PHAN ĐỨC LINH NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI VÀ GIẢI PHÁP BẢO TỒN LOÀI VƯỢN ĐEN MÁ VÀNG Nomascus gabriellae Thomas, 1909 TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN NAM NUNG, TỈNH ĐẮK NÔNG LUẬN
Trang 1PHAN ĐỨC LINH
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI VÀ GIẢI PHÁP BẢO
TỒN LOÀI VƯỢN ĐEN MÁ VÀNG (Nomascus gabriellae Thomas, 1909) TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN NAM NUNG, TỈNH ĐẮK NÔNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Hà Nội, 2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
PHAN ĐỨC LINH
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI VÀ GIẢI PHÁP BẢO
TỒN LOÀI VƯỢN ĐEN MÁ VÀNG (Nomascus gabriellae Thomas, 1909) TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN NAM NUNG, TỈNH ĐẮK NÔNG
Chuyên ngành: Quản lý bảo vệ tài nguyên rừng
Mã số: 60 62 02 11
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS ĐỒNG THANH HẢI
Hà Nội, 2013
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập và rèn luyện, khóa học Cao học lâm nghiệp K19 (2011- 2013) đã bước vào giai đoạn kết thúc Được sự nhất trí của của nhà trường và khoa Đào
tạo sau đại học, tôi tiến hành thực tập tốt nghiệp với đề tài “Nghiên cứu một số đặc
điểm sinh thái và giải pháp bảo tồn loài Vượn đen má vàng (Nomascus gabriellae)
tại Khu BTTN Nam Nung, tỉnh Đắk Nông” Sau gần một năm thực hiện, đến nay đề
tài đã hoàn thành
Nhân dịp này, cho phép tôi được bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất tới TS Đồng Thanh Hải, người đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi trong quá trình nghiên cứu để tôi có thể hoàn thành đề tài này
Xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo Trường Đại học Lâm nghiệp, khoa Đào tạo sau đại học, khoa QLTNR&MT đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các cán bộ Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Nung tỉnh Đắk Nông, cán bộ kiểm lâm các trạm Đức Xuyên, Quảng Sơn cùng bạn bè đồng nghiệp đã tạo điều kiện tốt nhất, giúp đỡ động viên và cùng chia sẻ một phần công việc trong những ngày thu thập số liệu tại hiện trường
Mặc dù đã rất cố gắng trong quá trình thực hiện, tuy nhiên do đối tượng nghiên cứu là loài ngoài tự nhiên, quan sát và thu thập số liệu khó khăn Hơn nữa, do điều kiện
về thời gian và tư liệu tham khảo còn hạn chế nên luận văn chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót Kính mong nhận được những ý kiến đóng góp, bổ sung của các nhà khoa học
và các bạn đồng nghiệp để luận văn hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn !
ĐHLN, Ngày 10 tháng 03 năm 2012
Tác giả Phan Đức Linh
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn i
Mục lục ii
Danh mục các từ viết tắt v
Danh mục các bảng vi
Danh mục các hình vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2
1.1 Một số đặc điểm về Linh trưởng ở Việt Nam 2
1.1.1 Phân loại học thú linh trưởng ở Việt Nam 2
1.1.2 Họ vượn - Hylobatidae 2
1.1.3 Một số đặc điểm giống Nomascus 4
1.2 Phân bố của thú Linh trưởng Việt Nam 6
1.2.1 Phân bố thú Linh trưởng 6
1.2.2 Phân bố của giống Nomascus 9
1.3 Một số đặc điểm Vượn đen má vàng – Nomascus gabriellae 10
1.3.1 Phân loại học 10
1.3.2 Đặc điểm hình thái 11
1.3.3 Đặc điểm sinh học và sinh thái của VĐMV 11
Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 13
2.1.1 Mục tiêu tổng quát 13
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 13
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 13
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 13
Trang 52.2.3 Thời gian nghiên cứu 13
2.3 Nội dung nghiên cứu 13
2.4 Phương pháp nghiên cứu 14
2.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu 14
2.4.2 Phương pháp phỏng vấn 14
2.4.3 Phương pháp điều tra thực địa 14
2.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 20
Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 21
3.1 Điều kiện tự nhiên 21
3.1.1 Vị trí địa lý 21
3.1.2 Diện tích 21
3.1.3 Địa hình, địa thế 22
3.1.4 Địa chất, đất đai 23
3.1.5 Khí hậu, thuỷ văn 25
3.1.6 Tài nguyên động thực vật 27
3.2 Khái quát về đặc điểm kinh tế xã hội 28
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
4.1 Hiện trạng và phân bố của loài VĐMV 30
4.2 Đặc điểm sinh cảnh của Vượn đen má vàng tại khu vực nghiên cứu 31
4.2.1 Thành phần các loài thực vật bậc cao tại khu vực nghiên cứu 35
4.2.2 Đặc điểm cấu trúc tổ thành rừng trong khu vực VĐMV phân bố 36
4.2.3 Cấu trúc tầng thứ và độ tàn che của rừng 40
4.3 Các mối đe dọa đến loài và sinh cảnh VĐMV 44
4.3.1 Săn bắt 45
4.3.2 Khai thác gỗ 47
4.3.3 Cháy rừng 47
4.3.4 Lối mòn trong rừng (đi lại săn bắn, khai thác gỗ và thu hái lâm sản) 48
4.3.5 Khai thác lâm sản ngoài gỗ 48
Trang 64.3.6 Chăn thả gia súc 48
4.3.7 Chặt cây trồng cà phê, cao su và nương rẫy 49
4.4 Một số giải pháp bảo tồn loài và sinh cảnh VĐMV tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Nung 49
4.4.1 Nâng cao năng lực quản lý và thực thi pháp luật trong việc quản lý bảo vệ rừng 49
4.4.2 Nâng cao đời sống nhân dân xung quanh KBT 52
4.4.3 Nâng cao nhận thức cộng đồng 54
4.4.4 Chương trình nghiên cứu khoa học, phục vụ bảo tồn 55
KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KHUYẾN NGHỊ 56
1 Kết luận 56
2 Tồn tại 56
3 Kiến nghị 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
9 D1.3 Đường kính thân cây tại vị trí cao 1.3m
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
1.2 Tỉ lệ sai khác giữa các cặp nucleotit giữa các loài thuộc giống Nomascus 5
4.1 Số lượng đàn Vượn đen má vàng tại KBTTN Nam Nung 30
4.3 Những loài tham gia vào công thức tổ thành của KVNC 37
4.4 Các loài chính tham gia tổ thành ở trạng thái IIB 38
4.5 Các loài chính tham gia tổ thành ở trạng thái III A1 39
4.6 Các loài chính tham gia tổ thành ở trạng thái III A2 40 4.7 Độ tàn che của các quần xã thực vật KVNC 42
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
1.1 Sơ đồ mối quan hệ chủng loại phát sinh giữa các loài vượn giống Nomascus 5
3.1 Khu BTTN Nam Nung, huyên Krong Nô, tỉnh Đăk Nông 22
4.1 Khu vực phân bố của Vượn đen má vàng tại KBTTN Nam Nung 31
4.3 Biểu đồ tổng hợp theo họ, loài thực vật bậc cao trong KVNC 36
4.4 Biểu đồ biểu diễn mật độ cây theo trạng thái rừng KVNC 43
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Vượn đen má vàng (Nomascus gabriellae Thomas, 1909) là một trong những
loài linh trưởng quí hiếm trên thế giới cần được bảo vệ nghiêm ngặt Sách đỏ Việt Nam (2007) xếp loài ở mức nguy cấp (EN), Danh lục đỏ thế giới xếp loài ở mức nguy cấp (EN), Phụ lục 1B của Nghị định 32/CP và Phụ lục 1 của công ước CITES Theo kết quả nghiên cứu trước đây VĐMV phân bố ở miền Nam Lào, Miền Nam Việt Nam và Đông Cam-pu-chia (Geissmann, 1995a, Geissmann et al, 2000) Tuy nhiên, số lượng quần thể VĐMV ngoài tự nhiên đã và đang bị suy giảm nghiêm trọng do mất sinh cảnh và săn bắn, các quần thể VĐMV hiện tại chỉ phân bố ở một
số nơi còn rừng và bị chia cắt thuộc các Tỉnh Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng, Bình Phước, Ninh Thuận, Khánh Hòa và Đồng Nai (Rawson et al., 2011)
Vượn đen má vàng sống trong sinh cảnh rừng già có nhiều cây cao to và tán khép kín, thuận lợi cho việc di chuyển Chúng sống theo những nhóm nhỏ từ hai đến ba cá thể, rất ít khi gặp bốn Mỗi nhóm đều sống theo khu vực riêng của mình, chúng hoạt động ban ngày và hót vào buổi sáng sớm Buổi trưa và ban đêm nghỉ trên các ngọn cây (Đặng Huy Huỳnh và các cộng sự, 2007) Vượn đen má vàng chủ yếu sống trong rừng thường xanh trên núi đất, nhiều khi gặp chúng kiếm ăn ở các rừng khộp và gặp chúng ngủ ở các cây gỗ lớn ở rừng thường xanh (Phạm Nhật 2002) Cho tới nay, nghiên cứu về VĐMV còn rất hạn chế Hầu hết các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mức điều tra về hiện trạng và phân bố, chưa có các nghiên cứu
về sinh thái loài cũng như đặc điểm sinh cảnh của loài
Khu BTTN Nam Nung được thành lập từ năm 1994, đây là một trong những khu phân bố quan trọng của loài VĐMV Tuy nhiên, các nghiên cứu về động vật ở đây rất ít trong đó có VĐMV Hơn nữa, quần thể VĐMV và sinh cảnh của chúng hiện đang chịu sức ép từ các hoạt động của cộng đồng địa phương sống xung quanh KBT Vì vậy, mục tiêu của nghiên cứu này sẽ là thứ nhất điều tra về hiện trạng và phân bố của loài VĐMV; thứ hai đề tài sẽ nghiên cứu đặc điểm các sinh cảnh của VĐMV và đánh giá các mối đe dọa tới loài và sinh cảnh VĐMV Số liệu thu thập được của đề tài sẽ là cơ sở khoa học để đưa ra các giải pháp quản lý và bảo tồn loài linh trưởng quý hiếm này
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Một số đặc điểm về Linh trưởng ở Việt Nam
1.1.1 Phân loại học thú linh trưởng ở Việt Nam
Theo hệ thống phân loại của Brandon - Jone và cộng sự (2004) [14], khu hệ
thú Linh trưởng Việt Nam có 24 loài và phân loài thuộc 3 họ là: họ Cu li (Loridae),
họ Khỉ (Cercopithecidae), họ Vượn (Hylobatidae)
Theo hệ thống phân loại học phân tử các loài linh trưởng Đông Dương
(Christian, 2007) [31] thì Khu hệ thú linh trưởng ở Việt Nam có 25 loài và phân loài
thuộc 3 họ: Họ cu li – Loridae, họ khỉ - Cercopithecidae, họ Vượn – Hylobatidae
Trong phần này, đề tài sẽ tập trung mô tả phân loại học và khu phân bố của họ
Vượn
1.1.2 Họ vượn - Hylobatidae
Các loài Vượn gộp chung thành họ Vượn (Hylobatidae) được gọi là khỉ giả
nhân nhỏ, phân bố trên toàn bộ các vùng rừng mưa nhiệt đới ở Đông Nam Á [4, 15,
21, 32], chúng đặc trưng bởi lối vận động, cấu trúc xã hội và thông tin liên lạc Các
loài vượn sống hoàn toàn trên cây và ăn quả là chủ yếu, sự đu tay tạo ra sự chuyển
động đặc thù, tập tính treo thân độc đáo và tư thế đứng thẳng thường xuyên, thể
hiện sự chuyên hóa cao độ đối với môi trường và chế độ ăn hàng ngày của chúng
Các nghiên cứu trước đây về phân loại vượn chia thành hai nhóm gồm
Symphalangus và Hylobates Sự khác nhau dễ nhận thấy là nhóm Symphalangus
nặng hơn và chúng có giọng hót sâu hơn, có bao cổ họng bên ngoài và màng chân
giữa các ngón 2 và 3 Hiện nay các nghiên cứu về di truyền học, các đặc điểm giải
phẫu xương sọ và âm thanh đã phân họ vượn thành các giống Symphalangus có bộ
nhiễm sắc thể 2n = 50, giống Nomascus có bộ nhiễm sắc thể 2n = 52, giống
Bunopithecus có 2n = 38 và giống Hylobates có 2n = 44 [1] (Bảng 1.1)
Trang 12Bảng 1.1: Các loài thuộc họ Hylobatidae
Giống
Số lượng bộ nhiễm sắc thể
Loài và phân loài Vùng phân bố
Bunopithecus 38 Hoolock hoolock Assam, Banglades,
Trung Quốc
Hylobates 44
Campuchia Symphalangus 50 S syndactylus Bán đảo Malay
Nomascus 52
Trang 131.1.3 Một số đặc điểm giống Nomascus
Kích thước cơ thể: những cá thể vượn mào hoang dã có trọng lượng cơ thể trung bình là 7 - 8 kg, nặng tương đương với trọng lượng của giống Bunopithecus (7kg), lớn hơn trọng lượng của giống Hylobates (khoảng 5kg) và nhỏ hơn trọng lượng của giống Symphalangus (khoảng 11kg)
Đặc điểm sọ: trán cao và tròn, các cạnh trên ổ mắt phẳng
Số lượng bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội 2n = 52
Đặc điểm hình thái: Túm lông trên đầu dựng đứng, ở con đực phát triển hơn tạo thành một cái mào, những con cái trưởng thành có đám lông đen trên đầu tương phản với phần lông màu nhạt ở xung quanh Có sự lưỡng sắc giới tính thể hiện rõ ở những cá thể trưởng thành: con đực thường có màu lông đen (có hoặc không có các mảng lông má màu sáng), cá thể cái có lông màu vàng nhạt hoặc màu vàng da cam hoặc màu be nhạt, thường có mảng lông chẩm màu đen, có hoặc không có đám lông bụng màu tối Những thay đổi về màu sắc của bộ lông trong quá trình phát triển cá thể: con non sinh ra có bộ lông màu đen, gần tương tự như màu của con đực trưởng thành Đến thời gian trưởng thành sinh dục (khoảng 5 - 8 năm tuổi), con cái thay đổi màu lông lần thứ hai và có bộ lông màu sáng đặc trưng của con cái trưởng thành [25]
Phân loại học phân tử giống Nomascus
Theo Roos Christian et al 2007 [18], phân loại học phân tử dựa trên trình tự gen cytochrome b ty thể của 64 cá thể vượn và một cá thể Hylobates lar dùng đối chứng trong đó có 44 dạng khác nhau Sự khác nhau giữa các cặp từ 0,1 – 8,2%,
trong các bậc phân loại sự khác biệt lớn nhất là giữa hai loài N nasutus và N
hainanus (6,8%) [18] (Bảng1.2)
Trang 14Bảng 1.2: Tỉ lệ sai khác giữa các cặp nucleotit giữa các loàithuộc giống Nomascus
Theo công bố mới nhất năm 2010, đã có thêm một loài vượn mới có tên là
vượn mào đen má hung Trung bộ N.anamensis được các nhà khoa học Đức và Việt
Nam công bố [35]
Như vậy dựa trên các dẫn liệu về các cặp khác nhau và mối quan hệ phát
sinh chủng loại thì các loài N nasutus, N hainanus, N concolor, N gabriellae, N
leucogenys được công nhận là các loài riêng biệt
Dựa trên sơ đồ phát sinh chủng loại của giống Nomascus như trên thì loài
N.concolor được coi là loài đơn
Trang 151.2 Phân bố của thú Linh trưởng Việt Nam
1.2.1 Phân bố thú Linh trưởng
Việt Nam được coi là một trong những trung tâm về đa dạng sinh học, do đặc điểm địa hình kết hợp với đặc điểm khí hậu đã tạo lên sự phân hóa tự nhiên khác nhau theo độ cao và kết quả đã hình thành các vùng núi thấp, núi trung bình và núi cao Các vành đai Á nhiệt đới và ôn đới vùng phía Tây Trường Sơn xuất hiện ở độ cao 1000m - 1400m, Đông Trường Sơn 700m - 800m và phía Bắc khoảng 500m - 600m[9] Chính địa hình chia cắt và kết hợp khí hậu hình thành các loài thực vật, các kiểu rừng ở các vùng đai cao khác nhau đã tạo nên các vùng thức ăn, nơi ở và vùng phân bố của thú Linh trưởng như: Dãy Bạch Mã - Hải Vân là chiếc barie tự nhiên ngăn chia sự phân bố của nhiều loài động thực vật Phía Nam Bạch Mã - Hải
Vân có Khỉ đuôi dài (Macaca fascicularis fascicularis), VĐMV (Nomascus
gabrillae) trong khi đó phân bố phía Bắc Bạch Mã - Hải Vân lại có một số loài
Voọc thuộc giống (Trachypithecus), Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus), Voọc mông trắng (Trachypithecus francoisi delacouri), Khỉ mốc (Macaca
assamensis) [7] Bảng 1.3 đã thể hiện sự phân bố thú Linh trưởng Việt Nam
Bảng 1.3: Vùng phân bố thú Linh trưởng
Trang 16TT Tên loài Tên khoa học Vùng phân bố
4 Khỉ mốc Macaca assamensis (M'Clelland,
1839)
Phân bố phía từ Bắc đến Quảng Bình
5 Khỉ đuôi lợn Macaca nemestrina
(Linnaeus,1767)
Từ Bắc đến Tây Nguyên và vùng Đông Nam Bộ (Bình Phước)
6 Khỉ vàng Macaca mulatta (Zimmermann,
1780)
Phân bố từ phía Bắc đến Gia Lai
7 Khỉ đuôi dài Macaca fascicularis fascicularis(
B Họ phụ voọc
9 Voọc xám Trachypithecus phayrei (Blyth,
1847)
Vùng Tây Bắc và Bắc Trung Bộ
10 Voọc bạc gecman Trachypithecus cristatus germani
(Milne-Edwards,1876)
Tây Nguyên và Đông Nam Bộ
11 Voọc bạc Trachypithecus cristatus
margarita(Elliot, 1909)
Tây Nguyên và Đông Nam Bộ
12 Voọc má trắng Trachypithecus francoisi francoisi
15 Voọc gáy trắng Trachypithecus francoisi Bắc Trung Bộ nay
Trang 17TT Tên loài Tên khoa học Vùng phân bố
Hà Giang
18 Chà vá chân nâu Pygathrix nemaeus nemaeus
(Linnaeus, 1771)
Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng và Đắk Lắk
19 Chà vá chân đen Pygathrix nemaeus gripes
Milne-Edwards, 1871
Vùng phân bố loài này từ 11022' N đến 14029' N Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng, Đồng Nai, Bình Phước
20 Chà vá chân xám Pygathrix nemaeus cinerea Tilo
nadler, 1997
Quảng Nam, Kon Tum
21 Vượn đen hải nam Nomascus nasutus sso(?)
22 Vượn đen tuyền Nomascus concolor concolor
(Harlan, 1826)
Vùng phân bố nằm giữa sông Hồng và sông Đà cùng một
số tỉnh Sơn La, Yên Bái
23 Vượn đen má Nomascus leucogenys neucogenys Lai Châu, Sơn La,
Trang 18TT Tên loài Tên khoa học Vùng phân bố
Hóa, Nghệ An,
24 Vượn đen siki Nomascus leucogenys siki
(Delacaur, 1951)
Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế
(Nguồn: Phạm Nhật, 2002)
1.2.2 Phân bố của giống Nomascus
Vượn mào – Nomascus chỉ phân bố ở Đông Dương bao gồm Việt Nam, Lào,
phía đông Campuchia và Tây - Nam Trung Quốc (tỉnh Vân Nam và đảo Hải Nam), sông Mê Kông là giới hạn phía tây của các vùng phân bố của chúng và ngăn cách chúng với giống Hylobates [18] Những khu vực phân bố hiện nay đã bị chia cắt mạnh gồm những mảnh rừng ít nhiều còn nguyên sinh, biệt lập và nhỏ
Vượn đen tuyền – N concolor phân bố ở miền Trung và miền Tây của tỉnh
Vân Nam, Trung Quốc, tại Bắc Lào có khoảng 9 đàn phân bố ở khu vực rộng khoảng 20km2 thung lũng Nam Kan, tỉnh Bokeo Ở Việt Nam loài phân bố ở các khu vực giữa sông Hồng và sông Đà, các mẫu vật thu được ở Lào Cai, Yên Bái, Sơn
La, Thanh Hóa Hiện nay theo kết quả điều tra của Lê Trọng Đạt và cộng sự, 2006 ở Sơn La và Yên Bái thì số lượng quần thể vượn đen tuyền đang bị suy giảm từ 39 nhóm với 91 cá thể năm 2000-2001 còn 25 nhóm với 68 cá thể năm 2006 [28]
Vượn má trắng – N leucogenys có vùng phân bố rộng ở Trung Quốc từ miền
cực Nam của tỉnh Vân Nam, phía đông sông Hắc Long Giang Ở Lào vượn má trắng phân bố ở nửa bắc của đất nước, sông Mê Kông cũng là giới hạn phía Tây của
Trang 19loài Ở Việt Nam phân bố ở các tỉnh miền Tây-Bắc đến phía Tây sông Đà, giới hạn phía Nam của phân loài là phía nam sông Cả (Nghệ An)
Vượn má trắng siki – N siki phân bố ở phía bắc miền Trung Việt Nam và
miền Trung Lào Sông Mêkông là ranh giới phía Tây vùng phân bố của nó Phân bố tại ở Việt Nam, hạ lưu sông Cả là giới hạn phía Bắc của loài, giới hạn về phía nam của loài chưa được xác định
Vượn mào đen má hung Trung bộ (N annamensis) là một loài vượn mới
được phát hiện và công bố năm 2010, thuộc chi vượn mào đen Nomascus, họ Vượn Hylobatidae Loài vượn này phân biệt khá rõ với các loài vượn mào má sáng màu khác ở các đặc điểm tần số và nhịp độ phát âm thanh gọi bầy, cảnh báo kẻ địch xâm nhập lãnh địa Phân bố Nam Lào, Nam Việt Nam và Đông-Bắc Campuchia Ranh giới phân bố của loài chưa được xác định rõ [35]
Vượn đen má vàng – N gabriellae phân bố ở Nam Lào, Nam Việt Nam và
đông-bắc Campuchia Ranh giới phân bố của loài chưa được xác định rõ, có thể giới hạn phía bắc của loài có thể là ở các tỉnh Quảng Nam, Kon Tum, Gia Lai, Bình Định, Phú Yên, Đắk Lắk [31] Nhưng nay phát hiện loài này ở Khu Bảo tồn Nam Nung - Đắk Nông và Vườn quốc gia Bù Gia Mập - Bình Phước khoảng 400 cá thể theo luận chứng kinh tế của Vườn
1.3 Một số đặc điểm Vượn đen má vàng – Nomascus gabriellae
1.3.1 Phân loại học
Tên thường gọi: Vượn má vàng
Tên khoa học: Nomascus gabriellaeThomas, 1909
Geissmann đã mô tả tất cả vượn mào là thành viên của một loài duy nhất
thuộc giống Hylobates (nghĩa là "H concolor) Vượn đen má vàng đã được coi là một phân loài với tên gọi ("H concolor gabriellae") (Groves, 1972; Marshall &
Sugardjito, 1986) Gần đây, dựa trên các đặc điểm của tiếng hót và các tính năng khác, VĐMVđược đề xuất là một loài riêng biệt (Geissmann, 1995a; Geissmann et
al, 2000) Ngoài ra, phân tích phân tử gần đây là bằng chứng ghi nhận rằng khoảng cách giữa các giống phụ vượn (subgenera) là lớn hoặc lớn hơn khoảng cách giữa
Trang 20tinh tinh (Pan) và con người (Homo) (Roos & Geissmann, 2001) Từ kết quả của phát hiện này, cả bốn giống phụ được công nhận là giống đầy đủ và tên khoa học
truyền thống được thay đổi, từ Vượn mào "Hylobates concolor gabriellae" thành Vượn đen má vàng (Nomascus gabriellae) Vượn đen má vàng phân bố miền Nam
Lào, miền nam Việt Nam và Đông Cam-pu-chia (Geissmann, 1995a, Geissmann et al., 2000).[34]
1.3.2 Đặc điểm hình thái
Đặc điểm nhận biết: Bô ̣ lông của con đực trưởng thành có màu đen, má có mầu vàng nhạt hoặc cam nhạt Con đực cũng có một nhóm các sợi lông dựng đứng
(đỉnh) trên đầu, do đó giống Nomascus có tên gọi là "Vượn mào" Các cá thể cái
trưởng thành của VĐMV có bô ̣ lông màu vàng sáng nhạt hoặc màu da cam với một bản vá màu đen trên đầu Con non mới sinh của Vượn đen má vàng có bộ lông màu vàng tươi sáng Màu sắc của bộ lông sẽ thay đổi vào khoảng cuối năm của năm đầu tiên, chuyển gần như hoàn toàn từ màu vàng sang màu đen trừ hai bên má vẫn màu vàng Vượn đực trưởng thành có bộ lông màu đen của chúng và hai bên má vẫn màu vàng
1.3.3 Đặc điểm sinh học và sinh thái của VĐMV
Vượn đen má vàng vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ trong tự nhiên Giống như vượn khác, nó di chuyển kiếm ăn trên cây vào ban ngày, nó thích nghi dưới tán trên rừng, ngủ và nằm trên cây (Leighton, 1987) Vượn đen má vàng sống trong sinh cảnh rừng già trên đỉnh núi cao Thường sống trong các khu rừng già có nhiều cây cao to dễ di chuyển Không sống ở các khu rừng thưa, tre nứa Chúng sống theo những nhóm nhỏ từ hai đến ba cá thể, rất ít gặp bốn Mỗi nhóm đều sống theo khu vực riêng của mình, chúng tích cực hoạt động ban ngày và hót vào buổi sáng sớm Buổi trưa và ban đêm nghỉ trên các ngọn cây (Đặng Huy Huỳnh và các cộng sự,2007) Loài vượn này còn được xem là loài chỉ thị của hệ sinh thái, do đó chúng
là đối tượng quan trọng của các dự án bảo tồn
Trang 21 Phân bố
Loài này được tìm thấy trong rừng nhiệt đới thường xanh (Eames & Robson, 1993) Vượn đen má vàng ở miền Nam Lào, miền nam Việt Nam và Đông Cam-pu-chia (Geissmann, 1995a, Geissmann et al., 2000) và chúng xuất hiện và ưa thích rừng vùng đất thấp (Đào Văn Tiến, 1983)
Tình trạng và bảo tồn
- Sách đỏ Việt Nam phần I Động vật: Loài này bị suy giảm đến nguy cấp được xếp phân hạng EN A1c,d C2a
- Phụ lục IBNghị định 32/2006/NĐ- CP, ngày 30 tháng 3 năm 2006 về quản
lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm
- Danh lục đỏ thế giới (IUCN, 2012): Nguy cấp ENA2cd
- Công ước CITES: Phụ lục I
- Các mối đe dọa đối với loài: Hiện tại mối đe dọa lớn nhất đối với loài là săn bắn (Rawson, 2011) Mối đe dọa thứ 2 là sự suy thoái và mất sinh cảnh do các hoạt động canh tác nông nghiệp và khai thác gỗ hợp pháp và trái phép (Duckworth et al,
1995, 1999; Eames & Robson, năm 1993; Geissmann, 1995b; Geissmannet al., 2008)
- Loài này không được bảo vệ hiệu quả bất cứ nơi nào, hiện nay, ngay cả trong khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia (Geissmann, 1995b; Geissmann tại
al, 2000)
Trang 22Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NỘI DUNGVÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu tổng quát
Góp phần bảo tồn quần thể Vượn đen má vàng (Nomascu gabriellae) và đa
dang sinh học tại Khu BTTN Nam Nung
2.1.2 Mục tiêu cụ thể
Xác định được tình trạng bảo tồn và phân bố của quần thể VĐMV tại KBTTN Nam Nung
Xác định được các đặc điểm sinh cảnh của VĐMV tại KBTTN Nam Nung
Đề xuất được các giải pháp quản lý và bảo tồn quần thể VĐMV tại KBTTN Nam Nung
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Là loài Vượn đen má vàng và sinh cảnh của chúng tại Khu BTTN Nam
Nung, Đắk Nông
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu
Vùng lõi Khu BTTN Nam Nung, Đắk Nông
2.2.3 Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9/2012 đến tháng 4/2013
2.3 Nội dung nghiên cứu
1 Nghiên cứu hiện trạng và phân bố của loài VĐMV
2 Nghiên cứu một số đặc điểm của sinh cảnh VĐMV
3 Nghiên cứu các mối đe dọa đến loài và sinh cảnh VĐMV
4 Nghiên cứu đề xuất các giải pháp bảo tồn loài và sinh cảnh VĐMV
Trang 232.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu
Đề tài đã tiến hành thu thập tất cả các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu Sau đó tiến hành rà soát, đánh giá và kế thừa có chọn lọc các thông tin Các tài liệu thu thập bao gồm:
- Bản đồ quy hoạch sử dụng đất, bản đồ Quy hoạch rừng đặc dụng, bản đồ
hành chính
- Luận chứng kinh tế kỹ thuật thành lập khu rừng đặc dụng
- Các luận chứng điều chỉnh Quy hoạch
- Báo cáo về đa dạng sinh học
- Báo cáo về dân sinh- kinh tế -xã hội; An ninh – quốc phòng
- Các nghiên cứu, dự án thực hiện trong KBT
- Các báo cáo, bài báo khoa học liên quan đến đối tượng nghiên cứu
- Các văn bản pháp lý và chính sách
2.4.2 Phương pháp phỏng vấn
Mục đích của phương pháp này là nhằm thu thập các thông tin sơ bộ về hiện trạng, phân bố cũng như các mối đe dọa đến loài và sinh cảnh của Vượn đen má vàng Các thông tin này là cơ sở giúp người điều tra thiết kế các hoạt động điều tra thực địa
Đối tượng phỏng vấn: thợ săn và người có kinh nghiệm đi rừng tại địa phương, và cán bộ Kiểm lâm tại KBT
Đề tài đã tiến hành phỏng vấn tổng số 20 người, trong đó có 8 người là cán bộ kiểm lâm của KBT và 12 người là thợ săn và người có kinh nghiệm đi rừng tại địa phương Các thông tin thu thập trong quá trình phỏng vấn bao gồm: hiện trạng, phân bố, các mối đe dọa đến loài và sinh cảnh VĐMV cũng như tình hình quản lý
và bảo tồn tại KBT Kết quả phỏng vấn được ghi vào mẫu biểu chuẩn bị sẵn (xem
chi tiết tại Phụ lục 9)
2.4.3 Phương pháp điều tra thực địa
Phương pháp điều tra theo điểm
Trang 24Điểm nghe được sử dụng để xác định số lượng đàn Vượn có trong KBT Tổng
số có 20 điểm nghe được lập trong KBT Mỗi điểm nghe được lặp lại 03 lần Mỗi điểm nghe được bố trí với khoảng cách từ 1,5-2km, tùy theo địa hình khu vực nghiên cứu Các điểm nghe được lựa chọn là các đỉnh núi thuộc khu vực nghiên cứu, cho phép người nghe có thể phát hiện và nghe tiếng hót của các đàn vượn có mặt trong khu vực Thời gian điều tra được bắt đầu từ 5h00 đến 9h00 buổi sáng Các đàn vượn sẽ được xác định thông qua sự khác nhau về góc phương vị và khoảng cách từ điểm nghe tới đàn
Số lượng cá thể được quan sát trực tiếp và phân tích qua tiếng hót của con đực, cái Các thông tin được ghi vào mẫu biểu (Phụ lục 1,2)
Phương pháp tính diện tích vùng điều tra
Diện tích vùng điều tra được tính bằng tổng diện tích các sinh cảnh là nơi phân
bố của Vượn (diện tích được tính theo từng trạng thái rừng có trong khu bảo tồn) Việc tính toán diện tích dựa trên phần mềm mapinfo 10.5
Phương pháp phân loại sinh cảnh và điều tra các đặc điểm lâm học
Sinh cảnh sống của Vượn sẽ được xác định dựa trên quan sát quan sát trực tiếp nơi có mặt của VĐMV hoặc gián tiếp qua tiếng hót Tất cả các điểm quan sát này được ghi lại tọa độ (GPS) và sau này chuyển tải lên bản đồ Trong các sinh cảnh sống của VĐMV được xác định, đề tài tiến hành lập các ô tiêu chuẩn với kích thước (20x50m) Các ô được lập ngẫu nhiên và 3 ô tiêu chuẩn cho một sinh cảnh sống Trong ô tiêu chuẩn những cây có đường kính D≥ 6cm được tiến hành đo đếm các chỉ tiêu sau: D1.3, Hvn, và độ tàn che Việc phân loại các sinh cảnh sống của VĐMV dựa trên hệ thống phân loại rừng của loeschau
Phân loại trạng thái rừng: Hệ thống phân được chia ra 4 loại như sau:
1 Loại I: Đất không có rừng, đây là nhóm không có rừng hoặc hiện tại chưa
thành rừng, chỉ có trảng cỏ, trảng cây bụi hay tre nứa mọc rải rác, độ che phủ dưới 30%, tuỳ theo hiện trạng mà nhóm này được chia thành 3 kiểu trạng thái phụ:
- Kiểu I A: Trảng cỏ: trạng thái này được đặc trưng bởi lớp thực bì, cỏ lau lách
- Kiểu I B: Trảng cây bụi: nó đặc trưng bởi lớp thực bì là cây bụi và một số cây thân gỗ nhỏ, tre nứa mọc rải rác
Trang 25- Kiểu I C: Cây bụi có cây gỗ rải rác tái sinh: ở trạng thái này số lượng cây gỗ tái sinh có chiều cao >1m đạt từ 1000 cây/ha trở lên, và ít cây gỗ đường kính > 6cm
2 Loại II: Đất rừng non phục hồi sau nương rẫy hoặc sau khai thác trắng,
kiểu rừng này là rừng cây gỗ có đường kính nhỏ, nó có thể chia thành 2 kiểu phụ:
- Kiểu II A: Rừng cây tiên phong phục hồi sau nương rẫy và đặc trưng bởi lớp cây tiên phong, ưa sáng, mọc nhanh, thường đều tuổi và kết cấu một tầng, đường kính D<10cm, G<10m2/ha, rừng chưa có trữ lượng hoặc trữ lượng nhỏ 25-30m3
- Kiểu II B: Rừng cây tiên phong phục hồi sau khai thác kiệt, phần lớn trạng thái này bao gồm những cây non với loài cây ưa sáng, thành phần loài đã phức tạp, không đều tuổi do tổ thành loài cây ưu thế không rõ ràng, có thể còn sót lại một số cây lớn nhưng trữ lượng không đáng kể, đường kính cây cao phổ biến không quá 20cm, G>10m2/ha, trữ lượng 30-60m3
3 Loại III: Rừng thứ sinh qua khai thác chọn, đây kiểu rừng đã bị tác động
khai phá của con người ở nhiều mức độ khác nhau làm cho kết cấu rừng có sự thay đổi Tuỳ theo mức độ tác động, khả năng tái sinh và cung cấp lâm sản mà có thể phân loại khác nhau:
- Kiểu IIIA: Rừng thứ sinh qua khai thác chọn kiệt, đang phục hồi (rừng nghèo), khả năng khai thác bị hạn chế, cấu trúc rừng bị phá vỡ hoàn toàn hoặc thay đổi cơ bản, trạng thái này có thể chia thành một số kiểu phụ:
+ Kiểu phụ III A1: Rừng mới qua khai thác chọn kiệt, tán rừng bị phá vỡ thành từng mảng lớn, tầng trên còn sót lại một số cây cao nhưng phẩm chất xấu, nhiều dây leo bụi dậm, tre nứa xâm lấn Độ tàn che của rừng S<0,3, G<10m2/ha,
GD>40<2m2/ha, trữ lượng <80m3 Tuỳ thuộc vào mật độ tái sinh mà nó có thể chia nhỏ hơn nữa:
- IIIA1-1: là trạng thái rừng thiếu tái sinh (mật độ cây tái sinh mục đích có chiều cao H>1m là nhỏ hơn1000 cây/ha)
- IIIA1-2: là trạng thái đủ tái sinh với mật độ >1000 cây/ ha
+ Kiểu phụ III A2: Rừng qua khai thác kiệt bắt đầu phục hồi, đặc trưng của trạng thái này là đã hình thành tầng giữa vươn lên chiếm ưu thế với lớp cây đại bộ
Trang 26phận có đường kinh 20-30cm Rừng có 2 tầng trở lên, tầng trên tán không liên tục được hình thành chủ yếu từ những cây cũ còn lại, còn có những cây to khoẻ vượt tán Độ tàn che của rừng S>0,3, G<10m2/ha, GD>40<2m2/ha, trữ lượng 80-120m3 Cũng tuỳ vào mật độ tái sinh có thể chia nhỏ thành:
- IIIA2-1: là trạng thái rừng thiếu tái sinh (mật độ cây tái sinh mục đích có chiều cao H>1m là nhỏ hơn1000 cây/ha)
- IIIA2-2: là trạng thái đủ tái sinh với mật độ >1000 cây/ha
+ Kiểu phụ III A3: Rừng đã có quá trình phục hồi tốt (rừng giàu) Độ tàn che của rừng S>0,5, G16-21m2/ha, GD>40<2m2/ha, trữ lượng >120m3
- Kiểu IIIB: Rừng khai thác ít, trữ lượng rừng còn cao, chia làm 2 kiểu phụ:
+ Kiểu phụ III B1: Rừng có độ tàn che S>0,5, G=26m2/ha, GD>405m2/ha,M>250m3
2-+ Kiểu phụ III B2: Rừng có độ tàn che S>0,5, G=26-30 m2/ha, GD>405m2/ha, trữ lượng>250m3/ha
2-4 Loại IV: Rừng nguyên sinh hoặc thứ sinh phục hồi tốt, ít bị tác động, trữ
và sản lượng cao, có độ tàn che S>0,6, G>30 m2/ha, GD>40>5m2/ha
Xác định tổ thành tầng cây cao
Xác định công thức tổ thành tầng cây cao và cây tái sinh theo phương pháp của Nguyễn Hữu Hiếu
- Tính số lượng cá thể bình quân của loài theo công thức sau:
Trong đó: X là số cá thể trung bình mỗi loài
N là tổng số cá thể điều tra
A là số loài điều tra được
Chọn những loài có số cây điều tra lớn hơn XTB để tham gia vào công thức tổ thành
- Xác định tỷ lệ phần trăm cho từng loài:
K =
Trong đó: ni là tổng số cây của loài i
Trang 27ni là tổng số cây của các loài tham gia vào công thức tổ thành
- Viết công thức tổ thành: Xác định hệ số tổ thành như sau: Ki = k
Sau đó tiến hành viết công thức tổ thành cho từng trạng thái rừng theo nguyên tắc:
+ Những loài nào có hệ số tổ thành Ki lớn thì viết trước
+ Những loài nào có hệ số tổ thành Ki ≥ 1 thì viết hệ số Ki đó vào, những loài
mà có hệ số Ki< 1 thì không viết hệ số mà thay vào đó là dấu cộng (+), nếu Ki ≥ 0.5
và dấu trừ (-) nếu Ki< 0.5
Xác định độ tàn che
Sử dụng phương pháp điều tra theo điểm: xác định 200 điểm phân bố đều, nhìn vào kính của máy đo cường độ xác định độ tàn che nếu thấy tán lá tầng cây cao che kín, thì điểm đó ghi 1, nếu không có gì che lấp, ghi số 0 và nếu những điểm còn nghi ngờ thì ghi 1/2
Phương pháp xác định mối đe dọa đến loài và sinh cảnh VĐMV
Tuyến điều tra được sử dụng để xác định các mối đe dọa chính đến loài và sinh cảnh của VĐMV Tổng số có 5 tuyến được lập với độ dài từ 3-5km Người điều tra đi dọc theo tuyến và ghi lại tất cả các thông tin liên quan đến các mối đe dọa Các thông tin thu thập được ghi vào mẫu biểủ 2.1
Biểu 2.1: Ghi chép về tác động của con người
Địa điểm điều tra: Ngày điều tra: Thời gian bắt đầu: Thời gian kết thúc: Tuyến số: Quãng đường đi: Người điều tra:
(Kinh độ, vĩ độ) Hoạt động/ Không hoạt động
Ghi chú
Trang 28 Đánh giá các mối đe dọa
Sau khi xác định và liệt kê các mối đe doạ trong KBT tiến hành đánh giá cho điểm theo thứ tự từ 1 đến n điểm, tương ứng với n mối đe dọa tùy từng mức độ ảnh hưởng lớn hay nhỏ và tránh cho hai mối đe dọa có số điểm bằng nhau dựa trên 3 tiêu chí: Diện tích ảnh hưởng của mối đe dọa, cường độ ảnh hưởng của mối đe dọa và tính cấp thiết của mối đe dọa Theo phương pháp của (Margoluis and Salafsky, 2001)
Diện tích ảnh hưởng của mối đe dọa: Tỷ lệ diện tích bị ảnh hưởng bởi mối đe dọa trong khu vực nghiên cứu Ở đây chúng tôi xem xét mối đe dọa đó ảnh hưởng đến toàn bộ khu vực nghiên cứu hay chỉ là một phần Cho điểm cao nhất (n điểm) đối với mối đe dọa mà ảnh hưởng đến diện tích rộng nhất và cho điểm thấp nhất (1 điểm) cho những mối đe dọa ảnh hưởng đến diện tích nhỏ nhất
Cường độ ảnh hưởng của mối đe dọa: Mức độ phá hủy của mối đe dọa đối với sinh cảnh Ở đây chúng tôi xem xét liệu mối đe dọa đó phá hủy toàn bộ sinh cảnh trong khu vực đó hay chỉ ảnh hưởng một phần Cho điểm cao nhất đối với mối
đe dọa nào có mức độ tác động mạnh nhất và cho điểm giảm dần theo cường độ ảnh hưởng của các mối đe dọa
Tính cấp thiết của mối đe dọa: Mối đe dọa ảnh hưởng hiện tại hay nó sẽ xảy
ra trong tương lai Việc cho điểm tiêu chí này tương tự với tiêu chí trên nghĩa là mối
đe dọa nào có tính nguy cấp nhất sẽ cho điểm cao nhất và giảm dần theo tính nguy cấp Kết quả đánh giá và cho điểm các mối đe dọa theo mẫu biểu 2.2
Biểu 2.2: Kết quả đánh giá các mối đe dọa
STT Các mối đe dọa
Tiêu chí xếp hạng
hạng
Diện tích ảnh hưởng
Cường độ ảnh hưởng
Tính cấp thiết
Trang 29Sau khi cho điểm và tính tổng điểm tiến hành xếp hạng các mối đe doạ, mối
đe dọa mạnh nhất thì cho điểm cao nhất
Trang 30Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý
Khu BTTN Nam Nung nằm ở trung tâm tỉnh Đắk Nông, trên địa bàn của xã Quảng Sơn (huyện huyện Đắk Glong), xã Đắk Hòa (Huyện Đắk Song) và các xã Đức Xuyên, Nam Nung (huyện Krông Nô) Có tọa độ:
Từ 12o 12' đến 12 o 20' vĩ độ Bắc
107 o 44' đến 107 o 53; kinh độ Đông
Phía Bắc giáp phần đất còn lại của xã Nam Nung
Phía Đông giáp phần đất còn lại của xã Đức Xuyên
Phía Nam giáp phần đất còn lại của xã Quảng Sơn
Phía Tây giáp phần đất còn lại của xã Đắk Hòa
Vùng đệm của Khu bảo tồn Nam Nung có diện tích 9.037 ha nằm ở các xã: Nam Nung, Đức Xuyên (thuộc huyện Krông Nô); Quảng Sơn (thuộc huyện Đắk Glong), tỉnh Đắk Nông
3.1.2 Diện tích
Tổng diện tích của Khu BTTN Nam Nung là 20.156 ha (UBND,1994) Trong đó, diện tích KBTTN quản lý trực tiếp 10.849 ha, phân khu bảo vệ nghiêm ngặt là 6.156 ha, phân khu phục hồi sinh thái 4.693 ha và phân khu hành chính dịch
vụ là 0 ha
Vùng đệm có diện tích 9.037 ha (Chưa có hoạt động quản lý của KBT vì
đang chịu sự quản lý và là hiện trường sản xuất của các CTLN)
Trang 31Hình 3.1: Khu BTTN Nam Nung, huyên Krong Nô, tỉnh Đăk Nông
3.1.3 Địa hình, địa thế
KBTTN Nam Nung nằm trên và quanh đường dông khối núi Nam Nung, có địa hình từ núi thấp đến Trung bình Độ cao giảm dần từ đỉnh sang hai phía Đông Bắc và Tây Nam, nhìn chung địa hình KBT thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam Đỉnh núi cao nhất trong KBTTN là Nam Jer Bri (Nam Nung) (1.578m) Nơi thấp nhất ở mặt suối Đắk Pri trên địa phận KBT thuộc xã Đức Xuyên trên ranh giới phía Đông Bắc của KBT, nơi đây chỉ có độ cao khoảng 600m so với mặt biển Trên đỉnh dông dãy Nam Nung và trên dông một số nhánh núi phụ còn có nhiều đỉnh núi cao trên 1400m thuộc tiểu khu 1609 và 1315
Địa thế KBTTN bị chia cắt, độ dốc biến động từ 100-350 Đỉnh dông Nam Nung như đỉnh nóc nhà phân nước về hai hướng Bắc và Nam Sườn phía Đông Bắc
Trang 32của dãy Nam Nung có địa hình ít dốc hơn so với sườn phía Tây Nam, sườn phía Tây Nam ẩm ướt hơn ở sườn phía Đông Bắc Trong KBTTN các thung lũng rất hẹp
Địa hình cao thấp khác biệt đã tạo nên hai kiểu rừng nhiệt đới và á nhiệt đới núi thấp rõ rệt cho KBTTN
3.1.4 Địa chất, đất đai
3.1.4.1 Địa chất
- Đá mẹ cấu tạo nên lập địa KBTTN Nam Nung gồm: Đá mácma axít (Granit, gneiss, bazan, syenite, Sa thạch khối ) và đá phiến thạch sét (Đá Sét)
+ Đá mácma axít: (chủ yếu là đá Granit, gneiss, syenite, Sa thạch khối) có tỷ
lệ silic cao trong thành phần nên sản phẩm phong hoá có cấp hạt cát chiếm đa số
+ Đá Bazan, Đá sét (phiến thạch sét) trong thành phần cấu tạo cấp hạt sét chiếm tỷ lệ lớn nên sản phẩm phong hoá cho ra chủ yếu là cấp hạt mịn, nhiều hạt sét
- Mẫu chất tạo nên lập địa KBTTN gồm 3 loại: Tàn tích, sườn tích và một phần nhỏ lũ tích Mẫu chất tàn tích còn mang nhiều đặc tính của đá mẹ Mẫu chất lũ tích và sườn tích đã bị nước, nhiệt độ, sinh vật và thời gian làm biến đổi đi nhiều nên tính chất có khi khác hẳn với đá gốc như tạo ra vùng quặng Bô xít ở dưới thảm rừng phía nam khu BTTN
“Do quá trình laterit hóa chỉ diễn ra trong điều kiện nhiệt đới trên nền đá mẹ
là các loại đá silicat: Granit, gneiss, bazan, syenite và đá sét Khác với quá trình hình thành laterit sắt, sự hình thành bauxite đòi hỏi điều kiện phong hóa mạnh mẽ hơn và điều kiện thủy văn thoát nước rất tốt cho phép hòa tan và rửa trôi kaolinite
và hình thành tầng lắng đọng nên gibbsit Đới giàu hàm lượng nhôm nhất thường nằm ngay dưới lớp mũ sắt Dạng tồn tại chủ yếu của hydroxit nhôm trong bauxit laterit chủ yếu là gibbsit Tại Việt Nam, bauxit Tây Nguyên được hình thành theo phương thức này trên nền đá bazan”
3.1.4.2 Đất đai
KBTTN có các nhóm đất chính sau:
+ Đất Feralít mùn vàng nhạt trên núi cao (cao hơn 1000m)
Trang 33Đặc điểm chung của lớp đất Feralít mùn vàng nhạt là: Tầng thảm mục dày, quá trình Feralít kém điển hình, quá trình mùn hoá tương đối mạnh Nguyên nhân chính là do trên đai cao của núi trung bình (>1000m) có nhiệt độ thấp, ẩm độ cao
+ Đất feralít đỏ vàng hay vàng đỏ phát triển trên đá Granit, gneiss, syenite,
Sa thạch khối, núi thấp (dưới 1000m)
Màu sắc đất tương đối rực rỡ Khoáng sét Kaolinit bị rửa trôi nhiều Thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình Đất rất ít chứa khoáng vật nguyên sinh (trừ khoáng vật bền như thạch anh) Đất có phản ứng chua Tỉ số Si02/R203 ≤ 2,0; Fe203 > Al203, nhôm tự do không thiếu Chất hữu cơ phân giải mạnh, axít fulvic > axit humic Nơi còn rừng tỉ lệ mùn khá, mới mất rừng tỉ lệ mùn trung bình Đất nghèo Lân, Kali Phân bố trên sườn núi Nam Jer Bri, đỉnh dông dãy núi Nam Nung
+ Đất feralít đỏ vàng hay vàng đỏ phát triển trên đá Sa thạch, đá Sét (Phiến thạch sét), núi thấp (dưới 1000m)
Màu sắc đất tương đối rực rỡ đến rực rỡ Khoáng sét Kaolinit chiếm đa số Thành phần cơ giới trung bình đến nặng Đất rất ít chứa khoáng vật nguyên sinh (trừ khoáng vật bền như thạch anh) Đất có phản ứng chua Tỉ số Si02/R203 ≤ 2,0; Fe203 = Al203, nhôm tự do không thiếu Chất hữu cơ phân giải mạnh, nơi còn rừng
tỉ lệ mùn khá, nơi mất rừng tỉ lệ mùn trung bình và thấp Phân bố trên sườn Bắc và Đông Bắc dãy núi Nam Nung và đỉnh các dông núi phụ, thuộc địa phận xã Nam Nung, Đức Xuyên
+ Đất đỏ nâu hay đỏ vàng phát triển trên đá Bazan vùng đồi núi thấp (dưới 1000m)
Đất có quá trình laterít rất điển hình đó là quá trình laterít hóa tích tụ hydroxit nhôm trong đất tạo ra tầng khoáng sản bauxit laterit Tỉ số Si02/R203< 2,0; Fe203 <Al203, nhôm tự do khá nhiều Dưới tầng đất mặt dày 1-9m thường có tầng quặng bauxit laterit dày (Tầng tích tụ hydroxit nhôm trong bauxit laterit gọi là gibbsit) Nơi có rửa trôi bề mặt mạnh, tầng bauxit ở rất nông và có thể lộ vỉa lên mặt đất (Cây cối ở đây phát triển kém)
Trang 34Đất đỏ Bazan do quá trình phong hoá đá mẹ rất triệt để, nên thành phần khoáng sét chủ yếu là Kaolinít Đất có thành phần cơ giới đất thịt trung bình đến đất thịt nặng Màu sắc đất đỏ nâu đến đỏ vàng Chất hữu cơ phân giải mạnh, axít fulvic
> axit humic Đất có phản ứng chua (pHKCl: 3,8 - 4,5), hàm lượng mùn tổng số thấp Hàm lượng đạm tổng số ở tầng mặt trung bình, hàm lượng lân, kali tổng số từ trung bình đến thấp Hàm lượng các yếu tố dễ tiêu đều thấp Đất đỏ Bazan phân bố
ở phía Nam KBT, trên địa phận xã Quảng Sơn
+ Tổ hợp đất thung lũng vùng thấp
Tổ hợp đất thung lũng rất nhỏ và rất rải rác, bao gồm đất dốc tụ chân núi, đất do lũ tích và đất do các sản phẩm hỗn hợp dồn tích nơi trũng, thường phân bố theo đám và dải hẹp ven khe suối, trong các thung lũng hẹp hay chân núi Tổ hợp đất thung lũng có thành phần cơ giới nhẹ, thường là đất cát pha, thịt nhẹ, có màu xám hay vàng nhạt, lẫn nhiều sỏi sạn và các cấp hạt thô như cát, sỏi, đá vụn
3.1.5 Khí hậu, thuỷ văn
4 và tháng 11 Khí hậu có các đặc trưng sau: nhiệt độ trung bình năm là 22,20C, nhiệt độ không khí cao nhất tuyệt đối là 35,80C, nhiệt độ không khí thấp nhất tuyệt đối là 8,20C Tháng nóng nhất là tháng 3 và tháng 4, tháng lạnh nhất là tháng 12 và tháng 1
Lượng mưa trung bình năm đạt 2413 mm Mỗi năm có 140-155 ngày mưa, trung bình mỗi tháng có 18-23 ngày mưa, đây là điều rất thuận lợi cho cây cối phát triển nhưng cũng rất dễ gây ra rử trôi đất
Độ ẩm bình quân năm là 83% Mùa khô độ ẩm giảm còn 73-74%, cá biệt vào những ngày có gió nóng độ ẩm chỉ còn 52%
Trang 35Lượng bốc hơi bình quân năm 926,3mm, tháng 3 có lượng bốc hơi lớn nhất 126,2mm, tháng 8 và tháng 9 có lượng bốc hơi nhỏ nhất 43,8mm Mùa khô có lượng bốc hơi chiếm 79-82% lượng bốc hơi cả năm
Chế độ nắng: Có 2483 giờ nắng/năm Tháng 3 nắng nhất có 279,4 giờ nắng, tháng 8 nắng ít nhất có 133,2 giờ nắng
Chế độ gió: Khu bảo tồn có gió Bắc thịnh hành, đôi khi chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây nam Không có bão, ít chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông bắc, có sương mù nhưng không có sương muối Vào những ngày thời tiết xấu, do ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới, thường có nhiều mây mù và mưa đặc biệt trên đỉnh các núi cao (>1000m)
Nhìn chung khí hậu thuận lợi cho cây cối phát triển nhưng do mùa khô khá dài trên đất feralít đỏ vàng hay vàng đỏ phát triển trên đá Sa thạch, đá Sét, núi thấp (dưới 1000m) thiếu nước đã hình thành kiểu rừng nhiệt đới nửa rụng lá mùa khô
3.1.5.2 Thủy văn
KBTTN Nam Nung có 3 hệ suối chính:
- Hệ thống suối Đăk Ntao ở phía Nam dãy Nam Nung chạy theo hướng Tây Nam lên Đông Bắc, đổ ra sông Ea Krông Nô Đây là hệ thống thuỷ văn chính đón nước phía nam của dẫy Nam Nung của KBTTN Suối Đăk Ntao có nước quanh năm, nhiều thác đẹp như Thác Gấu, Thác bảy tầng có thể đáp ứng tốt cho du lịch nghỉ ngơi
- Hệ thống suối Đắk Pri ở phía Bắc dãy Nam Nung chạy theo hướng Tây Nam lên Đông Bắc, đổ ra sông Ea Krông Nô Cũng như suối Đắk Ntao, suối Đắk Pri có nước quanh năm nhưng lưu lượng nước về mùa khô rất ít
Các hệ thống suối trong KBT là nguồn nước mặt duy nhất cung cấp cho KBT và cho nước sản xuất, sinh hoạt của các xã lân cận Suối trong KBT có nước quanh năm (có nước lớn vào mùa mưa, nước ít và cạn vào mùa khô) nên rất thuận tiện cho sự phát triển của thực vật Tuy nhiên trên một số một số khu vực tuy có rừng nhưng hệ thống suối ít, nhỏ và quá dốc vẫn xảy ra tình trạng thiếu nước trầm trọng vào mùa khô kéo dài và đã hình thành kiểu rừng nhiệt đới cây lá rộng nửa rụng lá về mùa khô với cây họ Dầu là ưu thế
Trang 36KBTTN Nam Nung không có sông lớn, phía Bắc có sông Ea Krông Nô và cùng với các sông chi nhánh khác ở thượng nguồn, hợp nước rồi chảy về sông Sêrêpốk nổi tiếng, nơi có nhiều nhà máy thủy điện ngày đêm dùng nước của KBTTN Nam Nung
3.1.6 Tài nguyên động thực vật
Cho tới nay chỉ có duy nhất một báo cáo về khu hệ động thực vật ở đây được thực hiện năm 1994 (UBND, 1994) Theo báo cáo, Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Nung có 4 kiểu rừng chính trong khu hệ thực vật: Kiểu rừng kín thường xanh mưa
ẩm á nhiệt đới núi thấp phân bố trong đai cao dưới 1800m với các họ điển hình như Long não (Lauraceae), Đỗ quyên (Ericaceae), Kim giao (Polocarpaceae) Kiểu rừng hỗn hợp cây lá rộng, lá kim ẩm á nhiệt đới núi thấp phân bố ở đai cao 1000-1300m:
Thông nàng (Podocarpus imbricatus) và Kim giao (Decussocarpus fleuryi) Kiểu
rừng kín thường xanh nhiệt đới phân bố ở đai cao 800-1000m Thực vật ưu thế
trong kiểu rừng này thuộc về các loài: Sao đen (Hopea odorata), Dầu rái (Dipterocarpus alatus) và một số loài thuộc họ Re (Lauraceae) và họ Dẻ
(Fagaceae) Kiểu rừng nhiệt đới hơi khô nửa rụng lá mùa khô phân bố ở đai cao dưới 800m với các loài thực vật ưu thế thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae) Hiện tại
có 408 loài thực vật bậc cao có mạch được ghi nhận tại đây
Khu hệ động vật tại Khu BTTN Nam Nung đặc trưng cho khu hệ động vật Tây Nguyên, chịu ảnh hưởng của khu hệ động vật Ấn Độ-Mã Lai với các loài đặc
trưng như Bò tót (Bos gaurus), Nai (Cervus concolor), Khỉ đuôi lợn (Macaca
nemestrina) (UBND, 1994) Tổng số có 58 loài thú, 127 loài chim và 33 loài bò sát
và ếch nhái đã ghi nhận cho khu bảo tồn (UBND, 1994) Trong đó, có nhiều loài quan trọng và ưu tiên cao trong bảo tồn đã và đang bị đe dọa bởi các hoạt động của con người Tuy nhiên, số liệu về phân bố, tình trạng của các quần thể động thực vật cũng như các mối đe dọa đối với chúng phục vụ cho công tác quản lý và bảo tồn còn thiếu và chưa cập nhật Vì vậy, mục đích của đợt khảo sát này là đánh giá nhanh hiện trạng đa dạng sinh học làm cơ sở khoa học để đề xuất các giải pháp thích hợp cho công tác quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học tại KBTTN Nam Nung
Trang 37Hai kiểu rừng chính là Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới phân bố dưới độ cao 1.000m và Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp phân bố
ở độ cao từ 1.000m trở lên Ở độ cao dưới 800m có các kiểu phụ rừng thứ sinh nhân tác phục hồi sau khai thác, nương rẫy, lửa rừng…với các loài cây bản địa thường xanh hay rụng lá mùa khô hoặc xen lẫn tre nứa có diện tích khá lớn Rừng á nhiệt đới núi thấp phân bố ở dộ cao trên 1.000m với thực vật ưu thế thuộc các họ: Re (Lauraceae), Dẻ (Fagaceae), Chè (Theaceae), Mộc lan (Magnoliaceae), Kim giao (Podocarpaceae) và Ðỗ quyên (Ericaceae) Kiểu rừng này còn có kiểu phụ rừng nhiệt đới hỗn giao cây lá rộng, lá kim phân bố ở dộ cao 1.000 - 1.300m Các loài
cây lá kim xuất hiện trong kiểu phụ này gồm: Thông nàng (Podocarpus imbricatus) Bạch Tùng, Du Sam và Kim giao (Decussocarpus fleuryi); các loài cây lá rộng ưu thế gồm: Cà ổi Ấn độ (Castanopsis indica), Giổi (Michelia mediocris) và Sụ
(Phoebe sp) Kiểu rừng nhiệt đới thường xanh phân bố ở độ cao dưới 1.000m Có
các loài thực vật ưu thế như: Sao đen (Hopea odorata), Dầu rái (Dipterocarpus
alatus) và một số loài thuộc các họ Re (Lauraceae), Kiền Kiền, Trâm, Chò Xót và
nhiều loài trong họ Dẻ (Fagaceae) Kiểu rừng nhiệt đới thường xanh cây lá rộng xen cây nửa rụng lá mùa khô phân bố ở độ cao dưới 800m, với các loài thực vật ưu thế thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae) (Anon, 1994)
Theo các kết quả đã điều tra nghiên cứu năm 1994 và trong đợt khảo sát năm
2005 tại khu vực xã Nam Nung, tại KBTTN Nam Nung đã ghi nhận được 408 loài thực vật bậc cao có mạch trên cạn thuộc 116 họ thực vật khác nhau Có 9 loài thực vật quý hiếm có trong Sách đỏ Việt Nam (1996), có 58 loài thú, 127 loài chim, 33 loài bò sát và ếch nhái Với những dẫn liệu trên cho thấy, KBTTN Nam Nung khá phong phú về loài sinh vật Tuy nhiên, chưa có những nghiên cứu cụ thể và đầy đủ Nguồn gốc của các tài liệu này chưa được xác minh lại rõ ràng, đồng thời tên các loài có nêu trong dự án đầu tư cũng cần được xác minh lại
3.2 Khái quát về đặc điểm kinh tế xã hội
Vùng đệm KBTTN Nam Nung có diện tích 9.307 ha nằm ở 3 xã: xã Quảng Sơn (huyện Ðắk Glong) và các xã Ðức Xuyên, Nam Nung (huyện Krông Nô) Dân
số trong vùng dệm 356 người thuộc dân tộc M'Nông (Anon 1994) Đến năm 2011,
Trang 38con số này đã lên tới hàng ngàn người sống trong vùng đệm và sát quanh KBTTN, thuộc nhiều thành phần dân tộc khác nhau như người M'Nông, Người Mường, Người Thái, Người H'Mông người Kinh, công nhân các công ty lâm nghiệp, các doanh nghiệp, bộ đội
Mặc dù đất lâm nghiệp chiếm diện tích lớn trong vùng đệm nhưng chủ yếu
do các công ty lâm nghiệp quản lý khai thác Thu nhập từ các hoạt động sản xuất nông-lâm nghiệp của người dân rất thấp vì người dân thiếu vốn hay đất đai đã sang nhượng, cầm cố, chờ đợi Nguồn thu nhập chính ít, người dân trông cậy vào việc thu hái lâm sản từ các rừng sản xuất của các công ty lâm nghiệp và của KBTTN để bảo đảm đời sống bình thường
Trước đây, trong khu bảo tồn thiên nhiên không có dân sinh sống (Sở NN&PTNT tỉnh Ðắk Lắk, 2000) Do dó, áp lực của người dân địa phương đối với tài nguyên thiên nhiên trong khu bảo tồn chủ yếu từ ngoài lấn vào Các hoạt động
đe doạ tới đa dạng sinh học trong khu vực là lấn đất rừng trồng cà phê, cao su; săn bắn động vật, khai thác lâm sản trái phép và cháy rừng Nạn khai thác trái phép lâm sản và săn bắt động vật là mạnh mẽ thường xuyên gây nhiều khó khăn cho công tác bảo vệ tại KBTTN Nam Nung
Tập quán sản xuất đốt rừng làm nương rẫy, khai thác lâm sản tùy tiện, chăn thả gia súc tự do chưa có tập quán trồng rừng lấy củi, trồng cây thuốc quý quanh nhà và chăn thả gia súc có người giám sát cho nên những hoạt động phát triển kinh
tế trên đã đã gây khó khăn và cản trở quá trình tự phục hồi hệ sinh thái rừng, gây ảnh hưởng trực tiếp đến tài nguyên thực vật khu BTTN, góp phần đẩy nhanh tốc độ cạn kiệt nguồn tài nguyên sinh vật, đặc biệt là các loài gỗ quý, động vật và cây dược liệu quý trong KBTTN
Gần đây, người dân mới bắt đầu có ý thức làm trang trại, trồng rừng kinh tế (trồng Cà phê, Cao su, Bời lời, và chăn nuôi bò ) để nâng cao thu nhập, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần nên cần phải có hướng dẫn và đầu tư trồng rừng kinh tế, khoanh vùng chăn thả gia súc theo hướng thâm canh có năng suất cao cho người dân
Trang 39Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Hiện trạng và phân bố của loài VĐMV
Qua kết quả điều tra, tổng số có 14 điểm nghe trong tổng số 20 điểm bên trong KBT đã phát hiện được các đàn Vượn qua tiếng hót Đề tài đã xác định được
ít nhất 21 đàn VĐMV tại KBT Trong đó có 2 đàn được ghi nhận thông qua thông tin của người dân địa phương và cán bộ điều tra rừng (bảng 4.1) Nếu hệ số điều chỉnh là 0.63 (số liệu này được áp dụng từ đợt điều tra Vượn tại KBT Kon Cha Răng, Lưu Quang Vinh và cộng sự, 2010), số lượng đàn Vượn thực tế trong khu vực điều tra sẽ là 21/0.63=33.33 (khoảng 33 đàn) Diện tích phân bố của các đàn Vượn trong KBT là khoảng 6,500ha, vì vậy mật độ của vượn là 0.51 đàn/km2 Số lượng này dường như nhỏ hơn so với kết quả điều tra Vượn tại KBT Kon Cha Răng (0.66 đàn/km2)
Bảng 4.1: Số lượng đàn Vượn đen má vàng tại KBTTN Nam Nung
Khu vực điều
tra
Số lượng điểm nghe
Số lượng ngày điều tra
Số lượng đàn vượn
Diện tích điều tra (ha)
Trang 40Vượn nào ở khu vực Nậm Nia và Đức Xuyên, mặc dù nỗ lực điều tra là tương tự so với các khu vực khác trong KBT
Hai đàn Vượn được ghi nhận bên ngoài KBT từ thông tin phỏng vấn thuộc vùng đệmKBT và gần với khu vực Quảng Sơn Kết quả này cho thấy các đàn Vượn phân bố chủ yếu ở các khu rừng ít bị tác động trong KBT (hình 5.1) Các khu vực khác như Đức Xuyên và Nậm Nia, rừng dường như bị tác động nhiều hơn
Hình 4.1: Khu vực phân bố của Vượn đen má vàng tại KBTTN Nam Nung 4.2 Đặc điểm sinh cảnh của Vượn đen má vàng tại khu vực nghiên cứu
Kết quả điều tra cho thấy, rừng tự nhiên KBTTN Nam Nung có hai kiểu
rừng chính (Dựa theo tiêu chuẩn phân loại thảm thực vật của tiến sĩ Thái Văn