1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) nghiên cứu thực trạng và những giải pháp bảo tồn, phát triển loài xạ đen (ehretia asperula zoll mor ) tại vườn quốc gia cúc phương​

96 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong vài thập niên gần đây, nghiên cứu và sử dụng thực vật làm thuốc trong chăm sóc sức khỏe và nhận thức về tầm quan trọng của cây dược liệu đối với sức khỏe con người đã được chú ý nh

Trang 1

MAI VĂN PHƯƠNG

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP

TẠI VƯỜN QUỐC GIA CÚC PHƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Hà Nội, 2014

Trang 2

MAI VĂN PHƯƠNG

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP

TẠI VƯỜN QUỐC GIA CÚC PHƯƠNG

Chuyên ngành: Quản lý tài nguyên rừng

Mã Số: 60620211

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

GS TS VƯƠNG VĂN QUỲNH

Hà Nội, 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận văn tốt nghiệp “Nghiên cứu thực trạng và những giải pháp bảo

tồn, phát triển loài Xạ đen (Ehretia asperula Zoll & Mor.) tại vườn quốc gia Cúc Phương”, được thực hiện theo chương trình đào tạo Thạc sỹ của

Trường Đại học Lâm Nghiệp Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu

Trường Đại học Lâm Nghiệp, khoa đào tạo sau đại học, các thầy cô giáo và đặc biệt là GS.TS Vương Văn Quỳnh người trực tiếp hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ, truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu và giành những tình cảm tốt đẹp cho tôi trong thời gian học tập cũng như quá trình hoàn thành luận văn

Nhân dịp này tôi xin tỏ lòng biết ơn Ban giám đốc Vườn quốc gia Cúc Phương, Trạm Nghiên cứu khoa học, Phòng tiêu bản VQG Cúc Phương (CPNP) cùng toàn thể gia đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ động viên tôi hoàn thành khoá học và luận văn này

Mặc dù đã làm việc với tất cả sự nỗ lực, nhưng do hạn chế về trình độ

và thời gian, nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp xây dựng quý báu của các nhà khoa học và bạn bè đồng nghiệp

Tôi xin cam đoan số liệu thu thập và kết quả tính toán là hoàn toàn trung thực và được trích dẫn rõ ràng

Xin chân thành cảm ơn /

Hà Nội, tháng 5 năm 2014

Tác giả

Mai Văn Phương

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn i

Mục lục ii

Danh mục các từ viết tắt v

Danh mục các bảng vi

Danh mục các hình vii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2

1.1 Trên thế giới 2

1.1.1 Nghiên cứu về các cây dược liệu 2

1.1.2 Nghiên cứu về loài cây Xạ đen 5

1.2 Ở Việt Nam 7

1.2.1 Nghiên cứu về cây dược liệu 7

1.2.2 Các nghiên cứu về cây Xạ đen 10

1.2.3 Nghiên cứu thực trạng và các giải pháp bảo tồn, phát triển loài Xạ đen 12

1.2.4 Một số nghiên cứu về cây thuốc tại Vườn quốc gia Cúc Phương 15

Chương 2 ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU 17

2.1 Điều kiện tự nhiên 17

2.1.1 Vị trí địa lý 17

2.1.2 Khí hậu thủy văn 17

2.1.3 Tài nguyên thiên nhiên 21

2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 23

Chương 3 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

3.1 Mục tiêu nghiên cứu 26

Trang 5

3.1.1 Mục tiêu tổng quát 26

3.1.2 Mục tiêu cụ thể 26

3.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 26

3.3 Nội dung nghiên cứu 26

3.4 Phương pháp nghiên cứu 27

3.4.1 Phương pháp luận trong nghiên cứu 27

3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu 27

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32

4.1 Đặc điểm hình thái, vật hậu loài Xạ đen 32

4.1.1 Đặc điểm hình thái lá cây Xạ đen 32

4.1.2 Đặc điểm hình thái thân cây Xạ đen 32

4.1.3 Đặc điểm hoa của loài Xạ đen 34

4.1.4 Đặc điểm của quả cây Xạ đen 34

4.1.5 Đặc điểm rễ loài Xạ đen 35

4.1.6 Đặc điểm vật hậu của loài Xạ đen 35

4.2 Ảnh hưởng của điều kiện lập địa tới phẩm chất loài Xạ đen 36

4.2.1 Phẩm chất loài Xạ đen trong khu vực nghiên cứu 36

4.2.2 Đánh giá phẩm chất của loài Xạ đen theo độ cao 37

4.3 Đặc điểm phân bố của loài Xạ đen 37

4.3.1 Phân bố loài Xạ đen theo địa hình 38

4.3.2 Phân bố loài Xạ Đen theo độ cao 39

4.3.3 Phân bố cây Xạ đen theo điều kiện thổ nhưỡng 40

4.3.4 Phân bố cây Xạ đen theo điều kiện tiểu khí hậu 42

4.4 Phân bố Xạ đen theo tổ thành rừng 44

4.4.1 Kết quả điều tra tổ thành tầng cây cao nơi Xạ đen mọc 44

4.4.2 Kết quả điều tra tổ thành cây tái sinh nơi Xạ đen mọc 45

4.4.3 Tầng cây bụi, thảm tươi nơi Xạ đen mọc 45

Trang 6

4.5 Thực trạng khai thác sử dụng loài Xạ đen 46

4.5.1 Thực trạng khai thác loài Xạ đen 46

4.5.2 Thực trạng chế biến và sử dụng Xạ đen 47

4.6 Giá cả, thu nhập cây Xạ đen 47

4.7 Nhận thức, ứng xử của người dân địa phương trước sự suy giảm tài nguyên loài cây Xạ đen 48

4.8 Thực trạng gây trồng loài Xạ đen 48

4.9 Dự báo xu thế biến động loài cây Xạ đen 49

4.10 Phân tích đánh giá cơ hội, thách thức, tiềm năng phát triển của loài Xạ đen 51

4.11 Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển loài Xạ đen 51

KẾT LUẬN - TỒN TẠI - KIẾN NGHỊ 55 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

GS TS Giáo sư Tiến sỹ

VQG Vườn quốc gia

IUCN Liên minh Quốc tế bảo tồn thiên nhiên và tài

nguyên thiên nhiên

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

2.1 Các chỉ tiêu khí hậu cơ bản khu vực VQG Cúc Phương 18

2.2 Thống kê số lượng Taxon trong các ngành thực vật bậc cao ở

4.1 Một số chỉ tiêu kích thước thân cây Xạ đen 33 4.2 Phẩm chất của loài Xạ đen ở các ÔTC tại các khu vực khác nhau 36 4.3 Phẩm chất của loài Xạ đen ở các ÔTC tại các Độ cao khác nhau 37 4.4 Phân bố Xạ đen ở các ÔTC theo các hướng khác nhau 38

4.5 Kết quả điều tra mật độ của Xạ Đen ở các khu vực khác nhau

4.6 Phân bố Xạ đen ở các ÔTC theo các độ cao khác nhau 39 4.7 Kết quả điều tra sơ bộ đất dưới tán rừng 41 4.8 Một số tính chất đất nơi phân bố của Xạ đen 42

4.9 Một số nhân tố tiểu khí hậu khu vực loài Xạ đen Phân bố ở

4.10 Tổng hợp các nhân tố tiểu khí hậu dưới tán rừng nơi loài Xạ

4.13 Tầng cây bụi, thảm tươi nơi Xạ đen mọc 45

4.15 Bảng điều tra số người tham gia mua bán và chế biến loài cây

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Xạ đen (Ehretia asperula Zoll & Mor.) là loài cây thuốc quý mọc tự

nhiên ở một số khu rừng của nước ta, trong đó có Vườn quốc gia Cúc Phương

Xạ đen thường mọc ở các vùng núi cao từ 1.000-1.500m Người dân khai thác và sử dụng toàn bộ cây để sắc uống Xạ đen có tác dụng thông kinh, lợi tiểu, chữa ung nhọt và lở loét, phòng ngừa ung thư, tiêu viêm, mát gan mật, giúp cơ thể loại trừ độc tố Trong Đông y cây Xạ đen có vị đắng chát, tính hàn, có tác dụng hữu hiệu trong điều trị mụn nhọt, ung thũng, tiêu viêm, giải độc, giảm tiết dịch, tăng cường sức đề kháng của cơ thể

Tuy nhiên, loài cây quý này đang dần bị cạn kiệt trước việc khai thác ồ

ạt của người dân Để bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên cây Xạ đen ở khu vực này, trước hết cần hiểu biết về hiện trạng và xu hướng biến động của chúng Mặc dù vậy, cho tới nay những thông tin này còn ít ỏi và tản mạn Hiện còn thiếu dẫn liệu về diện tích, phân bố và sinh cảnh của loài Ngoài ra, thông tin về trữ lượng cũng như thực trạng khai thác, sử dụng loài này trong

tự nhiên hiện còn nhiều hạn chế

Để góp phần giải quyết vấn đề trên, đề tài: “Nghiên cứu thực trạng và

những giải pháp bảo tồn, phát triển loài Xạ đen (Ehretia asperula Zoll &

Mor.) tại vườn quốc gia Cúc Phương” đã được thực hiện Mục tiêu của đề

tài là đánh giá thực trạng tài nguyên loài Xạ đen, làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển Xạ đen một cách có hiệu quả ở Vườn quốc gia Cúc Phương

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Trên thế giới

1.1.1 Nghiên cứu về các cây dược liệu

Thực vật là nguồn dược liệu quan trọng và có vai trò to lớn đối với sức khỏe con người (Constable, 1990) Hầu hết các nền văn hóa, từ thời cổ đại đến ngày nay đã biết sử dụng các loài thực vật làm thuốc Ngày nay, thực vật làm thuốc có vai trò quan trọng cho kinh tế toàn cầu (Srivastava et al., 1995), bởi lẽ khoảng 85% các bài thuốc truyền thống có sử dụng thực vật hoặc các chất tiết từ thực vật (Vieira và Skorupa, 1993) Trong vài thập niên gần đây, nghiên cứu và sử dụng thực vật làm thuốc trong chăm sóc sức khỏe và nhận thức về tầm quan trọng của cây dược liệu đối với sức khỏe con người đã được chú ý nhiều hơn (Hoareau và DaSilva, 1999) Nhu cầu về thảo dược cũng tăng lên Tuy nhiên, các nhà khoa học và quản lý nhận ra rằng, khả năng cung cấp thảo dược đang có nguy cơ suy giảm trên toàn cầu (Bodeker, 2002)

Trên thế giới có rất nhiều loài thực vật quý hiếm nhưng do mất môi trường sống, phá rừng, thiên tai, hoạt động khai thác bừa bãi của con người nên chúng đã dần cạn kiệt và có nhiều loài đã bị tuyệt chủng Hậu quả là nguồn gen cây thuốc đang bị xói mòn một cách trầm trọng ở nhiều nơi trên thế giới Tình trạng này càng trở nên trầm trọng ở những nơi có mật độ dân số cao, tốc độ đô thị hóa nhanh, và nạn phá rừng thường xuyên xảy ra, đặc biệt ở các nước Nam và Đông Nam châu Á Những quốc gia có nguồn gen cây thuốc phong phú cần phải nỗ lực hơn nữa để sưu tập, gìn giữ và bảo tồn nguồn gen quý này để phục vụ cho hoạt động nghiên cứu và sử dụng chúng một cách có hiệu quả (Md Mamtazul Haque, 2004) Theo Raven (1987) và Ole Harmann (1988) trong vòng hơn trăm năm trở lại đây có khoảng 1.000 loài thực vật đã bị tuyệt chủng, có tới 60.000 loài có thể gặp rủi ro hoặc sự tồn

Trang 12

tại của chúng là rất mong manh vào giữa thế kỷ tới, nếu chiều hướng này cứ tiếp tục thì các loài thực vật ngày càng có nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng,

trong số này có nhiều loài cây làm thuốc Ví dụ ở Banglades có loài Tylopora

cindica (Burm.) Mer dùng để chữa bệnh hen đứng trước nguy cơ bị tuyệt

chủng (Islam A.S,1991) Loài Ba gạc (Rauvolfia serpentina (L.) Benth Kurz)

hàng chục năm liền bị khai thác ở Ấn Độ, Srilanka, Banglades với khối lượng 400-1.000 tấn vỏ, rễ/năm để xuất khẩu sang các thị trường Âu-Mỹ, hiện nay đã trở nên cạn kiệt, thậm chí một số bang ở Ấn Độ, chính phủ địa phương

đã đình chỉ chính thức khai thác loài cây này Một số loài cây thuốc quý khác

có ở vùng Đông Bắc Ấn Độ là Coptis teeta, trước kia cũng thường thu hái để

bán sang các nước Đông Á, song do khai thác quá mức nên loài này đang ở tình trạng hết sức nguy hiểm Vì vậy, song song với nghiên cứu về sử dụng cây thuốc thì một vấn đề cấp bách khác được đặt ra là phải bảo tồn các loài cây thuốc Tại Hội nghị Quốc tế về bảo tồn quỹ gen cây thuốc tháng 3 năm

1993 tại Chieng Mai, Thái Lan, hàng loạt các công trình nghiên cứu về tính

đa dạng và việc bảo tồn cây thuốc được đặt ra một cách cấp thiết

Trong y học hiện đại, thực vật đã được sử dụng như là nguồn cung cấp thuốc chữa bệnh một cách trực tiếp và các hợp chất tổng hợp mới Những thực vật này đóng vai trò là nguyên liệu thô cho việc sản xuất các hợp chất hóa học bán tổng hợp (Akerele, 1992) Chất lượng và thành phần dược phẩm trong các bài thuốc là khá lớn Điều này chịu ảnh hưởng chủ yếu bởi giai đoạn gây trồng, mùa thu hái, mức độ pha trộn thành phần dược liệu với các loài thực vật chưa được nhận biết, sự thiếu vắng những phương pháp sản xuất, thiếu sự hiểu biết về sinh lý thực vật hay hiệu quả tối với sự tiêu thụ của con người Nói chung, các bài thuốc dược thảo được tạo ra từ những thực vật mọc hoang và rất dễ bị thay đổi thành phần dược tá của bài thuốc do sự tấn công của vi khuẩn, nấm hại hoặc các loài côn trùng (Murch et al., 2000) Thật khó

Trang 13

có thể đảm bảo được chất lượng của các bài thuốc khi chúng ta sử dụng nhiều loài dược thảo tự nhiên, và cũng rất khó để nhận biết và lượng hóa được các thành phần hoạt hóa (Wen, 2000) Thực tế cho thấy, việc cung cấp thực vật cho dược phẩm truyền thống không thỏa mãn được nhu cầu (Cunningham, 1993) Do vậy, một giải pháp thay thế thích hợp nhất cho những vấn đề mà ngành công nghiệp dược đang phải đối mặt đó là phát triển hệ thống nuôi In Vitro nhằm đáp ứng nhu cầu về dược thảo và các chất tiết của nó (Nalawade

và Tsay, 2004)

Thực vật làm thuốc có tính đa dạng rất cao và có nhiều loài trong số chúng phát triển rất tốt trong tự nhiên Đã có rất nhiều nghiên cứu tập trung vào hoạt động khai thác, bảo tồn và phát triển chúng ngoài tự nhiên cũng như trong điều kiện thí nghiệm Tuy nhiên, các nỗ lực của các chương trình bảo tồn cây thuốc còn rất khiêm tốn trong việc tìm ra điều kiện tối ưu cho khả năng sinh tồn của chúng ngoài tự nhiên Các yêu cầu cả về sinh lý và sinh thái học của các loài thực vật này cần phải được xác định trước khi gây trồng và phát triển chúng (Chadha và Gupta, 1995) Chính vì vậy, hoạt động bảo tồn tại chỗ cần được áp dụng nhiều hơn với các ưu tiên về chính sách sử dụng đất nhằm giúp cho việc bảo tồn các loài thực vật dùng để làm thuốc thực sự có hiệu quả (Ramanatha và Arora, 2004) Mặc dù vậy, người dân đang phát triển

ở các nước châu Á chỉ mới khai thác cây thuốc từ thiên nhiên hoặc được trồng với mục đích phục vụ trong gia đình, trừ các quốc gia như Trung Quốc, Ấn

Độ, Indonesia và Nepal là trồng chúng với mục đích thương mại Tuy nhiên, các quốc gia này cũng chỉ gây trồng ở quy mô nhỏ và chủ yếu phục vụ nhu cầu trong nước (Batugal, Pons A, Jayashree Kanniah, Lee Sok young và Jeeffrey T, Oliver, 2004)

Cùng với sự phát triển của công nghệ sinh học, việc nhân giống các

loài cây dược liệu bằng phương pháp In Vitro đã được nhiều nhiều nơi trên

Trang 14

thế giới, đặc biệt là ở Trung Quốc, Ấn Độ, Đài Loan, tiến hành và đã đem lại kết quả đáng khích lệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng của việc sản xuất dược liệu (Arora, 1989; Chang và Hsing, 1980; Chen et al., 2001) Trong tương lai, để phục vụ cho mục đích sức khỏe con người, cho sự phát triển không ngừng của xã hội, để chống lại các bệnh nan y thì cần thiết có sự kết hợp giữa Đông và Tây y, với y học hiện đại và kinh nghiệm cổ truyền dân tộc Chính những kinh nghiệm truyền thống đó là điểm mấu chốt để nhân loại khám phá những loại thuốc chống lại bệnh nan y Vì vậy, việc khai thác kết hợp với bảo tồn các loài cây thuốc là điều hết sức cần thiết Các nước trên thế giới đang hướng đến chương trình quốc gia kết hợp sử dụng, bảo tồn và phát triển cây thuốc

1.1.2 Nghiên cứu về loài cây Xạ đen

Kết quả nghiên cứu tài liệu cho thấy, hiện nay các nghiên cứu trên thế giới về loài Xạ đen chủ yếu tập trung vào nghiên cứu công dụng làm thuốc của loài cây này, còn các nghiên cứu về đặc điểm sinh thái, kỹ thuật gây trồng còn nhiều hạn chế Tổng kết các tài liệu liên quan, đề tài đã xác định được một số đặc điểm của loài Xạ đen như sau:

- Đặc điểm hình thái:

Là loài cây dạng dây leo Cành non hơi đỏ sau chuyển dần sang màu nâu xám, phủ lông cứng Lá có cuống dài 0,5 - 1,5 cm; trung bình khoảng 0,8 cm; lá hình thuôn hoặc hình mũi mác, dài từ (1,5) 3 -15 cm và rộng từ 0,8-5,5

cm, mặt lá lượn sóng và mép có răng cưa, đỉnh nho ̣n, có từ 4 - 6 gân lá mỗi bên, nhẵn ở cả hai mặt lá hoặc có lông dọc theo phía dưới gân lá Hoa thường mọc ở đầu cành, hoa hình chùy, có lông, với nhiều hoa; cuống hoa nhỏ dài 0,8-3 mm Đài hoa hình chén dài 1,2 - 1,5 mm, rộng 2,5 - 3 mm, thùy dài khoảng 1/3 đến 1/2, hình tam giác, lông rất ngắn, dày và cứng; lông màu đỏ Tràng hoa rộng và ngắn có hình chuông, màu trắng, dài từ 1,5 - 1,8 mm,

Trang 15

đường kính từ 3,5 - 4 mm, thùy có chiều rộng lớn hơn so với chiều dài Thùy hoa có chiều dài khoảng 1 mm và rộng 2mm, gần tròn Nhụy hoa dài 3,5 mm Quả hình cầu hoặc gần cầu, đường kính trung bình 3,5mm

- Phân bố:

Xạ đen phân bố ở Trung Quốc, Việt Nam; Malaysia, Myanma và một

số nước ở Nam và Đông Nam Á khác

- Đặc điểm sinh thái:

Trong tự nhiên thường tìm thấy Xạ đen phân bố ở độ cao từ 1000 – 1500m trong rừng nguyên sinh, sinh trưởng và phát triển tốt ở những nơi đất

ẩm, có nhiều chất dinh dưỡng

- Công dụng:

Xạ đen là cây thuốc đa tác dụng đã và đang được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm bởi chúng có chứa chất các chất: flavonoid, saponin triterpenoid, sterol Trong đó, flavonoid là chất chống oxy hóa có tác dụng

phòng chống ung thư; saponin triterpenoid có tác dụng chống nhiễm khuẩn…

Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như sau:

Huang HC và cộng sự năm 2000 đã nghiên cứu và phát hiện một số chất hóa học chứa trong cây xạ đen, như: Agarofuran sesquiterpene polyol ester, 1beta, 2beta, 6alpha, 15beta-tetracetoxy-8 beta, 9alpha-dibenzoyloxy-beta-dihydroagarofuran (celahin D) (1), hai chất tương tự được biết đến là: 1 beta-axetoxy-8beta, 9alpha-dibenzoyloxy -4al pha6alpha-dihydroxy-2beta (alphamethylbutanoyloxy) - beta-+ + + dihydroagarofuran (2) và beta-axetoxy- 8beta, 9alpha-dibenzoyloxy-6alpha-hy-droxy 2beta (alpha-methylbutanoyloxy) -beta-dihydroagarofuran (3), và chất được biết đến gây độc tế bào là sesquiterpene pyridin alkaloid, emarginatine E (4) được phân lập từ thân của loài Xạ đen Ba chất hóa học khác được chiết xuất từ thân cây Xạ đen đó là: loranthol (5), lupenone (6) và friedelinol (7) Bên cạnh đó, trong quá trình

Trang 16

nghiên cứu tác giả đã làm sáng tỏ cấu trúc của hợp chất 1, chúng được thành lập bởi tia quang phổ 2D NMR

Theo Tram Ngoc Ly, Makoto Shimoyamada , and Ryo Yamauchi, năm

2006 đã tìm ra các hợp chất chống oxy hóa được phân lập từ 50% methanol chiết xuất từ lá khô của loài Xạ đen

Các nhà khoa học Yao-Haur Kuo và Li-Ming Yang Kuo (1997) thuộc Viện nghiên cứu y học Trung Quốc đã nghiên cứu chất Antitumour và

triterpenes chống AIDS từ cây Xạ đen Kết quả nghiên cứu đã tìm ra bốn hợp

chất triterpene mới, celasdin-A, celasdin-C, chất chống AIDS celasdin-B và độc tế bào maytenfolone-A, được phân lập từ loài Xạ đen

1.2 Ở Việt Nam

1.2.1 Nghiên cứu về cây dược liệu

Ở nước ta, công tác điều tra dược liệu trải qua nhiều giai đoạn Ở miền Bắc, hoạt động này bắt đầu được tiến hành từ năm 1961 do Viện dược liệu chủ trì Ở miền Nam, do Phân Viện dược liệu TP Hồ Chí Minh kết hợp với các trạm dược liệu tỉnh thực hiện từ năm 1980 – 1985 ở hầu hết các tỉnh thành phía nam từ Quảng Nam - Đà Nẵng trở vào Gần đây, là việc tái điều tra lại nguồn dược liệu trong cả nước do Viện dược liệu và Trung tâm Sâm và Dược liệu TP.HCM thực hiện phối hợp với địa phương tập trung ở các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên Kết quả ghi nhận được cho đến năm 2005 trong cả nước có tất cả 3.948 loài cây thuốc thuộc 1.572 chi và 307 họ thực vật vượt qua con số 3.200 loài được ghi nhận trong Từ điển cây thuốc Việt Nam (Võ Văn Chi, 1997) Trong số đó trên 90% là cây hoang dại và có 144 loài đã được đưa vào “Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam năm 2006” và “Cẩm nang Cây thuốc cần bảo vệ ở Việt Nam” (Nguyễn Tập, 2006) Điều này cho thấy tiềm năng cây thuốc rất phong phú mà chúng ta vẫn chưa phát hiện hết trong

Trang 17

tự nhiên và việc sử dụng chúng trong dân gian cũng như từ những nền y học

cổ truyền khác của thế giới

Theo thống kê của ngành Lâm nghiệp, diện tích rừng ở nước ta từ 14,3 triệu héc ta vào năm 1943, đến năm 1993 chỉ còn khoảng 9,3 triệu héc ta (Bộ Lâm nghiệp, 1995) Trong đó, diện tích rừng nguyên sinh còn lại không tới 1% tổng diện tích lãnh thổ (Averyanov, L V et al, 2004) Rừng bị phá hủy sẽ làm cho toàn bộ các nguồn tài nguyên ở đó bị mất đi, trong đó có cây làm thuốc và còn kéo theo nhiều hậu quả khác (Nguyễn Tập, 2007) Trong khi đó

xu hướng trở về với thiên nhiên, tìm kiếm nguồn thuốc mới từ cây cỏ, sử dụng thuốc từ thảo dược trên thế giới ngày càng tăng

Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu về tài nguyên cây thuốc Việt Nam Năm 1976, để phục vụ cho công tác giảng dạy và nghiên cứu cây thuốc, dược sĩ Vũ Văn Chuyên đã

cho ra đời cuốn “Tóm tắt đặc điểm các họ cây thuốc” Năm 1980, Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chương đã giới thiệu “Sổ tay cây thuốc Việt Nam” giới thiệu

519 loài cây thuốc, trong đó có 150 loài mới được phát hiện Viện Dược liệu

đã cho xuất bản cuốn “Dược điển Việt Nam” tập I, II đã tổng kết các công trình nghiên cứu về cây thuốc trong nhiều năm, cuốn “Danh lục cây thuốc

miền Bắc Việt Nam”; “Danh lục cây thuốc Việt Nam”; “Atlas – Bản đồ cây thuốc”, đã thống kê và công bố một danh sách về cây thuốc từ 1961 – 1972 ở

miền Bắc là 1.114 loài, từ 1977 – 1985 ở miền Nam là 1.119 loài Theo kết luận của Viện Dược liệu, trong quá trình thu thập và nghiên cứu về cây thuốc cho thấy, các cây thuốc hiện nay ở Việt Nam biết đến chủ yếu được sử dụng theo kinh nghiệm dân gian và trong số trên 2.000 loài và dưới loài cây thuốc

có tới gần 90% cây thuốc là các cây mọc tự nhiên và được phân bố chủ yếu trong các quần thể rừng với trữ lượng lớn, khoảng 10% là cây thuốc được đem về trồng ngay tại vườn hộ gia đình

Trang 18

Võ Văn Chi đã đóng góp rất nhiều trong quá trình nghiên cứu về các

loài thực vật ở Việt Nam và ông đã biên soạn cuốn “Từ điển cây thuốc Việt

Nam”, trong đó ông mô tả rất tỷ mỷ về các cây được sử dụng làm thuốc ở

Việt Nam bao gồm 3.200 cây (1996) Ngoài ra, cuốn“Cây cỏ có ích ở

Việt Nam” tập I, II, đề cập đến rất nhiều cây cỏ có ích như làm nguyên liệu

thủ công mỹ nghệ, làm lương thực, làm thuốc

Trong thời gian này, nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học

đã được xuất bản, như: “Tài nguyên cây thuốc Việt Nam” (1993) của Viện Dược liệu, với khoảng 300 loài cây thuốc; Trần Đình Lý với cuốn “1900 loài

cây có ích” (1995), đã thống kê ở Việt Nam có khoảng 76 loài cho nhựa thơm,

260 loài cho dầu béo, 160 loài có tinh dầu, 40 loài tre nứa, 40 loài song mây

Ngoài ra, trong những năm từ 2000 đến nay, đã có nhiều cuốn sách và các tài liệu về cây thuốc được xuất bản nhằm đáp ứng nhu cầu của nhiều

người quan tâm tới cây thuốc trên khắp đất nước Việt Nam như: “577 bài

thuốc dân gian gia truyền” của Âu Anh Khâm; “Thuốc Nam, thuốc Bắc và các phương thang chữa bệnh” (2001) và cuốn “Thuốc bệnh 24 chuyên khoa”

(2006) của Tào Duy Cần; “Nghiên cứu cây thuốc từ thảo dược”(2006); “Cây

có vị thuốc ở Việt Nam” do Phạm Hoàng Hộ nghiên cứu và tập hợp; “Cây thuốc, bài thuốc và biệt dược” của Phạm Thiệp và cộng sự (2000) đề cập tới

327 cây thuốc phổ biến… Đồng thời, có nhiều công trình nghiên cứu về cây thuốc trên cả nước công bố trên các tạp chí về cây thuốc như Tạp chí cây thuốc quý, tạp chí Dược liệu, tạp chí Đông y…

Trong “Hội thảo Tổng kết 12 năm thực hiện dự án Bảo tồn nguồn cây

thuốc cổ truyền” tại huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế do Viện Dược

liệu tổ chức tổng kết (10/04/2010) về các loài cây thuốc và bài thuốc của cộng đồng dân tộc ở nhiều vùng trên cả nước: Người Dao (khu vực Vườn Quốc gia

Ba Vì): 579 loài và 125 bài thuốc; người Mường (Cẩm Liên, Cẩm Thủy,

Trang 19

Thanh Hóa): 136 loài và 102 bài thuốc; người H'mông (Kỳ Sơn, Nghệ An):

206 loài và 32 bài thuốc; người Tày: (Vị Xuyên, Hà Giang): 292 loài; người Tày - Nựng (Tràng Định, Lạng Sơn): 126 loài và 51 bài thuốc; bản Mường (xã Vĩnh Lạc, Lục Yên, Yên Bái): 40 loài và 40 bài thuốc; 85 bài thuốc của cộng đồng người Dao; 72 bài thuốc của cộng đồng người H' mông; 16 bài thuốc của cộng đồng người Thái và Khơ Mỳ; 11 bài thuốc của cộng đồng Bru

- Vân Kiều

1.2.2 Các nghiên cứu về cây Xạ đen

Kết quả nghiên cứu tài liệu cho phép tổng kết một số đặc điểm quan trọng về loài cây này như sau:

- Về tên gọi:

Tên địa phương: Cây Xạ đen còn được gọi là cây Cùm cụm răng, dây

gối Ấn Độ hoặc Dây gối bắc, quả nâu, dân tộc Mường gọi là cây ung thư

Tên Khoa học: Xạ đen có tên khoa học: Ehretia asperula Zoll & Mor,

họ vòi voi (Boraginaceae) Cần lưu ý rằng, trước đây một số tài liệu xác định

tên khoa học của Xạ đen là (Celastrus hindsii Benth), họ dây gối

(Celastraceae)

- Đặc điểm thực vật:

Thân cây dạng dây dài 3-10m Bụi leo, phiến lá hình bầu dục - xoan ngược, to: 6 - 11 x 2,5cm, dai, gân phụ 7 cặp, lá răng cưa Cuống lá dài 5 - 7mm Chùm hoa ở ngọn hay ở nách lá, dài 5 - 10cm Cuống hoa 2 - 4mm Hoa mẫu 5 Cánh hoa trắng Hoa cái có bầu 3 ô Quả nang hình trứng, dài cỡ 1cm, nở thành 3 mảnh Hạt có áo hạt màu hồng Ra hoa tháng 3 - 5; Ra quả tháng 8 - 12 Cành tròn, lúc non có màu xám nhạt, sau chuyển sang màu nâu,

có lông, về sau có màu xanh

- Đặc điểm phân bố và sinh thái:

Xạ đen phân bố chủ yếu tại các tỉnh Hà Nam, Quảng Ninh, Ninh Bình, Hòa Bình, trong đó có Vườn Quốc gia Cúc Phương, Vườn Quốc gia Ba Vì Là loài cây ưa ẩm, sinh trưởng phát triển ở những nơi đất còn tính chất đất rừng

Trang 20

- Công dụng:

Theo Đông y:

Cây Xạ đen có vị đắng chát, tính hàn, có tác dụng hữu hiệu trong điều trị mụn nhọt, tiêu viêm, giải độc, giảm tiết dịch trong xơ gan cổ chướng và đặc biệt trong chữa trị ung thư Có tác dụng thông kinh lợi niệu Cây dùng trị kinh nguyệt không đều, bế kinh, viêm gan, bệnh lậu

Điều trị, ức chế và ngăn ngừa sự phát triển của tế bào ung thư, tiêu hạch, tiêu độc, thanh nhiệt, mát gan, hành thủy, điều hòa hoạt huyết, giảm đau, an thần, tăng cường sức đề kháng cho cơ thể

Các nghiên cứu về Tây y:

Năm 1987, đã phát hiện cây Xạ đen trong chuyến sưu tầm các bài thuốc quý trong dân gian do các nhà khoa học của Học viện Quân Y (Lê Thế Trung, 1987) Sau 12 năm nghiên cứu các nhà khoa học của Học Viện Quân Y đã chiết suất được từ loài cây này một loại tinh thể có khả năng ức chế sự phát triển của tế bào ung thư Qua nghiên cứu về thực vật học, hóa dược, dược lý, nghiên cứu thực nghiệm trên động vật được gây ung thư, các bác sĩ đã phát hiện ở loài cây này tác dụng hạn chế sự phát triển của khối u ác tính Hơn nữa, hợp chất lấy từ Xạ đen nếu được kết hợp với chất Phylamin có thể kéo dài tuổi thọ trung bình của động vật bị ung thư hơn nhiều chất lấy từ cây Trinh nữ hoàng cung hay tỏi Thái Lan

Đến cuối năm 1999, sau khi đề tài nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc Học viện Quân y được nghiệm thu, cây Xạ đen chính thức được công nhận là một trong không nhiều những vị thuốc nam có tác dụng điều trị hỗ trợ bệnh nhân ung thư Tuy nhiên, các nhà khoa học đã cảnh báo cho các người bệnh ung thư rằng, với tác dụng ức chế sự phát triển của khối u ác tính của cây Xạ đen với tư cách là một thực phẩm chức năng, chỉ có tác dụng hỗ trợ trong điều trị ung thư, hoàn toàn không phải là thuốc chữa khỏi căn bệnh này Tất cả các báo cáo khoa học đều khẳng định, cây Xạ đen chỉ có tác dụng làm

Trang 21

tăng cường hệ miễn dịch của cơ thể, ức chế tiến triển của tế bào ung thư, không phải là thuốc có thể chữa khỏi ung thư Sự thần kỳ của cây xạ đen chính là làm hạn chế sự phát triển của các khối u trong cơ thể người bệnh

Với phần thân cây Xạ đen lấy khoảng 100g Xạ đen rửa sạch cho vào

ấm đun sôi khoảng 10 đến 15 phút chắt lấy nước uống hàng ngày Sau đó tiếp tục cho nước đun đến nhạt thì thôi

Lá Xạ đen có nhiều hoạt tính xạ hơn thì chỉ dùng 10g rửa sạch cho vào

ấm đun sôi khoảng 10 đến 15 phút chắt lấy nước uống hàng ngày Có thể uống lâu dài Xạ đen nếu mắc các bệnh mà Xạ đen có khả năng chữa trị

Cây Xạ đen được sắc uống như các loại thuốc lá thông thường Liều dùng tùy theo độ tuổi, thể trạng, sức khỏe của từng người

Nên dùng từ 20-40g/ngày và có thể kết hợp với một số loại thuốc khác có tính thanh nhiệt, giải độc tuỳ theo bệnh nhằm giúp Xạ đen tăng cường hiệu quả (nên tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi muốn dùng kết hợp với loại thuốc khác)

Có thể tham khảo một ví dụ dùng Xạ đen hỗ trợ điều trị ung thư bằng hóa chất, tia xạ: Xạ đen 30g, cỏ lưỡi rắn 20g, cam thảo dây 6g hãm uống như trà hàng ngày

1.2.3 Nghiên cứu thực trạng và các giải pháp bảo tồn, phát triển loài Xạ đen

Trong công tác bảo tồn và phát triển các loài cây thuốc, đã có nhiều kinh nghiệm được rút ra, đó là: (1) Đối với cây dược liệu ngắn ngày, phải

Trang 22

điều tra quy hoạch ngay những vùng có cây thuốc mọc tập trung, xác định những cây thuốc có nhu cầu sử dụng cao, đề xuất thời gian khai thác phù hợp với khả năng tái sinh của cây Ví như với cây Dừa cạn, nên có quy định chỉ khai thác cây có đường kính cổ rễ hơn 1 cm, thời gian thu hái từ tháng 2 đến tháng 5 để cây có điều kiện phục hồi sinh trưởng (2) Đối với cây dược liệu đa niên, cần điều tra tài nguyên cây thuốc trong các khu rừng bảo tồn, rừng đặc dụng, xác định các cây thuốc quý để có kế hoạch bảo vệ và phát triển kịp thời Lựa chọn một số loài cây thuốc giá trị cao, đi sâu vào nghiên cứu nhân giống

và phát triển kỹ thuật gieo trồng tại một số vùng đất nhất định để góp phần nâng cao thu nhập cho người dân địa phương Chẳng hạn như cây Thổ phục linh, là một loại thân leo, ưa sáng, chịu hạn tốt, phù hợp với hệ sinh thái đất đồi, nương rẫy Các xí nghiệp dược thích mua Thổ phục linh Phú Yên để làm thuốc chữa thấp khớp rất công hiệu, thế nhưng người dân trong tỉnh chỉ mới khai thác tự nhiên nên số lượng ngày càng ít dần và nguy cơ cạn kiệt loài cây này (Lê Thị Tuyết Anh - Trung tâm Nghiên cứu và sản xuất dược liệu miền Trung)

Trần Khắc Bảo (1994) trong “Phát triển cây dược liệu ở Lào Cai và Hà

Giang” đã đề cập đến các vấn đề về chế biến, bảo quản và phát triển cây

thuốc ở địa bàn nghiên cứu

Trong công trình "Vấn đề nghiên cứu và bảo vệ tài nguyên thực vật và

sinh thái núi cao Sa Pa" các tác giả Lã Đình Mỡi, Nguyễn Thị Thủy và Phạm

Văn Thính (1995) đã đề cập đến tài nguyên thực vật cho LSNG theo hướng phân loại hệ thống sinh và thống kê thực vật có giá trị làm thuốc Tác giả tập trung mô tả về công dụng và nơi mọc của các loài thực vật này Lê Quý Ngưu, Trần Như Đức (1998) đã tập trung mô tả đặc điểm hình thái, công dụng, nơi mọc, kỹ thuật thu hái, chế biến và các bài thuốc làm từ các loài thực vật trong đó có thực vật cho LSNG

Trang 23

Trần Văn Ơn (1999) đã đưa ra kết quả tổ chức chọn lọc một số hộ tham gia sưu tầm cây hom giống từ rừng về ươm tại nhà với sự hỗ trợ của dự án cây thuốc

Huỳnh Văn Kéo, Trần Thiên Ân, Trần Khắc Bảo, năm 2001 đã nghiên cứu về đa dạng sinh học cây thuốc Vườn Quốc gia Bạch Mã, đã đề cập đến vấn đề bảo tồn, sử dụng và phát triển bền vững nguồn gốc cây thuốc Sau một thời gian nghiên cứu, bổ sung thì cuốn sách đã được tái bản vào năm 2006

Nghiên cứu về tiềm năng và vai trò LSNG đối với cuộc sống cộng đồng

ở một số vùng đệm của Vườn Quốc gia và khu dự trữ thiên nhiên tại Việt Nam cho thấy gần 200 tấn cây dược liệu ở Vườn Quốc gia Ba Vì được khai thác trong năm 1997 và 1998, ước tính gần 60% dân tộc Dao tại Ba Vì tham gia vào thu hái cây dược liệu Đây là nguồn thu nhập chính trước đây và hiện nay là nguồn thu nhập thứ hai sau lúa và sắn (D.A.Gilmour và Nguyễn Văn Sản, 1999) Đây là những thông tin quan trọng phục vụ cho việc điều tra tại địa bàn nghiên cứu là Vườn Quốc gia Ba Vì để xác định phân bố của loài Xạ đen

Tuy nhiên, tình trạng phá rừng bừa bãi và khai thác tận thu trong nhiều năm qua đã khiến những loài cây dược liệu bị cạn kiệt và hiện nay ngành dược liệu phải nhập khẩu nguồn nguyên liệu này từ nước ngoài Hiện nay, có tới 60% nguồn nguyên liệu nước ta phải nhập khẩu, trong đó chủ yếu là từ Trung Quốc Theo thống kê, trong số các loài cây nguyên liệu phải nhập khẩu, có 20 loài cây thuốc vốn đã được nhập về trồng thành công ở Việt Nam

như: Bạch chỉ, Đương quy, Huyền sâm, Thục địa, Đỗ trọng; đảm bảo mỗi

năm ngoài cung ứng đủ nhu cầu sản xuất nội địa còn phục vụ xuất khẩu (Trung tâm Nghiên cứu Lâm đặc sản ngoài gỗ) Ngoài ra, còn có 45 loài cây

nguyên liệu trước đây là thế mạnh của Việt Nam, trong đó có Hoắc hương,

Gừng, Ý dĩ hiện nay đang phải nhập khẩu từ nước ngoài; 25 loài cây thuốc

Trang 24

mọc tự nhiên đạt giá trị xuất khẩu hàng trăm tấn/năm như Ba kích, Bồ công

anh, Kim ngân hoa, Kim tiền thảo cũng đang đứng trước nguy cơ cạn kiệt nếu

không được bảo vệ, bảo tồn, phát triển bền vững

Việc mất các nguồn gen quý hiếm cũng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế của đất nước, như việc phát triển các loài cây gỗ quý, các loài cây thuốc có giá trị cao Nếu mất nguồn gen của các loài đặc hữu, ta sẽ giảm tính cạnh tranh của hàng Nông, Lâm, Thuỷ sản của Việt Nam (Vũ Văn Dũng, 2004). Công trình nghiên cứu của đội ngũ giảng viên Khoa Lâm nghiệp trường Đại Học Nông Lâm Huế về kỹ thuật trồng và bảo tồn một số loài cây thuốc nam, về nhu cầu thị trường tiêu thụ cây thuốc nam ở Thừa Thiên Huế (2006) cũng đã mang lại nhiều tác dụng to lớn Nhiệm vụ nghiên cứu thử nghiệm trồng cây thuốc dưới tán rừng của Trần Việt Hà (2004-2006) tại Vườn Quốc gia Ba Vì - Hà Nội đã xác định được kỹ thuật gây trồng một số loài cây dược liệu như Sa nhân, Hà thủ ô đỏ, dưới tán rừng trồng và rừng tự nhiên phục hồi

1.2.4 Một số nghiên cứu về cây thuốc tại Vườn quốc gia Cúc Phương

Cúc Phương là Vườn Quốc Gia được thành lập đầu tiên tại Việt Nam ngày 7/7/1962 Qua hơn 50 năm xây dựng và phát triển công tác nghiên cứu khoa học đã để lại cho chúng ta nhiều nguồn tư liệu quý mà điển hình là một

số công trình sau:

Thạch Bích và cộng sự (1972): “Báo cáo kết quả công tác điều tra cây

thuốc trong khu rừng Cúc Phương” tuy đã thống kê được 438 loài cây làm

thuốc dân gian và nhiều loài cây là nguồn dược liệu quý nhưng mới chỉ dừng lại ở việc thống kê tên loài mà chưa có những phân tích về tác dụng chữa bệnh, phân bố, sinh thái

Nguyễn Văn Hiệu (1997): “Điều tra cây thuốc và bài thuốc của dân tộc

Mường ở Xã Cúc Phương, Huyện Nho Quan, Tỉnh Ninh Bình” nghiên cứu

Trang 25

này mới chỉ giới hạn các cây thuốc và bài thuốc ở xã Cúc Phương do vậy nghiên cứu chưa thực sự đầy đủ và chi tiết

Lê Văn Tấc, Trần Quang Chức, Nguyễn Mạnh Cường, Lê Phương

Triều, Đỗ Xuân Lập (1997): “Danh Lục Thực vật Cúc Phương” đã thống kê

được 1983 loài của 915 chi, thuộc 229 họ trong 7 ngành thực vật Danh lục này đã thống kê và mô tả được tên khoa học, dạng sống, đặc điểm vật hậu và công dụng tuy nhiên chưa đầy đủ và còn nhiều loài chưa có thông tin

Đúc kết các kết quả nghiên cứu các tác giả Lê Thị Xuân và D.D Soejarto cho ra đời “Tuyển chọn những cây thuốc của cộng đồng người dân tộc Mường ở Vườn quốc gia Cúc Phương” Các tác giả đã giới thiệu khá chi tiết về tên khoa học, mô tả các đặc điểm nhận biết, công dụng, bộ phận sử dụng và cách dùng của 150 loài cây thuốc phổ biến do chính bà con ở cộng đồng sử dụng cho bản thân và chữa bệnh cho người dân sinh sống xung quanh

Tổng hợp một phần các kết quả nghiên cứu trong hơn 45 năm qua các tác giả Trương Quang Bích, Nguyễn Mạnh Cường, Đỗ Văn Lập, D.D Soejarrto, Mai Văn Xinh, Nguyễn Huy Quang giới thiệu cuốn sách ảnh “Một

số loài thực vật phổ biến ở Cúc Phương” gồm 294 loài được mô tả khá chi tiết

về hình ảnh, hình thái, sinh thái, giá trị sử dụng

Tóm lại, qua tổng quan nghiên cứu ở ngoài và trong nước, tôi rút ra những nhận xét sau: Xạ đen là loại thực vật thuộc nhóm cây thuốc, nhưng hiện nay ở Việt Nam những công trình nghiên cứu về cây Xạ đen còn rất hạn chế

Đa số những nghiên cứu chỉ mới thống kê, mô tả chưa nói lên được thực trạng, tình hình khai thác, mức độ sử dụng của loài cây này

Nhìn chung, từ khi thành lập Vườn đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về thực vật Cúc Phương, trong đó có một số nghiên cứu về cây thuốc Xạ đen Tuy nhiên, những nghiên cứu đó chưa thực sự đầy đủ, nên việc nghiên cứu

và phát triển bền vững cây thuốc Xạ đen là rất cần thiết và có ý nghĩa

Trang 26

Chương 2 ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU

2.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1 Vị trí địa lý

Vườn quốc gia Cúc Phương có tọa độ địa lý từ 20014' đến 20024' vĩ độ Bắc và từ 105029' đến 105044' kinh độ Đông Cách Hà Nội 120 km về phía Tây Nam theo đường ô tô và cách biển Đông 60 km theo đường chim bay về phía Đông Vườn quốc gia Cúc Phương có tổng diện tích 22.200 ha, chiều dài khoảng 30 km, rộng 8 - 10km, trong đó 11.350 ha (51,1%) thuộc tỉnh Ninh Bình, 5850 ha (26,4%) thuộc tỉnh Hoà Bình, 5000 ha (22,5%) thuộc tỉnh Thanh Hoá

Khu vực nghiên cứu loài cây Xạ đen thuộc xã Cúc Phương - Nho Quan

Tuy nhiên, do địa hình núi đá vôi nên nhiệt độ cực hạn ở đây có thể biến động rất lớn, có năm rất lạnh nhưng chỉ kéo dài 4 - 5 ngày hoặc rất nóng chỉ 1 - 2 ngày Trong 15 năm quan trắc nhiệt độ tối thấp tuyệt đối 0,70C (18/1/1967) và nhiệt độ tối cao tuyệt đối là 39,50C (20/7/1979) Chế độ nhiệt

ở Cúc Phương chịu ảnh hưởng của độ cao và thảm thực vật rừng Điều đó được thể hiện từ số liệu quan trắc của 3 trạm khí tượng như sau:

Ở Trạm Bống, là trung tâm rừng nguyên sinh có độ cao so với mặt biển

từ 300 - 400 m, thảm thực vật rừng tươi tốt, nhiệt độ bình quân năm là 20,60C

Ở Trạm Đang, nằm ở vùng rừng thứ sinh, rừng có chất lượng xấu, một số đã bị khai thác chọn hoặc làm nương rẫy Độ cao so với mặt biển

200 - 250 m Nhiệt độ bình quân năm 21,80C, cao hơn ở Bống 1,20C

Trang 27

2.1.2.2 Chế độ mưa

Lượng mưa bình quân năm của Cúc Phương biến động từ 1800mm đến 2400mm, bình quân năm là 2138mm/năm, lượng mưa tương đối lớn

so với vùng xung quanh

Nếu tính tháng có lượng mưa từ 100 mm là tháng mưa thì ở đây có tới 8 tháng và mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 11 Tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng 9 là 410,9mm, trong khi đó các tháng 12, 1, 2 và 3 lượng mưa chưa được 50 mm Mặc dù mùa khô có 4 tháng nhưng phân biệt rất rõ với mùa mưa Mưa ít cộng với nhiệt độ thấp làm cho khí hậu ở Cúc Phương tương đối khắc nghiệt về mùa đông

2.1.2.3 Độ ẩm không khí

Độ ẩm tương đối không khí trung bình năm ở Cúc Phương là 90%

và tương đối đều trong năm, tháng thấp nhất không dưới 88% Trong khi

đó độ ẩm tuyệt đối biến thiên giống như nhiệt độ trong không khí

Bảng 2.1: Các chỉ tiêu khí hậu cơ bản ở khu vực

Vườn quốc gia Cúc Phương Tháng Nhiệt độ TB

(0 0 C)

Lượng mưa TB (mm)

Độ ẩm TB (%)

Trang 28

2.1.2.5 Thủy văn

Do ở Cúc Phương là địa hình Castơ nên ở đây có ít dòng chảy, ngoại trừ sông Bưởi và sông Ngang ở phía Bắc có nước quanh năm, còn lại là các khe suối cạn có nước theo mùa, sau cơn mưa, khe khô dẫn nước vào lỗ hút, chảy ngầm rồi phun ra ở một số vó nước Chỗ nào nước không hút kịp thì ứ đọng lại, gây nên ngập úng tạm thời

2.1.2.6 Địa hình

Vườn quốc gia Cúc Phương nằm ở phần cuối của hai dãy núi đá vôi từ Tây Bắc chạy về Xen kẽ giữa các núi đá vôi là núi đất và thung đất, 3/4 diện tích Cúc Phương là núi đá vôi, có độ cao tuyệt đối trung bình 300 - 400 m Núi cao nhất là đỉnh Mây Bạc (656 m) nằm ở phía Tây Bắc và thấp dần về hai

Trang 29

phía Tây Nam và Đông Nam Cúc Phương nằm vào dạng địa hình Castơ nửa che phủ khác với địa hình Castơ che phủ Đồng Giao và Castơ trọc Gia Khánh, Cúc Phương nằm trọn vẹn trong cảnh địa lý đối Castơ xâm thực

Địa điểm nghiên cứu của đề tài có địa hình núi đá vôi và Núi đất có độ

+ 4 loại chính là:

Loại 1: Đất renzin mầu đen trên đá vôi

Loại 2: Đất renzin mầu vàng trên đá vôi

Loại 3: Đất renzin mầu đỏ trên đá vôi

Loại 4: Đất Macgalit - Feralit vàng

*) Nhóm B: Đất phát triển trên đá không vôi hoặc trên sản phẩm ít chịu ảnh hưởng nhiều của nước Cacbonat Trong nhóm này có 3 loại chính

và loại phụ

+ 3 loại chính là:

Loại 1: Đất Feralit vàng phát triển trên sa thạch

Loại 2: Đất Feralit vàng, nâu, xám, tím phát triển trên Azgilit

Loại 3: Đất Feralit vàng đỏ phát triển trên diệp thạch sét

Dựa vào kết quả phân tích có thể Nhận xét về đất Cúc Phương như sau:

- Đất tơi xốp, với độ xốp khá cao (60 - 65%)

- Đất có hàm lượng mùn lớn và thấm sâu (4 - 5%)

- Đất có khả năng hấp thụ khá

- Đất có thành phần cơ giới trung bình

Trang 30

"Như vậy đất Cúc Phương nói chung là tốt, có thể nói là hiếm, có giá trị, rất xứng đáng với địa vị thảm thực vật rừng che phủ trên nó mà mọi người

ca ngợi" (Nguyễn Xuân Quát 1971)

Địa điểm nghiên cứu có điều kiện thổ nhưỡng đất Feralit nâu, xám phát triển trên Azgilit

2.1.3 Tài nguyên thiên nhiên

2.1.3.1 Hệ thực vật

Vườn quốc gia Cúc Phương có 20.473 ha rừng trong tổng số diện tích 22.200ha (chiếm 92,2%) Thảm thực vật ở đây là rừng mưa nhiệt đới thường xanh, Cúc Phương là nơi rất đa dạng về cấu trúc tổ thành loài trong hệ thực vật Với diện tích chỉ có 0,07% so với cả nước, nhưng lại có

số họ thực vật chiếm tới 57,93%, số chi 36,09% và số loài chiếm 17,27% trong tổng số họ, chi và loài của cả nước

Cúc Phương là nơi hội tụ của nhiều luồng thực vật di cư cùng sống với nhiều loài bản địa Đại diện cho thành phần bản địa là các loài trong họ Long não (Lauraceae), Ngọc lan (Magnoliaceae) và họ Xoan (Meliaceae) Đại diện cho luồng di cư từ phương Nam ấm áp là các loài trong họ Dầu (Dipterocarpaceae) Đại diện cho luồng thực vật có nguồn gốc từ phương Bắc

là các loài trong họ Dẻ (Fagaceae) Cúc Phương còn diện tích rừng nguyên sinh đáng kể, chủ yếu tập trung trên vùng núi đá vôi và ở các thung lũng trung tâm Vườn Chính do vị trí, đặc điểm khí hậu địa hình và môi trường sinh thái đặc biệt nên đã dẫn đến kết cấu tổ thành loài của rừng Cúc Phương rất phong phú Kết quả điều tra những năm gần đây (2010) đã thống kê được 2.103 loài thuộc 917 chi, 231 họ của 7 ngành thực vật bậc cao Trong đó có rất nhiều loài có giá trị: 229 loài cây ăn được, 240 loài cây có thể sử dụng làm thuốc chữa bệnh, nhuộm, 137 loài cho tanin , 118 loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam và IUCN

Trang 31

Bảng 2.2: Thống kê số lượng Taxon trong các ngành thực vật

Trang 32

Hệ động vật rừng vô cùng phong phú và đa dạng Kết quả điều tra năm

2001 đã thống kê được: Lưỡng cư có 43 loài, Cá 65 loài, Bò sát 67 loài, Chim

307 loài, Giáp xác 12 loài và Thú 119 loài Diện tích VQG Cúc Phương so với Việt Nam chỉ chiếm 0,07% nhưng số loài động vật có xương sống chiếm 30,9%, trong đó có 64 loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam, một số loài đặc hữu của Cúc Phương Vì vậy Cúc Phương được coi là Khu Bảo tồn thiên nhiên độc đáo với tính đa dạng sinh học rất cao và chứa đựng trong nó rất

nhiều loài quý và đặc hữu

2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Vườn quốc gia Cúc Phương được thành lập năm 1962 theo quyết định

72 của Thủ Tướng Chính Phủ, với nhiệm vụ chính: Bảo vệ nguyên vẹn tài

Trang 33

nguyên thiên nhiên rừng; tổ chức tham quan du lịch sinh thái và nghiên cứu bảo tồn Động Thực vật hoang dã

Vườn quốc gia Cúc Phương nằm trên địa phận 15 xã thuộc 4 huyện của

3 tỉnh (Nho Quan - Ninh Bình, Yên Thủy, Lạc Sơn - Hòa Bình, Thạch Thành

- Thanh Hóa) Tổng số dân gần 80.000 người chủ yếu là dân tộc Mường, mật

độ bình quân là 138 người/km2 Trong đó 4 xã có dân nằm trong ranh giới của Vườn là: Xã Cúc Phương thuộc huyện Nho Quan - Ninh Bình, xã Thạch Lâm thuộc huyện Thạch Thành - Thanh Hóa, xã Ân Nghĩa và Yên Nghiệp thuộc huyện Lạc Sơn - Hòa Bình Đây chính là lực lượng cộng đồng dân cư sinh sống có ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đến nguồn tài nguyên động thực vật nói chung trong đó có các loài cây thuốc mà những nhà khoa học và quản lý khu bảo tồn cần quan tâm

Những hạn chế của cộng đồng dân cư đối với VQG Cúc Phương:

- Trình độ dân trí thấp, nhận thức và sự hiểu biết về công tác bảo vệ môi trường thiên nhiên còn hạn chế

- Đất sản xuất ít, năng suất cây trồng thấp không bù đắp được với tốc độ tăng dân số Hơn nữa cuộc sống của người dân chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp và một phần lâm sản

- Ngoài việc phát rừng làm nương rẫy, chặt xẻ, săn bắt chim thú, chăn thả gia súc bừa bãi vẫn còn xảy ra, đây là những nhân tố gây áp lực lớn, đe dọa hủy hoại tài nguyên rừng

Trước tình hình đó Vườn quốc gia Cúc Phương đã và đang nỗ lực di dời dân cư sống bên trong khu vực Vườn ra khỏi phạm vi ranh giới của Vườn, kết hợp với việc đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến giáo dục lâm nghiệp, nâng cao trình độ nhận thức của người dân về vai trò của rừng với nhiều hình thức: Tranh ảnh, sách báo, áp phích, tranh cổ động Đồng thời với việc làm đó Vườn còn tích cực thu hút các dự án trong nước và quốc

Trang 34

tế để giải quyết các vấn đề vùng đệm, đặc biệt là chuyển đổi, thay thế tập quán canh tác cũ sang phương thức canh tác mới, nông lâm kết hợp, tận dụng gỗ củi… Từ đó nhằm cải thiện và nâng cao mức sống cho người dân, với các dự án:

Dự án đầu tư phát triển nghề nuôi Ong mật do Công ty Ong Việt Nam và Tổ chức hỗ trợ phát triển Đức tài trợ tại xã Cúc Phương

Dự án nghiên cứu kinh tế xã hội và việc sử dụng tài nguyên rừng Cúc Phương của dân cư sống trên vùng đệm do tổ chức FFI tài trợ

Dự án trồng rừng 327 trước đây và 661 hiện nay đang thực hiện ở các xã trong vùng đệm đã tạo nhiều công ăn việc làm cho người dân tăng thu nhập cải thiện đời sống

Hàng năm Cúc Phương đón tiếp 70 - 80 ngàn lượt khách tham quan du lịch, học tập, nghiên cứu khoa học Đem đến cho Vườn nguồn thu không nhỏ,

và là điều kiện tốt để tuyên truyền giáo dục môi trường được cho nhiều người cùng bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam nói chung và của Cúc Phương nói riêng

Tóm lại, rừng Quốc Gia Cúc Phương nằm trên 3 tỉnh là Ninh Bình,

Hòa Bình và Thanh Hóa, dân cư sống ở ven rừng rất nhiều, đất canh tác ít

và thường xuyên vào rừng khai thác dược liệu trong đó có cây Xạ đen và qua điều tra cho thấy hiện nay loài này chỉ còn trong vùng bảo vệ nghiêm ngặt của Vườn quốc gia Cúc Phương

Trang 35

Chương 3 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Mục tiêu nghiên cứu

3.1.1 Mục tiêu tổng quát

Góp phần cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc bảo tồn và phát triển loài Xạ đen ở Vườn quốc gia Cúc Phương

3.1.2 Mục tiêu cụ thể

- Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học làm cơ sở cho việc nhận biết loài;

- Xác định được thực trạng loài Xạ đen ở Vườn quốc gia Cúc Phương

về các mặt: diện tích, phân bố, trữ lượng, tình hình khai thác, sử dụng;

- Đề xuất được một số giải pháp bảo tồn, phát triển loài Xạ đen ở Vườn

quốc gia Cúc Phương

3.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu là loài Xạ đen tại VQG Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình

- Phạm vi nghiên cứu là phân khu bảo vệ nghiêm ngặt Vườn quốc gia Cúc Phương Ngoài ra đề tài đã mở rộng phạm vi nghiên cứu ra xung quanh Vườn khi tìm hiểu về tình hình khai thác, sử dụng loài cây này

3.3 Nội dung nghiên cứu

Để thực hiện được các mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài tập trung vào các nội dung chính sau:

- Nghiên cứu đặc điểm hình thái, vật hậu của loài Xạ đen

- Nghiên cứu đặc điểm sinh thái loài Xạ đen

- Nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện lập địa tới sinh trưởng của loài

Xạ đen tại VQG Cúc Phương

- Nghiên cứu tình hình khai thác sử dụng Xạ đen tại VQG Cúc Phương

- Phân tích đánh giá cơ hội, thách thức, tiềm năng phát triển của loài Xạ đen

- Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển loài Xạ đen trong khu vực

Trang 36

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp luận trong nghiên cứu

Xạ đen có kích thước nhỏ, mọc tự nhiên dưới tán rừng già, số lượng còn ít nên phương pháp nghiên cứu cơ bản là nghiên cứu các cá thể ở những ô tiêu chuẩn tạm thời trên các tuyến điều tra để xác định đặc điểm hình thái, sinh trưởng của cây trong các điều kiện sinh thái khác nhau, nhằm tìm ra những điều kiện thích hợp của Xạ đen đối với từng nhân tố sinh thái

3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu

3.4.2.1 Phương pháp kế thừa số liệu

Kế thừa các tài liệu từ Vườn Quốc Gia có liên quan đến vấn đề nghiên cứu như:

- Bản đồ địa hình, bản đồ hiện trạng rừng

- Điều kiện cơ bản của khu vực nghiên cứu (Đặc điểm khí hậu, thuỷ văn, địa hình, đất và điều kiện dân sinh kinh tế)

- Diện tích tự nhiên từng khu vực nghiên cứu có Xạ đen phân bố

3.4.2.2 Phương pháp điều tra ngoại nghiệp

Thời gian điều tra và thu thập số liệu là tháng 10 năm 2013 đến tháng 1 năm 2014 Sau khi tham khảo các tài liệu, tiến hành phỏng vấn cán bộ và nhân dân địa phương phân bố loài Xạ đen trong khu vực nghiên cứu bằng các phiếu điều tra

Căn cứ vào bản đồ hiện trạng và bản đồ địa hình để xác định ranh giới khu vực điều tra Sau đó điều tra sơ bộ theo tuyến ngoài thực địa để xác định dạng địa hình, độ cao, đồng thời xác định phạm vi phân bố cụ thể của loài Xác định khu vực phân bố của loài trên từng khu vực để làm cơ sở cho việc lập ô tiêu chuẩn đại diện 20 ÔTC có diện tích mỗi ô 1000 m2 (20x50m) được thiết lập thích hợp với dạng địa hình vùng núi đá vôi hiểm trở

Trang 37

+ Nghiên cứu đặc điểm về thân cây

Để đánh giá hình dạng kích thước thân cây, đề tài tiến hành đo đếm và

mô tả tất cả các cây trong ÔTC về các chỉ tiêu sau: chiều cao, dạng thân, số nhánh, màu sắc thân

+ Điều tra đặc điểm lá Xạ đen

+ Điều tra đặc đặc điểm quả của loài Xạ đen

+ Mô tả và đo kích thước quả của loài Xạ đen

+ Nghiên cứu đặc điểm vật hậu

Do hạn chế về thời gian nên không có điều kiện theo dõi được đặc điểm vật hậu của loài Xạ đen Khoá luận sử dụng phương pháp quan sát ngoài thực địa tại thời gian nghiên cứu kết hợp với thu thập thông tin qua phỏng vấn cán

bộ kỹ thuật thuộc phòng khoa học và phỏng vấn người dân có gây trồng cây

Xạ đen về các nội dung sau:

- Mùa sinh trưởng trong năm

- Hiện tượng ra chồi, hiện tượng rụng lá, ra lá, ra nụ, hoa nở, hoa tàn, quả non, quả chín, quả già…

+ Nghiên cứu về phẩm chất loài Xạ đen

Việc tìm hiểu tình hình sinh trưởng của một loài cây được đánh giá thông qua các chỉ tiêu đánh giá về đường kính, chiều cao, hình dạng và chất lượng cây do đối tượng nghiên cứu ở đây là cây Xạ đen có dạng dây leo, kích thước nhỏ nên chúng tôi chỉ tiến hành đánh giá thông qua phân cấp chất lượng cây

- Cây tốt: là những cây thân thẳng, sinh trưởng tốt không sâu bệnh

- Cây trung bình: là những cây hình dáng bình thường, sinh trưởng trung bình

- Cây xấu: là những cây cong queo, sinh trưởng kém hoặc sâu bệnh

+ Nghiên cứu điều kiện lập địa thích hợp của loài Xạ đen

Trang 38

Tại mỗi khu vực có Xạ đen phân bố, bố trí điều tra theo tuyến, mỗi tuyến lập từ 1 đến 3 ÔTC điển hình với mỗi ÔTC có diện tích là 1000 m2

- Xác định hướng phơi: Sử dụng địa bàn cầm tay;

- Xác định độ cao: Độ cao được xác định bằng máy GPS;

- Đo độ dốc: Tại mỗi khu vực Xạ đen phân bố bằng địa bàn cầm tay để

đo độ dốc;

- Cường độ ánh sáng dưới tán rừng được đo bằng máy đo ánh sáng Nhiệt độ và độ ẩm không khí lần lượt được đo bằng nhiệt kế và ẩm kế

+ Điều tra đặc điểm cấu trúc rừng nơi loài Xạ đen phân bố

+ Nghiên cứu điều tra sơ bộ đất dưới tán rừng

Để tìm hiểu đất nơi Xạ đen mọc, đề tài đã kế thừa kết quả tại trung tâm thí nghiệm thực hành Trường Đại học Lâm nghiệp

+ Nghiên cứu nhân tố tiểu khí hậu dưới tán rừng nơi loài Xạ đen mọc

Để đo nhiệt độ và độ ẩm đề tài dùng nhiệt kế và độ kế để đo và đo ở cùng một thời điểm ở các vị trí và độ cao khác nhau, để đo được như vậy, nhiều ẩm kế đã được sử dụng đồng thời ở các điểm nghiên cứu

Thời gian điều tra là tháng 10 năm 2013 đến tháng 1 năm 2014 Thời gian đo nhiệt độ và độ ẩm không khí là vào lúc 13h trưa

- Điều tra tầng cây cao

Trong mỗi ô tiêu chuẩn được lập xác định tên loài, tiến hành đo đường kính, chiều cao của toàn bộ các cây có D1.3 ≥ 6 cm

+ D1.3 được đo bằng thước kẹp kính theo 2 chiều Đông Tây - Nam Bắc + Dt đường kính tán được đo bằng thước dây theo 2 chiều Đông Tây - Nam Bắc

+ Chiều cao H, chiều cao dưới cành Hdc được đo bằng thước đo cao Blumleiss

- Điều tra lớp cây tái sinh nơi Xạ đen phân bố

Trang 39

Trên mỗi ÔTC lập 05 ô dạng bản thứ cấp, 4 ô ở 4 góc, 1 ô ở giữa, diện tích mỗi ô là 25m2 Trên mỗi ô dạng bản xác định tên loài, đo chiều cao, phân cấp chất lượng và xác định nguồn gốc cây tái sinh

- Điều tra tầng cây bụi, thảm tươi nơi Xạ đen phân bố

Điều tra cây bụi, thảm tươi trong các ô dạng bản đã lập để điều tra cây tái sinh, như xác định tên loài, chiều cao, độ che phủ của cây bụi, thảm tươi

Các mẫu vật được chụp ảnh Các thông tin như: Đặc điểm hình thái, đặc điểm sinh thái, đặc điểm sinh học, nơi sống được ghi chép lại

- Thực trạng khai thác sử dụng loài Xạ đen

Xác định tần số tiêu thụ và lượng tiêu thụ của một người trong một năm của cây Xạ đen bằng phương pháp phỏng vấn hộ dân Phỏng vấn các

hộ dân trong xã và các hộ ở những vùng lân cận xung quanh rừng

Trang 40

Xbđ > 0: Trữ lượng suy giảm

Xbđ = 0: Trữ lượng không suy giảm

Xbđ < 0: Trữ lượng tăng

+ Phân tích, đánh giá các số liệu thu được về loài cây thuốc, về dạng sống của loài cây thuốc, môi trường sống của các loài cây thuốc, về tần số sử dụng các bộ phận, về số lượng các bộ phận sử dụng làm thuốc

+ Tổng hợp các số liệu liên quan như: Những khó khăn trong việc trồng cây thuốc, thái độ và thực hành của người dân trong việc bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc

Ngày đăng: 21/06/2021, 06:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w