Phân loại học
1.1.1 Phân loại học Linh trưởng VN
Quan điểm về phân loại thú Linh trưởng ở Việt Nam đã thay đổi theo thời gian và có sự khác biệt giữa các tác giả Theo phân loại của Phạm Nhật (2002), thú Linh trưởng Việt Nam bao gồm 25 loài và phân loài thuộc 3 họ, trong khi Roos cũng đưa ra những quan điểm riêng về vấn đề này.
Theo nghiên cứu của Tilo Nadler và các cộng sự (2004, 2007), thú Linh trưởng Việt Nam bao gồm 24 loài và phân loài thuộc 3 họ Ngược lại, Groves (2004) chỉ ra rằng số lượng loài thú Linh trưởng ở Việt Nam có sự khác biệt đáng kể.
Khu hệ thú Linh trưởng ở Việt Nam bao gồm 24 loài và phân loài, được chia thành 3 họ chính: họ Cu li (Loridae), họ Khỉ (Cercopithecidae) và họ Vượn (Hylobatidae) Mặc dù số lượng loài có sự khác biệt, các tác giả đều đồng thuận về sự phân loại này.
Theo hệ thống phân loại của Groves (2004) khu hệ thú Linh trưởng Việt Nam được trình bày ở bảng 1.1
Bảng 1.1 Phân loại khu hệ thú Linh trưởng Việt Nam theo Grove (2004)
1 Cu li lớn Nycticebus bengalensis
2 Cu li nhỏ Nycticebus pygmaeus
5 Khỉ đuôi lợn Macaca leonine
7 Khỉ đuôi dài Macaca fascicularis
10 Voọc gec manh Trachypithecus germaini
11 Voọc đen má trắng Trachypithecus francoisi
12 Voọc đầu trắng Trachypithecus poliocephalus
13 Voọc Hà Tĩnh Trachypithecus hatinhensis
14 Voọc đen tuyền Trachypithecus ebenus
15 Voọc mông trắng Trachypithecus delacouri
16 Chà vá chân nâu Pygathrix nemaeus
17 Chà vá chân đen Pygathrix nigripes
18 Chà vá chân xám Pygathrix cinerea
19 Voọc mũi hếch Rhinopithecus avunculus
20 Vượn đen tuyền Nomascus concolor
21 Vượn đen Hải Nam Nomascus nasutus
22 Vượn đen má trắng Nomascus leucogenys
24 Vượn má hung Nomascus gabriellae
1.1.2 Vị trí phân loại của loài Voọc Hà Tĩnh (Trachypithecus hatinhensis)
Trong bài viết này, chúng tôi áp dụng hệ thống phân loại thú Linh trưởng theo Groves (2004), vì đây là phương pháp phân loại đầy đủ và phổ biến trong nghiên cứu thú Linh trưởng tại Việt Nam Hiện tại, vị trí phân loại của Voọc Hà Tĩnh được xác định như sau:
Voọc Hà Tĩnh - Trachypithecus hatinhensis
Thông tin về loài Voọc Hà Tĩnh
1.2.1 Đặc điểm nhận biết Đào Văn Tiến (1973) đã đặt tên cho loài là Voọc Hà Tĩnh Trachypithecus francoisi hatinhensis; Lê Hiền Hào (1973), gọi phân loài này là Voọc Hà Tĩnh vì nó phản ánh một hình thái quan trọng là gáy có dải lông màu trắng trên cơ sở đồng nhất với cách đặt tên của 3 phân loài khác thuộc loài Voọc đen này là: Voọc má trắng, Voọc đầu vàng; Voọc mông trắng Trong tài liệu mới nhất về phân loại học của loài Voọc Hà Tĩnh và trong tài liệu của Brandon – Jones, et all (2004) Asian Primates Classification đã khẳng định, xác định tên khoa học của loài Voọc Hà Tĩnh là (Trachypithecus hatinhensis Dao, 1970), đề tài sử dụng theo cách phân loại này khi gọi danh pháp khoa học cho loài Voọc Hà Tĩnh
Voọc Hà Tĩnh có kích thước dài đầu và thân 610 - 615 mm; Dài đuôi 749 -
Voọc Hà Tĩnh là loài thú Linh trưởng cỡ lớn với chiều dài bàn chân sau từ 155 đến 166 mm, cao tai từ 30 đến 35 mm và trọng lượng từ 6,5 đến 10,5 kg Bộ lông của chúng dày, dài, mềm và có màu đen, với mào lông đen trên đỉnh đầu Hai vệt trắng nhỏ bắt đầu từ góc mép, chạy qua má lên vành tai, vòng ra phía sau gần nối liền ở vùng gáy Đuôi của Voọc Hà Tĩnh dài hơn thân, thon đều và cũng có màu đen, trong khi lông vùng háng và quanh bộ phận sinh dục thưa, màu đen nhạt Khi mới sinh, chúng có da mặt, tai, lòng bàn tay và lòng bàn chân màu trắng hồng, mắt xanh đen và toàn thân màu vàng hoe, nhưng sau 3 tuần tuổi, màu lông bắt đầu chuyển dần sang đen Sau 3 đến 6 tháng, bộ lông sẽ giống như con trưởng thành Công thức răng của Voọc Hà Tĩnh là 2.1.2.3/2.1.2.3, tổng cộng 32 chiếc (Nguyễn Hải Hà, 2003).
1.2.3 Phân bố của Voọc Hà Tĩnh
Mẫu vật Voọc Hà Tĩnh lần đầu tiên được ghi nhận tại xóm Cục, tỉnh Nghệ Tĩnh vào năm 1942 Qua các nghiên cứu vào những năm 1964 và 1970, Voọc Hà Tĩnh cũng được phát hiện tại Ninh Hoá và Tuyên Hoá - Quảng Bình Đến năm 1973, các nhà khoa học ghi nhận sự hiện diện của loài này ở Như Xuân - Thanh Hoá, Con Cuông, Tương Dương - Nghệ An Các cuộc điều tra gần đây cho thấy Voọc Hà Tĩnh chủ yếu tập trung ở các huyện Minh Hoá, Bố Trạch và Xuân Trạch thuộc tỉnh Quảng Bình, với số lượng đáng chú ý nhất tại Minh Hoá và Bố Trạch.
(1995) Vũ Ngọc Thành (1995, 2000), Nguyễn Hải Hà (2002, 2003, 2004, 2009,
2011), Nguyễn Mạnh Hà (2006), Lê Khắc Quyết năm (2001, 2002)
Trong giai đoạn từ 1998 đến 2011, các số liệu thống kê cho thấy sự phân bố của Voọc Hà Tĩnh đã thay đổi đáng kể, với việc không còn quan sát được loài này ở Nghệ An, Hà Tĩnh và Gia Lai.
Voọc Hà Tĩnh sinh sống trong các khu rừng giàu có, nơi có nhiều cây gỗ lớn mọc trên núi đá Chúng thường sống thành bầy đàn và chế độ ăn của chúng hoàn toàn là thực vật, không tiêu thụ động vật hay côn trùng.
Nghiên cứu về sinh thái và tập tính của Voọc Hà Tĩnh
Nghiên cứu về thú Linh trưởng tại Việt Nam đã được tiến hành từ sớm bởi nhiều tác giả trong và ngoài nước, chủ yếu tập trung vào phân loại học và tình trạng các loài Mặc dù thông tin về phân bố và tình trạng của loài Voọc Hà Tĩnh đã được báo cáo chi tiết, nhưng các đặc điểm sinh thái và tập tính của loài này vẫn còn là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm.
Early studies by foreign scientists on the Voọc include research by Groves (2001, 2004), Brandon-Jones (1995, 1996), and Nadler (2003) Groves (2001) categorized the Hà Tĩnh Voọc as originating from the species Trachypithecus francoisi hatinhensis, while Brandon-Jones (1995) identified it as stemming from Semnopithecus hatinhensis Additionally, Goodall (1996) also recognized it as Trachypithecus francoisi hatinhensis, further supported by Nadler (2003).
Theo Roos (2004), loài Voọc đen Hà Tĩnh (Trachypithecus laotum hatinhensis) không có nguồn gốc phát sinh từ Voọc Hà Tĩnh mà có thể bắt nguồn từ loài Voọc đen tuyền (Trachypithecus laotum ebenus).
Từ năm 1964 đến 1991, nghiên cứu về Voọc Hà Tĩnh đã được thực hiện bởi các nhà khoa học Việt Nam như Đào Văn Tiến, Lê Hiền Hào và Hà Đình Đức, tập trung vào phân bố, tình trạng và quan hệ địa lý của loài này ở một số vùng nhất định Tuy nhiên, các công trình này chủ yếu chỉ là báo cáo sơ bộ và ghi nhận ban đầu về khu hệ và phân loại, trong khi tài liệu về sinh học và sinh thái học vẫn còn rất hạn chế.
Năm 1989, Đào Văn Tiến đã đưa ra giả thuyết nổi tiếng về quá trình tiến hóa tỏa tròn của các phân loài Presbytis francoisi ở Đông Dương, trước đây được gọi là Trachypithecus francoisi Ông chia khu vực phân bố của loài này tại miền Bắc Việt Nam thành ba vùng: Đông Bắc, Tây Bắc và Bắc Trung Bộ Theo ông, từ một loài Presbytis francoisi sống tại khu vực hiện nay là nơi phân bố của phân loài Presbytis francoisi hatinhensis, khoảng 9000 năm trước, các phân loài đã phát tán theo các hướng khác nhau Cụ thể, Presbytis francoisi poliocephalus đã di chuyển về phía Đông Bắc, hiện nay còn tồn tại ở đảo.
Cát Bà Hải Phòng là nơi sinh sống của nhiều loài khỉ, trong đó có Presbytis francoisi leucocephalus, loài này phân bố ở vùng Đông Bắc và xa hơn là Nam Trung Quốc Trong khi đó, Presbytis francoisi francoisi phát tán lên phía Bắc và được tìm thấy ở Đông Bắc cùng một phần phía Nam Trung Quốc Loài Presbytis francoisi delacouri di cư về phía Tây Bắc và định cư tại khu vực Tây Bắc, trong khi Presbytis francoisi laotum phát tán về phía Tây và phân bố ở miền trung Lào.
Từ năm 1992 đến nay, nghiên cứu về sinh thái và tài nguyên sinh vật đã được phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam, với sự tham gia của nhiều nhà khoa học từ các trường đại học và viện nghiên cứu như Trường Đại học Lâm nghiệp, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, và Viện điều tra quy hoạch rừng Các tổ chức quốc tế và phi chính phủ như FFI, WWF, CI, PCI, IUCN, và Frankfurt Zoological Society cũng đóng góp tích cực vào lĩnh vực này Những công trình nghiên cứu tiêu biểu của các tác giả như Cao Văn Sung, Đặng Huy Huỳnh, Hà Đình Đức, và nhiều nhà khoa học khác đã góp phần quan trọng vào sự hiểu biết về sinh thái Việt Nam.
Mạnh Hà (2006) đã tổng hợp các kết quả nghiên cứu về phân bố, tình trạng và phả hệ di truyền của Voọc Hà Tĩnh, cùng với những đặc điểm sinh học và sinh thái của chúng tại Trung tâm cứu hộ thú Linh trưởng Vườn Quốc gia Cúc Phương và trong môi trường tự nhiên.
Phạm Nhật (2002) đã thực hiện nghiên cứu bằng cách cho Voọc Hà Tĩnh thử nghiệm với các loại thức ăn khác nhau, từ đó lập danh sách các loài thực vật có thể làm thức ăn cho loài này.
Phạm Nhật, Corvert, Đỗ Quang Huy và Nguyễn Hải Hà (2004) đã tiến hành nghiên cứu về phân bố và đặc điểm sinh học của các loài Linh trưởng tại VQG Phong Nha - Kẻ Bàng Báo cáo này đã mô tả các đặc điểm di chuyển và tập tính vận động của chúng, đồng thời thống kê được 51 loài thực vật mà Voọc sử dụng làm thức ăn.
Hà Tĩnh và Chà vá chân nâu
Nalder, Nguyễn Xuân Đặng, Lomée và Momberg (2003) đã nghiên cứu và trình bày các đặc điểm hình thái, sinh thái, tập tính phân bố, tình trạng và các mối đe dọa đối với loài khỉ ăn lá tại Việt Nam.
Nguyễn Vũ Khôi (2005) đã biên soạn một cuốn hướng dẫn điều tra ngoại nghiệp thú Linh trưởng, cung cấp tài liệu tra cứu nhanh cho các loài trong bộ Linh trưởng Cuốn sách này nêu rõ đặc điểm nhận biết, phân bố và tình trạng của các loài trong sách Đỏ thế giới và Việt Nam, hỗ trợ cán bộ Kiểm lâm và nhân viên hải quan trong việc kiểm soát và ngăn chặn nạn buôn bán trái phép động vật hoang dã.
Lê Thúc Định, Nguyễn Quang Vĩnh, Đinh Hải Dương, Thiều Thanh Vân
(2009), Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái và tập tính của Voọc Hà Tĩnh
(Trachypithecus hatinhensis) và Chà vá chân nâu (Pygathrix nemaeus) ở VQG
Phong Nha - Kẻ Bàng, thuộc tỉnh Quảng Bình, là khu vực quan trọng cho việc nghiên cứu và bảo tồn các loài Linh trưởng Tài liệu này nhằm cung cấp thông tin về sự phân bố và đánh giá hiện trạng các loài Linh trưởng tại Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng.
Các nghiên cứu hiện tại chủ yếu tập trung vào phân bố, tình trạng và phả hệ của Voọc Hà Tĩnh, nhưng vẫn thiếu các nghiên cứu đồng bộ về sinh học và sinh thái học của loài này trong môi trường tự nhiên Việc thiếu thông tin về các mối quan hệ sinh thái đã hạn chế khả năng cung cấp cơ sở khoa học cần thiết cho nghiên cứu sinh học và sinh thái học của Voọc Hà Tĩnh trong tự nhiên.
Vùng sống và một số phương pháp nghiên cứu vùng sống
1.4.1 Khái niệm về vùng sống
Vùng sống của mỗi loài động vật được xác định là khu vực mà các cá thể di chuyển để thực hiện các hoạt động hàng ngày như thu thập thức ăn, giao phối và chăm sóc con non.
Phân tích vùng sống của động vật là việc xác định khu vực mà chúng thực hiện các hoạt động hàng ngày, như được nêu bởi Burt (1943) Thông qua việc ghi nhận vị trí của các cá thể, nghiên cứu này cung cấp thông tin quý giá để kiểm tra các lý thuyết về tập tính, sử dụng tài nguyên, phân bố quần thể và sự tương tác giữa các cá thể trong cùng một quần thể.
Kích thước vùng sống của các loài động vật chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố chủ quan và khách quan, bao gồm giới tính, mùa, mật độ quần thể và độ tuổi, như được nêu bởi Burt (1943) Ngoài ra, kích thước vùng sống cũng có thể thay đổi theo kích thước của đàn Một số nghiên cứu khác về các loài Linh trưởng cho thấy rằng kích thước vùng sống có mối tương quan với trọng lượng cơ thể.
Kích thước vùng sống chịu ảnh hưởng bởi việc lựa chọn kỹ thuật và phương pháp ước tính Độ chính xác của kích thước vùng sống có thể thay đổi khi áp dụng phương pháp hệ thống ô lưới với các kích thước ô lưới khác nhau.
1.4.2 Một vài phương pháp ước tính vùng sống đang được sử dụng
Hiện nay, có nhiều phương pháp phân tích và ước tính kích thước vùng sống Dựa trên việc xác định vị trí các điểm nghiên cứu, phân tích vùng sống được chia thành 4 phương pháp chính.
- Đa giác lồi tối thiểu (Minimum convex polygons)
- Mô hình 2 biến số thông thường (Bivariate normal models)
- Mô hình phi tham số (Nonparametric models)
- Mô hình đường đồng mức (Contouring models)
Trong nghiên cứu và ước tính vùng sống của các loài Linh trưởng, các nhà khoa học thường dử dụng một số phương pháp như:
- Phương pháp ô lưới (Grids cell-GC)
- Đa giác lồi tối thiểu (Minimum convex polygons-MCP)
- Phương pháp đa giác lồi tối thiểu có điều chỉnh (Adjusted minimum convex polygons - Ajusted MCP)
Việc sử dụng các phương pháp ước tính vùng sống khác nhau cho cùng một đối tượng có thể dẫn đến những kết quả khác nhau Hơn nữa, việc áp dụng phương pháp ô lưới với các kích thước ô lưới khác nhau cũng có thể tạo ra sự biến đổi đáng kể trong kích thước vùng sống.
Kích thước vùng sống của các loài khỉ ăn lá thay đổi đáng kể, từ vài chục đến hàng trăm ha, và có thể biến đổi theo thời gian do ảnh hưởng của số lượng cá thể trong đàn Chẳng hạn, đàn Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus) với 32 cá thể có vùng sống lên tới 2,185 km², trong khi Voọc đỏ (Presbytis rubicinda) chỉ chiếm từ 3,3 đến 9,9 ha Đối với Vượn cao vít (Nomascus nasutus), kích thước vùng sống ước tính khoảng 130 ha cho mỗi nhóm.
Nghiên cứu về vùng sống của một số loài khỉ ăn lá cho thấy kích thước vùng sống liên quan đến chất lượng và sự phân bố nguồn thức ăn theo không gian và thời gian Li và Rogers (2004) chỉ ra rằng chất lượng nơi sống của loài Voọc má trắng (Trachypithecus francoisi) tăng lên khi số loài thức ăn ưa thích nhiều hơn, làm tăng sự hấp dẫn của con cái từ phía con đực và kích cỡ đàn tăng theo Đồng thời, Boonratana (2000) cho rằng tỉ lệ hoa và quả trong chế độ ăn ảnh hưởng đến kích thước vùng sống của chúng.
Bảng 1.2 Kích thước vùng sống của một số loài khỉ ăn lá Châu Á
TT Loài Kích thước (ha) Nguồn
1 Voọc đầu trắng 28 - 18 Li & Rogers, 2005
3 Khỉ tây tạng 18 Zhao & Deng, 1988
4 Voọc đầu trắng 19 Zhou & cs., 2006
5 Voọc mông trắng 36 - 46 Nguyễn Vĩnh Thanh, 2007
7 Voọc Hà Tĩnh 80 Lê Thúc Định & cs., 2009
Nghiên cứu cho thấy vùng sống của một số loài khỉ ăn lá có sự thay đổi hàng tháng, nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê Zhou và cộng sự (2006) ghi nhận rằng khoảng 55% hoạt động của Voọc đầu trắng (Trachypithecus francoisi) tập trung ở một khu vực nhỏ, trong khi 22% diễn ra gần các điểm ngủ Ngược lại, Matsuda và cộng sự (2008) nghiên cứu về Khỉ vòi (Nasalis larvatus) cho thấy mức độ sẵn có của thức ăn ảnh hưởng đến vùng sống của chúng, với nguồn thức ăn và mối nguy từ động vật ăn thịt là những yếu tố chính quyết định phân bố của loài.
1.4.4 Quãng đường di chuyển trong ngày Độ dài quãng đường di chuyển trong ngày là một tiêu chí quan trọng, có liên quan tới tập tính sử dụng vùng sống của loài Theo Burt (1943), hoạt động thường ngày của một loài động vật là được thể hiện thông qua việc di chuyển kiếm ăn, giao phối và chăm sóc con non [21] Do vậy, khi nghiên cứu vùng sống của một số loài Linh trưởng, một số tác giả cho thấy độ dài di chuyển trong ngày có liên hệ với tập tính sử dụng vùng sống của mỗi loài, bao gồm: Mức độ phong phú, tính sẵn có và sự phân bố của các loài thức ăn [28]
Nguyễn Vĩnh Thanh (2008) cho rằng chiều dài trung bình di chuyển trong ngày của mỗi đàn Voọc mông trắng (Trachypithecus delacouri) là khác nhau (666,3
Kết quả phân tích thống kê cho thấy sự khác biệt về chiều dài di chuyển trong ngày của loài này không có ý nghĩa Tuy nhiên, vào tháng 4 năm 2006, khi nguồn thức ăn dồi dào, loài này ghi nhận chiều dài di chuyển lớn nhất Điều này cho thấy có sự khác biệt rõ rệt giữa độ dài di chuyển trong ngày và vật hậu học của các loài thực vật mà chúng tiêu thụ.
Quãng đường di chuyển trong ngày của các loài linh trưởng thay đổi theo mùa, chủ yếu do sự khác biệt về nguồn thức ăn Nghiên cứu của Zhou và cộng sự (2006) về loài Voọc đầu trắng cho thấy chiều dài di chuyển trong mùa khô là 403 m và trong mùa mưa là 471 m Loài Khỉ vòi có phạm vi di chuyển lớn hơn, có thể lên đến hàng nghìn mét Boonratana (2000) chỉ ra rằng không có mối tương quan giữa lượng mưa, lá non, hoa, quả và chiều dài quãng đường di chuyển, ngoại trừ tỉ lệ lá non trong khẩu phần ăn, có liên quan trực tiếp đến độ dài quãng đường di chuyển Khi lượng lá non nhiều hơn quả, quãng đường di chuyển sẽ lớn hơn, cho thấy sự đa dạng trong khẩu phần ăn cũng tăng lên Sự gia tăng này có thể do loài linh trưởng thăm dò và kiếm ăn từ nhiều nguồn thức ăn khác nhau.
Nơi ngủ của một số loài khỉ ăn lá rất đa dạng, bao gồm hang, vách đá, rìa đá, bờ đa và trên cây Đặc biệt, loài Khỉ tây tạng được ghi nhận ngủ ở 5 dạng nơi khác nhau Tuy nhiên, loài Voọc đầu trắng chỉ sử dụng hang ngủ tạm thời khi di chuyển bị gián đoạn bởi mưa to.
Tập tính ngủ của một số loài khỉ ăn lá, như Voọc đầu trắng, được cho là nhằm giảm thiểu nguy cơ bị phát hiện bởi động vật ăn thịt Zhou và cộng sự (2009) cho biết, khi di chuyển về nơi ngủ, Voọc đầu trắng thường di chuyển nhanh để hạn chế sự phát hiện của kẻ thù Sau khi rời khỏi khu vực kiếm ăn, chúng dành khoảng 30 phút nghỉ ngơi gần nơi ngủ trước khi đi vào giấc ngủ Thời gian ngủ của loài này thường diễn ra từ 18h30 đến 19h50, với thời gian ngủ sớm hơn vào mùa đông và mùa xuân, còn muộn hơn vào mùa hè và mùa thu Trong suốt quá trình chuẩn bị ngủ, Voọc đầu trắng luôn giữ yên lặng.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Hà (2003, 2006), loài Voọc Hà Tĩnh có thói quen đặc biệt là không thay đổi nơi ngủ trong nhiều năm Chúng thường lựa chọn các hang nhỏ và vách đá làm chỗ nghỉ ngơi, giúp bảo vệ khỏi mưa, khí hậu lạnh và kẻ thù tự nhiên Độ cao của những nơi ngủ này dao động từ 29 đến 50 mét.
Mục tiêu nghiên cứu
Bài viết cung cấp thông tin về đặc điểm sinh thái và vùng sống của Voọc Hà Tĩnh, đồng thời nêu rõ các mối đe dọa chính đối với hệ sinh thái thú Linh trưởng Từ đó, bài viết đề xuất một số giải pháp quản lý và bảo vệ nhằm phát triển bền vững tài nguyên thú Linh trưởng tại Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng.
1 Nghiên cứu được một số đặc điểm sinh thái của Voọc Hà Tĩnh
2 Đánh giá được các mối đe dọa chính tới khu hệ thú Linh trưởng tại VQG Phong Nha - Kẻ Bàng
3 Đề xuất được các giải pháp nhằm quản lý, bảo tồn khu hệ thú Linh trưởng tại VQG Phong Nha - Kẻ Bàng.
Đối tượng nghiên cứu và địa điểm nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là loài Voọc Hà Tĩnh (Trachypithecus hatinhensis Dao, 1970), đề tài được tiến hành tại VQG Phong Nha - Kẻ Bàng, Quảng Bình.
Nội dung nghiên cứu
1 Mô tả các dạng sinh cảnh chính trong khu vực nghiên cứu
2 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái thức ăn của Voọc Hà Tĩnh
3 Nghiên cứu về vùng sống và sử dụng vùng sống của Voọc Hà Tĩnh
4 Đánh giá các mối đe doạ đối với Voọc Hà Tĩnh tại khu vực nghiên cứu
5 Đề xuất một số giải pháp cho công tác bảo tồn và phát triển quần thể Voọc
Hà Tĩnh tại VQG Phong Nha - Kẻ Bàng.
Phương pháp nghiên cứu
Tham khảo tài liệu liên quan đến khu vực nghiên cứu, bao gồm điều kiện tự nhiên và tình hình dân sinh kinh tế xã hội, là rất quan trọng Việc tổng hợp và phân tích các tài liệu hiện có về Voọc Hà sẽ giúp hiểu rõ hơn về đặc điểm và tình trạng của loài này trong môi trường sống của nó.
Tài liệu bao gồm sách báo đã xuất bản và các báo cáo điều tra chưa công bố, cùng với việc tham khảo một số nghiên cứu trước đây về loài.
Chuẩn bị đầy đủ trang thiết bị và dụng cụ cần thiết cho quá trình điều tra và nghiên cứu là rất quan trọng, bao gồm bảng biểu, nhật ký thực tập, ống nhòm, máy ảnh, thước dây và GPS.
Các loại bản đồ tại khu vực nghiên cứu: Bản đồ hiện trạng rừng, bản đồ địa hình Tìm hiểu sơ bộ, tổng quan về khu vực nghiên cứu
2.4.2.1 Phương pháp phỏng vấn Đối tượng phỏng vấn là cán bộ kiểm lâm, cán bộ khu bảo tồn, người dân địa phương và đặc biệt là các thợ săn ở trong vùng Trong số đối tượng phỏng vấn này sẽ được chia ra các nhóm khác nhau Nhóm về giới tính, tuổi, dân tộc và nghề nghiệp Việc phỏng vấn sẽ được áp dụng bằng cách phỏng vấn trược tiếp bằng các câu hỏi phỏng vấn (câu hỏi đóng và câu hỏi mở) và phát phiếu phỏng vấn cho người dân Trong quá trình phỏng vấn có sử dụng ảnh về loài cho người dân quan sát Câu hỏi phỏng vấn được thiết kế theo từng bộ câu hỏi tùy thuộc vào nội dung điều tra dự kiến như sau: Điều tra về sự phân bố của loài Voọc Hà Tĩnh
1 Bác biết bao nhiêu loài Linh trưởng ở đây?
2 Bác có thể kể tên những loài đã biết?
3 Bác có biết loài Voọc Hà Tĩnh không?
4 Nếu có Bác gặp nó ở đâu và khi nào?
5 Lần gặp gần đây nhất vào khi nào (ngày, tháng nào)?
5 Bác gặp đàn có nhiều không?
6 Bác có thể mô tả bộ lông của nó?
7 Bác đã bao giờ nhìn thấy nơi ngủ của Voọc Hà Tĩnh chưa?
8 Bác thấy nó ngủ ở đâu ? Mô tả nơi ngủ
9 Bác cho biết những mối đe dọa đối với quần thể Voọc Hà Tĩnh?
10 Theo Bác mối đe dọa nào là lớn nhất? Tại sao?
11 Ở đây ngươi dân thường sử dụng biện pháp gì để săn bắt Voọc?
12 Voọc Hà Tĩnh sử dụng làm gì ? Ăn thịt, nấu cao, bán ra thị trường
13 Chúng ta đã tiến hành những biện pháp gì để bảo tồn quần thể Voọc ở đây?
1 Các Bác thường gặp loài Voọc này ở đâu?
2 Đã bao giờ các Bác gặp chúng vào ban đêm chưa? Ở đâu?
3 Thế các Bác có biết chúng thường ngủ ở đâu không?
4 Khu vực này có nhiều vách đá hang đá không? Ở đâu?
2.4.2.2 Mô tả các dạng sinh cảnh
Dựa trên việc nghiên cứu tài liệu về VQG Phong Nha - Kẻ Bàng và bản đồ tỷ lệ 1/25.000 của khu vực, kết hợp với điều tra sơ bộ, khu vực nghiên cứu được phân chia thành 4 dạng sinh cảnh chính.
Sinh cảnh 1: Sinh cảnh rừng giàu trên núi đá vôi ít bị tác động
Sinh cảnh 2: Sinh cảnh rừng thứ sinh trên núi đá vôi
Sinh cảnh 3: Sinh cảnh rừng thứ sinh trên núi đất
Sinh cảnh 4: Sinh cảnh ven các khe suối và thủy vực
2.4.2.3 Phương pháp điều tra theo tuyến
Tuyến điều tra sẽ được thiết lập để khảo sát hiện trạng, phân bố và xác định sự có mặt của các loài Linh trưởng trong khu vực nghiên cứu Dựa trên bản đồ địa hình tỷ lệ 1/25.000 và bản đồ thảm thực vật, cùng với khảo sát thực tế, một hệ thống tuyến điều tra đã được xác lập Các tuyến được xây dựng dựa trên lối mòn có sẵn hoặc tạo mới, đi qua các dạng sinh cảnh khác nhau, đặc biệt là những khu vực có sự xuất hiện của Voọc Hà Tĩnh Chiều dài mỗi tuyến dao động từ 1,5 đến 2,5 km, tùy thuộc vào địa hình cụ thể.
Trong quá trình điều tra ngoại nghiệp, các yêu cầu và nguyên tắc luôn được tuân thủ nghiêm ngặt Người điều tra di chuyển nhẹ nhàng, không nói chuyện, không hút thuốc và duy trì tốc độ từ 1,5 - 2,5 km/giờ Khi phát hiện voọc, cần dừng lại và quan sát cẩn thận để tránh gây tiếng ồn Việc quan sát trực tiếp các cá thể bằng mắt thường hoặc ống nhòm và đếm số lượng cá thể là rất quan trọng Đồng thời, cần chú ý đến các dấu hiệu nhận biết và đặc trưng của đàn, bao gồm các cá thể đặc biệt, bị thương hoặc tật, nhằm hỗ trợ cho việc nhận dạng và phân biệt với các đàn khác Tất cả thông tin điều tra được tổng hợp và ghi vào mẫu biểu 01.
Mẫu biểu 2.1 Theo dõi Voọc trên tuyến điều tra
Người điều tra:……… Ngày điều tra:……… ……… Thời gian bắt đầu …… ……….Thời gian kết thúc:……… Tuyến điều tra:………Chiều dài tuyến:……… Dạng sinh cảnh: ……… Thời tiết:………
Quan sát thành phần cá thể trong đàn Ước tính
Con TT Con chưa TT
Kết thúc Đực Cái Đực Cái
Ghi chú: TT – Trưởng thành; KXD – Không xác định
Dựa trên kết quả điều tra sơ bộ và bản đồ địa hình, khu vực nghiên cứu đã được phân chia thành các sinh cảnh chính Đã thiết lập 9 tuyến điều tra cùng với một số tuyến phụ để bổ sung các vị trí chưa được khảo sát, nhằm tăng cường thành phần loài cho những vị trí quan trọng trên các tuyến điều tra.
Bảng 2.1 Các tuyến điều tra khu hệ thú Linh trưởng tại Phong Nha - Kẻ Bàng
TT Tuyến điều tra Tọa độ Chiều dài
1 Trạm Kiểm lâm Trộ Mợng - Khe con Khái 48Q0630893
2 Trạm Kiểm lâm Trộ Mợng - Khe con Khái 48Q0632364
3 Trạm Kiểm lâm Trộ Mợng - Khe con Khái 48Q0631766
2.4.2.4 Phương pháp nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái thức ăn
Dựa trên quan sát trực tiếp và phỏng vấn người dân địa phương, nhóm điều tra đã xác định các loài cây làm thức ăn cho Voọc Hà Tĩnh, bao gồm bộ phận cây được sử dụng Chúng tôi đã chụp ảnh và thu mẫu, xử lý sơ bộ tại hiện trường và lưu giữ mẫu trong túi ni-lông có ghi nhãn ngày và địa điểm Đối với những mẫu chưa xác định được tên, chúng tôi đã so sánh với mẫu vật tại trung tâm Nghiên cứu Khoa học và Cứu hộ VQG Phong Nha - Kẻ Bàng, đồng thời chuyển đến các nhà thực vật tại Trường Đại học Lâm nghiệp và tham khảo các tài liệu thực vật từ Lê Mộng Chân (2000) và Đỗ Tất Lợi (2004).
Mẫu biểu 2.2 Quan sát, thu mẫu thức ăn của Voọc Hà Tĩnh
Người điều tra: ……… Thời tiết:……… Tuyến điều tra……… Sinh cảnh chính……… Các ghi chú khác:………
TT Họ và tên loài thực vật Bộ phận sử dụng Ghi chú
Tên Việt Nam Tên khoa học Lá Hoa Quả
2.4.2.5 Nghiên cứu về vùng sống và sử dụng vùng sống của Voọc Hà Tĩnh
Theo dõi voọc được thực hiện từ sáng sớm đến chiều muộn, ghi nhận kết quả hàng ngày để mô tả vùng sống và xác định tập tính của chúng Sự di chuyển của đàn voọc được ghi lại mỗi 15 phút hoặc khi di chuyển ≥ 50 m, với các vị trí được đánh dấu trên bản đồ địa hình theo hệ thống ô lưới tỉ lệ 1/10.000 Ngoài ra, các vị trí trung tâm của đàn cũng được ghi nhận khi phát hiện hoặc mất dấu, và khoảng cách tiếp cận đến vị trí trung tâm được ước lượng bằng mắt thường.
- Xác định kích thước vùng sống
Không có sự sai khác khi sử dụng 2 phương pháp ô lưới (100 x 100 m và 250 x 250 m) Bằng cách kiểm tra về sự khác nhau giữa 2 phương pháp bằng tiêu chuẩn
Nghiên cứu sử dụng T-test và tiêu chuẩn U Mann-Whitney (Nguyễn Bá Quyền, 2010) để phân tích dữ liệu Hệ thống ô lưới có kích thước 100 x 100 m được chồng xếp lên toàn bộ diện tích 15.000 ha của khu vực nghiên cứu Phần mềm ArcMap được áp dụng để kiểm tra và xác nhận kết quả sau khi thực hiện chồng xếp với ô lưới 100 x 100 m.
Trong quá trình điều tra Voọc ngoài thực địa, nếu một cá thể Voọc được phát hiện nhiều hơn một lần tại cùng một ô lưới, ô lưới đó sẽ được xác định là thuộc vùng sống của chúng Ngược lại, nếu chỉ có một cá thể xuất hiện tại ô lưới đó, ô lưới sẽ không được tính vào vùng sống của Voọc (Liu và cs., 2004).
Như vậy, kích thước vùng sống (HRs) của của Voọc Hà Tĩnh sẽ được ước tính bằng km 2 thông qua công thức:
HRs = (Số ô lưới ghi nhận có Voọc xuất hiện) x (10.000 m 2 )
Cường độ sử dụng sinh cảnh được xác định bằng cách tổng hợp và đếm số lần ghi nhận Voọc xuất hiện trên mỗi ô lưới Tổng số lần xuất hiện của Voọc sẽ được phân nhóm và sắp xếp theo từng cấp, phản ánh cường độ sử dụng khác nhau giữa các dạng sinh cảnh trong khu vực nghiên cứu.
Chiều dài quãng đường di chuyển hàng ngày của Voọc được ước tính bằng cách xác định tổng khoảng cách thẳng giữa các điểm ghi nhận liên tiếp Khi theo dõi Voọc, nếu mất dấu và sau đó tái phát hiện, cần ghi lại tọa độ của hai điểm để tính khoảng cách thẳng giữa chúng Khoảng cách này sẽ được cộng vào tổng chiều dài quãng đường di chuyển trong ngày Phương pháp này cũng áp dụng để tính khoảng cách giữa điểm cuối cùng trong ngày và điểm ghi nhận đầu tiên của ngày hôm sau, như nơi ngủ của Voọc.
Số liệu về các vị trí trong ngày của Voọc được sử dụng để tính toán chiều dài quãng đường di chuyển hàng ngày, và những vị trí này cần được ghi nhận liên tục trong nhiều ngày để đảm bảo độ chính xác cao nhất.
- Phương pháp mô tả nơi ngủ
Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bảng và quá trình xây dựng
Hệ thống núi đá Phong Nha - Kẻ Bàng, trải dài qua cả Việt Nam và Lào, có tổng diện tích khoảng 200.000 ha, được công nhận là vùng Castơ rộng nhất thế giới Khu vực này vẫn giữ được thảm rừng nhiệt đới với độ che phủ trên 95%, tạo nên một môi trường sống đa dạng sinh học phong phú, là mẫu hình tiêu biểu cho rừng nhiệt đới trên núi đá vôi không chỉ ở Việt Nam mà còn trên toàn cầu.
Khu bảo tồn thiên nhiên Phong Nha - Kẻ Bàng có tên trong danh sách 87 Khu rừng đặc dụng của Việt Nam theo Quyết định số 194/CT ngày 9 tháng 8 năm
1986 của Chủ tịch hội đồng Bộ Trưởng với diện tích là 5.000 ha, đến ngày 18tháng
Khu bảo tồn thiên nhiên Phong Nha, được thành lập chính thức vào ngày 3 tháng 12 năm 1993 theo Quyết định số 964QĐ/UB của UBND tỉnh Quảng Bình, có diện tích lên tới 41.132ha.
Vào năm 1998, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã giao cho Chi cục Kiểm lâm Quảng Bình phối hợp với Viện điều tra quy hoạch rừng thực hiện khảo sát để xây dựng Dự án đầu tư thành lập Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng với diện tích 147.945 ha Ngày 2 tháng 12 năm 2001, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 198/QĐ-TTg, chuyển hạng Khu bảo tồn thiên nhiên Phong Nha - Kẻ Bàng tại huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình thành Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, bao gồm các xã Tân Trạch, Thượng Trạch, Phúc Trạch, Xuân Trạch và Sơn Trạch với tổng diện tích 85.754 ha.
Chia làm 3 phân Khu: Khu bảo vệ nghiêm ngặt, Khu phục hồi sinh thái và Khu hành chính.
Vị trí địa lý
Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng tọa lạc ở phía Đông Nam của hệ thống núi đá vôi Kẻ Bàng, Khe Ngang, và phía Tây dãy núi Ba Rền, U Bò, thuộc huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Toạ độ địa lý: 17 0 22’ - 17 0 37’ độ vĩ Bắc, 106 0 09’ - 106 0 25’ độ kinh Đông + Phía Bắc giáp xã Phúc Trạch, Sơn Trạch
+ Phía Nam giáp xã Thượng Trạch
+ Phía Đông giáp Lâm trường Ba Rền và Lâm trường Trường Sơn
+ Phía Tây dựa vào khối núi đá vôi Kẻ Bàng
Khu Bảo tồn cách thị xã Đồng Hới 40 km theo hướng Tây Bắc và cách Thủ đô Hà Nội 500km về phía Nam
Hình 3.1 Vị trí VQG Phong Nha - Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình
Địa hình, địa chất và thổ nhưỡng
VQG Phong Nha - Kẻ Bàng nằm trong khu vực núi đá vôi chiếm ưu thế, trong khi núi đất chỉ chiếm một diện tích nhỏ Khu vực nghiên cứu chủ yếu có hai dạng địa hình chính: núi đá và núi đất.
Vùng núi đá vôi ở phía Tây Bắc Vườn Quốc gia có độ cao trung bình từ 600 đến 800m, với địa hình chia cắt mạnh mẽ và vách đá dựng đứng Nơi đây có nhiều thung lũng dài hẹp, rừng nguyên sinh với nhiều cây gỗ lớn, đặc biệt là khu vực dưới thung lũng ít bị tác động Ngoài ra, khu vực này còn có một khối núi đất rộng 225 ha, với đỉnh cao nhất là Cổ Khu (886m) Phía Đông là dải núi đất Ba Rền, U Bò, chạy theo hướng Bắc Nam, với đỉnh cao nhất là U Bò (1009m) Địa hình phức tạp ở đây được chia cắt bởi các dòng sông, suối nhỏ và hệ thống sông ngầm, tất cả đều chảy về Rào Thương và tập trung vào Sông Son.
Khu vực Phong Nha nằm ở Đông Nam, thuộc khối núi đá Kẻ Bàng, là vùng Castơ trẻ với mức độ phong hoá mạnh và là khu vực núi đá vôi hiểm trở nhất Việt Nam Được hình thành từ đá vôi Các bon Fecmi có chiều dày từ 100 đến 1500m, đá vôi ở đây có màu sắc xám trắng, kết cấu hạt trung bình và nhỏ, với vết nứt vỏ trai dạng khối và chứa ít tạp chất Đá mẹ chủ yếu là đá Macma axit, đá biến chất và đá phù sa cổ, dẫn đến sự hình thành bốn loại đất chính trong khu vực này.
- Đất Feralit vàng đỏ trên đá Macma axit Loại đất này phân bố trên các sườn dốc hiển trở, trong tầng đất còn tồn tại nhiều khoáng thạch anh
Đất Feralit vàng nhạt thường xuất hiện trên nền đá biến chất và sa thạch, phát triển chủ yếu ở khu vực chân dông Đặc trưng của loại đất này là có tầng đất mỏng đến trung bình với thành phần cơ giới nhẹ.
Đất Feralit đỏ vàng, phát triển trên phiến thạch sét, chủ yếu phân bố ở phía Đông Nam và Bắc của Vườn Quốc gia Đặc điểm nổi bật của loại đất này là có tầng dày trung bình, phân tầng rõ rệt và độ xốp chặt.
- Đất phù sa bồi tụ ven sông phân bố rải rác ven các sông (sông Son, sông Bụt, sông Chày, sông Rào Thương…)
Khu vực nghiên cứu nằm chọn trong đai khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia thành 2 mùa rõ rệt
Mùa khô tại VQG Phong Nha - Kẻ Bàng diễn ra từ tháng 2 đến tháng 7, với ảnh hưởng lớn từ không khí lạnh phía Bắc trong những tháng đầu Đặc biệt, vào tháng 5, 6 và 7, khu vực này chịu tác động của gió nóng và gió khô (gió Lào), tạo nên sự chuyển biến rõ rệt trong thời tiết.
Mùa mưa ở khu vực này thường diễn ra từ tháng 8 đến tháng 1 năm sau, với lượng mưa lớn nhất rơi vào các tháng 9, 10 và 11, chiếm tới 70% tổng lượng mưa cả năm Trong đó, tháng 10 là tháng có lượng mưa cao nhất, với trung bình từ 600 đến 800mm, chiếm 30% tổng lượng mưa hàng năm.
Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình năm 20 0 C - 22 0 C, tối thấp là 4 0 C, tối cao là
Nhiệt độ cao nhất trong năm tại VQG Phong Nha - Kẻ Bàng đạt 40°C từ tháng 6 đến tháng 8, trong khi mùa lạnh nhất kéo dài từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau Khu vực này nằm trong vùng núi đá vôi rộng lớn, dẫn đến sự giao động nhiệt độ lớn giữa ngày và đêm, với biên độ nhiệt trong ngày rất cao Vào mùa hè, biên độ nhiệt có thể vượt quá 10°C, trong khi mùa đông có biên độ giao động khoảng 8°C.
Trong mùa hè, gió Tây Nam là hướng gió chính thịnh hành, trong khi vào mùa đông, gió Bắc và gió Đông Bắc xuất hiện Bên cạnh đó, còn có các luồng gió địa phương do địa hình và ảnh hưởng của gió biển tạo ra.
Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng nằm trong lưu vực suối Rào Thương, với các con sông Tróoc, Chày và Son là thượng nguồn của sông Gianh Khu vực này nổi bật với hiện tượng nước chảy ngầm và có nhiều khe suối nhỏ đổ về Rào Thương Nước chảy lộ thiên nhưng bị gián đoạn khi đi qua các hang động, sau đó tập trung lại chảy về sông Chày, hợp nhất với sông Son và cuối cùng đổ vào thượng nguồn sông Gianh.
Tài nguyên rừng và đất rừng
Tổng diện tích VQG Phong Nha - Kẻ Bàng là 147.945 ha VQG Phong Nha
- Kẻ Bàng gồm có các kiểu và kiểu phụ thảm thực vật rừng
Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng hiện có 577 loài thực vật thuộc 134 họ, trong đó bao gồm 22 loài quyết thực vật thuộc 15 chi, 15 họ; 551 loài thực vật hạt kín thuộc 266 chi, 116 họ; và 4 loài thực vật hạt trần thuộc 4 chi, 3 họ Đặc biệt, khu vực này còn có trên 14 loài thực vật quý hiếm như Pơ mu, Mun, Kim giao, Nghiến, Táu, Dó và Huê.
Sự đa dạng của các yếu tố thổ nhưỡng đã tạo ra sự phong phú về thảm thực vật rừng, đặc biệt là sự khác biệt rõ rệt giữa thực vật trên núi đá và thảm thực vật trên núi đất.
Yếu tố địa hình và thổ nhưỡng đã hình thành nhiều kiểu và kiểu phụ thảm thực vật độc đáo tại Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng Các đặc trưng riêng biệt của thảm thực vật ở đây không tìm thấy ở khu vực khác, theo nghiên cứu của Thái Văn Trừng.
(1978), Nguyễn Ngọc Chính, Bùi Đắc Tuyên, Nguyễn Quốc Dựng (1998)
Khu hệ động vật tại VQG Phong Nha - Kẻ Bàng và Khu bảo tồn Hin Nam Mô được khảo sát bởi Marianne Meijboom và Hồ Thị Ngọc Lanh (2002), ghi nhận 134 loài thú (Mammalia) thuộc 29 họ và 6 bộ, trong đó có 42 loài quý hiếm được liệt kê trong sách đỏ Việt Nam (2000) Đối với lớp chim (Aves), đã thống kê được 391 loài thuộc 33 họ và 15 bộ, với 25 loài quý hiếm trong sách đỏ Việt Nam (2000), 37 loài theo NĐ48 (2002) và 15 loài trong sách đỏ thế giới IUCN (2002) Lớp bò sát (Reptilia) có tổng cộng 83 loài thuộc 18 họ.
2 bộ Trong đó có 19 loài có tên trong sách đỏ (2000), 16 loài trong NĐ 48 (2002),
Theo sách đỏ thế giới (IUCN, 2002), lớp ếch nhái (Amphibia) bao gồm 38 loài thuộc 7 họ và 1 bộ, trong đó có 3 loài được ghi danh trong sách đỏ Việt Nam (2000).
Đặc điểm xã hội
Tỉnh Quảng Bình là nơi sinh sống của nhiều dân tộc thiểu số, chủ yếu tập trung gần VQG Phong Nha - Kẻ Bàng, trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số Hai dân tộc thiểu số chính là Vân Kiều và Chứt, với các tộc người như Vân Kiều, Khùa, Ma Coong, Trì (Vân Kiều) và Sách, Mày, Rục, Arem (Chứt) Tỷ lệ dân số trong khu vực cho thấy người Kinh chiếm 82,9%, Vân Kiều 25,3% và Chứt 7,8% Nguồn thu nhập của họ chủ yếu từ canh tác lúa nước, hoa màu, chăn nuôi gia súc gia cầm và nuôi cá lồng Trong những thời kỳ nông nhàn hoặc khi gặp khó khăn như hạn hán, họ thường vào rừng để khai thác gỗ, săn bắn, đánh cá và làm rẫy.
Cuộc sống của người dân trong VQG Phong Nha - Kẻ Bàng chủ yếu dựa vào nền kinh tế tự cung tự cấp, dẫn đến tình trạng nghèo nàn và lạc hậu Họ phụ thuộc vào tài nguyên rừng để sinh sống, điều này tạo ra mối đe dọa lớn đối với sự bền vững của tài nguyên rừng trong khu vực.
Trình độ dân trí tại khu vực này còn thấp, với một tỷ lệ đáng kể trẻ em không được đến trường và mức độ mù chữ cao, đặc biệt là ở các dân tộc thiểu số như Arem (trên 50%) và MaCoong (64,7%) Trung bình toàn vùng có hơn 25% người mù chữ Các hoạt động văn hóa chưa được phát triển, nhiều xã thiếu nhà văn hóa và trạm y tế hoàn chỉnh, đồng thời thiếu hụt cán bộ y tế và thông tin giao lưu còn chậm Mối quan hệ giữa cộng đồng và các dân tộc chưa được cải thiện, trong khi người dân vẫn duy trì nhiều phong tục tập quán lạc hậu.
VQG Phong Nha - Kẻ Bàng có đường nhựa tỉnh lộ 2 dài 30km từ quốc lộ 1A đến cây số 0, quốc lộ 20 cũng là ranh giới của VQG
Quốc lộ 20, một nhánh đường được mở trong thời kỳ kháng chiến, chạy bên trong Vườn Quốc gia (VQG) và hướng về phía Bắc qua Rào Bụt sang Lào, là một phần quan trọng của đường mòn Hồ Chí Minh.
Quốc lộ 12 nối liền Quỳ Đạt với Cha Lo, đi qua Mụ Dạ và hướng về phía Tây Bắc sang Lào Quốc lộ 15 chạy qua xã Thượng Hoá và Xuân Trạch, kết thúc tại bến phà Xuân Sơn Từ bến phà Xuân Sơn, đường mòn Hồ Chí Minh men theo sông Troóc, tiếp tục qua Eo gió và kết nối với đường 20.
Sông Son là tuyến đường thủy thuận lợi trong khu vực, bao gồm hai nhánh chính là sông Troóc và sông Chầy Điều đặc biệt là chưa có vườn quốc gia nào tại Việt Nam có nhiều quốc lộ chạy qua như nơi này.
Hệ thống giao thông này đã gây không ít những khó khăn cho công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.
Các dạng sinh cảnh chính tại khu vực nghiên cứu
Kết quả điều tra cho thấy khu vực nghiên cứu có hai kiểu địa hình chính là núi đá và núi đất, trong đó địa hình núi đá chiếm ưu thế Dựa trên đặc trưng của thảm thực vật, địa hình, nguồn nước và các biến đổi môi trường, cùng với khảo sát thực địa và bản đồ hiện trạng rừng 1/25.000 (2007), khu vực này được xác định có các dạng sinh cảnh chính.
Sinh cảnh 1: Sinh cảnh rừng giầu trên núi đá vôi ít bị tác động (SC1)
Sinh cảnh 2: Sinh cảnh rừng thứ sinh trên núi đá vôi (SC2)
Sinh cảnh 3: Sinh cảnh rừng thứ sinh trên núi đất (SC3)
Sinh cảnh 4: Sinh cảnh ven các khe suối và thủy vực (SC4)
4.1.1 Sinh cảnh rừng giầu trên núi đá vôi ít bị tác động Đây là dạng sinh cảnh chiếm phần lớn diện tích tại VQG Phong Nha Kẻ Bàng, kiểu rừng ở đây có cấu trúc nhiều tầng tán với tổ thành loài thực vật đa dạng, phong phú, tán rừng liên tục, liền dải, ít bị tác động, rất phong phú các loài cây làm thức ăn, nơi trú ẩn cho các loài thú Linh trưởng Tập trung các họ, loài cây chủ yếu: họ Côm (Elaeocarpaceae), họ Dầu (Dipterocarpaceae), họ Bứa ( Guitiferae), họ Bồ hòn (Sapindaceae), họ Đào lộn hột (Anacardiaceae), họ Na (Annonaceae), họ Dâu tằm (Moraceae), họ ngũ gia Bì (Araliaceae), họ Quế (Lauraceae), họ phụ Đậu (Papilionoidae), họ Sến (Sapotaceae) cần bổ sung tên một số loài cây chủ yếu trong các học để thể hiện mức độ phong phú và là thức ăn cho các loài thú Linh trưởng Ở dạng sinh cảnh này chúng tôi đã quan sát được một đàn Khỉ mốc gồm 08 -
Một đàn Chà vá chân nâu gồm 08 - 12 cá thể đã được phát hiện tại khu vực Khe con khái, cùng với nhiều dấu hiệu của các loài động vật hoang dã khác như Sóc bay, Sóc bụng đỏ, Lợn rừng và các loài cầy Khu vực này không chỉ phong phú về nguồn thức ăn mà còn là nơi cư trú an toàn, phù hợp cho nhiều loài động vật sinh sống Kết quả chi tiết được thống kê trong bảng 4.1.
Bảng 4.1 Số lượng thành phần các loài thú tại sinh cảnh 1
TT Tên loài Tọa độ Số lượng cá thể Ghi chú
Ghi chú: QS: Quan sát trực tiếp; DV: Dấu vết để lại
4.1.2 Sinh cảnh rừng thứ sinh trên núi đá vôi
Dạng sinh cảnh nghiên cứu chiếm khoảng 1000 ha, chủ yếu gồm các cây gỗ ưa sáng như Sảng, Lộc vừng và Sồi đá, với cấu trúc đơn giản gồm hai tầng cây thấp và thảm xanh không liên tục Vị trí này rất quan trọng cho cảnh quan và môi trường sống của các loài Linh trưởng, đặc biệt là Voọc Hà Tĩnh, với ba đàn Voọc được quan sát tại các địa điểm khác nhau, cùng với sự xuất hiện của đàn Khỉ vàng và Khỉ mốc Kết quả chi tiết được thống kê trong bảng 4.2.
Bảng 4.2 Số lượng thành phần các loài thú tại sinh cảnh 2
TT Tên loài Tọa độ Số lượng cá thể Ghi chú
Ghi chú: QS * : 3 đàn quan sát tại trạm Kiểm lâm Trộ Mợng, Thung Tre, Hang Tối
4.1.3 Sinh cảnh rừng thứ sinh trên núi đất Đây là dạng sinh cảnh bị tác động tương đối lớn bởi các hoạt động của con người, chiếm diện tích nhỏ nhất trong khu vực điều tra Những cây to sót lại không đáng kể, chủ yếu là cây tái sinh chồi, cây thường thấp và cong Chiều cao trung bình từ 5 - 7 m Thành phần cây rừng gồm: Sau sau (Liquidambar formosana),
Aporosa microcalyx, commonly known as Thẩu tấu, is a notable plant species alongside Pterospermum heterophyllum, referred to as Lòng mang Antidesma ghaesembilla, or Chòi mòi, and Ailanthus triphysa, known as Thanh thất, are also significant in this botanical context Additionally, Baccaurea sapida, called Dâu da, and Choerospondias axillaries, known as Xoan nhừ, contribute to the diversity of the region Engelhardtia chrysolepis, or Chẹo tía, and Sterculia lanceolata, referred to as Sảng nhung, along with Cipadessa baccifera, known as Cà muối, complete this list of important plant species.
Khu vực này chủ yếu có sự hiện diện của các loài thực vật như Bời lời (Litsea glutinosa), Ngái (Ficus hispida), Đại phong tử (Hydnocarpus althemintica), Chò Nhai (Anogeissus acuminate) và Hoắc quang (Wendlandia paniculata) Hệ sinh thái ở đây tương đối đơn giản, với sự chủ yếu của cây thân gỗ nhỏ, cây tái sinh và dây leo Điều này dẫn đến việc hạn chế đa dạng sinh học, do thiếu hụt các loài động vật nhỏ cũng như cây cho hoa và quả.
4.1.4 Sinh cảnh ven các khe suối và thủy vực Đây là dạng sinh cảnh thường thấy ở ven các khe suối gần đường giao thông đã bị tác động và đang phục hồi, tổ thành loài thực vật đơn giản, tán thấp, nhiều dây leo bụi rậm, trong quá trình điều tra chỉ gặp một số loài thú Linh trưởng đến kiếm ăn như Voọc Hà Tĩnh, Khỉ vàng và một số vách hang của Voọc Hà Tĩnh đã rời đi nơi khác do bị săn bắn trước đây và bị quẫy nhiễu bởi tiếng ồn Ngoài các loài Voọc Hà Tĩnh, trong quá trình điều tra chúng tôi còn bắt gặp dấu vết của một số loài thú nhỏ trong dạng sinh cảnh này Kết quả được thể hiện ở bảng 4.3
Bảng 4.3 Số lượng thành phần các loài thú tại sinh cảnh 4
TT Tên loài Tọa độ Số lượng cá thể Ghi chú
Một số đặc điểm thức ăn của Voọc Hà Tĩnh
Voọc Hà Tĩnh thường kiếm ăn rất lặng lẽ theo đàn trên các cây và lèn đá, sinh sống trong nhiều dạng sinh cảnh khác nhau trên núi đá vôi Sinh cảnh kiếm ăn chủ yếu của chúng là những khu vực rừng núi, nơi có đủ thức ăn và môi trường sống phù hợp.
Hà Tĩnh là một khu vực sinh cảnh quan trọng, nơi chúng tôi đã tiến hành quan sát trực tiếp để xác định các đặc điểm thức ăn chính của Voọc Hà Tĩnh.
Voọc Hà Tĩnh chủ yếu ăn trong tư thế ngồi xổm trên các tán cây, thường di chuyển chậm rãi và ngồi lâu để tìm kiếm thức ăn Chúng có ba kiểu ăn đặc trưng: sử dụng chi trước để kéo cành mang lá hoặc quả về phía mình; cắn trực tiếp vào thức ăn; và bẻ cành mang lá, hoa, quả về chỗ ngồi rồi mới dùng tay bứt cho vào miệng.
Ngồi xổm trên tán cây để ăn Sử dụng chi trước lấy thức ăn
Dùng miệng cắn trực tiếp Ngồi bứt lá để ăn Ảnh 4.1 Một số hình ảnh về tư thế kiếm ăn của Voọc Hà Tĩnh
Voọc Hà Tĩnh chủ yếu kiếm ăn ban ngày trên cây, không tìm thức ăn trên mặt đất Chúng sinh sống trong nhiều sinh cảnh khác nhau, bao gồm rừng non, rừng tái sinh và các khu vực có cây bụi, dây leo trên đá, cũng như rừng già ở thung lũng và rừng trên núi đá cao Độ cao nơi chúng kiếm ăn dao động từ 20 đến 50 m, thường là những khu vực có ít cây gỗ lớn và nhiều dây leo Quan sát tại trạm Kiểm lâm Trộ Mợng cho thấy, đàn Voọc Hà Tĩnh kiếm ăn ở độ cao từ 5 đến 20 m Trong khi kiếm ăn, con đực đầu đàn thường ngồi ở vị trí cao để canh gác, và đàn không tập trung vào một cây duy nhất mà phân bố rộng rãi trên nhiều cây khác nhau, giữ khoảng cách giữa các cá thể.
4.2.3 Các loài làm thức ăn
Chúng tôi đã xác định được 38 loài thực vật thuộc 22 họ là thức ăn của Voọc
Hà Tĩnh có nhiều họ thực vật cung cấp thức ăn, trong đó họ Dâu tằm (Moraceae) chiếm ưu thế với 6 loài Các họ Máu Chó (Myrysticaceae), Bứa (Clusiaceae) và Tếch (Verbenaceae) mỗi họ có 3 loài Họ Xoài (Anacardiaceae), Cau dừa (Arecaceae), Thầu dầu (Euphorbiaceae), Cam (Rutaceae) và Bứa (Clusiaceae) có 2 loài, trong khi các họ khác chỉ có 1 loài Kết quả này được thể hiện rõ trong biểu đồ 4.1.
Hình 4.1 Thành phần các họ làm thức ăn cho Voọc Hà Tĩnh
Kết quả quan sát cho thấy Voọc Hà Tĩnh chủ yếu ăn lá cây trong các tháng 2, 3 và 4, với mức độ tiêu thụ cao nhất vào tháng 4 Đến tháng 6 và 8, khi nhiều loại cây rừng bắt đầu ra quả, Voọc Hà Tĩnh bắt đầu bổ sung thêm trái cây vào chế độ ăn, đặc biệt là các loại quả chua và chát Tháng 7 là thời điểm Voọc Hà Tĩnh tiêu thụ nhiều loại quả nhất, với tổng cộng 12 loài được ghi nhận.
Tháng 2 Tháng 3 Tháng 4 Tháng 5 Tháng 6 Tháng 7 Tháng 8
Hình 4.2 Biểu đồ thành phần thức ăn theo mùa của Voọc Hà Tĩnh
Khu vực nghiên cứu cho thấy nguồn thức ăn phong phú về thành phần và chủng loại, với khối lượng dồi dào, đáp ứng tốt nhu cầu dinh dưỡng của Voọc Hà Tĩnh Qua các đợt điều tra, không ghi nhận Voọc Hà Tĩnh tiêu thụ côn trùng hay động vật.
Theo thông tin từ thợ săn và dấu vết để lại, Voọc Hà Tĩnh chủ yếu ăn lá và chồi non, và đôi khi là vỏ của một số loài cây Chúng thường chọn ngọn và lá bánh tẻ trước, sau đó mới đến lá trưởng thành và lá già Trong quá trình ăn, Voọc Hà Tĩnh có thể bẻ cành và ngồi ở các chạc cây, đồng thời có thể xảy ra tranh giành thức ăn giữa các cá thể trong đàn Tuy nhiên, trong các cuộc điều tra, không ghi nhận được việc Voọc Hà Tĩnh ăn côn trùng hay động vật.
Bảng 4.4 Danh lục các loài thực vật làm thức ăn cho Voọc Hà Tĩnh
STT Tên Việt Nam Tên khoa học
2 Dâu da xoan* Allospondias lakonensis L,Q L L L L L L,Q L
12 Táu mặt quỉ Hopea mollissima L L L L L
14 Dâu da đất Bacaurea sapida L,Q L L Q
16 Hồng bì rừng Clausena laevis L,Q L L Q Q
19 Chân chim núi đá Macropanax oreophilus L L L
20 Máu chó lá lớn Knema globutaris L L
38 Bìm bìm ri Merrimia bimbim L L L L
Vùng sống và sử dụng vùng sống của Voọc Hà Tĩnh
4.3.1 Phân bố Voọc Hà Tĩnh tại khu vực nghiên cứu
Theo kết quả điều tra tại Phong Nha - Kẻ Bàng, có 6 đàn Voọc Hà Tĩnh được ghi nhận ở các khu vực như Trạm Kiểm lâm Trộ Mợng, Hang Tối, Thung Tre, Hang Mẹ Con, Xà Lu, Khe Con Khái, Trạm 37 và Hang 8 Cô Tuy nhiên, do hạn chế về thời gian và kinh phí, nghiên cứu chỉ tập trung vào 4 địa điểm: Trạm Kiểm lâm Trợ Mộng, Hang Tối, Xà Lu, và Thung Tre Tổng số cá thể Voọc Hà Tĩnh ước tính từ 59 - 62 cá thể, trong đó Trạm Kiểm lâm Trộ Mợng và Xà Lu ghi nhận 16 cá thể (4 cá thể đực, 9 cá thể cái, 3 con non), khu vực Hang Tối có 15 cá thể (4 cá thể đực, 8 cá thể cái, 3 con non), và Thung Tre có 12 cá thể (4 cá thể đực, 7 cá thể cái, 2 con non) Kết quả số cá thể của từng đàn được tổng hợp trong bảng 4.5.
Bảng 4.5 Số lượng cá thể Voọc Hà Tĩnh tại khu vực điều tra
TT Tọa độ Số cá thể Địa điểm
QS ƯL Đực Cái Non
Ghi chú: QS: Số cá thể quan sát trực tiếp được; ƯL: Số cá thể ước lượng
4.3.2 Kích thước vùng sống của Voọc Hà Tĩnh
Kích thước vùng sống của Voọc Hà Tĩnh được xác định dựa trên tổng hợp số lượng ô lưới có sự xuất hiện của ít nhất 3 cá thể Việc tính toán này bao gồm việc tổng hợp các ô lưới ghi nhận Voọc trong từng ngày trong tháng và nhân với kích thước ô lưới tương ứng.
Trong quá trình nghiên cứu thực địa, chúng tôi đã áp dụng phương pháp kích thước ô lưới 100 x 100 m để quan sát và theo dõi trực tiếp hai đàn Voọc, một đàn tại trạm Kiểm lâm Trộ Mợng (Đàn A) và một đàn tại khu vực Thung Tre (Đàn E).
Kết quả tổng hợp số liệu đã ghi nhận đàn A xuất hiện ở 73 ô lưới, đàn E xuất hiện ở 61 ô lưới, tương ứng với kích thước là 100 m
Như vậy, kích thước vùng sống được ước tính lần lượt cho từng loài là:
Kết quả nghiên cứu vùng sống qua theo dõi từng đàn trong các tháng khác nhau được tổng hợp ở bảng 4.6
Bảng 4.6 Kết quả nghiên cứu vùng sống của từng đàn theo tháng
Tháng Kích thước vùng sống (ha) Đàn A Đàn E
Kết quả tính toán kích thước vùng sống của Voọc Hà Tĩnh cho thấy kích thước từ 61 - 73 ha là nhỏ hơn so với 80 ha của Lê Thúc Định (2009) và 1 - 2.5 km² của Nguyễn Hải Hà (2003) Tuy nhiên, những số liệu này chỉ phản ánh kích thước tối thiểu mà các tác giả quan sát được Hạn chế về thời gian trong nghiên cứu cũng ảnh hưởng đến độ chính xác của dữ liệu Để ước tính kích thước vùng sống, nghiên cứu đã theo dõi hai đàn khác nhau: đàn A gần trạm Kiểm lâm Trợ Mộng với 16 cá thể và đàn E tại khu vực Thung Tre với 12 - 14 cá thể Từ các tính toán, mật độ cá thể ước tính tại khu vực nghiên cứu là 0.22 cá thể/1 ha cho đàn A và 0.20 - 0.23 cá thể/1 ha cho đàn E.
Việc xác định kích thước vùng sống của đàn Voọc Hà Tĩnh chỉ dựa vào quan sát hiện nay gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi phải sử dụng chip điện tử và nghiên cứu trong thời gian dài qua các mùa và năm khác nhau Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng sở hữu chất lượng rừng và hệ sinh thái tốt, phù hợp với tập tính sinh sống của loài Voọc Hà Tĩnh.
Chúng tôi đã áp dụng phương pháp hệ thống ô lưới và ghi nhận tọa độ vị trí của đàn Voọc để kiểm chứng kết quả Ngoài ra, phần mềm AcrMap được sử dụng để tính kích thước vùng sống của Voọc Hà Tĩnh, với kết quả được trình bày trong bảng 4.8.
Bảng 4.7 Kết quả tính toán bằng phần mềm AcrMap cho từng đàn
Diện tích tính bằng AcrMap (ha) Diện tính toán bằng ô lưới (ha) Đàn A Đàn E Đàn A Đàn E
Kết quả từ bảng 4.7 cho thấy không có sự khác biệt về kích thước vùng sống giữa phương pháp xử lý bằng AcrMap và diện tích toán sử dụng phương pháp hệ thống ô lưới.
4.3.3 Chiều dài quãng đường di chuyển theo ngày
Trong thời gian nghiên cứu tại thực địa, chúng tôi bắt gặp và theo dõi đàn Voọc A trong 4 ngày liên tiếp (07, 08, 09 và 10/03) Bắt gặp và theo dõi đàn Voọc
Trong ba ngày liên tiếp từ 13 đến 15/06, chúng tôi đã thu thập số liệu để xác định quãng đường di chuyển hàng ngày của Voọc Hà Tĩnh Thời gian quan sát đàn A nhiều hơn đàn E, trong khi đàn E chỉ được quan sát khi rời hang và trở về, do địa hình phức tạp và thực vật dày đặc ảnh hưởng đến khả năng quan sát Thời gian quan sát tối đa là 15 - 20 phút, đặc biệt tại khu vực Thung Tre, nơi đàn Voọc nằm sâu trong rừng và ít bị tác động bởi con người Đàn có con đực đầu đàn rất cảnh giác, chỉ cần một tiếng động nhỏ từ người điều tra cũng có thể khiến chúng phát hiện, và tùy thuộc vào mức độ nguy hiểm, con đực đầu đàn sẽ phát tín hiệu để cảnh báo đàn.
Trong 07 ngày liên tiếp, vị trí ghi nhận Voọc đã được tổng hợp và thể hiện trên bản đồ tỉ lệ 1/10.000 Kết quả tính toán cho thấy chiều dài quãng đường di chuyển trung bình của Voọc trong khoảng thời gian này là 1.875 m.
4.3.4 Cường độ sử dụng sinh cảnh
Cường độ sử dụng sinh cảnh của Voọc Hà Tĩnh được xác định thông qua số lần ghi nhận Voọc xuất hiện trên mỗi ô lưới trong nhiều lần lấy mẫu liên tục Với khoảng thời gian lấy mẫu 15 phút, chúng tôi phân cấp thành 4 mức độ sử dụng dựa trên số lần ghi nhận Do đó, cường độ sử dụng sinh cảnh của Voọc Hà Tĩnh được chia thành 4 cấp khác nhau tương ứng với số lần xuất hiện.
Số lần ghi nhận sự xuất hiện của Voọc là chỉ số quan trọng phản ánh mức độ ưa thích của chúng đối với các dạng sinh cảnh và khu vực sống khác nhau.
Sự khác biệt này có thể được sử dụng để đánh giá tầm quan trọng và chất lượng của môi trường sống Dữ liệu tổng hợp cho thấy đàn A xuất hiện ở 73 ô lưới, trong khi đàn E chỉ xuất hiện ở 61 ô lưới, tương ứng với kích thước 100 m.
Hình 4.3 Cường độ sử dụng sinh cảnh của đàn A gần trạm KL Trộ Mợng
Hình 4.4 Cường độ sử dụng sinh cảnh của đàn E tại Thung Tre
Kết quả từ bảng dữ liệu cho thấy sự khác biệt trong mức độ ưa thích của Voọc Hà Tĩnh đối với các dạng sinh cảnh Khu vực có màu đen đậm là nơi chúng dành nhiều thời gian nhất cho di chuyển, kiếm ăn và nghỉ ngơi Theo bản đồ 04 và 05, Voọc Hà Tĩnh thường chọn những khu vực có diện tích khoảng 2.4 - 3 ha làm nơi sống, cho thấy đây là vùng sống ưa thích nhất của chúng.
Khu vực rừng ngoài tự nhiên có nhiều vách đá dựng đứng cao, tạo điều kiện lý tưởng cho Voọc Hà Tĩnh sinh sống và tìm nơi trú ẩn Nguồn thức ăn phong phú với nhiều loài cây ưa thích như Táu mặt quỉ, Nhội, Dâu da xoan cùng với sự phát triển của dây leo và bụi dậm, giúp Voọc Hà Tĩnh phát triển mạnh mẽ Độ cao trung bình của khu vực này dao động từ 200 - 400 m, tạo nên môi trường sống lý tưởng cho loài linh trưởng này.
Voọc Hà Tĩnh thường tìm nơi ngủ ổn định tại các vách đá hoặc hang đá, miễn là không bị tác động từ bên ngoài Nghiên cứu cho thấy vị trí ngủ của Voọc Hà Tĩnh thay đổi theo mùa.
- Vị trí ngủ thứ nhất ngủ: Ở ngoài các vách đá, thường vào mùa hè, mùa thu thời tiết nóng, nhiệt độ cao hoặc những khi thời tiết mát
Đánh giá các mối đe doạ đối với Voọc Hà Tĩnh tại khu vực nghiên cứu
Trong quá trình khảo sát thực địa và phỏng vấn người dân, chúng tôi đã xác định các mối đe dọa chính đối với loài Voọc Hà Tĩnh và sinh cảnh tại Phong Nha - Kẻ Bàng, bao gồm săn bắn, khai thác gỗ, khai thác lâm sản ngoài gỗ (LSNG), phát triển cơ sở hạ tầng, du lịch và chăn thả gia súc tự do Những mối đe dọa này được chia thành hai nhóm chính: săn bắn và phá hủy sinh cảnh.
Săn bắn không chỉ mang lại thực phẩm và da lông, mà còn có giá trị kinh tế cao, trở thành hoạt động truyền thống của người dân địa phương Do đó, nhiều người thường lén lút vào rừng để săn bắt, sử dụng các loại súng săn tự chế, súng AK, CKC cùng với nhiều loại bẫy như bẫy cần, bẫy kiềng và bẫy chuồng.
Từ tháng 03 đến tháng 09, hoạt động săn bắt diễn ra mạnh mẽ khi người dân tận dụng thời tiết ấm áp và nhiều hoa quả để dễ dàng bắt gặp động vật Trong mùa này, họ có nhiều thời gian rảnh rỗi hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc săn bắt.
Các hoạt động săn bắn diễn ra phổ biến trong vòng bán kính một ngày đi bộ, với 5 lán thợ săn được ghi nhận, bao gồm 3 lán mới và 2 lán cũ Trong quá trình điều tra, tổng số bẫy được ghi nhận là 15 bẫy cần và 75 bẫy bán nguyệt Theo thông tin từ thợ săn, họ thường đặt bẫy vào buổi chiều và kiểm tra vào buổi sáng sớm, đi khoảng 2 - 3 km từ lán trong mỗi ngày Ngoài bẫy, họ sử dụng súng tự chế để săn các loài thú nhỏ và chim, thường đi theo nhóm từ 2 - 4 người và mỗi đợt kéo dài từ 7 - 8 ngày, với chiến lợi phẩm bao gồm các loài như cầy, chim, sóc và lợn rừng.
Gà rừng và hoẵng là những sản phẩm thường được thu hoạch và bán ra ngoài thị trấn cho các lái buôn, nhà hàng đặc sản, hoặc được sử dụng trong các bữa ăn gia đình.
Mối đe dọa lớn nhất đối với tính đa dạng sinh học của VQG Phong Nha - Kẻ Bàng hiện nay là săn bắn, một hiện tượng diễn ra rộng rãi trong khu vực và gây nguy hiểm nghiêm trọng đến các quần thể Linh trưởng cũng như các loài thú lớn Mức độ săn bắn tại đây rất cao, chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường về thịt và nguyên liệu làm thuốc Những người tham gia săn bắn chủ yếu là người dân địa phương, nhưng cũng có cả những người từ nơi khác, bao gồm cả thợ săn chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp.
4.4.2 Phá hủy sinh cảnh sống
Khai thác gỗ là hoạt động diễn ra liên tục trong năm, với cường độ cao nhất vào mùa khô Người dân địa phương thường có quan niệm rằng tài nguyên thiên nhiên là vô hạn.
Do đó, họ hoàn toàn không có ý thức về việc khai thác bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên
Khai thác gỗ gây hại nghiêm trọng đến sinh cảnh rừng, khi cây lớn đổ xuống không chỉ làm hư hại cây con mà còn làm thay đổi môi trường sống của động vật Diện tích rừng ngày càng giảm sút, chất lượng rừng suy thoái, dẫn đến sự suy giảm số lượng động vật, với nhiều loài đang đối mặt nguy cơ tuyệt chủng trong khu vực.
Truyền thống sử dụng gỗ tốt trong xây dựng nhà cửa của người dân trong khu vực nghiên cứu rất phổ biến, nhưng do điều kiện kinh tế hạn chế, họ chưa thể chuyển sang vật liệu khác Việc khai thác gỗ chủ yếu phục vụ cho xây dựng và đồ dùng gia đình, tuy nhiên, một số hoạt động khai thác gỗ thương mại, đặc biệt là khai thác chọn lọc các loài cây có giá trị kinh tế cao như Nghiến, Táu, Trai, Sưa, Mun sọc, đã dẫn đến tình trạng khan hiếm các loài gỗ quý này.
Hiện tại Phong Nha Kẻ Bàng có nhiều loại cây có giá trị rất lớn Mun
(Diospiros sp.), Sưa (Dalbergia tonkinensis), Nghiến (Burretiodendron hsienmu),
Trong quá trình khảo sát thực địa, chúng tôi đã phát hiện 5 người dân giả làm khách du lịch vào rừng để tìm kiếm gỗ Sưa (Huê) Qua phỏng vấn, họ cho biết mỗi chuyến đi kéo dài từ 2 đến 3 ngày, mang theo lương thực để sinh sống trong rừng Gỗ Sưa có thể được bán với giá từ 20 đến 30 triệu đồng, tùy thuộc vào khối lượng, kích cỡ và độ tuổi của gỗ.
4.4.2.2 Khai thác lâm sản ngoài gỗ
Lâm sản ngoài gỗ đóng vai trò quan trọng trong đời sống của cộng đồng địa phương, với sự đa dạng và phong phú về chủng loại và giá trị Chúng không chỉ là nguồn thu nhập mà còn giúp cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân Nhiều hộ gia đình trong khu vực tận dụng lâm sản ngoài gỗ cho các mục đích khác nhau, với các sản phẩm như măng, song, mây, hoa quả rừng, mật ong và cây thuốc, tạo ra nguồn thu nhập ổn định.
Khai thác lâm sản ngoài gỗ, đặc biệt là thảo dược, đang tạo áp lực lớn đối với khu vực Trong quá trình điều tra, chúng tôi ghi nhận một số nhóm người dân địa phương thu hái lâm sản ngoài gỗ, như lan Kim tuyến, Hà thủ ô, Song Mây, và Huê Mặc dù hoạt động này không trực tiếp đe dọa sự tồn tại của các loài động vật hoang dã và Voọc Hà Tĩnh, nhưng nó đang làm xáo trộn môi trường sống của chúng Hiện nay, giá lan Kim tuyến trên thị trường dao động từ 150.000 đến 180.000 VNĐ/kg, và các sản phẩm này thường được vận chuyển lên thị trấn để bán cho thương lái trước khi xuất khẩu sang Trung Quốc.
4.4.2.3 Du lịch và phát triển cơ sở hạ tầng
Địa hình núi đá vôi tại Phong Nha - Kẻ Bàng không thuận lợi cho canh tác, dẫn đến tỷ lệ mất sinh cảnh ở đây vẫn ở mức thấp Tuy nhiên, việc phát triển cơ sở hạ tầng du lịch có thể làm gia tăng tốc độ mất sinh cảnh và gây xáo trộn cho các quần thể động vật quan trọng, đặc biệt là các loài Linh trưởng đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng toàn cầu Sự xây dựng đường mòn Hồ Chí Minh gần khu vực này đã tạo điều kiện cho cư dân định cư, từ đó làm tăng áp lực của con người lên tài nguyên thiên nhiên.
Tỉ lệ mất rừng tại Phong Nha Kẻ Bàng hiện đang thấp so với nhiều khu vực khác, nhưng sự phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch sinh thái có thể dẫn đến gia tăng tỉ lệ mất rừng và ảnh hưởng đến sinh cảnh Hai tuyến đường quy hoạch sẽ đi sát hoặc cắt ngang Vườn Quốc gia, trong đó một tuyến có khả năng tác động lớn đến vùng cư trú của loài Voọc Hà Tĩnh Bên cạnh đó, dự án mở tuyến du lịch vào động Sơn Đoòng, hang động mới được phát hiện vào đầu năm 2009, cũng đang được triển khai.
Phát triển du lịch sinh thái tại Phong Nha Kẻ Bàng đang gia tăng mối đe dọa đối với đa dạng sinh học Công ty Du lịch Quảng Bình đang nỗ lực khai thác giá trị tự nhiên trong khi quản lý lượng du khách ngày càng tăng Các nghiên cứu về du lịch sinh thái cho thấy những rủi ro tiềm ẩn từ việc phát triển không kiểm soát và mở rộng các tuyến đường phục vụ du lịch và dã ngoại vào rừng.
Đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên thú Linh trưởng tại VQG Phong Nha Kẻ Bàng
Phát triển bền vững yêu cầu sự cân bằng giữa bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế cộng đồng Để bảo tồn hiệu quả, cần chia sẻ lợi ích từ tài nguyên sinh vật và khuyến khích sự tham gia tự nguyện của cộng đồng địa phương.
Để bảo tồn hiệu quả, các giải pháp cần phải đồng bộ và phù hợp với điều kiện địa phương Luận văn này đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu tác động của người dân đối với vườn quốc gia, bao gồm một số phương án thay thế khả thi.
4.5.1 Săn bắt, buôn bán trái phép động vật hoang dã
Để giảm thiểu sự phụ thuộc vào tài nguyên rừng, cần tăng cường sinh kế cho người dân địa phương thông qua các chính sách khuyến khích phát triển kinh tế bền vững Việc phát triển thương mại, dịch vụ du lịch và nghề thủ công mỹ nghệ sẽ tận dụng lợi thế vị trí của khu vực Đồng thời, cần đẩy mạnh hệ thống khuyến nông, khuyến lâm nhằm giúp người dân nâng cao lợi ích kinh tế từ sản xuất nông lâm nghiệp.
Để nâng cao hiệu quả bảo tồn, cần tăng cường hợp tác quốc tế bằng cách phối hợp với các tổ chức trong và ngoài nước Điều này bao gồm việc hợp tác liên biên giới nhằm bảo vệ tài nguyên và ngăn chặn nạn săn bắt bất hợp pháp tại VQG Phong Nha - Kẻ Bàng và VQG Hin Nam Mô Lào Đồng thời, việc giám sát chặt chẽ việc thực hiện các quy định pháp luật cũng là một yếu tố quan trọng trong công tác bảo tồn.
Để nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ Vườn Quốc Gia (VQG), cần tăng cường lực lượng cho ban quản lý, đồng thời nghiêm cấm việc sử dụng súng, bẫy kiềng và bẫy thòng lọng trong săn bắt động vật rừng Đặc biệt, cần ngăn chặn sản xuất súng tự chế để bảo vệ động vật hoang dã, nhằm giảm thiểu tình trạng suy giảm số lượng động vật rừng, đặc biệt là các loài thú Linh trưởng tại VQG Phong Nha Kẻ Bàng.
Nâng cao năng lực cho cán bộ chuyên trách trong việc thực thi pháp luật bảo vệ động thực vật là rất quan trọng, đặc biệt chú trọng vào việc kiểm soát buôn bán động thực vật hoang dã.
Để bảo vệ loài Voọc Hà Tĩnh, cần tăng cường các biện pháp và chương trình giáo dục nhằm nâng cao ý thức cộng đồng dân cư xung quanh VQG Việc phổ biến vai trò và giá trị sinh học của loài này sẽ giúp hạn chế các tác động gây ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến sự tồn tại của chúng.
Phát triển và nâng cao các hoạt động nghiên cứu khoa học bảo tồn đa dạng sinh học tại Phong Nha Kẻ Bàng là rất quan trọng, vì vị trí chiến lược của khu vực này sẽ thu hút nhiều chương trình bảo vệ và bảo tồn Điều này không chỉ giúp bảo vệ loài Voọc Hà Tĩnh mà còn các loài linh trưởng khác có giá trị bảo tồn cao, đồng thời tạo thêm nguồn kinh phí tài trợ cho các hoạt động bảo tồn tại VQG.
Để tăng cường thực thi pháp luật, cần chú trọng vào việc giải quyết các vấn đề tồn tại trong khu vực, như việc súng vẫn còn trong tay dân Các biện pháp cần thực hiện bao gồm chương trình giao nộp súng tự nguyện, cưỡng chế đối với những đối tượng vi phạm, và áp dụng hình thức xử phạt nghiêm khắc đối với các trường hợp vi phạm pháp luật liên quan đến vũ khí.
Tăng cường công tác tuyên truyền và giáo dục môi trường là cần thiết để nâng cao nhận thức của người dân địa phương về các văn bản pháp luật liên quan đến bảo tồn Việc này không chỉ giúp họ hiểu rõ tầm quan trọng của khu vực mà còn nâng cao ý thức về loài Voọc Hà Tĩnh, từ đó góp phần bảo vệ và gìn giữ đa dạng sinh học.
4.5.2 Phá hủy sinh cảnh sống
4.5.2.1 Khai thác gỗ và LSNG
Các hoạt động khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ đang đe dọa nghiêm trọng đến sinh cảnh sống của Voọc Hà Tĩnh Để cải thiện chất lượng sinh cảnh, cần trồng bổ sung các loài cây làm thức ăn cho Voọc tại các lỗ trống trong rừng, nhằm tăng diện tích sử dụng sinh cảnh Một số sinh cảnh có thành phần cây thức ăn ít cũng cần được chăm sóc để tạo khả năng tái sinh cho các loài cây này Mục tiêu là xây dựng cấu trúc rừng nhiều tầng tán với sự tham gia của nhiều loài cây làm thức ăn cho Voọc Đồng thời, cần tăng cường tuần tra bảo vệ các vùng sinh cảnh mà Voọc sử dụng với cường độ cao.
Giao đất và rừng cho người dân, khoanh nuôi và tái sinh rừng phục hồi sau nương rẫy là những biện pháp quan trọng Cần trồng các loài cây bản địa trên diện tích đã khai thác, đồng thời hỗ trợ giống cây trồng cho các xóm gần rừng để người dân có thể tự trồng lấy củi Ngoài ra, tổ chức lại mạng lưới bảo vệ rừng tại các thôn bản và thành lập thêm các tổ bảo vệ rừng, đặc biệt chú ý đến những khu vực còn nhiều rừng là cần thiết để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.
Cải tạo các tuyến đường tuần tra rừng và bổ sung lực lượng cho các trạm là cần thiết để bảo vệ rừng Cần trang bị đầy đủ phương tiện và công cụ hỗ trợ, đồng thời bám sát hoạt động của người dân Việc xác định lịch thời vụ, đối tượng và thời gian khai thác sẽ giúp tăng cường tuần tra kiểm soát, đặc biệt ở những khu vực có nhiều Voọc.
Cải thiện hệ thống thông báo và cảnh báo bằng hình ảnh hoặc biển báo nội quy tại các tuyến đường chính vào rừng Thiết lập các biển báo nhắc nhở cấm chặt phá, săn bắn và phòng chống cháy rừng.
4.5.2.2 Phát triển du lịch sinh thái bền vững
Sự phối hợp chặt chẽ giữa hoạt động du lịch của chính quyền địa phương và công tác bảo tồn của Ban quản lý VQG Phong Nha Kẻ Bàng là cần thiết để phát triển kinh tế bền vững gắn với bảo vệ môi trường Phát triển du lịch không chỉ thay thế các hoạt động khai thác tài nguyên có hại mà còn tạo ra nguồn thu nhập ổn định cho người dân địa phương Bảo vệ tài nguyên Phong Nha Kẻ Bàng sẽ giúp bảo tồn cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn, thu hút đầu tư cho du lịch và nâng cao đời sống người dân, đồng thời giảm thiểu tác động tiêu cực đến sinh cảnh của Voọc Hà Tĩnh.
KẾT LUẬN - TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ
Kết luận
5.1.1 Các dạng sinh cảnh chính tại VQG Phong Nha - Kẻ Bàng
Sinh cảnh sống của Voọc Hà Tĩnh chủ yếu là rừng già trên núi đá vôi, nơi có nhiều vách đá và hang đá Chúng thường tìm kiếm thức ăn trong các cánh rừng thứ sinh trên núi, nơi có nhiều loài dây leo và các tầng cây thấp.
5.1.2 Một số đặc điểm thức ăn của Voọc Hà Tĩnh
Thức ăn chủ yếu của Voọc Hà Tĩnh bao gồm thực vật, với 38 loài cây rừng thuộc 22 họ được xác định là nguồn thức ăn Voọc Hà Tĩnh chủ yếu tiêu thụ lá cây, bên cạnh đó cũng ăn hoa và quả của một số cây có vị chát, đắng hoặc chua.
5.1.3 Vùng sống và sử dụng vùng sống của Voọc Hà Tĩnh Đề tài đã xác định được vùng sống cho 2 đàn Voọc Hà Tĩnh tại Phong Nha -
Kẻ Bàng có diện tích khoảng 61 - 73 ha và Voọc Hà Tĩnh di chuyển khoảng 1.875 m trong một ngày để kiếm ăn Hai vị trí ngủ của Voọc Hà Tĩnh được xác định là một ở ngoài các vách đá và một ở trong hang kín gió.
5.1.4 Các mối đe doạ đối với Voọc Hà Tĩnh tại khu vực nghiên cứu
Săn bắn và khai thác gỗ hiện đang là những hoạt động có tác động lớn nhất đến các hệ sinh thái, dẫn đến sự suy giảm tài nguyên khu hệ thú Linh trưởng tại Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng.
5.1.5 Đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên thú Linh trưởng tại VQG Phong Nha Kẻ Bàng
Giáo dục nâng cao nhận thức và cải thiện đời sống cộng đồng là rất quan trọng, đồng thời cần hỗ trợ kỹ thuật và thành lập các tổ bảo vệ rừng Cần tăng cường nhân lực cho các trạm kiểm lâm và bám sát hoạt động của người dân để xác định lịch thời vụ, đối tượng và thời gian nhằm tăng cường tuần tra kiểm soát, giảm thiểu khai thác gỗ và săn bắt buôn bán động vật Ngoài ra, công tác phòng chống cháy rừng cũng cần được thực hiện hiệu quả.
Tồn tại
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng bài khóa luận vẫn còn những tồn tại sau:
Do thời gian nghiên cứu ngắn và khí hậu khắc nghiệt, khu vực nghiên cứu rộng với địa hình phức tạp đã hạn chế khả năng lập các tuyến điều tra toàn diện Hiện tại, đề tài vẫn chưa thu thập được dữ liệu về các loài thực vật mà Voọc Hà Tĩnh chọn làm thức ăn, cũng như các bộ phận thực vật cụ thể Điều này cần được khắc phục để xây dựng cơ sở cho việc phát triển và bảo vệ các loài thực vật phục vụ cho chế độ ăn của Voọc Hà Tĩnh.
Chưa có dữ liệu về kích thước vùng sống và độ dài quãng đường di chuyển hàng ngày cho các đàn khác, điều này gây khó khăn trong việc xây dựng cơ sở so sánh.
Số liệu sử dụng để xác định các đặc trưng vùng sống hiện tại còn thiếu, không đủ đa dạng và số lượng mẫu, dẫn đến ảnh hưởng đến độ chính xác của kết quả nghiên cứu.
Kiến nghị
Trên cơ sở những kết quả thu được của đề tài và những tồn tại, tôi có một số kiến nghị sau:
Cần nghiên cứu đề tài này vào các mùa khác trong năm
Để duy trì và phát triển quần thể Voọc Hà Tĩnh tại Phong Nha - Kẻ Bàng, cần tăng cường thời gian điều tra thực địa và phối hợp chặt chẽ giữa các ban ngành, chính quyền địa phương cùng với sự tham gia của người dân Các nhà chức trách địa phương cần nâng cao nhận thức về bảo tồn loài và sinh cảnh sống, giúp cộng đồng hiểu rõ tầm quan trọng và giá trị sinh học của loài linh trưởng quý hiếm này.