1.2.2 Lịch sử phát hiện và nghiên cứu về Sâm ngọc linh ở Việt Nam Năm 1973 đoàn điều tra dược liệu của Ban dân y khu 5 do Dược sĩ Đào KimLong và Nguyễn Châu Giang hướng dẫn đã phát hiện
Trang 1Lê Thanh Sơn
Nghiên cứu khả năng tái sinh cây Sâm ngọc linh
bảo tồn tại vùng núi Ngọc Linh thuộc xã
Trà Linh, huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam
Chuyên ngành: Lâm học Mã số: 60.62.60
Luận văn thạc sỹ khoa học Lâm nghiệpNgười hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Tập
Hà Tây - 2007
Trang 2Hoàn thành bản luận văn này, bên cạnh sự nỗ lực củabản thân, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới TS NguyễnVăn Tập - Trưởng Khoa Tài nguyên Dược liệu, Viện Dược liệu,
là người hướng dẫn khoa học, đã tận tình giúp đỡ tôi trongsuốt quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài và hoàn tất luậnvăn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong BanGiám hiệu nhà trường, Khoa Sau đại học, cũng như ở cácKhoa khác của Trường Đại học Lâm nghiệp đã trực tiếp giảngdạy, truyền thụ cho tôi nhiều kiến thức bổ ích trong suốt quátrình học tập tại trường
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các anh chị đồng nghiệp ởKhoa Tài nguyên Dược liệu, cũng như các vị trong Ban Giám
đốc Viện Dược liệu đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi và giúp đỡtôi trong công tác nghiên cứu, thực hiện đề tài luận văn
Nhân đây, tôi cũng xin bày tỏ sự cảm ơn chân thành tới
Sở Y tế tỉnh Quảng Nam, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh KonTum, UBND huyện Nam Trà My, UBND xã Trà Linh (tỉnhQuảng Nam); UBND huyện Tu Mơ Rông và xã Măng Ri (tỉnhKon Tum) cùng các cán bộ, công nhân ở 2 Trại sâm Trà Linh(Quảng Nam) và Măng Ri (Kon Tum) đã tạo điều kiện cho việcnghiên cứu, triển khai đề tài luận văn tại địa phương
Tác giả
Trang 3Lêi cam ®oan
T«i xin cam ®oan ®©y lµ c«ng tr×nh nghiªn cøu cña riªng t«i TÊt c¶ nh÷ng
sè liÖu sö dông trong luËn v¨n nµy lµ hoµn toµn trung thùc vµ cha cã t¸c gi¶ nµoc«ng bè
T¸c gi¶
Trang 4DANH SáCH CáC Từ VIếT TắT, Ký HIệU v
DANH SáCH CáC BảNG vi
DANH SáCH CáC BIểU Đồ vii
danh sách các hình ảnh vii
đặt vấn đề 1
Chương 1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 3
1.1 Trên thế giới 3
1.1.1 Chi Sâm (Panax L.) và sơ bộ về sự phân bố của các loài 3
1.1.2 Vài nét về hiện trạng các loài sâm hiện nay 6
1.1.3 Vấn đề nhân trồng một số loài sâm 7
1.2 ở Việt Nam 9
1.2.1 Các loài thuộc chi Sâm (Panax L.) đã biết ở Việt Nam 9
1.2.2 Lịch sử phát hiện và nghiên cứu về Sâm ngọc linh ở Việt Nam 10
1.2.3 Những nghiên cứu về hoá học và dược lý 12
1.2.4 Hiện trạng và vấn đề bảo tồn Sâm ngọc linh 13
Chương 2 mục tiêu, đối tượng, giới hạn, nội dung và phương pháp nghiên cứu 16
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 16
2.1.1 Về khoa học 16
2.1.2 Về thực tiễn 16
2.2 Đối tượng nghiên cứu 16
2.3 Địa điểm nghiên cứu 16
2.4 Giới hạn nghiên cứu 17
2.5 Nội dung nghiên cứu 17
2.6 Phương pháp nghiên cứu 18
2.6.1 Cách tiếp cận của đề tài 18
2.6.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 20
Chương 3 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu 22
3.1 Điều kiện tự nhiên 22
3.1.1 Vị trí địa lý 22
3.1.2 Diện tích, địa hình và đất đai 23
3.1.3 Khí hậu, thuỷ văn 24
3.2 Điều kiện kinh tế – xã hội 26
3.2.1 Dân số, dân tộc 26
3.2.2 Kinh tế, văn hoá, xã hội 27
Chương 4 Kết quả và bàn luận 29
4.1 Vài nét về thảm thực vật rừng, nơi có Sâm ngọc linh mọc tự nhiên 29
4.2 Những đặc điểm hình thái và sinh thái cơ bản của Sâm ngọc linh 30
Trang 54.2.1 Đặc điểm hình thái 30
4.2.2 Đặc điểm sinh thái 32
4.3 Tình hình sinh trưởng, phát triển và tái sinh tự nhiên của Sâm ngọc linh 36
4.3.1 Chu trình sinh trưởng phát triển hàng năm 36
4.3.2 Sự ra hoa kết quả và tái sinh tự nhiên 38
4.4 Kết quả nghiên cứu nhân giống từ hạt 41
4.4.1 Tiêu chuẩn quả chín để lấy hạt giống 41
4.4.2 Cách xử lý hạt trước khi gieo 42
4.4.3 Làm vườn ươm và kỹ thuật gieo hạt 46
4.5 Kết quả nghiên cứu nhân giống từ một phần thân rễ (củ) 51
4.5.1 Nghiên cứu nhân giống từ đầu mầm thân rễ 51
4.5.2 Khả năng nhân giống khác 55
4.6 Chăm sóc và bảo vệ cây con ở vườn ươm 58
4.6.1 Chăm sóc cây con ở vườn ươm 58
4.6.2 Bảo vệ 59
4.7 Sự sinh trưởng, phát triển của cây mọc từ hạt và từ đầu mầm trong giai đoạn vườn ươm 60
4.7.1 Cây mọc từ hạt 60
4.7.2 Cây mọc từ đầu mầm 62
4.8 Tiêu chuẩn cây giống đưa ra trồng 63
4.8.1 Cây giống từ hạt 63
4.8.2 Cây giống từ đầu mầm 64
4.9 Vài nét về trồng Sâm ngọc linh dưới tán rừng tự nhiên 66
Chương 5 Kết luận và khuyến nghị 69
5.1 Kết luận 69
5.2 Khuyến nghị 71
Tài liệu tham khảo 72
Trang 6DANH S¸CH C¸C Tõ VIÕT T¾T, Ký HIÖU
Trang 7DANH SáCH CáC BảNG
1-1 Các loài thuộc chiPanax L trên thế giới và sự phân bố 41-2 Hàm lượng saponin (tính theo thu suất %) của Sâm ngọc linh so
1-3 Kết quả tạo giống Sâm ngọc linh của Trạm dược liệu Trà Linh 143-1 Số thôn, số hộ, số khẩu, thành phần dân tộc, tỷ lệ đói nghèo của
4-5 Kết quả ươm giống từ các đầu mầm qua 2 năm theo dõi 52
4-7 Kết quả thí nghiệm tạo giống từ đầu mầm có sử dụng thuốc 55
Trang 83-1 Việc đốt nương làm rẫy khiến diện tích rừng tự nhiên bị thu hẹp 23
4-2 Sâm ngọc linh trồng dưới tán rừng tự nhiên tại Măng Lùng, Trà
4-12 Sau khi gieo hạt xong luống được phủ bằng cỏ tranh 50
4-14 Sau khi thu phần củ bên dưới, để lại từ 3- 4 đốt làm giống 534-15 Cây giống được tạo ra từ đoạn giữa của thân rễ (củ) 55
Trang 9đặt vấn đề
Panax L là một chi nhỏ trong họ Ngũ gia bì (Araliaceae), trên thế giới đã biết
12 loài và dưới loài, nhưng tất cả những loài thuộc chi này đều có giá trị làm thuốc,
đặc biệt là Nhân sâm (Panax ginseng Meyer), Tam thất (Panax notoginseng (Burk.)
Chen) và Tây dương sâm (Panax quinquefolius L.) [2], [27],[41],[43],[44].
ở Việt Nam, hiện có 5 loài thuộc chi Panax L gồm cây mọc tự nhiên cũng
như cây trồng, trong đó đã khẳng định 3 loài mọc tự nhiên và đang là đối tượng bảotồn Đó là: Sâm vũ diệp (Panax bipinnatifidus Seem.; Tam thất hoang (Panax stipuleanatus Tsai et Feng) phân bố ở độ cao 1.800 – 2.400m trên dãy Hoàng Liên
Sơn (tỉnh Lào Cai) và đặc biệt là loài Sâm ngọc linh (Panax vietnamensis Ha et
Grushv.) phân bố ở núi Ngọc Linh – thuộc Miền Trung Việt Nam [5],[8],[9],[18],[44]
Sâm ngọc linh (cây thuốc dấu, củ rơm con, sâm khu 5 ) được phát hiện ở ViệtNam từ năm 1973 bởi Ds Đào Kim Long và các cộng sự tại vùng núi Ngọc Linh,thuộc tỉnh Kon Tum ở độ cao từ 1.500 – 2.200m [12] Tuy nhiên, cho đến năm
1985, Sâm ngọc linh mới chính thức được xác định là một loài mới với tên khoa học
Panax vietnamensis Ha et Grushv [12],[41] Không chỉ có ý nghĩa về sinh học, Sâm
ngọc linh còn được xác định là một cây thuốc vô cùng quí giá về giá trị sử dụngcũng như giá trị nguồn gen Qua nghiên cứu thành phần hoá học và dược lý củaSâm ngọc linh, các nhà khoa học đã chứng minh tác dụng bổ dưỡng, chống strees,kích thích hệ miễn dịch, chống lão hoá và một số công dụng khác [5],[10],[14].Trong hai thập kỷ qua, do sự săn lùng ráo riết của con người từ chỗ có trữlượng vài chục tấn trong tự nhiên, đến nay Sâm ngọc linh đang đứng trước nguy cơ
bị tuyệt chủng Sâm ngọc linh đã được đưa vào trong Sách Đỏ Việt Nam và Danhlục Đỏ cây thuốc Việt Nam, trở thành một trong đối tượng ưu tiên bảo tồn và pháttriển [1],[20],[21]
Phục vụ cho yêu cầu phát triển Sâm ngọc linh, ngay từ đầu những năm ‘80 củathế kỷ trước, một số điểm thu thập, trồng sâm đã được hình thành (xã Trà Linh,
Trang 10huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam; xã Măng Ri, huyện Tu Mơ Rông, tỉnh KonTum) Tuy vậy, cho đến năm 2000, do nhiều các lý do khác nhau, việc nhân nhanh
số lượng các cá thể tại những nơi này (bằng hạt cũng như là bằng đầu mầm thân rễ)
quốc gia này vẫn đang duy trì việc nhân giống bằng hạt là chủ yếu
Vấn đề tái sinh và khả năng nhân giống Sâm ngọc linh sẽ là một trong nhữngviệc làm trước tiên nhằm bảo tồn và phát triển nguồn cây thuốc quí này Chính vìvậy, chúng tôi đã chọn đề tài:
Nghiên cứu khả năng tái sinh cây Sâm ngọc linh (Panax vietnamensis Ha
et Grushv.) phục vụ công tác bảo tồn tại vùng núi Ngọc Linh thuộc xã Trà Linh, huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam.
Trang 11Chương 1
Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1.1 Trên thế giới
1.1.1 Chi Sâm (Panax L.) và sơ bộ về sự phân bố của các loài
Chi Sâm (Panax L.) thuộc họ Ngũ gia bì (Araliaceae) được Carlvon Linné xác
định từ năm 1753, với loài chuẩn làPanax quinquefolium L Loài này phát hiện thấy
ở Bắc Mỹ cùng với loàiPanax trifoliatus L [33],[34].
Sang thế kỷ 19 và 20, người ta công bố thêm một số loài nữa như:
-P pseudoginseng Wall., 1829; ở Nepal [42],[43].
- P ginseng Meyer., 1842 ở Viễn Đông Nga, Đông bắc Trung Quốc và Bắc
Triều Tiên [27], [38], [39],[47]
-P japonicus Meyer, 1842 ở Nhật Bản [38],[44].
-P bipinnatifidus Seem, 1868 ở ấn Độ [44].
Đặc biệt vào nửa sau của thế kỷ 20, sau nhiều lần thay đổi về các bậc phân loạichiPanax L ở Trung Quốc, các nhà khoa học đã xác lập thêm nhiều loài và thứ mới
khác như: P notoginseng (Burkill) Chen; P wangianus S.C Sun; P zingiberensis
Wu et Feng; P stipuleanatus Tsai et Feng và P bipinnatifidus var angustifolius
sâm (P pseudoginseng Wall), Tây dương sâm (P quinquefolius L.) đã được đưa
Trang 12vào trồng thêm tại chính quốc và du nhập sang nhiều quốc gia khác Sự phân bố củacác loài này ở các quốc gia được thể hiện trong bảng 1-1.
Bảng 1-1 Các loài thuộc chi Panax L trên thế giới và sự phân bố
TT Các loài và dưới loài Mọc tự nhiên Trồng tham khảo Tài liệu
1 Panax ginseng C A Meyer
(Nhân Sâm)
Trung Quốc, Triều
Nga, Canada…
13,19,27, 38,42,44
2 P quinquefolius L.
(Tây dương sâm)
3 P notoginseng F H Chen ex C.
Y Wu et K M Feng (Tam thất)
4 P pseudoginseng Wall.
(Giả nhân sâm)
Triều Tiên, Hàn Quốc, Việt Nam (?)
19,27,42, 46
5 P japonicus C A Meyer
(Sâm nhật)
Nhật Bản, Trung Quốc
7 P zingiberensis C Y Wu et K.
M Feng (Sâm gừng)
8 P stipuleanatus H T Tsai et K.
M Feng (Tam thất hoang)
Trung Quốc, Việt
9 P bipinnatifidus Seemann Trung Quốc, ấn
Độ, Nê Pan, Mianma, Việt Nam
19,27,42, 43
10 P bipinnatifidus Seemann var.
angustifolius (Burkill) Wen
Trang 13Nhận xét:
* Trong số 12 loài và dưới loài kể trên có 11 loài và dưới loài là cây mọc tựnhiên và một số loài đã được đưa vào trồng, chỉ có loài Giả nhân sâm (P pseudoginseng) hiện chưa rõ về nguồn gốc [19],[27],[42],[46].
* Như vậy toàn bộ chi Sâm (Panax L.) trên thế giới hiện đã biết chắc chắn có
11 loài và 1 dưới loài (thứ – var.), Sự phân bố của chiPanax L trên thế giới cho thấy
chúng chỉ xuất hiện ở Bắc bán cầu, kéo dài từ vùng rừng núi giáp bờ biển phía Đôngcủa Bắc mỹ bao gồm Bắc Hoa Kỳ và Tây – Nam Canada (có 2 loài P quinquefolius
vàP trifoliatus) và dường như cả loài P notoginseng (?) [19],[33],[34].
Vùng Đông Bắc á (gồm Viễn Đông Nga, Đông Bắc Trung Quốc, bán đảoTriều Tiên và Nhật Bản) có 2 loàiP ginseng và P japonicus
Trung tâm phân bố của chi Panax L có thể từ vùng Tây – Nam của Trung
Quốc lan toả xuống phía Bắc của Việt Nam Thực chất khu vực này gồm 2 tỉnh biêngiới kề nhau là Vân Nam (Trung Quốc) và Lào Cai (Việt Nam), ở đây đang có tới 7loài và dưới loài (thứ) mọc hoàn toàn tự nhiên, 2 loài trồng là P notoginseng (nhập
từ Bắc Mỹ) vàP pseudoginseng (không tìm thấy trong hoang dại, nhưng giả thiết có
nguồn gốc từ vùng cận Himalaya thuộc Nê Pan hoặc là kết quả của lai tự nhiên giữa
2 loài gần gũi nào đó) Đây có thể coi là trung tâm phân bố của chi Sâm (Panax L.)
của thế giới
ở Bắc Mỹ hiện có 3 loài (P notoginseng; P quinquefolius và P trifoliatus).
Giới hạn cuối cùng về phía Nam của chi Panax L là loài Sâm ngọc linh (Panax vietnamensis) ở Miền Trung của Việt Nam, tại 14o15’ vĩ độ Bắc
Chính vì vậy Sâm ngọc linh được coi là loài đặc hữu hẹp của Miền Trung ViệtNam Có một số ý kiến cho rằng Sâm ngọc linh còn có ở núi Langbian – Lâm Đồng[7],[8],[9],[41] Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại chúng tôi vẫn chưa thu được mẫuSâm ngọc linh ở địa điểm này
Tóm lại, trên thế giới Sâm ngọc linh mới chỉ thấy ở Miền Trung của Việt Namtrên núi Ngọc Linh thuộc 2 tỉnh Quảng Nam và Kon Tum
Trang 141.1.2 Vài nét về hiện trạng các loài sâm hiện nay
Như trong phần mở đầu đã đề cập, tất cả các loài thuộc chi Sâm (Panax L.)
trên thế giới đều được dùng làm thuốc và có giá trị kinh tế cao Trải qua hàng chục,thậm chí hàng trăm năm bị lùng sục để khai thác sử dụng, những loài sâm mọc tựnhiên đều rơi vào tình trạng bị cạn kiệt Thậm chí có những loài như Nhân sâm (P ginseng) đã được đưa vào trồng từ hàng trăm năm trước kia [39] Loài Tam thất (P notoginseng), Giả nhân sâm (P pseudoginseng) cũng được trồng lâu đời tại Trung
Quốc, nhưng hiện cũng chưa rõ xuất xứ, cũng như chúng được đưa vào trồng từ baogiờ [19],[27],[47],[44]
Những loài thuộc chi Panax đã được trồng với qui mô lớn hiện nay ở các quốcgia có thể kể đến như là:
+ Nhân sâm (P ginseng): Trung Quốc, Hàn Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Liên
Bang Nga và Mỹ
+ Tam thất (P notoginseng): Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc.
+ Giả Nhân sâm (P pseudoginseng): Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Hàn
Quốc(?) và Việt Nam
+ Tây dương sâm (P quinquefolius): Mỹ, Trung Quốc.
Ngoài ra một số loài khác như Sâm nhật (P japonicus), Sâm gừng (P zingiberensis) cũng có trồng rải rác ở Nhật Bản và Trung Quốc nhưng không
nhiều
Một số loài còn lại như P wangianus (ở Vân Nam – Trung Quốc), P bipinnatifidus (ở Vân Nam – Trung Quốc, vùng biên giới của ấn Độ, Nê Pan,
Myanma, và Việt Nam), P stipuleanatus (Vân Nam – Trung Quốc và Bắc Việt
Nam) và Sâm ngọc linh –P vietnamensis (Miền Trung – Việt Nam) đều được coi là
các loài hiếm và có nguy cơ bị tuyệt chủng trong tự nhiên Tuy vậy, trong số nàyhiện mới chỉ có 2 loài là Sâm vũ diệp (P bipinnatifidus) và Sâm ngọc linh (P vietnamensis) có tên trong Danh lục Đỏ của IUCN (2003); loài Sâm vũ diệp cũng có
tên trong Sách Đỏ Trung Quốc (1996) để bảo tồn
Trang 15Một vài loài khác (P ginseng, P japonicus, P stipuleanatus, P bipinnatifidus) có
thể có từ 2 điểm phân bố trở lên, nhưng được biết kích thước quần thể của chúngcũng rất nhỏ Bởi vậy khi bị tìm kiếm khai thác, đương nhiên chúng sẽ bị suy giảmnghiêm trọng và có nguy cơ bị tuyệt chủng Vì vậy, để đáp ứng cho nhu cầu sử dụngngày càng tăng, không còn con đường nào khác là phải nghiên cứu phát triển trồng.Nhân sâm (P ginseng) được biết tới khoảng 4.000 năm trước đây
[33],[34],[37],[39] đồng thời đây cũng là loài có lịch sử trồng trọt tới vài trăm năm[39] Hiện tại Nhân sâm được trồng nhiều nhất là ở Trung Quốc, sau đến Hàn Quốc,Triều Tiên và Nhật Bản; Liên Bang Nga và Mỹ có trồng nhưng chưa rõ về qui mô.Tổng sản lượng Nhân sâm trồng trên toàn thế giới mỗi năm có thể đến hàng ngàntấn
Loài sâm trồng nhiều hiện nay (sau Nhân sâm) là Tam thất (P notoginseng).
Tại Trung Quốc, Tam thất được trồng với qui mô hàng ngàn héc ta ở châu Vân Sơn(tỉnh Vân Nam) và một số nơi khác thuộc tỉnh Quảng Tây và Quảng Đông[19],[33],[34] Ngoài ra loài cây thuốc này cũng được trồng nhiều ở Nhật Bản, HànQuốc và Triều Tiên [19],[38],[44] Loài Tây dương sâm (P quinquefolius) cũng
được trồng nhiều ở Mỹ và vài năm trước đây đã được di thực về trồng ở Trung Quốc[19]
Với đặc điểm sinh thái là cây ưa ẩm và ưa bóng nên các loài sâm kể trên khi
đưa vào sản xuất lớn đều được trồng ở vườn có mái che Mặt khác, để phát triểntrồng lớn Nhân sâm, Tam thất, Giả nhân sâm, Tây dương sâm từ lâu, người ta đãquan tâm đến việc chọn giống và nghiên cứu về kỹ thuật nhân giống Đã có một sốtài liệu công bố về tạo giống Nhân sâm, Tam thất bằng con đường nuôi cấy mô tế
Trang 16bào Song qua các tài liệu đã được công bố về trồng trọt cây thuốc của Liên Xô [39],Trung Quốc [46], cho thấy rằng họ vẫn trồng Nhân sâm bằng cây giống gieo từ hạt.Lấy ví dụ như việc trồng Tam thất ở châu Vân Sơn, tỉnh Vân Nam, TrungQuốc, cứ mỗi héc ta vườn giống mỗi năm có thể cung cấp hạt giống (với chất lượngtốt) đủ trồng khoảng từ 1.000 đến 1.300 héc ta Bên cạnh đó người ta còn có thể tác
động vào việc ra hoa kết quả của cây mẹ một cách đồng đều Vấn đề thành côngtrong việc trồng Nhân sâm và Tam thất còn ở chỗ kỹ thuật gieo ươm hạt đã đạt hiệusuất rất cao (trên 95%) [39],[46]
Tương tự như vậy những loài khác như P quinquefolius, P pseudoginseng, P zingiberensis… cũng được hoàn thiện nghiên cứu và đưa vào trồng trọt từ nhiều năm
trước Thậm chí loài P notoginseng có phân bố tự nhiên ở Canada, Mỹ; loài P japonicus có phân bố tự nhiên ở Nhật Bản nhưng cũng được Trung Quốc phát triển
trồng thành hàng hoá bằng sự hoàn thiện về công nghệ trồng và sản xuất giống Đặcbiệt loài P pseudoginseng hiện tại chưa rõ nguồn gốc nhưng vẫn được nhiều nước
đưa và trồng trọt thành hàng hoá thế mạnh như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản,Triều Tiên và Việt Nam (ở Việt Nam đã từng trồng loài này ở Phó Bảng – Hà Giang,
Sa Pa – Lào Cai; Hà Quảng, Thông Nông – Cao Bằng từ trước những năm 1995 vớinguồn giống nhập từ Trung Quốc)
Từ kết quả nghiên cứu về giống đến kỹ thuật trồng và thâm canh tiên tiến đã
đem lại thành công lớn trong việc phát triển trồng rộng rãi các loài sâm kể trên Đâycũng là con đường tất yếu đối với các loài khác còn lại của chi Panax L , trong đó
có loài Sâm ngọc linh (P vietnamensis) của Việt Nam hiện nay.
Là một loài đặc hữu hẹp của Việt Nam, Sâm ngọc linh mới chỉ được nghiêncứu về mặt thành phần hoá học và tác dụng dược lý ở nước ngoài Hiện tại chưa cóbất cứ tài liệu nào nghiên cứu về đặc điểm sinh học, nhân giống hay trồng trọt Sâmngọc linh được công bố
Trang 171.2 ở Việt Nam
1.2.1 Các loài thuộc chi Sâm (Panax L.) đã biết ở Việt Nam
ở Việt Nam cho đến thời điểm hiện nay chi Panax chắc chắn có 5 loài, trong
đó có 3 loài mọc tự nhiên là Sâm vũ diệp (Panax bipinnatifidus Seem.), Tam thất
hoang (P stipuleanatus Tsai et Feng) và Sâm ngọc linh (P vietnamensis Ha et
Grushv.) Hai loài nhập trồng là Tam thất (P pseudoginseng Wall.) và Nhân sâm (P ginseng Meyer) [19].
+ Loài Sâm vũ diệp (P bipinnatifidus) có phân bố tự nhiên ở vùng núi Hoàng
Liên Sơn (huyện Sa Pa, huyện Bát Xát – tỉnh Lào Cai); huyện Than Uyên (tỉnh LaiChâu), ở độ cao từ 1.800m đến 2.400m Trên thế giới loài này cũng có phân bố tựnhiên ở Nam Trung Quốc, Bắc Myanma, Đông – Bắc ấn độ và Nê Pan [19],[21].+ Loài Tam thất hoang (P stipuleanatus) cũng có phân bố tự nhiên ở vùng núi
Hoàng Liên Sơn (huyện Sa Pa, huyện Bát Xát – tỉnh Lào Cai); huyện Than Uyên(tỉnh Lai Châu), ở độ cao từ 1.800m đến 2.400m Trên thế giới mới chỉ phát hiện ởvùng Đông – Nam tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), giáp biên giới Việt Nam, độ cao từ1.200 đến 1.700m [19] Đây cũng là loài mới được bổ sung cho hệ thực vật ViệtNam trong những năm đầu của thập kỷ 90, và là loài đặc hữu của vùng Nam TrungQuốc – Bắc Việt Nam [19]
Tuy nhiên cả 2 loài nói trên đã bị khai thác cạn kiệt, cộng với việc môi trườngsống bị thu hẹp và huỷ hoại do nạn phá rừng trồng Thảo quả nên hiện đã trở nên cựchiếm và có nguy cơ bị tuyệt chủng rất cao [19],[20],[21],[22]
Hiện tại Viện Dược liệu kết hợp với Bộ KH & CN đang có chương trình bảotồn 2 loài Sâm vũ diệp và Tam thất hoang trên dãy Hoàng Liên Sơn thuộc địa bànhuyện Sa Pa (tỉnh Lào Cai) và đang cho kết quả tốt [22]
+ Sâm ngọc linh (P vietnamensis) là loài đặc hữu hẹp của Miền Trung Việt
Nam, có phân bố tự nhiên ở các huyện Tu Mơ Rông, huyện Đăk Glei (tỉnh KonTum), huyện Nam Trà My, huyện Phước Sơn, huyện Hiên (tỉnh Quảng Nam), trênvùng núi Ngọc Linh, độ cao trên 1.500m [15],[19],[21]
Trang 18Cũng có tài liệu cho rằng Sâm ngọc linh còn có ở núi Lang Bian (tỉnh Lâm
Đồng) [19],[39],[41] Tuy nhiên hiện tại loài này đã trở nên cực hiếm do tình trạngkhai thác kiệt quệ trong nhiều năm cộng với việc đốt nương làm rẫy nên điện tích tựnhiên cũng bị thu hẹp Chỉ còn tập trung trong 2 điểm bảo tồn là Chốt sâm (xã Măng
Ri, huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum) và Trạm Dược liệu Trà Linh (xã Trà Linh,huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam) [15],[19]
Theo tiêu chuẩn phân hạng trong Danh lục Đỏ của IUCN, 1994 và 2001, cả 3loài kể trên đã được Nguyễn Tập đề xuất ở mức phân hạng: CR A1 c,d Nghĩa là,Sâm vũ diệp, Tam thất hoang và Sâm ngọc linh hiện đang ở trong tình tạng “Cực kỳ
bị nguy cấp” [20],[21]
+ Giả nhân sâm, Tam thất (P pseudoginseng) được cộng đồng người Hoa sống
ở dọc biên giới huyện Đồng Văn và huyện Mèo Vạc (tỉnh Hà Giang) mang từ TrungQuốc về trồng ở vườn gia đình từ trước năm 1964 Giai đoạn những năm 1964 –
1973, Viện Dược Liệu và một số địa phương gần biên giới Trung Quốc nhập vềtrồng tại huyện Sa Pa, huyện Bắc Hà (tỉnh Lào Cai); huyện Thông Nông, huyện HàQuảng (tỉnh Cao Bằng); Thị trấn Phó Bảng, Đồng Văn (tỉnh Hà Giang) Tuy nhiêntất cả những địa danh trên hiện tại dường như không có nơi nào còn duy trì việctrồng giống Tam thất nhập nội này [19]
+ Nhân sâm (P ginseng) được Viện Dược Liệu nhập giống nhiều lần trong
những năm 1970 – 1995 từ Bắc Triều Tiên, Trung Quốc và Nhật Bản nhưng trồngchưa thành công Năm 2001, một cá nhân đã mang từ nước ngoài về một số hạtgiống Nhân sâm và trồng ở Sa Pa Ngay từ năm thứ 3 đã có 30% cây trồng ra hoa,
đây cũng là thông tin đầu tiên về cây Nhân sâm được trồng cho đến khi ra hoa, quả
ở Việt Nam [19],[22]
1.2.2 Lịch sử phát hiện và nghiên cứu về Sâm ngọc linh ở Việt Nam
Năm 1973 đoàn điều tra dược liệu của Ban dân y khu 5 do Dược sĩ Đào KimLong và Nguyễn Châu Giang hướng dẫn đã phát hiện một loài thuộc chiPanax mọc
thành quần thể nhỏ ở độ cao khoảng 1.800m so với mực nước biển trên địa bàn tỉnhGia Lai - Kon Tum (nay là tỉnh Kon Tum) Ban đầu các tác giả này đặt tên là Sâm
Trang 19đốt trúc và sơ bộ xác định tên khoa học: Panax articulatus L họ Nhân sâm
Araliaceae[12] Mặc dù trước đó năm 1968, kỹ sư Vũ Đức Minh đã thu được mẫuloài này và tạm đặt tên là Sâm khu 5 và chính ông là người đã nhận định ở vùng núiNgọc Linh có thể có Nhân sâm [5] Trên thực tế, ngay từ những năm kháng chiếnchống Pháp (1952 - 1953) nhiều cán bộ Cách Mạng hoạt động nằm vùng ở đây cũng
được đồng bào chỉ cho cây thuốc như một thứ thần dược để phòng thân những khi
đau yếu (như ông Phan Quyết nguyên Bí thư tỉnh uỷ Kon Tum, ông Trần Kiênnguyên Uỷ viên Ban bí thư Trung ương Đảng nay đã nghỉ hưu) Theo bác sĩ XôKrơn, bác sĩ Xô Lê Tăng là người dân địa phương của vùng này cho biết gia đìnhcác ông cũng đã dùng cây thuốc này từ lâu đời để chữa cho người đau ốm nặng,người bị rắn cắn và các bệnh thông thường như đau bụng, cầm máu vếtthương…[12]
Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, năm 1976, công trình nghiên cứu sơ bộcủa TS Nguyễn Thới Nhâm tại Ba Lan cho thấy thành phần saponin của sâm ViệtNam khá giống với Nhân sâm [5]
Đến năm 1978 – 1979, hai tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng (cũ) và Gia Lai – Kon
Tum mới tổ chức điều tra trữ lượng Sâm ngọc linh đã ghi nhận: Xung quanh đỉnh
Ngọc Linh, về hướng Tây và Tây bắc có tới 92 điểm sâm mọc tập chung ở 10 xã thuộc hai huyện Đăk Tô và Đăk Glei tỉnh Kon Tum; về phía Đông và Đông nam
có 16 điểm sâm mọc tập chung ở 3 xã Trà Linh, Trà Nam và Trà Cang huyện Trà
My tỉnh Quảng Nam Trữ lượng hàng năm có thể khai thác từ 800 đến 1.000kg
[12]
Đến năm 1985, trong chương trình hợp tác giữa Việt Nam và Liên Xô, cây Sâmngọc linh được xác định là một loài mới đối với khoa học bởi Hà Thị Dụng và I V.Grushvitzky [39],[41] Từ đó Panax vietnamensis Ha et Grushv., chính thức được
công bố với thế giới, nhiều các nhà khoa học nước ngoài thường gọi là Sâm việt nam
và ở trong nước nhiều người quen gọi là Sâm ngọc linh
Trang 201.2.3 Những nghiên cứu về hoá học và dược lý
Theo quan điểm hoá phân loại và dược lý học, những công trình nghiên cứucủa các nhà khoa học trên thế giới đã chia 12 loài thuộc chi Panax thành 2 nhóm
chứa saponin có khung cấu tạo thuộc nhóm olean
Tuy nhiên, hàm lượng saponin của Sâm ngọc linh so với các loài Panax trồng
trọt thuộc nhóm 1 lại cao hơn rất nhiều, được thể hiện trong bảng 1-2 [5]
Bảng 1-2 Hàm lượng saponin (tính theo thu suất %) của Sâm ngọc linh so với các loài
Ghi chú: 20(S)-ppd: 20(S)-protoPanaxadiol; 20(S)-ppt: 20(S)-protoPanaxatriol
Từ năm 1985 đến năm 2000, thông qua sự hợp tác quốc tế hiệu quả, đặc biệtvới các nhà khoa học Viện Dược Liệu Poznan, Ba Lan; Viện Đại học Hiroshima vàtrường Đại học Y khoa Toyama, Nhật Bản, những công trình nghiên cứu về hoá học
và dược lý của Sâm ngọc linh đã thu được kết quả nổi bật, không những góp phầnlàm sáng tỏ về mặt khoa học (danh pháp) cây Sâm ngọc linh mà còn khẳng định giátrị sử dụng của nó
Trang 21Có thể kể đến những công trình hợp tác nghiên cứu của một số nhà khoa họcnhư PGS TS Nguyễn Minh Đức, trường Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh; TS.Trần Công Luận; TS Nguyễn Thị Thu Hương; Ths Trần Mỹ Tiên…thuộc Trungtâm Sâm và Dược liệu TP Hồ Chí Minh… [5],[10],[15] Những kết quả nghiên cứuhoá học cho thấy Sâm ngọc linh chứa những thành phần hoá hợp chất thiên nhiêngồm : tinh dầu, phytosterol, saponin, đường khử, hợp chất uronic và hợp chấtpolyacetylen, trong đó saponin chiếm tỷ lệ cao và được xem là nhóm hoạt chất quantrọng nhất [5],[14].
Từ phần dưới mặt đất (bao gồm rễ và thân rễ), Sâm ngọc linh có 52 hợp chấtsaponin, trong đó có 24 saponin đã được xác định là có cấu trúc hoàn toàn mới, lần
đầu tiên được công bố Trong lá Sâm ngọc linh có 19 hợp chất saponin, trong đó có
8 saponin có cấu trúc hoàn toàn mới Khi so sánh với nhóm sâm trồng có giá trị trênthế giới như Nhân sâm (Panax ginseng), Sâm Mỹ (P quinquefolius) và Tam thất (P notoginseng) thì thành phần saponin của Sâm ngọc linh rất giống với 3 loài nói trên,
nhưng hàm lượng lại cao hơn Điều này càng khẳng định Sâm ngọc linh là một loài
độc đáo về thành phần hoá học [5],[14]
Kết quả các công trình nghiên cứu dược lý và lâm sàng cho thấy Sâm ngọc linh
có tác dụng rất giống Nhân sâm Ngoài ra, nó còn có tác động kháng khuẩn đáng kể
đối với các loại Streptococci bệnh lý và có tác dụng tốt với chứng viêm họng; có tácdụng chống strees và là một chất quan trọng xúc tiến chống ung thư [5]
1.2.4 Hiện trạng và vấn đề bảo tồn Sâm ngọc linh
Do tình trạng bị săn lùng, khai thác một cách triệt để nên Sâm ngọc linh là mộttrong những loài cây thuốc quí có nguy cơ bị tuyệt chủng cao Trên thực tế ở thời
điểm hiện tại rất hiếm gặp trong tự nhiên Theo những người dân Xê Đăng sốngquanh núi Ngọc Linh cho biết, phải đi rất nhiều ngày ở trong rừng sâu may ra mới
có thể gặp được vài cây Chính vì vậy, Sâm ngọc linh đã được xếp vào một trongnhững đối tượng quí hiếm cần được bảo tồn ở Việt Nam [1],[18],[20],[21]
Tại hai điểm lưu giữ và bảo tồn Sâm ngọc linh của tỉnh Quảng Nam cũng nhưtỉnh Kon Tum, việc thu hái và gieo ươm hạt giống được giao cho những người dân
Trang 22địa phương, chủ yếu là người Xê Đăng, do đó không có bất cứ một biện pháp kỹthuật nào tác động mà chủ yếu là kinh nghiệm của người này truyền lại cho ngườikia Chính vì điều này mà khả năng tạo giống cũng như năng suất tạo giống là rấtthấp [5].
Kết quả theo dõi quá trình tạo giống ở Quảng Nam từ năm 1996 đến trước năm
2000 thể hiện rõ trong bảng 1-3
Bảng1-3 Kết quả tạo giống Sâm ngọc linh của Trạm dược liệu Trà Linh
STT Năm Số hạt gieo Số cây giống Tỷ lệ nảy mầm (%)
(Số liệu do Trạm Dược liệu Trà Linh cung cấp)
Dược sĩ Phan Văn Đệ, Trung tâm Sâm và Dược liệu Thành phố Hồ Chí Minhcũng đã có những nghiên cứu bước đầu về sinh thái, sinh trưởng tự nhiên và gieogiống Sâm ngọc linh Tuy nhiên, những nghiên cứu này do nhiều yếu tố khách quannên đã bị bỏ dở và chỉ có một vài tài liệu công bố nội bộ tập trung vào theo dõi sinhtrưởng của cây Sâm ngọc linh mọc hoang dại (sinh trưởng trên mặt đất, sinh trưởngdưới mặt đất); Một vài vấn đề về trồng trọt Sâm ngọc linh tại 2 điểm bảo tồn ở haibên đỉnh núi Ngọc Linh thuộc 2 tỉnh Quảng Nam và Kon Tum [5]
Ngoài ra cũng có một bộ phận không nhỏ người dân Xê Đăng(nóc Măng Lùng,thôn I, thôn II, xã Trà Linh - tỉnh Quảng Nam; thôn Lạc Bông, xã Ngọc Lây – tỉnhKon Tum ) do nhận thức được giá trị của cây Sâm ngọc linh đã tự phát trồng giấutrên rừng thông qua việc tìm kiếm trong tự nhiên rồi giữ lại đầu mầm để trồng hoặcthu hạt rồi đem gieo để tạo giống Song chính những người dân địa phương này chobiết là hiệu quả tạo giống cũng rất thấp
Nhận xét và đánh giá chung:
Có thể nói rằng những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về Sâm ngọclinh chủ yếu là về nghiên cứu hoá học và tác dụng dược lý Nghiên cứu về các đặc
Trang 23điểm sinh học cũng như tái sinh, nhân giống Sâm ngọc linh có thể coi là một lĩnhvực còn mới mẻ và chưa có những tài liệu nghiên cứu toàn diện nào được công bố.
Bởi vậy, đề tài “Nghiên cứu khả năng tái sinh của cây Sâm ngọc linh (Panax
vietnamensis Ha et Grushv.), phục vụ cho công tác bảo tồn tại vùng núi Ngọc linh, thuộc xã Trà Linh, huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam” đặt ra trong bối
cảnh hiện tại là hết sức cần thiết
Ngoài ra bên cạnh việc nhân giống từ hạt có thể tạo giống từ đầu mầm hay từnhững đoạn gốc thân (mắt), u lồi hay chồi cũng là một định hướng mới trong việcgiải quyết nhu cầu về giống trước mắt (mặc dù hệ số nhân giống sẽ không cao màchủ yếu là tận dụng sau khi thu hoạch củ)
Trang 24Chương 2
mục tiêu, đối tượng, giới hạn, nội dung
và phương pháp nghiên cứu 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Về khoa học
Nắm được một số đặc điểm sinh thái cơ bản và tái sinh tự nhiên làm cơ sở khoahọc cho việc nhân giống hiệu quả hơn, đáp ứng cho nhu cầu bảo tồn và phát triểntrồng tại chỗ Sâm ngọc linh
2.1.2 Về thực tiễn
- Dựa vào kết quả quan sát về khả năng ra hoa kết quả và nảy mầm của hạt, lựachọn được phương pháp nhân giống Sâm ngọc linh tối ưu (bằng hạt), cho tỷ lệ nảymầm cao và chất lượng cây giống tốt, đồng thời có biện pháp xử lý và tận dụng đầumầm (sau khi thu hoạch củ) phục vụ cho việc nhân rộng, trồng thêm dưới tán rừng
tự nhiên ở vùng núi Ngọc Linh
Làm được như vậy nghĩa là đã trực tiếp góp phần vào công tác bảo tồn đi đôivới việc phát triển nhân trồng, tạo ra nhiều dược liệu Sâm ngọc linh ngay tại vùngvốn là nơi phân bố tự nhiên của nó
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là cây Sâm ngọc linh (Panax vietnamensis Ha et
Grushv.) thuộc họ Ngũ gia bì (Araliaceae), mọc tự nhiên (còn sót lại) cũng như đượctrồng bảo tồn và giữ giống dưới tán rừng ở vùng núi Ngọc Linh
2.3 Địa điểm nghiên cứu
- Việc điều tra khảo sát thực hiện tại vùng núi Ngọc Linh thuộc huyện NamTrà My (tỉnh Quảng Nam ); huyện Đăk Glei, huyện Tu Mơ Rông (tỉnh Kon Tum)
- Các nghiên cứu thực nghiệm tiến hành tại vườn Sâm ngọc linh (trước đây làTrạm dược liệu Trà Linh), thôn (nóc) Măng Lùng, xã Trà Linh, huyện Nam Trà My,
Trang 25tỉnh Quảng Nam Có toạ độ địa lý 15o02’26’’ vĩ độ Bắc và 107o58’33’’ kinh độ
Đông; ở độ cao 1.920m
2.4 Giới hạn nghiên cứu
Thuộc đề tài này chúng tôi chỉ giới hạn nội dung chủ yếu trong lĩnh vực Lâmsinh học Nghĩa là tìm hiểu sơ bộ đặc tính sinh thái, sự tái sinh tự nhiên của cây Sâmngọc linh Từ đó lựa chọn cách nhân giống, tạo cây con phù hợp với điều kiện ở địaphương để nhân trồng tại chỗ Đề tài không đi sâu sang lĩnh vực chọn tạo giống
Về địa bàn nghiên cứu: Đề tài giới hạn ở vườn sâm trồng tại nóc Măng Lùng,xã Trà Linh, huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam; điều tra một số khu vực rừng tựnhiên của xã Trà Linh, ở độ cao trên 1.800m
2.5 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu đề ra, đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung sau:
1, Thu thập dẫn liệu về thảm thực vật và những cây đi kèm trong quần thể tựnhiên ở vùng núi Ngọc Linh (nơi có Sâm ngọc linh mọc tự nhiên)
2, Nghiên cứu đặc điểm hình thái và sinh thái cơ bản của Sâm ngọc linh.+ Đặc điểm về hình thái
+ Môi trường cây mọc
+ Tính ưa ẩm và ưa bóng
+ Môi trường đất và dinh dưỡng khoáng
3, Tình hình sinh trưởng, phát triển và khả năng tái sinh tự nhiên
+ Chu trình sinh trưởng và phát triển của Sâm ngọc linh trong 1 năm
+ Mùa hoa quả và tái sinh tự nhiên dưới tán rừng
4, Nghiên cứu tạo giống từ hạt tại vườn trồng bán tự nhiên ở xã Trà Linh,huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam
+ Tiêu chuẩn cây mẹ, quả chín làm giống
+ Cách xử lý hạt
Trang 26+ Làm vườn ươm và kỹ thuật gieo hạt.
5, Nghiên cứu tạo cây giống vô tính từ thân rễ (củ)
+ Tiêu chuẩn cây mẹ và khả năng tận dụng đầu mầm (khi thu hoạch củ).+ Tiêu chuẩn của đoạn thân rễ (củ) làm mầm giống
6, Sự sinh trưởng của cây mầm (từ hạt và từ đầu mầm) ở vườn ươm
* Những khả năng tạo cây giống khác (chồi, u bướu )
7, Chăm sóc cây con trong vườn ươm
8, Tiêu chuẩn cây con đưa ra trồng phục vụ công tác bảo tồn và phát triển tạichỗ ở vùng núi Ngọc Linh
+ Tuổi cây giống và thời gian lấy cây giống
+ Tiêu chuẩn cây giống
+ Bảo quản và vận chuyển cây giống
9, Vài nét về trồng Sâm ngọc linh dưới tán rừng
2.6.1 Cách tiếp cận của đề tài
Qua nhiều năm nghiên cứu và quan sát được trong tự nhiên chúng tôi nhậnthấy rằng khả năng tái sinh từ hạt của loài Sâm ngọc linh là không cao Xung quanhnhững cây mẹ nhiều tuổi rải rác có cây tái sinh Một số cây có vết sẹo lớn có thể docác tác động cơ học như cành cây gãy, chim thú tạo ra, nhưng qua thời gian chúng
đã hình thành nên cá thể mới sau khi rời khỏi thân rễ (củ) ban đầu
Trang 27Có thể giải thích được lý do này là bởi vì trong tự nhiên khả năng tồn tại củahạt trong một thời gian dài là rất khó bởi vì khi hạt sâm chín rụng xuống rễ bị mưa
lũ cuốn trôi (do tính mưa mùa của Miền trung) Mặt khác, vỏ quả Sâm ngọc linhchín có vị ngọt nên nhiều chim thú nhỏ thích ăn, thậm chí có loài thú nhỡ (Hoãng)rất thích ăn lá sâm Những hạt còn sót lại sẽ phải chịu thời gian khô hạn của nhữngtháng cuối năm nên khả năng nảy mầm sẽ giảm đi rất nhiều (Vì thế phải gieo hạtkhi còn tươi)
Trong những năm đầu của thập kỷ 80, ngành Y tế Quảng Nam cũng đã có chủtrương khôi phục và phát triển Sâm ngọc linh, bắt đầu bằng việc thu thập những câysâm mọc tự nhiên đem về trồng dưới tán rừng phía sườn Đông của núi Ngọc Linh(gọi tên là Trạm dược liệu Trà Linh, thuộc nóc Măng Lùng, xã Trà Linh, huyệnNam Trà My, tỉnh Quảng Nam Độ cao trên 1920m) Kể từ đó đến nay vườn đã được
mở rộng, diện tích trên 1 héc ta với gần 300.000 cây ở các lứa tuổi khác nhau.Tuynhiên khả năng cho hạt giống vẫn chỉ ở mức dưới 200.000hạt/năm (năm nhiều nhất)
và 70.000hạt/năm (năm ít nhất) và quan trọng là tỷ lệ hạt giống nảy mầm hàng nămrất bấp bênh
Để có thể bảo tồn và nhân trồng Sâm ngọc linh tại chỗ thành công, vấn đề quantrọng là cần nắm được các đặc điểm sinh thái cơ bản của cây; mùa hoa quả, khảnăng tái sinh để từ đó có những tác động hợp lý, tìm cách tạo ra cây con từ chínhnhững cây Sâm ngọc linh đang được bảo tồn
Mặt khác, với điều kiện vật chất và trang bị tại đây còn hết sức thô sơ, trình độcán bộ còn ở mức hạn chế (duy nhất 1 Trung cấp Nông nghiệp, còn lại 10 công nhân
là người dân tộc Xê Đăng của địa phương chưa hề qua đào tạo).Vì thế các phươngpháp nghiên cứu sẽ được áp dụng vừa phải đảm bảo tính khoa học, vừa phải dễ thựchiện nhưng vẫn có thể đưa lại kết quả khả quan
ở nhiều quốc gia như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc có bề dầy truyềnthống về trồng Nhân sâm, Tam thất (những loài trong cùng chi Sâm - Panax L với
Sâm ngọc linh) đều tiến hành nhân giống từ hạt nhưng là hạt giống tươi Nghĩa làsau khi thu giống xong người ta phải gieo ngay
Trang 28Phát triển trồng sâm dưới tán rừng tự nhiên, ngay tại những nơi mà trước đâyvốn có Sâm ngọc linh mọc hoang dại là sự lựa chọn vùng sinh thái tối ưu nhất Pháttriển vườn giống tại chỗ và tiến hành gieo ươm (hạt, đầu mầm) cũng là những điềukiện thuận lợi cho thành công của nghiên cứu.
2.6.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Phương pháp kế thừa tài liệu:
Các tài liệu sau đây được đề tài kế thừa:
+ Thu thập các tài liệu, số liệu các công trình nghiên cứu có liên quan tới Sâmngọc linh, đặc biệt là về sinh thái, phân bố và tạo giống Những tài liệu về tạo giốngcủa một số loài thuộc chiPanax ở Trung Quốc, Nhật Bản và Triều Tiên [39],[44].
+ Các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu là xãTrà Linh, huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam
- Phương pháp điều tra:
+ Phương pháp thu thập thông tin: ở đây chỉ hạn chế trong việc thu thập cótính chọn lọc các thông tin từ các nguồn sẵn có nhằm khái quát hoá và hiểu biết rõhơn về điều kiện tự nhiên, xã hội… vùng núi Ngọc Linh – nơi có Sâm ngọc linhmọc tự nhiên Cách làm này được áp dụng theo Qui trình điều tra dược liệu của Bộ
Y tế ban hành năm 1973 có chỉnh sửa và bổ sung [2],[4]
+ Phương pháp nghiên cứu sinh thái, trong Sinh thái học thực vật của DươngHữu Thời (1963) [23] Bao gồm cách điều tra quan sát, ghi chép các thông tin vềmôi trường có Sâm ngọc linh mọc tự nhiên So sánh sự sinh trưởng phát triển củacác lô Sâm ngọc linh đã trồng có độ che phủ khác nhau (độ tán che) nhằm mô tả
được đặc điểm sinh thái của đối tượng nghiên cứu
Tuy nhiên ở đây chúng tôi có giới hạn những khu vực rừng còn tương đốinguyên trạng, ít bị tàn phá và có độ cao từ 1.800m trở lên (từ độ cao 1.800m trởxuống đã bị người dân phát nương làm rẫy )
- Phương pháp thí nghiệm:
Trang 29Lập các ô thí nghiệm về gieo ươm giống và tiến hành lặp lại nhiều lần trong 3năm liên tục Mỗi công thức thí nghiệm đều đảm bảo trên 90 cá thể để đảm bảo choviệc tính toán và xử số liệu sau này.
Cụ thể:
+ Với tạo giống từ hạt: Hạt có xử lý trước khi gieo; Hạt không xử lý, gieo trựctiếp; Độ sâu của rãnh gieo (gieo nông, gieo sâu, gieo nổi )
+ Với giống từ đầu mầm: Đầu mầm ở những độ tuổi khác nhau (1 đốt, 2 đốt và
3 đốt); Các đoạn gốc thân (mắt) có và không có xử lý thuốc kích thích; Các u lồi,chồi
Và các lô đối chứng cho cả hai cách thức tạo giống trên
So sánh với kết quả của những năm trước mà người dân tiến hành theo kinhnghiệm vốn có
* Tổng hợp số liệu nghiên cứu phục vụ luận văn:
- Đã thu thập được tổng số 48 tài liệu có liên quan Bao gồm 24 tài liệu tiếngViệt và 24 tài liệu tiếng nước ngoài
- Số liệu của 30 công thức thí nghiệm cho cả 2 biện pháp tạo giống
Trang 30Chương 3
Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội
khu vực nghiên cứu 3.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý
Núi Ngọc Linh nằm trong toạ độ địa lý khoảng từ 150– 15018’vĩ tuyến Bắc và
từ 107041’ – 108001’ kinh tuyến Đông Đây là khối núi cao nhất Tây Nguyên vàcũng có thể coi đây là điểm cuối của dãy Trường Sơn nam, đỉnh cao nhất là NgọcLinh (2.598m) Ngoài ra còn một số đỉnh khác cũng cao trên 2.000m là Ngọc Tion(2.032m), Ngọc Lum Heo (2.030m), Ngọc Lepho (2.070m), Ngọc Pa (2.251m) [3].Xung quanh núi Ngọc Linh về phía Đông và Đông nam là tỉnh Quảng Nam cócác xã: Trà Cang, Trà Nam và Trà Linh thuộc huyện Nam Trà My (trước đây làhuyện Trà My); về phía Tây là tỉnh Kon Tum có các xã: Ngọc Lây, Tê Xăng, Măng
Ri huyện Tu Mơ Rông (trước đây là huyện Đăk Tô) và các xã Ngọc Linh, MườngHoong (huyện Đăk Glei)
Việc đốt nương làm rẫy trong một thời gian dài của cộng đồng người dân địaphương đang sinh sống trên dải Trường Sơn nói chung, khu vực núi Ngọc Linh nóiriêng đã tàn phá và làm giảm đi một diện tích đáng kể của rừng tự nhiên Thậm chínhiều nơi người dân đã khai hoang làm nương rẫy lên tới độ cao 2.000m (Trà Linh -Quảng Nam; Mường Hoong, Ngọc Linh – Kon Tum) và phần lớn là từ 1.700 –2.000m Như vậy diện tích rừng tự nhiên, nơi được coi là có điều kiện thuận lợi nhấtvới sinh trưởng và phát triển của Sâm ngọc linh đã bị thu hẹp Nhiều điểm ghi nhận
có Sâm ngọc linh mọc tự nhiên trước đây ở độ cao từ 1.500 – 1.800m đã không còn(ảnh 3-1)
Xã Trà Linh là một trong những xã vùng sâu vùng xa nhất của huyện Nam Trà
My (trước đây là huyện Trà My) tỉnh Quảng Nam, cách trung tâm huyện mới NamTrà My 40km và cách thị xã Tam Kỳ 160km Phía Đông giáp xã Trà Nam, phía Bắcgiáp xã Trà Cang (huyện Nam Trà My); Phía Tây giáp xã Ngọc Linh và một phần
Trang 31nhỏ xã Mường Hoong (huyện Đắk Glei), phía Nam giáp xã Ngọc Lây (huyện Tu MơRông), tỉnh Kon Tum.
ảnh 3-1 Việc đốt nương làm rẫy khiến diện tích rừng tự nhiên bị thu hẹp.
Nóc Măng Lùng có vị trí cao nhất không những ở trong xã Trà Linh mà còn lànóc có vị trí cao nhất ở trong huyện Nam Trà My và Tỉnh Quảng Nam Hiện chưa có
đường giao thông nên đi lại hết sức khó khăn Với độ cao gần 1.800m so với mựcnước biển, ngay giáp ranh với biên giới tỉnh Kon Tum (xã Ngọc Lây, xã Ngọc Linh
và xã Mường Hoong), Măng Lùng là nơi Trạm dược liệu Trà Linh đang tiến hànhcông tác bảo tồn và phát triển Sâm ngọc linh [5] (Xem bản đồ - Phụ lục 2)
3.1.2 Diện tích, địa hình và đất đai
3.1.2.1 Diện tích
Tổng diện tích xã Trà Linh là 6.300ha, trong đó:
Diện tích đất nông nghiệp: 148,42ha, chiếm 2,36%
Trang 32Diện tích đất lâm nghiệp: 2.962ha, chiếm 47,01%.
Diện tích đất chuyên dùng: 8,85ha, chiếm 0,14%
Diện tích đất ở: 5ha, chiếm 0,08%
Diện tích đất chưa sử dụng: 3.175,72ha, chiếm 50,41%
(Nguồn: Số liệu do Phòng thống kê huyện Nam Trà My cung cấp tháng 6 năm 2003) 3.1.2.2 Địa hình, đất đai
- Xã Trà Linh nằm dọc theo sườn Đông và Đông nam của núi Ngọc Linh nên
địa hình rất phức tạp và có độ dốc lớn Độ cao so với mặt nước biển từ 1.200m(UBND xã) đến 1.800m (nóc Măng Lùng)
Núi Ngọc Linh chạy dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, sườn phía Đôngdốc và sườn phía Tây ít dốc hơn bởi tiếp xúc dần với cao nguyên Tây Nguyên Núi
được tạo thành bởi quá trình nâng trồi của đá trầm tích biển và đá granit xâm thực
Đất có độ pH hơi chua từ 4,5 – 5,0
3.1.3 Khí hậu, thuỷ văn
* Khí hậu:
Nằm trong vành đai có khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng và ẩm, nhưng vùng núiNgọc Linh lại thiên về khí hậu nhiệt đới núi cao và có phần ảnh hưởng bởi chế độmưa mùa ở Miền Nam Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 150Cđến 200C và nhiệt độtrung bình của tháng lạnh nhất dưới 150C (đôi khi dưới 100C về ban đêm; Phía trên
đỉnh có thể có nhiệt độ thấp hơn nữa) Lượng mưa trong năm tập trung chủ yếu từtháng 5 đến tháng 11 ở sườn Đông trung bình từ 2.500 – 3.500mm/năm, còn ở sườnTây phía tỉnh Kon Tum có lượng mưa thấp hơn Tuy nhiên, do là một khối núi cao,lớp phủ thực vật còn nhiều nên từ độ cao trên 1.700m thường có mây mù Độ ẩmkhông khí trung bình từ 75% (mùa khô) đến 85% hoặc hơn (về mùa mưa)
Trang 33đất Lào cung cấp một phần nước cho sông Mê Kông [3],[15].
ở sườn Đông và Đông Nam (phía tỉnh Quảng Nam) là thượng nguồn của 2sông chính là sông Tranh và sông Leng Sông Tranh bắt nguồn từ phía Nam, chảytheo hướng Bắc đổ vào sông Thu Bồn, đây cũng là một sông quan trọng của tỉnhQuảng Nam Sông Leng bắt nguồn từ phía Tây Bắc, là một chi lưu của sông Tranh.Song, đáng lưu ý là hệ thống sông suối ở sườn Đông cũng như sườn Tây thườngngắn, hẹp, dốc và có dòng chảy nhanh Nước trong hầu hết các sông đều lên xuốngthất thường (nhất là phía sườn Tây), gây ra lũ quét, sạt lở, sói mòn, rửa trôi về mùamưa và khô cạn vào mùa khô Điều này dẫn tới khó khăn cho sản xuất nông nghiệpcũng như canh tác nương rẫy của người dân trong vùng
Nóc Măng Lùng, thuộc thôn 2, xã Trà Linh và khu vực vườn sâm có tới 10 consuối lớn nhỏ cùng chảy theo hướng Đông về sông Tranh nhưng vào mùa khô rất ítkhi cạn nước (Xem bản đồ – Phụ lục 2)
Trang 343.2 Điều kiện kinh tế – xã hội
3.2.1 Dân số, dân tộc
- Trà Linh là xã nằm trong diện khó khăn của huyện Nam Trà My, được chínhphủ đưa vào hỗ trợ của chương trình 135 Hệ thống giao thông đi lại rất khó khăn,không có đường ô tô từ trung tâm huyện đến xã Khoảng cách giữa các thôn trongxã lớn nên người dân chủ yếu là đi bộ, đường dốc và qua sông suối nhiều Hơn nữa
là xã cao nhất trong huyện Nam Trà My nên tuy mật độ dân số có ít hơn các xãkhác nhưng thành phần dân tộc chủ yếu lại là người Xê Đăng và tỷ lệ hộ đói nghèolại rất cao Tính trung bình cho toàn xã (với 4 thôn) thì tỷ lệ hộ đói nghèo đã chiếmtới trên 50% (Bảng 3-1)
Nóc Măng Lùng cùng với 4 nóc khác (Lông Mu, Tăk Ngo, Con Pin I, Con PinII) thuộc thôn 2 xã Trà Linh, một trong những thôn có số hộ nghèo và quá nghèothuộc diện thấp nhất trong toàn xã, không có người kinh và 100% là người dân tộc
Xê Đăng (Cả xã có trên 95% là người Xê Đăng; còn lại số ít là người kinh, bao gồmnhững người buôn bán, giáo viên tiểu học… lên công tác và định cư, xây dựng gia
đình ngay tại địa phương)
Bảng 3-1 Số thôn, số hộ, số khẩu, thành phần dân tộc, tỷ lệ đói nghèo
(Nguồn: Trích báo cáo của UBND huyện Trà My tháng 5 năm 2003)
- Số người trong độ tuổi lao động ở toàn xã là 1.022 người, phương thức canhtác chủ yếu là khai hoang và đốt nương làm rẫy Có tới gần 1/3 số hộ thiếu ăn từ 2-3tháng/năm
Trang 353.2.2 Kinh tế, văn hoá, xã hội
Là một xã vùng sâu vùng xa, khó khăn về nhiều lĩnh vực đặc biệt là đường giaothông chưa đến được trung tâm (UBND) xã Thu nhập thêm của người dân nơi đâyphụ thuộc vào việc săn bắn hay hái lượm những sản phẩm sẵn có của rừng như chim,thú, mật ong và một số lâm sản khác, nhưng cũng chỉ tập chung ở số lượng rất ítngười Duy nhất tại khu vực UBND xã có vài hộ gia đình người kinh lên sinh sống
và mở giao thương, trao đổi, buôn bán hàng hoá Riêng khu vực nóc Mang Lùngkhông có bất cứ sự thương mại nào, người dân ở đây vẫn phải đi bộ xuống xã TràNam, xã Trà Don hoặc thậm chí về trung tâm huyện là thị trấn Tăk Pỏ, cách đó40km
- Về phong tục tập quán: Do chủ yếu là người dân tộc Xê Đăng nên phong tụctập quán mang đậm nét đặc trưng của Tây Nguyên Mỗi năm có nhiều lễ tết như: Tếtlúa mới, lúa kho, lúa thừa hay tết đâm trâu (vùng Trà Linh ít đâm trâu hơn do đờisống quá nghèo khó)
- Về giáo dục – Y tế : Xã có một trường tiểu học, còn lại tại mỗi nóc có từ 1
đến 2 thầy cô giáo phụ trách luôn lớp 1 và lớp 2 Không có người học hết trung họcphổ thông, số rất ít học hết trung học cơ sở được xã cử đi học nghiệp vụ về làm giáoviên tiểu học, mẫu giáo hoặc cán bộ y tế thôn bản
- Về giao thông: Không có đường giao thông từ trung tâm huyện đến xã, thôn.Duy nhất là đường mòn và đi bộ luồn qua rừng hay các nương rẫy Gần đây, sau khitách ra từ huyện Trà My, huyện Nam Trà My có đầu tư làm đường nhưng mới chỉ cóthể cho ô tô đi lại được trong thời gian ngắn của mùa khô và còn cách UBND xãchừng 2 giờ đi bộ (Từ UBND xã đến nóc Măng Lùng phải leo dốc chừng 3 giờ và
đến vườn sâm phải thêm 2 giờ đi bộ nữa)
Nhận xét và đánh giá chung:
Qua những phân tích rất khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội củatoàn xã Trà Linh nói chung và khu vực nóc Măng Lùng nói riêng, có thể rút ra một
số nhận xét căn bản sau:
Trang 36* Thuận lợi: Điều kiện tự nhiên hết sức thuận lợi không những cho việc trồngtrọt mà còn thuận lợi rất nhiều cho công tác nghiên cứu tạo giống Sâm ngọc linh.Nói một cách khác, Sâm ngọc linh chính là một sản phẩm quí giá mà thiên nhiên đãban tặng cho dãy Trường Sơn, núi Ngọc linh và những cộng đồng dân tộc đang sinhsống ở đây, không chỉ có xã Trà Linh.
- ở độ cao trên 1.800m so với mực nước biển, xa các khu dân cư, rừng ít bị tànphá nên có độ che phủ lớn Khí hậu mát, độ ẩm cao, tầng mùn còn dầy nên pháttriển trồng Sâm ngọc linh là rất thuận lợi (nhiều nơi trước đây đã từng có Sâm ngọclinh mọc tự nhiên)
- Trong vài năm trở lại đây, người dân trong toàn xã đã được tuyên truyền, họctập nâng cao nhận thức và hiểu biết về Sâm ngọc linh
* Khó khăn: Không chỉ xã Trà Linh (còn nhiều xã khác trong huyện như TràCang, Trà Nam) có khó khăn nhiều hơn thuận lợi Nóc Măng Lùng ở cao nhất, xanhất nên càng khó khăn hơn, từ kinh tế đến văn hoá xã hội Hiện tượng bỏ học, thấthọc còn nhiều nên vấn đề nhận thức của người dân còn chậm, đôi khi bị ràng buộcbởi các hủ tục như cúng ma, xem bói
- Diện tích đất rừng còn nhiều nhưng chưa tiến hành giao đất giao rừng nênviệc qui hoạch vùng trồng sâm gặp nhiều khó khăn, thêm vào đó là người dân cònthói quen du canh và đôi khi đốt nương làm rẫy một cách bừa bãi (Vì sườn Đôngnúi Ngọc Linh chưa được qui hoạch thành Khu Bảo tồn thiên nhiên như ở phía KonTum.)
- Trước nhu cầu mưu sinh, một bộ phận không nhỏ người dân địa phương khaithác lâm sản để trao đổi hoặc bán Đặc biệt là săn tìm, khai thác Sâm ngọc linh mọchoang dại khiến cho nguồn hạt giống trong tự nhiên bị cạn kiệt
- Chưa có loài cây trồng nào được đưa vào địa phương nhằm nâng cao đời sống
đồng thời góp phần làm ổn định kinh tế, xã hội Từ năm 2002 nhờ chương trình Bảotồn Sâm ngọc linh, một số hộ dân trong xã đã được cấp từ 500 đến 1000 cây sâmgiống từ hạt để trồng trên rừng Nguồn cây giống do Công ty dược và Vật tư Y tếQuảng Nam, đơn vị đang trực tiếp quản lý vườn sâm cùng với KS Lê Thanh Sơn vàcác cán bộ công nhân Trạm Dược Liệu Trà Linh cung cấp
Trang 37Chương 4
Kết quả và bàn luận 4.1 Vài nét về thảm thực vật rừng, nơi có Sâm ngọc linh mọc tự nhiên
Thảm thực vật ở vùng núi Ngọc Linh nhìn chung là kiểu rừng kín thường xanh
ẩm Tuy nhiên, với đặc điểm của một vùng núi cao ở phía nam nên thảm thực vậtrừng ở đây có thể chia ra theo các đai cao như sau:
+ Độ cao từ 1.000m trở xuống là kiểu rừng kín thường xanh trên đất thấp Kiểurừng này đã bị tàn phá, thay thế vào đó là nương rẫy, kiểu thảm thứ sinh và đồi câybụi (do nương rẫy bỏ hoang nhiều năm)
+ Độ cao từ 1.000 – 1.700m là kiểu rừng kín thường xanh trên núi thấp Rừng
ở đây không còn nguyên sinh do khai thác chọn và khai phá làm nương rẫy Chỉ cònlại diện tích rất ít do ở các khe núi hiểm trở hoặc đầu nguồn các con nước nên đượcngười dân địa phương chủ động giữ lại
+ Từ 1.700m trở lên đến đỉnh núi, vẫn là loại hình rừng kín thường xanh nhưng
là ở núi trung bình Đặc biệt là ở độ cao từ 1.800 – 1.900m trạng thái rừng nhìnchung còn nguyên sinh, do địa hình có độ dốc lớn và hiểm trở nên ít bị tàn phá hơn.Kết cấu rừng thường thấy rõ 3 tầng: Tầng vượt tán, tầng tán và tầng cây bụi, cỏquyết
* Tầng vượt tán:
Gồm những cây gỗ cao 20 – 40m thuộc trên 20 họ, trong đó những họ thực vật
á nhiệt đới chiếm ưu thế rõ rệt, đặc biệt là họ Dẻ (Fagaceae), họ Chè (Theaceae), họ
Du (Ulmaceae), họ Mộc lan (Magnoliaceae), họ Thông (Pinaceae) cùng với một
số loài cây vùng ôn đới thuộc chi Betula Acer, lẫn với nhiều loài cây lá kim thuộc
các họ Cephalotaxaceae, Podocarpaceae Đáng chú ý có Thông đà lạt (Pinus dalatensis), Sam bông (Amentotaxus poilanei) và một số loài cây gỗ khác.
Trang 38* Tầng tán:
Ghi nhận được trên 20 họ, trong đó họ Araliaceae có tới khoảng 20 loài thuộc
8 chi như Aralia, Schefflera, Brassaiopsis Một số loài Dương xỉ đại mộc Cibotium, Cyathea và một vài loài tre, trúc.
* Tầng cây bụi, cỏ và quyết:
Ghi nhận được nhiều loài thuộc trên 30 họ thực vật khác nhau Một số loàithuộc trong 30 họ kể trên có số lượng (mật độ cá thể nhiều) như họ Acanthaceae,Urticaceae, Melastomaceae, Rubiaceae, Poaceae và một số họ Dương xỉ khác
Đáng chú ý có loài Chàm ô rô (Strobilanthes penstemoides) là một trong các cây đi
kèm, thấy nhiều trong những điểm có sâm mọc tự nhiên Một số loài dây leo trong
họ Menispermaceae và Fabaceae cũng tham gia vào tổ thành sinh tầng này Tầngcây bụi và cỏ quyết phong phú về thành phần loài, trong đó có nhiều loài làm thuốc.Ngoài ra do độ ẩm cao nên thực vật phụ sinh, địa y và nấm ở Ngọc Linh cũng rấtphát triển
Trên phía đỉnh cao có thể gặp một số loài thuộc họ Đỗ quyên (Ericaceae)
4.2 Những đặc điểm hình thái và sinh thái cơ bản của Sâm ngọc linh
4.2.1 Đặc điểm hình thái
- Tên gọi thông dụng: Sâm Ngọc Linh (SNL)
- Tên gọi khác: Sâm việt nam, Sâm khu năm (sâm K5), Thuốc dấu, Củ rơm con(Xê Đăng)…
- Tên khoa học:Panax vietnamensis Ha et Grushv.,
- Họ thực vật: Ngũ gia bì - Araliaceae
- Mô tả tóm tắt:
Cây dạng cỏ, sống nhiều năm, có thể cao trên 1m Thân rễ (củ) nạc, đườngkính từ 2-3cm hoặc hơn, phân nhánh, nằm ngang và thường nổi trên mặt đất Cuốithân rễ có rễ củ to hình cầu, hình con quay đường kính tới 3cm (5cm) Đường kínhthân mang lá từ 0,3 – 0,6cm, nhẵn, lụi vào mùa đông để lại trên thân rễ những vết
Trang 39sẹo gần tròn Lá kép hình chân vịt, gồm 3-4 lá kép (ít khi 5 hoặc 6) mọc vòng; mỗilá kép thường có 5-7 lá chét thuôn, dài 10-14cm, rộng 3-5cm, hai đầu nhọn, mép lá
có răng cưa, có lông ở cả 2 mặt Cụm hoa tán, mọc ở ngọn, cuống cụm hoa dài 30cm, vượt khỏi tán lá (dài gấp 1,5 – 2 lần chiều dài cuống lá kép) Tán hoa có
15-đường kính 2,5 – 5cm, có thể mang từ 50 -140 hoa Cuống hoa dài 1- 2,5cm Hoanhỏ màu trắng ngà hay trắng xanh, gồm 5 lá đài hợp thành hình chuông, trên chiathành 5 răng nhỏ hình tam giác, cao 1-1,5mm; 5 cánh hoa hình tam giác rộng Nhị
5, mọc giữa các cánh hoa; bầu 2 ô, đầu nhuỵ chẻ đôi Bao phấn xoan, đính lưng.Quả hình cầu cầu hơi dẹt, đường kính 0,6-1,0cm, có vòi nhuỵ tồn tại (ảnh 4-1); khichín có màu đỏ tươi, thường có chấm đen không đều ở đỉnh quả Hạt 1 hoặc 2, cómàu trắng hoặc trắng ngà, dài 6-7mm, rộng 5-6mm, dày 2mm; bề mặt hạt ráp, cónhiều chỗ lồi lõm [1],[7],[8],[9],[19],[21]
ảnh 4-1 Cụm quả sâm ngọc linh còn xanh
Nhìn khái quát đặc điểm hình thái bên ngoài, Sâm ngọc linh có một số điểmgiống với loài Sâm nhật (Panax japonicus) như dạng lá, cuống cụm hoa và cụm quả
dài, quả khi chín thường có bớt (chấm, đốm) đen ở đỉnh Chính vì vậy, có tài liệu
đã nhầm lẫn giữa hai loài kể trên [7],[37]
Trang 40Tuy nhiên, với những nghiên cứu cụ thể về đặc điểm của hoa và số lượng hoatrên một cụm hoa; thêm nữa là những kết quả nghiên cứu về thành phần hoá học,dẫn liệu ADN đã càng khẳng định Sâm ngọc linh là một loài độc lập, riêng rẽ[19],[36],[37],[38].
4.2.2 Đặc điểm sinh thái
Qua nhiều năm trực tiếp điều tra, quan sát, theo dõi và thu thập các dẫn liệu vềnhững điểm có Sâm ngọc linh (trước đây cũng như hiện tại còn sót lại), kết hợp vớinghiên cứu trồng sâm dưới tán rừng tự nhiên, chúng tôi đã rút ra một số nhận xét về
đặc điểm sinh thái của Sâm ngọc linh như sau:
4.2.2.1 Nơi mọc
Tính cho đến thời điểm nghiên cứu, Sâm ngọc linh mới chỉ phát hiện thấy ởcao nguyên Trung phần, trong đó điểm phân bố tập trung vốn có (và quan trọngnhất) là núi Ngọc Linh Cụ thể là ở các xã Tê Xăng, Măng Ri huyện Tu Mơ Rông;xã Mường Hoong, Ngọc Linh huyện Đăk Glei (tỉnh Kon Tum) và xã Trà Cang, TràLinh, Trà Nam huyện Nam Trà My (tỉnh Quảng Nam) Mới đây trên một số phươngtiện thông tin đại chúng (Báo điện tử, Đài truyền hình Quảng Nam, VTV1 – tháng 8năm 2006) có đưa tin ở Thôn 6 xã Phước Lộc, huyện Phước Sơn ở độ cao trên1.600m (thuộc núi Ngọc Lum Heo cao 2.030m, là phần kéo dài về phía Bắc dãyNgọc Linh), phát hiện SNL mọc tự nhiên (nhưng ngay sau đó cũng đã bị khai tháchết)
Theo Hà Thị Dụng, cây sâm do Phạm Hoàng Hộ phát hiện ở núi Lang Bian(tỉnh Lâm Đồng) năm 1970 cũng là SNL [1],[7],[19] Mặc dù vậy, Sâm ngọc linhvẫn được coi là loài đặc hữu hẹp của Miền Trung Việt Nam [5]