TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Lịch sử nghiên cứu Chim nước ngoài
Đông Dương, với cảnh quan thiên nhiên phong phú, đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà Điểu học trong suốt hơn 100 năm qua Mặc dù có nhiều nghiên cứu về động vật hoang dã tại đây, nhưng kiến thức về động vật nói chung và chim nói riêng vẫn còn hạn chế Tài liệu đầu tiên về chim là mô tả các loài Gà Rừng (Gallus galus) của Line, được ghi nhận từ mẫu vật bắt được ở đảo Côn Lôn (Line 1975, Sysema naturae, 1, tr.158).
30 năm, năm 1788 Gomomolanh mô tả loài thứ 2 bắt được ở Đông Dương, đó là một loài chim xanh nam bộ (Choloropsis cochinensis) (Gmenlin, 1788)
Vào khoảng giữa thế kỷ thứ XIX một vài loài chim ở Đông Dương đã được mô tả thêm
Sau khi chiếm đóng miền nam Đông Dương, người Pháp bắt đầu chú ý đến việc nghiên cứu khu vực này Mặc dù không tổ chức sưu tầm quy mô ngay từ đầu, nhưng từ năm 1862 đến 1874, nhiều đợt nghiên cứu về chim đã được thực hiện bởi các nhà tự nhiên học nghiệp dư, thu thập một số lượng mẫu lớn và chuyển về Pháp để xác định.
Từ năm 1874 đến 1903, M.E.Oustales cho xuất bản công trình “chim Campuchia, Lào, Nam bộ và Bắc Bộ Việt Nam” và từ năm 1905 đến năm
Năm 1907, Uxtale và Gecmanh đã xuất bản tập "Danh Sách Chim miền Nam Việt Nam, Nam Bộ" Trong khi đó, Bắc Việt Nam có Butan tổ chức sưu tầm chim, với kết quả được công bố trong tập "Chim Trung Bộ và Nam Bộ Việt Nam", ghi nhận 235 loài, trong đó có 34 loài mới cho khoa học Đồng thời, nhà Điểu học người Nhật Kuroda đã phân tích bộ sưu tập chim của S.Tikia và ghi nhận được 130 loài và loài phụ.
Từ năm 1923 đến 1938, J Dolacua, P Jabuio, J Grinuary và các đồng nghiệp đã thực hiện 07 cuộc sưu tầm lớn tại nhiều vùng khác nhau trên lãnh thổ Đông Dương, thu thập được 23 nghìn tiêu bản Những tiêu bản này sau đó được gửi về Pháp để giám định và được phân chia cho các viện Bảo tàng lớn ở Pháp, Anh và Mỹ.
Năm 1940 Dolacua và Grinuay cho xuất bản danh sách chim thu thập được trong cuộc sưu tầm lần thứ 7 gồm 224 loài và loài phụ
Từ năm 1941 đến 1950, nhiều sưu tập chim từ Lào, Lạng Sơn và các địa phương khác ở miền Bắc Việt Nam đã được gửi về phòng nghiên cứu động vật của trường đại học tổng hợp Đông Dương để giám định Buaret đã phân tích và công bố các sưu tập này, trong đó nổi bật là nghiên cứu về chim ở Lào và Bolio, với 6000 tiêu bản của 505 loài và phân loài Trong 10 năm cuối, nhiều tác giả đã công bố các công trình thu thập chim ở Đông Nam Á, trong đó có 20 dạng mới được phát hiện trên lãnh thổ Đông Dương Dựa trên các công trình này, vào năm 1951, J Delacour đã bổ sung danh sách chim Đông Dương lần thứ 3, mở rộng đến 1085 loài và loài phụ, trong đó có 2 dạng mới.
Năm 1950 đến nay, đã có nhiều ấn phẩm và nghiên cứu đã được xuất bản trong đó có các ấn phẩm được khu vực đông nam á quan tâm như:
Sách "Hướng dẫn phân loại các loài chim khu vực Đông - Nam Á" của tác giả Craig Robson lần đầu được xuất bản vào năm 2005, sau đó được tái bản và bổ sung thông tin vào các năm 2008 và 2011.
Lịch sửnghiên cứu chim ở Việt Nam
Nghiên cứu về tài nguyên động vật hoang dã, đặc biệt là chim ở khu vực Đông Dương, đã bắt đầu từ vài thế kỷ trước Trong tác phẩm "Vân đài loại ngữ" của Lê Qúy Đôn thế kỷ 18, loài Công (Pavo munticus) đã được ghi nhận tại Sơn Tây, và Đại Nam nhất thống chí cũng xác nhận sự tồn tại của loài chim đẹp này ở Phú Lương và Võ Nhai, cũng như nhiều tỉnh miền Trung Tuy nhiên, đây chưa phải là các nghiên cứu khoa học chính thức về chim Tài liệu đầu tiên về chim là mô tả loài Gà rừng (Gallus gallus) của Linnaeus, được thu thập tại đảo Côn Lôn Sau đó, vào năm 1788, Gơmơlanh đã mô tả loài Chim xanh Nam bộ (Chloropsis cochinensis) là loài chim thứ hai được phát hiện ở Đông Dương Mặc dù đã có những ghi chép, nhưng hiểu biết về tài nguyên động vật, đặc biệt là chim, ở Đông Dương vẫn còn hạn chế.
Sau khi chiếm đóng miền Nam Đông Dương, người Pháp bắt đầu quan tâm đến việc nghiên cứu thiên nhiên khu vực này Mặc dù không tổ chức các cuộc sưu tầm quy mô ngay từ đầu, từ năm 1862 đến 1874, nhiều đợt nghiên cứu về chim đã được thực hiện bởi các nhà tự nhiên học nghiệp dư, thu thập được một số lượng mẫu vật đáng kể và gửi về Pháp để phân tích.
Vào năm 1903, M E Oustalet đã xuất bản công trình “Chim Campuchia, Lào, Nam Bộ và Bắc Bộ Việt Nam”, tiếp theo là tập “Danh sách Chim Nam Bộ” của Uxtalê và Gecmanh vào năm 1907 Trong thời gian này, Butan cũng tiến hành sưu tầm chim ở miền Bắc Việt Nam, với kết quả được công bố trong tập “Mười năm nghiên cứu động vật”, ghi nhận 90 loài và cung cấp một số thông tin về sinh học của các loài này (Võ Quý, 1975).
Năm 1918, dưới sự chỉ đạo của Boden Klox, một cuộc sưu tầm chim tại Đông Dương đã thu thập được 1.525 tiêu bản Kết quả của cuộc sưu tầm này được Robinson và Klox công bố trong tập “Chim Trung Bộ và Nam Bộ Việt Nam”, ghi nhận 235 loài và phân loài, trong đó có 34 dạng mới cho khoa học Cùng thời gian đó, nhà Điểu học người Nhật Kurôđa đã phân tích bộ sưu tập chim của S Txikia và ghi nhận 130 loài và phân loài.
Từ năm 1923 đến 1938, J Dơlacua, P Jabuiơ, J Grinuây và cộng sự đã thực hiện 7 cuộc sưu tầm lớn tại nhiều khu vực khác nhau ở Đông Dương, thu thập được 23.000 tiêu bản gửi về Pháp để giám định Những tiêu bản này sau đó được phân phối cho các Viện Bảo tàng lớn tại Pháp, Anh và Mỹ (Võ Quý, 1981).
Từ năm 1941 đến 1950, các mẫu tiêu bản chim thu thập ở Lào và miền Bắc Việt Nam đã được gửi đến phòng nghiên cứu động vật của Đại học Tổng Hợp Đông Dương để giám định Những mẫu vật này đã được Buaret phân tích và công bố Đặc biệt, trong thời gian này, Boliơ đã thực hiện một nghiên cứu quan trọng về chim ở Lào, thu thập được 6.000 tiêu bản.
Tính đến nay, có 505 loài và phân loài chim được ghi nhận, với nhiều nghiên cứu từ các tác giả khác về chim ở Đông Nam Á, trong đó có 20 dạng mới được phát hiện tại Đông Dương Dựa trên những công trình này, vào năm 1951, Dơlacua đã cập nhật danh lục chim Đông Dương lần thứ ba, bao gồm 1.085 loài và phân loài (Võ Quý, 1981).
Sau khi miền Bắc được giải phóng, nhiều nhà khoa học Việt Nam đã bắt đầu nghiên cứu về khu hệ chim tại đất nước Trong số đó, các công trình nghiên cứu nổi bật của các tác giả như Võ Quý và Trần Gia Huấn vào những năm 1960 đã đóng góp quan trọng cho lĩnh vực này.
Trong những năm 1960, nhiều công trình nghiên cứu về chim miền Bắc Việt Nam đã được thực hiện, như các nghiên cứu của Võ Quý và Đỗ Ngọc Quang Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu này chỉ tập trung vào khu hệ chim của một vài vùng nhỏ Đến cuối thế kỷ XX, chương trình hợp tác giữa Viện Điều Tra Quy Hoạch Rừng và BirdLife International đã tiến hành khảo sát một số khu rừng đặc dụng, qua đó phát hiện hai loài chim mới cho khoa học: Khướu Ngọc Linh (Garrulax ngoclinhensis) và Khướu Kon Ka Kinh (Garrulax konkakinhensis).
Năm 2012, Lê Mạnh Hùng xuất bản ấn phẩm "Giới thiệu một số loài
"Chim Việt Nam" là cuốn sách đầu tiên tại Việt Nam giới thiệu bộ sưu tập ảnh của hơn 50% số lượng các loài chim hoang dã trong nước Cuốn sách này không chỉ mang đến cái nhìn sâu sắc về đa dạng sinh học mà còn góp phần nâng cao nhận thức về bảo tồn các loài chim quý hiếm.
Nghiên cứu về chim ở Đông Dương, đặc biệt là Việt Nam, đã có lịch sử kéo dài vài thế kỷ, nhưng chủ yếu do các nhà khoa học nước ngoài thực hiện Sự tham gia của các nhà nghiên cứu trong nước vẫn còn hạn chế Hiện nay, Việt Nam đã ghi nhận 828 loài chim, và nếu tính cả phân loài, tổng số có khoảng 1500 loài thuộc 81 họ và 19 bộ, chiếm khoảng 9% tổng số loài chim toàn cầu Nhiều loài trong số này là quý hiếm và đặc hữu đối với Việt Nam và khu vực Đông Dương Tuy nhiên, các nghiên cứu trước thập niên 90 chủ yếu tập trung vào việc lập danh mục và phân loại, trong khi mục tiêu bảo tồn chưa được chú trọng.
Lịch sử nghiên cứu chim tại khu bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến
Khu BTTN Thượng Tiến được thành lập theo Quyết định số 676-QĐ/UB ngày 30/09/1995 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình, với kết quả điều tra sơ bộ cho thấy có 280 loài động vật thuộc 86 họ và 25 bộ, trong đó có 77 loài chim Tuy nhiên, đây chỉ là số liệu ban đầu phục vụ cho việc xây dựng luận chứng Kinh tế - Kỹ thuật, và phần lớn các loài chim được ghi nhận sống ở các sinh cảnh như ven rừng, trảng cỏ, cây bụi, đồng ruộng và làng bản, trong khi số lượng loài trong sinh cảnh rừng tự nhiên còn hạn chế.
Khu bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến tại Hòa Bình có sự đa dạng sinh học phong phú với 155 loài chim thuộc 29 họ và 9 bộ khác nhau (Vũ Tiến Thịnh, 2011).
Theo báo cáo điều tra đa dạng sinh học tại khu bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến, tỉnh Hòa Bình (Nguyễn Mạnh Hà và cộng sự, 2012), đã ghi nhận 128 loài chim thuộc 13 bộ và 37 họ trong đợt khảo sát này.
Chưa có nghiên cứu nào đầy đủ về đặc điểm sinh thái khu hệ chim tại Khu BTTN Thượng Tiến Các chương trình nghiên cứu được thực hiện chỉ trong thời gian ngắn và không liên tục Hiện tại, các nghiên cứu chủ yếu chỉ ghi nhận sự hiện diện của các loài chim tại khu bảo tồn, thường kết hợp với các chương trình điều tra đa dạng sinh học tổng quát, mà chưa có công trình chuyên sâu về khu hệ chim của Thượng Tiến.
Vì vậy còn có nhiều loài sẽ bị bỏ sót trong quá trình điều tra
ĐỐI TƯỢNG - ĐỊA ĐIỂM - THỜI GIAN -MỤC TIÊU - NỘI
Mục tiêu
Xây dựng cơ sở dữ liệu là yếu tố quan trọng trong việc bảo tồn khu hệ chim và đa dạng sinh học tại Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Thượng Tiến (KBTTNTT) Việc này không chỉ giúp theo dõi sự phát triển của các loài chim mà còn hỗ trợ trong việc quản lý và bảo vệ môi trường sống tự nhiên của chúng Đồng thời, cơ sở dữ liệu sẽ cung cấp thông tin quý giá cho các nghiên cứu và chiến lược bảo tồn, góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về tầm quan trọng của đa dạng sinh học.
Xác định phân bố các loài chim theo đai cao và sinh cảnh tại KBT Xác định các mối đe dọa tới khu hệ chim tại KBT Thượng Tiến
Xây dựng kế hoạch giám sát cho các loài chim quan trọng tại khu bảo tồn nhằm đề xuất các giải pháp hiệu quả trong việc quản lý và bảo tồn hệ sinh thái chim tại khu vực này.
Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
Các loài chim thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu Đề tài được nghiên cứu tại khu bảo tồn Thượng Tiến, tỉnh Hoà Bình, trong đó chủ yếu tập trung tại 2 xã: Thượng Tiến và Quí Hòa
Thời gian nghiên cứu của đề tài từ tháng 2 đến tháng 11 năm 2015, trong đó:
- Thời gian thu thập tài liệu và khảo sát thực địa: tháng 5 năm 2015
- Thời gian điều tra thực địa: tháng 5 – tháng 9 năm 2015
- Xử lý số liệu và hoàn thiện luận văn: tháng 10 – tháng 11 năm 2015
Nội dung nghiên cứu
Luận văn tiến hành nghiên cứu năm nội dung bao gồm:
2.3.1 Xác định sự có mặt các loài chim tại khu bảo tồn
2.3.2 Nghiên cứu phân bố của các loài chim theo đai cao và sinh cảnh 2.3.3 Xác định một số mối đe dọa tới khu hệ chim bảo tồn
2.3.4 Xây dựng kế hoạch giám sát một số loài chim quan trọng và sinh cảnh của chúng
2.3.5 Đề xuất một số giải pháp bảo tồn các loài chim tại khu bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến
Phương pháp nghiên cứu
Thu thập các tài liệu, thông tin có liên quan đến nghiên cứu:
- Các luận văn nghiên cứu về khu hệ chim tại KBT Thượng Tiến và các khu vực lân cậntrước đây
- Báo cáo điều tra đa dạng sinh học tại KBTNTT (Nguyễn Mạnh Hà và cộng sự, 2012)
- Bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng KBT Thượng Tiến tỉ lệ 1/25000 (2012)
- Bản đồ địa hình, khu dân cư của khu vực xã Thượng Tiến 1/25000 (2012)
- Báo cáo định hướng phát triển kinh tế - xã hội của UBND tỉnh Hoà Bình năm 2014, 2015
Các tài liệu nói trên sẽ bổ sung thêm thông tin và làm rõ các nội dung nghiên cứu
2.4.2 Phỏng vấn bán định hướng
Phương pháp phỏng vấn được áp dụng để xác định các mối đe dọa đối với khu hệ chim trong khu bảo tồn, bao gồm các hình thức săn bắt và các tác động tiêu cực khác Đồng thời, phương pháp này cũng giúp xác định sự hiện diện của các loài chim tại khu bảo tồn.
Phỏng vấn bán định hướng được tiến hành đồng thời với điều tra thực địa nhằm giải quyết vấn đề nhầm lẫn giữa các loài chim do sự đa dạng hình thái Đối tượng phỏng vấn bao gồm những người dân địa phương có kiến thức về các loài chim.
Trong bài phỏng vấn, chúng tôi đã gặp gỡ một cán bộ đang công tác tại đội tuần tra rừng ở xã Thượng Tiến và một cán bộ Kiểm Lâm thuộc Ban quản lý khu bảo tồn Qua cuộc trò chuyện, chúng tôi đã thu thập được nhiều thông tin quý giá về công tác bảo vệ rừng và những thách thức mà họ đang đối mặt trong việc quản lý tài nguyên thiên nhiên tại địa phương.
+ Phỏng vấn thợ săn: (02 người)
+ Phỏng vấn người dân địa phương: 36 người (Danh sách được trình bày tại phụ lục 02)
Phương pháp này cung cấp thông tin quan trọng về tài nguyên động vật rừng tại địa phương, bao gồm thành phần loài, mức độ phong phú, phân bố, thức ăn, sinh sản và tình trạng các loài Trong quá trình thu thập thông tin, sử dụng hình ảnh chuẩn về hình thái bên ngoài của các loài và đặt câu hỏi ngắn gọn, dễ hiểu về đặc điểm dễ nhận dạng Gặp gỡ người dân địa phương và đi rừng giúp thu thập thông tin về các loài động vật, nơi ở, tập tính hoạt động, thành phần thức ăn, sinh cảnh, phân bố theo độ cao, số lượng các loài bị đánh bắt và ý nghĩa kinh tế của chúng.
Tất cả thông tin thu thập từ thợ săn và cư dân vùng đệm được ghi chép chi tiết trong phiếu phỏng vấn (Bảng 2.1), trong khi các dữ liệu từ nguồn khác được lưu trữ trong sổ ghi chép thực địa.
Bảng 2.1: Phiếu phỏng vấn thợ săn và người dân vùng đệm
Tên người được phỏng vấn: Tuổi Dân tộc Địa chỉ : Bản Xóm Xã Huyện
Tên loài Địa điểm gặp
Số lượng gặp (Hiếm, ít, nhiều)
Ghi Tên địa chú phương
Danh sách phỏng vấn các hộ dân được thống kê vào (Bảng 2.2)
Bảng 2.2: Danh sách, tạo độ gps các hộ phỏng vấn
Thôn: Xã Huyện Tỉnh Ngày phỏng vấn:……… Người phỏng vấn: Hoàng Văn Thái
Stt Thứ tự các hộ Tên chủ hộ Tuổi Tọa độ GPS
Ghi chú: H-Hộ gia đình phỏng vấn
Phương pháp điều tra theo tuyến được áp dụng để xác định sự hiện diện của các loài chim tại khu bảo tồn, như mô tả trong MacKinnon và Phillipps (2000) Các tuyến điều tra được thực hiện từ sáng sớm đến trưa (11h – 12h) và từ 15:00 đến 18:00h, thời điểm chim hoạt động mạnh mẽ, giúp quan sát hiệu quả hơn Các loài chim bị đe dọa toàn cầu được định vị bằng GPS và ghi nhận trong phần mô tả tình trạng Chim được phát hiện qua quan sát bằng mắt thường, ống nhòm 8x42, và âm thanh hót hay kêu Thiết bị chính cho điều tra bao gồm ống nhòm (Nikon) và máy ảnh chuyên dụng, trong khi tài liệu định loại chim sử dụng là “Birds of Southeast Asia” (Craig Robson, 2005).
Trong nghiên cứu "Chim Việt Nam" (Nguyễn Cử et al 2000), số lượng cá thể của từng loài chim và khoảng cách từ tuyến điều tra đến đối tượng quan sát được ghi nhận Mỗi tuyến điều tra thực hiện từ 2 đến 4 lần, và các cá thể chim được quan sát bằng mắt hoặc qua tiếng kêu sẽ được phân loại theo loài.
Sử dụng điều tra theo tuyến để xác định phân bố thành phần loài chim theo đai cao là một phương pháp hiệu quả Các tuyến điều tra được chọn lựa kỹ lưỡng, đi qua các đai cao khác nhau Người điều tra sẽ tiến hành quan sát và ghi nhận sự hiện diện của các loài chim tại từng đai cao, sau đó thống kê số loài và số lượng cá thể của chúng ở mỗi đai.
Sử dụng phương pháp điều tra theo tuyến giúp xác định sự phân bố của các loài chim trong các loại sinh cảnh khác nhau Tuyến khảo sát sẽ đi qua nhiều dạng sinh cảnh đa dạng và được chia thành các đoạn cụ thể để thu thập dữ liệu chính xác.
Có 5 dạng sinh cảnh chính: trảng cỏ, cây bụi, rừng thứ sinh, rừng nguyên sinh, rừng trồng và làng bản dân cư Việc đi bộ dọc theo tuyến sẽ giúp ghi nhận sự hiện diện của các loài chim trong từng dạng sinh cảnh khác nhau.
Điều tra theo tuyến được sử dụng để xác định các mối đe dọa đối với khu hệ chim, bao gồm săn bắn, phá hủy môi trường sống, chăn thả gia súc và các tác động khác từ người dân bản địa Những mối đe dọa này được ghi nhận trong quá trình điều tra dọc tuyến.
Thông tin của phương pháp điều tra trên tuyến được ghi chi tiết vào (Bảng 2.3)
Bảng 2.3: Điều tra theo tuyến
Ngày … tháng.… năm 2015Thời tiết
Tuyến số: Tọa độ điểm đầu: Tọa độ điểm cuối:…….… Người điều tra:……Thời gian bắt đầu:… Thời gian kết thúc:.…………
TT Sinh cảnh Độ cao
Thông tin dữ liệu thành lập tuyến được ghi tại bảng 2.4
Bảng 2.4: Dữ liệu thành lập tuyến điều tra
Số hiệu tuyến: Tên khu vực điều tra: Độ dài tuyến: Ngày điều tra: Giờ bắt đầu: Kết thúc:
Hướng tuyến: Người điều tra: Kiểu sinh cảnh chính trên tuyến: Điều kiện thời tiết (nắng, mưa, gió, mây, nhiệt độ, độ ẩm)
Kiêu rừng: Trước khi điều tra: Địa hình: Trong khi điều tra:
Dạng sinh cảnh cụ thể
Rừng nguyên sinh và rừng thứ sinh là hai loại rừng quan trọng trong hệ sinh thái Bên cạnh đó, trảng cỏ, cây bụi và cây gỗ nhỏ tạo nên sự đa dạng về môi trường sống Các hệ thống nước như suối, sông và ao cũng đóng vai trò thiết yếu trong việc duy trì sự sống và cân bằng sinh thái Những khu vực ven suối và ven sông là nơi tập trung nhiều sinh vật, góp phần làm phong phú thêm cảnh quan tự nhiên.
N E Trên núi đá Trên núi đất Để xác định phân bố của loài theo đai cao thông tin sẽ được tổng hợp vào bảng 2.5
Bảng 2.5: Phân bố các loài theo đai cao
Tọa độ điểm quan sát trên tuyến (GPS)
Tên Việt Nam Tên khoa học
Phân bố của các loài theo sinh cảnh được thể hiện qua bảng 2.6
Bảng 2.6: Phân bố các loài theo sinh cảnh
STT Tên loài Sinh cảnh
Tên Việt Nam Tên khoa học Sc1 Sc2 Sc3 Sc4 Sc5
Phương pháp điều tra lưới mờ được áp dụng để xác định sự hiện diện của các loài chim tại khu bảo tồn, đồng thời phân tích sự phân bố của chúng theo độ cao và các loại sinh cảnh khác nhau.
Trong nghiên cứu tại KBT, 5 lưới mờ kích thước tiêu chuẩn (9x3m và 12x3m) đã được sử dụng để điều tra một số loài chim Lưới được giăng ở các sinh cảnh và độ cao khác nhau, đặc biệt là dọc suối khu vực xã Thượng Tiến, thường ở những nơi tranh tối, tranh sáng để giảm thiểu khả năng phát hiện của chim Thời điểm giăng lưới là vào sáng sớm, và lưới được kiểm tra mỗi 2 giờ Các cá thể chim dính lưới được gỡ ra một cách cẩn thận để tránh gây tổn thương, sau đó được định loại, chụp hình và thả lại tại vị trí dính lưới.
Trong quá trình điều tra, chúng tôi đã thực hiện giăng lưới tại bốn điểm khác nhau trên tuyến, ở các độ cao và sinh cảnh đa dạng Kết quả của nghiên cứu này được ghi chép chi tiết trong Bảng 2.3.
2.4.5 Xác định các mối đe dọa tới khu hệ chim
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN-KINH TẾ-XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
Lịch sử hình thành Khu ba ̉o tồn thiên nhiên Thươ ̣ng Tiến
Thượng Tiến là khu bảo tồn đầu tiên của tỉnh Hòa Bình, được thành lập theo Quyết định 94/CT ngày 09/08/1986 Khu bảo tồn thiên nhiên này có diện tích ban đầu là 1.500 ha (theo Bộ NN&PTNT, 1997) và được phê duyệt luận chứng kinh tế-kỹ thuật vào năm 1995 với tổng diện tích mở rộng lên đến 7.308 ha Khu bảo tồn nằm trên ranh giới hành chính của ba xã: Thượng Tiến, Kim Tiến (Kim Bôi) và Quý Hòa (Lạc Sơn).
Khu Bảo tồn Thiên nhiên Thượng Tiến được thành lập theo Quyết định số 1242/QĐ-UB của UBND tỉnh Hòa Bình vào ngày 09/10/2000 Đây là một trong những khu rừng đặc dụng của Việt Nam, được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận với diện tích 7.308 ha vào năm 2010 Theo kết quả rà soát, hiện tại Khu Bảo tồn Thượng Tiến có diện tích 5.892,99 ha, theo Công văn số 676/QĐ-UBND ngày 3/4/2007.
Bảng 3.1: Diện tích Khu Bảo tồn Thượng Tiến Phân theo loại đất Diện tích (ha)
Diện tích đất có rừng 5.284,80
Diện tích không có rừng 588,19
Theo phân khu chức năng
Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt 1.496,00
Phân khu phục hồi sinh thái 1 2.643,79
Phân khu phục hồi sinh thái 2 1.733,20
Điều kiện tự nhiên
Khu BTTN Thượng Tiến, thuộc huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình, có tổng diện tích tự nhiên lên tới 7.308 ha Khu vực này nằm trên địa giới hành chính của ba xã: Thượng Tiến và Kim Tiến (huyện Kim Bôi) cùng xã Quý Hòa (huyện Lạc Sơn), với tọa độ địa lý chính xác.
+ Từ 105 0 20’ đến 105 0 30’ kinh độ Đông
+ Từ 20 0 30’ đến 20 0 40’ vĩ độ Bắc
+ Phía Bắc giáp xã: Tú Sơn, Vĩnh Tiến, Đông Bắc, Hợp Đồng,huyện Kim Bôi
+ Phía Nam giáp xã: Miền Đồi, Tuân Đạo, Mỹ Thành - huyện Lạc Sơn + Phía Đông giáp xã: Kim Bình, Kim Bôi, Kim Truy, Cuối Hạ - huyện Kim Bôi
+ Phía Tây giáp xã: Xuân Phong, Yên Thượng, Yên Lập - huyện Cao Phong
KBTTN Thượng Tiến nằm ở khu vực núi cao với dải núi chính là Cốt Ca và các dải núi phụ Đỉnh Cốt Ca cao nhất đạt 1.073m, với độ dốc bình quân từ 25° đến 30° và chiều dài sườn dốc từ 1.000 đến 2.000m Khu bảo tồn này còn là lưu vực của suối Thượng Tiến, một suối lớn trong vùng thượng lưu sông Kim Bôi, cung cấp nước cho nhà máy thủy điện Kim Tiến tại huyện Kim Bôi.
Khu Bảo tồn Thiên nhiên Thượng Tiến nằm thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh, mưa mùa hè, thời kỳ khô từ 2,1 đến 3,0 tháng
Nguyễn Khanh Vân (2000) cho biết, tỉnh Hòa Bình có một trong những khu vực có lượng mưa lớn nhất, đặc biệt là vùng đầu nguồn của sông Bôi và sông Bưởi.
Các số liệu quan trắc tại Trạm Khí tượng Thủy văn Kim Bôi (20 o 40’ độ vĩ Bắc, 105 o 32’ độ kinh Đông) cho thấy, mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng
10, tập trung tới 90,38% tổng lượng mưa của cả năm (bảng 3.2)
Gió mùa Đông Bắc vào mùa đông tạo ra nhiệt độ thấp và độ ẩm cao tại Khu Bảo tồn, khiến khu vực này không có mùa khô rõ rệt như Tây Bắc và thường xuyên có mưa phùn.
Gió mùa Tây Nam gây khô nóng vào đầu mùa hạ
Gió mùa Đông Nam thổi từ Biển Đông vào, thịnh hành trong các tháng cuối hạ đầu thu, gây mưa chủ yếu cho Khu Bảo tồn
Khí hậu của khu vực này tương đối ôn hòa nhờ sự ảnh hưởng của ba khối khí, không có tháng nào hạn hán nghiêm trọng Mùa khô kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau, với ba tháng khô hạn là tháng 12, tháng 1 và tháng 2, khi lượng mưa chỉ bằng 2 lần nhiệt độ trung bình tháng Điều kiện khí hậu lý tưởng này rất thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của thực vật cũng như cho sự tái sinh rừng Vùng này có lượng mưa trung bình là 1.600 mm/năm và chịu tác động từ ba hướng gió chính.
Bảng 3.2: Số liệu thủy văn của huyện Kim Bôi
I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII
Nguồn: Nguyễn Khanh Vân, 2000 Khu vực này có độ ẩm trung bình đạt 85%, với mức độ ẩm cao nhất là 89% và thấp nhất là 80% Nhiệt độ bình quân trong khu vực là 23°C, trong đó nhiệt độ cao nhất ghi nhận được là
29 o C, thấp nhất là 10 o C Ở các đỉnh cao như Cốt Ca, đồi Thung có thể có băng giá hình thành trong một thời gian ngắn vào các ngày đại hàn
Hệ thủy của Thượng Tiến bao gồm 4 chi lưu và nhiều suối nhỏ chằng chịt, cung cấp nước quanh năm Suối Thượng Tiến chảy theo hướng Đông Nam vào sông Bôi, trong khi một số suối nhỏ khác hướng về huyện Lạc Sơn ở phía Nam của Khu Bảo tồn.
Khu BTTN Thượng Tiến chủ yếu được hình thành từ núi đất và đá, với hai loại đá mẹ chính là đá Bazich và Sa Thạch.
* Thổ nhưỡng: Kết quả điều tra lập địa đã phát hiện có hai nhóm đất chính và ba nhóm đất phụ
- Nhóm đất núi (có độ cao trên 300m) diện tích 6.257 ha
Nhóm đất Feralit phát triển trên đá Bazich màu nâu với diện tích 5.020 ha, chủ yếu tại hai xã Thượng Tiến và Kim Tiến, bao gồm 1.234 ha ở phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và 3.786 ha ở phân khu phục hồi sinh thái I và II Ngoài ra, nhóm đất Feralit cũng phát triển trên đá Sa thạch với diện tích 1.237 ha, tập trung tại xã Quý Hòa trong phân khu phục hồi sinh thái II.
Nhóm đất đồi có độ cao dưới 300 m, với màu nâu nhạt và phát triển trên đá Bazich, có tầng đất sâu từ 50 đến 100 cm Đây là loại đất được hình thành từ khoáng vật Bioxin và Ôlepin, sở hữu thành phần cơ giới thịt trung bình, khả năng thấm nước và giữ nước tốt, rất phù hợp cho nhiều loại cây trồng lâm nghiệp.
Điều kiện dân sinh, kinh tế-xã hội
KBTTN Thượng Tiến tọa lạc trong địa giới hành chính của ba xã thuộc hai huyện Kim Bôi và Lạc Sơn, với tổng cộng 2.148 hộ và 10.641 nhân khẩu Trong đó, số người làm nông nghiệp chiếm đến 93,2%, tương đương 9.914 người Dân cư trong khu vực chủ yếu thuộc hai dân tộc chính.
- Đồng bào người dân tộc Mường chiếm 97,07% tổng dân số
- Người Kinh chiếm 2,93 % tổng dân số
Sản xuất nông nghiệp là nguồn thu nhập chủ yếu của người dân, với tổng diện tích đất ruộng tại 3 xã là 537 ha và sản lượng lúa hàng năm đạt 3.042 tấn, tương đương 285 kg/người/năm Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp chỉ đáp ứng được 90% nhu cầu lương thực của cộng đồng Mức thu nhập bình quân đạt 1.366.000 đ/người/năm, trong khi khu vực còn tồn tại 356 hộ nghèo, chiếm 17% tổng số hộ.
Đời sống khó khăn và khoảng cách xa trung tâm huyện khiến phần lớn người dân chỉ học hết cấp 2, với 406 người hoàn thành cấp 3 và 28 cán bộ có trình độ trung cấp, cao đẳng làm việc tại Ủy ban nhân dân xã và các Hợp tác xã Trình độ dân trí thấp, xã chỉ có 1 trường học chung cho cả tiểu học và trung học cơ sở, trong khi một số khu vực vẫn chưa có điện lưới quốc gia, gây khó khăn cho cuộc sống, đặc biệt là ở xóm Khú, xã Thượng Tiến.
Khu BTTN Thượng Tiến được chia thành hai phân khu chính: phân khu bảo vệ nghiêm ngặt với diện tích 1.496 ha, bao gồm 485 ha rừng giàu, và phân khu phục hồi sinh thái.
Khu BTTN Thượng Tiến có tổng diện tích 5.812 ha, trong đó 3.519 ha là đất có rừng, chiếm 79% diện tích tự nhiên Cụ thể, rừng gỗ bao gồm 2.950 ha với các loại rừng như rừng non phục hồi (245 ha), rừng nghèo (890 ha), rừng trung bình (449 ha) và rừng giàu (1.366 ha) Ngoài ra, khu vực còn có 301 ha rừng nứa, vầu, giang, 31 ha rừng núi đá và 237 ha rừng trồng Diện tích đất không có rừng là 1.133 ha, cùng với 1.076 ha đất nông nghiệp và 84 ha đất khác.
Rừng thường xanh nhiệt đới trên núi thấp tại đây có thảm thực vật phong phú, với cấu trúc 2-3 tầng Tầng trên bao gồm các cây gỗ lớn như Chò chỉ, Sến, Re, Giổi, trong khi tầng dưới là các loài cây chịu bóng như Trâm, Vàng anh, và lớp cây bụi nằm ở tầng dưới cùng.
Trong những năm gần đây, công tác trồng rừng đã được đẩy mạnh thông qua các dự án như PAM – 327, chương trình 5 triệu ha rừng và dự án KFW 7, với việc trồng các loài cây như Lát hoa và Luồng, cho thấy sự sinh trưởng và phát triển tốt Từ năm 2000 đến 2004, ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên đã thực hiện dự án xây dựng vườn thực vật ở Thượng Tiến với nguồn kinh phí từ Nhà nước.
3.3.5 Hiện trạng Các khu vực điều tra
Dựa trên kết quả đánh giá và nghiên cứu tại khu vực, chúng tôi đã tiến hành khảo sát tất cả các tiểu khu thuộc 3 xã Thượng Tiến, Kim Tiến và Quý Hòa Tất cả các vùng rừng trong Khu Bảo tồn Thượng Tiến đang bị tác động mạnh bởi các hoạt động của người dân địa phương, bao gồm khai thác lâm sản, gỗ, khai thác cá và đặc biệt là chăn thả gia súc tự do trong khu vực này.
Khu vực điều tra chi tiết nhất chủ yếu tập trung vào các khu rừng tốt, ít bị tác động bởi con người, nơi có nhiều thông tin về sự phân bố của động và thực vật.
Khu vực rừng thuộc xã Thượng Tiến: Đây là xã có diện tích lớn nhất trong
Khu Bảo tồn nằm trong lưu vực suối Thương Tiến, chủ yếu gồm rừng tái sinh và tre nứa với độ dốc lớn Sinh cảnh chính là rừng pha tre nứa ở các đai thấp dưới 700 m và rừng thường xanh phục hồi ở các đai trung bình và cao trên 700 m Ở các đỉnh núi, chủ yếu là trảng cỏ và cây bụi thấp Khu vực rừng ở xã Thượng Tiến chịu tác động mạnh từ các hoạt động của cộng đồng dân cư trong xã và các vùng lân cận thuộc huyện Kim Bôi và Cao Phong.
Khu vực rừng thuộc xã Kim Tiến:Kim Tiến nằm ở phía Đông của Khu
Khu vực Bảo tồn có diện tích rừng đặc dụng hạn chế nhất trong ba xã, chủ yếu là rừng tái sinh và cây bụi bị tác động mạnh Rừng ở đây chủ yếu là các trảng cây bụi và cây gỗ nhỏ trên sườn núi Cốt Ca Do gần thi trấn Kim Bôi, khu vực này chịu ảnh hưởng lớn từ các hoạt động của cộng đồng địa phương như khai thác gỗ, lâm sản và chăn thả gia súc.
Khu vực rừng thuộc xã Quý Hòa là khu vực có diện tích lớn thứ hai trong Khu Bảo tồn, chủ yếu bao gồm rừng thứ sinh và rừng thứ sinh xen tre nứa ở sườn núi thấp Rừng thường xanh thứ sinh tập trung quanh xóm Đồi Thung, trong khi rừng thường xanh bị tác động trung bình nằm giữa xã Thượng Tiến và Quý Hòa Mặc dù đây là khu rừng tốt nhất trong Khu Bảo tồn, nhưng không còn rừng nguyên sinh Kiểu rừng tốt nhất ở đây là rừng thường xanh bị tác động nhẹ thông qua khai thác chọn, với diện tích lớn hơn so với các khu vực khác.
70 ha là kiểu trảng cây bụi và trảng cỏ, nằm ở các đỉnh núi (Cốt Ca), vùng hồ Cạn và quanh xóm Đồi Thung.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Xác định sự có mặt của các loài chim tại khu bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến
Khu vực hai xã Thượng Tiến và Quí Hòa đã ghi nhận tổng cộng 87 loài chim thuộc 34 họ và 12 bộ khác nhau Danh sách các loài chim quan sát được được trình bày chi tiết trong bảng 4.1.
Bảng 4.1: Danh lục các loài chim ghi nhận tại KBTTN Thượng Tiến
STT Tên Việt Nam Tên khoa học
1 Gà rừng Gallus gallus TL, QS
2 Cò trắng Egretta garzetta TL, QS
3 Cò ruồi Bubulcus ibis TL, QS
4 Diều hoa miến điện Spilornis cheela
5 Cắt lưng hung Falco tinnunculus C-IIB MV, TL,
IV BỘ BỒ CÂU COLUMBIFORMES
6 Gầm ghì lưng xanh Ducula aenea TL, NT
7 Gầm ghì lưng nâu Ducula badia TL, QS
8 Bìm bịp lớn Centropus sinensis TL, QS
9 Bìm bịp nhỏ Centropus bengalensis TL, QS
10 Phướn Phaenicophaeus tristis TL, QS
11 Tìm vịt Cacomantis merulinus TL, QS
12 Cu cu đen Surniculus lugubris QS
13 Vẹt ngực đỏ Psittacula alexandri NĐ-IIB QS, NT
14 Cú mèo khoang cổ O bakkamoena C-IIB PV, QS
15 Yến cằm trắng Apus affinis PV, QS
17 Bồng chanh Alcedo atthis NT, QS
18 Trảu lớn Nyctyornis athertoni QS, PV
19 Phường chèo đỏ lớn Pericrocotus flammeus QS
20 Phường chèo đen Hemipus picatus QS
21 Chào mào đít đỏ Pycnonotus jocosus QS, NT
22 Bông lau tai trắng Pycnonotus aurigaster QS, PV
23 Cành cạch lớn Alophoixus pallidus QS, NT
24 Cành cạch nhỏ Iole propinqua QS, NT
25 Cành cạch đen Hypsipetes leucocephalus QS, NT
26 Bách thanh đuôi dài Lanius schach QS, TL
27 Chuối tiêu đất Pellorneum tickelli NT
28 Chuối tiêu ngực đốm Pellorneum ruficeps NT, TL
29 Họa mi đất mỏ đỏ P ochraciceps NT, QS
30 Họa mi đất ngực luốc P ruficollis QS, NT
31 Họa mi đất ngực hung P ferruginosus QS, NT
32 Khướu đá đuôi ngắn Napothera brevicaudata QS, PV
33 Khướu bụi vàng Stachyridopsis chrysaea QS, PV
34 Khướu bụi đầu đen Stachyris nigriceps QS, PV
35 Khướu bụi đốm cổ S striolata QS, PV
36 Khướu bụi bụng trắng Erpornis zantholeuca QS, PV
37 Khướu má hung G.castanotis QS, TL
38 Kim oanh tai bạc Leiothrix argentauris QS, TL
39 Khướu lùn cánh xanh Minla cyanouroptera QS, TL
40 Chích bông đuôi dài Orthotomus sutorius QS, TL
41 Chích đớp ruồi mỏ vàng Orthotomus sutorius QS, TL
42 Chích mào vàng Phylloscopus coronatus QS, TL
43 Chích hai vạch Phylloscopus trochiloides TL, NT
44 Chích ngực vàng Bradypterus luteoventris QS, NT,
45 Chích mào xám Seicercus tephrocephalus QS, NT
46 Chích di hung Phylloscopus subaffinis TL, QS
47 Chích đuôi xám Phylloscopus reguloides QS, TL
48 Chích đuôi trắng Phylloscopus davisoni QS, TL
49 Chích mào vàng Phylloscopus coronatus QS, NT
50 Chích mày xám Phylloscopus maculipennis NT, TL
51 Đớp ruồi xanh xám Eumyias thalassina QS, TL
52 Đớp ruồi cằm đen Niltava davidi QS, TL
53 Đớp ruồi đầu xám Culicicapa ceylonensis QS, NT
54 Đớp ruồi trắng Cyornis concretus
55 Đớp ruồi hải nam C hainanus TL, QS
56 Chích choè Copsychus saularis QS, NT
57 Chích choè lửa Copsychus malabaricus NĐ-IIB MV, PV,
58 Rẻ quạt họng trắng Rhipidura albicollis QS, TL, PV
59 Bạc má Parus minor NT, QS
60 Chim mào vàng Melanochlora sultanea NT, TL
61 Bạc má rừng Sylviparus modestus NT, TL
62 Chim sâu vàng lục Dicaeum minullum QS, NT
63 Hút mật họng tím Cinnyris jugularis QS, NT
64 Hút mật đỏ Aethopiga siparaja QS, TL
65 Hút mật ngực đỏ Aethopiga saturata QS, TL
66 Sẻ Passer montanus PV, QS
67 Chèo bẻo xám Dicrurus leucophaeus TL, QS
68 Chèo bẻo D macrocercus TL, QS
69 Chèo bẻo rừng D aeneus TL, NT
70 Chèo bẻo cờ đuôi chẻ D paradiseus QS, NT
71 Chèo bẻo mỏ quạ Dicrurus annectans QS, NT
72 Giẻ cùi xanh Cissa chinensis QS, TL
73 Giẻ cùi U erythrorhyncha TL, QS
74 Choàng choạc xám Dendrocitta formosae NT, QS
75 Chim khách Crypsirina temia NT, TL
76 Mỏ rộng hung Serilophus lunatus QS
77 Chìa vôi rừng Dendronanthus indicus TL, PV
78 Chim nghê ̣ ngực vàng Aegithina tiphia QS, TL
79 Nhạn rừng Artamus fuscus QS, TL
80 Chiền chiện đầu nâu Prinia rufescens QS, TL
81 Chiền chiện bụng vàng Prinia flaviventris QS, TL
82 Đớp ruồi xanh gáy đen Hypothymis azurea QS, TL, PV
83 Hoét xanh Myophonus caeruleus QS, TL, PV
XII Bộ Gõ kiến Piciformes
84 Thầy chùa đầu xám M faiostricta QS, TL, PV
85 Gõ kiến nhỏ đầu xám Dendrocopos canicapillus TL, PV, QS
86 Gõ kiến xanh gáy vàng Picus flavinucha TL, PV, QS
87 Gõ kiến nâu đỏ Gecinulus grantia TL, PV, QS
Nguồn thông tin:(TL) – Tài liệu; (MV) - Mẫu vật; (PV) - Phỏng vấn; (NT) – Nghe thấy; (QS) – Quan sát
Tình trạng: SĐVN – Sách đỏ Việt Nam, 2007[]; NĐ - Nghị định 32/2006/NĐ-CP[]; IUCN – Sách đỏ IUCN, 3.2015.[]; C – Công ước CITES
Bảng 4.2: So sánh kết quả điều tra hiện tại với nghiên cứu gần đây
Nguồn tham khảo Số bộ Số họ Số loài
Nguyễn Mạnh Hà và cộng sự 2012 13 37 128
Kết quả điều tra cho thấy có 41 loài, 3 họ và 1 bộ được ghi nhận Sự thiếu hụt trong số lượng loài có thể do chim di cư theo mùa, cùng với số lần điều tra còn hạn chế trên từng tuyến, ảnh hưởng đến quá trình khảo sát.
Đặc điểm phân bố các loài chim theo đai cao tại khu vực nghiên cứu
Khu bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến được chia thành 4 đai cao khác nhau, mỗi đai có sự phân bố chim rõ rệt Đai từ 400 - 600m ghi nhận 60 loài, trong khi đai từ 800 - 1000m chỉ có 27 loài Tại đai 200 - 400m, 39 loài và 109 cá thể được quan sát, với sinh cảnh đa dạng bao gồm suối, rừng trồng và đồng ruộng, nhưng diện tích hạn chế Đai 400 - 600m, chủ yếu là sườn đồi, ghi nhận 60 loài và 118 cá thể, có sinh cảnh phong phú với rừng thứ sinh và nguyên sinh, ít bị tác động bởi con người Đai từ 600 - 800m có 51 loài và 99 cá thể, là khu vực chuyển tiếp với khí hậu ôn đới và độ ẩm cao Cuối cùng, đai 800 - 1000m, với địa hình hiểm trở và nhiệt độ thấp, chủ yếu có cây bụi thấp, ghi nhận 27 loài và 41 cá thể, trong đó có một số loài chim ăn thịt.
Bảng 4.3: Phân bố của các loài chim theo đai cao Đai cao 200 - 400 400 - 600 600 - 800 800 - 1000 Độ cao trung bình 300 500 700 900
Tỉ lệ % số cá thể 30 32 27 11
Hình 4.1: Phân bố số loài chim theo đai cao
Số lương loài Đai cao
Kết quả từ bảng 4.3 và Hình 4.1 cho thấy, tại khu vực nghiên cứu, các loài chim chủ yếu tập trung ở các đai cao từ 400 - 600 mét và 600 - 800 mét Sự phân bố này là do các yếu tố thời tiết thuận lợi như nhiệt độ ôn đới, độ ẩm cao, cùng với ít tác động từ con người, tạo ra sự đa dạng về sinh cảnh sống, thảm thực vật, nguồn thức ăn và nơi trú ngụ cho các loài chim Ngược lại, đai 800 - 1000 mét với địa hình hiểm trở và nhiệt độ thấp lại có sinh cảnh không đa dạng Tuy nhiên, khu vực này vẫn là nơi cư trú của một số loài quý hiếm như Diều hoa miến điện (Spilornis cheela) và Ưng lớn (Accipiter gentilis).
(Falconidae ) , Họ thiên đường (Monarchidae)và họ hút mật
Hình 4.2: Tỉ lệ phần trăm số cá thể quan sát qua các đai
Sự phong phú về sinh cảnh sống và nguồn thức ăn dồi dào dẫn đến sự khác nhau trong kích thước quần thể của các loài Cụ thể, khi lên cao, số lượng cá thể và loài giảm đi rõ rệt.
Tỉ lệ % số cá thể
Hình 4.3: Bản đồ thể hiện phân bố của một số loài chim theo đai cao tại KBT Thượng Tiến
Đặc điểm phân bố của các loài chim theo sinh cảnh
Các sinh cảnh chính và phân bố của các loài trong khu vực
Khu vực nghiên cứu có sự đa dạng về sinh cảnh, được chia thành 5 dạng chính, với sự phân bố rõ rệt của các loài chim Trong đó, rừng nguyên sinh ghi nhận 80 loài, rừng thứ sinh 74 loài, trong khi sinh cảnh làng bản và dân cư chỉ có 24 loài Kết quả đánh giá này cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho việc đề xuất các giải pháp bảo tồn, nhằm bảo vệ các sinh cảnh tự nhiên của các loài chim trong khu vực Sự khác biệt trong đặc điểm và phân bố của các loài chim ở từng sinh cảnh là yếu tố cần xem xét trong công tác bảo tồn.
Trảng cỏ, cây bụi, và xen cây gỗ nhỏ là một dạng sinh cảnh với 37 loài thực vật được ghi nhận, chiếm diện tích nhỏ trong khu vực Sinh cảnh này thường phân bố tại các chân đồi, sườn đồi, hoặc đỉnh đồi, núi, nương, và dẫy Các loài thực vật chủ yếu bao gồm cỏ, cây bụi và cây gỗ nhỏ với độ tàn che thấp Đây là môi trường sống quan trọng cho nhiều loài chim nhỏ như chim chích, chuối tiêu đất, và sẻ.
Rừng thứ sinh là dạng sinh cảnh chính trong khu vực nghiên cứu, với 74 loài phân bố rộng rãi Đây là khu vực chuyển tiếp giữa khu dân cư, rừng trồng và rừng nguyên sinh, chiếm diện tích lớn trong khu bảo tồn Tại đây, người ta có thể gặp nhiều loại chim nhà như sẻ nhà, chào mào, chích chòe, chim sâu, các loại chim hút mật và các loài thuộc họ cu cu và họ chào mào.
Rừng nguyên sinh là dạng sinh cảnh chủ yếu của KBT, chiếm diện tích lớn với 80 loài được ghi nhận Nằm ở độ cao trên 500m, khu vực này được bảo vệ nghiêm ngặt và ít bị tác động Đặc trưng bởi sự đa dạng thực vật phong phú, nơi đây cung cấp nguồn thức ăn dồi dào với kích thước và độ che phủ lớn Rừng nguyên sinh cũng là nơi sinh sống của nhiều loài chim, bao gồm các loài quý hiếm như Gà lôi trắng (Lophura nycthemera) và các loài trong họ Khướu (Timaliidae).
Rừng trồng là dạng sinh cảnh chiếm diện tích lớn, chủ yếu bao gồm rừng Keo, Bạch Đàn và Luồng, với đặc điểm thực vật thuần loài đơn điệu Trong khu vực này, có thể gặp nhiều loài phổ biến như Sẻ, Cò trắng, và Chích, với tổng cộng 28 loài phân bố trong sinh cảnh rừng trồng.
Khu vực nghiên cứu về làng bản và dân cư ghi nhận 24 loài chim, với đặc trưng là các khu dân cư nằm trong thung lũng và bao quanh bởi núi đất và sườn đồi Đây được xem là nơi chuyển tiếp giữa các dạng sinh cảnh, nơi có thể bắt gặp nhiều loài chim nhà như Sẻ nhà, Chào mào, Chích bông đuôi dài, Bông lau tai trắng và các loại Hút mật Gần các khu đồi thấp, có thể thấy thêm các loài như Giẻ cùi, Chim nghệ ngực vàng và Phướn Nhìn chung, thành phần loài giữa sinh cảnh trảng cỏ cây bụi và khu dân cư không có sự khác biệt lớn.
Bảng 4.4: Phân bố của các loài theo sinh cảnh
Stt Sinh cảnh Số loài
1 Trảng cỏ, cây bụi, xen cây gỗ nhỏ (Sc1) 37
5 Làng bản, dân cư (Sc5) 24
Hình 4.4: Phân bố số loài chim theo dạng sinh cảnh
Hình 4.4 cho thấy rằng rừng thứ sinh và rừng nguyên sinh là hai sinh cảnh chủ yếu phân bố của hầu hết các loài chim trong Khu bảo tồn, điều này dễ hiểu vì chim thường chọn nơi phù hợp với hoạt động và kiếm ăn Hai sinh cảnh này cung cấp nguồn thức ăn phong phú nhờ sự đa dạng của hệ thực vật, bao gồm nhiều loại cây, tầng tán và các loài côn trùng cùng động vật nhỏ Kết quả này cũng nhất quán với các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa đa dạng loài và cấu trúc thảm thực vật như của MacArthur & MacArthur (1961) và Wiens (1992) SC2 và SC3 là hai sinh cảnh chính trong Khu bảo tồn, nơi hầu hết các loài chim quý hiếm được ghi nhận.
Các mối đe dọa tới các loài chim tại khu bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến
Khu bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến đang đối mặt với áp lực từ các hoạt động của con người, đặc biệt là săn bắn và phá hủy sinh cảnh, gây ra mối đe dọa nghiêm trọng đối với hệ chim tại đây.
Sc1 Sc2 Sc3 Sc4 Sc5
Săn bắt động vật hoang dã chủ yếu sử dụng súng, nỏ hoặc bẫy, chiếm 70% nguyên nhân gây suy giảm sinh thái Phá hủy sinh cảnh diễn ra qua nhiều hình thức như khai thác gỗ củi và lâm sản ngoài gỗ không bền vững, cùng với việc chuyển đổi đất canh tác của người dân địa phương, dẫn đến mất rừng tự nhiên, chiếm 20% Ngoài ra, các nguyên nhân khác như chăn thả gia súc, thực thi pháp luật yếu kém và ô nhiễm môi trường cũng góp phần vào vấn đề này, chiếm 10%.
Bảng 4.5: Các nguyên nhân đe dọa khu hệ chim Thượng Tiến
Các nguyên nhân đe dọa tới các loài chim Tỉ lệ %
Phá hủy môi trường sống 30 %
Săn bắt là nguyên nhân chính gây suy giảm 60% số lượng các loài chim tại khu vực điều tra, chủ yếu do người dân địa phương thực hiện Các loài chim bị săn bắt thường được sử dụng làm thực phẩm cho gia đình hoặc bán ra thị trường, đặc biệt là những loài có giá trị kinh tế cao Người dân sử dụng nhiều loại dụng cụ săn bắt như súng, nỏ và các loại bẫy khác nhau như bẫy lồng và bẫy dính để bắt sống chim, nhằm mục đích làm cảnh hoặc tiêu thụ.
Hầu hết các loài chim cỡ trung bình đến lớn được người dân sử dụng làm thực phẩm, trong đó có các loài như gà rừng (Gallus gallus), cu gáy (Streptopelia chinensis), bìm bịp lớn (Centropus sinensis) và bìm bịp nhỏ (Centropus bengalensis) Ngoài ra, nhiều loài chim thuộc họ khướu nổi bật với giọng hót hay, như họa mi (Garrulax leucolophus) và khướu bạc má (Garrulax chinensis), cũng được ưa chuộng nhờ vẻ đẹp hình thái, chẳng hạn như chích chòe lửa.
(Copsychus malabaricus), Cu gáy (Streptopelia chinensis),Gà lôi trắng
(Lophura nycthemera), Diều hoa miến điện (Spilornis cheela), Chào mào (Pycnonotus jocosus)thường được đem bán ra thị trường
Kết quả điều tra tại KBT Thượng Tiến cho thấy các loài chim đang bị đe dọa chủ yếu bởi hai yếu tố: săn bắt và phá hủy sinh cảnh Những mối đe dọa này cũng đã được nêu ra trong các báo cáo đánh giá tình trạng khu hệ chim tại nhiều khu vực khác ở Việt Nam (Nguyễn Cử và Nguyễn Trần Vỹ, 2006; Trần Quang Ngọc và cộng sự, 2001; Lê Trọng Trải và Trần Hiếu Minh, 2000).
Săn bắt chim bằng bẫy lưới gây nguy hiểm cho các loài chim sống theo bầy, như gà trong họ trĩ và gà so (Chris Dickinson, Văn Ngọc Thịnh, Danny Lenain, 2006) Hoạt động này thường do nhu cầu buôn bán động vật hoang dã (Nguyễn Cử và Nguyễn Trần Vỹ, 2006), dẫn đến suy giảm số lượng chim trong khu vực phân bố của chúng Do đó, việc điều tra nhu cầu buôn bán động vật hoang dã tại KBT Thượng Tiến là cần thiết Dữ liệu thu thập sẽ giúp xác định các loài thường bị săn bắn, từ đó đề xuất giải pháp bảo tồn và nâng cao nhận thức cộng đồng về tầm quan trọng của hệ sinh thái chim tại đây.
Hình 4.5: Hai cá thể Diều hoa miến điện (Spilornis cheela) bị bẫy và nuôi trong nhà người dân tại thôn Vãng xã Thượng Tiến
Hình 4.6: Chào mào (Pycnonotus jocosus) được nuôi trong nhà người dân thôn Lươn xã Thượng Tiến
Phá hủy sinh cảnh là nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm 30% số lượng các loài chim trong khu vực điều tra Các hoạt động như khai thác gỗ củi, lâm sản ngoài gỗ không bền vững, chăn thả gia súc bừa bãi và chuyển đổi đất canh tác đã gây ra tình trạng này, đặc biệt tại các vùng giáp ranh của KBT như xã Thượng Tiến và xã Quí Hòa Hệ quả là sinh cảnh của các loài chim, đặc biệt là các loài trong họ Ưng và họ Cắt, bị phá hủy do mất đi các cây gỗ lớn để làm tổ Thêm vào đó, việc thực hiện các hoạt động này đã tạo ra nhiều đường giao thông và tiếng ồn, gây quấy nhiễu và xua đuổi các loài chim khỏi môi trường sống của chúng.
Hình 4.7: Ruộng canh tác tại vùng lõi khu bảo tồn thượng tiến Thôn
Hình 4.8: Nương canh tác mới được mở dọc suối cái Xã Quí Hòa
Xây dựng kế hoạch giám sát một số loài chim quan trọng và sinh cảnh của chúng
Theo Nghị định 32 – 2006 của chính phủ, công ước CITES, Sách đỏ Việt Nam và Danh lục đỏ của IUCN năm 2015, đã xác định được 11 loài chim quý hiếm nằm trong danh sách bảo vệ Trong số này, không có loài nào được ghi trong danh lục đỏ của IUCN (3.2015), và chỉ có 1 loài được liệt kê trong Sách đỏ Việt Nam năm 2007 Kết quả chi tiết được thể hiện trong Bảng 4.6.
Bảng 4.6: Danh sách các loài chim quý hiếm tại KBTTN Thượng Tiến
Sách đỏ Việt Nam (2007): CR - Rất nguy cấp; EN - Nguy cấp; VU - Sắp nguy cấp: NT –
Sắp bị đe dọa; LR - Ít lo ngại
Danh lục đỏ IUCN (2015): EX - Tuyệt chủng; EW - Tuyệt chủng ngoài tự nhiên; CR -
Cực kỳ nguy cấp; EN - Nguy cấp;VU - Sắp nguy cấp; LC - Ít lo ngại
Nghị định 32/2006: IB – Thuộc phụ lục IB; IIB – Thuộc phụ lục IIB
Công ước CITES: IB – Thuộc phụ lục IB; IIB – Thuộc phụ lục IIB
Xây đựng kế hoạch giám sát cần đạt một số mục tiêu cụ thể sau
TT Tên Việt Nam Tên Khoa học
Tình trạng bảo tồn NĐ32
1 Gà lôi trắng Lophura nycthemera IB LR
2 Diều hoa miến điện Spilornis cheela NĐ-IB, C-IIB
3 Ưng ấn độ Accipiter trivirgatus C-IIB
4 Diều nhật bản Buteo burmanicus C-IIB
5 Cắt lưng hung Falco tinnunculus C-IIB
6 Vẹt ngực đỏ Psittacula alexandri NĐ-IIB
7 Cú mèo latusơ Otus spilocephalus C-IIB
8 Cú mèo khoang cổ O bakkamoena C-IIB
9 Cú vọ mặt trắng Glaucidium brodiei C-IIB
11 Chích choè lửa Copsychus malabaricus NĐ-IIB
Mục tiêu quản lý tại KBT Thượng Tiến là bảo tồn các loài chim và bảo vệ sinh cảnh của chúng Kế hoạch quản lý được xây dựng cho từng tháng trong năm, bao gồm toàn bộ phạm vi KBT với các phân khu rõ ràng: phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái, phân khu hành chính và dịch vụ, cùng với vùng đệm.
Mục tiêu bảo tồn tổng quát là bảo tồn thành công các loài chim và sinh cảnh của chúng thông qua việc xây dựng mô hình quản lý bền vững, đồng thời thúc đẩy sự hợp tác giữa chính quyền và cộng đồng địa phương.
Mục tiêu của kế hoạch quản lý là nâng cao năng lực quản lý nhằm ứng phó hiệu quả với các mối đe dọa hiện tại đối với sự đa dạng của các loài chim và môi trường sống của chúng trong khu vực nghiên cứu, đặc biệt là tại các điểm nóng về săn bắn và buôn bán động vật hoang dã.
Mục tiêu cụ thể trong quản lý các phân khu chức năng
Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt
1) Giảm săn bắt động vật hoang dã, thông qua thực hiện và tăng cường công tác thi hành luật, chấm dứt săn bắn, bẫy bắt các loài chim;
2) Chấm dứt các hoạt động khai thác gỗ, gỗ củi và thu hái các loại lâm sản ngoài gỗ khác;
3) Chấm dứt việc phát nương làm rẫy và canh tác nông nghiệp trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt;
4) Đảm bảo không tăng thêm các hộ định cư trong khu bảo vệ nghiêm ngặt
5) Kiểm soát cháy rừng và đảm bảo không có cháy rừng do con người gây ra
Phân khu phục hồi sinh thái
6) Giảm săn bắt động vật hoang dã, thông qua thực hiện và tăng cường công tác thi hành luật, chấm dứt săn bắn, bẫy bắt các loài chim;
7) Chấm dứt các hoạt động khai thác gỗ, gỗ củi và hạn chế thu hái các loại lâm sản ngoài gỗ khác;
8) Chấm dứt các hoạt động khai thác gỗ, gỗ củi và hạn chế thu hái các loại lâm sản ngoài gỗ khác;
9) Chấm dứt việc phát nương làm rẫy và canh tác nông nghiệp trong phân khu phục hồi sinh thái;
10) Chấm dứt chăn thả gia súc trong phân khu phục hồi sinh thái;
11) Tiến hành công tác thi hành luật tại các điểm nóng về khai thác gỗ;
12) Không định cư trong phân khu phục hồi sinh thái;
13) Không có cháy rừng do con người gây ra;
14) Không du nhập các loài động thực vật ngoài bản địa vào phân khu phục hồi sinh thái;
Phân khu hành chính dịch vụ
15) Hạn chế xây dựng cơ sở hạ tầng không cần thiết tại phân khu hành chính dịch vụ;
16) Kiểm soát các hoạt động gây nhiều tiếng ồn trong phân khu hành chính dịch vụ
Vùng đệm và khu dân cư
17) Giảm buôn bán động vật tại các xã Thượng Tiến, Quí Hòa
18) Giảm sức ép khai thác gỗ, gỗ củi và lâm sản ngoài gỗ thông qua các chương trình khuyến nông, khuyến lâm vùng đệm;
19) Quy hoạch chăn thả gia súc
Mô tả các hoạt động cần thiết cho kế hoạch quản lý nhằm bảo tồn các loài chim và bảo vệ sinh cảnh cuả chúng (Bảng 4.7)
Bảng 4.7: Hoạt động quản lý bảo tồn
TIÊU HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ CỤ THỂ Ưu tiên
Săn bắn, bẫy bắt các loài chim
Giảm săn bắt các loài chim
Chấm dứt việc bẫy bắt và tiêu thụ các loài chim quý hiếm làm cảnh hoặc thực phẩm
- Tăng cường giám sát các điểm nóng về buôn bán động vật hoang dã, kiểm tra các điểm có tụ tập phiên chợ buôn bán chim;
Tăng cường tuần tra tại các tuyến trọng điểm như Thượng Tiến và Quí Hòa, đặc biệt là trên các đường mòn; thực hiện lịch tuần tra giám sát tại các phân khu quản lý để đảm bảo an ninh và an toàn.
- Thực hiện nghiêm túc chế tài xử phạt cuả Nhà nước đối với việc vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đa dạng sinh học;
- Cấm tuyệt đối việc sản xuất, tiêu thụ và sử dụng súng săn trong phạm vi KBT;
- Tập huấn nâng cao năng lực nhận biết các loài chim quý hiếm cho các cán bộ kiểm lâm và lực lượng vũ trang;
Chính quyền địa phương tại các xã Thượng Tiến, Quí Hòa, Kim Tiến và Hợp Đồng đã phối hợp tổ chức các cuộc hội thảo nhằm nâng cao nhận thức về bảo tồn động vật hoang dã.
- Tiến hành thăm dò ý thức bảo tồn động vật hoang dã cuả người dân các thôn bản qua các cuộc họp dân;
Các hoạt động phá hoại sinh cảnh
Bảo vệ sinh cảnh sống cuả các loài chim
Khai thác gỗ củi và các loại lâm sản ngoài gỗ không bền vững
Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt
Chấm dứt khai thác gỗ củi và các sản phẩm lâm sản ngoài gỗ khác
- Tuần tra thường xuyên các vùng;
- Thực hiện nghiêm túc các quy định về xử phạt cuả Chính phủ đối với việc khai thác trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt
Phân khu phục hồi sinh thái
Hạn chế đến mức thấp nhất khai thác gỗ củi và các sản phẩm lâm sản ngoài gỗ khác
- Tuần tra thường xuyên các vùng;
- Thực hiện nghiêm túc các quy định về xử phạt cuả Chính phủ đối với việc khai thác trong phân khu phục hồi sinh thái;
- Xây dựng quy chế hưởng lợi giữa KBT và người dân trong phân khu phục hồi sinh thái
Vùng đệm và khu dân cư
Khai thác gỗ củi và lâm sản ngoài gỗ bền vững theo quy định cuả Hạt Kiểm lâm KBT
- Xây dựng các cam kết sử dụng tài nguyên rừng bền vững với các thôn giáp ranh;
- Xác định và lập danh sách các loài lâm sản ngoài gỗ được phép khai thác;
- Chỉ tận thu củi từ cây chết ngoài phân khu bảo vệ nghiêm ngặt;
- Cấm buôn bán gỗ củi, chỉ sử dụng cho nhu cầu tại chỗ cuả người dân;
Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt
Chấm dứt việc khai thác gỗ
- Tuần tra thường xuyên, đảm bảo không có khai thác gỗ xảy ra trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt;
- Thực hiện nghiêm túc các quy định về xử phạt cuả Chính phủ đối với việc khai thác gỗ trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt
Chấm dứt tình trạng khai thác gỗ Trò chỉ
Các khu vực như phía Nam Thôn Vãng, Thôn Lươn, Thôn Khú và các xã Thượng Tiến, Hợp Đồng thường xuyên diễn ra tình trạng khai thác gỗ trái phép.
Rất cao sinh thái và các loại gỗ khác trong phạm vi KBT
- Theo dõi các đối tượng thường xuyên khai thác gỗ trái phép;
- Thực hiện nghiêm túc các chế tài xử phạt cuả Nhà nước đối với các vụ vi phạm, nhất là trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt;
Vùng đệm và khu dân cư
Kiểm soát khai thác gỗ bền vững có sự tham gia cuả KBT và cộng đồng địa phương
Nghiêm cấm buôn bán gỗ, kiểm soát khai thác gỗ cho mục đích sử dụng tại chỗ;
- Tìm các nguồn tài chính hỗ trợ người dân quanh KBT thông qua các dự án phát triển lâm nghiệp cộng đồng;
- Phối hợp chính quyền địa phương tổ chức các cuộc họp thôn, tập huấn thôn bản về quản lý và khai thác bền vững tài nguyên rừng
Mất rừng tự nhiên do canh tác
Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt
Chấm dứt canh tác nương rẫy và canh tác nông nghiệp khác
- Phân định rõ ràng ranh giới giữa địa phương và KBT;
- Tổ chức các cuộc họp thôn để thảo luận giải pháp nhằm chấm dứt canh tác trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt;
- Thực hiện nghiêm túc chế tài xử phạt cuả Chính phủ về canh tác trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt
Cao Phân khu phục hồi sinh thái
Chấm dứt canh tác nương rẫy và canh tác nông nghiệp khác
- Phân định rõ ràng ranh giới giữa địa phương và KBT;
- Tổ chức các cuộc họp thôn để thảo luận giải pháp nhằm chấm dứt canh tác trong phân khu phục hồi sinh thái;
- Thực hiện nghiêm túc chế tài xử phạt cuả Chính phủ về canh tác trong phân khu phục hồi sinh thái
Cao Vùng đệm và khu dân cư
Chấm dứt canh tác nương rẫy Áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp
- Không canh tác nương rẫy trong khoảng 0,5km kể từ ranh giới KBT;
- Đánh giá nhu cầu nông nghiệp có sự tham gia tại các thôn bản quanh KBT;
- Đẩy mạnh kinh tế nông lâm kết hợp nhằm tiết kiệm quỹ đất và đảm bảo nguồn thu bền vững;
- Phối hợp chính quyền địa phương xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế nông lâm nghiệp quanh KBT, nhằm giảm sức ép lên tài nguyên KBT
4.5.3 Giám sát và đánh giá các loài chim
(1) Các bước giám sát, đánh giá các loài chim KBT Thượng Tiến:
Bước đầu tiên trong quá trình nghiên cứu đánh giá đa dạng sinh học khu hệ chim của KBT Thượng Tiến là tổng quan các tài liệu liên quan Việc này nhằm xác định các đối tượng giám sát và tiêu chí giám sát phù hợp.
Bước 2: Thiết lập khung giám sát sơ bộ bao gồm các đối tượng giám sát, các tiêu chí giám sát và các phương pháp giám sát
Bước 3:Tiến hành tập huấn cho 7 cán bộ trạm kiểm lâm và 2 cán bộ của KBT về phương pháp giám sát
Bước 4: Xây dựng phần mềm quản lý và phân tích số liệu giám sát bằng Phần mềm Smart, giúp quản lý, phân tích, đánh giá và hiển thị các đặc trưng của các loài cần giám sát Hệ thống bản đồ số GIS và thiết bị GPS được sử dụng để tổng hợp, phân tích và hiển thị thông tin về loài giám sát, đồng thời hỗ trợ thu thập và thống kê số liệu thực địa, xác định tuyến đường và vị trí hiện tại.
(2) Phác thảo nội dung chương trình giám sát các loài chim quý hiếm tại KBT:
Mục tiêu của việc giám sát là theo dõi tình trạng quần thể các loài chim có giá trị bảo tồn cao, đặc biệt là những loài nguy cấp (EN) và sắp nguy cấp (VU) theo Nghị định 32 và CITES Các tác động chính của con người đến tài nguyên khu hệ chim tại KBT Thượng Tiến, bao gồm săn bắt, khai thác gỗ trái phép, canh tác nương rẫy và chăn thả gia súc, cần được giám sát để bảo vệ sinh cảnh của loài chim Đối tượng giám sát được chia thành hai cấp: cấp 1 là các nhóm loài hoặc tác động, cấp 2 là các loài cụ thể hoặc tác động cụ thể Việc đánh giá tình trạng của loài hoặc nhóm loài dựa trên số liệu thu được, như được thể hiện trong Bảng 4.8.
Bảng 4.8: Hệ thống giám sát các loài chim nguy cấp, quý hiếm tại KBT Thượng Tiến
Chỉ thị cấp 1 Chỉ thị cấp 2 Các chỉ số giám sát
Nhóm chim trĩ Gà lôi trắng Lophura nycthemera
Tần số cá thể gặp trực tiếp trên km tuyến khảo sát theo quý hoặc năm
Nhóm các loài chim khác
Diều hoa Miến Điện Spilornis cheela
Tần số gặp trực tiếp trên km tuyến khảo sát theo quý hoặc năm
Chỉ thị tác động cuả con người Tiêu chí giám sát
Săn bắt và buôn bán trái phép động vật
- Các loài động vật bị săn bắt buôn bán
- Số lượng bẫy hoặc tuyến bẫy phát hiện được trên km tuyến tuần tra theo quý hoặc năm
- Số lượng người đi săn bắt gặp trên tuyến giám sát theo quý hoặc năm
- Số lượng các loài động vật phát hiện bị săn bắt hoặc buôn bán theo quý hoặc năm
- Số lượng các cơ sở kinh doanh động vật hoang dã trái phép ở vùng đệm theo quý hoặc năm
Khai thác trái phép gỗ và lâm sản ngoài gỗ
- Các loài gỗ có giá trị
- Số lượng cây gỗ và trữ lượng gỗ bị chặt mới trên theo quý hoặc năm
- Số lượng cây hoặc khối lượng lâm sản bị khai thác theo quý hoặc năm
- Số lượng người khai thác bắt gặp theo quý hoặc năm
- Số lượng các cơ sở buôn bán LSNG theo quý hoặc năm
- Khối lượng các LSNG bị buôn bán theo quý hoặc năm
Xâm lấn đất rừng của KBT
- Xâm lấn đất rừng của KBT để sản xuất nông nghiệp, canh tác nương rẫy
- Xâm lấn đất rừng của KBT để xây dựng cơ sở hạ tầng
Diện tích rừng bị xâm lấn theo quý hoặc năm
Chăn thả gia súc tự do trong
Trâu, bò chăn thả rông trong KBT
Tần số xuất hiện các vị trí có dấu vết trâu bò nhà trên km tuyến khảo sát và ước tính mật độ của dấu vết
Các phương pháp giám sát
Giám sát các loài chim là một nhiệm vụ phức tạp, vì mỗi loài yêu cầu phương pháp giám sát riêng biệt Tuy nhiên, có một số phương pháp chung có thể áp dụng để theo dõi chúng mà không cần đi sâu vào từng loài cụ thể.
Để giám sát các loài chim thường bị săn bắt, cần lập tuyến giám sát tại các khu vực có tình trạng này Tuyến giám sát nên có chiều dài từ 2-4km, tùy thuộc vào điều kiện địa hình Người khảo sát sẽ đi bộ dọc theo tuyến với tốc độ chậm (1-2km/h), chú ý quan sát hai bên để phát hiện các loài chim, dấu vết hoạt động của chúng như tiếng kêu, tiếng gáy và tổ, sau đó ghi lại thông tin vào phiếu điều tra đã chuẩn bị sẵn.
- Giám sát buôn bán động vật hoang dã: Một nhóm nhỏ 2-3 người của
KBT thực hiện khảo sát định kỳ tại các cửa hàng buôn bán và nhà hàng ăn uống xung quanh để quan sát và phát hiện động vật hoang dã bị buôn bán Điều tra viên phỏng vấn chủ cửa hàng, nhà hàng và người dân địa phương nhằm thu thập thông tin về chủng loại, số lượng và nguồn gốc buôn bán Tất cả dữ liệu được ghi lại vào phiếu chuẩn bị sẵn (biểu 5.1).
Việc giám sát các hoạt động vi phạm quản lý bảo vệ rừng tại KBT được thực hiện thông qua các đợt tuần tra rừng định kỳ của hai trạm kiểm lâm Các trạm này có các tuyến tuần tra cố định và thực hiện các đợt tuần tra hàng tháng nhằm theo dõi tác động của con người đến tài nguyên rừng Hai lần mỗi tháng, các kiểm lâm viên khảo sát các tuyến tuần tra để phát hiện dấu vết vi phạm như chặt gỗ, chặt cây, hay lấy củi, đồng thời ghi chép số liệu vào phiếu giám sát chuẩn bị sẵn.
Bảng 4.9: Mẫu theo dõi buôn bán động vật rừng
Tên xã……… Vị trí nghiên cứu……… Ngày………… Thành viên nhóm:
TT Tên (chợ, tiệm ăn…) Loài/bẫy/súng Loại Số lượng Đơn vị
Yêu cầu ghi rõ toàn bộ các loài chim sống được bán làm cảnh và các sản phẩm buôn bán như (thịt, các bộ phận khác )
Loại: 1 = chim sống; 2 = chim chết; 3 = bộ phận còn lại chim (thịt, lông,
…) có mô tả kèm theo
Nguồn thông tin: O = quan sát; cách khác ( có mô tả kèm theo)
Nhập, lưu giữ và phân tích số liệu:
Hệ cơ sở dữ liệu giám sát chim KBT được xây dựng dựa trên sự kết hợp của các mô hình dữ liệu quan hệ và cấu trúc Cơ sở dữ liệu này lưu trữ thông tin đa dạng, bao gồm ảnh chụp, hình vẽ và số liệu tích hợp liên quan đến điểm, tuyến giám sát, sinh cảnh và mức độ tác động.
Đề xuất một số giải pháp bảo tồn các loài chim tại khu bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến
Nghiên cứu cho thấy sự đa dạng về khu hệ chim tại KBT Thượng Tiến rất phong phú, với nhiều loài chim quý hiếm Do đó, việc bảo vệ các loài chim và bảo tồn đa dạng sinh học là rất cần thiết Các giải pháp bảo tồn được đề xuất dựa trên tình trạng bảo tồn của các loài chim trong danh mục bảo vệ theo quy định pháp luật và công ước quốc tế.
Dựa trên kết quả nghiên cứu, chúng tôi đề xuất một số giải pháp quản lý bảo tồn khu hệ chim và đa dạng sinh học tại KBTNTT, nhằm nâng cao hiệu quả bảo tồn và phát triển bền vững.
Cần tăng cường kiểm tra và tuần tra rừng để phát hiện và xử lý các vụ vi phạm, đặc biệt tập trung vào các điểm nóng tại Khu bảo tồn ở xã Thượng Tiến và Hợp Đồng, nơi tình trạng khai thác lâm sản và gỗ trái phép diễn ra mạnh mẽ Việc ngăn chặn tình trạng này không chỉ bảo vệ rừng mà còn bảo vệ sinh cảnh sống của các loài chim, đặc biệt là những loài quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng.
Chúng tôi đặc biệt chú trọng đến việc bảo vệ các loài chim ưu tiên bảo tồn trong khu vực, vì đây là những loài có số lượng hạn chế và giá trị cao về mặt bảo tồn, không chỉ cho Khu bảo tồn mà còn cho toàn quốc.
Việc kết hợp công tác tuần tra và kiểm soát với các chương trình giám sát đa dạng sinh học là rất quan trọng, giúp duy trì sự liên tục trong công tác điều tra giám sát Sự kết hợp này không chỉ hỗ trợ ghi nhận và xác định thông tin về tình trạng và phân bố của các loài chim quý hiếm mà còn đòi hỏi đầu tư vào trang thiết bị cần thiết để nâng cao hiệu quả của công tác điều tra giám sát.
Nâng cao vai trò và nghiệp vụ của lực lượng kiểm lâm, đặc biệt tại các trạm kiểm lâm ở những xã có điểm nóng như Thượng Tiến, là điều cần thiết Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa công tác quản lý bảo vệ rừng của Khu bảo tồn và chính quyền các xã, đặc biệt là các xã nằm trong vùng lõi Khu bảo tồn, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý rừng Thêm vào đó, việc tổ chức thường xuyên các lớp tập huấn về điều tra đa dạng sinh học cho cán bộ Khu bảo tồn là yêu cầu cấp thiết, giúp nâng cao năng lực và trình độ của cán bộ chuyên trách, đáp ứng tốt yêu cầu công tác trong thời kỳ mới.
Để nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ rừng, cần thường xuyên tổ chức các hoạt động tuyên truyền đa dạng nhằm thay đổi nhận thức của người dân Việc cải thiện kinh tế cho cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu sự phụ thuộc vào rừng Do đó, bên cạnh các hoạt động tuyên truyền, cần phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương để triển khai các dự án phát triển kinh tế bền vững cho người dân.
KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KIẾN NGHỊ
1) Đã ghi nhận được sự có mặt của 87 loài, thuộc 35 ho và 12 bộ tại khu bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến
Khu hệ chim Thượng Tiến có 3 loài nằm trong Nghị đinh 32/2006, 1 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam (2007) và 8 loài có tên trong CITES Có
Có 11 loài chim cần được ưu tiên bảo tồn, trong đó nổi bật là các loài có kích thước quần thể nhỏ như Diều hoa Miến Điện, Gà lôi trắng, Vẹt ngực đỏ, Cắt lưng hung, Cú mèo khoang cổ và Cú vọ.
2) Khu vực nghiên cứu được chia làm 4 đai cao khác nhau, trong đó các loài phân bố nhiều nhất là đai 400-600, 60 loài tiếp đến 600-800 51 loài; 200-
3) Có 5 dạng sinh cảnh chính trong KBT, Sinh cảnh rừng tự nhiên có số loài phân bố nhiều nhất 80 loài; tiếp đến là rừng thứ sinh 74 loài; trảng cỏ, cây bụi, xen cây gỗ nhỏ 37 loài; Rừng trồng 28; khu dân cư, làng bản 24 Các loài phân bố ở ba sinh cảnh Rừng trồng, Dân cư, Làng bản, Trảng cỏ cây bụi, ít có giá trị về mặt bảo tồn, đa phần là các loài phổ biến như: Sẻ nhà, Cò trắng, Chuối tiêu, Bìm bịp lớn
4) Có 2 mối đe doạ chính đến khu hệ chim của KBT bao gồm: Khai thác, săn bắt trái phép; Phá hủy môi trường sống gồm các hoạt động của người dân vùng đệm như: Khai thác gỗ trái phép, Khai thác lâm sản ngoài gỗ và Phá rừng làm nương rẫy
5) Hệ thống giám sát được phác thảo xây dựng theo 4 bước cho 11 loài chim thuộc nhóm có nguy cơ đe doạ bảo tồn cuả KBT dựa trên các chỉ số giám sát chung cho nhóm
6) Các đề xuất về giải pháp quản lý bảo tồn khu hệ chim nói riêng vàđa dạng sinh học nói chung cho KBT bao gồm: (1) Tăng cường công tác kiểm tra, tuần tra rừng; (2) Quan tâm bảo vệ các loài chim quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng; (3) Kết hợp tuần tra, kiểm soát với giám sátđa dạng sinh học, đồng thời đầu tư trang thiết bị phục vụđiều tra, giám sát; (4) Nâng cao trìnhđộ chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ KBT, tập huấn về phương phápđiều tra đa dạng sinh học; (5) Tuyên truyền, vận động nâng cao ý thức người dân kết hợp xây dựng các chương trình phát triển kinh tế người dân các xã trong KBT
1) Địa bàn nghiên cứu khá rộng, địa hình phức tạp, số lần điều tra trên mỗi tuyến chưa nhiều nên việc quan sát còn nhiều thiếu sót
2) Mưa kéo dài gây khó khăn cho việc điều tra trên tuyến
3) Sự hợp tác của người dân qua quá trình phỏng vấn chưa cao
4) Trong quá trình nghiên cứu các mối đe dọa đến khu hệ chim ở đây chưa được lượng hóa và phân chia thứ hạng, chưa xác định được các điểm nóng về buôn bán trong khu vực
1) Các mối đe dọa đến khu hệ chim ở đây chưa được lượng hóa và phân chia thứ hạng, vì vậy trong thời gian tới nên thiết kế các điều tra riêng biệt để làm rõ các thông tin này Kết quả điều tra sẽ xây dựng được bản đồ phân bố cụ thể và đề xuất các giải pháp bảo tồn cũng như giảm thiểu các mối đe dọa chủ yếu đến khu hệ chim đạt hiệu quả cao
2) Ban quản lý KBT cần thực hiện nhiều chương trình, chính sách đồng bộ để quản lý, bảo vệ tài nguyên rừng như chính sách giao đất giao rừng, giao rừng cộng đồng, chính sách phát triển kinh tế của người dân trong KBT