luận văn thạc sĩ, tiến sĩ, cao học, luận văn
Trang 3LOT CAM ON
Trong qué talnh thyc hen tuận văn này bền canh ay
nỗ tục cổ gẮng cha ban thân còn đượn 4 giúp a8 tận tình của thấu giảo huững dẫn khoa học P08.PTR,Phạm Chỉ Thành, các thấu cð tuong Bộ môn Sinh thá(-KhÌ tudng, các thấu cd trong Khoa Tx8ng trot và Khoa Sau đạt học
TôL xin chân thành cắm dn 4) giúp đŠ tận tình, qui bau cha thâu Pham Chi Thành và các thfy ch thong Khoa Tadng
taọt‡, Khoa Sau đạt học Thường Bạt học Nông Hghiệpn T-HÀ Nội
LÈ Thanh /#à
Trang 4Mỡ đầu
MYC LUG
Hoe ee ee he ee soe oe Phang
1.1 Tình hình nghiên øfu ngoà| nấu
1.2 Tình hình nghiên dúu trong niớni
Chương 2¡ Nội đụng và phương phdp nghiên du
2.1, Nghiên oúu đạo điểm oÁo tiểu víing 1Ãnh thẩ
Văn Yên ĐÓ ko Đa 6 8 kg
2.24, Nghiên dứu hiện trạng nñ dụnu đẤI È nào
tiểu vùng 1Ãnh thẩ
Van Yon eee ee ee ee
Chương 3: Kết quÀ nghiên cứu
3.1, Bậc điểm cÁo tiểu vùng lÃnh thẨ
3.1.1 Phân vùng lÃnh thỂ ee
3.1.3, Hiện trạng sÂn xuất lương thự ở cho ving
lÃnh thể huyện Văn Yên ' soe be ee ee
BỊ
60
B4
9Ị lol
Trang 53.2.0, Vấn để phát triển dây An quÀ l vũng hing
lũng đổi mằng Hồng Nam Van van
3.3 ‘thho luận
Tình hợp lý và khẢ nàng mở rộng
3.3.2 Vấn để sử đụng đất thoái hok
3.3.3 Vấn để thâm ơanh thay thể quẢng oanh
Trang 6Hồ bẦUu
Văn Yên thuộc tÌnh Yên Bái, nim đọc theo đôi bờ thượng lưu sông Hồng, phia tây bÁo giáp tỉnh Lào Cai, phía
Chấn (Ảnh 1)
Ảnh 1
người Việt cổ thuộc tinh Yon Bi, Cho xuong oft động vat
Trang 7Hùm (bục Yên), hang Thẩm thong (Vàn Chấn) Thạp đồng Bào
cùng thời vần hoÁ Bông Bơn oáoh đây 2000 nhàm,
Trang 8Hiện nay (1) Vẫn Yên có 79 697 dAn winh sống trên tổng điện tích 136 308 ha gồm 4 đân tộo chỉnh,
vùng thấp như Bông An, Làm Giang, Yên Hung, Hậu A, Mậu Bông,
Bông Cuông, An Thịnh, Bại Pháo, Yên Phú, Hoàng Thắng, Xuân
trang trại (Ảnh 4)
Ảnh 4i Mô hình trang trại nhà ông Phạm Hoài Thanh
ð xà Mậu A
Trang 9Dân tộc Dao cỗ 18 117 người chiếm 22,7% Họ sống
trên cáo triển núi, tập trung ð cáo xà Ngồi A, Quang Minh,
những rừng quế bạt ngàn Bản phẩm quế của người Dao xuất
trồng quế tạo ra hàng hoá đặc sân nên họ 4A có đời sống khá sung túc Nhiều hộ đà có nguồn thu trên ohụø triệu đồng năm
thêu thùa với nhỮng hoạ tiết hoa vĂn rẤt cấu kỳ BẠo biệt
Trang 10Ân mậơ những bộ quần áo đẹp nhất tham gia cho hoat động vui
choi nko nhiệt Nam nñ thanh niên tổ chức thành nhóm hát giao đuyên thâu đêm (Ảnh 5),
kinh nghiệm phát triển kinh tế trang trại (Ảnh 6), Vườn đổi gia đình theo hướng kinh đoanh tổng hợp mang lại hiệu quả
kinh tế cao
thất lưng vài gấp nếp và oũng đùng Áo ngắn khuy vÂi khĂn áo
của phụ nũ được thêu thùa gidn dj
Trang 11Người Tày ð VĂn Yên thích hát múa và sáng túc nên
tai và giặo ngoại xâm
Ảnh 1: Phụ nũ Tày
tập trung & cho xA Lang Thip, Md Vang, NÀ HỮU, Hiện nay
Trang 12đật vÀi, thêu thùa bằng sợi bông, lanh tụ trồng trên đất đôi nương Người phy nfl H'mông nào cũng mặc váy thâu hoa
van hoạ tiết sặc số uyển chuyển rất kỳ công (nh 8)
Ảnh 8: Phụ nữ H'mông
Người H'mông ð Văn Yên thường ăn tết cổ truyền vào
thanh niên tìm hiểu tổ tình đấn đến kết đuyên đôi lứa Khèn
đám cưới hoẠoc lẾ hội, thanh thiếu niên nam cũng như nữ
người H'mông rất thích thổi khèn nhày múa,
Trang 13Ngoài 4 đân tộo chính ở Văn Yên dòn có một gố đân
người sống tập trung ở xÄ Châu Quế Thượng
Tù điều kiện tụ nhiên và lịoh sử hình thành Văn Yên hiện có 7 128 ha đát nông nghiệp trong đó B2,4 là đất đốc
hiện đang làm nương rấy Văn Yên có 91 315 ha rừng tụ nhiên,
trong đồ cô 16 951 ha là rừng phục hi mau nương rấy Nếu
tính cẢ rừng nhân tạo thì Văn Yên có 30 951 ha (chiếm
cường độ cao để phục vụ cho nhu cầu cuộc sống của con người,
Trong quá trình khai thác đất đốc đÄ hình thành ở đây một số hệ thống canh tác tiến bộ, can được tổng kết để
từ điểm nhân ra điện và cũng không Ít những tổn tại cần có giải pháp khẮc phục Tù nhận thức trên chúng tôi đÄ chọn để tài của luận văn là: “Nghiên cứu một số hệ thống canh tÁc hiện có trên đất đốc ð Văn Yên tình Yên BÁI",
nghĩa toàn quốc vì mấy 18 sau:
- Bất đốc đang bị thoái hoÁ do chế độ canh tác
khăn
trường sinh thái bị phÁ hoại nghiêm trọng
Trang 14Mục đích của nghiên cứu 1À xây đựng cơ sở khoa học
hiện có ở Văn Yên nhắm tìm ra ưu khuyết điểm ota ting he
thái,
Trang 15~ 10 ~
Chương 1 - TÌNH HÌNH NGHIÊN CỦU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỬU NGOÀI NƯỚC ' Khoẳảng 10 000 năm trước đây, với sy thuần hoÁ cÂy trồng và vật nuôi, nền nông nghiệp đà thục sụ hình thành ở
: vùng nhiệt đới Ẩm Bông - Nam A (& Việt Nam tương ứng với
giai đoạn của văn hoÁ Hoà Bình - BẮc Bơn) Theo sy phat triển của lịch sử nông nghiệp, vai trò sinh thái của con
người đà thay đổi, giữ vị trí thống trị trong chc hé sinh
thái [91, 93]
8au thế chiến thứ II, với sụ tiến bộ của các lục lượng KỸ thuật mới và trước súc ép của sụ gia tẦng đân số (cà về số lượng cũng như nhu cẩu sống), cuộc cách mạng nông
nghiệp lần thứ hai đã bắt đầu Con người không còn đơn giản
đụng và đuy trì các hệ sinh thái mà đựa vào đó con người
tiếp tục tồn tại (Rombo, 1984, 1991) [90, 94]
Sụ thay đổi mà cuộc cách mạng nông nghiệp lần thứ
hiện trước hết & việc mở mang điện tích trồng chy nông nghiệp trên đất bẳng và sau đồ là trên đất đốc, với biện
điện tích Bông - Nam A (Mayers, 1990; Rambo, 1984) [94]
Trang 16- 11 -
tích đất đai được khai phá của toàn thể giới và nuôi sống
E., 1985) [82, 83] Người ta ước tỉnh ở khu vực châu Á -
rừng, với việo biến đất rùng thành đất nông nghiệp thng với
Mỹ nhiệt đới và châu Phi [B4, 85, 87]
Phương thức canh tác này gọi lÀ “hay" ở Lào,
8rilanoa, "Milpa" & Mexico, "Rosa" & Trung Mf, "Chaco" &
agriculture" - nén néng nghiệp chật và đốt dân đây thuật ngủ "swiđđen agroecosystem" được sử đụng ngày một rộng rỗi
Trang 17ơn mưa đầu mùa NhŨng thân ody chảy đổ 'được don dep ra ria cáo vạt đất, vừa làm đường biên của nương rẩy, vừa làm hàng rào bẢo vệ, vừa là nơi đụ trủ củi đốt cho cÀ một mùa rấy Phương thức gieo trồng là chọc 16 bé hat Ở châu Phi, những
hố to được đào bằng cuốc chỉ để trông những loại cÂy lấy củ
1 4 lần thu hoạch, nương rấy được để hoang cho tái sinh rùng tụ nhiên Bay là phương thức đu canh phổ biến khắp
vùng nhiệt đới,
Du canh cũng là phương thức sân xuất ở vùng savan,
rể cô và đốt, sau đó từng hố đất chiêu sâu khoẢng 50 cm được đào bằng cuốc Một loại khoai được trồng vào những hố
này được thu hoạch và ngũ cốc, đậu đố được gieo trồng thành
cho cô tái sinh, chiếm uu thé là cổ tranh (Impereta
cylindrica) Thudng mối chu kỳ như vậy kéo đài 10 năm [95]
Du canh ở savan được phân biệt với đu canh ở vùng
Trang 18- 13 -
rừng theo 4 đặc điểm:
trình đi chuyển rể thục vật, đào hố và đánh luồng;
- Thờ‡ kỳ trồng cấy lâu hơn;
mòn rất lớn;
- Cổ đại là trở ngại lớn
Du canh được thục hiện ở những vùng có lượng mưa
không thể đốt được (như vùng bờ biển Thái Bình Dương của
Colombia) thì thâm thục vẬt sau khi phát sẽ được đùng để
hoá kéo đài tit 10-30 năm Nó cổ ưu điểm rỗ rật là tiết kiệm
(1975) cho rằng tỈ số giỦa năng lượng sÂn xuẤt trên năng
lượm: 40-50 lần, trong khi ti mố này ð nến canh tác hiện đại chỉ là 0,2-0,3 Còn số nằng lượng cẩn để sÂn xuất ra 1
trong khi các chỉ tiêu này của kỷ thuật canh tác lúa thâm
canh là 0,2; khoai tây 0,3; đậu tương 0,4; nuôi gà thâm
canh 3; nuôi bò cho ăn hạt 15 v.v (Steinhart, 1974) [29]
Trang 19- 14 -
Rappapert cho th&y ở New Guinea thu được 16 calo thực phẩm cho 1 calo chỉ phi; tuy nhiên, nhiều người tổ ra nghi ngờ tỉnh thuyết phục cả việc tiết kiệm năng lượng này Rambo (1982) đã chỉ ra rằng, những tính toán trên đã bổ qua giá trị năng lượng to lớn trong sinh khối rừng nhiệt đới khi bị
trong thức ăn Thật 1À một sụ lẫng phi, nếu so với những
tinh toán của Stemhart (1974) khi ông tính toàn bộ nằng
2-10 calo năng lượng hoá thạch để cung ofp 1 calo thục phẩm
rộng trên các sườn đốc, đòi hổi phải có sụ cung cấp năng lượng và vật chất to lớn từ bên ngoài, vì thường phải mất
sụ chỉ phi năng lượng vượt quá khẢ nẵng của số đân hiện
đang sống trên vùng đất đốc
Canh tác nương rấy đà phá vŠ những cân bắng của các
hệ thống đang tổn tại bến vũng trong trang thai climatic Climax ở vùng nhiệt đới ẩm, đến tới nhiêu tác động tiêu cục
Trang 20- 18 -
đụ tr trong mùa khô bị suy gidm Sy gia tăng quá đáng mức
độ xói mòn và bồi lấp cÁc công trình thuỳ lợi là nguy cơ
protein đo đã tàn phá nơi sinh sống của thú rừng Một sụ lo
hàng đầu cho sụ ổn định của các hệ sinh thái vùng nhiệt đới
(Myers, 1979) [86] Sy thay thế rùng bằng những vụ cAy trồng ngắn ngày còn đấn đến thay đổi khi hậu cục bộ, rổ
nhất là làm tăng nhiệt độ, nhưng lại làm gidm độ Ẩm trong
các hạt vật chất nhỏ trong khi quyển Root (1976) đã so sÁnh
chúng như các hoạt động công nghiệp và là một nguồn quan
Trang 21~ 16 -
người định cư Thiên chúa giáo với nhng người Hổi giáo ở
Mindanao (Philippin) [67] Thậm chỉ, nơi mà quá trình mở
Malaysia, thì những cái giá về mặt xÄ hội thường cao (Rambô,
1982) Một sụ lo ngại đặc biệt vấn là sụ phụ thuộc nặng nể
của người định cư vào chính phủ (Rokiah, 1988), tỉnh chất
để bị tổn thương tăng lên đối với những đao động của thị trường, cũng như tình trạng giằm sút nghiêm trọng về văn
hoá, y tế và đỉnh đưởng (Meade, 1986) Nhiều tác gid 4&
công bố những công trình nghiên cứu về sử đụng lâu bền tài nguyên đất đốc ð các khia cạnh khác nhau [66,68 - 70] vi
đụ như nhưng thay đổi các tỉnh chất vật lý của đất trong hệ
đổi gây lên bởi phát rấy, đốt, gieo trồng và tái sinh rừng
Nhiệt độ không khí trên rừng nhiệt đới bị đốt đạt
450 - 650°Œ,- cách mật đất 2 cm Nhiệt độ giầm với sụ khác
biệt khodng 100°C/cm đưới đất ở độ sAu đến 5 cm 8ụ thay
đổi nhiệt độ đất trong quá trình đốt phụ thuộc vào cường độ
và độ đài thời gian đốt
Bổ thị đưới đây chỉ nhiệt độ đốt ôn hoà, đốt mạnh và
xung quanh đống đốt Ở đây vật liệu được đốt trong nhiều
trong phương thức đốt ôn hoà và đốt mạnh, còn đốt theo đống
nhiệt độ tăng lên đáng kể Bau khi đốt xong, những vùng phát rấy có nhiệt độ trung bình của đất và không khi cao
Trang 22đất Alfisol & Ban Pa Paes, Thái Lan (theo Zinke,
1970)
tối đa tăng tù 25 - 32”C sau đốt rấy ở Thái lan Nhiệt độ đất tối đa tới độ sâu 7,5 cm, tăng th 27 - 38°C sau đốt rấy
(Cunningham, 1963) Các nghiên cứu ở Naon Xenegan cho thấy
rùng đã làm giảm nhiệt độ tối đa hàng ngày xuống tới 8”, và làm giảm biên độ nhiệt hàng ngày xuống tới 10°C so với đất
nương rấy
Do có nhiều tro trên bể mặt đất, nên tầng đất mặt
có màu sắc thay đổi, nhất lÀ khi có thành phần cát cao
es
được những mấu tro =h đất Peru re 18 năm để rừng tái
Trang 23- 18 -
sinh
Guatemala, chi cb 4% téng bức xạ mặt trời đạt tới mặt đất
xây ra với tốc độ nhanh
Khi nương rấy để tái sinh rùng, nhiệt độ đất sễ giằm Snedaker cho biết trong vòng nằm thứ nhất để tái sinh rùng, bức xạ mặt trời đạt tới bể mặt đất giâm 35% so với
khi phát rẩy Chế độ ẩm đất cũng thay đổi khi rừng bị phát
Greenland (1974, 1977, 1980) [68 - 70] cho biết thẳm rừng
già 40 năm ở Ghana đã chắn và làm bay hơi 16§ tổng lượng
thẲng xuống mặt đất và lượng bay hơi tầng cao, cac thi nghiệm ở Thailand cho thấy, lượng bốc hơi tăng 8 lần hàng
ngày
Trong canh tác nương rẩy, quá trình rửa trôi và xói
và cường độ mưa Lebuanec (1982) đả công bố tình trạng rửa
trôi và xói mòn trên đất có thành phân cơ giới nhẹ ở TâÂy Phi sau khi phát rẩy Lượng d&t bị xói mòn đạt đến 115 tấn/ha/năm ở đất cày không bảo vệ và nàng suất cây trồng giÂm khoảng 50% Một vài tác giả khúc cho biết, nếu không
Abidjan, 461 véi những đốc đài 15 m, có độ đốc 20% thì
Trang 24- 19 ~
(Fournier, 1973) [68 - 70]
Có thể kết luận là, hiện tượng xói mòn nghiêm trọng
Những thay đổi ckc chất đỉnh đường trong canh tắc
trên đất đốc:
một lượng tro lớn
8ụ giảm sút về độ phì hoÁ học đất, các nhà nông học thường chú ý trục tiếp đến:
- Ảnh hưởng của nhiệt độ cao đối với sự khoáng hoá
va sy tổng hợp chất hữu cơ của đất
- Tác động của nước thấm đối với sụ rửa trôi có chọn lọc các chất khoáng
Ai cũng biết rằng, tốc độ các phần ứng hoá học tăng
Trang 25- 20 -
` mưa nhiệt đới với cường độ mạnh đÄ mang theo những nguyên
tố khoáng, kéo chúng xuống đưới sâu, vượt ra khỏi tâm với
của rể cây hàng nằm
Người ta nhận thấy tình trạng nghèo chất hod hoc
đo sụ rửa trôi ð vùng nhiệt đới rất khác nhau tuỳ nơi, chúng đặc biệt cao ð vùng nhiệt đới Ẩm hay xích đạo chẲng hạn đưới rùng chuối ở Azaguie, nếu tổn thẤt về canxi tương
tụ nhưng ở Versalless (Pháp) thì tổn thất về đạm cao g&p 5 lần, về magiê gấp 11 lần, về kaly 74 lần
Các tầng đất trên mặt bị nghèo đi một cach liên tục
về cation, nhất là ca'” và Mg'” đo cơ chế rửa trôi, nếu
rùng cây thân gố) hay nếu đất không được bón phân Tình hình 46 làm cho đất khó tránh khỏi bị acid hoá đẩn
Các nghiên cứu trên đất đốc ð Châu Phi và Ấn Bộ còn cho thấy, bất kể bản chất của đá mẹ như thế nào, phần lớn những phấu điện đất sắt nhiệt đới và ferralitic của vùng nghiên cứu đều có tầng mặt nghèo sót, uu thé cha kaolinit trong phần sét của những đất này cũng là một sụ kiện phổ biến Đương nhiên, những nhận định chung trên đây phải mang
ưu thế trong phần sét thì khẢ nằng trao đổi sễ yếu, thường
đưới 200 mg Pz0s tổng số trong 1 kg đất và đưới 20 mg Pz0s
Trang 26- 21 -
bắt đầu lộ rõ
Trong trường hợp trồng cây hàng năm trên đất đốc,
liên tục làm đất bị kiệt màu nhanh chóng nếu đất không được
xuyên, trong trường hợp này đạm va lưu huỳnh bị mất nhiều
các nguyên tố hoà tan bị cuốn xuống sâu nhiều hơn so với đất bổ hoá, ở đất bổ hoÁ lại nhiều hơn đất rừng (Hueber,
nghiệp hay bổ hoá chỉ đạt 2 - 3 t/ha
cho biết trọng lượng tro trung bình ở 64 điểm 1À 4 tấn/ha Lượng này tương đương với khoảng 70 kg N, 14 kg P20s, 45 kg Ka0/ha và 240 kg vôi đolomit/ha
Bằng: Thành phần nguyên tố của tro và những sản phẩm
chây đỡ và các chất đỉnh đưổng tổng số cung cấp
cho đất sau khi đốt rừng thứ sinh 17 tuổi & Peru
Nguyên tổ $ thành phân Lượng phân tổng số (kg/ha)
N 1,72 % 67,0
P 0,14 6,0
Trang 27không phá huỷ chất hữu cơ đất Nhiệt độ đất trong khi đốt không đủ cao để đốt cháy, loại trừ việc đốt lại theo từng đống NhŨng nghiên cứu của Nye va Greenland (1964) & Ghala
vA Seubert & Peru cho th4y, sau khi đốt hàm lượng C hữu cơ
đỡ Ở những nơi giảm C hữu cơ đột ngột chắc chắn có liên
quan tới xói mòn tầng mặt Theo Lauđelot (1965) cho thấy ð øaire sau khi đốt quá trình phân giải chất hủu cơ xẩy ra mạnh mỗ đo việc tăng hoạt động của các quần thé vi sinh vật
Trang 28có sụ gia tăng nhổ C
khi đốt r&y và duy trì chiều hướng này
sau khoảng 4 tháng
Hình 2 cho thấy
sụ thay đổi Cc hữu cơ
ð tầng đất mặt của hai loại đất 0xisols trong 5 nằm trồng cấy liên tục sau khi đốt rấy & Sierra Leone
Về sụ thay đổi độ chua của đất, người ta thấy pH đất tăng sau khi đốt và giÀm đẩn theo thời gian do rửa trôi các bazơ Bộ lớn và tốc độ những thay đổi này khác nhau phụ
thuộc vào tiên chất đất và chất lượng tro Ở đất Alfisol
Trang 29- 24 -
của Ghana, Nye và Greenlan thấy pH tang tu 5,2 - 8,1 ở tầng đất mặt (0 - 5 cm) ngay sau đốt và giảm xuống 7 sau 2 năm Trị số pH ở tầng 5 - 15 và 15 - 30 cm tầng tu 4,5 - 6,2 sau đốt rấy và giằm xuống 5 sau 2 năm
Brinlmaun (1973) thấy pH ở đất Latosols màu vàng (Oxiol) tầng đất mặt tăng tù 3,8 - 4,5 sau khi đốt và giảm nhanh tới trị số ban đầu khoảng 4 thắng
Hình 3: Sụ thay đổi pH ð những độ sâu khác nhau
Năng suất cây trồng trbn đất đốc (nương rấy)
đỉnh đưởng để tiêu trong năm đầu Sau đó nẵng suất cây trồng giảm dần và phụ thuộc vào những tỉnh chất đất, hệ
Trang 30- 25 -
Watters (1971) cho thấy năng suất ngũ cốc gidm 50 § vào năm
năm gieo trồng liên tục cây trồng vấn cho năng suất bình thường 8ố liệu thi nghiệm ð nhiều nước trên thế giới trên đất có độ no bazơ cao và pH = 6 cho thấy ð nằm thứ 4 và thứ
6 gieo trồng liên tục, năng suất cây trồng giâm 50% Trong một số trường hợp, sau 8 - 15 năm, nàng suất vấn chưa giằm tới 80%, điều này phụ thuộc vào khi hậu, tình trạng sâu
bệnh
Ngược lại ở những đất cô độ no bazơ thấp thì năng
suất cây trồng năm thứ 2 giâm 30% so với năm đầu
lớn tới việc giảm năng suất Các nghiên cứu lâu năm của Nye
va Stephers & Ghana và Nigeria cho thấy, nẵng suất cây
ở vùng rừng có chế độ khô 90 ngày và 180 ngày/ nằm (Ustic)
Hình 5 biểu điển những kết quà thục nghiệm lâu năm
& ving savan usitic chi sau 10 - 15 nằm, năng suất cây trồng ở vùng này mới giảm 50% nơi mà độ Ẩm chỉ cho phép cấy
1 vụ/năm 8ụ giảm năng suất nhanh ở những nương rấy rừng có
lỗ đo nhiều chất đỉnh đưởng được giẢi phóng ra khi phát
và đốt nương rẩy, còn ở savan thì chất đỉnh đưởng giÃi phóng
ra Ít hơn, nên độ phì của đất mất Ít hơn.
Trang 31`» tục sau khi phát rấy rùng
Thời gian sau phát rấy
Hình 5:
Năng suất khi gieo trồng
liên tục ở thời gian đài ở vùng savan, Nigeria
Trang 32- 27 -
Trên nương rẩy, thường người ta không gieo trồng độc canh một loại cây liên tục, mà thường trồng gối, trồng
thường theo 2 nguyên tẮc:
- Cây trồng năm đẩu là những loại đòi hồi nhiều chất đỉnh đưởng như ngủ cốc, sau đến loại cây cần chất đỉnh đưởng Ít hơn, để tỉnh hơn (như sắn)
theo công thức: ngũ cốc - sắn - mÄ đề Những cây trồng Ít
hiệu quà hơn thường là các cây lâu năm, nên để đâm nhiệm
được vai trò thục hiện chu trình đỉnh đưởng cải tạo đất,
thảo, đù đó là cây trồng hàng năm hay cây cổ mọc trên đất
bổ hoá Việc phá rùng nhất thiết kèm theo sụ suy thoái về toàn bộ các tính chất vật lý, hoá học và sinh học của đất, một sụ đảo lộn về chế độ nước và nhiệt của đất, tình trạng
xói mòn nghiêm trọng hơn Tuy nhiên, đô lại là việc mở đầu không thể thiếu được để khai thác và sử đụng đất một khi áp
lục đân số và nhu cầu lương thục là nhũng vấn đề phải đối mặt hàng ngày của các cộng đồng sinh sống trên vùng đất đốc
3ailly (1973) đà coi việc phá rừng là một "điều xấu
Trang 33- 28 -
thống canh tác cạn trên đất đốc cho phép trì hoắn nhịp độ thoái hoá đất sau phá rùng, và nếu có thể được xoá bd hay
đất đốc, trong khi canh tác nương rẩy như một tập quán canh tác truyền thống của nhiều cộng đồng người mà các chỉnh phù
không thể loại trừ ngay bằng chính sách ở thái cục này hay
sinh thái, tù lâu người ta đã nghiên cứu nông nghiệp như là
ra nhiều mô hình nông nghiệp phát triển bền vŨng ngay trên đất đốc, sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường
[56,80]
Cải tiến canh tác trên đất đốc
Tù "cải tiến" ð đây không bao hàm ý nghỉa những
phương pháp canh tác mới, hiện đại được coi là tiến bộ hơn các phương pháp canh tác cũ "CÀi tiến" được hiểu là hợp 1í hơn, lâu bền hơn với điều kiện môi trường
Hãy quan sát cách chặt và đốt của người làm nương rấy: người ta tiến hành phát vào đầu mùa khô ( với cây to
họ có thể giết chết cây bằng cách vạt một khoanh vỏ, khi
cây đã chết khô, người ta đốt nó một hay nhiều lần thành
gây trở ngại lớn cho việc canh tác bằng máy Nhưng nổ có lợi là không xáo trộn đất quá nhiều, bÀo vệ một phần cấu tượng và chất hữu cơ của đất, không gây thiệt hại quá nặng
về xói mèn Còn việc khai hoang của chúng ta thì s 2? chúng
Trang 34- 29 -
ta hạ cây bằng những máy đào đất lớn, rổi xếp cây thành
đống để đốt Những lưổi đào của máy bới đất rất sâu để cắt
và nhổ rể lên, công việc này làm cho đất bị xáo trộn hoàn toàn, cấu tượng bị phá huỷ một cách thô bạo, đất bị xói mòn
mạnh
Nye va Greenland phan đối việc tập hợp đất trồng thành nhỮng khoảng rộng liên cánh [68,81] Cách này rất nguy hiểm, đù là độ đốc nhỏ Nên để các mảnh đất trồng biệt lập với nhau bởi những bằng đất bỏ hoang Cần chú ý một số
điểm:
và đường đi lại
- Trồng thành băng xen kể theo đường đồng nước, xen
kể giữa cây trồng để hở đất, cây trồng phủ kín đất và cây
trồng có chu kỳ canh tác khác nhau
Người ta để thí nghiệm thành công ở Man-gắt, Xe-ne-gan, Bờ biển Ngà, bằng các bằng cÁch ly (để cây cổ mọc tụ nhiên rộng chừng 2 mét trên đất có độ đốc không lớn
E21
Ý kiến về làm đất trên đất đốc vùng nhiệt đới còn
chưa thống nhất Có người gọi cái cày ở đây là "công cụ phá
xói mòn trở nên nghiêm trọng hơn, có thể là:
- Hướng đường cày sai (theo chiều đốc)
- Phân chia các thửa đất quá lớn và không đúng
hướng
Trang 35- 30 -
- Làm đất quá mịn đo cày lúc độ ẩm đất không phải ở mức tối ưu, hoặc đo cày lại để chuẩn bị lớp đất mặt gieo
- Bất để trống quá lâu sau khi cày
Các thi nghiệm ð Nam Xé-né-gan đã chứng minh ngược
lại: người ta đã cho thấy tác đụng của việc cày trên đất trọc, đất có cày bị xói mòn Ít hơn đất không cày 3 lần (6,5
t/ha và 18,1 t/ha) Chứng tổ việc cày đà có tác đụng trục
triển của cây và sụ che phù đất, hoặc do cÀ hai tác đụng
vệ đất Người ta cũng cho thấy, cây ngũ cốc (nhất là cây lạc) giữ gìn phẩu điện đất canh tác đo việc cày tạo ra tốt hơn các cây trồng khác Bộ sâu cày, độ ẩm đất, thời vụ cày, hình thù thửa đất là những nhân tố quan trọng đối với sụ
thành công của việc cày Tốt nhất 14 nén 4p dụng biện phấp
làm đất mà không lật đất (cày giÀ) Về chăm sóc cây trồng,
nên hạn chế số lần xới ở mức thật cần thiết để chống cổ đại,
và chỉ xới khi đất không quá ẩm
Ở những nơi không có điều kiện để kéo đài thời gian
bỗ hoá, phục hồi đất, nên:
- Sử đụng phân bón (phân hữu cơ và phân khoáng)
- Cày vùi và hoàn lại cho đất nhưng xác thục vật đã
Trang 36- 31~
ảnh hưởng lớn đến sụ tiến hoá của đất và sụ tiến triển của năng suất, trong đó việc luân canh cây họ đậu và cây ngũ cốc được quan tâm nhiều nhất, nhưng những điều giải thích
về những hiện tượng này còn vụn vặt VÌ 18 ấy, nhŨng kết quả
cách thiếu thận trọng
biết rằng năng suất cây trồng thu được cục kỳ thấp, biến
đối với sắn Ö nhiều nước như BÌ, Zara đã hướng đẩn tiến
hành đu canh cho nhũng vùng không đông dan cu
Người ta chia đất đai ra những hành lang rộng
khoảng 100 m theo hướng Bông - TÂY, mối hành lang được phát
rấy hàng năm và 2 bên của hành lang canh tác này vấn được tiếp giáp với hai hành lang bổ hoang cho rừng phát triển, Tổng số năm gieo trồng cộng tổng số năm bồ hoá quyết định
số lượng các hành lang trong một địa vị quân lý Thí dụ ở Zare, cứ 3 năm canh tác, 12 năm bồ hoá, và như vậy sẽ có 15
hàng lang [29]
Tiến bộ của hệ thống canh tác hành lang là kiểm tra
tỷ lệ gieo trồng/bở hoá Những hành lang rừng là nguồn những hạt giống để tái sinh rừng và chống xổi mòn Nhược
điểm là đòi hỗi dân số phải không quá đông.
Trang 37Chie thea Ad gla ash
Giai đoạn trung gian giủa du canh và canh tác liên tục thường tồn tại chung với du canh, được gọi là hình thức canh tác bán định canh Đặc điểm của hệ thống này là có tỷ
lệ rất hẹp giũa trồng cấy và bd hoá cùng với việc bỏ hoá
làm đồng cô trong thời gian ngắn để chăn nuôi động vật Hệ
thống này thường tổn tại ở nhủng đất tương đối phì nhiều
hoặc những đất được bón phân động vật liên tục và những sản
phẩm thừa của sinh hoạt
Nó gồm những cây lưu niên và cây ăn quả gần nhà (1); (2)
Tiếp đến là bán định canh những cây trồng chủ yếu (3) hay
nhũng ruộng bỏ hoang làm đồng cỏ chăn nuôi và cuối cùng là
đu canh thục thụ
Trang 38- 33 =
Sơ đồ bố trí không gian
của canh tác liên tục, bán định
lang & Senegal, theo Rutheuberg
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CÚU TRONG NƯỚC
Trong lịch sử cũng như hiện nay, hai hình thái canh
tác cơ bản của các đân tộc Bông NamA (trong 46 có Việt Nam) là làm ruộng trên đất thấp và làm rấy trên đất đốc
cho rằng làm rấy là loại hình canh tác có trước vì người
hành sản xuất họ phải khai phá đát rừng, biến các khoảng
rùng thành các mảnh nương Bố là giai đoạn "rừng nuôi
người", giai đoạn canh tác theo kiểu "chặt gốc ăn ngọn Loại hình canh tác nương rấy lúc này không phải là hành động "phá" rùng mà là hằnh động chỉnh phục rùng (Lê Sỹ Giáo, 1990) Nhiều nhà nghiên cứu đân tộc - thục vật học đã gọi
vì chắc chắn là nhũng mảnh rừng đầu tiên được khai phá là
Trang 39- 34 -
để trồng các cây ci - quả (bầu bí, khoai sọ ) Bối với những cư đân sinh sống bằng loại hình canh tác nương rẩy, qua kinh nghiệm hàng ngàn năm của mình đã tạo ra thế ứng sử
hợp lý với đất rùng VẢ dy: cây gậy chọc lế để tra hạt,
đưới góc độ bảo vệ độ phì đất là sự thích ứng hợp lý hơn là
cẩy lật đất Có tác giả đã tính toán và thấy rằng trên
chì là 4 - 5 ha Hiện tại chúng ta chưa có số liệu chỉnh xác nhưng chắc chắn là trên 1 km’ ring, điện tích canh tắc
thường xuyên lớn hơn nhiều (Lê Sỹ Giáo 1990)
6 Bong Nam A va Vit Nam, mảnh vườn trên đất đốc xuất hiện khá muộn Dù muộn mắn, mảnh vườn cũng đã hình thành và ngày càng xác lập được vị trí của nó đưới đạng vườn nhà và vườn rừng Rỗ ràng là sự hình thành của mảnh
vườn được xác định đo sụ suy giằm các nguồn lợi tụ nhiên
(73,76)
(56,28 điện tích đôi núi có độ đốc trên 20°) [37,51]
Bất thuộc vành đai Feralid điển hình chiếm xấp xÌ 17 triệu
ha [29] Như vậy là, đất lâm nghiệp chiếm gần 60% lãnh thổ
với 24 triệu người nhưng tỷ trọng ngành lâm nghiệp chỉ chiếm
3,8% tổng sản phẩm xã hội; 5,18 thu nhập quốc đân và mới thu
hút 5$ lao động xã hội (Phan Thanh Xuân, 1992) Theo Bùi Ngô Song, năm 1987 chúng ta có khoảng 1,5 triệu người sống
Trang 40- 35 -
du canh và trung bình sau 20 nằm vận động định canh định cư,
hàng năm mối người sống đu canh đã chật và đốt 1 ha rừng Theo số liệu của Tổng cục thống kê thì đến năm 1989, chúng
ta có khoằng 680 ngàn ha nương rấy (trong đồ có 370 ngàn ha
nương lúa đu canh, nằm 1983 là 43 ngàn ha Bến năm 1992, chúng ta có Ít nhất 1,16 triệu ha nương rấy, hơn 3,1 triệu người có cuộc sống phụ thuộc vào nương rẩấy Hiện đất có
rùng của chúng ta chỉ còn 9,3 triệu ha, trong đồ rừng giầu
và trung binh 14 10% [44,54] Diện tích đất trồng 10 triệu
ha (29% điện tích lãnh thổ - Xin luu ¢, theo số liệu của IRRI thì con số này là 14,8 triệu ha, còn theo Trần An Phong (1993) là 13,5 triệu ha), phân bố trên 331 huyện Một
xu thế nguy hiểm là: tình trạng mất rùng ngày càng nghiêm
tài liệu cho rằắng số liệu này là 19,7%) thấp hơn rất nhiều
so với mức an toàn sinh thái Vùng Tây bắc còn 10% che phổ,
trong đồ chỉ có 28 là rùng (Bùi Quang Toằn, 1992) [45] Mất
rùng đo mở rộng điện tích trồng cây nông nghiệp, trong 46 chủ yếu trồng cây lương thục Nhưng suất trong 10 nam qua, lương thục được đưa từ miền xuôi lên miền núi không ngừng
gia tăng: 170 ngàn tấn năm 1980, 250 ngàn tấn nằm 1985 và
450 ngàn tấn năm 1990