1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) nghiên cứu đặc trưng lâm học của một số loài cây gỗ trồng rừng phòng hộ tại huyện trảm tấu, tỉnh yên bái​

142 89 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • LỜI CAM ĐOAN

  • LỜI CẢM ƠN

  • MỤC LỤC

  • DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ TỪ VIẾT TẮT

  • DANH MỤC CÁC BẢNG

  • MỤC CÁC HÌNH

  • ĐẶT VẤN ĐỀ

  • TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

    • 1.1. Trên thế giới

      • 1.1.1. Những nghiên cứu về cấu trúc rừng

      • 1.1.2. Những nghiên cứu về sinh trưởng rừng trồng hỗn loài

      • 1.1.3. Những nghiên cứu về các loài cây gỗ đề tài nghiên cứu

    • 1.2. Ở Việt Nam

    • 1.2.1. Những nghiên cứu về cấu trúc rừng

      • 1.2.2. Những nghiên cứu về sinh trưởng rừng trồng hỗn loài

      • 1.2.3. Những nghiên cứu về các loài cây gỗ đề tài nghiên cứu

    • 1.3. Nhận xét và đánh giá chung

  • Chương 2

  • MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ

  • PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

    • 2.1. Mục tiêu nghiên cứu

    • 2.2. Giới hạn vấn đề nghiên cứu

    • 2.3. Nội dung nghiên cứu

    • 2.4. Phương pháp nghiên cứu

      • 2.4.1. Phương pháp luận

        • Hình 2.1. Sơ đồ các bước nghiên cứu

      • 2.4.2. Phương pháp thu thập số liệu

        • Bảng 2.1. Biểu điều tra tầng cây cao

        • Bảng 2.2. Biểu điều tra cây bụi, thảm tươi

        • Bảng 2.3. Biểu mô tả phẫu diện đất

      • 2.4.3. Phương pháp xử lý số liệu

  • + Sai tiêu chuẩn:

  • (2.1)

  • + Độ lệch:

  • (2.2)

  • + Độ nhọn:

  • (2.3)

  • + Hệ số biến động:

  • (2.4)

  • 2.4.3.6. Xác định mật độ tối ưu cho rừng trồng theo công thức:

  • Nopt = 10000/D . (2.16)

  • Trong đó: - Nopt là mật độ tối ưu.

  • - D là đường kính tán lá

  • Chương 3

  • MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU

    • 3.1. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu

      • 3.1.1. Vị trí địa lý, địa hình

        • Hình 3.1. Bản đồ hành chính huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái

      • 3.1.1.2. Địa hình

      • 3.1.2. Khí hậu, thủy văn

      • 3.1.2.1. Khí hậu

      • 3.1.3. Thổ nhưỡng

    • 3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội

      • 3.2.1. Dân số, dân tộc huyện Trạm Tấu

      • 3.2.2. Tình hình kinh tế

      • 3.2.3. Cơ sở hạ tầng và hoạt động xã hội

      • 3.2.4. Đặc điểm tài nguyên rừng

        • Bảng 3.1. Bảng kết quả kiểm kê đất rừng huyện Trạm Tấu

  • 3.3. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

    • Hình 3.2. Rừng trồng phòng hộ năm 2000, thuần loài Thông mã vĩ

    • Hình 3.3. Rừng trồng hỗn loài tại khu vực nghiên cứu

  • 3.4. Đánh giá chung

  • KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

    • 4.1. Đặc điểm cấu trúc và sinh trưởng rừng trồng

      • 4.1.1.1. Sinh trưởng của các loài cây rừng trong cùng vị trí địa hình

        • Bảng 4.1. Sự thuần nhất về đường kính ngang ngực của cây rừng

        • trong cùng vị trí địa hình

        • Bảng 4.2. So sánh sinh trưởng về đường kính tại các vị trí địa hình

          • Hình 4.1. Biểu đồ sinh trưởng D1.3 của 3 loài cây tại các vị trí địa hình

        • Bảng 4.3. So sánh sinh trưởng đường kính giữa 3 loài trong lâm phần

          • Hình 4.2. Lượng tăng trưởng thường xuyên hàng năm về

          • đường kính của 3 loài cây

        • Bảng 4.4. Đặc trưng thống kê đường kính thân cây theo

        • địa hình của 3 loài cây

        • Bảng 4.5. Kết quả mô phỏng và kiểm tra giả thuyết về

        • luật phân bố N/D1.3

      • 4.1.2. Sinh trưởng và cấu trúc đường kính tán Dt

        • trong cùng vị trí địa hình

        • Bảng 4.7. So sánh sinh trưởng về đường kính tán tại các địa hình

        • Bảng 4.8. Đặc trưng thống kê đường kính tán cây theo địa hình

        • Bảng 4.9. Kết quả mô phỏng và kiểm tra giả thuyết về luật phân bố N/Dt

      • 4.1.3. Sinh trưởng và cấu trúc chiều cao Hvn

        • Bảng 4.10. Sự thuần nhất về Hvn của cây rừng trong cùng vị trí địa hình

        • Bảng 4.11. So sánh sinh trưởng về chiều cao tại các vị trí địa hình

          • Hình 4.8. Biểu đồ sinh trưởng Hvn của 3 loài cây tại các vị trí địa hình

        • Bảng 4.12. So sánh sinh trưởng chiều cao giữa 3 loài trong lâm phần

        • Bảng 4.13. Đặc trưng thống kê chiều cao cây theo địa hình

        • Bảng 4.14. Kết quả mô phỏng và kiểm tra giả thuyết về luật

        • phân bố N/Hvn

    • 4.2. Tỷ lệ sống và chất lượng rừng trồng

      • 4.2.1. Về tỷ lệ sống

      • 4.2.2. Chất lượng rừng trồng

        • Bảng 4.16. Chất lượng của 3 loài cây trên các địa hình khác nhau

    • 4.3. Đặc điểm đất và cây bụi thảm tươi dưới tán rừng

      • 4.3.1. Đặc điểm đất dưới tán rừng

      • 4.3.2. Đặc điểm cây bụi, thảm tươi dưới tán rừng

        • Bảng 4.17. Một số chỉ tiêu của tầng cây bụi, thảm tươi

      • 4.3.3. Đặc điểm lớp thảm mục

        • Bảng 4.18. Một số chỉ tiêu của lớp thảm mục

    • 4.4. Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và khả năng phòng hộ của rừng trồng

      • 4.4.1. Lựa chọn loài cây trồng

      • 4.4.2. Nuôi dưỡng và chăm sóc rừng trồng

  • KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KHUYẾN NGHỊ

    • 1. Kết luận

    • 2. Tồn tại

    • 3. Khuyến nghị

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • PHỤ LỤC

Nội dung

Khi nghiên cứu về cấu trúc tầng tán của lâm phần hỗn loài, Bernar Dupuy 1995 [27] đã cho thấy rằng kết cấu tầng tán của rừng trồng hỗn loài phụ thuộc vào đặc điểm sinh trưởng và tính hợp

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Trên thế giới

1.1.1 Những nghiên cứu về cấu trúc rừng

Trong nghiên cứu cấu trúc rừng người ta chia thành ba dạng cấu trúc là cấu trúc sinh thái, cấu trúc không gian và cấu trúc thời gian Trên quan điểm sinh thái thì cấu trúc rừng chính là hình thức bên ngoài phản ánh nội dung bên trong của hệ sinh thái rừng

Baur G.N (1962) đã nghiên cứu các vấn đề về cơ sở sinh thái học nói chung và về cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng mưa nói riêng, trong đó đã đi sâu nghiên cứu các nhân tố cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm sinh áp dụng cho rừng mưa tự nhiên Từ đó tác giả này đã đưa ra những tổng kết hết sức phong phú về các nguyên lý tác động xử lý lâm sinh nhằm đem lại rừng cơ bản là đều tuổi, rừng không đều tuổi và các phương thức xử lý cải thiện rừng mưa [1]

Catinot R (1965) đã biểu diễn cấu trúc hình thái rừng bằng phẫu diện đồ, nghiên cứu các nhân tố cấu trúc sinh thái thông qua việc mô tả phân loại theo khái niệm dạng sống, tầng, phiến [4]

Odum E.P (1971) đã hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái trên cơ sở thuật ngữ hệ sinh thái (ecosystem) của Tansley, 1935 Khái niệm hệ sinh thái được làm sáng tỏ là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc trên quan điểm sinh thái học [12]

Việc nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng đã có từ lâu, trong đó việc mô hình hoá cấu trúc rừng, xác lập mối quan hệ giữa các nhân tố cấu trúc rừng đã được nhiều tác giả nghiên cứu có kết quả Vấn đề về cấu trúc không gian và thời gian của rừng được các tác giả tập trung nghiên cứu nhiều nhất

Có thể kể đến một số tác giả tiêu biểu như: Rollet B (1971) [31], Brung

(1970), Loeth et al (1967) rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu cấu trúc không gian và thời gian của rừng theo hướng định lượng và dùng các mô hình toán để mô phỏng các quy luật cấu trúc Rollet B (1971) [31] đã mô tả mối quan hệ giữa chiều cao và đường kính bằng các hàm hồi quy, phân bố đường kính bằng các dạng phân bố xác suất Nhiều tác giả còn sử dụng hàm Weibull để mô hình hoá cấu trúc đường kính loài thông theo mô hình của Schumarcher và Coil (Belly, 1973) Bên cạnh đó các dạng hàm Meyer, Kyperbol, hàm mũ, Pearson, poisson, cũng được nhiều tác giả sử dụng để mô hình hoá cấu trúc rừng

Một vấn đề nữa có liên quan đến nghiên cứu cấu trúc rừng đó là việc phân loại rừng theo cấu trúc và ngoại mạo hay ngoại mạo sinh thái Cơ sở phân loại rừng theo xu hướng này là đặc điểm phân bố, dạng sống ưu thế, cấu trúc tầng thứ và một số đặc điểm hình thái khác của quần xã thực vật rừng Đại diện cho hệ thống phân loại rừng theo hướng này có Humbold (1809), Schimper (1903), Aubreville (1949), UNESCO (1973) Trong nhiều hệ thống phân loại rừng theo xu hướng này khi nghiên cứu ngoại mạo của quần xã thực vật đã không tách rời khỏi hoàn cảnh của nó và do vậy hình thành một hướng phân loại theo ngoại mạo sinh thái

1.1.2 Những nghiên cứu về sinh trưởng rừng trồng hỗn loài

Nghiên cứu về rừng trồng hỗn loài đã được thực hiện tại Úc từ những năm đầu thế kỷ 19 Điển hình là công trình nghiên cứu trồng hỗn loài Quercus và Ulmus campestris với tên kiểu hỗn loài Donsk của tác giả Tikhanop (1872) Trong mô hình này do đặc tính sinh vật học và mối quan hệ qua lại giữa các loài cây chưa được nghiên cứu kỹ, do đó loài Ulmus campestris với đặc tính sinh trưởng nhanh hơn nên sau khi trồng vài năm đã lấn át loài Quercus Để giải quyết sự cạnh tranh này năm 1884 Polianxki đã cải tiến kiểu hỗn loài Donsk, song vẫn không thành công [30] Một số tác giả khác như

Kharitonovis (1950); Grixenco (1951); Timofeev (1951); Encova (1960) và các cộng sự đã phân tích nguyên nhân thất bại của kiểu Donsk và chỉ ra rằng các Phitonxit của loài Ulmus campestris đã tác động xấu đến loài cây Quercus nên chúng sinh trưởng rất kém Nghiên cứu về ảnh hưởng tương hỗ giữa các loài, các tác giả cho rằng sự cảm nhiễm tương hỗ là yếu tố quan trọng khi lý giải cơ chế cạnh tranh sinh học của thực vật [29]

Trên cơ sở nghiên cứu tạo rừng hỗn loài giữa Quercus và Fraxnus, tác giả JB Ball, T.J Wormald (1994) cho thấy sinh trưởng của Quercus trồng hỗn loài tốt hơn Quercus trồng thuần loài Ngoài ra, khi trồng Quercus hỗn loài với các loài cây khác theo băng hẹp (3 - 4 hàng) hoặc theo hàng cũng cho thấy sinh trưởng của Quercus tốt hơn [28] Đặc điểm nổi bật của rừng hỗn loài là có kết cấu nhiều tầng tán Vì thế nghiên cứu tạo rừng hỗn loài nhiều tầng đã được một số nhà khoa học trên thế giới quan tâm Khi nghiên cứu về cấu trúc tầng tán của lâm phần hỗn loài, Bernar Dupuy (1995) [27] đã cho thấy rằng kết cấu tầng tán của rừng trồng hỗn loài phụ thuộc vào đặc điểm sinh trưởng và tính hợp quần của các loài cây trong lâm phần Điều này cho thấy để tạo được các mô hình rừng trồng hỗn loài có cấu trúc hợp lý, tận dụng được tối đa không gian dinh dưỡng thì cần phải dựa vào đặc điểm sinh thái cũng như phải quan tâm đến mối quan hệ qua lại giữa các loài cây để lựa chọn các loài cây trồng cho phù hợp Đây là những cơ sở quan trọng quyết định đến sự thành công hay thất bại của các mô hình rừng trồng hỗn loài

1.1.3 Những nghiên cứu về các loài cây gỗ đề tài nghiên cứu

1.1.3.1 Nghiên cứu về cây Vối thuốc

Trên thế giới, những nghiên cứu về cây Vối thuốc được tiến hành khá toàn diện, có thể tổng hợp những kết quả nghiên cứu theo các khía cạnh sau đây:

- Tên gọi và phân loại: Vối thuốc (Schima wallichii Choisy) là cây gỗ lớn, thuộc họ Chè (Theaceae), bộ Chè (Theales) là 1 trong 15 loài thuộc chi Schima (S Loembergen, 1952) Tên chi Schima được xuất phát từ tiếng Hy Lạp là Skiasma, có nghĩa là che bóng hoặc có liên quan đến vương miện trong cung đình cổ xưa (Lahiri AK, 1987) Trên thị trường gỗ thế giới, Vối thuốc có

4 tên thương mại là Chilaini, Mang tan, Neeđlewood và Simartolu, được mang mã số S5884 (Crescent Bloom, 2006) Như vậy tên loài Schima wallichii Choisy đã được thống nhất sử dụng trên phạm vi toàn thế giới, tương ứng với tên loài theo tiếng Việt là Vối thuốc

- Các nghiên cứu về hình thái: Vối thuốc đã được mô tả khá kỹ về hình thái bên ngoài Đây là cơ sở khoa học cho việc định loại và phân biệt Vối thuốc với những loài khác, đặc biệt là với những loài cùng chi với nó

Việc mô tả hình thái loài nhìn chung có sự thống nhất cao giữa các tác giả ở nhiều quốc gia và tổ chức nghiên cứu khoa học khác nhau Theo Trung tâm Nông lâm kết hợp thế giới (World Agroforestry Centre, 2006) [32], Anon(1996), Keble và Sidiyasa (1994) thì Vối thuốc là cây thường xanh, kích thước từ trung bình đến lớn, có thể đạt tới chiều cao 47 m, chiều cao dưới cành có thể đạt 25 m, đường kính D1.3 đạt tới 125 cm Vỏ dày, bề mặt xù xì, màu nâu đến xám đen, mặt trong của vỏ có màu đỏ nhạt, trong vỏ có sợi gây ngứa Lá hình thuôn đến elip rộng, kích thước lá từ 6 - 13 cm x 3 - 5 cm, đáy lá hình nêm, đỉnh lá nhọn, có từ 6 - 8 đôi gân, cuống lá dài khoảng 3 mm Hoa mọc tại nách lá nơi đầu cành với 2 lá bắc, đài hoa đều nhau, cánh hoa có màu trắng hồng, có nhiều nhị Nhụy hoa lớn, có 5 ngăn với từ 2 - 6 noãn mỗi ngăn Quả nang hình bán cầu, đường kính từ 2 - 3 cm, vỏ quả nhẵn Vối thuốc có thể ra hoa từ tuổi 4, hoa và quả xuất hiện quanh năm, tuy nhiên hoa ra tập trung theo mùa Quả có cánh và phát tán nhờ gió

Ở Việt Nam

1.2.1 Những nghiên cứu về cấu trúc rừng

Cấu trúc rừng là sự sắp xếp tổ chức nội bộ của các thành phần sinh vật trong hệ sinh thái rừng mà qua đó các loài có đặc điểm sinh thái khác nhau có thể chung sống hài hòa và đạt tới sự ổn định tương đối trong một giai đoạn phát triển nhất định của tự nhiên Cấu trúc của rừng vừa là kết quả, vừa là sự thể hiện quan hệ đấu tranh và thích ứng lẫn nhau giữa các sinh vật rừng với môi trường sinh thái và giữa các sinh vật với nhau Các nhân tố trong cấu trúc rừng là: cấu trúc tổ thành, cấu trúc tầng (trên mặt đất và dưới mặt đất), cấu trúc tuổi

Trong vài chục năm qua, nghiên cứu về cấu trúc rừng là một trong những nội dung quan trọng nhằm đề xuất các giải pháp kỹ thuật phù hợp Thái Văn Trừng (1978) [17], Trần Ngũ Phương (1970) [19] cũng đã nghiên cứu cấu trúc sinh thái để làm căn cứ phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam

Trần Văn Con (2001) [22] ứng dụng mô phỏng toán học trong nghiên cứu động thái rừng tự nhiên tại Lâm trường Nam Phú Nhơn (Gia Lai Kon Tum) đã cho rằng, sự biến đổi cấu trúc lâm phần (động thái) là kết quả tổng hợp của ba quá trình: tái sinh, sinh trưởng và đào thải (chết tự nhiên và tỉa thưa) Mô phỏng toán học có thể rút ngắn thời gian nghiên cứu dự báo sự thay đổi cấu trúc khi biết hiện trạng rừng và các tương quan nhất định

Cho tới nay những nghiên cứu về cấu trúc rừng phòng hộ ở nước ta còn rất ít ỏi và mới chỉ được đề cập ở một vài khía cạnh nhỏ Công trình nghiên cứu của Bùi Ngạnh và Nguyễn Danh Mô (1977) [2] là công trình đầu tiên ở nước ta đề cập đến cấu trúc rừng phòng hộ đầu nguồn như: độ tàn che, và tổ thành loài, với một số quan điểm và phương pháp nghiên cứu tiến bộ, có cơ sở khoa học và ý nghĩa thực tiễn lớn Vũ Văn Mễ và Nguyễn Thanh Đạm

(1990) đã đề cập nhiều tới việc phối hợp các loài cây phòng hộ - kinh tế, đặc biệt là về cấu trúc và mạng lưới đai rừng phòng hộ, có ý nghĩa lớn trong việc xây dựng các đai rừng cải thiện điều kiện khí hậu, đất đai

Võ Đại Hải (1996) [26], đưa ra khái niệm chức năng phòng hộ nguồn nước của thảm thực vật Theo tác giả mô hình cấu trúc hợp lý của rừng phòng hộ đầu nguồn là mô hình cấu trúc rừng đáp ứng được yêu cầu phòng hộ về điều tiết nước và xói mòn Trong mô hình cấu trúc, ông đề cập tổ thành loài cây và điều kiện sinh trưởng phát triển của chúng

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về cấu trúc rừng phòng hộ chủ yếu được tiến hành nghiên cứu trên đối tượng rừng tự nhiên, đối tượng rừng trồng phòng hộ cần có những nghiên cứu về cấu trúc, đặc trưng lâm học của các loài cây, để lựa chọn gây trồng phù hợp với chức năng phòng hộ đầu nguồn, các giải pháp tác động, làm sao để nâng cao chất lượng và khả năng phòng hộ của đối tượng rừng trồng, điều này càng làm tăng tính cấp thiết, ý nghĩa của việc thực hiện đề tài nghiên cứu

1.2.2 Những nghiên cứu về sinh trưởng rừng trồng hỗn loài Ở Việt Nam, vấn đề trồng rừng hỗn loài đã được các nhà khoa học quan tâm từ rất sớm, điển hình là công trình nghiên cứu của Maurand (người Pháp) ở Đồng Nai vào những năm 30 của thế kỷ trước, tác giả đã sử dụng các loài Sao đen (Hopea odorata), Dầu rái (Dipterocarpus alatus) và Vên vên

(Anisoptera costata) để xây dựng các mô hình trồng rừng hỗn loài, cho đến nay các mô hình này vẫn còn giá trị tham khảo nhất định Trong giai đoạn 1930-1980 có rất ít các công trình nghiên cứu về trồng rừng hỗn loài và nghiên cứu chọn loài cây trồng cũng chỉ tập trung cho một số loài cây thuộc họ Dầu Từ năm 1985 đến nay, việc nghiên cứu trồng rừng hỗn loài bằng các loài cây bản địa được triển khai nhiều hơn kể cả số lượng loài cây và diện tích rừng trồng Trong giai đoạn này nhiều loài cây lá rộng bản địa đã được lựa chọn để nghiên cứu cho các vùng sinh thái trong cả nước Các loài cây lá rộng bản địa được lựa chọn để nghiên cứu trồng rừng hỗn loài chủ yếu là các loài có giá trị kinh tế cao

Nguyễn Bá Chất (1955) [8], khi nghiên cứu rừng phục hồi ở Sông Hiếu (1981-1985) đã thí nghiệm gây trồng rừng hỗn loài Lát hoa (Chukrasia tabularis) với các loài cây bản địa lá rộng khác như: Lim xẹt (Peltophorum tonkinnensis), Giổi (Michelia sp), Thôi chanh (Evodia bodinieri), Lõi thọ (Gmelina arborea)…nhằm tạo ra cấu trúc hợp lý Sau 10 năm, kết quả cho thấy Lát hoa trồng hỗn loài tốt hơn khi trồng thuần loài…

Trần Ngũ Phương (1970) [19] cũng đã nghiên cứu xây dựng các mô hình trồng rừng hỗn loài tạo ra nhiều tầng tán nhằm mục đích cho phòng hộ và sản xuất thông qua các phương thức hỗn loài khác nhau như hỗn loài giữa cây cao với cây bụi, hỗn loài giữa cây cao với cây cao Căn cứ kết quả của các công trình nghiên cứu các quy luật chủ yếu ở rừng tự nhiên miền Bắc Việt Nam, tác giả đã chỉ ra rằng thảm mục thực vật rừng ở nước ta đều phân thành nhiều tầng, từ 2 đến 3 tầng cây gỗ chưa kể tầng cây nhỡ và thảm tươi Dựa trên quy luật đó tác giả đã đề xuất mô hình trồng rừng hỗn loài đáp ứng mục tiêu phòng hộ đầu nguồn cho các vùng xung yếu, trong đó có 2 mô hình hỗn loài nổi bật là mô hình rừng sản xuất khí hậu vĩnh viễn nhiều tầng và rừng sản xuất thứ sinh tạm thời nhiều tầng

Một thí nghiệm trồng rừng hỗn loài khác là trồng rừng theo đám ở Trường đại học Lâm nghiệp (Phạm Xuân Hoàn, 2004) [14], đã sử dụng 165 loài cây bản địa trồng dưới tán của Thông và Keo, trong đó dưới tán rừng Thông mã vĩ (Pinus massoniana) là 27 loài, dưới tán rừng Keo lá tràm (Acacia auriculifomis) là 21 loài, số còn lại trồng dưới tán của trạng thái rừng hỗn giao Thông mã vĩ với Keo lá tràm, Thông mã vĩ với Keo tai tượng, Bạch đàn…tỷ lệ sống của các loài bản địa dưới tán rừng Thông được đánh giá đạt 93,2% và dưới tán rừng Keo đạt 91,2% Tăng trưởng thường xuyên và tăng trưởng bình quân của cây bản địa có sự phân hoá khác nhau khá rõ ràng ở các loài Đặc biệt, đáng chú ý một số loài thường được đánh giá sinh trưởng chậm như: Re hương (Cinnammomun inners), Lim xanh (Erythurophleum fordii)…nhưng ở giai đoạn còn nhỏ có khả năng chịu bóng tốt dưới tán rừng

Thông, Keo lại sinh trưởng tốt và rất có triển vọng

Phùng Ngọc Lan (1994) [16], nghiên cứu đặc tính của loài Lim xanh

(Erythurophleum fordii) đã xác nhận vùng phân bố của loài Lim xanh rất rộng có mặt hầu hết ở các tỉnh trong cả nước với độ cao phân bố từ 900 m trở xuống ở phía Nam và 500 m trở xuống ở phía Bắc Sinh trưởng thích hợp ở đồi bát úp, độ dốc nhỏ hơn 20 o hoặc ở chân đồi, chân núi dốc tụ Ở nước ta có khoảng 250 loài cây bản địa và nhập nội đã và đang được sử dụng để trồng rừng (Trung tâm Lâm nghiệp Nhiệt Đới, 2005) [23] Như vậy, việc tạo lập các lâm phần rừng trồng nói chung và các lâm phần rừng trồng hỗn loài nói riêng ở nước ta đã chọn ra được nhiều loài cây trồng phù hợp cho các vùng sinh thái trong cả nước Đó là cơ sở khoa học quan trọng cho việc xây dựng và nâng cao năng suất chất lượng rừng trồng ở nước ta

Qua nhiều năm nghiên cứu, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam

(2000) [25] đã đưa ra trên 100 loài cây bản địa cho các chương trình trồng rừng phục hồi cả 3 loại rừng là rừng sản xuất, phòng hộ và đặc dụng

Ngoài các công trình nghiên cứu đã nêu, Chương trình 327, Dự án 661 cũng tạo ra nhiều mô hình trồng rừng hỗn loài với các loài cây bản địa lá rộng, trong đó chủ yếu là tạo rừng phòng hộ cho các vùng xung yếu trong cả nước Trong các mô hình này hầu hết đều sử dụng các loài cây phù trợ như Keo tai tượng (Acacia mangium), Keo lá tràm (Acacia auriculiformis), Keo lai (Acacia mangium x Acacia auriculiformis), Muồng đen (Cassia siamea), với tỷ lệ hỗn loài là 600 cây bản địa và 1000 cây phù trợ/ha Tuy nhiên, việc điều chỉnh tán che của các loài cây phù trợ trong các mô hình rừng trồng hỗn loài chưa được quan tâm nghiên cứu và điều chỉnh kịp thời nên các loài cây trồng chính có tỷ lệ sống thấp và thường sinh trưởng kém Đây cũng là tồn tại chung của hầu hết các mô hình trong các Dự án 327 và 661

Nghiên cứu phương thức và phương pháp hỗn loài cũng đang được nhiều tác giả quan tâm Thực tế cho thấy các mô hình rừng trồng hỗn loài ở nước ta đến nay chủ yếu là áp dụng theo phương thức trồng rừng hỗn loài giữa cây cao với cây cao Điển hình là thí nghiệm trồng rừng hỗn loài theo hàng giữa Mỡ (Manglietia conifera) với các loài Lim xanh (Erythurophleum fordii), Xà cừ (khaya senegalensis) và Tếch (Tectona grandis) [20] Trong một công trình nghiên cứu khác trồng rừng gỗ Lạng ở Tây Nguyên, Nguyễn Xuân Quát và cộng sự (1990) [11] đã sử dụng cây Đậu tràm (Indigofera taysmanii) như là một cây phù trợ cho Tếch (Tectona grandis), kết quả cho thấy Tếch trồng xen với cây Đậu tràm giai đoạn đầu sinh trưởng khá tốt, hình thân đẹp và thẳng, khả năng phân cành ít Hơn nữa, cỏ dại dưới tán rừng trồng cũng hạn chế phát triển hơn nơi Tếch trồng thuần loài; nghiên cứu thiết lập rừng trồng hỗn loài giữa các loài cây ưa sáng Bạch đàn trắng (Eucalyptus camaldu) và Keo lá tràm (Acacia auriculiformis) của Nguyễn Hữu Vĩnh và các cộng tác viên (2004) [10] Hầu hết các công trình nghiên cứu này đều áp dụng phương pháp trồng hỗn loài theo hàng hoặc theo băng Các kết quả nghiên cứu của các công trình này cho thấy dù được xây dựng theo phương thức và phương pháp nào thì rừng trồng hỗn loài đều tạo điều kiện cho các loài cây bản địa sinh trưởng tốt hơn và rừng trồng có tính bền vững cao hơn cả về kinh tế và môi trường so với rừng trồng thuần loài

Nhận xét và đánh giá chung

Điểm qua các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về những vấn đề có liên quan đến đề tài luận văn nghiên cứu có thể rút ra một số nhận xét sau đây:

Các công trình nghiên cứu trên thế giới về sinh trưởng và cấu trúc rừng được tiến hành tương đối bài bản, đa dạng và phong phú, trong đó đáng chú ý là có những nghiên cứu về cơ sở sinh thái và mô tả hình thái cấu trúc rừng, các nghiên cứu về định lượng cấu trúc rừng, các nghiên cứu về sinh trưởng của các loài cây rừng để từ đó tìm ra các quy luật, đồng thời đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động nhằm thúc đẩy nâng cao hiệu quả, năng suất rừng trồng Các nghiên cứu này đã góp phần quan trọng vào thực tiễn trong công tác quản lý, bảo vệ và kinh doanh rừng theo các phương thức và mục đích khác nhau của các nước trên thế giới

Các loài cây Vối thuốc, Pơ mu, Thông mã vĩ là những loài cây được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, tập trung chủ yếu vào hình thái, giải phẫu và phân bố, giá trị sử dụng, đặc tính sinh vật học… Ở nước ta nghiên cứu về sinh trưởng và cấu trúc rừng cũng được rất nhiều các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Nghiên cứu về các loài cây Vối thuốc, Pơ mu, Thông mã vĩ cũng được nhiều nhà khoa học trong nước tiến hành nghiên cứu riêng lẻ, từng loài riêng biệt về sinh lý, sinh thái, mô tả hình thái, phân bố, thử nghiệm gây trồng…Tuy nhiên việc nghiên cứu rừng trồng hỗn giao giữa 3 loài cây này với nhau thì chắc còn ít

Xuất phát từ thực tiễn đó, đề tài “Nghiên cứu đặc trưng lâm học của các loài cây gỗ trồng rừng phòng hộ tại huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái” với đối tượng nghiên cứu cụ thể là khu vực rừng trồng hỗn giao 3 loài cây trên là rất cần thiết cả về lý luận và thực tiễn để nghiên cứu, đánh giá, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và khả năng phòng hộ rừng trồng đồng thời định hướng phát triển rừng tại địa phương trong thời gian tiếp theo.

MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá được đặc trưng lâm học của một số loài cây trồng rừng phòng hộ tại khu vực nghiên cứu

- Đề xuất được một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh góp phần nâng cao chất lượng và khả năng phòng hộ của rừng tại khu vực nghiên cứu.

Giới hạn vấn đề nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Rừng trồng phòng hộ 3 loài cây gỗ gồm cây

Thông mã vĩ, Vối thuốc, Pơ mu được trồng trong khuôn khổ Dự án 661 tại huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái

- Phạm vi về không gian: toàn bộ 20 ha rừng trồng phòng hộ thuộc Dự án 661 tại xã Bản Công, huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái

- Phạm vi về thời gian: rừng trồng phòng hộ hỗn loài được trồng từ năm 2005.

Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Đặc điểm cấu trúc và sinh trưởng rừng trồng

- Sinh trưởng và cấu trúc đường kính ngang ngực D 1.3

- Sinh trưởng và cấu trúc đường kính tán Dt

- Sinh trưởng và cấu trúc chiều cao Hvn

2.3.2 Tỷ lệ sống và chất lượng sinh trưởng rừng trồng

2.3.3 Đặc điểm đất và cây bụi thảm tươi dưới tán rừng

2.3.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và khả năng phòng hộ của rừng trồng

Phương pháp nghiên cứu

Mỗi trạng thái rừng đều có đặc điểm cấu trúc và tái sinh khác nhau Cấu trúc thể hiện ngoại mạo và nội dung bên trong của rừng, thể hiện các quy luật phân bố, tương quan giữa các đại lượng và các thành phần của rừng Do đó, khi nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc rừng sẽ sử dụng các chỉ tiêu, chỉ số để phản ánh một cách khách quan, chân thực, trong đó đặc biệt chú trọng các chỉ số đã được nhiều tác giả nghiên cứu như chỉ số IV và các hàm mô phỏng phân bố N/D1.3, N/H như hàm Weibull, hàm giảm, hàm khoảng cách

Rừng phòng hộ đầu nguồn nhằm tăng cường khả năng điều tiết nguồn nước cho các dòng chảy, hồ chứa nước, hạn chế lũ lụt, giảm xói mòn, bảo vệ đất, hạn chế bồi lấp các lòng hồ và các khu vực hạ du Bản chất của việc nâng cao chất lượng và khả năng phòng hộ của rừng trồng chính là các hoạt động về mặt kỹ thuật lâm sinh và các giải pháp về xã hội nhằm tạo điều kiện cho rừng trồng phòng hộ được duy trì, bảo vệ và phát triển

Các giải pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm nâng cao chất lượng và khả năng phòng hộ của rừng trồng chính là những tác động đến cấu trúc rừng để thúc đẩy tăng trưởng, nhanh chóng tạo lập hoàn cảnh rừng phát huy chức năng phòng hộ

Các giải pháp về xã hội thực chất là tạo điều kiện cho cộng đồng, người dân tham gia nhận khoán, hưởng lợi từ trồng rừng phòng hộ, tạo cơ hội sinh kế lâu dài cho người dân Trên cơ sở đó người dân có điều kiện để bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ tốt hơn

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu một số đặc trưng lâm học của một số loài cây trồng rừng phòng hộ, từ đó đề xuất được các giải pháp tác động và định hướng gây trồng phát triển rừng trong thời gian tiếp theo

Quá trình nghiên cứu được thực hiện theo sơ đồ tại hình 2.1 như sau:

Hình 2.1 Sơ đồ các bước nghiên cứu

2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu

2.4.2.1 Kế thừa các tài liệu thứ cấp

Kế thừa số liệu của các nghiên cứu trước đây về rừng tự nhiên, rừng trồng, các loài cây mà đề tài nghiên cứu đã có ở huyện Trạm Tấu, trong tỉnh Yên Bái hoặc các vùng có điều kiện tương tự như nhau

- Các văn bản hướng dẫn kỹ thuật, các Quyết định của Chính phủ, Bộ

Chọn đối tượng và nội dung

Nghiên cứu Điều tra khảo sát tổng thể khu vực nghiên cứu

Thu thập thông tin cơ bản

- Điều kiện khí hậu - thổ nhưỡng

- Điều kiện kinh tế - xã hội

- Thông tin về diện tích đất đai, tài nguyên

Sinh trưởng và chất lượng rừng Đặc điểm đất, cây bụi, thảm tươi, thảm mục Đặc điểm cấu trúc rừng Đề xuất các giải pháp bảo vệ và phát triển rừng

Nông nghiệp và Phát triển nông thôn liên quan đến kỹ thuật, mức đầu tư trồng rừng, hưởng lợi trong Dự án 661, các thông tin chung về tình hình thực hiện, triển khai Dự án và những vấn đề có liên quan từ Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Trạm Tấu

- Các số liệu về điều kiện tự nhiên, dân sinh kinh tế - xã hội của địa điểm nghiên cứu

- Các báo cáo khoa học, các kết quả nghiên cứu về kỹ thuật trồng rừng, các đánh giá của các loài cây mà đề tài nghiên cứu trong thời gian qua

- Các hồ sơ thiết kế trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng trồng phòng hộ của đối tượng nghiên cứu

2.4.2.2 Phương pháp điều tra hiện trường a Điều tra sơ bộ

- Khảo sát sơ bộ thực trạng rừng ở khu vực nghiên cứu căn cứ vào bản đồ, tài liệu và các thông tin liên quan

- Xác định các điểm nơi đại diện cho các đối tượng điều tra

- Tiến hành khảo sát cho các tuyến, lựa chọn OTC tạm thời để thu thập số liệu Các OTC đảm bảo bao gồm các nhóm đối tượng điều tra b Điều tra tỷ mỷ

Sử dụng các phương pháp điều tra rừng truyền thống để nghiên cứu một số đặc trưng cấu trúc và đánh giá khả năng sinh trưởng của rừng trồng phòng hộ hỗn loài cây tại xã Bản Công, huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái:

Lập 9 OTC với diện tích 2.000 m 2 /OTC (OTC cấp 1: 50 m x 40 m) Các OTC cấp 1 được lựa chọn điển hình, có tính đại diện cao, có số lượng đủ độ tin cậy Bố trí thiết lập 3 OTC ở ví trí chân, 3 OTC ở vị trí sườn và 3 OTC ở vị trí đỉnh

Vị trí các OTC được thiết lập nằm cách xa đường mòn ít nhất 15 m, không vượt qua dông, qua khe suối Các OTC có hình chữ nhật, góc vuông được xác định theo phương pháp Pitago, dùng thước dây khép góc sao cho

Trong mỗi OTC, lập 5 ODB (OTC cấp 2) với diện tích mỗi ô là 16 m 2

(4 m x 4 m) để điều tra cây bụi thảm tươi

Trong mỗi ODB lập 1 ô có vị trí nằm chính giữa ODB (OTC cấp 3) có diện tích 1 m 2 để điều tra thảm mục rừng

OTC cấp 1 OTC cấp 3 OTC cấp 2 Hình 2.2 Sơ đồ bố trí ô dạng bản trong ô tiêu chuẩn (2.000 m 2 )

- Điều tra ô tiêu chuẩn: trong OTC mô tả các chỉ tiêu như vị trí, độ dốc, độ cao, các chỉ tiêu sinh trưởng của tầng cây cao Điều tra đo đếm tầng cây cao

+ Đường kính thân cây (D1.3, cm): Được đo tại vị trí 1,3 m trên thân cây bằng thước kẹp kính, theo 2 chiều Đông - Tây, Nam - Bắc, lấy giá trị trung bình, độ chính xác đến 0,1 cm

+ Chiều cao vút ngọn (Hvn, Hdc, m): Đo chiều cao bằng thước đo cao Blumleis, độ chính xác đến 0,1 cm

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU

Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu

3.1.1 Vị trí địa lý, địa hình

Trạm Tấu là huyện miền núi phía Tây của tỉnh Yên Bái, có toạ độ địa lý:

Từ 20 o 21 ’ đến 21 o 40 ’ vĩ độ Bắc

Từ 104 o 17 ’ đến 104 o 40 ’ kinh độ Đông

Phía Tây Bắc giáp huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái

Phía Đông, Đông Bắc, Đông Nam giáp với huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái Phía Tây, Tây Nam giáp huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La

Phạm vi vùng Dự án 661 thực hiện trên địa bàn 01 thị trấn và 11 xã của huyện Trạm Tấu đó là: các xã Hát Lừu, Bản Mù, Bản Công, Xà Hồ, Trạm Tấu,

Pá Hu, Pá Lau, Phình Hồ, Làng Nhì, Tà Xi Láng và Thị trấn Trạm Tấu

T tuyên quang T tuyên quang T tuyên quang T tuyên quang T tuyên quang T tuyên quang T tuyên quang

T hà giang T hà giang T hà giang T hà giang T hà giang T hà giang T hà giang

T Phú thọ T Phú thọ T Phú thọ T Phú thọ T Phú thọ T Phú thọ T Phú thọ

T Sơn la T Sơn la T Sơn la T Sơn la T Sơn la T Sơn la T Sơn la sơ đồ vị trí sơ đồ vị trí sơ đồ vị trí sơ đồ vị trí sơ đồ vị trí sơ đồ vị trí sơ đồ vị trí sơ đồ vị trí sơ đồ vị trí huyện Trạm Tấu trong tỉnh Yên bái huyện Trạm Tấu trong tỉnh Yên bái huyện Trạm Tấu trong tỉnh Yên bái huyện Trạm Tấu trong tỉnh Yên bái huyện Trạm Tấu trong tỉnh Yên bái huyện Trạm Tấu trong tỉnh Yên bái huyện Trạm Tấu trong tỉnh Yên bái huyện Trạm Tấu trong tỉnh Yên bái huyện Trạm Tấu trong tỉnh Yên bái

T Sơn La T Sơn La T Sơn La T Sơn La T Sơn La T Sơn La T Sơn La

T La i C h © u T La i C h© u T La i C h© u T La i C h © u T La i C h© u T La i C h © u T La i C h© u T La i C h© u T La i C h© u

T Lao Cai T Lao Cai T Lao Cai T Lao Cai

H Mù Cang Chải H Mù Cang Chải H Mù Cang Chải H Mù Cang Chải H Mù Cang Chải H Mù Cang Chải H Mù Cang Chải

H Lục Yên H Lục Yên H Lục Yên H Lục Yên H Lục Yên H Lục Yên H Lục Yên

H Văn Yên H Văn Yên H Văn Yên H Văn Yên H Văn Yên H Văn Yên H Văn Yên

H Trạm Tấu H Trạm Tấu H Trạm Tấu H Trạm Tấu H Trạm Tấu H Trạm Tấu H Trạm Tấu

H V¨n ChÊn H V¨n ChÊn H V¨n ChÊn H V¨n ChÊn H V¨n ChÊn H V¨n ChÊn H V¨n ChÊn

Trấn Yên Trấn Yên Trấn Yên Trấn Yên Trấn Yên Trấn Yên Trấn Yên Trấn Yên Trấn Yên

H Yên Bình H Yên Bình H Yên Bình H Yên Bình H Yên Bình H Yên Bình H Yên Bình

Hình 3.1 Bản đồ hành chính huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái

Khu vực nghiên cứu thuộc xã Bản Công, có ranh giới hành chính như sau: Phía Bắc giáp xã Xà Hồ, huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái

Phía Tây, Nam giáp tỉnh Sơn La

Phía Đông giáp thị trấn Trạm Tấu, huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái

Toàn bộ đất đai huyện Trạm Tấu thuộc hệ thống dãy núi Hoàng Liên Sơn, ở sườn đông dãy Púng Luông Có địa hình núi trung bình đến cao, chia cắt mạnh, độ dốc lớn (độ dốc trung bình từ 27 o đến 35 o ) Độ cao trung bình toàn huyện so với mực nước biển từ 600 - 800 m, có các đỉnh núi cao như Trung Xang Xi cao 2.978,9 m ở xã Xà Hồ, đỉnh Fu Sa Fin cao 2.875 m, đỉnh Phu Lông Mê cao 2.399 m, điểm thấp nhất cao 390 m ở địa phận xã Pá Hu, Trạm Tấu Địa hình huyện Trạm Tấu có đặc điểm cao dần từ đông sang tây với nhiều dãy núi cao hợp thuỷ sâu vách đứng, hệ số xâm thực lớn, về cơ bản có các dạng địa hình chính sau: địa hình núi cao, địa hình núi trung bình, địa hình núi thấp độ cao từ 400 - 800 m, địa hình thung lũng và trũng giữa núi gồm các thung lũng thấp nằm giữa các dãy núi lớn

Do đặc điểm địa hình, địa thế của huyện rất phong phú đa dạng khác nhau nên có điều kiện phát triển thành hệ thống rừng phòng hộ đầu nguồn bền vững, mặt khác cũng là khó khăn, thách thức trong việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ một cách hiệu quả nhất

Khu vực nghiên cứu rộng 20 ha, nằm trên kiểu địa hình sườn dốc, có độ cao từ 800 m - 1.000 m thuộc địa hình núi trung bình, độ dốc từ 15 - 30 o

Khu vực nghiên cứu nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của chế độ khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới gió mùa trên núi trung bình, thường có mùa đông lạnh khô, mùa hè oi nóng Chia ra thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9, mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau

- Chế độ gió: Về mùa đông do có khối không khí lạnh từ phía Bắc tràn xuống gây ra gió mùa Đông Bắc, khi về đến dãy Hoàng Liên Sơn bị chặn lại và theo các máng trũng của sông Hồng đến Trạm Tấu theo hướng Đông Do trải qua một chặng đường dài với nhiều dãy núi cao nên thường bớt lạnh và thỉnh thoảng có mưa phùn

Về mùa hè gió có nguồn gốc từ lục địa qua Lào thổi sang nên đã chuyển từ nóng ẩm sang nóng khô nhất là từ tháng 4 đến tháng 6 Gió Đông Nam từ vịnh Bắc bộ thổi vào mang theo nhiều hơi nước dễ gây ra mưa rào, dông hoặc lốc xoáy

Ngoài ra còn có gió địa phương như gió Than Uyên, gió Bình Lư hình thành do chênh lệch áp suất ở từng khu vực tạo nên, loại gió này thường xuất hiện vào mùa hè và rất khô nóng

Khu vực Hoàng Liên Sơn là nơi tan rã của các cơn bão nên huyện Trạm Tấu ít có gió mạnh không gây ảnh hưởng cho sản xuất cũng như đời sống nhân dân trong vùng

- Chế độ mưa và ẩm: huyện Trạm Tấu là vùng có lượng mưa ít nhất trong tỉnh Yên Bái, lượng mưa bình quân năm 2.121,2 mm, phân bố không đều trong năm Tháng mưa nhiều nhất là từ tháng 5 đến tháng 9, tháng mưa ít nhất từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Độ ẩm trung bình trong năm 87%, số giờ nắng trung bình/năm là 1.593 giờ

- Chế độ nhiệt: Khu vực nghiên cứu có nhiệt độ không khí bình quân năm là 18 - 22 o C, tháng nóng nhất là tháng 6 và tháng 7, lạnh nhất là tháng 1, càng lên cao nhiệt độ càng giảm, tổng tích ôn hàng năm từ 6.500 - 7.500 o C

- Các hiện tượng thời tiết bất thường: ở các vùng núi cao thỉnh thoảng xảy ra sương muối, ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp Ngoài ra vào mùa hè thường có gió Lào khô nóng trong nhiều ngày, gây khó khăn cho sản xuất và đời sống nhân dân trong huyện

Trong huyện Trạm Tấu không có hệ thống sông lớn nhưng lại có nhiều suối nhỏ, lưu lượng nước ít, tốc độ dòng chảy mạnh do chảy qua vùng địa hình chia cắt, độ dốc lớn như: suối Ngòi Thia, Ngòi Nhì, Ngòi Mù, Nậm Tung, Huổi Sa Phin các suối này phần lớn chảy theo hướng Tây Bắc

Do địa hình phức tạp và thảm thực vật bị phá hoại mạnh mẽ nên chế độ thuỷ văn đã gây ra sự chênh lệch về lượng nước mặt giữa hai mùa Về mùa mưa nước chảy mạnh thỉnh thoảng có lũ quét xảy ra gây thiệt hại cho sản xuất và ách tắc giao thông đi lại của nhân dân Về mùa khô nước thường bị cạn ảnh hưởng xấu đến sản xuất và sinh hoạt của nhân dân

Theo tài liệu thổ nhưỡng của Hội khoa học đất Việt Nam Thổ nhưỡng huyện Trạm Tấu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới gió mùa trên núi Đất ở đây có quá trình phong hoá tương đối mạnh, tầng đất mỏng tới dầy, thành phần cơ giới chủ yếu là đất thịt nhẹ hoặc đất thịt trung bình

Kết quả nghiên cứu đất đai trong vùng được chia làm 4 nhóm:

Điều kiện kinh tế - xã hội

3.2.1 Dân số, dân tộc huyện Trạm Tấu

Toàn huyện Trạm Tấu có 4.776 hộ gia đình, với 26.885 khẩu, số người trong độ tuổi lao động là 13.105 người trên 12 xã, thị trấn Có 11 dân tộc cùng sinh sống, trong đó dân tộc Mông chiếm trên 77,5%, dân tộc Thái 14,5%, còn lại là các dân tộc khác, đặc thù trình độ dân trí còn thấp, phong tục tập quán lạc hậu Mật độ dân cư bình quân 30 người/1km 2 , tỷ lệ tăng dân số còn cao và chất lượng dân số thấp Tỷ lệ đói nghèo còn trên 70%

Trong những năm qua được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và các cấp, các ngành, sự đầu tư có hiệu quả của các Chương trình, Dự án cơ sở hạ tầng thiết yếu trên địa bàn huyện Trạm Tấu được hình thành và từng bước đáp ứng nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của nhân dân

Theo báo cáo của phòng thống kê huyện Trạm Tấu, tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2016 đạt 12,5% tăng 0,5% so với năm 2015; Trong đó nông lâm nghiệp đạt 8,47%, công nghiệp - xây dựng tăng 20,72% Thương mại - Dịch vụ tăng 15,43%

Kinh tế xã hội của huyện ổn định, phát triển và duy trì tốc độ tăng trưởng khá Cơ cấu kinh tế tiếp tục có sự dịch chuyển đúng hướng Thu nhập bình quân đầu người đạt 5,55 triệu đồng/người, tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 15.094 tấn

3.2.3 Cơ sở hạ tầng và hoạt động xã hội

- Giao thông: Huyện Trạm Tấu có 1 tuyến đường dài 32 km từ huyện lỵ Trạm Tấu đi thị xã Nghĩa Lộ, đường được rải nhựa, chất lượng đường tốt, tạo điều kiện thuận lợi lưu thông giữa miền xuôi và miền ngược, giao lưu văn hóa, phát triển kinh tế, ngoài ra các xã còn có tuyến đường đổ bê tông đi đến trung tâm xã

Mạng lưới giao thông đi lại trên địa bàn huyện trong những năm qua đã được chú trọng đầu tư phát triển, tuy nhiên mật độ đường liên xã, liên thôn còn quá ít, nhiều tuyến đường chỉ lưu thông được trong mùa khô, ảnh hưởng rất lớn đến giao thông đi lại, phát triển kinh tế, nhất là lưu thông các nông lâm sản của các xã nói riêng và của cả huyện nói chung

- Hệ thống điện, nước và thông tin liên lạc: Điện lưới: Hầu hết các xã trên địa bàn huyện đều có điện lưới và phần lớn người dân đã được sử dụng điện lưới để sinh hoạt phục vụ sản xuất phát triển kinh tế, chỉ còn một số thôn, bản người H mông thuộc xã Làng Nhì, Tà

Xi Láng, Túc Đán chưa tiếp cận và sử dụng được điện lưới do đường điện chưa đến được

Nước: phần lớn người dân sống tại trung tâm thị trấn Trạm Tấu và các xã đã được dùng hệ thống nước sạch, người dân sống tại các thôn, bản chủ yếu vẫn sử dụng nước khe, suối để phục vụ sản xuất và sinh hoạt

- Hệ thống thông tin liên lạc: trên địa bàn huyện có Bưu điện và Trung tâm viễn thông tại thị trấn Trạm Tấu, hầu hết các xã đều có trung tâm văn hóa xã, quanh khu vực trụ sở các xã đã phủ sóng di động

- Giáo dục: Trên địa bàn huyện có 02 trường Trung học phổ thông thuộc Sở giáo dục và đào tạo tỉnh Yên Bái, 12 trường Mầm non, 12 trường Trung học cơ sở và tiểu học, 01 trường Dân tộc nội trú thuộc Phòng giáo dục và đào tạo huyện Trạm Tấu, 12/12 xã thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục Trung học cơ sở, tổng số trường học đạt chuẩn Quốc gia toàn huyện là

- Cơ sở y tế: toàn huyện có 01 bệnh viện đa khoa tại thị trấn Trạm Tấu,

12 trạm y tế, hầu hết các xã đều có cán bộ y tế được đào tạo có tay nghề cao, góp phần chăm sóc sức khỏe và phòng trừ dịch bệnh các vùng dân cư trên địa bàn huyện Tuy nhiên cơ sở vật chất phục vụ công tác khám chữa bệnh trên địa bàn huyện còn lạc hậu, số lượng bác sỹ có tay nghề chưa nhiều, không đủ nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân trong huyện

3.2.4 Đặc điểm tài nguyên rừng

Theo kết quả kiểm kê rừng huyện Trạm Tấu được công bố năm 2016: Tổng diện tích tự nhiên là 61.412,86 ha, trong đó:

+ Đất chưa có rừng: 14.908,13 ha

- Đất ngoài lâm nghiệp: 3.435,39 ha

+ Đất chưa có rừng (rừng mới trồng chưa thành rừng): 176,83 ha

Cụ thể theo biểu sau:

Bảng 3.1 Bảng kết quả kiểm kê đất rừng huyện Trạm Tấu

Trong quy hoạch lâm nghiệp Ngoài

Tổng diện tích tự nhiên 61.412,86 43.693,06 14.284,41 3.435,39

1 Đất trong quy hoạch lâm nghiệp 57.977,47 43.693,06 14.284,41

2 Đất ngoài quy hoạch lâm nghiệp 3.435,39 3.435,39

- Đất mới trồng rừng 176,83 176,83 Độ che phủ rừng huyện Trạm Tấu sau kiểm kê là 62,3%

Khu vực nghiên cứu thuộc xã Bản Công, có độ che phủ của rừng cao nhất trong toàn huyện là 46,3 %, có tổng diện tích tự nhiên là 9.448,5 ha, tổng diện tích có rừng 7.110,7 ha, tổng diện tích khu vực nghiên cứu 20 ha là rừng trồng phòng hộ do Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Trạm Tấu quản lý.

Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

Thực hiện Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, giai đoạn 1998-2010 tỉnh Yên Bái đã nâng được độ che phủ rừng lên 60% tính đến năm 2010, so với mục tiêu chung đặt ra của của Dự án thì chỉ tiêu độ che phủ rừng của tỉnh đã đạt yêu cầu đặt ra

Tại khu vực nghiên cứu từ những năm 1970 trở về trước, là những rừng nguyên sinh với nhiều loài cây gỗ quý hiếm như: Pơ mu, Sến, Giổi vàng, Kháo nhưng do sức ép thiếu đất nông nghiệp để sản xuất, hình thức canh tác sử dụng đất lạc hậu, kém hiệu quả, không bền vững, chặt phá rừng làm nương rẫy, cháy rừng đã biến nơi đây thành những khu đất trống, cây bụi rải rác

Từ năm 1998 Dự án 661 cơ sở được triển khai thực hiện tại huyện Trạm Tấu, sau 11 năm thực hiện Dự án đã tổ chức giao khoán cho người dân bảo vệ 186.856,8 ha/11 năm, khoanh nuôi tái sinh 16.577,9 ha/11 năm, trồng rừng 10.226,9 ha/11 năm Trong các năm đầu thực hiện Dự án, cơ cấu loài cây trồng rừng chủ yếu là thuần loài Thông mã vĩ

Hình 3.2 Rừng trồng phòng hộ năm 2000, thuần loài Thông mã vĩ

Từ năm 2005, chuyển đổi sang phương thức trồng rừng hỗn loài Thông mã vĩ với các loài cây Tô hạp, Vối thuốc, Pơ mu, Sơn tra Bên cạnh sự thay đổi về môi trường sinh thái do độ che phủ của rừng tăng lên, các vùng đất trống, đồi núi trọc được phủ xanh, Dự án còn tạo việc làm và nâng cao thu nhập của cộng đồng thông qua sự tham gia nhận khoán của các hộ gia đình vào việc thực hiện các hoạt động của Dự án

Hình 3.3 Rừng trồng hỗn loài tại khu vực nghiên cứu

Khu vực rừng trồng phòng hộ mà đề tài lựa chọn nghiên cứu nằm trong khuôn khổ Dự án 661 cơ sở, được trồng năm 2005 với thiết kế kỹ thuật trồng rừng phòng hộ gồm các nội dung chính sau:

- Xử lý thực bì: phát băng cục bộ theo băng trồng, phát dọn thực bì theo băng song song với đường đồng mức, chiều rộng băng phát dọn 1,5 m, băng chừa 1,5 m Phát cách mặt đất < 5 cm để lại những cây gỗ mục đích có tác dụng phòng hộ che bóng

- Làm đất: làm đất thủ công, cục bộ theo hố Cuốc hố bằng phương pháp thủ công, kích thước hố 30 cm x 30 cm x 30 cm, hố được cuốc trên băng sau khi đã xử lý thực bì Khi đào để riêng lớp đất mặt và lớp đất dưới ở 2 bên miệng hố, loại bỏ đất củ, sỏi đá, cuốc xong kiểm tra sau đó lấp hố bằng đất tầng mặt

- Trồng rừng: Loài cây trồng Thông mã vĩ + Vối thuốc + Pơ mu, trồng hỗn loài theo hàng Trồng bằng cây con có bầu, chọn ngày thời tiết râm mát hoặc có mưa nhỏ, dùng cuốc đào giữa hố có kích thước đủ để đặt bầu cây, dùng dao rạch bỏ vỏ bầu, để cây ngay ngắn giữa hố và lấp đất tầng mặt đến trên cổ rễ từ 1 - 2 cm dùng tay nén chặt, vun thành hình mầm xôi Mật độ trồng 1.660 cây/ha, hàng cách hàng 3 m, cây cách cây 2 m Cây con đem trồng là cây có bầu, khỏe mạnh, không nấm, sâu bệnh, không cong queo, cụt ngọn, có thời gian gieo ươm và tiêu chuẩn cây con xuất vườn đủ tiêu chuẩn theo quy trình

Chăm sóc: chăm sóc 1 lần sau 2 - 3 tháng sau khi trồng Phát dọn toàn bộ thực bì trên băng trồng, phát sát mặt đất chiều cao gốc phát < 5 cm, bập chồi, dây leo, cây bụi lấn át cây trồng Làm sạch cỏ xung quanh gốc cây trồng, xới vun gốc đường kính xới từ 0,8 - 1 m quanh gốc, lật đất sâu 5 cm vun vào gốc cây trồng Tiến hành trồng dặm những cây bị chết

- Bảo vệ rừng: Thường xuyên kiểm tra, ngăn chặn người và gia súc phá hoại rừng, gây cháy rừng, kịp thời xử ký những hành vi vi phạm đến công tác quản lý bảo vệ rừng Làm đường ranh cản lửa xung quanh khu vực trồng rừng hoặc tại những nơi có thể xẩy ra cháy rừng, trên đường ranh phải được phát sạch cỏ, dây leo, bụi rậm dọn sạch với chiều rộng > 10 m.

Đánh giá chung

- Thuận lợi: huyện Trạm Tấu là huyện vùng cao, nằm trong 62 huyện nghèo của cả nước, đã được Đảng và Nhà nước quan tâm, có các chính sách đầu tư hỗ trợ phát để triển triển kinh tế - xã hội, bước đầu đã đem lại những hiệu quả thiết thực đến đời sống nhân dân các dân tộc trên địa bàn huyện

Mật độ dân cư còn thưa, đất chưa sử dụng trong lĩnh vực lâm nghiệp còn nhiều, các nguồn tài nguyên và điều kiện tự nhiên có thể phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp đa dạng theo lợi thế miền núi

Nhân dân địa phương có truyền thống lao động cần cù, với tiến bộ khoa học ngày càng phát triển, sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn có thể ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật để sản xuất lâm nghiệp ổn định bền vững

- Khó khăn: với tập quán du canh, du cư từ lâu đời, nhân dân sống phân tán trên núi cao nên việc tuyên truyền các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, việc đào tạo nâng cao dân trí còn gặp nhiều khó khăn

Diện tích lúa nước ít, nhân dân chủ yếu là canh tác sản xuất lương thực trên đất dốc, do đó vấn đề chặt phá, lấn chiếm rừng làm nương rẫy, tình trạng cháy rừng vẫn còn xảy ra

Tóm lại: Qua phân tích đánh giá những thuận lợi, khó khăn về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội tại khu vực nghiên cứu cho thấy bên cạnh những thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, xã hội và môi trường của địa phương thì vẫn còn rất nhiều khó khăn Đặc biệt là với một nền kinh tế chậm phát triển, trình độ dân trí thấp, thiếu vốn đầu tư cho sản xuất, đời sống của người dân nghèo nàn, lạc hậu…Định hướng phát triển lâm nghiệp của huyện đến năm 2020 vẫn xác định đưa ra mục tiêu phát triển rừng phòng hộ là chủ yếu, tuy nhiên việc trồng rừng phòng hộ với cơ cấu thuần loài Thông mã vĩ thì tính đa dạng sinh học và rủi do mất rừng do dịch bệnh, cháy rừng rất cao Vì vậy, nghiên cứu đặc điểm lâm học của một các loài cây gỗ trồng rừng phòng hộ theo phương thức trồng hỗn loài mà đề tài nghiên cứu rất cần thiết để định hướng cho công tác phát triển rừng phòng hộ lâu dài, bền vững trong thời gian tới.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Ngày đăng: 21/06/2021, 06:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Baur G.N (1962). Cơ sở sinh thái học của kinh doanh rừng mưa, Vương Tấn Nhị dịch, Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội, 1976 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở sinh thái học của kinh doanh rừng mưa
Tác giả: Baur G.N
Nhà XB: Nxb Khoa học kỹ thuật
Năm: 1962
2. Bùi Ngạnh, Nguyễn Danh Mô (1977). Nghiên cứu khả năng điều tiết dòng chảy giữ nước, giữ đất của rừng thứ sinh hỗn loài lá rộng với độ tàn che 0,3-0,4 và 0,7-0,8 ở Hữu Lũng, Lạng Sơn, Báo cáo tổng kết đề tài Nghiên cứu Khoa học, Viện Lâm nghiệp, 44 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng điều tiết dòng chảy giữ nước, giữ đất của rừng thứ sinh hỗn loài lá rộng với độ tàn che 0,3-0,4 và 0,7-0,8 ở Hữu Lũng, Lạng Sơn
Tác giả: Bùi Ngạnh, Nguyễn Danh Mô
Năm: 1977
3. Bùi Thị Huyền, 2010. Nghiên cứu đặc điểm phân bố và nguy cơ tuyệt chủng loài cây Pơ mu tại khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, Thường Xuân, Thanh Hóa, Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp, số 3, trang 991-999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp
4. Cationot R. (1965). Lâm sinh học trong rừng rậm Châu phi, Vương Tấn Nhị dịch, Tài liệu Khoa học Lâm nghiệp, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lâm sinh học trong rừng rậm Châu phi
Tác giả: Cationot R
Năm: 1965
5. Hoàng Kim Ngũ và Phùng Ngọc Lan (2005). Sinh thái rừng, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh thái rừng
Tác giả: Hoàng Kim Ngũ và Phùng Ngọc Lan
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2005
6. Lê Mộng Chân và cộng sự (1967). Cây rừng Việt Nam (tập 1), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây rừng Việt Nam
Tác giả: Lê Mộng Chân và cộng sự
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1967
7. MV Kolexnitsenko (1977). Sự tương tác hoá sinh của những thân cây gỗ, Nguyễn Sĩ Đương và Nguyễn Như Khanh dịch, Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự tương tác hoá sinh của những thân cây gỗ
Tác giả: MV Kolexnitsenko
Nhà XB: Nxb Khoa học kỹ thuật
Năm: 1977
8. Nguyễn Bá Chất, 1995. Trồng rừng hỗn loài ở Việt Nam, Tạp chí Lâm nghiệp, số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Lâm nghiệp
9. Nguyễn Hoàng Nghĩa (2004). Các loài cây lá kim ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các loài cây lá kim ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hoàng Nghĩa
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
10. Nguyễn Hữu Vĩnh, Phạm Thị Huyền, Nguyễn Quang Việt (2004). cơ sở khoa học của phương thức trồng rừng hỗn loài Bạch đàn - Keo, Kết quả nghiên cứu khoa học, Trường Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: cơ sở khoa học của phương thức trồng rừng hỗn loài Bạch đàn - Keo
Tác giả: Nguyễn Hữu Vĩnh, Phạm Thị Huyền, Nguyễn Quang Việt
Năm: 2004
12. Odum E.P (1971). Cơ sở sinh thái học, Tập 1, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở sinh thái học
Tác giả: Odum E.P
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1971
13. Phạm Hoàng Hộ (1999). Cây cỏ Việt Nam, (Quyển I, II, III), Nxb trẻ, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cỏ Việt Nam
Tác giả: Phạm Hoàng Hộ
Nhà XB: Nxb trẻ
Năm: 1999
14. Phạm Xuân Hoàn và cộng sự (2004), Một số vấn đề trong lâm học nhiệt đới, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề trong lâm học nhiệt đới
Tác giả: Phạm Xuân Hoàn và cộng sự
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
15. Phùng Ngọc Lan, 1991. Trồng rừng hỗn loài nhiệt đới, Tạp chí Lâm nghiệp, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Lâm nghiệp
16. Phùng Ngọc Lan (1994). Nghiên cứu đặc điểm sinh thái của cây Lim xanh, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm sinh thái của cây Lim xanh
Tác giả: Phùng Ngọc Lan
Năm: 1994
17. Thái Văn Trừng (1978). Thảm thực vật rừng Việt Nam, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thảm thực vật rừng Việt Nam
Tác giả: Thái Văn Trừng
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1978
18. Trần Hợp (2002). Tài nguyên cây gỗ Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên cây gỗ Việt Nam
Tác giả: Trần Hợp
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
19. Trần Ngũ Phương (1970). Bước đầu nghiên cứu rừng miền Bắc Việt Nam, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu nghiên cứu rừng miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Trần Ngũ Phương
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1970
20. Trần Nguyên Giảng (1985). Hai năm năm nghiên cứu của trung tâm lâm sinh Cầu hai, Phú Thọ, Báo cáo khoa học, Viện nghiên cứu lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hai năm năm nghiên cứu của trung tâm lâm sinh Cầu hai, Phú Thọ
Tác giả: Trần Nguyên Giảng
Năm: 1985
22. Trần Văn Con (2001). “Nghiên cứu cấu trúc rừng tự nhiên ở Tây Nguyên và khả năng ứng dụng trong kinh doanh rừng tự nhiên’’, Nghiên cứu rừng tự nhiên, Nxb Thống Kê, Hà Nội, trang 44 - 59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu cấu trúc rừng tự nhiên ở Tây Nguyên và khả năng ứng dụng trong kinh doanh rừng tự nhiên’’, Nghiên cứu rừng tự nhiên
Tác giả: Trần Văn Con
Nhà XB: Nxb Thống Kê
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w