PHAN VĂN DŨNG NGHIÊN CỨU PHÂN LOẠI CÁC LOÀI THUỘC CHI TÁU VATICA VÀ CHI SAO HOPEA THUỘC HỌ DẦU DIPTEROCARPACEAE TẠI VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP... --- TRẦN NGỌC OAN
Trang 1PHAN VĂN DŨNG
NGHIÊN CỨU PHÂN LOẠI CÁC LOÀI THUỘC CHI TÁU
(VATICA) VÀ CHI SAO (HOPEA) THUỘC HỌ DẦU
(DIPTEROCARPACEAE) TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Trang 2
-
TRẦN NGỌC OANH
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Kinh tế Nông nghiệp
Mã số: 60620115
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
NGHIÊN CỨU PHÂN LOẠI CÁC LOÀI THUỘC CHI TÁU
(VATICA) VÀ CHI SAO (HOPEA) THUỘC HỌ DẦU
(DIPTEROCARPACEAE) TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản lý tài nguyên rừng
Mã số: 60620211
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS HOÀNG VĂN SÂM
Trang 3
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả Luận văn có lời cam đoan danh dự về công trình khoa học này của mình, cụ thể:
- Tôi tên là: Phan Văn Dũng
- Sinh ngày: 20/10/1982
- Quê quán: Hà Tĩnh
- Hiện công tác tại: Khoa Quản lý tài nguyên rừng và Môi trường – Trường Đại học Lâm Nghiệp
- Là Học viên cao học khóa 19B của Trường Đại Học Lâm Nghiệp
- Đề tài: “Nghiên cứu phân loại các loài thuộc chi Táu (Vatica) và chi Sao (Hopea) thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae) tại Việt Nam”
- Người hướng dẫn: TS Hoàng Văn Sâm
Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu kết quả nêu trong luận văn là trung thực, chưa được ai công bố trong công trình nào khác
Hà Nội, ngày 18 tháng 09 năm 2013
Tác giả
Phan Văn Dũng
Trang 4Nhân dịp này, tôi xin được bày tỏ sự chân thành cảm ơn tới TS Hoàng Văn Sâm - Trường Đại học Lâm nghiệp đã hướng dẫn khoa học và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu nhà trường, khoa Đào tạo Sau đại học, khoa Quản lý tài nguyên rừng & Môi trường, các Giáo sư, Tiến sĩ hợp tác giảng dạy tại khoa Sau đại học, đặc biệt là các thầy cô công tác tại Trung tâm Đa dạng sinh học và Bộ Môn Thực vật rừng Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam
Xin cảm ơn tập thể cán bộ công nhân viên của các VQG, KBT và các Viện, Trường, Trung tâm đã giúp đỡ tôi trong việc điều tra nghiên cứu ngoài thực tế và điều tra mẫu tiêu bản để hoàn thành luận văn này
Tác giả xin chân thành cảm ơn Quỹ phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (mã số đề tài 106.11-2010.68), Viện hàn lâm khoa học Trung Quốc (mã số
dự án 2009Y2BS4 ) đã hỗ trợ tài chính cho thực hiện nghiên cứu Viện Thực vật Quốc gia Hà Lan, Vườn thực vật Hoa Nam, Trung Quốc, Bảo tàng thiên nhiên Quốc gia Pháp, Trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam, Viện Điều tra Quy hoạch rừng, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên và Phòng tiêu bản thực vật thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho nghiên cứu tiêu bản và tra cứu tài liệu GS Paul J.A Kesler, GS Xia Nianhe, TS Rachun
Pooma, TS Lưu Hồng Trường, PGS TS Nguyễn Hoàng Nghĩa, chuyên gia Vũ
Văn Dũng về những thảo luận bổ ích về họ Dầu (Dipterocarpaceae) Cảm ơn thạc sĩ Nguyễn Quang Vĩnh vườn quốc gia Phong Nha – Kẽ Bàng đã hỗ trợ trong quá trình nghiên cứu thực địa Cảm ơn cán bộ Trung tâm Đa dạng sinh học, Trường Đại học Lâm nghiệp đã hỗ trợ trong suốt quá trình nghiên cứu
Trang 5Trong quá trình nghiên cứu thực hiện luận văn, do điều kiện hạn chế về thời gian, nhân lực và những khó khăn khách quan nên không tránh khỏi những thiếu sót Tôi mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy, cô giáo, các nhà khoa học và bạn bè đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 9 năm 2013
Tác giả
Phan Văn Dũng
Trang 6MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iv
Danh mục các từ viết tắt vii
Danh mục các bảng viii
Danh mục các hình ix
ĐẶT VẤN ĐỀ i
Chương 1.TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1.Trên thế giới 3
1.1.1.Thực vật học và hình thái 3
1.1.2 Phân loại 4
1.1.3 Số lượng loài 6
1.1.4 Địa sinh học 7
1.2 Ở Việt Nam 8
1.3 Những nghiên cứu về chi Táu (Vatica) và chi Sao (Hopea) 12
Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 13
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13
2.3 Nội dung nghiên cứu 13
2.4 Phương pháp nghiên cứu 14
Chương 3 KHU VỰC NGHIÊN CỨU 17
3.1.Vườn quốc gia Cúc Phương 17
3.2 Vườn quốc gia Bến En - Thanh Hóa 18
3.3 Vườn quốc gia Bình Châu Phước Bửu 19
3.4 Khu bảo tồn tại thiên nhiên Pù Luông 19
Trang 73.5 Khu BTTN Văn Hóa Đồng Nai 20
3.6 Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng 21
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 22
4.1 Tổng kết về phân loại họ Dầu (Dipterocarpaceae) cũng như chi Táu (Vatica) và chi Sao (Hopea) 22
4.1.1 Phân loại họ Dầu (Dipterocarpaceae) 22
4.1.2 Phân loại chi Táu (Vatica) và chi Sao (Hopea) 23
4.2 Danh lục các loài thuộc chi Táu, chi Sao tại Việt Nam 26
4.3 Tính đa dạng tiêu bản các loài thuộc Chi Táu (Vatica) và Chi Sao (Hopea) tại các phòng tiêu bản đã nghiên cứu 28
4.3.1 Bảo tàng tài nguyên rừng Việt Nam – Viện điều tra quy hoạch rừng 28
4.3.2 Bảo tàng thực vật – Trường đại học Khoa học tự nhiên 29
4.3.3 Phòng thực vật rừng - Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật 29
4.3.4 Trung tâm đa dạng sinh học – Trường đại học lâm nghiệp 30
4.3.5 Phòng tiêu bản Thực vật Quốc Gia thành phố Hồ Chí Minh 31
4.4 Kết quả điều tra ngoài thực địa của các địa điểm nghiên cữu về Chi Táu (Vatica) và Chi Sao (Hopea) 31
4.4.1 Kết quả Điều tra thực địa tại VQG Cúc Phương – Ninh Bình 31
4.4.2 Kết quả Điều tra thực địa tại VQG Bến En - Thanh Hóa 33
4.4.3 Kết quả Điều tra thực địa tại KBTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng – Quảng Ninh 35
4.4.4 Kết quả Điều tra thực địa tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông - Thanh Hóa 36
4.4.5 Kết quả điều tra thực địa tại Khu Bảo tồn Văn Hóa Đồng Nai 37
4.4.6 Kết quả điều tra thực địa tại Khu Bảo TN Bình Châu, Phước Bửu 39
4.5 Bộ cơ sở dữ liê ̣u về hình thái, sinh thái, phân bố, giá tri ̣ sử du ̣ng và tình tra ̣ng bảo tồn các loài thuô ̣c Chi Táu (Vatica) và Chi Sao (Hopea) 42
4.5.1 Đặc điểm chung về họ Dầu - Dipterocarpaceae 42
4.5.2 Đặc điểm chung Chi Ta ́ u - Vatica 42
4.5.3 Cơ sở dữ liê ̣u về hình thái, sinh thái, phân bố, giá tri ̣ sử dụng và tình trạng ba ̉o tồn các loài thuộc Chi Táu (Vatica) 43
Trang 84.5.4 Đặc điểm chung của chi Sao - Hopea 59
4.5.5 Cơ sở dữ liê ̣u về hình thái, sinh thái, phân bố, giá tri ̣ sử dụng và tình trạng ba ̉o tồn các loài thuộc Chi Sao (Hopea) 60
4.6 Lập khóa tra cho các loài chi Táu (Vatica) và chi Sao (Hopea) 88
4.6.1 Khóa tra cho các chi trong họ Dầu ở Việt Nam 89
4.6.2 Khóa tra cho các loài trong chi Táu (Vatica) ở Việt Nam 89
4.6.3 Khóa tra cho các loài trong chi Sao (Hopea) ở Việt Nam 90
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 93 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
nhiên Quốc tế
nhiên
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
theo các tác giả khác nhau (Maury-Lecon and Curtet 1998)
24
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
4.4 Vatica odorata (Griff) Sym Ssp Odorata 51
4.8 Vatica chevalieri (Gagnep.) Smitinand 57
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam được thế giới công nhận là một trong 16 nước có tính đa dạng sinh học cao nhất thế giới với nhiều kiểu rừng, đầm lầy, sông suối, rạn san hô Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN) công nhận có 6 trung tâm đa dạng về thực vật
Hệ thực vật Việt Nam ước tính có khoảng trên 15.000 loài, bao gồm rất nhiều loài
có giá trị kinh tế cao, giá trị sinh thái và giá trị sử dụng…Mặc dù có số lượng không lớn trong số hàng nghìn cây gỗ Việt Nam song các loài cây họ Dầu đóng vai trò đặc biệt quan trọng Là một trong bốn loài tứ thiết (Đinh, Lim, Sến, Táu) đã gắn bó sâu sắc vào đời sống xã hội hàng trăm năm qua Các loài cây họ Dầu đã tạo nên một họ thực vật độc đáo và nổi tiếng nhất của vùng Hiện nay các loài gỗ cây họ Dầu đang chiếm thị phần lớn trên thị trường gỗ thế giới vì vậy có thể thấy rằng các loài này đang đóng một vai trò quan trọng đối với rất nhiều nước nhiệt đới, đặc biệt là các nước Đông Nam Á Ngoài việc cung cấp gỗ, rừng cây họ Dầu còn đem lại nhiều loại sản phẩm có giá trị khác phục vụ đời sống con người
Họ Dầu (Dipterocarpaceae) thuộc Bộ Bông Malvales (Theo quan điểm phân loại APG (Angiosperm Phylogeny groups) III và quan điểm của Takhtajan 2009) nằm trong lớp Hai lá mầm (Dicotyledone) bao gồm khoảng 600 loài, thuộc 16 chi phân bố rộng rãi trên toàn thế giới nhưng tập trung nhiều nhất ở các vùng nhiệt đới
và đặc biệt là khu vực Đông Nam Á, trong đó Việt Nam là một trong những quốc gia có số lượng loài cây họ Dầu rất đa dạng và phong phú
Tại Việt Nam, họ Dầu – Dipterocarpaceae có 45 loài thuộc 6 chi, phân bố rộng rãi từ Bắc tới Nam Họ Dầu nổi tiếng bởi nhiều loài cho gỗ lớn có giá trị kinh
tế cao như Táu Mật, Sao Đen, Cẩm Liên, Chò Nâu, Dầu Rái, Chò Chỉ…cùng với giá trị làm gỗ thì nhiều loài trong họ Dầu cho nhựa dầu Bên cạnh giá trị kinh tế thì
họ Dầu cũng là một trong ít họ có giá trị bảo tồn cao với nhiều loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam năm 2007 và danh lục đỏ thế giới IUCN 2012
Tuy nhiên hiện nay các loài cây họ Dầu chỉ còn gặp nhiều trong các khu bảo tồn đã được quy hoạch, vì trong những năm qua do chiến tranh, do khai thác quá mức mà diện tích rừng nói chung và rừng cây họ Dầu nói riêng đã bị suy giảm
Trang 13nghiêm trọng Theo viện điều tra quy hoạch rừng năm 1995, ở thời điểm năm 1959 diện tích các loại rừng có cây họ Dầu ở Đông Nam Bộ chiếm 49% diện tích toàn vùng, đến năm 1968 đã giảm xuống còn 36% , năm 1982 còn 18% và chỉ còn 8% ở năm 1992
Họ Dầu Việt Nam trước đây cũng có một số tác giả nghiên cứu Nhưng những nghiên cứu đó đã từ lâu, hoặc danh pháp và vị trí các taxon đã thay đổi, hoặc chưa đi sâu nghiên cứu từng chi Như vậy, cho đến nay vẫn chưa có một công trình
nghiên cứu phân loại nào đầy đủ về toàn bộ hai chi Vatica và Hopea ở Việt Nam
Để góp phần vào việc nghiên cứu phân loại thực vật Việt Nam, đồng thời để nâng cao sự hiểu biết về các taxon, cũng như góp phần phục vụ công tác nghiên cứu ứng
dụng, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu phân loại các loài thuộc chi Táu (Vatica) và chi Sao (Hopea) thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae) tại Việt Nam”
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1.Trên thế giới
1.1.1 Thực vật học và hình thái
Cronquist (1981)[23] phân chia họ Dầu (Dipterocarpaceae) thành 3 phân họ như sau:
+ Dipterocarpoideae Bumett: có các loài gặp ở nhiệt đới Châu Á và malesia
đặc trưng bởi bao phấn đính gốc (basifixed), lá đài cùng phát triển thành cánh, quả
có 2 hoặc thường gặp 3 ngăn với 2 hạt trong mỗi ngăn
+ Monotoideae: có các loài của nhiệt đới châu Phi và Mađagaxca, có bao
phấn lắc lư, lá đài ít phát triển cùng và chỉ đôi khi thành cánh, quả có 2 và ít khi 4 ngăn với 1 - 2 noãn mỗi ngăn
+ Pakaraimoideae: đặc hữu của vùng cao Guayana, nhiệt dới Nam Mỹ, gần gũi với họ Phụ Monotoideae nhưng có cánh hoa ngắn hơn lá đài và không có cuống
hoa lưỡng tính, quả có 4 - 5 ngăn có (2) 4 noãn
Một số nhà nghiên cứu hiện nay chia họ Dầu thành 2 họ khác biệt, là họ Dầu (Dipterocarpaceae BI) với 13 chi và ước tính trên khoảng 600 loài, còn họ kia là Monotaceae với 4 chi và khoảng 40 loài Takhtajan (1997) chia họ Dầu này thành 3
phân họ là: Monotoideae (Monotes và Maquesia); Pakaraimaeoideae
(Pakaraimaea) và Pseudomonotoideae (Pseudomonotes) Maury – Lecon and
Curtet (1998)[35] cho rằng họ Dầu (Dipterocarpaceae) (phân họ Dipterocarpoideae)
là thuần nhất ở Châu Á trong khi họ Dầu có 3 phân họ là: Dipterocarpoideae ở Châu Á; Pakaraimaeoideae ở Nam Mỹ và Monotoideae ở Châu Phi và Nam Mỹ
Ashton (1982)[22] và Maury – Lecon and Curtet (1998)[35] mô tả cây họ Dầu Châu Á là cây có nhựa, có kích thước từ nhỏ đến lớn, thường có bạnh vè Đặc điểm hình thái là lá đơn, mọc cách với lá kèm phát triển để bảo vệ chồi và mọi phần của cây được một lớp lông che phủ Hoa tự hình chùy óc nhiều chùm Trên hoa, cánh hoa dài hơn lá đài và có lông tơ ở các mức độ khác nhau, đài có 3 hoặc 5 lá đài lớn ra thành các cánh quả, tạo thành óng bao lấy quả hay một phần, hợp sinh hoặc
Trang 15tự do, khi tự do chúng thường xếp gối lên nhau Bao phấn thường có hai túi phấn (ít khi 4) Buồng trứng có 3 (ít khi 2) ngăn, mỗi ngăn chứa 2 noãn
De Candolle (1968) nhấn mạnh tầm quan trọng của số nhị và vị trí của chúng đối với cánh hoa để phân loại các chi họ Dầu Woon and keng (1979) đã thông báo hình thái nhị của 42 loài của 13 chi của các cây họ Dầu châu Á Họ đã thấy rằng trong nhiều nhóm, hình dáng và kích thước của phần phụ là rất đặc trưng và có giá trị giúp phán đoán trong phân loại
Tewary and Sarkar (1987) nghiên cứu giải phẫu biểu bì lá cây họ Dầu ở Ấn
Độ đã không thấy biến động có ý nghĩa nào về hình dạng và kích thước của các tế
bào biểu bì, chỉ trừ các loại Dipterocarpus và Shorea; rằng có các kiểu ống nhựa
khác nhau được tìm thấy trong các chi khác nhau; và rằng các loài cây họ Dầu ở Ấn
Độ có giá trị phân loại ở mức chi Whitmore (1962, 1963) nghiên cứu hình thái của
vỏ 130 loài cây họ Dầu, đã mô tả được 7 kiểu vỏ, đó là: nhẵn (smooth), dippled, nứt nông (Shallow fissured), nứt sâu (deep fissured), có vảy (scaly), thối hỏng bề mặt (surface rotten) và mỏng lớp (laminate)
+ Thiết lập các phân chi Shorea, Anthoshorea, Richetia, và Rubroshorea
+ Thiết lập 11 nhóm trong Shorea bao gồm cả chi Doona và Pentacme trước đây + Lập lại chi Vateriopsis
+ Phát hiện Pakaraimaea ở Nam Mỹ
+ Phát hiện ra loài Pseudomonotes tropenbosii trong phân họ Monotoidaea
gần gũi với Monotes và Marquesia châu Phi
- Ashton (1979) đã đưa ra các tiêu chí cho việc xác định các nhóm phân loại trên loài đó là:
+ Có ít nhất một cặp tính trạng không có quan hệ qua lại về chức năng
Trang 16+ Các tính trạng này phải là chung cho mọi loài trong nhóm
+ Chúng cũng là những gián đoạn về biến dị giữa các taxon
+ Mục tiêu quan trọng nhất của phân loại đó là có được sự ổn định về tên gọi Như vậy kết hợp với những kết quả của Maury-Lecon (1979), cây họ Dầu châu Á có thể được ghép vào hai nhóm lớn dựa vào sắp xếp cơ bản của lá đài trên quả và số nhiễm sắc thể đó là:
+ Nhóm Valvate-Dipterocarpi: Vateria, Vateriopsis, Stemonoporus, Vatica, Upuna, Anisoptera, Dipterocarpus với số lượng nhiễm sắc thể cơ bản n = 11
+ Nhóm Imbricate-Shoreae: Shorea, Parashorea, Hopea, Balanocarpus với số lượng nhiễm sắc thể cơ bản n = 7
* Nghiên cứu về nguồn gốc phát sinh:
- Theo nghiên cứu của Roy and Jha (1965) thì các loài cây họ Dầu có hai số thể nhiễm sắc thể cơ bản là n=11 với 2n=22 như ở Dầu nước (Dipterocarpus alatus)
và n=7 với 2n=14 như Shorea sobusta, Shorea roxburghii (Sến mủ) và Hopea
odorata (Sao đen) Nghiên cứu giải phẫu gỗ của Desch (1941) cho thấy tông (Tribe)
Dipterocarpeae là nguyên thủy hơn so với chi Shorea Các nghiên cứu tế bào học cũng ủng hộ quan điểm cho rằng chi Dầu có nguồn gốc phát sinh chủng loài gần gũi với Magnoliales – Myrtales (FAO, 1985)
- Nghiên cứu về AND đại diện cho mọi nhóm phân loài thực vật có hạt trong
đó có hai loài thực vật họ Dầu là Shorea stipularis và Shorea zeynanica-Doona
zeynanica, Chase et al (1993) cho biết họ Dầu liên hệ gần gũi với bộ Malvales với
các họ Bombacaceae, Tiliaceae, Sterculiaceae và Malvaceae nhưng không nằm trong bộ này
- Tsumura et al.1993 qua nghiên cứu AND cũng kết luận rằng các chi được lập thành 3 nhóm: nhóm cổ bao gồm Upuna, Cotylelobium, Vatica; nhóm trung gian gồm Dryobalanops và Dipterocarpus; nhóm tiên tiến bao gồm Shorea, Hopea
và Neobalannocarpus
- Rath et al (1998) sử dụng RAPD ( Radomly Amplified Polymorphic DNA) nghiên cứu nguồn gốc phát sinh của 12 loài (8 loài Shorea, 3 loài Hopea và
Trang 17Anisoptera megistocarpa) cho thấy có ít biến dị trong loài đối với loài Sao đen
(Hopea odorata)
- Dayanadan et al.1999 dựa vào chuỗi nucleotit của gen rbcL lục lạp đã kết luận thành viên của họ Dầu (bao gồm cả Manotes và Pakaraimaea) quan hệ gần gũi với họ Sarcolaenaceae và có quan hệ họ hàng với Malvales Vị trí phát sinh chủng loại với Dipterocarpus và Dryobalanops còn chưa được giải quyết
* Nghiên cứu về đa dạng di truyền
* Mức độ thụ phấn chéo
1.1.3 Số lượng loài
Châu Á là trung tâm của các loài cây họ Dầu và hiện có nhiều loài nhất Ba khu vực rất đáng được quan tâm ở khu vực này là đảo Bomeo, Sumatra và bán đảo
Malaixia (Maury-Lecon and Curtet,1998)[35]
- Số lượng loài ở vùng Malesia
+ Symington (1943) xuất bản cuốn “Foresters Manual of Dipterocarps” ở Malaixia có giới thiệu 168 loài với nhiều hình vẽ và khóa phân loại cho 13 nhóm dựa vào lá, quả, lá kèm, thân và vỏ Các nhóm đó là: Parashora, Pentacme, Hopea, Balannocarpus, Dipterocarpus, Dryobalanops, Anisoptera, Vatica, Cotylelobium và
4 nhóm của Shorea
+ Ashton (1982) đã hoàn thiện việc xem xét các loài cây họ Dầu ở vùng này với 10 chi và 368 loài
- Số lượng loài ở Philipin
+ Rojo, 1994 cho biết diện tích đất tự nhiên của Philippin là 33 triệu ha, trong đó năm 1972 rừng cây họ Dầu chiếm gần 15 triệu ha, đến năm 1990 giảm xuống còn 4,148 triệu ha
- Số lượng loài ở Nam Á (Bănglađét, Myanma, Ấn Độ, Nê Pan, Sri Lanca) + Dyer (1874) trong cuốn “J.D.Hooker’s Flora British India” đã mô tả 92
loài của 9 chi cây họ Dầu đó là các chi Dipterocarpus, Ancistrocladus, Anisoptera,
Vatica, Shorea, Hopea, Doona, Vateria, Monoporanda
Trang 18+ Tổ chức lương thực và nông nghiệp của Liên hợp quốc (FAO,1985) đã thông báo khu vực Nam Á có cả thảy 10 chi với 99 loài cây họ Dầu đó là các chi
sau: Dipterocarpus 19 loài, Balanocarpus 1 loài, Anisoptera 3 loài, Vatica 9 loài,
Shorea 27 loài, Hopea 18 loài, Parashorea 2 loài, Vateria 3 loài, Monoporanda 15 loài, Cotylelobium 2 loài
+ Tewary and Sarkar (1985) đã thông báo rằng Ấn Độ chỉ có 31 loài của 5 chi họ Dầu Còn ở Sri Lanca, Ashton (1972) cho rằng có 44 - 45 loài, trong khi đó Kostermans (1992) cho rằng có 9 chi và 58 loài
- Số lượng loài ở Trung Quốc
Cheng-chiu (1987) có 5 chi và 9 loài và 2 loài phụ cụ thể như sau:
Dipterocarpus retusus, Vatica guanxiensis, Vatica mangachapoi, Parashorea chinensis, Hopea chinensis, Hopea hainanensis, Hopea mollissima, Hopea jianshu (
mà theo ông là tên đồng nghĩa của sao mạng Hopea reticulata), Shorea robusta,
Shorea assamica ssp assamica, và Shorea assamica ssp globifera Ông cũng cho
biết là Dipterocarpus turbinatus đã được nhập trồng vào Vân Nam từ lâu và vào
Hải Nam từ vài thập niên qua nên được coi là tự nhiên hóa
- Số lượng loài ở Đông Dương (Lào, Campuchia và Việt Nam)
+ Tổng hợp các công trình nghiên cứu ở Thái Lan cho thấy ở nước này có cả
thảy 65-68 loài thuộc 8 chi như sau: Dipterocarpus 16-17 loài, Neobalannocarpus 1
loài, Anisoptera 3 loài, Vatica 8 loài, Shorea 22 loài, Hopea 14-15 loài, Cotylelobium 1 loài, Parashorea 1 loài
+ Smitinand et al (1990)[39] trong công trình “ Flore du Cambodge du Laos
et du Vietnam” cho biết vùng này có 48 loài của 6 chi
Trang 192, Lục địa Đông Nam Á : Mianma, Thái Lan, Campuchia, Lào, Việt Nam và nam Trung Quốc ;
3, Nam Á : Ấn Độ, quần đào Andaman, Băng la đét, Nê Pan ;
4, Sri Lanca
5, Seychelles
- Ashton (1982) xem xét kĩ phân bố cây họ Dầu cho thấy chúng có trung tâm tại Đông Nam Á và đặc biệt nhiều ở rừng mưa Malaixia Không tìm thấy loài họ Dầu chống chịu lửa hoặc rụng lá ở Malaixia trong khi chúng lại dễ nhận thấy ở lục địa Đông Nam Á trong các rừng cây họ Dầu rụng lá theo mùa
Theo Ashton , cây họ Dầu tập trung ở vùng khí hậu nhiệt đới với lượng mưa bình quân năm >1000mm và mùa mưa dưới 6 tháng, phần lớn các loài không phân
bố trên độ cao quá 1000m so với mực nước biển New Guinea và Bomeo có sự đặc hữu rất cao, theo thứ tự là 73% của 15 loài ở New Guinea và 59% cua 267 loài ở Bomeo, trong khi ở bán đảo Malaixia chỉ là 19% của 156 loài Các loài phân bố rộng bao gồm các loài chung cho cả các vùng có khí hậu thay đổi theo mùa như các
loài Shore assimica, Dipterocarpus gracilis, Dipterocarpus kerrii và Anisoptera
costata
1.2 Ở Việt Nam
Tại Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về họ Dầu như “Báo cáo tổng quát về họ Dầu Việt Nam” của Thái Văn Trừng năm 1986, Họ Dầu khu vực Lào, Campochia và Việt Nam của Smitinand và Phạm Hoàng Hộ năm 1990; Cây làm thuốc trong Họ Dầu của Việt Nam của Võ Văn Chi năm 1985 Các công trình trên tập trung vào mô tả và tìm hiểu giá trị sử dụng của các loài trong họ dầu tại Việt Nam
- Trong cuốn Phân loại học thực vật bậc cao của tác giả Võ Văn Chi và
- Lớp Ngọc Lan Theo đó các loài cây trong họ Dầu là những cây gỗ lớn chỉ phân
bố trong vùng cổ nhiệt đới ( bao gồm vùng Đông Nam Á), đó là một trong ba họ đặc hữu của vùng cổ nhiệt đới ( Dipterocarpaceae, Nephethaceae, Pandanaceae)
Trang 20Trong thân của chúng luôn có ống tiết nhựa dầu Lá mọc cách, đơn, lá kèm sớm rụng Hoa đều , lưỡng tính, mẫu 5 Đế hoa phẳng hay lồi nhưng cũng có khi lõm Đài gồm 5 lá đài rời hay dính lại ở phần dưới thành bao, phần trên tự do và một số mảnh lớn lên cùng với quả tạo thành cánh Tràng gồm 5 cánh hoa, có tiền khai hoa
văn, bộ nhị có số lượng thay đổi từ 10-15 ( 10 ở Hopea, 15 ở Pentacme, Vatica) hoặc nhiều hơn (20-35 ở Dipterocarpus Anisoptera hay hơn nữa ở Shorea) Chỉ nhị
rời hay dính lại với nhau ở dưới, bầu trên 3 ô, trong mỗi ô có 2 noãn đảo Đôi khi dính với ống đài làm thành bầu dưới Quả nang, có cánh do lá đài lớn lên làm
thành : 2 cánh ở Dipterocarpus, Anisoptera, Hopea ; 3 cánh ở Shorea, Vatica; 5 cánh ở Parashorea
Hạt thường không có nội nhũ, thùy hạt xoắn lại, ôm lấy rễ mầm 2n=12, 14,
20, 30
Họ quả hai cánh có 22 chi và hơn 400 loài phân bố trong rừng nhiệt đới Nam
và Đông Nam châu Á Phần lớn các đại diện của họ này đều phân bố ở rừng mưa
Những chi thường gặp ở nước ta là Dipterocarpus, Shorea, Hopea, Vatica,
Parashorea, Anisoptera Nhưng phân bố chủ yếu ở miền nam, nhiều nhất vẫn là chi Dipterocarpus Nhiều loài cho gỗ có giá trị, trong thân có nhựa được dùng trong
công nghiệp Các chi Vatica, Hopea phân bố nhiều ở miền Bắc
- Theo cuốn 1900 loài cây có ích ở Việt Nam (1993)[18], họ Dầu ở Việt Nam
có 7 chi, 40 loài như sau:
+) Chi Anisoptera 3 loài: Anisoptera costata Korth, Anisoptera glabra Kurz,
Anisoptera robusta Pierre
+) Chi Dipterocarpus 6 loài: Dipterocarpus alatus, Dipterocarpus dyeri,
Dipterocarpus insularis Hance, Dipterocarpus intricatus, Dipterocarpus obtusifolius, Dipterocarpus punctulatus Pierre
+) Chi Hopea 4 loài : Hopea pierrei Hance, Hopea odorata Roxb, Hopea
dealbata Hance, Hopea ferrea Pierre
+) Chi Parashorea 1 loài : Parashorea stallata
+) Chi Pentacme 1 loài : Pentacme siamensis
Trang 21+) Chi Shorea 6 loài : Shorea cochinchinensis, Shorea harmandii Pierre,
Shorea hypochrea Hance, Shorea obtusa, Shorea thorelli, Shorea vuglaris Pierre
+) Chi Vatica 4 loài : Vatica astrotricha, Vatica dyeri Pierre ex Laners,
Vatica fleuryana Tardieu, Vatica odorata
- Nguyễn Tiến Bân (1997)[2] trong cuốn “cẩm nang tra cứu và nhận biết các
họ thực vật hạt kín ở Việt Nam” đã giới thiệu về họ Dầu như sau : Cây gỗ, lá đơn mọc cách, có lá kèm sớm rụng, hoa đều, lưỡng tính, lá đài 5 hợp ở gốc và ống đài thường dính với bầu Cánh hoa 5 xếp vặn, nhị nhiều hoặc 10-15, đôi khi 5, thường rời nhau Bộ nhụy gồm 3 lá noãn hợp Syncarp (hợp nguyên lá noãn) thành bầu thượng 3 ô Rất đặc trưng bởi quả khô không mở, nằm trong đài bền, đồng trưởng thành 2,3 hoặc 5 cánh Hạt thường không có nội nhũ, lá mầm vặn và ôm lấy rễ mầm Phân bố ở nhiệt đới chủ yếu ở miền rừng mưa nhiệt đới Việt Nam có 6 chi là
Dipterocarpus, Anisoptera, Shorea (Pentacme), Hopea, Vatica (Perissandra), Parashorea với trên 45 loài
Chi Pentacme với loài duy nhất ở Việt Nam là Pentacme siamensis (Cà chấc), nay đổi thành Shorea siamemsis Chi Perissandra thuộc họ Violaceae theo Jacobs (1967), nay là tên đồng loại của Vatica Trong hệ thống Takhtajan 1987, họ
Dầu được chuyển sang bộ Bông (Malvales)
- Trong công trình nghiên cứu “Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ năm (1999)[10], tác giả đã thống kê, mô tả 40 loài thuộc 6 chi trong họ Dầu có tại Việt Nam
- Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên (2000)[5], trong cuốn giáo trình Thực vật rừng cũng đã giới thiệu một cách tổng quát về họ Dầu và mô tả đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái, phân bố, giá trị và khả năng kinh doanh bảo tồn của 12 loài trong họ Dầu tại Việt Nam
- Nguyễn Kim Đào (2003)[9], trong Danh lục thực vật Việt Nam thì tác giả
đã thống kê được họ Dầu tại Việt Nam có 42 loài thuộc 6 chi
- Nguyễn Hoàng Nghĩa (2005)[14], trong công trình nghiên cứu về Họ Dầu Việt Nam cho rằng Việt Nam có 38 loài và 02 loài phụ thuộc 06 chi Bên cạnh các
Trang 22nghiên cứu về mô tả, thống kê loài thì tại Việt Nam còn có một số nghiên cứu về khả năng gây trồng của một số loài đơn lẻ trong họ Dầu nhằm phục vụ cho việc gây trồng và làm giàu rừng
- Theo cuốn “Hình thái phân loại thực vật”, họ Dầu (Dipterocarpaceae
Blume 1825) thuộc bộ Bông (Malvales Dumortier 1829) Họ Dầu có một số đặc điểm chính như sau : Cây gỗ, thường xanh hay rụng lá, trong thân thường có nhựa dầu, các bộ phận non thường phủ lông hình sao hay vẩy nhỏ Lá đơn, mọc cách, hệ gân lông chim, gân cấp 2 thường nhiều và song song, mép lá nguyên, lá kèm sớm rụng đôi khi lá kèm bao chồi Hoa tự chùm hay bông viên chùy Hoa đều, lưỡng tính, mẫu 5 Đài hợp gốc đôi khi liền với bầu, sống dai, sau phát triển thành cánh quả Tràng rời hay hợp ở gốc, xếp vặn Nhị 5-nhiều, rời Nhụy gồm 3 lá noãn hợp thành bầu trên, 3 ô, mỗi ô 2 noãn, đôi khi nhụy phình to ở gốc Quả kín khô, 1 hạt Thường có đài bao quả trong đó 2, 3 hoặc 5 cánh đài phát triển thành cánh quả Hạt không có nội nhũ, lá mầm vặn Họ Dầu gồm 13 chi, khoảng 700 loài, phân bố ở nhiệt đới cổ, đặc biệt nhiều ở rừng mưa Malaixia Việt Nam có 6 chi, trên 40 loài
- Theo cuốn Tên cây rừng Việt Nam của hai tác giả Trần Hợp và Nguyễn Tích, năm 1971: Họ quả hai cánh trên thế giới có 22 chi và 400 loài, ở Việt Nam có
7 chi và 38 loài Tác giả cũng liệt kê và mô tả tóm tắt về dạng sống, nơi mọc, mùa hoa quả và công dụng của các loài nói trên.Trong cuốn sách này tác giả đã liệt kê
đuợc 13 loài thuộc chi Dipterocarpus, 3 loài thuộc chi Anisoptera, và 9 loài thuộc chi Shorea
- Theo Báo Nông Nghiệp và phát triển nông thôn, số 10, năm 2013, trang 94
- 98[15] của tác giả Hoàng Văn Sâm - Trung tâm Đa dạng sinh học, trường Đại học
Lâm nghiệp, đã công bố loài Hopea exalata W.T.Lin, Y.Y.Yang & Q.S.Hsue -
được đặt tên là Táu đá phong nha
Tuy đã có những nghiên cứu về họ Dầu tại Việt Nam, nhưng đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu sâu về hệ thống phân loại mà mới chỉ dừng lại ở việc thống kê và mô tả loài Bên cạnh đó vẫn còn tồn tại một số mẫu thuẫn trong các nghiên cứu về số lượng loài trong họ Dầu có tại Việt Nam Vì vậy kết quả
Trang 23nghiên cứu của đề tài sẽ là những đóng góp quan trọng về họ Dầu ở Việt Nam nói riêng
và trên thế giới nói chung góp phần vào sự nghiệp bảo tồn đa dạng sinh học
1.3 Những nghiên cứu về chi Táu (Vatica) và chi Sao (Hopea)
Châu Á là trung tâm của các loài cây họ Dầu và hiện có nhiều loài nhất Ba khu vực rất đáng được quan tâm ở khu vực này là đảo Bomeo, Sumatra và bán đảo Malaixia (Maury-Lecon and Curtet,1998)[35] Số lượng loài ở Đông Dương (Lào, Campuchia và Việt Nam)
Rath et al (1998)[35] sử dụng RAPD ( Radomly Amplified Polymorphic DNA) nghiên cứu nguồn gốc phát sinh của 12 loài (8 loài Shorea, 3 loài Hopea và
Anisoptera megistocarpa) cho thấy có ít biến dị trong loài đối với loài Sao đen
(Hopea odorata)
Tổng hợp các công trình nghiên cứu ở Thái Lan cho thấy ở nước này có cả
thảy 65-68 loài thuộc 8 chi trong đó Vatica 8 loài, Hopea 14-15 loài
Theo cuốn 1900 loài cây có ích ở Việt Nam (1993)[18], họ Dầu ở Niệt Nam
có 7 chi, 40 loài trong đó: Chi Hopea 4 loài : Hopea pierrei Hance, Hopea odorata Roxb, Hopea dealbata Hance, Hopea ferrea Pierre Chi Vatica 4 loài : Vatica
astrotricha, Vatica dyeri Pierre ex Laners, Vatica fleuryana Tardieu, Vatica
odorata
Tổ chức lương thực và nông nghiệp của Liên hợp quốc (FAO,1985) đã thông
báo khu vực Nam Á có cả thảy 10 chi với 99 loài cây họ Dầu trong đó Vatica 9 loài
và Hopea 18 loài
Những nghiên cứu gần đây cho thấy Trên thế giới chi Sao – Hopea đã ghi
nhận được có 112 loài phân bố từ Ấn Độ, Sri lanca, Băng La Đéc Nam Trung Quốc và các nước Đông Nam (Rachun Pooma 2003)[38] Ở nước ta chúng tôi đã
trong họ Dầu với khoảng 71 loài được thống kê và phân bố rộng từ Sri Lanka, Ấn
Độ, Trung Quốc và Đông Nam Á(Rachun Pooma 2003)[38] Tại Việt Nam theo hệ thống tiêu bản đã được nghiên cứu chúng tôi ghi nhận được 9 loài
Trang 24Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát:
Cung cấp cở sở khoa học trong nghiên cứu phân loại các loài thuộc chi Táu
(Vatica) và chi Sao (Hopea) nói riêng và chi trong họ Dầu (Dipterocarpaceae) nói
chung
- Mục tiêu cụ thể:
+ Xây dựng được bộ cơ sở dữ liệu các loài thuộc chi Táu (Vatica) và chi Sao (Hopea) - Họ Dầu (Dipterocarpacece) ở Việt Nam
+ Xây dựng được khóa phân loại các loài thuộc 2 chi Táu (Vatica) và chi
Sao (Hopea) - Họ Dầu (Dipterocarpacece) ở Việt Nam
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Những công trình nghiên cứu về họ Dầu (Dipterocarpaceae), đặc biệt là chi
Táu (Vatica) và chi Sao (Hopea) trên thế giới và Việt Nam
- Các tiêu bản khô của hai chi Táu (Vatica) và chi Sao (Hopea) - Họ Dầu
(Dipterocarpacece) ở Việt Nam được lưu giữ tại các phòng tiêu bản của các viện
nghiên cứu và các trường đại học ở trong như: Viện Sinh thái & Tài nguyên Sinh vật (HN), Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội (HNU), Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam (VNMN), Viện Điều tra Quy hoạch rừng (FIPI), Trung tâm Đa dạng sinh học - Trường đại học Lâm Nghiệp (VNF)
Nghiên cứu thực địa tại VQG Cúc Phương, VQG Bến En, VQG Bình Châu Phước Biểu, Khu bảo tồn tại thiên nhiên Pù Luông, Khu BTTN Văn Hóa Đồng Nai, Khu BTTN Đồng Sơn Kỳ Thượng
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Tổng kết một số quan điểm phân loại họ Dầu và hai chi Táu (Vatica) và chi Sao (Hopea)
Trang 25- Nghiên cứu thành phần loài thực vật thuộc chi Táu (Vatica) và chi Sao (Hopea) tại Việt Nam
- Xây dựng cơ sở dữ liệu cho các loài thuộc chi Táu (Vatica) và chi Sao (Hopea) tại Việt Nam
- Xây dựng khóa tra các loài thuộc chi Táu (Vatica) và chi Sao (Hopea) tại
Việt Nam
2.4 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu phân loại hai chi Táu (Vatica) và chi Sao (Hopea) - Họ Dầu
(Dipterocarpacece) ở Việt Nam, chúng tôi dùng phương pháp hình thái so sánh Đây là phương pháp kinh điển và phổ biến nhất trong nghiên cứu phân loại thực vật
từ trước đến nay Phương pháp này tuy đơn giản nhưng lại dễ dàng trong nghiên cứu do trang thiết bị không phức tạp, dễ sử dụng, và về mặt khoa học vẫn cho những kết quả đáng tin cậy Phương pháp này dựa vào đặc điểm hình thái của cơ quan sinh dưỡng và cơ quan sinh sản để nghiên cứu Trong đó, chủ yếu dựa vào đặc điểm của cơ quan sinh sản vì nó ít biến đổi và ít phụ thuộc vào điều kiện của môi trường bên ngoài Chính bằng phương pháp này, nhiều tác giả đã xây dựng thành công các hệ thống phân loại cũng như các hệ thống phát sinh của thực vật
Khi so sánh hình thái của các mẫu vật, chúng tôi tuân theo nguyên tắc là chỉ
so sánh các cơ quan tương ứng với nhau Đó là những cơ quan có chung nguồn gốc, tuy có thể có sự sai khác chút ít trong cấu tạo và chức phận Đồng thời, để đảm bảo tính chính xác của phương pháp, chúng tôi chỉ so sánh các cơ quan tương ứng trong cùng một giai đoạn phát triển Đôi khi, các dấu hiệu về hình thái rất phức tạp, vì hiện tượng tiêu giảm một số cơ quan để thích nghi với điều kiện bên ngoài, nên có thể phải sử dụng các phương pháp khác để hỗ trợ nếu cần thiết
Như vậy việc nghiên cứu phân loại của hai chi Táu (Vatica) và chi Sao (Hopea) - Họ Dầu (Dipterocarpacece) - ở Việt Nam được tiến hành theo các bước sau:
Bước 1: Tập hợp, kế thừa, phân tích các tư liệu trong và ngoài nước về chi
Táu (Vatica) và chi Sao (Hopea) - Họ Dầu (Dipterocarpacece) qua đó lựa chọn hệ
Trang 26thống phân loại phù hợp với việc phân loại của hai chi Táu (Vatica) và chi Sao (Hopea) ở Việt Nam
Bước 2: Tham gia các chuyến đi thực địa nhằm thu thập mẫu vật; quan sát
và ghi chép các đặc điểm của mẫu vật (dạng sống, màu sắc hoa, quả ) mà ở trạng thái khô không quan sát được; quan sát xác định về phân bố, môi trường sống và các đặc điểm khác Đồng thời, chúng tôi sơ bộ phân tích vì ở trạng thái tươi dễ quan sát và định loại
Bước 3: Nghiên cứu và phân tích các mẫu vật của của hai chi Táu (Vatica)
và chi Sao (Hopea) - Họ Dầu (Dipterocarpacece), do các nhà thực vật trong nước và
nước ngoài thu thập, lưu giữ tại các phòng tiêu bản Trong quá trình phân tích, so sánh và định loại, chúng tôi chủ yếu dựa vào các bản mô tả gốc, các sách chuyên
khảo, các bộ thực vật chí của Việt Nam và các nước lân cận
Bước 4: Tổng hợp kết quả nghiên cứu và hoàn chỉnh các nội dung khoa học
của luận văn
Sau khi tiến hành quan sát ở các phòng tiêu bản cũng như điều tra thực tế, xác định được thành phần các loài thuộc chi Táu và chi Sao ta tiến hành lập danh lục các loài theo mẫu biểu sau:
TT
Tình trạng
Tên phổ
thông
Tên khoa
- Xây dựng khóa định loại hai chi các loài trong hai chi ở Việt Nam Khóa định loại xây dựng theo kiểu lưỡng phân Để xây dựng khóa này, chúng tôi đã sử dụng những đặc điểm giống nhau và khác nhau cơ bản của cơ quan sinh dưỡng và
cơ quan sinh sản
- Mô tả các phân các chi và loài ở Việt Nam
Trang 27 Mô tả loài gồm: Danh pháp (Tên khoa học, Tên Việt Nam, Tác giả, Năm công bố, Tài liệu dẫn); Đặc điểm loài (Thân, Lá, Lá kèm, Hoa, Quả, Hạt); Typus; Sinh học và sinh thái; Phân bố; Giá trị sử dụng (nếu có) Mẫu nghiên cứu;
- Lập khoá tra cho các loài hai chi Táu (Vatica) và chi Sao (Hopea) theo phương
pháp (Greesink et al 1995; Nguyễn Nghĩa Thìn 1997, Nguyễn Tiến Bân 1997,
Hoàng Văn Sâm et al 2004)
Trang 28Chương 3 KHU VỰC NGHIÊN CỨU
Bên cạnh việc nghiên hệ thống tiêu bản của hai chi Táu và chi Sao thuộc Họ Dầu tại các phòng thực vật, nhà bảo tàng như Trung tâm Đa dạng sinh học, Trường đại học Lâm Nghiệp; Phòng tiêu bản thực vật – viện sinh thái và tài nguyên sinh vật
Hà Nội; Phòng tiêu bản thực vật – viện điều tra quy hoạch rừng; Phòng tiêu bản thực vật – Trường đại học khoa học tự nhiên; Phòng tiêu bản thực vật Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Đề tài tiến hành điều tra nghiên cứu thực địa tại một số địa điểm sau
3.1 Vườn quốc gia Cúc Phương
Năm 1960, rừng Cúc Phương được công nhận là khu bảo tồn rừng và được thành lập theo Quyết định 72/TTg ngày 7 tháng 7 năm 1962 với diện tích 20.000 ha đánh dấu sự ra đời khu bảo vệ đầu tiên của Việt Nam Quyết định số 18/QĐ-LN ngày 8 tháng 1 năm 1966 chuyển hạng lâm trường Cúc Phương thành VQG Cúc Phương Quyết định số 333/QĐ-LN ngày 23 tháng 5 năm 1966 quy định chức năng
và trách nhiệm của Ban quản lý rừng Ngày 9 tháng 8 năm 1986, Cúc Phương được nêu trong danh sách các khu rừng đặc dụng theo Quyết định số 194/CT của Chính phủ Việt Nam với phân hạng quản lý là Vườn quốc gia diện tích 25.000 ha Luận chứng kinh tế-kỹ thuật của vườn quốc gia được phê duyệt ngày 9 tháng 5 năm 1988 theo Quyết định số 139/CT Trong đó, ranh giới của vườn được xác định lại với tổng diện tích là 22.200 ha, bao gồm 11.350 ha thuộc địa giới tỉnh Ninh Bình, 5.850
ha thuộc địa giới tỉnh Thanh Hóa và 5.000 ha thuộc địa giới tỉnh Hòa Bình Toạ độ rừng: Từ 20°14' tới 20°24' vĩ bắc, 105°29' tới 105°44' kinh đông
Trong đó ngành quyết thực vật có 31 họ, 57 chi, 149 loài; ngành hạt trần có 3
họ, 3 chi và 3 loài; ngành hạt kín có 154 họ, 747 chi và 1588 loài Với diện tích chỉ bằng 1/700 diện tích miền Bắc và gần 1/1500 diện tích của cả nước nhưng hệ thực vật Vườn quốc gia Cúc Phương chiếm tỷ lệ 76% số họ, 48,6% số chi và 30% số loài của miền Bắc và chiếm 68,9% số họ, 43,6% số chi và 24,6% số loài hiện có ở Việt Nam Thảm thực vật Cúc Phương với ưu thế là rừng trên núi đá vôi Rừng có thể
Trang 29hình thành nên nhiều tầng tán đến 5 tầng rõ rệt, trong đó tầng vượt tán đạt đến độ cao trên 40 m Do địa hình dốc, tầng tán thường không liên tục và đôi khi sự phân tầng không rõ ràng Nhiều cây rất phát triển hệ rễ bạnh vè để đáp ứng với tầng đất mặt thường mỏng Vườn quốc gia hiện là nơi có nhiều loài cây gỗ lớn như chò xanh, chò chỉ hay đăng , hiện đang được bảo vệ để thu hút du khách thăm quan Đây cũng là nơi phong phú về các cây gỗ và cây thuốc Cúc Phương có hệ thực vật phong phú Hiện nay, các nhà khoa học đã thống kê được gần 2.000 loài thực vật có mạch thuộc 887 chi trong 221 họ thực vật Các họ giàu loài nhất trong hệ thực vật Cúc Phương là các họ Đại kích, Hòa thảo, Đậu, Thiến thảo, Cúc, Dâu tằm, Nguyệt quế, Cói, Lan và Ô rô Khu hệ thực vật ở Cúc Phương là tập hợp yếu tố địa lý thực vật bao gồm Trung Quốc-Himalaya, Ấn Độ-Myanma và Malesia Đến nay, đã có 3 loài thực vật có mạch đặc hữu được xác định cho hệ thực vật Cúc Phương là hồ trăn Cúc Phương, mua Cúc Phương và cui Cúc Phương Vườn quốc gia Cúc Phương cũng được xác định là 1 trong 7 trung tâm đa dạng thực vật của Việt Nam Vườn có diện tích 22.000ha, trong đó 3/4 là núi đá vôi cao từ 300 đến 600m so với mặt biển Tại đây có đỉnh Mây Bạc cao 648,2m
Khí hậu ở Cúc Phương thuộc loại khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm khoảng 24,7°C Địa hình phức tạp, rừng ở dạng nguyên sinh chứa nhiều
bí ẩn, và cảnh quan độc đáo Tại đây có rất nhiều hang động với cảnh quan kỳ thú
và ẩn chứa những chứng tích văn hoá lịch sử lâu đời như động Trăng Khuyết, động Chúa, động Thuỷ Tiên, động Người Xưa, hang Con Moong, động San Hô
3.2 Vườn quốc gia Bến En - Thanh Hóa
Vườn quốc gia Bến En là một vườn quốc gia thuộc tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam Được thành lập theo quyết định số 33 ngày 27 tháng 1 năm 1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam Thuộc huyện Như Thanh và huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa Nằm cách thành phố Thanh Hóa khoảng 36 km về phía tây nam Tọa
độ từ 19°31′ tới 19°43′ vĩ bắc và 105°25′ tới 105°38′ kinh đông
Tổng diện tích là 14.735 ha, trong đó rừng nguyên sinh là 8.544 ha Vườn quốc gia Bến En có địa hình nhiều đồi núi, có nhiều sông, suối và hồ Mực trên núi có diện
Trang 30tích 3000 ha có 21 đảo nổi giữa là một trong vườn quốc gia đẹp nhất Việt Nam Kết quả nghiên cứu năm 1997 - 2000 và nghiên cứu, điều tra bổ sung từ năm 2003 -
2009 đã thống kê được ở Vườn quốc gia Bến En có 1.389 loài của 6 ngành thực vật thực vật bậc cao (có mạch) thuộc 902 chi, 196 họ Trong đó 29 loài có trong danh lục đỏ IUCN 2007, 42 loài có tên trong sách đỏ Việt Nam năm 2007
Có 3 loài thực vật mới của Việt nam được phát hiện ở Bến En là: Xâm cánh bến en
(Glyptoetalum sclerocarpum (Kurz) M.A Lawson), Đậu khấu bến en (Myristica
yunanensis Y.H Li) và Đẻn bến en (Timonius arborea Elmer)
3.3 Vườn quốc gia Bình Châu Phước Bửu
Nằm trong hệ thống các khu rừng đặc dụng của Việt Nam, Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu được công nhận theo Quyết định số 194/CT ngày 9 tháng 8 năm 1986 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ)
Là khu rừng nguyên sinh, có diện tích tự nhiên hơn 10.537 ha, với ưu thế rừng cây
họ Dầu ven biển còn lại ở Việt Nam, đây là nơi cư trú cho các loài sinh vật, đặc biệt
là các loài quý hiếm đang có nguy cơ bị tuyệt chủng; Khu bảo tồn còn có chức năng phòng hộ môi trường vùng ven biển, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, phục vụ nghiên cứu, thực nghiệm khoa học, giáo dục bảo tồn, vui chơi giải trí và tổ chức các hoạt động du lịch sinh thái…Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu được xếp vào “Kiểu thực vật rừng kín, nửa rụng lá ẩm nhiệt đới” Đa dạng về thành phần thực vật, gồm 750 loài thuộc 123 họ, trong đó có 732 loài đã được định danh, với nhiều loài quý hiếm như: Cẩm lai Bà Rịa, Gõ đỏ, Gõ mật, Giáng hương, Bình linh nghệ, Dầu cát , riêng loài Dầu cát (Dipterocarpus costatus) được coi là loài cây đặc hữu của Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu
3.4 Khu bảo tồn tại thiên nhiên Pù Luông
Khu bảo tồn tại thiên nhiên Pù Luông nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh, thuộc địa bàn hai huyện Bá Thước và Quan Hóa, Khu Bảo tồn Thiên nhiên (BTTN) Pù Luông có diện tích 17.662 ha với cảnh quan thiên nhiên kỳ thú, hệ động vật đa dạng, phong phú là điểm đến hấp dẫn cho những người thích du lịch sinh thái và khám phá thiên nhiên
Trang 31Khu BTTN Pù Luông hiện có 1.109 loài cây có mạch, thuộc 447 chi, 152 họ, trong
đó có 42 loài đặc hữu Việt Nam và 4 loài xếp trong sách đỏ thế giới; gần 600 loài động vật, gồm: thú, chim, lưỡng cư, với 51 loài động vật quý hiếm và đặc hữu xếp trong sách đỏ Việt Nam và sách đỏ thế giới Đặc biệt, Khu BTTN Pù Luông là nơi
có quần thể linh trưởng mang tính đặc hữu là Voọc mông trắng lớn thứ 2 Việt Nam sau Khu BTTN Vân Long (Ninh Bình)
3.5 Khu BTTN Văn Hóa Đồng Nai
Khu Bảo tồn Thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai (KBT) được thành lập đầu năm 2004, là đơn vị sự nghiệp khoa học có thu trực thuộc UBND tỉnh Đồng Nai, nằm trong hệ thống rừng đặc dụng và di sản văn hóa của Việt Nam Khu Bảo tồn thuộc tiểu vùng bảo tồn sinh thái khẩn cấp (khu vực SA5- lưu vực sông Đồng Nai - WWF, 2001) nằm trong hệ sinh thái Trường Sơn, một trong 200 vùng sinh thái quan trọng thế giới được xác định trong “Global 200 Ecoregions” Là sinh cảnh ưu tiên được xác định bởi Quỹ Bảo tồn Việt Nam (VCF 2003-2004)
Tổng diện tích tự nhiên của KBT trên 100.303 ha, gồm: 67.903 ha đất lâm nghiệp và 32.400 ha mặt nước (hồ Trị An) Khu Bảo tồn nằm trên địa bàn các xã Phú Lý, Mã Đà, Hiếu Liêm, thị trấn Vĩnh An thuộc huyện Vĩnh Cửu, xã Thanh Sơn thuộc huyện Tân Phú; xã Phú Cường, Phú Ngọc, La Ngà và Ngọc Định thuộc huyện Định Quán; xã Thanh Bình thuộc huyện Trảng Bom, xã Gia Tân thuộc huyện
Thống Nhất - tỉnh Đồng Nai Khu Bảo tồn nằm về phía Bắc tỉnh Đồng Nai; phía
Tây giáp tỉnh Bình Dương; phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước Cách thành phố Hồ Chí Minh 70 km và cách thành phố Biên Hòa khoảng 40 km (nằm cạnh nhà máy Thủy điện Trị An) Bên cạnh giá trị về đa dạng sinh học, trước đây còn là vùng căn cứ
cách mạng với địa danh nổi tiếng Chiến khu Đ Đa dạng sinh học Theo kết quả điều
tra của Phân viện Điều tra quy hoạch rừng Nam bộ, Viện Sinh thái – Tài nguyên Sinh vật và Viện Nghiên cứu - Nuôi trồng Thủy sản II (2008-2009) Tài nguyên động thực vật tại KBT rất đa dạng về chủng loài và nhiều về số lượng cá thể, qua
điều tra bước đầu ghi nhận: Thực vật: có 1.401 loài thực vật, thuộc 589 chi, 156 họ,
92 bộ, 10 lớp thuộc 06 ngành thực vật khác nhau ở KBT Trong đó, có 06 loài thực
Trang 32vật đặc hữu của Đồng Nai, như: Cù đèn Đồng Nai; Lát hoa Đồng Nai; Ngâu Biên Hòa; Bướm bạc Biên Hòa; Hạ đệ; Xú hương Biên Hòa, có 02 loài hiếm được phát hiện ở KBT là cây Vấp thuộc họ Bứa, Thông tre thuộc họ Kim giao, cây dược liệu
có 103 loài Thảm thực vật rừng trong KBT, gồm các kiểu rừng: kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới (Rkx); kiểu rừng kín nửa ru ̣ng lá ẩm nhiệt đới (Rkn); kiểu rừng kín ru ̣ng lá hơi ẩm nhiệt đới (Rkr)
3.6 Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng
Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng được thành lập theo Quyết định số 440/QĐ-UB ngày 12 tháng 02 năm 2003 của UBND tỉnh về việc thành lập Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn- Kỳ Thượng trực thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh Nằm trên địa phận huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh và nằm trên địa bàn các xã: Đồng Sơn, Kỳ Thượng, Đồng Lâm, Vũ Oai và Hoà Bình Toạ độ địa
Bắc Diện tích 17.792 ha trong đó Phân khu vực bảo vệ nghiêm ngặt 14.432 ha, Phục hồi sinh thái 3.325 ha và Dịch vụ hành chính 35 ha Trực thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Ninh gồm: Ban giám đốc; Phòng kế hoạch kỹ thuật; Phòng tài chính - tổ chức; Hạt kiểm lâm Về thực vật có 485 loài thực vật bậc cao, có mạch thuộc 280 chi và 101 họ của các ngành thực vật Trong đó có 5 loài được xếp trong Sách đỏ Việt Nam: Trầm hương Trung hoa, Vù hương, Lát hoa, Đại hải, Ba kích….là những loài có giá trị cao trên thị trường trong nước và Thế giới
Trang 33Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Tổng kết về phân loại họ Dầu (Dipterocarpaceae) cũng như chi Táu
(Vatica) và chi Sao (Hopea)
4.1.1 Phân loại họ Dầu (Dipterocarpaceae)
Theo hệ thống phân loại của Takhtajan 1973 thì họ Dầu – Dipterocarpaceae thuộc Bộ Chè –Theales Khi đó Họ Dầu được xếp cùng bộ với các họ khác quen thuộc ở Việt Nam như Họ Chè – Theaceae, Họ Măng cụt – Clusiaceae, Họ Ban – Hypericaceae Tuy nhiên đến hệ thống phân loại năm 1997 và năm 2009 thì Họ Dầu
được xếp vào bộ Bông Malvales
Cùng quan điểm với hệ thống phân loại mới của Takhtajan năm 1997 và
2009, hệ thống phân loại APG III cũng xếp họ Dầu vào bộ Bông Malvales do có nhiều đăc điểm giống họ Bông (Malvaceae), Họ Đay (Tiliaceae) và Họ Trôm (Sterculiaceae)
Đã có một số công trình nghiên cứu về phân loại họ Dầu như Maury-Lechon
& Curter (1998) và Ashton (1999) đều thống nhất phân chia họ Dầu thành 3 họ phụ là: Dipteroparpoideae với 13 chi và khoảng 470 loài, phân bố chủ yếu ở Đông Nam
Á Các chi lớn trong họ phụ này là: Shorea 194 loài, Hopea 102 loài, Dipterocarpus
69 loài và Vatica 65 loài
Họ phụ thứ hai là Monotoideae gồm 3 chi và 34 loài phân bố chủ yếu ở Châu
Phi và 1 loài ở Nam Mỹ (Pseudomonotes tropinbossii)
Họ phụ thứ ba là Pakaraimaeoideae gồm 1 loài duy nhất là Pakaraimaea
dipterocarpaeae được ghi nhận ở Nam Mỹ
Trang 34Bảng 4.1: Hiện trạng họ dầu ( Maury-Lecon and Curtet, 1998)
Maguire et al., 1977; Maguire and Ashton, 1980
Maury, 1978; Maury-Lecon, 1979, b
(Theo: Cây họ dầu Việt Nam, 2005)
4.1.2 Phân loại chi Táu (Vatica) và chi Sao (Hopea)
Châu Á là trung tâm của các loài cây họ Dầu và hiện có nhiều loài nhất Ba khu vực rất đáng được quan tâm ở khu vực này là đảo Bomeo, Sumatra và bán đảo Malaixia (Maury-Lecon and Curtet,1998) Số lượng loài ở Đông Dương (Lào, Campuchia và Việt Nam)
Rath et al (1998) sử dụng RAPD ( Radomly Amplified Polymorphic DNA) nghiên cứu nguồn gốc phát sinh của 12 loài (8 loài Shorea, 3 loài Hopea và
Anisoptera megistocarpa) cho thấy có ít biến dị trong loài đối với loài Sao đen
(Hopea odorata)
Tổng hợp các công trình nghiên cứu ở Thái Lan cho thấy ở nước này có cả
thảy 65-68 loài thuộc 8 chi trong đó Vatica 8 loài, Hopea 14-15 loài
Theo cuốn 1900 loài cây có ích ở Việt Nam (1993), họ Dầu ở Niệt Nam có 7
chi, 40 loài trong đó: Chi Hopea 4 loài : Hopea pierrei Hance, Hopea odorata Roxb, Hopea dealbata Hance, Hopea ferrea Pierre Chi Vatica 4 loài : Vatica
Trang 35astrotricha, Vatica dyeri Pierre ex Laners, Vatica fleuryana Tardieu, Vatica
odorata
Tổ chức lương thực và nông nghiệp của Liên hợp quốc (FAO,1985) đã thông
báo khu vực Nam Á có cả thảy 10 chi với 99 loài cây họ Dầu trong đó Vatica 9 loài
và Hopea 18 loài
Những nghiên cứu gần đây cho thấy trên Thế giới chi Sao – Hopea đã ghi
nhận được có 112 loài phân bố từ Ấn Độ, Sri lanca, Băng La Đéc Nam Trung Quốc và các nước Đông Nam (Rachun Pooma 2003) Ở nước ta chúng tôi đã ghi
nhận được chi này có 13 loài Trên thế giới chi Táu - Vatica cũng là chi lớn trong họ
Dầu với khoảng 71 loài được thống kê và phân bố rộng từ Sri Lanka, Ấn Độ, Trung Quốc và Đông Nam Á (Rachun Pooma 2003) Tại Việt Nam theo hệ thống tiêu bản đã được nghiên cứu chúng tôi ghi nhận được 9 loài
Bảng 4.2: Hiện trạng về các chi, chi phụ (sg), nhóm (s) và nhóm phụ (ss) họ dàu
theo các tác giả khác nhau (Maury-Lecon and Curtet, 1998)
Trang 36s Anthoshorea sg Anthoshorea s Maximae
Trang 374.2 Danh lục các loài thuộc chi Táu, chi Sao tại Việt Nam
TT
trạng bảo tồn (Sách
đỏ 2007)
Tình trạng bảo tồn (Theo IUCN)
Tên phổ
13 Kiền kiền phú
Trang 3819 Sao hải nam Hopea hainanensis Merr & Chun v v v EN CR
Như vậy ta thấy rằng ở Việt Nam thành phần loài thuộc 2 chi Táu, chi Sao gồm 22 loài Trong đó chi Táu có 9 loài và chi Sao có 13 loài
Tại các địa điểm nghiên cứu tôi thống kê được toàn bộ là 16 loài có mẫu tiêu bản thuộc 2 chi và 5 loài không có mẫu tiêu bản Trong 5 loài có 3 loài thuộc chi
Táu là Táu ngâu - Vatica fleuryana Tardieu; Táu muối - Vatica chevalieri (Gagnep.) Smitinand; Táu ít hoa - Vatica pauciflora (Korth) Bl và 2 loài thuộc chi Sao là Sao hình tim - Hopea cordata J E Vidal; Sao bã mía - Hopea helferi (Dyer)
Brandis Là các loài mà theo tài liệu (Danh lục các loài thực vật Việt Nam) có ở Việt Nam nhưng ở địa điểm nghiên cứu không có mẫu tiêu bản
- Theo Sách đỏ Việt Nam (2007)[3], thì 2 chi Táu, chi Sao cho ta thấy trong 22 loài nghiên cứu có 6 loài trong sách đỏ Việt Nam, phần 2 năm 2007, chiếm 27,27%
Tổng số loài nghiên cứu Đó là các Táu xanh (Vatica subglabra Merr) – EN; Kiền kiền phú quốc (Hopea pierrei Hance) - EN; Sao mặt quỷ (Hopea mollissima C.Y.Wu.) – Vu; Săng đào (Hopea ferrea Pierre) – EN; Sao hải nam (Hopea
hainanensis Merr & Chun) – EN, còn 1 loài là sao hình tim thiếu dẫn liệu (DD).
Điều đó cho thấy các loài trong họ Dầu nói chung cũng như các loài trong chi Táu, chi Sao nói riêng đóng vai trò quan trọng
- Theo IUCN năm 2012: Cho thấy tình trạng bảo tồn các loài cây thuộc đối tượng nghiên cứu theo IUCN là có 19 trong tổng số 22 loài, chiếm 86,36% tổng số
Trang 39loài nghiên cứu Trong đó 7 loài được xếp vào cấp CR, 6 loài xếp vào cấp EN, 3 loài xếp cấp VU, còn 3 loài chưa được đánh giá NE Ta có thể thấy rằng các loài cây họ Dầu thuộc đối tượng nghiên cứu ở Việt Nam có giá trị bảo tồn rất lớn không chỉ ở trong nước mà còn ở cả trên phạm vi toàn cầu
4.3 Tính đa dạng tiêu bản các loài thuộc Chi Táu (Vatica) và Chi Sao (Hopea)
tại các phòng tiêu bản đã nghiên cứu
Trong quá trình thu thập số liệu chúng tôi đã tiến hành điều tra ở 5 phòng tiêu bản thực vật thuộc Trung Tâm Đa Dạng Sinh Học, Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật, Viện điều tra và quy hoạch rừng, Trường đại học khoa học tự nhiên và phòng tiêu bản Thực vật Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh Để đánh giá tính đa dạng tiêu bản các loài thuộc đối tượng nghiên cứu, ta có thể đánh giá theo các chỉ tiêu sau: Đa dạng về số lượng tiêu bản, đa dạng về khu vực lấy mẫu tiêu bản, đa dạng về thời gian lấy mẫu tiêu bản Sau đây là một số nhận xét của tôi về tính đa dạng tiêu bản của các loài thuộc 2 chi Táu và chi Sao
4.3.1 Bảo tàng tài nguyên rừng Việt Nam – Viện điều tra quy hoạch rừng
Tại Bảo tàng tài nguyên rừng Việt Nam - Viện điều tra quy hoạch rừng: Tổng số mẫu tiêu bản của chi Táu và chi Sao là 87 mẫu thuộc 12 loài chiếm 54,54% tổng số loài phân bố tại Việt Nam Trong đó Chi Sao có 8 loài chiếm 61,54% và 60 mẫu chiếm 68,96% tổng số mẫu Chi Táu có 4 loài chiếm 44,44% và 27 mẫu chiếm
31,03% tổng số mẫu nghiên cứu Gồm các loài như Táu xanh - Vatica subglabra Merr 1942, Táu thị - Vatica diospyroides Symington, 1939, Táu trắng - Vatica
odorata (Griff) Sym ssp odorata và Táu mật - Vatica cinerea King, 1893 Còn chi
Sao có 60 loài chiếm 68,97% tổng số mẫu điều tra Trong tổng số 12 loài nghiên cứu thì tại đây có tới 8 loài chiếm 66,67% tổng số loài tại Việt Nam Gồm các loài như Sao
hải nam - Hopea hainanensis Merr & Chun, 1940, Sao đen - Hopea odorata Roxb
1819, Săng đào - Hopea ferrea Pierre, 1886, Sao mặt quy - Hopea mollisima C.Y.Wu, 1957, Sao mang - Hopea reticulata TarditooiTTDDSHVVK Kền kền phú quốc - Hopea pierrei Hance, 1876, Kền kền - Hopea siamensis Heim, Sao hòn gai -
Hopea hainanensis Merr & Chun
Trang 40Về khu vực lấy mẫu tiêu bản: Qua điều tra tôi thấy các mẫu tiêu bản được lấy ở nhiều khu vực khác nhau của nước ta như ở Tiên Yên – Quảng Ninh, Văn Chấn, Chạm Chu – Tuyên Quang, Nghệ An, Lạng Sơn, Gia Lai Kon Tum, phố Tăng Bạt Hổ - Hà Nội và một số mẫu được lấy từ những nước bạn như ở Khen Hỉu – Lào, Hải Nam – Trung Quốc
Về thời gian lấy mẫu tiêu bản: Tất cả các mẫu tiêu bản hầu hết là được lấy từ rất lâu từ những năm 1956, 1960, 1963, năm 1964 và các năm 1975, 1976, 1980,
1985 Tôi thấy rằng chất lượng các mẫu tiêu bản ở đây không được tốt, ở mức trung bình có rất nhiều mẫu lấy từ những năm 60, 64 đã bị hỏng
Bên cạnh các mẫu tiêu bản đã được định loại đến loài có đầy đủ số hiệu mẫu tiêu bản và etiket rõ ràng, thì ở đây còn rất nhiều mẫu tiêu bản chỉ mới được định loại đến chi và chưa gắn etiket
4.3.2 Bảo tàng thực vật – Trường đại học Khoa học tự nhiên
Bảo tàng thực vật thuộc Trường đại học khoa học tự nhiên tôi đã tiến hành điều tra và thu được kết quả là có tổng số mẫu 70 thuộc 3 loài của chi Sao chiếm ,
23,07% tổng số loài nghiên cứu Gồm các loài Sao đen - Hopea odorata Roxb (63 mẫu), Sao hải nam - Hopea hainanensis Merr & Chun, (1 mẫu ) và Kền kền phú quốc - Hopea pierrei Hance, (6 mẫu) Còn chi Táu chưa có mẫu nào
4.3.3 Phòng thực vật rừng - Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật
Tại Phòng thực vật rừng - Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật số lượng mẫu tiêu bản của các chi thuộc đối tượng nghiên cứu ở đây là 52 mẫu tiêu bản của 9 loài chiếm 40,91% tổng số loài phân bố tại Việt Nam, trong đó chi Táu có 4 loài chiếm 44,44% và 18 mẫu, chiếm 15.38% tổng số mẫu nghiên cứu Còn chi Sao có 13 loài chi Sao thì tại đây có tới 5 loài chiếm 38,46% và 34 mẫu, chiếm 65.38% tổng số lượng
mẫu nghiên cứu Gồm các loài như Táu xanh - Vatica subglabra Merr., Táu thị -
Vatica diospyroides Symington, Táu trắng - Vatica odorata (Griff) Sym ssp odorata và Táu mật - Vatica cinerea King Còn chi Sao 34 mẫu, chiếm 65.38% tổng
số lượng mẫu Trong tổng số 21 loài nghiên cứu thì tại đây có tới 5 loài chiếm 23,81%
tổng số loài tại Việt Nam Gồm các loài như Sao hải nam - Hopea hainanensis Merr