trực tiếp đến quá trình chuyển biến trong sẩn xuất nông nghiệp và phương hướng chuyển đổi CCCT ở tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng
4.3.Phương pháp thống kê kinh tế
Đây là phương pháp nghiên cứu kinh tế thông thường,
giúp cho việc điều tra, tổng hợp và phân tích thống kê các tài
liệu về thực trạng CCCT trên đất nông nghiệp của tỉnh Trên cơ
sở các tài liệu thống kê mà có nhận thức đây đủ, chính xác các biểu hiện về số lượng, chất lượng các loại cây trồng, các loại
đất đã được sử dụng trong sản xuất Đồng thời bằng các hệ thống chỉ tiêu thống kê cho phép đánh giá đúng đắn hiệu quả
kinh tế - xã hội của CCCT hiện nay Đây là phương pháp
nghiên cứu cho phép lượng hoá các kết luận và kết quả nghiên cứu có tính thuyết phục cao
Trang 11học để vận dụng vào nghiên cứu các vấn để kinh tế - xã hội nhằm xác định mức độ của các mối quan hệ giữa các yếu tố trong quá trình sản xuất Phát hiện xu hướng biến động của hiện tượng , đồng thời giúp cho việc định hướng phát triển của vấn để nghiên cứu một cách có cơ sở khoa học và kết quả đạt
trình độ tin cậy cao Phương pháp này đang được vận dụng rất
rộng rãi trong nghiên cứu các vấn đề kinh tế nông nghiệp và đem lại kết quả cao
Ngoài các phương pháp chủ yếu trên, luận án còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác như chuyên khảo, thực
nghiệm, phân tích vì mô, phân tích chính sách kinh tế nõng
nghiệp Tuỳ nội dung và mục dich cha vấn đề nghiên cứu mà có
sự kết hợp của một hay nhiều phương pháp nghiên cứu khác
nhau
5 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN
- Luận án đã góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận về CCCT và những vấn để kinh tế- tổ chức trong chuyển đổi CCCT theo quan điểm sản xuất nông nghiệp hàng hoá, lấy giá trị thu
được trên một đơn vị diện tích trồng trọt để làm thước do trình
độ phát triển sản xuất
- Luận án đã phân tích rõ nguyên nhân của hiện trạng bố
trí cây trồng trên đất nông nghiệp của tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng
Trang 12- Để xuất những vấn đề có liên quan đến việc vận dụng dang dan chi trương, chính sách của Đẳng và Nhà nước đối với
nông nghiệp, nông thôn và nông dân, xây dựng những mô hình
sản xuất với CCCT hợp lý tăng năng suất cây trồng và đạt hiệu quả kinh tế cao
6 KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần mỡ dầu, phần kết luận và danh mục tài liệu
tham khảo và mục lục, luận án gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học của việc xác định nội dung
Chương 2: Thực trạng cơ cấu cây trồng trên đất nông nghiệp của tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng
Chương 3: Phương hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất nông nghiệp tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng từ 1995 đến năm 2000
Trang 13NOI DUNG KINH TẾ -TỔ CHỨC TRONG CHUYỂN ĐỔI
CƠ CẤU CÂY TRỒNG
1.1.KHÁI NIỆM VỀ CƠ CẤU CÂY TRỒNG
Cơ cấu cây trồng được hiểu xuất phát từ thuật ngữ "cơ cấu", theo thuyết cấu trúc ( Structuralism) và học thuyết tổ chức hữu cơ "Organism) thì cơ cấu có thể hiểu như là một cơ thể được hình thành trong điều kiện môi trường nhất định (hiểu theo nghĩa rộng) Trong đó các bộ phận hay yếu tố của nó được
cấu tạo có tính quy luật và hệ thống theo một trật tự và tỷ lệ
thích ứng Nội dung cốt lõi của nó là biểu hiện vị trí, vai trò cua từng bộ phận hợp thành và có mối quan hệ tương tác lần nhau trong tổng thể Một cơ cấu có thể được thay đổi để phù
ra CCCT có thể quan niệm trên cơ sở của khái niệm cơ cấu kinh
tế nông thôn:" là tổng thể các mối quan hệ kinh tế trong khu
vực nông thôn Nó có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau theo
những tỷ lệ nhất định vẻ mật lượng và liên quan chật chẽ với chất; chúng tác động qua lại lẫn nhau ¡rong những không gian
và thời gian nhất định, phù hợp với những điều kiện kinh tế -xã hội nhất định, tạo thành một hệ thống kinh tế trong nông thôn- một bộ phận hợp thành không thể tách rời của hệ thống nẻn kinh tế quốc dân".([65]tr 21) CCCT còn là bộ phận chủ yếu của cơ cấu sẩn xuất nông nghiệp và cơ cấu kinh tế nông thôn ở
Trang 14riêng tự nó đã xác lập những tỷ lệ theo các mối quan hệ tất yếu C.Mác đã viết: " Trong sự phân công lao động xã hội thì con số tỷ lệ là một tất yếu không sao tránh khỏi một tất yếu
thầm kín, yên lặng" ([3]tr.25) CCCT có thể được hình thành từ nhiều nhóm , chẳng hạn cây lương thực có lúa, màu, cây công nghiệp có cây công nghiệp ngắn ngày như lạc, mía, đậu tương cây công nghiệp dài ngày có chè, cà phê CCCT còn là một
trong những nội dung chủ yếu của hệ thống canh tác nông
nghiệp Xét trong phạm vi các điều kiện canh tác thi CCCT thé
hiện thành phân các loại cây trồng được bố trí theo từng địa
điểm và thời gian cụ thể Vì thế xác dịnh CCCT còn là nội dung
của công tác phân vùng sẵn xuất nông nghiệp Muốn phát triển trồng trọt ở từng vùng đạt hiệu quả kinh tế cao trước hết phải xem xét việc bố tri cây trồng thích hợp nhất với điêu kiện tự nhiên- kinh tế- xã hội của vùng Do đó cấu trúc một CCCT hợp
lý không những phát triển được sẵn xuất một cách có lợi nhất
mà còn bảo vệ tốt đất đai và môi trường Yêu câu lớn nhất của CCCT trong hệ thống canh tác là:
- Lợi dụng tốt các điểu kiện thời tiết, khí hậu, đất đai
nhằm tránh được các tác hại do thiên tai gây ra, hạn chế những
Ảnh hưởng của úng lụt, hạn hán, chua mặn mà vẫn không ngừng tham canh, cải tạo đất
Trang 15và chất lượng sản phẩm tốt
Về mặt kinh tế CCCT phải đạt yêu cầu
- Đáp ứng được việc tổ chức các vùng sản xuất chuyên canh có tỷ suất hàng hoá cao
- Đâm bảo cho việc tổ chức các yếu tố đầu vào hợp lý, phát triển sẵn xuất đa dạng và kết hợp chật chẽ giữa trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và chế biến
Trong quá trình tái sẩn xuất bao gồm cả bốn khâu: sản xuất, phân phối, lưu thông và tiêu dùng thì CCCT không thể dừng lại ở một khâu nào cả mà nó là một chuỗi liên tục, chỉ phối trong mối quan hệ tương tác lẫn nhau theo hướng hoàn thiện trong từng hoàn cảnh cụ thể Cho đến nay, khái niệm về CCCT vẫn còn là một vấn dé gay nhiều tranh cãi, song qua một
thời gian dài nghiên cứu về lý luận CCCT và vận dụng vào tính
đặc thù của sản xuất nông nghiệp nước ta, nhiêu nhà lý luận cũng như các chuyên gia chỉ đạo thực tiễn cũng có thể tạm nhất trí với nhau ở một số điểm chính của khái niệm có tính nguyên
tắc về CCCT Tuy nhiên theo chúng tôi thì khái niệm CCCT vừa theo nghĩa rộng và vừa có ý nghĩa trong phạm vi hẹp như đã
trình bầy ở trên là xác đáng hơn
1.2 VAI TRÒ VÀ ĐẶC TRƯNG CỦA CCCT
1.2.1 Vai trò của CCCT
Trang 16Nước ta là một nước nông nghiệp trên 70% dân số sống
tập trung ở nông thôn Vì vậy đẩy mạnh việc phát triển nông
nghiệp có ý nghĩa hết sức to lớn trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội Trong sản xuất nông nghiệp thì ngành trồng trọt là chủ yếu, chiếm đến 75% giá trị tổng sản phẩm nông nghiệp Đứng trên góc độ kinh tế - tổ chức thì chế độ trồng trọt
bao gồm ba nội dung quan trọng
Một là xác định cơ cấu đất đại để bố trí cây trồng cho phù
hợp có nghĩa là hình thành một CCCT hợp lý nhất
Hai là xác định nhu câu về khối lượng và chủng loại sẵn phẩm để lựa chọn cây trồng thích hợp Đặc biệt trong nên kinh
tế thị trường thì đây là động lực quan trọng
Ba là xác định khẩ năng và biện pháp khai thác triệt để các nguồn lợi tự nhiên cho sẵn xuất, tăng năng suất đất đai và sản lượng các loại cây trồng, nâng cao hiệu quả kinh tế của sản xuất
Trong ba nội dung trên thì xác định CCCT có ý nghĩa cơ
ban va quan trong nhất trong quá trình chuyển nên nông nghiệp
từ độc canh lương thực sang nền nông nghiệp đa dạng, có nhiều
nông sản hàng hoá phục vụ cho tiêu dùng và cho xuất khẩu, làm cơ sở vững chắc cho việc thực hiện thắng lợi công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước CCCT còn là căn cứ để xay dựng các kế hoạch dầu tư vốn, sử dụng lao động và các loại tư liệu sản xuất nông nghiệp cũng như việc áp dụng tiến bộ khoa học
kỹ thuật một cách có hiệu quả và chủ động Mặt khác trong
Trang 17điều kiện phát triển nhiêu thành phần kinh tế trong nông
nghiệp thì việc xác định một CCCT hợp lý đạt hiệu quả cao là
một đồi hồi tất yếu đối với mỗi thành phần kinh tế sử dụng đất
nông nghiệp ở nước ta Tuy nhiên CCCT không phải là một hệ
thống tĩnh mà luôn luôn động Việc nghiên cứu chuyển đổi CCCT ở nước ta hiện nay vừa là nội dung trọng tâm của chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng một nền kinh tế hang hoá, nhiêu thành phần, vừa là biện pháp để phát triển nông nghiệp toàn diện và bảo vệ tốt nguồn tài nguyên đất dai
Có thể nói day 1a một vấn đề cực kỳ quan trọng và hết sức bức xúc Đương nhiên không thể chuyển đổi một cách ô ạt, vội vã
song cũng không thể chân chừ, chạm trễ Mọi việc làm thiếu căn cứ khoa học đêu gay thiệt hại không nhổ cho hàng triệu nông dân và kìm hãm sự phát triển của nông nghiệp Việc coi
nhẹ vai trò của CCCT nhiêu khi còn phải trả giá quá đất cho
một thời gian khá dài của nền nông nghiệp lạc hậu và độc canh
lương thực Tất nhiên điểu đó còn có sự Ảnh hưởng của cơ chế quần lý tập trung, bao cấp nữa Vì vậy chuyển đổi CCCT có nghĩa là chuyển dịch theo quan điểm đổi mới của Đẳng ta chứ
không phải thay đổi hoàn toàn Từ những nâm 1975 miền Bắc
nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu chuyển đổi CCCT trên cơ sở bố trí lại mùa vụ đã đạt kết quả rất tốt Chẳng hạn
công trình nghiên cứu thay thế lúa chiêm trên một số diện tích
bằng vụ lúa xuân và chuyển đổi vụ muà chính vụ bằng mùa sớm để phát triển thêm cây vụ đông đã mở ra một chế độ canh
tac 3 vu cho hang van héc ta, tao ra nang sudt dai dai cao hon
Trang 18hẳn, và việc chuyển đổi CCCT đã có bằng chứng sống động có sức thuyết phục cao đối với hàng triệu nông dân đồng bằng Bắc
Bộ Từ việc nghiên cứu CCCT đặt ra cho các nhà lý luận cũng
như các nhà quản lý những nhiệm vụ mới có ý nghĩa chiến lược trong bố trí sẵn xuất trồng trọt, đó là xác định CCCT trước mắt
và trong tương lai, phục vụ cho chiến lược phát triển nông
nghiệp của nước ta trong quá trình xay dựng nền kinh tế đất
nước theo con đường công nghiệp hoá và hiện đại hoá
chúng tồn tại, sinh trưởng, phát triển theo quy luật sinh học và
chịu sự tác động trực tiếp của các yếu tố tự nhiên như đất,
nước, khí hậu, thời tiết Dacwin và Mitchurin đã từng nhấn
mạnh:" Cây trồng và ngoại cảnh là một khối thống nhất" Vi vay CCCT được hình thành trước hết không thể bổ qua điều có tính quy luật đó Mặt khác tính quần thể của thực vật còn biểu hiện mối quan hệ sinh học trong việc bố trí sản xuất trồng trọt Việc xác định CCCT còn phải xuất phát từ những yếu tố địa lý
và tập quán canh tác cũng như trình độ phát triển của dân trí
Do đó phẩi dựa vao cơ sở của các phương án phân vùng quy hoạch nông nghiệp nhất là việc hình thành các vùng chuyên
Trang 19canh cây trồng, có khối lượng nông sản hang hoá lớn Cần phẩi nhận thức rằng không thể dựa vào quan niệm sản xuất nhỏ, phân tán, manh mún để bố trí cây trồng một cách dàn trải, bất hợp lý mà phải dựa vào việc khai thác lợi thế của từng vùng, từng địa phương để bố trí CCCT hợp lý, lấy hiệu quả kinh tế
xã hội làm thước đo Sản phẩm nông nghiệp nói chung và sản
phẩm trồng trọt nói riêng phần lớn là san phẩm thô, tồn tại dưới dạng nguyên liệu, vì vậy trong tổ chức sẩn xuất trồng trọt phải gắn liền việc bố trí CCCT với các thành tựu khoa học kỹ thuật trong bảo quần và chế biến để nâng cao giá trị và giá trị
sử dụng của sản phẩm, mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho san xuất
1.2.2.2 Bản chất và sự biến đổi của CCCT tuỳ thuộc vào trình độ của lực lượng sản xuất
CCCT còn hoang sơ và rất tự nhiên trong điều kiện cuộc sống của con người dựa vào hái lượm CCCT mang tính độc
canh tự cấp, tự túc, khép kín, kém hiệu quả trong điều kiện san xuất nông nghiệp lạc hậu, công nghiệp và các ngành kinh tế
khác chưa phát triển Nông nghiệp nước ta nằm trong vùng có khí hậu đặc trưng nhiêt đới gió mùa, điều kiện khí hậu thời tiết thuận lợi cho việc gieo trồng quanh năm Nhưng trong những
năm qua, mặc dù đã có nhiêu cố gắng trong việc bố trí hợp lý CCCT, song trong suốt thời gian dài thực hiện cơ chế quản lý
kế hoạch hoá tập trung, việc xác dịnh cơ cấu cây trồng luôn bị
lệ thuộc bởi các yếu tố chủ quan, định trước do đó sẩn xuất
nông nghiệp còn mang đặc trưng nền nông rghiệp kém phát
Trang 20triển, nhiều vùng nông thôn vẫn trong tình trạng nghèo đói Những năm gần đây, do thực hiện đổi mới cơ chế quản lý kinh
tế, nông nghiệp nước ta đã bước đầu khởi sắc và phát triển Nhưng cơ bản vẫn còn mang dấu ấn của một nên nông nghiệp lạc hậu, độc canh cây lương thực Vì vậy việc chuyển đổi CCCT vẫn được xem xét từng bước cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất trong nông nghiệp, nhằm kết hợp chặt chẽ với điêu kiện tự nhiên và lợi thế so sánh của từng vùng, từng địa
phương Mặt khác trình độ khoa học kỹ thuật cao cũng có tác
động rõ rệt đến việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật trong san xuất trồng trọt, làm thay đổi CCCT theo hướng chú trọng chất
lượng và hiệu quả Nhiều vùng chuyên canh cây trồng ở nước
ta đã hình thành và phát triển, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và hàng hoá xuất khẩu như: chè, cà phê, cao
su, mía đường, dâu tằm.v.v Những tiến bộ của việc xác định CCCT ngày càng hợp lý cũng thể hiện sự phát triển của lực
lượng sẵn xuất trong nông nghiệp nước ta đang từng bước đạt trình độ cao hơn
1.2.2.3 CCCT về cơ bản phan ảnh yéu cầu của sản xuất
hàng hoá và thị trường, tuân theo sự phân công lao động xã
hội, tính chất chuyên môn hoá và tập trung hoá sản xuất
Nhu cầu sẵn xuất hàng hoá và thị trường là điều kiện
quyết định sự biến đổi về chất của CCCT Suy cho cùng thì nhu cầu về nông sén va môi sinh của xã hội càng cao thì càng thúc đẩy CCCT chuyển biến theo hướng tiến bộ Từ những dậc trưng
đó đòi hỏi khi xác định CCCT cần phải dựa vào nhu cầu thị
Trang 21trường nông sản, điêu kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội của mỗi
vùng, sự phân vùng quy hoạch nông nghiệp và phương hướng
phát triển nông nghiệp trong từng thời kỳ, những tiến bộ kỹ thuật và điều kiện để ứng dụng vào sản xuất Trong nền kinh tế hàng hoá thì thị trường là nơi bất đầu và cũng là nơi kết thúc quá trình sản xuất Sản xuất cái gì, sản xuất cho ai và sẩn xuất như thế nào đều do thị trường quyết dịnh Trong quá trình tổ chức sẩn xuất ngành trồng trọt thì việc xác định CCCT tuân theo nguyên lý đó Quá trình tái sẩn xuất trong nông nghiệp
tuy diễn ra chậm chạp nhưng nó tuân theo những quy luật kinh
tế khách quan vừa đảm bảo thu hồi vốn, vừa tiếp tục tái sản xuất mở rộng Người nông dân chỉ có thể sản xuất cái mà thị
trường cần chứ không phải cái mà họ có sẵn Khi một loại nông
sản nào đó thị trường không chấp nhận sẽ dẫn đến ứ đọng và ế thừa, không tiêu thụ được hoặc tiêu thụ với giá rẻ không đủ bù dap chi phi đã bổ ra Bởi vậy trong lĩnh vực trồng trọt, việc xác định CCCT trước hết phải tìm hiểu nhu cầu của thị trường
cả trong nước và ngoài nước về số lượng, chất lượng, chủng loại, giá cả Trên cơ sở đó mà có sự bố trí sắp xếp sẩn xuất hợp
lý đáp ứng nhu cẩu thị trường, thúc đẩy nhanh quá trình tái sẵn
xuất mở rộng
1.3 XU HƯỚNG PHÁT TRIEN CCCT
Thực tiễn phát triển sản xuất nông nghiệp nói chung và
CCCT nói riêng ngày càng chứng tổ hơn các xu hướng sau đây:
1.3.1 CCCT phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá.
Trang 22Xu hướng này phần ảnh quy luật cung - cầu trong xã hội,
có thể thấy rõ trên các khía cạnh:
- Nhu cầu ngày càng gia tăng về số lượng lân chất lượng của sản phẩm từ cay lương thực, thực phẩm và nhiêu loại cây trồng khác
- Thị trường cung - câu của sản xuất trồng trọt ngày càng mang tính xã hội hoá và quốc tế hoá
- Công nghiệp hoá và hiện đại hoá có quan hệ tương tác với nông nghiệp và ngày càng thêm chặt chẽ
1.3.2 CCCT phát triển theo hướng một nền kinh tế phát
triển và một nền nông nghiệp ổn định, bên vững
Lịch sử phát triển kinh tế của các nước trên thế giới déu cho thấy rõ:
- Vai trò của nông nghiệp cô tác dụng rất to lớn và có khi
có tính quyết định ở các giai đoạn đầu 6 sự phát triển nên kinh
tế quốc dân Kinh nghiệm của các nước chau Á phát triển như Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaixia đã đạt
mức tăng trương kinh tế nhanh do đã tập trung xây dựng trước hết một nên móng phát triển vững vàng tại nông thôn Các nước
này đã đầu tư rất nhiều vào nông nghiệp và đã thành công
không chỉ trong việc xoá đói giảm nghèo mà ngay cả các ngành phi nông nghiệp cũng tăng trưởng rất nhanh Trong các giai
đoạn sau thì vai trò của nông nghiệp có khác trước, nhưng
Trang 23không có nghĩa là không quan trọng đối với một nền kinh tế phát triển
- Ngày nay người ta càng nhận rõ vấn đề an toàn lương
thực là đặc biệt quan trọng đối với mỗi quốc gia
1.3.3 CCCT phát triển theo hướng bảo vệ tốt môi trường
sinh thái
Kinh tế phát triển, nhất là kinh tế hàng hoá luôn có mặt trái của nó, trong đó sự tác hại đến môi sinh, sự phá huỷ môi
trường sinh thái là điển hình Do đó CCCT tiến bộ không thể
không chú ý đến việc hạn chế sự tàn phá môi trường và hướng
tới bẢo vệ sự đa dạng, bên vững của môi trường sinh thái Nói tóm lại xu hướng phát triển CCCT cần thiết phải được thể hiện
rõ mối quan hệ giữa các phạm trù: sản xuất hàng hoá - nông
nghiệp bền vững- nông nghiệp sinh thái
1.4 QUAN ĐIỂM CHUYỂN ĐỔI CCCT
CCCT tự nó sẽ chuyển đổi dân dân theo hướng tuân thủ các quy luật kinh tế khách quan Vai trò của chủ thể quan ly
thể hiện ổ sự nhận thức đúng đắn các quy luật khách quan để
thúc đẩy sự chuyển đổi CCCT theo hướng có lợi nhất Để định hướng cho việc chuyển đổi CCCT cần nấm vững những quan điểm cơ bản sau đây:
1.4.1 Quan điểm phát triển sẩn xuất hàng hoá
Lịch sử phát triển của xã hội loài người được đánh dấu
một bước tiến bộ có ý nghĩa vô cùng quan trọng đó là sự ra đời
[LA 449/41 ,
Trang 24và phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá Sự phát triển tiếp tục của sẩn xuất hàng hoá trên tất cả các lĩnh vực của hoạt động kinh tế là tất yếu khách quan Quá trình chuyển dịch CCCT từ tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hoá cũng là một yêu câu khách quan đối với phát triển một nền nông nghiệp hiện đại Phải thừa nhận rằng không thể có tái sẩn xuất mở
rộng với nhịp độ phát triển nhanh đối với một nền nông nghiệp
và một CCCT mang nặng tính tự nhiên CCCT của Quảng Nam -
Đà Nẵng cũng như ở một số địa phương trong cả nước về cơ bản vẫn còn mang nặng tính tự cung, tự cấp, tỷ suất hàng hoá thấp Lương thực là cây trồng chủ yếu mà tỷ suất hàng hoá cũng chỉ đạt khoảng 10% Phát triển sản xuất hàng hoá phải gắn liên với thị trường, gắn liên sự trao đổi hàng hoá với sự điều tiết của Nhà nước, nhưng Nhà nước cũng không vì thế mà thay thế cho thị trường Trong điều kiện ở nước ta, việc xác định CCCT theo hướng sản xuất hàng hoá phải tiến hành nghiên
cứu thị trường, làm tốt công tác tiếp thị để tránh những thiệt hại do xác định nhu câu của thị trường không chính xác gây ra
Có nghĩa là phải nhận thức đây đủ quan hệ cung- câu để hành động phù hợp với các quy luật của nó Hiện nay trên thế giới thì các nước châu Phi thiếu nhiều lương thực nhưng hạn chế về khé nang thanh toán nên sức câu chỉ có hạn, vì thế nạn đói vẫn thường xuyên xây ra Đối với nước ta, sản xuất lương thực đã đáp ửng đủ nhu cầu ăn, có dự trữ và hàng năm đã xuất khẩu tren dưới 2 triệu tấn gạo, đứng hàng thứ ba trên thế giới về
xuất khẩu gạo Đối với Quảng Nam - Đà Nẵng dứng trước tình
Trang 25hình lương thực của cả nước như thế phẩi xem xét một cách khách quan sức câu về lương thực của tỉnh và điều tiết của thị
trường mà xác dịnh cơ cấu cây lương thực một cách hợp lý
Không nhất thiết cứ phải tiếp tục đâu tư nhiêu hơn để sản xuất lương thực mà hiệu quả lại đang thấp Sự phát triển một nên
nông nghiệp hiện đại hoá, công nghiệp hoá đòi hỏi mức cầu về nguyên liệu từ các cây công nghiệp sẽ tăng lên nhiều, chẳng
hạn công nghiệp chế biến chè, cà phê, điều, mía đường, dâu tầm sẽ là nơi thu hút nguồn nguyên liệu to lớn mà ở Quảng Nam - Đà Nẵng rất có điều kiện phát triển Hơn nữa đời sống kinh tế xã hội ngày một nâng cao, tiêu dùng của con người đòi hỏi đáp ứng ngày càng tốt hơn các loại nông sản cô chất lượng
và đa dạng, nhu cầu về thực phẩm và rau quả tươi cũng tăng lên Thành phố Đà Nẵng là nơi có điều kiện trở thành trung tâm
công nghiệp, du lịch và đô thị Trong khi đó rau quả tươi khó
vận chuyển, bảo quản và cũng không dễ dàng đưa từ xa đến, vi vậy xác định CCCT cần phải tính đến một vành đai thực phẩm
để giải quyết những nhu cầu bức xúc và mang tính tất yếu đó Nói tôm lại xu hướng CCCT phản ảnh quy luật cung- cầu trong
xã hội và phải được chuyển đổi theo chủ trương: "Không phát triển sản xuất lúa ở những nới kém hiệu quả và ảnh hưởng xấu đến môi trường ([{52]tr16)
1.4.2 Quan điểm khai thác, sử dụng lợi thế so sánh
Đặc trưng của thị trường là có sự cạnh tranh Để bảo đảm thắng lợi trong cạnh tranh kinh tế cần phải biết sử dụng lợi thế
so sánh Điều kiện thời tiết khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới cho
Trang 26phép gieo trồng và thu hoạch nhiều vụ, nhiều loại cây trồng va sản phẩm đa dạng, phong phú Quảng Nam - Đà Nẵng có lợi thế phát triển cây công nghiệp, du lịch Vì thế nông nghiệp cần đáp
ứng nguyên liệu và thực phẩm cho công nghiệp và các dịch vụ
du lịch, Do vị trí địa lý, điều kiện đất đai và sự phan bố không đồng đều giữa các tiểu vùng sinh thái khác nhau trong từng địa
phương nên các địa phương phải bố trí CCCT sao cho tan dung
tối đa những thuận lợi của mình nhằm mang lại hiệu quả kinh
tế cao nhất Chiến lược phát triển kinh tế xã hội nước ta đến nam 2000 da khang định: " Trung du miền núi chuyển sang kinh tế hàng hoá, phát huy thế mạnh về lâm nghiệp, hình thành vùng chuyên canh cây công nghiệp dài ngày, cây an quả gắn với công nghiệp chế biến, phát triển chăn nuôi, khai
khoáng " ˆ [47] tr21)
1.4.3 Quan điểm nâng cao hiệu quả kinh tế- xã hội
Hiệu quả kinh tế - xã hội là mục đích chính, là đặc trưng
cơ bản của mọi hoạt động sẵn xuất, kinh doanh trong nên kinh
tế thị trường Việc chuyển đổi CCCT phải nhằm mục đích đạt
hiệu quả kinh tế - xã hội cao hơn nếu không thì việc chuyển đổi trở nên không có ý nghĩa Tuy nhiên hiệu quả kinh tế cũng cần được xem xét trên quan điểm toàn diện Do đó các chỉ tiêu phải được nghiên cứu, đánh giá là: nang suất cây trồng, năng
suất lao động, giá trị tăng thêm, thu nhập hỗn hợp, lợi nhuận
và các chỉ tiêu đánh giá nhịp độ phát triển của sản xuất nông
nghiệp nói chung và CCCT nói riêng Bên cạnh xác định hiệu
quả kinh tế cũng cần phải chú ý tới hiệu quả xã hội Chuyển
Trang 27đổi CCCT phải vừa bảo đảm tăng hiệu quả kinh tế vừa phải giải
quyết công ăn việc làm cho các tảng lớp dân cư trong nông
thôn, phải tham gia xoá đói giảm nghèo, tạo điêu kiện thu hẹp dân khoảng chènh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị Đồng thời CCCT phải thúc đẩy các thành phần kinh tế tham gia dâu tư phát triển để làm giàu cho bẩn than và cho sự thịnh vượng của đất nước
1.4.4 Quan điểm phát triển kinh tế nhiêu thành phần, đa
dạng hoá hình thức sở hữu và tăng cường ứng dụng các tiến bộ
khoa học kỹ thuật
Để giải phóng nang lực sẳn xuất, huy động mọi nguồn lực, mọi nguồn vốn trong nhân dân, trước hết phải coi trọng và khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển Trong một thời
gian khá dài các tổ chức kinh tế hợp tác xã và nông trường
quốc doanh là những chủ thể quản lý và sử dụng hầu hết đất nông nghiệp Do trình độ quản lý thấp, cơ chế kế hoạch hoá tập trung cao độ đã tạo cho các cơ sở san xuất thiếu chủ động và nhạy bén trong sẵn xuất kinh doanh, việc xác lập CCCT không dựa vào những yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội đây đủ mà theo một sự hướng dẫn cứng nhắc từ các cấp kế hoạch và thực hiện theo cách sản xuất với bất cứ giá nào Tình trạng đó đã để lại nhiêu hậu quả xấu mà khắc phục không dễ dàng Thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần và chuyển nên kinh tế
nước ta sang hoạt động theo cơ chế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì việc xác định CCCT được các thành phần kinh tế thận trọng hơn và theo
Trang 28hướng sản xuất trồng trọt những sản phẩm ma thị trường cần chứ không phải sản xuất những sản phẩm theo kiểu kế hoạch giao từ trên xuống như trước Rõ ràng việc xác định CCCT trong cơ chế quản lý mới đa dạng, phong phú và uyển chuyển hơn, trên cơ sở đa dạng hoá các hình thức sở hữu tư liệu sản xuất, các thành phân kinh tế sẽ sử dụng đất đai trồng trọt hiệu quả hơn
Vấn đề áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất
nông nghiệp là vấn để mang tính xã hội và tính dân tộc Khi
xác định CCCT mới đều phải giải quyết các mối quan hệ giữa tập quán san xuat mang tinh truyền thống và lề lối canh tác lạc hậu với tính khoa học và thời sự của công nghệ mới Việc giải quyết đó không phải là vấn đề giản đơn, tuy nhiên hiệu qua san xuất và lợi nhuận là những chỉ tiêu quan trọng sẽ giúp nông dân có cách nhìn nhận tiến bộ khoa học kỹ thuật mớinhanh
nhạy hơn trước Nông nghiệp trong cơ chế thị trường đỏi hỏi
người nông dân phải chấp nhận sự cạnh tranh về chất lượng và giá cả của các loại nông sản mà họ làm ra Không dê dàng gì
mà khi nào người nông dân cũng tiêu thụ hàng hoá của mình
một cách thuận lợi, kể cả tiêu thụ trong nước và xuất khẩu Để giải quyết vấn để này phải có định hướng cụ thể và các giải pháp về kỹ thuật công nghệ của sản xuất, chế biến Điều đó sẽ tác dụng trực tiếp đến nhận thức và hành động của các hộ nông
dân khi thực hiện chuyển đổi CCCT Mặt khác Nhà nước cũng
cân phải bảo đấm mức độ đầu tư thích đáng và duy trì bao cấp
ở mức độ cân thiết cho hệ thống triển khai tiến bộ kỹ thuật
Trang 29bằng các chính sách khuyến nông, trợ giá đầu vào, chính sách thuế và đâu tư xây dựng cơ sở hạ tảng Với quan điểm đó sẽ giúp cho các hộ nông dân, các chủ thể sử dụng đất đai hưởng ứng và thực hiện việc chuyển đổi CCCT một cách thiết thực và hiệu quả
1.4.5 Quan điểm bố trí cây trồng ưu tiên sẩn xuất nhiều nông sản xuất khẩu
Ngày nay xu hướng quốc tế hoá ngày càng tăng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội Vấn để giao lưu
kinh tế giữa các nước trên thế giới và trong khu vực ngày càng
được củng cố và mổ rộng Trong sản xuất kinh doanh cần căn
cứ vào yêu cầu của thị trường quốc tế, AdamSmith (1723-1790)
và Ricardo (1772-1823) đã xây dựng học thuyết về lợi thế so
sánh và chứng minh lợi ích của các vùng chuyên môn hoá được tăng cường nhờ thương mại Lịch sử phát triển của nên kinh tế
thế giới cũng đã chứng minh những nước biết tranh thủ lợi thế,
xuất khẩu nhiều hàng hoá là những nước vượt lên khỏi tình
trạng nghèo khó và trở thành những cường quốc về phát triển kinh tế Mỹ, Nhạt Bản, Đài Loan, Singapo là những điển hình của phát triển kinh tế đối ngoại Nước ta bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi rất nhiều vốn, trong đó thu bằng ngoại tệ mạnh là mục tiêu hết sức quan trọng để tăng cường vốn cho sự nghiệp phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Muốn vậy nông nghiệp phải được chú trọng và phát triển, phẩi tăng nhanh khối lượng nông sản xuất khẩu Không còn nghi ngờ gì nữa trong điều kiện một nước nông
Trang 30nông nghiệp có nguồn lao động rất dồi dào thì trong một thời gian khá dài tích luỹ phải bất nguồn từ nông nghiệp và kim ngạch xuất khẩu cũng phần lớn do xuất khẩu nông sản dem lại
Rõ ràng việc nghiên cứu chuyển đổi CCCT phải hướng theo xuất khẩu Nghị quyết Đại hội lần thứ VII Đảng cộng sản Việt Nam cũng đã khẳng định " phát triển cây công nghiệp dài ngày và ngắn ngày trên quy mô lớn để cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, xuất khẩu và thay thế nhập khẩu"
(I42]tr63)
1.5 THUC TIEN VỀ CƠ CẤU CÂY TRONG TREN THẾ GIỚI
VÀ Ở VIỆT NAM
1.5.1 CCCT ở các nước trên thế giới
1.5.1.1 Nhóm các nước công nghiệp phát triển
Đặc điểm nồi bật ở các nước này là chuyên môn hoá và
tập trung hoá cao độ, sẵn xuất nông nghiệp nói chung và trồng
trọt nói riêng có sự tác động rõ rệt và hiệu quả của công nghiệp và các tiến bộ khoa học kỹ thuật CCCT không đơn thuần vì mục đích để thu sẩn phẩm mà còn,vì mục đích cải tạo môi trường sinh thái để phát triển nông nghiệp bền vững Tuy nhiên CCCT thường biến đổi, bị lệ thuộc và chịu sự chỉ phối của nền kinh tế thị trường và tính chất sản xuất hàng hoá cao
độ
1.5.1.2 Nhóm các nước dang phát triển
Nhìn chung đối với những nước này chưa giải quyết cơ bản mối quan hệ giữa kinh tế - xã hội - môi trường sinh thái
Trang 31trong quá trình thiết lập các hệ thống canh tac và bố tri CCCT
thích hợp Tuy nhiên cũng đã hướng đến mục tiêu như ở các nước công nghiệp phát triển, đó là việc chuyên môn hoá và tập trung hoá ngày càng được thể hiện rõ nét Tác động của công nghiệp, của khoa học kỹ thuật và chuyển giao công nghệ tuy chưa đạt trình độ như các nước công nghiệp phát triển song
cũng đã dạt được những thành tựu tương đối nổi bật trong khuôn khổ cuộc cách mạng xanh và cách mạng sinh học Hiện nay nói chung CCCT vẫn bị cuốn hút theo kinh tế thị trường nhiều khi còn mang đậm nét truyền thống, tự nhiên, và đại đa
số những nước này đang còn gặp nhiều khó khăn về vấn đề giải quyết lương thực
1.5.1.3 Nhóm các nước kém phát triển và có điều kiện tự
nhiên không thuận lợi
Đối với những nước này việc xác định CCCT chủ yếu là theo tính chất sản xuất tự nhiên, tự cấp, tự túc Hiện có nhiều
nước, đặc biệt các nước châu Phi vẫn chưa tự túc được lương
thực, nạn đói vẫn thường xuyên de doạ Điểm nổi bật ở những nước nay 1a san xuất nông nghiệp kém phát triển, hiệu quả kinh
tế rất thấp, môi trường sinh thái bị phá hoại nghiêm trọng Hình thức canh tác lạc hậu theo lối quảng canh, bóc lột đất đai
và môi trường tự nhiên là chủ yếu Việt Nam cũng là một trong những nước kém phát triển song đặc thù của Việt Nam thể hiện
trong CCCT mang đặc trưng của kinh tế lúa nước
1.5.2 Tình hình phát triển CCCT ở Việt Nam
Trang 321.5.2.1 Trước cách mạng Tháng 8 năm 1945
CCCT ở nước ta nhìn chung rất lạc hậu, thời kỳ này do dân số ít, vấn để đất đai không ở mức hạn hẹp, hình thức sản xuất chủ yếu theo kiểu khai phá, lập ấp, xây dựng trại, mở
mang đồng ruộng và canh tác chính là trồng lúa một vụ, sản
xuất tự nhiên, tự cấp tự túc Ngoài trồng lúa còn có thêm một
số cây lương thực như ngô, khoai, sắn Các vùng trồng cây công nghiệp thì chủ yếu tập trung vào một số ít đồn điển nhỏ của người Pháp như cao su, chè, cà phê, thuốc lá Phương thức trồng trọt phổ biến là quảng canh, nãng suất cây trồng thấp,
thiên tai dịch bệnh thường xuyên chỉ phối làm cho sẩn lượng cây trồng thu hoạch ít, có những năm nhiều vùng còn bị mất
trắng và CCCT thời kỳ này cũng còn phan ảnh về trình độ dân trí thấp kém, không có hiểu biết về khoa học kỹ thuật nõng
nghiệp
1.5.2.2 Thời kỳ kháng chiến chống Pháp và Mỹ
Thời kỳ này về cơ bẩn nông nghiệp vẫn còn rất lạc hậu, nhiệm vụ sản xuất chủ yếu là tập trung giải quyết lương thực
để phục vụ cho chiến đấu CCCT cũng chủ yếu thiên hướng
phát triển các loại cây lương thực gồm lúa và hoa màu, chú ý
đến số lượng mà xem nhẹ chất lượng Tuy nhiên trong CCCT
bước đầu cũng hình thành những vùng chuyên canh như những
vùng cây ăn quả ở Nghệ An, vùng chè ở một số tỉnh Trung du
và vùng núi phía Bắc, vùng rau quanh các thành phố lớn Hà Nội, Hải Phòng Trong sản xuất cũng đã bước đầu áp dụng
Trang 33những thành tựu về khoa học kỹ thuật, đặc biệt là thâm canh cây trồng như giống mới, phân bón, chế độ tưới tiêu Năng suất cây trồng nhờ đó đã tăng lên và có nhiều tiến bộ Miền Bắc cũng đã làm tốt nhiệm vụ là hậu phương lớn cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước toàn thắng
1.5.2.3 Từ năm 1975 đến nay
Sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, thống nhất
đất nước, công tác quy hoạch nông nghiệp đã dược tập trung đầu tư và được đặt ra là nhiệm vụ hàng đầu trong kế hoạch
khôi phục và phát triển kinh tế nông nghiệp trên phạm vi cả nước Việc nghiên cứu chuyển đổi CCCT nhằm từng bước phá thế độc canh cây lúa đã được triển khai và thu được nhiêu kết quả tốt Hàng loạt các tiến bộ kỹ thuật mới trong nông nghiệp
được ứng dụng rộng rãi ở hâu hết các hợp tác xã và tập đoàn
sản xuất Tác dụng của các giống cây trồng mới, các biện pháp
tham canh và một số chính sách kinh tế ngày càng được nhiêu
địa phương, nhiễu hộ nông dân và các tổ chức kinh tế hợp tác
xã, nông trường quốc doanh khẳng định Sự hình thành các vùng chuyên môn hoá khá rõ nét, chẳng hạn vùng cây lương
thực tập trung ở hai vùng trọng điểm đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long Cho đến nay việc phát triển sản xuất lương thực ở hai vùng này đã đấm bảo đổ lương thực và
còn có phần dự trữ và xuất khẩu hàng triệu tấn gao/nam Ngoai
việc tập trung cho vấn đề lương thực, trong những nãm gần đây Đảng và Nhà nước ta cũng đồng thời dẩy mạnh phat trién san xuất các cây công nghiệp, cây ăn quả và các loại rau thực
Trang 34phẩm Bước dầu tạo ra số lượng nông sẩn xuất khẩu đáng kể góp phần chủ yếu tăng kim ngạch xuất khẩu hàng nam cho đất nước và giải quyết nguyên liệu cho công nghiệp chế biến trong nước phát triển Cả nước đã hình thành những vùng chuyên
canh quan trọng như chè, cà phê, cao su, quế, dâu tằm, mía đường, điều , cam, quýt Tuy nhiên xét trên phạm vi cả nước
thì sự chuyển đổi CCCT còn cham chạp, tự phát chưa có những kết quả vững chắc trước những thử thách của cơ chế thị trường, nhiều loại cây trồng phát triển không ổn định Mặt khác trong nhiều vùng kinh tế vẫn chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa
bố trí CCCT với việc giải quyết những vấn dé xa hoi va bảo vệ tốt môi trường sinh thái
1.5.2.4 Những kinh nghiệm chủ yếu xác định CCCT
hợp lý
- Xác định CCCT phải xuất phát từ những mối quan hệ hữu
cơ của các yếu tố trong hệ thống nông nghiệp
- Nên nông nghiệp Việt Nam so với một số nước trên thế
giới có tính đặc thù riêng, rất đa dạng và phong phú Phát triển sẩn xuất nông nghiệp không thể chỉ tập trung cho một ngành nào đó, lại càng không thể tách rời giữa sản xuất và tiêu dùng, giữa sẩn xuất với lưu thông phân phối Nếu chỉ tập trung cho trồng trọt mà xem nhẹ chãn nuôi thì chưa nói đến vấn để thực phẩm mà ngay cả việc cung cấp nguồn phân bón hữu cơ cho
cây trồng cũng không thể đáp ứng được và hiệu quả thâm canh
của chính bẩn thân ngành trồng trọt cũng sẽ giảm thấp Thực
Trang 35tiễn trong những năm, việc xác định và bố trí CCCT còn nặng tính chủ quan và áp đật một cách tuỳ tiện, chưa chú ý đến
những mật cân đối cần phải có, Các cây trồng hay các nhóm cây có những mục đích kinh tế khác nhau chưa thể hiện sự hỗ
trợ cho nhau cùng phát triển Mật khác CCCT cũng chưa lợi
dụng tốt điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của từng địa phương hoặc từng vùng lãnh thổ Trong dó đáng chú ý là ở nhiều vùng có ưu thế về khí hậu, thời tiết, đất đai có thể bố trí tập đoàn cây con có giá trị kinh tế cao và cho năng suất khá như: Tây Nguyên và một số huyện miên núi Quảng Nam - Đà Năng có thể phát triển mạnh cà phê, quế, mía đường, cây an quả Một nhà thổ nhưỡng học đã nói: Một loại đất thì thích
nghỉ với nhiều loại cây trồng, nhưng một loại cây trồng thì chỉ
thích nghỉ với một và chỉ một loại đất mà thôi Trong tổ chức sản xuất ngành trồng trọt và xác định CCCT hiện nay do tác động của cơ chế thị trường việc tìm lời giải cho bài toán trồng
cây gì, diện tích bao nhiêu và ở đâu đang là bài toán hóc búa
chưa được giải quyết thoả đáng Đương nhiên từ một nền sẩn xuất nhỏ phân tán, độc canh và manh múũn chuyển sang sẵn
xuất hàng hoá trong quá trình tìm lời giải cho bài toán trên
không thể tránh khổi những mặt hạn chế Song việc quy hoạch,
định hướng hay nói cách khác là tầm nhìn chiến lược về phát
triển một nên nông nghiệp hàng hoá, đa dạng kết hợp với
chuyên môn hoá, tập trung hoá phẩi được xác định trên cơ sở những căn cứ khoa học Trong những nãm gần đây cùng với xu
thế đổi mới của cả nước, nông nghiệp cũng đã đạt được nhiều
Trang 36thành tựu rất quan trọng, trong đó việc chuyển đổi CCCT theo những định hướng chiến lược đã được thể hiện rất rõ Một số cây trồng đã phát huy thế mạnh và đáp ứng yếu câu thị trường trong nước và xuất khẩu như mía đường Lam Sơn- Thanh Hoá, dau tam Lam Đồng, cà phê Đắc Lắc, Buôn Ma Thuột, chè Bắc
Thái, Hà Giang, Vĩnh phú, lương thực đồng bằng sông Hồng và
đồng bằng sông Cửu Long
- Việc chuyển đổi CCCT cũng như trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một quá trình mang tính khách quan và tính lịch sử, tính ổn định tương đối trên cơ sở vận động và liên
hệ biện chứng của các yếu tố cây trồng, con người và tự nhiên theo xu hướng ngày càng hoàn thiện, hợp lý và hiệu quả Cơ
cấu cũ chuyển đổi dân sang cơ cấu mới rồi trải qua một quá trình sẩn xuất và lưu thông cơ cấu mới lại trở lên bất hợp lý tiếp tục chuyển sang một cơ cấu mới hơn, phù hợp hơn Cứ như thế sự vận động của CCCT luôn luôn nhằm đáp ứng những yêu cầu và đòi hổi của nên kinh tế và sự phát triển của xã hội Quá trình chuyển đổi CCCT ở một vùng hoặc một tiểu vùng sinh
thái điễn ra nhanh hay chậm tuỳ thuộc vàø nhiều yếu tố trong
đó phải kể đến sự tác động trực tiếp và rất quan trọng của chủ thể lãnh đạo và quản lý Những chủ thể đó hoàn toàn có thể
chủ động tác động cho quá trình chuyển đổi diễn ra nhanh hơn
theo hướng vì lợi ích của chính con người và xã hội
Trang 371.6- CHỈ TIÊU DANH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA CCCT Kết quả sẵn xuất và các chỉ tiêu dánh giá hiệu quả kinh tế
là thước đo trình độ tổ chức sẩn xuất và mức dộ thực hiện các nhiệm vụ cụ thể của bất cứ mot hoat dong san xuất kinh doanh nào Pham trù hiệu quả kinh tế bao giờ cũng gắn liên với kinh
tế hàng hoá, nó được biểu hiện qua những chỉ tiêu cụ thể có nội dung,phương pháp tính toán rất rõ ràng Tuỳ thuộc vào
trình độ phát triển cuả hệ thống nghiệp vụ và công tác hạch toán trong từng thời kỳ mà lưa chọn phương pháp xác định các
chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế một cách phù hợp Về khái niệm chung nhất thì hiệu quả kinh tế là kết quả so sánh giữa các chỉ tiêu kết quả và chỉ tiêu hao phí hoặc ngược lại Dù rằng tính toán bằng phương pháp nào chãng nữa thì hiệu quả kinh tế
đêu phần ánh một cách khách quan, trung thực và toàn diện kết
quả của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của bất cứ một cơ sở sản xuất hay một chủ thể nhất định Tính khách quan, trung thực đòi hỏi phải có căn cứ khoa học và thực tiễn, tính toàn diện yêu cầu phẩi nhìn nhận hiệu quả kinh tế dưới nhiêu góc độ khác nhau Hệ thống chỉ tiêu kết quả sản xuất bao gồm khối lượng sản phẩm, giá trị sản lượng, giá trị sản xuất, thu nhập, lợi nhuận, giá trị sản phẩm hang hoá, giá trị gia tăng
Hệ thống chỉ tiêu hao phí có thể bao gồm các chỉ phí vật chất, chi phi lao động sống, các chỉ phí xác định được do áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, các chỉ phí của chủ thể quần lý
và điều khiển.v.v Trên cơ sở các chỉ tiêu kết quả và hao phí
mà tính ra các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế phù hợp với mục đích
Trang 38của vấn để nghiên cứu Đối với quá trình chuyển đổi CCCT thì hiệu quả kinh tế không chỉ xét ở các chỉ tiêu chung mà phải
ứng dụng tính toán một cách phù hợp Bởi vì nói đến CCCT là
việc bố trí các loại cây trồng trên từng loại đất cụ thể Mỗi loại cây trồng đêu ứng với một diện tích gieo trồng nhất định Quy
mô và cơ cấu diện tích gieo trồng nhiều khi quyết định quy mô,
số lượng và cơ cấu sản phẩm của ngành trồng trọt Đối với những nước có trình độ tiên tiến thì đất đai là một chỉ tiêu hao phí và được định giá một cách khoa học Diện tích đất đai và gia tri cua đất trổ thành tư liệu sản xuất đất giá, là yếu tố đầu vào chủ yếu trong sẵẩn xuất nông nghiệp, cho nên kết quả san xuất tính trên 1 đơn vị chi phí về đất trở thành chỉ tiêu hiệu quả kinh tế hàng đầu trong quá trình đánh giá Ở nước ta do những chính sách về sử dụng đất nông nghiệp, diện tích đất đai
sử dụng cho sản xuất được giao cho các thành phần kinh tế khác nhau sử dụng lâu dai, Nha nước nắm quyên sở hưũ và chỉ thực hiện thu thuế sử dụng đất nông nghiệp nên việc đánh giá đất chưa được quy định cụ thể, do đó các chỉ tiêu kết quả sản xuất đạt được trên 1 đơn vị diện tích trở thành chỉ tiêu chung
và quan trọng nhất để đánh giá, so sánh giữa các loại cây trồng, giữa các địa phương hay giữa các chủ thể sử dụng dất Kết quả sản xuất và hiệu quả kinh tế của CCCT còn thể hiện ở các chỉ tiêu giá thành sẩn phẩm, năng suất lao động Đây là những chỉ tiêu chất lượng đánh giá sự tiến bộ của việc chuyển đổi CCCT trong từng đơn vị sẵn xuất hay từng địa phương, từng vùng lãnh thổ
Trang 39Dựa trên những nguyên lý cơ bẩn về xác định hiệu quả kinh tế nói chung và đối với quá trình chuyển đổi CCCT nói riêng thì trong nghiên cứu chuyển đổi CCCT ở tỉnh Quảng Nam
- Đà Nẵng các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế được xác định bao gồm: :
- Sdn lượng và giá trị sản lượng các loại cây trồng thu
được trên một đơn vị diện tích đất đai, 1 đồng chí phí vật chất
hay 1 đồng chỉ phí lao động
- Năng suất từng lọai cây trồng
- Thu nhập bình quân 1 ha đất đai, 1 đồng chi phí vật chất hay 1 đồng chi phi lao dong
- Lợi nhuận thu duge trén 1 ha dat dai, 1 déng chi phi vat chat hay 1 déng chi phi lao dong
Giá trị sản phẩm hang hoá và tỷ suất hàng hoá trên 1 ha đất đai
Các chỉ tiêu tính toán được áp dụng theo phương pháp
tính của hệ thống bảng cân đối kinh tế quốc dân MPS không áp dụng phương pháp tính của hệ thống tài khoản quốc gia SNA bởi vì nghiên cứu chuyển đổi CCCT ở tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng được tiến hành qua nhiều thời kỳ, trải qua thời gian dài để làm
rõ xu hướng biến động của CCCT, đặc biệt là sự chuyển dịch
trong những năm gần đây Việc so sánh qua nhiêu thời kỳ cho
phép sử dụng các chỉ tiêu theo hệ thống MPS một cách dé dàng
mà vẫn có thể đánh giá so sánh được, đồng thời trong quá trình
tính toán để việc so sánh giữa các chỉ tiêu có ý nghĩa, khi xác định chỉ tiêu giá trị đều được tính theo giá cố định năm 1989.
Trang 40Quảng Nam - Đà Nẵng có diện tích đất tự nhiên 11.989
km” trong đó 3/4 diện tích là đổi núi Đất canh tác bình quân
chỉ có 600 -700mŸ/ nhân khẩu, tập trung chủ yếu là đất trồng lúa 50.000 ha, đất trồng màu và cây công nghiệp 70.000 ha
Đáng chú ý là trong tổng diện tích tự nhiên còn có 840.000 ha
đất lâm nghiệp và 50.000 ha đất cát ven biển Quảng Nam - Đà
Năng có 150 km bờ biển, địa hình dốc theo hướng chạy ra biển
nên lũ lụt đến nhanh và thoát ra biển cũng rất nhanh Đặc điểm địa hình trên đây có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình canh tác nông nghiệp, đồng ruộng hàng năm dễ bị xói mòn, rửa trôi những tầng đất canh tác màu mỡ đổ ra sông ra biển Vì vậy việc
khoanh vùng, áp dụng các biện pháp để giữ gìn độ phì nhiêu
của đất canh tác trên địa bàn tỉnh luôn luôn là biện pháp hàng đầu trong tham canh và bố trí CCCT Biểu 1 phần ánh về tình thình sử dụng đất ở Quảng Nam - Đà Nẵng
Điều dáng chú ý trong sử dụng dất ở dây là dất nông nghiệp rất ít, chỉ chiếm 8,7% diện tích tự nhiên Trong diện