Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng là công cụ kinh tế, sử dụng để những người được hưởng lợi từ các dịch vụ môi trường rừng chi trả cho những người duy trì, bảo vệ và phát triển
Trang 1ĐINH BỘ LĨNH
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG CHO NHÀ MÁY
THỦY ĐIỆN TUYÊN QUANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
HÀ NỘI - 2011
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
ĐINH BỘ LĨNH
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG CHO NHÀ MÁY
THỦY ĐIỆN TUYÊN QUANG
Chuyên ngành: Quản lý bảo vệ tài nguyên rừng
Mã số: 60.62.68
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS PHÙNG VĂN KHOA
HÀ NỘI - 2011
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng có vai trò hết sức quan trọng đối với con người và đặc biệt là duy trì môi trường sống, đóng góp vào sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia và sự tồn tại của trái đất Việt Nam có 13.258.843ha rừng (rừng tự nhiên: 10.339.305ha; rừng trồng: 2.919.538ha), ngoài việc cung cấp gỗ, củi và các lâm sản khác, rừng có vai trò to lớn trong việc phòng hộ, duy trì môi trường sống như điều hòa khí hậu, điều tiết nguồn nước, hạn chế xói mòn, rửa trôi và hạn chế bão lụt, hấp thụ các bon, duy trì và bảo tồn đa dạng sinh học, Các chức năng
này của rừng được hiểu là các "giá trị môi trường và dịch vụ môi trường rừng"
Trong nhiều năm qua, Chính phủ Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong tổ chức và hành động bảo vệ và phát triển rừng; ban hành hệ thống pháp luật, nhiều chủ chương, chính sách và nguồn kinh phí lớn nhằm bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì tình trạng suy thoái tài nguyên rừng, tài nguyên đa dạng sinh học trong thực tế đang diễn ra chưa ngăn chặn được, lại đang có nguy cơ suy thoái nhiều hơn trong giai đoạn tới khi chúng ta đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế, công nghiệp hóa và đô thị hóa Sự suy giảm về tài nguyên rừng, đặc biệt là sự thu hẹp nhanh chóng diện tích rừng đã làm suy giảm đáng kể chức năng sinh thái của rừng trong việc bảo
vệ môi trường, phòng chống thiên tai và được coi là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái môi trường và biến đổi khí hậu toàn cầu
Những năm gần đây, hiện tượng ấm lên toàn cầu, sự gia tăng và xuất hiện bất thường của những trận bão, lũ lụt có sức tàn phá lớn và suy thoái đất đai và nguy cơ sa mạc hóa trên diện rộng là mối lo ngại lớn trên phạm vi toàn cầu thì vai trò của rừng, đặc biệt là giá trị to lớn của dịch vụ môi trường do rừng mang lại đã và đang được thừa nhận trên phương diện quốc tế và ở Việt Nam và chúng phải được lượng hóa bằng tiền Nhằm duy trì những giá trị dịch vụ môi trường của rừng và đảm bảo sự công bằng cho người làm nghề
rừng, các cơ chế tài chính về "chi trả dịch vụ môi trường rừng" đang trở
thành một giải pháp hiệu quả ở nhiều quốc gia nhằm đảm bảo nguồn tài chính bền vững cho quản lý bền vững tài nguyên rừng
Trang 5Việt Nam đã thực hiện chính sách thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Quyết định số 380/QĐ-TTg ngày 10 tháng 04 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ, và mới đây Chính phủ đã có Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24 tháng 9 năm 2010 về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng là công cụ kinh tế, sử dụng để những người được hưởng lợi từ các dịch vụ môi trường rừng chi trả cho những người duy trì, bảo vệ và phát triển các chức năng của hệ sinh thái đó; được xem là cơ chế nhằm thúc đẩy việc tạo ra và sử dụng các dịch vụ môi trường rừng bằng cách kết nối người cung cấp dịch vụ và người sử dụng dịch vụ môi trường rừng
Tuyên Quang là tỉnh miền núi phía Bắc, có 445.848ha đất lâm nghiệp (chiếm 76% diện tích tự nhiên) và diện tích rừng hiện có của tỉnh là 386.102ha (rừng tự nhiên: 273.793ha; rừng trồng: 112.310ha), đạt độ che phủ 62,8%, là một trong những tỉnh có độ che phủ của rừng cao nhất trong phạm vi cả nước Nhiều năm qua những người trực tiếp tham gia bảo vệ và phát triển rừng chỉ được hưởng một phần giá trị sử dụng trực tiếp của rừng hoặc được hỗ trợ tiền bảo vệ rừng do nhà nước chi trả, còn giá trị về môi trường của rừng thì chủ rừng chưa được chi trả Họ hầu như không đủ nguồn thu để tái tạo lại rừng và đáp ứng nhu cầu thiết yếu của cuộc sống Chính phủ ban hành chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng là bài toán thúc đẩy và
xã hội hoá công tác bảo vệ và phát triển rừng, từng bước cải thiện đời sống của người làm nghề rừng, nâng cao nhận thức về bảo vệ và phát triển rừng, bảo vệ môi trường Do vậy, việc nghiên cứu, triển khai thực hiện chi trả dịch
vụ môi trường rừng là một yêu cầu bức thiết của tỉnh Tuyên Quang cũng như
các địa phương khác trên phạm vi cả nước
Từ yêu cầu thực tiễn, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài "Nghiên cứu
xây dựng cơ sở dữ liệu chi trả dịch vụ môi trường rừng cho Nhà máy thủy điện Tuyên Quang"
Trang 6Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Trên thế giới
Mặc dù "dịch vụ môi trường rừng" là một khái niệm mới, được đưa vào
tư duy và thực tiễn bảo tồn gần một thập kỷ trở lại đây, tuy nhiên, nó đã nhanh chóng trở nên phổ biến ở một số nước Sự phát triển của dịch vụ môi trường rừng ngày càng được lan rộng và ở một số nước thì dịch vụ môi trường rừng còn được thể chế hoá trong các văn bản pháp luật Hiện nay, dịch
vụ môi trường rừng đã nổi lên như một giải pháp chính sách để khuyến khích, chia sẻ các lợi ích trong cộng đồng và xã hội
Trên thế giới chi trả dịch vụ môi trường rừng đã được chú ý thực hiện từ những năm 90 của thế kỷ 20, đến nay đã được đề cập và thực thi ở nhiều nước, nhiều khu vực trên thế giới [6] Các nước phát triển ở Mỹ La Tinh đã sử dụng các mô hình chi trả dịch vụ môi trường rừng sớm nhất và chính phủ một số nước Châu Âu cũng đã quan tâm đầu tư và thực hiện nhiều chương trình, mô hình chi trả dịch vụ môi trường rừng [23] Cho đến nay, hàng trăm sáng kiến mới về dịch
vụ môi trường đã được xây dựng trên khắp toàn cầu, như:
- Úc: Đã luật hóa quyền phát thải carbon từ năm 1998, cho phép các
nhà đầu tư đăng ký quyền sở hữu hấp thụ carbon của rừng Đang thực hiện chiến lược bồi hoàn đa dạng sinh học và chương trình bảo tồn nhằm giảm thiểu tác động của hoạt động mở rộng khai thác mỏ Các ông ty khai thác
mỏ phải thực hiện bồi hoàn lại môi trường do hoạt động khai thác mỏ gây
ra bằng cách thiết lập những khu rừng mới [22]
- Chi-lê: Người dân Chi-lê đã đầu tư vào Khu Bảo tồn Tư nhân phục vụ mục đích chính là bảotồn và điểm nghỉ dưỡng có giá trị đa dạng sinh học cao Chi trả được thực hiện theo hình thức tự nguyện với mong muốn bổ sung thêm cho nguồn ngân sách bảo tồn sinhcảnh xung yếu của chính phủ
Trang 7- Costa Rica: Luật Lâm nghiệp (được thông qua năm 1996) đã xây dựng chương trình chi trả dịch vụ hệ sinh thái tại Costa Rica trong mộtnỗ lực nhằm bảo vệ các khu rừng nhiệt đới của quốc gia Bộ Môi trường được thành lập để thực hiện chương trình quốc gia này và đã công nhận 4 loại dịch vụ hệ sinh thái chính mà các khu rừng nhiệt đới của đất nước cung cấp [25]:
- Mexico: Chính phủ Mexico đã tài trợ cho một chương trình chi trả để bảo vệ rừng đầu nguồn và cung cấp dịch vụ thủy văn Chủ rừng ở bất cứ tiểu bang nào cũng đều có thể nộp đơn xin tham gia chương trình miễn là họ đáp ứng được các tiêu chí thực hiện Ủy ban Lâm nghiệp Quốc gia đã ký hợp đồng với chủ đất và hợp đồng có thể được ký lại hàng năm trong giai đoạn 5 năm [19] Tiền chi trả lần đầu sẽ được thanh toán trong vòng 16 ngày làmviệc kể từ ngày ký hợp đồng và các lần chi trả sau sẽ được thanh toán vào cuối nămdựa vào ảnh vệ tinh và kiểm tra ngẫu nhiên tại hiện trường
Mức giá chi trả cho chủ đất do nhà nước quyết định trên cơ sở chi phí theo loại hình sử dụng đất, giả sử thu nhập từ trồng ngô là một hoạt động thay thế trên diện tích đất đó (mức giá từ 30 đến 36 USD/ha/năm) [6]
Trang 8- Mỹ: Chính phủ Mỹ đóng góp đáng kể vào hoạt động chi trả hệ sinh
thái được phát động bởi chính phủ trong các sáng kiến về chất lượng nước thông qua việc tài trợ 5 chương trình bảo tồn liên bang, trong đó một chương trình đầu tư vào cơ sở hạ tầng và bốn chương trình cấp độ địa phương về bảo
vệ nguồn nước uống với tổng đầu tư khoảng 1,35 tỷ USD trong năm 2008 [8]
Cùng với sự gia tăng của mô hình “cộng đồng thực thi” có nghĩa là thực hiện các hoạt động nhằm tạo ra thị trường các hệ sinh thái từ những vùng đầm lầy Florida đến môi trường sống cần thiết cho cá hồi ở vùng Tây Bắc Thái Bình Dương để áp dụng hình thức quản lý rừng trong vùng Đông Bắc, Chính phủ Mỹ đưa ra các sáng kiến của mình nhằm góp phần đáng kể đối với việc tích lũy những bài học mới về ứng dụng các công cụ chi trả hệ sinh thái cho quản lý các dịch vụ hệ sinh thái có liên quan tới nguồn nước [8]
- Châu Phi: Tổng số chương trình chi trả dịch vụ hệ sinh thái ở Châu Phi
là 20 với khoảng 10 chương trình đang hoạt động vào năm 2008 đem lại tổng giá trị chi trả là 62,7 triệu USD với gần 200 ngàn ha đất [8] Hầu hết các trường hợp thực hiện ở theo các chương trình bảo tồn hệ sinh thái quốc gia, trong đó bao gồm đầu tư cho tăng cường và phục hồi các dịch vụ vùng đầu nguồn, và cải thiện năng lực cho cộng đồng địa phương nhằm xác định, hình thành và thực hiện các hoạt động quản lý gắn với hệ sinh thái [9]
- Châu Á: Chi trả dịch vụ môi trường rừng cũng đã được phát triển
và thực hiện thí điểm tại nhiều nước như Indonesia, Philippines, Trung Quốc, Ấn Độ, Nepal…đặc biệt là Trung Quốc đã xây dựng các chương trình chi trả dịch vụ môi trường rừng với quy mô lớn, chi trả trực tiếp cho các chủ rừng để thực hiện các biện pháp sử dụng rừng nhằm tăng cường cung cấp các dịch vụ thuỷ văn, bảo tồn đa dạng sinh học, chống xói mòn, hấp thụ các bon và vẻ đẹp cảnh quan [6]
Trang 9Số lượng và chủng loại các chương trình chi trả dịch vụ hệ sinh thái ở Trung Quốc đang tăng nhanh trong những năm gần đây, từ 8 chương trình năm 1999 đến hơn 47 chương trình ở năm 2008 với tổng giá trị giao dịch khoảng 7.8 tỷ USD đã tác động đến hơn 290 triệu ha đất Các chương trình chi trả ở Trung Quốc nhằm nhằm thúc đẩy sự phát triển và đổi mới trong “các
cơ chế đền bù sinh thái” Một động lực tiềm năng khác cho dịch vụ sinh thái ở
cả cấp tỉnh và quốc gia là từ hệ thống mới về mua bán quyền sả thải vào nước
và hệ thống này có sẽ thực hiện sớm ở nhiều nơi trên toàn quốc [8]
Từ các mô hình dịch vụ môi trường rừng ở các nước cho thấy, quản lý
và bảo vệ đầu nguồn đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý và bảo vệ tài nguyên và đa dạng sinh học Dịch vụ môi trường rừng được đánh giá là một
cơ chế có sự gắn kết với các mục tiêu thiên niên kỷ, được xem như một cơ chế tài chính góp phần giảm nghèo, bảo vệ thiên nhiên và đa dạng sinh học vì một thế giới phát triển bền vững hơn
1.2 Tại Việt Nam
Tại Việt Nam, hơn 10 năm qua, khái niệm chi trả dịch vụ môi trường và các ứng dụng của nó đã và đang nhận được sự quan tâm đáng kể của các nhà nghiên cứu môi trường, các nhà khoa học và nhà hoạch định chính sách tại Việt Nam
Việc sử dụng công cụ thị trường để bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên và góp phần cải thiện sinh kế không phải là hoàn toàn mới mẻ tại Việt Nam Bắt đầu từ đầu những năm 1990, Chính phủ Việt Nam đã bỏ ra hàng triệu đô la để chi trả cho những người dân bảo vệ rừng đầu nguồn (chủ yếu là chương trình trồng rừng theo Quyết định số 327-CT ngày 15/9/1992 và dự án trồng mới 5 triệu ha rừng theo Quyết định số 661/QDD-TTg ngày 29/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ) Các chương trình này kéo dài cho tới tận ngày nay, giúp bảo vệ hàng triệu ha rừng quý hiếm khỏi bị tàn phá
Trang 10Gần đây, Chính phủ cũng đang rất nỗ lực để phối hợp với các tổ chức quốc tế xây dựng và thực hiện chương trình Giảm phát thải do mất rừng và suy thoái rừng, nhằm góp phần giảm thiểu tác động tiêu cực do phát thải khí CO2 gây ra Việt Nam đã được chọn là một trong 9 quốc gia được Chương trình giảm phát thải do mất rừng và suy thoái rừng của Liên Hợp Quốc trợ giúp để xây dựng chương trình Quốc gia về giảm phát thải do mất rừng và suy thoái rừng
Luật Đa dạng sinh học được Quốc hội thông qua ngày 13/11/2008
quy định "tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ môi trường liên quan đến đa
dạng sinh học có trách nhiệm trả tiền cho tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ"
và đây cũng là nguồn tài chính co công tác bảo tồn đa dạng sinh học Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05/2/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 -
2020 đã đề cập đến việc xây dựng cơ chế chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, coi đó là một trong những nguồn tài chính tiềm năng đầu tư lại trực tiếp vào rừng
Hiện tại, Quỹ Bảo tồn Hoang dã Thế giới (WWF) đang thực hiện một
số dự án về các mô hình chi trả dịch vụ môi trường rừng như bảo vệ đầu nguồn, bảo tồn đa dạng sinh học, và du lịch sinh thái; tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) còn thực hiện Dự án chi trả dịch vụ môi trường - ứng dụng tại khu vực ven biển Những dự án này được tổ chức thực hiện trong các chương trình do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Tổ chức Winrock International Ngoài ra, Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) còn thực hiện dự án chi trả dịch vụ môi trường - ứng dụng tại khu vực ven biển Dự án xây dựng cơ chế chi trả cho hấp thụ các-bon trong lâm nghiệp, thí điểm tại huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình do Trung tâm Nghiên cứu Sinh thái và Môi trường Rừng thực hiện [11]
Trang 11Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường đang đề xuất nghiên cứu đề tài khoa học công nghệ
“Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất cơ chế chi trả dịch vụ môi trường đất ngập nước ở Việt Nam”, với mục tiêu đề xuất cơ chế dịch vụ môi
trường rừng phù hợp với điều kiện Việt Nam, nhằm bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng hỗ trợ một số hoạt động đánh giá và tìm cơ hội thị trường cho dịch vụ môi trường rừng ở tỉnh Quảng Nam và Quảng Trị
Trung tâm nghiên cứu sinh thái và môi trường rừng - Viện khoa học lâm
nghiệp Việt Nam thực hiện đề tài "nghiên cứu lượng giá kinh tế môi trường rừng
và dịch vụ môi trường của một số loại rừng chủ yếu ở Việt Nam" Bằng phương
pháp xây dựng mô hình SWAT (Soil & Water Assesement Tool), tạo ra những kịch bản để tính toán thiệt hại, đã lượng được giá trị của rừng về hạn chế xói mòn đất và điều tiết nước của một số loại rừng ở lưu vực Sông Cầu và vùng đầu nguồn hồ Thác Bà (thuộc địa giới hành chính các tỉnh: Bắc Kạn, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc và Hà Nội) [15]
Tại Lâm Đồng, Nghiên cứu đã sử dụng Mô hình SWAT-Mô hình đánh giá đất và nước cho hai tình huống khác nhau: bảo vệ độ che phủ rừng hiện tại và chuyển 45.000 héc-ta rừng thông sang làm nông nghiệp Mô hình SWAT
đã được sử dụng để dự báo sự chảy tràn bề mặt và mức phù sa lơ lửng đi vào
hồ chứa Đa Nhim [17] Một mô hình đã được thiết lập xem xét lượng phù sa lắng đọng trong hồ cho hai tình huống Tổng sản lượng điện bị mất đi do sự chuyển đổi giữa hai tình huống đã được ước lượng, và tài chính từ việc sản xuất điện trong thời gian tuổi thọ của hồ chứa Sự thay đổi trong giá trị ròng hiện tại giữa hai tình huống đã được ước lượng, cũng như giá trị ròng hiện tại của các tổn thất Cuối cùng, giá trị của các dịch vụ môi trường mà rừng cung cấp trong việc giảm bồi lắng phù sa lòng hồ đã được ước lượng, làm cơ sở xem xét ban hành Nghị định về chi trả môi trường cấp quốc gia [17]
Trang 12Chương trình Bảo tồn Đa dạng Sinh học Vùng Châu Á đã hoàn tất một số nghiên cứu tạo cơ sở cho việc lập kế hoạch du lịch bền vững ngắn hạn và trung hạn tại Lâm Đồng Các nghiên cứu này bao gồm Phương án chọn lựa cho các cơ chế tạo tài chính cho đa dạng sinh học và du lịch; phân tích chi phí - lợi ích của du lịch bền vững; gắn du lịch và chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà, Lâm Đồng Kết quả nghiên cứu được đưa ra thảo luận, Chương trình Bảo tồn Đa dạng Sinh học Vùng Châu Á đã đưa ra mức chi trả là 0,5 - 2% doanh thu ròng hàng năm của các công ty du lịch [16]
Từ đầu năm 2008, chi trả dịch vụ môi trường rừng lần đầu tiên được được thực hiện thí điểm tại 2 tỉnh Sơn La và Lâm Đồng theo quyết định 380/QĐ-TTg ngày 10 tháng 04 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ Sau 2 năm thực hiện, kết quả đã thu được thành công nhất định, rừng được bảo vệ tốt hơn
Tại Sơn La, bên sử dụng dịch vụ được xác định là các nhà máy Thuỷ
điện Hoà Bình, nhà máy thuỷ điện Suối Sập, công ty Cấp nước Phù Yên và công ty Cấp nước Mộc Châu, bên cung cấp dịch vụ là các chủ rừng trên địa bàn 2 huyện thí điểm Mộc Châu và Phù Yên Mức chi trả của từng công ty được xác định dựa trên tổng lượng điện/tổng lượng nước kinh doanh hàng năm trong đó đối với 1Kwh là 20 đồng, 1m3 nước là 30 đồng và bình quân/ha là 100.432 đồng [18]
Chủ rừng đã nhận được mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng như sau: rừng phòng hộ là rừng tự nhiên 140.243 đồng/ha/năm; rừng phòng hộ là rừng trồng: 126.219 đồng/ha/năm; rừng sản xuất là rừng tự nhiên: 84.146 đồng/ha/năm và rừng sản xuất là rừng trồng: 70.121 đồng/ha/năm [18]
Trang 13Tại Lâm Đồng, chương trình thí điểm đã nhận được sự đồng thuận cao
của các bên liên quan và hiện nay các nhà máy thuỷ điện Đa Nhim và Đại Ninh đã chi trả khoảng 55 tỷ đồng cho hơn 8.000 hộ dân bảo vệ rừng [18]
Người dân tham gia nhận khoán bảo vệ rừng tại lưu vực hồ thuỷ điện
Đa Nhim đã nhận được mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng là 290.000 đồng/ha/năm; lưu vực hồ thuỷ điện Đại Ninh là 270.000 đồng/ha/năm Tại lưu vực hai nhà máy thuỷ điện, bình quân mỗi hộ gia dình nhận khoán từ 15-
20 ha, mỗi năm nhận được khoảng từ 4- 5 triệu đồng [18]
Tuy nhiên, thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng tại 2 tỉnh Sơn La
và Lâm Đồng còn có những hạn chế nhất định, đó là một số diện tích rừng chưa có chủ quản lý cụ thể do đó tiền dịch vụ môi trường rừng chưa được tri trả trực tiếp cho chủ rừng; cơ sở để tính toán hệ số K điều chỉnh mức chi trả dịch vụ môi trường rừng ở các tỉnh rất khác nhau (tỉnh Sơn La: hệ số K chưa được dựa trên yếu tốt về mức độ khó khăn, thuận lợi bảo vệ rừng; tỉnh Lâm Đồng: hệ số K chưa được dựa trên yếu tố về trạng thái lô rừng được chi trả)
Căn cứ kết quả thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng tại 2 tỉnh Sơn
La, Lâm Đồng và kết quả thực hiện tại một số quốc gia, xét đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, ngày 24/9/2010 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 99/2010/NĐ-CP về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng để thực hiện thống nhất trên phạm vi cả nước
Ngày 13/12/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2284/QĐ-TTG phê duyệt Đề án triển khai Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng
Trang 14Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu tổng quát
Xác định cơ sở dữ liệu thực tiễn để thực hiện việc chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng Nhà máy thủy điện Tuyên Quang đảm bảo công bằng, minh bạch, đúng đối tượng
2.1.2 Mục tiêu cụ thể
Xây dựng cơ sở dữ liệu gồm bản đồ số, bản đồ giấy về ranh giới, diện tích, trạng thái và hệ số điều chỉnh giá trị dịch vụ môi trường rừng của rừng
có cung ứng dịch vụ môi trường rừng cho Nhà máy thủy điện Tuyên Quang
Tính toán chi trả dịch vụ môi trường rừng của Nhà máy thủy điện Tuyên Quang
Đề xuất giải pháp tổ chức thực hiện chi trả, giải pháp cung ứng ổn định dịch vụ môi trường rừng cho Nhà máy thủy điện Tuyên Quang
2.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Trạng thái, loại rừng và điều kiện khó khăn trong công tác bảo vệ rừng thuộc đối tượng được Nhà máy thủy điện Tuyên Quang chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng
Trang 15thuộc lưu vực hồ thủy
điện Tuyên Quang
Hình 2.1 Đập thủy điện Tuyên Quang
2.3 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, đề tài tập chung nghiên cứu những nội dung sau:
- Xác định xác lưu vực Thủy điện Tuyên Quang
- Xác định diện tích diện tích từng loại rừng có cung ứng dịch vụ môi trường rừng cho Nhà máy thủy điện Tuyên Quang
- Xây dựng hệ số K điều chỉnh mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng cho từng loại rừng cung ứng dịch vụ môi trường rừng cho Nhà máy thủy điện Tuyên Quang
- Tính toán chi trả dịch vụ môi trường rừng của Nhà máy thủy điện Tuyên Quang trên địa phận tỉnh Tuyên Quang và đề xuất giải pháp tổ chức thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng
- Đề xuất giải pháp quản lý và phát triển rừng để cung ứng ổn định dịch
vụ môi trường cho Nhà máy thủy điện Tuyên Quang
Trang 162.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp luận
Chi trả dịch vụ môi trường rừng được thực hiện trên cơ sở cam kết tham gia hợp đồng có sự ràng buộc về mặt pháp lý giữa bên tạo ra các hàng hóa dịch vụ môi trường rừng (bên cung ứng) thông qua việc bảo vệ, cải thiện
hệ sinh thái và bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng (bên phải trả tiền cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng)
Dịch vụ môi trường rừng là một hình thức đã được áp dụng tại một số nước trên thế giới, tuy nhiên nó là một khái niệm còn khá mới mẻ đối với Việt Nam.Chi trả dịch vụ môi trường rừng cần có sự đồng thuận của các cấp, cách ngành và đặc biệt là đối tượng cung ứng dịch vụ môi trường rừng, cần thiết phải nắm bắt được: những băn khoăn của các đối tượng tham gia; tình hình quản lý bảo vệ và sử dụng rừng rừng; nhận thức của họ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng Vì vậy, cần phải tham vấn ý kiến phản hồi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng của những đối tượng là cơ quan quản lý, bên tạo ra các hàng hóa dịch vụ môi trường rừng và bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng để củng cố cơ sở thực tiễn cho việc xác định hệ số dùng để điều chỉnh mức chi trả dịch vụ môi trường rừng cho phù hợp, làm cơ sở đề xuất các giải pháp quản lý bảo vệ, phát triển rừng và giải pháp thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng
Có thể nhận thấy, trạng thái rừng, loại rừng và nguồn gốc hình thành rừng khác nhau sẽ tạo ra dịch vụ môi trường rừng khác nhau và theo đó cũng tạo ra giá trị dịch vụ môi trường rừng khác nhau Những khu vực khó khăn về bảo vệ rừng sẽ có mức chi phí tạo rừng và bảo vệ rừng (để cung ứng dịch vụ môi trường rừng) cao hơn ở những khu vực thuận lợi về bảo
vệ rừng Cần phải nghiên cứu, xác định một hệ số dùng để điều chỉnh mức chi trả dịch vụ môi trường rừng cho phù hợp với các đặc điểm về trạng thái rừng, loại rừng, nguồn gốc hình thành rừng và mức độ khó khăn, thuận lợi đối với việc bảo vệ rừng, đảm bảo cho việc chi trả dịch vụ môi trường rừng công bằng, minh bạch
Trang 172.4.2 Phương pháp thu thập số liệu
- Kế thừa kết quả theo dõi diễn biến tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp
để thống kê chủ quản lý, diện tích từng loại rừng có cung ứng dịch vụ môi trường rừng cho Nhà máy thủy điện Tuyên Quang
- Nghiên cứu hồ sơ xử lý những vụ vi phạm luật bảo vệ và phát triển rừng của lực lượng kiểm lâm để làm cơ sở đánh giá mức độ thuận lợi, khó khăn trong việc bảo vệ rừng
2.4.2.2 Phương pháp điều tra phỏng vấn
Thiết lập hệ thống câu hỏi phỏng vấn nhà quản lý, chủ rừng và đơn vị chi trả dịch vụ môi trường rừng về những nội dung liên quan đến quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng; phản hồi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng
2.4.2.3 Điều tra ngoại nghiệp
Điều tra độ tàn che, độ xốp của đất rừng và đánh giá cấu trúc tầng tán của rừng (đây là những yếu tổ có ảnh hưởng lớn đến môi trường rừng) trên cùng một trạng thái rừng theo các loại rừng (đặc dụng, phòng hộ, sản xuất) để làm cơ sở biện chứng cho hệ số K điều chỉnh mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng tương ứng với loại rừng được chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng, cụ thể như sau:
Trang 18* Điều tra độ tàn che: Điều tra theo tuyến từ trung tâm lô rừng theo 4 hướng khác nhau; các điểm điều tra trên tuyến cách nhau 1m; tại các điểm điều tra ta quan sát bằng mắt nếu tán rừng che hết ánh sáng cho điểm 1, tán rừng để lọt ánh sánh cho điểm 0,5 và khoảng chống không có tán rừng cho điểm 0; lấy giá chị trung bình của các điểm để tính độ tàn che
* Điều tra độ xốp:
Dùng ống dung trọng lấy mẫu đất ở tầng mặt tại một vị trí ngẫu nhiên ở trung tâm lô rừng Ở tầng đất mặt, cắt đất cho thật phẳng rồi đóng ống dung trọng theo hướng thẳng vuông góc với mặt đất Dùng xẻng lấy ống và đất ra (bẩy nhẹ) lau sạch đất bám xung quanh ống, dùng dao cắt đất ở 2 đầu ống dung trọng sao cho thật phẳng, sau đó cho đất đã đóng được ở trong ống cho vào túi nilon buộc kín lại
Xử lý mẫu đất trong phòng thí nghiệm để tính độ xốp; kết quả tính độ xốp được tổng hợp theo mẫu Bảng 2.1
Trang 19Kết quả so sánh những yếu tố về độ tàn che, độ xốp đất dưới tán rừng, mức độ cây tái sinh dưới tán rừng và cấu trúc tầng tán theo loại rừng là cơ sở biện chứng để tìm ra sự khác biệt về khả năng tạo dịch vụ môi trường của các loại rừng, thông qua đó xác định hệ số K thành phần theo loại rừng (đặc dụng, phòng hộ, sản xuất)
2.4.2.5 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu
a) Xác định lưu vực hồ thủy điện Tuyên Quang
- Sử dụng kỹ thuật GIS và phần mềm ArcGIS để tạo mô hình số hóa độ cao (DEM) từ bản đồ địa hình tỷ lệ 1/50.000
- Dùng máy định vị toàn cầu GPS xác định điểm đầu ra của lưu vực và nhập tọa độ đó vào máy tính, thể hiện nó trên bản đồ mô hình số hóa độ cao
- Sử dụng bộ công cụ "Hydrology" trong ArcGIS hoặc phần mềm mở rộng "Hydromodeling" cho ArcGIS để vẽ lưu vực tự động theo nguyên lý đường ranh giới lưu vực đi qua và vuông góc với đường phân thủy, khép kín tại điểm đầu ra của lưu vực
b) Xác định diện tích từng loại rừng và danh sách các chủ rừng có cung ứng dịch vụ môi trường rừng cho Nhà máy thủy điện Tuyên Quang
Ứng dụng phần mềm MapInfor để chuyển ranh giới lưu vực đã được xác định lên bản đồ số) diễn biến tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp năm
2010 Từ bản đồ số diễn biến tài nguyên rừng, sử dụng công cụ Export trong phần mềm Mapinfo để kết xuất dữ liệu sang dạng Table, sau đó chuyển sang Microsoft Office Excel để lọc dữ liệu, sắp xếp và thống kê diện tích rừng theo các loại rừng, chủ quản lý, trạng thái, nguồn gốc hình thành rừng của những lô rừng có cung ứng dịch vụ môi trường rừng cho Nhà máy thủy điện Tuyên Quang Kết quả tổng hợp về diện tích rừng theo mẫu Bảng 2.2, 2.3 (ở trang tiếp theo)
Trang 2017
BÀNG 2.2 BIỂU THỐNG KÊ DIỆN TÍCH CÁC LOẠI RỪNG THUỘC
LƯU VỰC HỒ THỦY ĐIỆN TUYÊN QUANG
Trong đó: phân theo các loại
Tổng rừng đặc dụng
rừng phòng
hộ
rừng sản xuất
Rừng tự nhiên Rừng trồng Rừng tự nhiên Rừng trồng Rừng tự nhiên Rừng trồng Tổng Trong đó:
Tổng
BÀNG 2.3 BIỂU THỐNG KÊ DIỆN TÍCH ĐẤT LÂM NGHIỆP CHƯA CÓ RỪNG
THUỘC LƯU VỰC HỒ THỦY ĐIỆN TUYÊN QUANG
Trang 21c) Xây dựng hệ số K điều chính mức chi trả ứng với lô rừng
Bản chất của hệ số K là là để điều chỉnh sao cho lô rừng tạo ra giá trị dịch vụ môi trường cao sẽ được trả tiền cao, lô rừng tạo ra giá trị dịch vụ thấp
sẽ được trả tiền thấp Vì vậy, ta sử dụng phương pháp so sánh và phân tích tổng hợp về khả năng tạo dịch vụ môi trường rừng, về mức độ khó khăn bảo vệ rừng để xác định hệ số K điều chỉnh mức chi trả tương ứng với lô rừng có cung ứng dịch vụ môi trường rừng cho Nhà máy thủy điện Tuyên Quang Các bước cụ thể như sau:
* Bước 1: Xác định hệ số K* thành phần theo từng yếu tố: (1) Trạng thái rừng (rừng nghèo, rừng trung bình, rừng giàu); (2) loại rừng (đặc dụng, phòng hộ, sản xuất); (3) nguồn gốc hình thành rừng (rừng tự nhiên, rừng trồng); (4) mức độ khó khăn, thuận lợi đối với việc bảo vệ rừng (yếu tố xã hội
và địa lý)
* Bước 2: Căn cứ kết quả xác định hệ số K* thành phần để xác định hệ số
K điều chỉnh mức chi trả cho lô rừng cụ thể Hệ số điều chỉnh mức chi trả dịch
vụ môi trường rừng tương ứng với lô rừng được chi trả, theo công thức sau:
K = K TrTh x K LR x K NG x K BV
Trong đó: - K là hệ số điều chỉnh của lô rừng được chi trả
- K TrTh là hệ số điều chỉnh theo trạng thái rừng
- K LR là hệ số điều chỉnh theo loại rừng
- K NG là hệ số điều chỉnh theo nguồn gốc hình thành rừng
- K BV là hệ số điều chỉnh theo mức độ bảo vệ rừng
Trang 22Chương 3 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI
KHU VỰC NGHIÊN CỨU
trong chiến lược phát triển
tổng thể kinh tế xã hội của đất
nước, là vùng có các khu phát
triển kinh tế cửa khẩu Hà
Giang và Cao Bằng; đây là một trong những lợi thế quan trọng, thuận lợi cho việc giao lưu phát triển kinh tế với các vùng trong toàn quốc cũng như phát triển kinh tế với nước ngoài
- Phía Bắc: Giáp Trung Quốc
- Phía Đông: Giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang
- Phía Nam: Giáp huyện các tỉnh Bắc Giang, Phú Thọ, Hà Nội
- Phía Tây: Giáp các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ
3.1.2 Địa hình, địa thế
Toàn vùng có địa hình phức tạp, bị chia cắt tạo thành nhiều sườn dốc và khe suối, có nhiều núi đá vôi, tập trung ở phía Nam và phía Bắc Độ dốc có hướng thấp dần từ Bắc xuống Nam Độ cao từ 300m đến 1.200m so với mực nước biển
Khu vực nghiên cứu
Trang 233.1.3 Khí hậu, thuỷ văn
Mang đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí hậu lục địa Bắc Á - Trung Hoa, có 2 mùa rõ rệt: mùa đông lạnh khô và mùa
- Tổng số giờ nắng tháng bình quân là 124 giờ, cao nhất trong tháng là
250 giờ, thấp nhất trong tháng là 40 giờ
- Tổng lượng bốc hơi tháng bình quân tháng 70 mm, tháng cao nhất là
95 mm, tháng thấp nhất là 40 mm
- Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.500mm - 1.800mm
Có hệ thống sông suối khá dầy và phân bố tương đối đều giữa các vùng:
- Sông Gâm bắt nguồn từ Trung Quốc chảy qua Cao Bằng, Hà Giang
và xuống Tuyên Quang; đoạn từ ranh giới tỉnh Hà Giang đến bờ đập thủy điện dài khoảng 40km; lưu lượng nước lớn nhất là 11.700 m3/s, lưu lượng nhỏ nhất là 128 m3/s
- Sông Năng bắt nguồn từ tỉnh Bắc Kạn, đoạn từ ranh giới tỉnh Bắc
Kạn đến vị trí giao với Sông Gâm dài khoảng 55km; lưu lượng nước lớn nhất là 10.500 m3/s, lưu lượng nhỏ nhất là 105 m3/s
(Nguồn số liệu: Niên giám thống kê của các tỉnh năm 2010)
Trang 243.1.4 Lập địa
Gồm có 5 loại đất chính: đất feralit màu vàng đỏ trên núi thấp, tầng đất có nhiều mùn; đất feralit màu đỏ vàng trên núi cao, tầng đất mỏng, có nhiều mùn; đất feralit màu vàng đỏ trên sườn đồi và chân núi, tầng đất dày,
có nhiều mùn; đất feralit màu sẫm chân núi đá vôi; đất phù sa, tầng đất dày
có nhiều mùn
(Nguồn số liệu: Bản đồ các loại đất năm 1990)
3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
- GDP bình quân đầu người đạt 3,9 triệu đồng/năm;
- Thu ngân sách từ kinh tế trên địa bàn 36,49 tỷ đồng (tăng bình quân giai đoạn 2006-2010 đạt 12,6%);
- Sản lượng lương thực đạt 25,5 vạn tấn;
- Lương thực bình quân/đầu người đạt 450 kg;
- Nhựa hóa tuyến đường quốc lộ 100%, nhựa hóa tuyến đường tỉnh lộ 85,12%, nhựa hóa tuyến đường huyện lỵ 70,5%, 100% các xã có đường giao thông đến xã
- Tỷ lệ dân số được sử dụng điện lưới là 83%,
- Số máy điện thoại bình quân/100 dân 23,97 máy,
- Tỷ lệ dân được phủ sóng phát thanh 90%, phủ sóng truyền hình 80%
(Nguồn số liệu: Niên giám thống kê của các tỉnh năm 2010)
3.3 Dân số, lao động
Dân số phân bố ở nông thôn chiếm 85,92%, thành thị chiếm 15,08 % Mật độ dân số bình quân 53 người/km2, so với cả nước 252 người /km2
Trang 25Có 24 dân tộc anh em sinh sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm 60,75%, các dân tộc ít người chiếm 49,25% Đây là một điểm đặc thù cần được quan tâm trong thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội, nhất là chính sách đối với vùng sâu, vùng xa, chính sách dân tộc nhận thức về phát triển kinh tế lâm nghiệp và trình độ canh tác cây trồng nông lâm nghiệp còn lạc hạn chế, do đó ảnh hưởng đến công tác vận động, thu hút các hộ gia đình làm kinh tế lâm nghiệp Hiện tượng khai thác, tiêu thụ lâm sản trái phép và du canh du cư, phá rừng làm nương rẫy còn xảy ra ở một số nơi làm ảnh hưởng xấu đến công tác bảo vệ và phát triển rừng
Số người trong độ tuổi lao động chiếm 62% tổng dân số toàn vùng, trong đó: Lao động nông chiếm 75%, lao động lâm nghiệp chiếm 17%, lao động thủy sản chiếm 5%, lao động công nghiệp chiếm 3%
(Nguồn số liệu: Niên giám thống kê của các tỉnh năm 2010)
3.4 Hiện trạng lâm nghiệp
3.4.1 Diện tích, cơ cấu từng loại rừng
Toàn vùng có 1.584.387 ha rừng, đạt độ che phủ 38,7%, trong đó có diện tích rừng tự nhiên 1.294.086 ha, diện tích rừng trồng 290.301ha; cơ cấu loại rừng như sau:
- Rừng đặc dụng (cơ cấu 20%) 316.877 ha
- Rừng phòng hộ (cơ cấu 30%) 475.316 ha
- Rừng sản xuất (cơ cấu 50%) 792.193 ha
(Nguồn số liệu: Công bố của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
về diện tích rừng trên phạm vi toàn quốc đến thời điểm 31/12/2101)
Trang 263.4.2 Công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng
Trồng rừng: Trong những năm qua, toàn vùng đã thực hiện có hiệu quả
các chính sách đầu tư, hỗ trợ phát triển lâm nghiệp, như chương trình 327, dự
án trồng mới 5 triệu ha rừng theo Quyết định số 661 của Thủ tướng Chính phủ, chương trình phát triển rừng sản xuất theo Quyết định số 147 của Chính phủ Kết quả năm 2010 trồng được 19.643 ha rừng (rừng sản xuất 11.065ha; rừng phòng hộ, đặc dụng 8.578 ha), khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên được 102.848 ha, tổng vốn đầu tư 392,8 tỷ đồng
Giao đất, giao rừng: Chương trình giao rừng được thực hiện từ những
năm 80 bằng sổ lâm bạ, và gần đây việc giao rừng được thực hiện theo chương trình RIDP, dự án 672 và giao theo chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng Kết quả đã giao được 1.043.755ha, bằng 65,9% diện tích rừng hiện (giao cho tổ chức 389.455ha, giao cho hộ gia đình 654.300ha); còn 540.632ha rừng chưa giao, chiếm 34,1% diện tích rừng hiện có
Bảo vệ rừng: Giao việc chuyên trách quản lý bảo vệ rừng cho lực
lượng kiểm lâm và các chủ rừng thực hiện là chủ yếu; những nơi rừng có nguy cơ xâm hại cao, thực hiện giao khoán bảo vệ rừng cho các hộ liền rừng bảo vệ; việc kiện toàn các ban chỉ đạo những vấn đề cấp bách về bảo vệ rừng, ban chỉ đạo phòng cháy chữa cháy rừng được kiện toàn, cùng cố hàng năm
Bố trí lực lượng bảo vệ rừng tại các địa bàn trọng điểm dễ xẩy ra khai thác rừng trái phép, tăng cường tuần tra bảo vệ tại các khu rừng phòng hộ, đặc dụng dễ bị xâm hại, thực hiện công tác bảo vệ rừng tận gốc theo đúng chủ trương kiểm lâm giao về địa bàn xã, thôn bản
Kết quả thống kê 3 năm gần đây (2008, 2009, 2010):
Trang 27- Diện tích rừng bị tàn phá trên phạm vị toàn vùng là 264,15 ha (rừng đặc dụng 1,8ha, rừng phòng hộ 2,2ha, rừng sản xuất 144,75ha);
- Có 8.282 đối tượng vi phạm (doanh nghiệp vi phạm 31, hộ gia đình và
cá nhân vị phạm 5.687, đối tượng khác 2.564);
- Số vụ xử lý hình sự 134 vụ, số bị can 98, số bị cáo 10;
- Lâm sản tịch thu 11.579 m3 gỗ (gỗ thường 10.133m3, gỗ quý hiếm 1.466 m3);
- Động vật rừng hoang dã bị tịch thu 419 con (19 con quý hiếm)
(Nguồn số liệu: Công bố của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
về diện tích rừng trên phạm vi toàn quốc đến thời điểm 31/12/2101)
Trang 28Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Lưu vực hồ thủy điện Tuyên Quang
Dùng định vị vệ tinh GPS để xác định tọa độ đập (điểm đầu ra của lưu vực) Thủy điện Tuyên Quang Sử dụng kỹ thuật GIS và phần mềm ArcGIS để tạo mô hình số hóa độ cao (DEM) từ bản đồ địa hình tỷ lệ 1/50.000 Sử dụng
bộ công cụ "Hydrology" trong ArcGIS hoặc phần mềm mở rộng
"Hydromodeling" cho ArcGIS để vẽ lưu vực tự động theo nguyên lý đường ranh giới lưu vực đi qua và vuông góc với đường phân thủy, khép kín tại điểm đầu ra của lưu vực Ta xác định được ranh giới lưu vực thuộc địa phận Việt Nam đi qua 4 tỉnh Tuyên Quang, Bắc Kạn, Hà Giang, Cao Bằng
- Lưu vực thuộc địa phận tỉnh Tuyên Quang: gồm 01 huyện (Na Hang) với 16 đơn vị hành chính cấp xã
- Lưu vực thuộc địa phận tỉnh Hà Giang: gồm 7 huyện với 77 đơn vị hành chính cấp xã
- Lưu vực thuộc địa phận tỉnh Bắc Kạn: gồm 6 huyện với 49 đơn vị hành chính cấp xã
- Lưu vực thuộc địa phận tỉnh Cao Bằng: gồm 3 huyện với 36 đơn vị hành chính cấp xã
Tổng diện tích tự nhiên của lưu vực là 1.331.092ha, trong đó: diện tích thuộc địa phận Trung Quốc: 580.810ha (chiếm 43,6%); diện tích thuộc địa phận Việt Nam: 750.282ha (chiếm 56,4%)
Cơ cấu diện tích lưu vực thuộc địa phận Việt Nam là: tỉnh Tuyên Quang: 126.019ha (chiếm 16,8%); tỉnh Hà Giang: 261.886 ha (chiếm 34,9%); tỉnh Cao Bằng: 200.559 ha (chiếm 26,7%); tỉnh Bắc Kạn: 161.818 ha (chiếm 21,6%)
Trang 29Đơn vị tính: ha
Tổng diện
tích
Thuộc địa phận Trung Quốc
Thuộc địa phận Việt Nam
Tổng số
Chia ra các tỉnh Tuyên
Quang
Hà Giang
Cao Bằng
Bắc Kạn 1.331.092 580.810 750.282 126.019 261.886 200.559 161.818
Bảng 4.1 Diện tích tự nhiên lưu vực thủy điện Tuyên Quang
Hình 4.1 Ranh giới lưu vực thủy điện Tuyên Quang
(thuộc địa phận Việt Nam)
TUYÊN QUANG
HÀ GIANG
CAO BẰNG
BẮC KẠN
Trang 30Hình 4.2 Hình ảnh 3D toàn bộ lưu vực thủy điện Tuyên Quang
Hình 4.3 Hình ảnh 3D lưu vực thủy điện Tuyên Quang
(thuộc địa phận Việt Nam)
Điểm đầu ra của lưu vực
Điểm đầu ra của lưu vực
Trang 314.2 Diện tích từng loại rừng có cung ứng dịch vụ môi trường rừng cho Nhà máy thủy điện Tuyên Quang
Sau khi đã chuyển ranh giới lưu vực sang bản đồ diễn biến 3 loại rừng (theo công bố của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về hiện trạng rừng trên toàn quốc đến thời điểm 31/12/2010) có đầy đủ các thông tin (tiểu khu, lô, loại rừng, trạng, chủ quản lý, địa giới hành chính); cắt bỏ phần bản đồ nằm ngoài ranh giới lưu vực Sử dụng công cụ Export trong phần mềm Mapinfo để kết xuất dữ liệu sang dạng Table, sau đó chuyển sang Microsoft Office Excel để lọc dữ liệu, sắp xếp và thống kê diện tích theo các loại, chủ quản lý
Kết quả tính toán, xác định được toàn lưu vực có tổng số 366.598 ha rừng thuộc lưu vực thủy điện tuyên Quang, trong đó:
- Diện tích rừng đã có chủ quản lý: 232.697 ha, chiếm 63,5% tổng diện tích có rừng toàn lưu vực: Đã giao cho 20 tổ chức (Vườn quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên, Ban quản lý rừng, Lâm trường, đơn vị vũ trang) là 174.842 ha; giao cho các hộ gia đình trên địa bàn 169 xã thuộc 4 tỉnh là 57.855 ha
- Diện tích rừng chưa có chủ quản lý: 133.901 ha, chiếm 36,5% tổng diện tích có rừng toàn lưu vực (hiện tại Ủy ban nhân dân 169 xã thuộc 4 tỉnh quản lý)
Kết quả tổng hợp diện tích rừng hiện có thuộc lưu vực thủy điện Tuyên Quang được tổng hợp tại Bảng 4.2; diện tích đất lâm nghiệp chưa có rừng thuộc lưu vực thủy điện Tuyên Quang được tổng hợp tại Bảng 4.3 Danh sách các chủ rừng là tổ chức và danh sách các xã có rừng thuộc đối tượng Nhà máy thủy điện Tuyên Quang chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng (được thống kê tại phụ biểu số 01 và phụ biểu số 02) có đầy đủ thông tin về diện tích, loại rừng, nguồn gốc hình thành rừng và trạng thái rừng, là cơ sở để thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng cho Nhà máy thủy điện Tuyên Quang
Trang 32Bảng 4.2 Diện tích các loại rừng có cung ứng dịch vụ môi trường rừng cho Nhà máy thủy điện Tuyên Quang
Rừng
TN
Rừng trồng Tổng
Rừng
TN
Rừng trồng
Bảng 4.3 Diện tích chưa có rừng thuộc lưu vực thủy điện Tuyên Quang
Trang 334.3 Hệ số K điều chỉnh mức chi trả dịch vụ môi trường rừng của
lô rừng được chi trả
Hệ số K là một giá trị bằng hằng số dùng điều chỉnh (hơn, kém) mức chi trả dịch vụ môi trường rừng và nó thay đổi theo khả năng tạo dịch vụ môi trường của rừng Rừng tạo ra giá trị dịch vụ môi trường cao sẽ được chi trả mức cao, và theo đó thì hệ số K đối với rừng này lớn; rừng tạo ra giá trị dịch
vụ môi trường thấp sẽ được chi trả mức thấp, và theo đó thì hệ số K đối với rừng này thấp Điều này không chỉ đảm bảo tính khoa học và tính công bằng trong chính sách chi trả mà còn nhằm định hướng những hành động nhằm tạo
ra những khu rừng tạo ra giá trị dịch vụ môi trường ngày càng tốt hơn
Theo Nghị định số 99 thì "số tiền được chi trả của một loại dịch vụ cho
chủ rừng được xác định bằng diện tích rừng có cung cấp dịch vụ của chủ rừng nhân với số tiền chi trả bình quân cho 1 ha rừng và nhân với hệ số chi trả tương ứng với chủ rừng", vì vậy chủ rừng có diện tích rừng tạo ra giá trị
dịch vụ môi trường ở mức cao nhất sẽ được trả tiền ở mức cao nhất (TMax) và được tính theo công thức: TMax = S x TBQ x KMax
Để thuận lợi cho việc tính toán, ta tính mức chi trả cho 1ha rừng tạo ra giá trị dịch vụ môi trường cao nhất (TMax) bằng 100% mức chi trả bình quân 1ha rừng và được tính theo công thức: TMax = S x (100% x TBQ)
TMax = S x 100% x TBQ TBQ x KMax = 100% x TBQ KMax = 1
TMax = S x TBQ x KMax
Trong đó:
- TBQ là số tiền chi trả bình quân/1ha rừng của toàn lưu vực do 1 đơn vị
sử dụng dịch vụ chi trả;
Trang 34- TMax là số tiền chi trả cho lô rừng có giá trị cung ứng dịch vụ môi trường cao nhất;
- S là diện tích rừng của chủ rừng được chi trả;
- KMax là hệ số điều chỉnh mức chi trả của lô rừng được trả giá trị cao nhất Gọi K* là hệ số K thành phần tính theo các yếu tố (hiện trạng, nguồn gốc hình thành rừng, loại rừng, mức độ khó khăn bảo vệ rừng) K*
Max = 1 Bản chất của hệ số K là để điều chỉnh sao cho lô rừng tạo ra giá trị dịch vụ môi trường cao sẽ được trả tiền cao, lô rừng tạo ra giá trị dịch vụ thấp sẽ được trả tiền thấp Vì vậy, ta sử dụng phương pháp so sánh để xác định hệ số K*thành phần và làm tròn 2 số lẻ, được thực hiện như sau:
- Bằng phương pháp kế thừa tài liệu, ta biết được giá trị cung ứng dịch
vụ môi trường rừng theo yếu tố lần lượt là MT1, MT2
- Giả thuyết là MT1 > MT2 Như vậy, lô rừng có cung ứng dịch vụ môi trường cao nhất (MT1) sẽ được trả tiền cao nhất và có hệ số K lớn nhất K1 = 1
Hệ số K2 đối với rừng có cung ứng dịch vụ môi trường nhỏ hơn (MT2) được xác định theo công thức sau:
Trang 35MT K
trạng thái rừng
Kế thừa kết quả đề tài "nghiên cứu lượng giá kinh tế môi trường
rừng và dịch vụ môi trường của một số loại rừng chủ yếu ở Việt Nam", do
Trung tâm nghiên cứu sinh thái và môi trường rừng - Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam thực hiện từ năm 2004 đến năm 2006 ; đề tài này đã ứng dụng phương pháp xây dựng mô hình SWAT (Soil & Water Assesement Tool), tạo ra những kịch bản để tính toán thiệt hại, đã lượng được giá trị của rừng trong hạn chế xói mòn đất và điều tiết nước của một số loại rừng
ở lưu vực Sông Cầu (Bắc Kạn, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc và Hà Nội); kết quả xác định như sau:
Bảng 4.4 Giá trị điều tiết nước và giữ đất của các trạng thái rừng tại lưu vực Sông Cầu (Kết quả nghiên cứu của TTNK Sinh thái và MTR)
Trung bình
Rừng nghèo
Rừng T.Bình
Rừng giàu
Rừng nghèo
Rừng T.Bình
Rừng giàu
Rừng nghèo
Rừng T.Bình
Rừng giàu Giá trị dịch vụ
Trang 36305.87
825
305.87
023
K
- K RTB: là hệ số điều chỉnh mức chi trả cho rừng có trạng thái rừng trung bình;
- K RNg: là hệ số điều chỉnh mức chi trả cho rừng có trạng thái rừng nghèo;
- MT RTB: là giá trị dịch vụ môi trường (bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ) của rừng có trạng thái rừng trung bình;
- MT RNg: là giá trị dịch vụ môi trường (bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ) của rừng có trạng thái rừng nghèo;
- MT RGi: là giá trị dịch vụ môi trường (bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ) của rừng có trạng thái rừng giàu;
Kế thừa kết quả nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu sinh thái và môi trường rừng - Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam tổng hợp tại Bảng 4.4, thay số vào công thức (2) ta có: