Một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho diện tích, chất lượng rừng trên địa bàn bị suy giảm là công tác quản lý bảo vệ rừng chỉ coi trọng biện pháp hành chính Nhà nước mà chưa lôi cuố
Trang 1ĐINH THIÊN HOÀNG
NGHIÊN CỨU, ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ RỪNG CỘNG ĐỒNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐAKRÔNG, TỈNH QUẢNG TRỊ
Trang 2CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Nếu nội dung nghiên cứu của tôi không trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã công bố, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm và tuân thủ kết luận đánh giá luận văn của Hội đồng khoa học
Hà Nội, ngày 29 tháng 10 năm 2019
Người cam đoan
Đinh Thiên Hoàng
Trang 3Xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban giám hiệu Trường Đại học Lâm nghiệp, Khoa Sau đại học và các thầy giáo, cô giáo đã giảng dạy tôi trong suốt quá trình học tập
Chân thành cảm ơn lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm, lãnh đạo và cán bộ Hạt Kiểm lâm Đakrông cùng gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng nhưng luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong quý thầy cô, những người quan tâm đến đề tài, đồng nghiệp tiếp tục có những ý kiến đóng góp, giúp đỡ để đề tài được hoàn thiện hơn
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 10 năm 2019
Tác giả
Đinh Thiên Hoàng
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC HÌNH HOẶC SƠ ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4
1.1 Nhận thức về quản lý rừng cộng đồng 4
1.1.1 Khái niệm về cộng đồng 4
1.1.2 Khái niệm về cộng đồng tham gia quản lý bảo vệ rừng 5
1.1.3 Chiến lược và chính sách quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng 7 1.1.4 Quan điểm về quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng 7
1.2 Quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng ở nước ngoài: 8
1.3 Quản lý bảo vệ rừng cộng đồng ở Việt Nam 11
1.3.1 Các tổ chức cộng đồng ở Việt Nam 11
1.3.2 Hình thức quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng ở Việt Nam 12
1.3.3 Hiệu quả đạt được từ quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng ở Việt Nam 14
1.3.4 Những bài học kinh nghiệm quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng 16
Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI 18
2.1 Điều kiện tự nhiên huyện Đakrông 18
2.1.1 Vị trí địa lý 18
2.1.2 Địa hình, địa mạo 18
2.1.3 Đặc điểm khí hậu 19
2.1.4 Tài nguyên nước: 20
Trang 52.1.5 Tài nguyên đất 21
2.1.6 Tài nguyên rừng 22
2.1.7 Tài nguyên khoáng sản 24
2.1.8 Tài nguyên nhân văn 24
2.1.9 Thực trạng môi trường 24
2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 25
2.2.1 Khái quát thực trạng phát triển kinh tế 25
2.2.2 Dân số và lao động 28
Chương 3 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
3.1 Mục tiêu nghiên cứu 30
3.1.1 Mục tiêu tổng quát 30
3.1.2 Mục tiêu cụ thể 30
3.2 Đối tượng nghiên cứu của đề tài 30
3.3 Nội dung nghiên cứu 30
3.4 Phương pháp nghiên cứu 31
3.4.1 Phương pháp luận 31
3.4.2 Phương pháp kế thừa 32
3.4.3 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 33
3.4.4 Phương pháp đánh giá 34
3.5 Xử lý, tổng hợp và phân tích số liệu 36
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37
4.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Đakrông 37
4.1.1 Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội 37
4.1.2 Ảnh hưởng của phong tục tập quán, kiến thức và thể chế bản địa của cộng đồng liên quan đến công tác quản lý bảo vệ rừng 39
4.2 Các hình thức quản lý rừng trên địa bàn huyện Đakrông 49
Trang 64.2.1 Rừng do cộng đồng quản lý 49
4.2.2 Rừng do UBND xã quản lý chung 51
4.2.3 Rừng do tổ chức, doanh nghiệp quản lý 52
4.3 Tình hình quản lý bảo vệ rừng ở huyện Đakrông 52
4.3.1 Cơ cấu tổ chức lực lượng về quản lý bảo vệ rừng: 52
4.3.2 Thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng ở huyện Đakrông 61
4.3.3 Những thuận lợi, hạn chế trong công tác quản lý, bảo vệ rừng 73
4.3.4 Những nguy cơ và thách thức trong công tác quản lý, bảo vệ rừng 77
4.3.5 Mức độ quan trọng của tài nguyên rừng đối với cộng đồng 81
4.4 Đánh giá kết quả bảo vệ rừng của cộng động sau khi được giao rừng: 84
4.5 Đánh giá tiềm năng quản lý rừng của cộng đồng dân cư thôn, bản 88
4.6 Đề xuất một số giải pháp quản lý rừng cộng đồng 90
4.6.1 Các giải pháp về chính sách 90
4.6.2 Các giải pháp về tổ chức 94
4.6.3 Giải pháp về nâng cao năng lực cho cán bộ thôn, bản 95
4.6.4 Giải pháp về tuyên truyền, giáo dục pháp luật về Lâm nghiệp và xoá bỏ dần những tập quán không có lợi cho công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng 96
4.6.5 Giải pháp về phòng cháy chữa cháy rừng 97
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104 PHỤ BIỂU
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Biểu 2.1: Cơ cấu sử dụng đất huyện Đakrông 2018 21
Biểu 2.2: Diện tích rừng và đất rừng huyện Đakrông phân theo mục đích sử dụng 2018 23
Biểu 3.1: Các điểm tiến hành nghiên cứu tại huyện Đakrông 34
Biểu 4.1: Diện tích rừng phân theo chủ quản lý huyện Đakrông 49
Biểu 4.2: Thống kê tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng tại 3 cộng đồng nghiên cứu 51
Biểu 4.3: Nguy cơ và thách thức trong quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn 80
Biểu 4.4: Mức độ quan trọng của tài nguyên rừng đối với cộng đồng 82
Biểu 4.5: Thống kê khu rừng giao cho cộng đồng dân cư Làng Cát 84
Biểu 4.6 Thống kê khu rừng giao cho cộng đồng dân cư Tà Lềng 84
Biểu 4.7: Thống kê khu rừng giao cho cộng đồng dân cư Pa Tầng 85
Biểu 4.8: Kết quả phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức 88
của cộng đồng thôn, bản trong công tác quản lý rừng 88
Biểu đồ 4.1: Hiện trạng sử dụng đất ở huyện Đakrông 21
Biểu đồ 4.2: Diễn biến vi phạm lâm luật trên địa bàn huyện Đakrông do Hạt Kiểm lâm Đakrông xử lý từ 2016 – 2018 66
Trang 9DANH MỤC HÌNH HOẶC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 4.1: Quá trình xây dựng quy ước bảo vệ rừng của thôn, bản 47
Sơ đồ 4.2: Sơ đồ về cơ cấu tổ chức lực lượng quản lý, bảo vệ rừng 53
tại huyện Đakrông 53
Hình 4.1: Tuyên truyền công tác bảo vệ rừng tại xã A Ngo 63
Hình 4.2: Các lực lượng chữa cháy rừng ở xã Hải Phúc, huyện Đakrông 71
Hình 4.3: Cơ quan chức năng huyện Đakrông khám nghiệm hiện trường vụ Hủy hoại rừng tại xã Tà Long, huyện Đakrông 76
Trang 10MỞ ĐẦU
Trong thời gian qua để làm tốt công tác quản lý bảo vệ & phát triển vốn rừng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, văn bản qui phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ và phát triển rừng và quản
lý lâm sản Nhà nước đầu tư nhiều kinh phí, khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước thực hiện công tác trồng rừng để phủ xanh đất trống đồi trọc, khoanh nuôi bảo vệ, xúc tiến tái sinh các khu rừng non, rừng nghèo, thành lập các khu bảo tồn thiên nhiên có các loại động vật, thực vật quý hiếm
để bảo vệ nghiêm ngặt, nên công cuộc bảo tồn và phát triển vốn rừng đã có những kết quả có ý nghĩa hết sức quan trọng về kinh tế, khoa học, môi trường sinh thái và an ninh quốc phòng Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân từ khách quan đến chủ quan như: Thiếu lực lượng chuyên trách, thiếu kinh phí đầu tư
và quan trọng nhất là thiếu một chiến lược phát triển toàn diện và nhất quán trong công tác quản lý bảo vệ rừng, nên tình trạng xâm hại tài nguyên rừng ở một số nơi vẫn xảy ra nghiêm trọng, làm cho diện tích rừng bị thu hẹp, trử lượng và chất lượng rừng giảm sút Một số động, thực vật bị khai thác quá mức dẫn đến cạn kiệt có nguy cơ bị tuyệt chủng, mức độ đa dạng sinh học của rừng giảm đi Một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho diện tích, chất lượng rừng trên địa bàn bị suy giảm là công tác quản lý bảo vệ rừng chỉ coi trọng biện pháp hành chính Nhà nước mà chưa lôi cuốn được cộng đồng tham gia quản lý bảo vệ rừng
Chính vì vậy công tác quản lý bảo vệ rừng đang đặt ra những vấn đề hết sức bức thiết, đòi hỏi phải có sự quan tâm của các cấp, các ngành, sự tham gia tích cực của cộng đồng, sự đổi mới của lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng, nhằm đề ra những giải pháp chiến lược để thực hiện tốt nhiệm vụ quản
lý bảo vệ rừng trước mắt cũng như lâu dài
Trang 11Quản lý, bảo vệ rừng là một hệ thống các biện pháp tổng hợp từ ban hành chế độ chính sách, cơ chế quản lý, các giải pháp kinh tế - kỷ thuật để giải quyết tốt mối quan hệ tương hổ giữa Con người - Rừng cây - Xã hội, nhằm sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên có khả năng tái tạo này,
dự báo và ngăn chặn những yếu tố ảnh hưởng bất lợi của tự nhiên và con người đến tài nguyên rừng, từ đó duy trì phát triển bền vững vốn rừng một cách lâu dài và liên tục
Đakrông là một huyện phía Tây Nam tỉnh Quảng trị có tổng diện tích
tự nhiên là 122.467,40 ha, trong đó diện tích rừng 80.022,94 ha, độ che phủ của rừng chiếm 64,72%%, có khí hậu tương đối khắc nghiệt, mùa nắng nóng kéo dài, khô hạn, lại chịu ảnh hưởng mạnh của gió phơn Tây Nam Trên địa bàn có 03 cộng đồng dân tộc cùng sinh sống đó là: Kinh, Vân Kiều, Pa Cô Điều kiện kinh tế, xã hội nói chung còn gặp nhiều khó khăn, đời sống của nhân dân còn nghèo, kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông, lâm nghiệp, thu nhập của của người dân trên địa bàn huyện và trình độ dân trí còn thấp, sản xuất nông, lâm nghiệp còn lạc hậu, ý thức về công tác bảo vệ rừng chưa cao, một bộ phận nhân dân còn chuyên sống dựa vào rừng, tình hình xâm hại tài nguyên rừng một số nơi vẫn còn diễn ra Hệ thống quản lý bảo vệ rừng ở đây chủ yếu dựa vào các cơ quan Nhà nước, các chủ rừng và các Ban quản lý rừng phòng hộ, Ban quản lý rừng đặc dụng Việc tham gia quản lý bảo vệ rừng của cộng đồng đã từng bước được triển khai tuy nhiên vẫn còn hạn chế
Các nghiên cứu lý luận và thực tiễn ở trong và ngoài nước đã chứng minh rằng cộng đồng dân cư là đối tượng thích hợp nhất quản lý bảo vệ rừng, nhất là đối với các diện tích rừng phòng hộ, xa dân cư mà hộ gia đình, các tổ chức không thể quản lý bảo vệ được Quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng
là hình thức nhằm nâng cao năng lực và tăng cường sự hợp tác, chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm cho cộng đồng và các bên liên quan, từ đó đạt được mục
Trang 12tiêu quản lý bảo vệ rừng bền vững Hiện nay, các công trình nghiên cứu và tổng kết kinh nghiệm về quản lý bảo vệ rừng cộng đồng trên địa bàn huyện Đakrông chưa có, vì vậy việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp để hoàn thiện mô hình này là hết sức cần thiết
Xuất phát từ thực tiễn trên mà tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu, đề
xuất một số giải pháp quản lý rừng cộng đồng trên địa bàn huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị"
Đề tài góp phần làm rõ vai trò của cộng đồng với tư cách là chủ thể quản lý bảo vệ rừng (rừng giao cho cộng đồng quản lý bảo vệ và hưởng lợi) Các tổng kết trong quản lý, bảo vệ rừng mà đề tài rút ra được sẽ làm phong phú thêm các kinh nghiệm về quản lý rừng dựa vào cộng đồng Đóng góp cơ sở lý luận để hình thành các giải pháp giải quyết mối quan hệ giữa lợi ích của cộng đồng và phát triển tài nguyên rừng, nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Nhận thức về quản lý rừng cộng đồng
1.1.1 Khái niệm về cộng đồng
Các nghiên cứu đưa ra nhiều khái niệm về cộng đồng:
Theo FAO, 2000: Cộng đồng trong khái niệm quản lý rừng cộng đồng, được giới hạn là tập hợp của các cá nhân trong một thôn, bản gần rừng gắn bó chặt chẽ với nhau qua hoạt động sản xuất, sinh hoạt và đời sống văn hóa xã hội
Theo N H Quân, 2000: Cộng đồng bao gồm toàn thể những người sống trong một xã hội có những đặc điểm giống nhau và có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau
Luật đất đai (2013) và Luật Lâm nghiệp (2017): Cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố và điểm dân cư tương tự có cùng phong tục, tập quán hoặc có chung dòng họ;
Từ các khái niệm trên cho thấy, cộng đồng có thể là cộng đồng dân
cư thuộc làng, bản, cộng đồng các dòng họ, các nhóm người có những đặc điểm và lợi ích chung Ở nghiên cứu của đề tài này, cộng đồng được hiểu theo nghĩa là cộng đồng thôn, xóm, làng, bản (kể cả các tổ chức đoàn thể trong cộng đồng)
Quản lý rừng dựa vào cộng đồng là quản lý rừng mà phát huy được những nội lực của cộng đồng cho tổng thể các hoạt động nhằm bảo toàn, phát triển hệ sinh thái rừng; phòng, chống những tác động gây thiệt hại đến rừng như: chặt, phá, lấn chiếm rừng, săn, bẫy bắt động vật rừng trái phép, phòng cháy chữa cháy rừng, phòng trừ sinh vật gây hại rừng, và thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý bảo vệ rừng Những giải pháp quản
lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng là phát huy những yếu tố tích cực của
Trang 14luật tục, phong tục, tập quán, nhận thức, kiến thức của người dân, đặc điểm quan hệ gia đình, họ hàng, các tổ chức đoàn thể, làng, bản phù hợp với chính sách, pháp luật của Nhà nước
1.1.2 Khái niệm về cộng đồng tham gia quản lý bảo vệ rừng
Cộng đồng tham gia quản lý bảo vệ rừng cũng có thể thay thế bằng một cụm từ chung nhất là Lâm nghiệp cộng đồng (LNCĐ)
LNCĐ cũng đề cập đến sự xác định nhu cầu của địa phương, tăng cường quản lý sử dụng cây cối cải thiện mức sống của người dân theo một phương thức bền vững, đặc biệt là cho người nghèo (FAO,2000)
Theo Arnold (1992) đưa ra: Lâm nghiệp cộng đồng là một thuật ngữ bao trùm hàng loạt các hoạt động gắn kết người dân nông thôn với trồng rừng cũng như các sản phẩm và lợi ích thu được từ rừng trồng và rừng tự nhiên
Ở Việt Nam, hiện nay có hai hình thức quản lý rừng cộng đồng phù hợp với định nghĩa của FAO như sau:
- Thứ nhất là quản lý rừng của cộng đồng: Là đối tượng chính trong phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đây là hình thức mà mọi thành viên của cộng đồng tham gia quản lý và
ăn chia sản phẩm hoặc hưởng lợi từ những khu rừng thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu của cộng đồng hoặc quyền sử dụng chung của cộng đồng Đó là rừng của làng bản đã được quản lý theo truyền thống lâu đời (rừng thiêng, rừng ma, rừng mó nước, rừng di tích văn hóa lịch sử…quản lý theo các luật tục truyền thống với tinh thần tự nguyện cao); rừng trồng của các hợp tác xã, rừng tự nhiên được giao cho các hợp tác xã trước đây, nay hợp tác xã giao lại cho các xã, hoặc các thôn quản lý; rừng được chính quyền địa phương giao cho cộng đồng để quản lý bảo vệ và hưởng lợi với tính chất hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau, chia sẻ lợi ích cùng nhau trên cơ sở tự nguyện (tạo thêm sức mạnh để bảo vệ rừng, hỗ trợ hoặc đổi công cho nhau trong các hoạt động lâm nghiệp)
Trang 15- Thứ hai là quản lý rừng của các chủ rừng khác (quản lý rừng dựa vào cộng đồng): Đây là hình thức cộng đồng tham gia quản lý các khu rừng không thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu chung của họ mà thuộc quyền quản lý, sử dụng của các thành phần kinh tế khác nhưng có quan hệ trực tiếp đến đời sống, đến việc làm, thu hoạch sản phẩm, thu nhập hay các lợi ích khác của cộng đồng
+ Đối tượng thứ hai, rừng thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu của các tổ chức nhà nước (rừng do UBND xã quản lý theo QĐ 07/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ, rừng do các ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng, các lâm trường, công ty lâm nghiệp nhà nước, các trạm trại…) và các tổ chức tư nhân khác Cộng đồng tham gia các hoạt động bảo vệ, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh, phục hồi rừng, trồng rừng với tư cách là người làm thuê thông qua các hợp đồng khoán và hưởng lợi theo các cam kết trong hợp đồng Ngoài ra cộng đồng còn tham gia hỗ trợ các chủ rừng chữa cháy rừng, dập dịch sâu bệnh hại, ngăn chặn các hành vi xâm hại rừng khi có yêu cầu của chủ rừng và điều động của cấp có thẩm quyền
Từ sự phân tích trên đây cho thấy thuật ngữ QLRCĐ được sử dụng với
ý nghĩa hẹp hơn để chỉ cộng đồng quản lý những khu rừng của một cộng đồng dân cư, còn nói đến LNCĐ hay cộng đồng tham gia quản lý rừng chính là diễn tả hàng loạt các hoạt động gắn người dân trong cộng đồng dân cư thôn bản với rừng, cây, các sản phẩm của rừng và việc phân chia lợi ích từ rừng Hay nói cách khác, LNCĐ là một hình thức quản lý, bảo vệ, sử dụng và phát triển rừng do cộng đồng dân cư thôn bản thực hiện bao gồm cả rừng của cộng đồng và rừng của các thành phần kinh tế khác
Với những lý luận như trên, nên chấp nhận LNCĐ bao gồm cả quản lý rừng cộng đồng (cộng đồng quản lý rừng của cộng đồng) và quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng (cộng đồng quản lý bảo vệ rừng của các chủ rừng khác) Khái niệm này vừa phù hợp với định nghĩa của FAO vừa phát huy
Trang 16được nhiều hơn sự đóng góp của cộng đồng vào quản lý, bảo vệ, xây dựng và phát triển rừng
1.1.3 Chiến lược và chính sách quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng
Chiến lược và chính sách quản lý, bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng ở Việt nam và các nước trong khu vực đều được tiến hành theo những hướng sau:
- Nâng cao vai trò trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của cộng đồng trong quản lý bảo vệ rừng ; Phát huy những luật tục, phong tục tập quán tích cực của cộng đồng để quản lý bảo vệ rừng theo hướng bền vững
- Tăng cường các giải pháp về chính sách hỗ trợ về kinh tế - xã hội để khuyến khích người dân tham gia, trong đó chú trọng phát triển đào tạo, tập huấn cho cộng đồng để thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng
-Xây dựng hệ thống tuần tra bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng ở trên từng địa bàn cơ sở với sự tham gia tích cực của người dân
1.1.4 Quan điểm về quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng
- Thứ nhất, Nhà nước chỉ tạo hành lang pháp lý, không can thiệp sâu
vào những quyết định cụ thể về bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng của cộng đồng Điểm này thể hiện rõ nét nhất đối với quản lý những khu rừng làng, rừng bản được cộng đồng quản lý theo truyền thống
- Thứ hai, Nhà nước giao đất, giao rừng cho cộng đồng và hỗ trợ cộng
đồng về vốn, kỹ thuật… để quản lý bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh, trồng rừng, khai thác sử dụng rừng
- Thứ ba, Nhà nước thông qua các tổ chức của Nhà nước, khoán cho
các cộng đồng bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng Cộng đồng chỉ là người làm thuê, được hưởng tiền công khoán và một phần sản phẩm trên đất rừng nhận khoán tuỳ theo thời gian và công sức mà mình bỏ ra
- Thứ tư, Nhà nước có vai trò điều phối và tạo điều kiện các tổ chức
khác cung cấp các dịch vụ hỗ trợ, ký hợp đồng về đào tạo, khuyến lâm và chuyển giao kỹ thuật cho cộng đồng tham gia quản lý bảo vệ rừng
Trang 17-Thứ năm, quản lý bảo vệ tài nguyên rừng, nếu không có sự tham gia
của cộng đồng dân cư thôn, bản thì không thành công Hoạt động quản lý bảo
vệ rừng chỉ đạt được hiệu quả cao khi có biện pháp khuyến khích, thu hút sự tham gia tích cực và chính sách hỗ trợ kinh tế, xã hội đối với cộng đồng dân
cư thôn, bản, bởi bảo vệ rừng cũng chính là người dân mà phá rừng cũng chính là người dân
1.2 Quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng ở nước ngoài:
Ở Nêpan, Lâm nghiệp cộng đồng mới xuất hiện nổi bật là sự tham gia của người dân vào quản lý rừng Ngày nay trở thành nguồn thu nhập và cơ hội tạo việc làm, cải thiện đời sống của các cộng đồng nông thôn Với sự hỗ trợ tài chính và kỹ thuật của nhiều tổ chức phi chính phủ và tổ chức tài trợ quốc
tế, chương trình này đã được thực thi ở toàn quốc và phần lớn chương trình đã thành công trong giai đoạn này (Paudel,2000)
Ở Ấn Độ, hình thức “đồng quản lý rừng” đang được mở rộng nhanh chóng bởi cải cách thể chế trong chính sách về rừng đang được thực thi với dấu hiệu rõ nhất là phi tập trung hóa và dân chủ hóa quản lý nguồn tài nguyên D’Silva (1997) tin rằng chương trình “đồng quản lý rừng” tuy còn ở giai đọan đầu – giai đọan chuyển việc bảo vệ rừng từ sự kiểm sóat của Nhà nước sang việc kiểm soát của cộng đồng Ấn Độ đang thực hiện bước cải cách thể chế tổ chức mặc dù các vấn đề đặt ra cho việc cải cách thì còn xa mới đạt tới
Ở Bănglađét, vấn đề xây dựng chiến lược, thể chế với sự trợ giúp của lâm nghiệp xã hội đã nổi lên từ những năm 1967 Sự phản ứng rất hạn chế của Chính phủ về xác định quyền sử dụng đất và tài nguyên thiên nhiên, cái chính
là không an toàn một cách phổ biến, đã làm suy yếu quản lý lâm nghiệp cộng đồng Những vấn đề pháp lý không tìm được câu trả lời như quyền chiếm hữu không chắc chắn và mâu thuẫn giữa tư nhân và sở hữu công về rừng, đất rừng, quyền quản lý đất đai theo truyền thống xảy ra bởi sự kiện những người sống về đất, những người thiếu đất và việc dân chủ hóa là nguyên nhân chính
Trang 18của việc phá hoại nguồn tài nguyên rừng và mất đa dạng sinh học Sự thiếu tin tưởng giữa người dân địa phương với cơ quan lâm nghiệp, thiếu chính sách minh bạch để thực thi quản lý xã hội và quản lý rừng có người dân tham gia cũng là nguyên nhân dẫn đến mất rừng (Poffenberger, 2000 và Thakur, 2001)
Tại Srilanka, từ năm 1982 đến 1988 pha 1 của Dự án Lâm nghiệp cộng đồng do ADB tài trợ cho Cục Lâm nghiệp Srilanka đã tạo cơ hội tiếp cận kinh nghiệm có người dân tham gia trong quản lý rừng Quá trình này được thực thi không đem lại lợi ích nào về kiến thức địa phương và sự phản ứng hạn chế tới nguồn tài nguyên địa phương, nhận biết nhu cầu và các ưu tiên Sự thiếu vắng tổ chức cộng đồng được ủy quyền để quyết định việc giao đất rừng cho trồng trọt và với một số lượng rất hạn chế của cán bộ Bộ Lâm nghiệp đã dẫn đến việc kiểm soát lỏng lẻo việc chuyển đổi đất rừng sang đất nông nghiệp trong toàn quốc Năm 1995, Chính phủ Srilanka đã đưa ra một kế hoạch tổng quan lâm nghiệp mới, trong đó đề ra việc tăng độ che phủ rừng, tăng năng suất nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại và tương lai, nâng cao mức sống, kinh
tế của người dân địa phương cũng như toàn dân tộc Rừng thuộc sở hữu Nhà nước phải quản lý theo nguyên tắc bền vững về sinh thái Ngày nay các chương trình đồng quản lý rừng thông qua sự tham gia của người dân đang được thực thi (Poffengerg, 2000, Thaksur, 2001)
Tại Philipin, việc chuyển đổi lâm nghiệp công đồng của Philipin có thể chia làm 3 giai đọan Giai đoạn đầu tiên là khai phá (1971-1980); giai đoạn thứ hai là củng cố và hợp nhất (1982-1989) và giai đoạn thứ 3 là mở rộng và thể chế hóa Trong giai đoạn khai phá về quản lý lâm nghiệp cộng đồng, trồng rừng và trồng cây công cộng là khuynh hướng chính của Lâm nghiệp cộng đồng thông qua sự tham gia của người dân địa phương Việc hợp nhất chương trình Lâm nghiệp xã hội và Lâm nghiệp cộng đồng là chương trình chủ yếu trong giai đoạn thứ 2 và tăng trưởng rừng cộng đồng trong giai đoạn 3 Người dân trở thành đối tác, người quản lý và người chủ của các nguồn tài nguyên
Trang 19rừng Quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng là thông qua hợp đồng thuê quyền
sử dụng bằng việc tăng cường bảo vệ, quản lý, phục hồi và phát triển rừng Các tổ chức của người dân đang làm việc trên diện tích này với quyền sử dụng an toàn trong 25 năm Quyền 25 năm với rừng tạo ra cơ hội để bảo vệ quản lý và bán các sản phẩm rừng ở các rừng cộng đồng của họ (Bhumihar,
1998 và Thakur, 2001)
Ở Thái lan, Wasi (1997) cho rằng lâm nghiệp cộng đồng là một nhân tố trợ giúp cho việc phát triển xã hội dân sự ở Thái Lan Các cộng đồng có đòi hỏi rất lớn được tham gia vào quản lý các nguồn tài nguyên địa phương của
họ do một diện tích rừng lớn đã bị mất bởi việc khai thác gỗ hợp pháp trong những thập kỷ trước đây Vandergeets (1996) nhận thấy rằng khai thác rừng ở Thái Lan đã bị cấm từ năm 1989, Cục Lâm nghiệp Hoàng gia Thái Lan đã chuyển các mục tiêu từ quản lý khai thác gỗ sang mở rộng bảo tồn rừng Quyền của các cộng đồng địa phương quản lý các nguồn tài nguyên của họ đã trở thành mục tiêu chính của nhiều tổ chức phi chính phủ và cơ quan nghiên cứu Gỵmour và Fisher (1997) nhận xét rằng các họat động quản lý rừng cộng đồng có liên quan đến việc mở rộng trồng rừng trên diện tích đã mất rừng, ở mức độ nào đó khá hơn là việc phối hợp quản lý hoặc chuyển giao việc kiểm soát cho các cộng đồng Mô hình quản lý rừng cộng đồng của người Thái tại bản Nhộp đã thể hiện tính sự hiệu quả trong việc hạn chế khai thác gỗ trái phép, khai thác củi bừa bãi, đốt nương làm rẫy Theo Báo cáo phân tích của Đào Hữu Bính và cộng sự (2010), việc phân công trách nhiệm cho 1 nhóm nhỏ, phối hợp với các tổ chức đoàn thể, giáo dục ý thức bảo vệ rừng cho cộng đồng là yếu tố mang đến sự thành công cho mô hình Báo cáo và phân tích của tác giả Ngô Trí Dũng và Bùi Phước Chương (2010) cũng cho thấy, trong quá trình thực hiện các dự án liên quan đến cộng đồng tham gia quản lý tài nguyên rừng, việc quan tâm đến giải pháp sinh kế, xây dựng, nâng cấp năng lực tổ chức, thể chế cộng đồng, cung cấp thông tin chi tiết về tài nguyên rừng,
Trang 20nâng cao ý thức của cộng đồng về giá trị tài nguyên là những vấn đề then chốt
để đạt được hiệu quả trong thực hiện mô hình QLRCĐ
Có thể nói, quản lý BVR dựa vào cộng đồng đang được xem như là một giải pháp hữu hiệu đối với việc bảo vệ tốt rừng hiện nay, giải quyết tình trạng diện tích, chất lượng rừng giảm sút Từ những kết quả thực tế của các nước, đây sẽ là những bài học quý báu cho quá trình xây dựng những giải pháp quản
lý bền vững tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng ở Việt Nam Tuy nhiên những người làm công tác quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng phải
có các giải pháp để cộng đồng hiểu được những lợi ích mang lại từ việc tham gia bảo vệ & phát triển rừng để khuyến khích họ tích cực tham gia
1.3 Quản lý bảo vệ rừng cộng đồng ở Việt Nam
1.3.1 Các tổ chức cộng đồng ở Việt Nam
Theo thống kê ở nước ta hiện có 54 dân tộc, với mỗi cộng đồng dân tộc đều có những đặc điểm riêng về văn hoá, tổ chức xã hội, tiếng nói, phong tục tập quán và có khoảng 50.000 làng, bản tập hợp trong gần 9.000 xã Từ xưa mỗi làng bản được coi là là một tổ chức cộng đồng chặt chẽ với những đặc điểm rất riêng như làng xóm ở miền xuôi là hình thức cộng đồng lâu đời được hình thành trên cơ sở của phương thức canh tác lúa nước; Trong khi thôn, bản miền núi là hình thức cộng đồng được hình thành trên cơ sở quan hệ sắc tộc, nền kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc, ít đầu tư và sử dụng các sản phẩm tự nhiên sẳn có Điều này có ảnh hưởng sâu sắc đến công tác quản lý, bảo vệ rừng
Ngoài hai hình thức chủ yếu trên còn có các loại hình cộng đồng khác như: cộng đồng tôn giáo, cộng đồng họ tộc, cộng đồng giới tính Một số loại hình cộng đồng đã được phát triển thành các tổ chức đoàn thể có mục tiêu, điều lệ rõ ràng, hoạt động theo quy chế tổ chức chính trị xã hội hay các tổ chức kinh tế Một số đoàn thể đã tham gia và có nhiều đóng góp cho việc phát triển lâm nghiệp tại các địa phương như: UBMTTQ, Hội nông dân, Hội phụ
nữ, Hội cựu chiến binh, Đoàn thanh niên
Trang 211.3.2 Hình thức quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng ở Việt Nam
Lâm nghiệp cộng đồng ở Việt Nam được hình thành từ lâu đời và đang trở thành một phương thức quản lý rừng có hiệu quả được Nhà nước quan tâm, khuyến khích phát triển Lâm nghiệp cộng đồng đang là một thực tiễn sinh động mang lại hiệu quả trong quản lý rừng và phát triển cộng đồng vùng núi
Hình thức quản lý này thường gắn với luật tục của cộng đồng Đây là một hình thức tri thức bản địa liên quan tới cộng đồng thôn, bản Các cộng đồng đã có nhiều kinh nghiệm và truyền thống quản lý rừng theo hướng sử dụng tài nguyên thiên nhiên ổn định và bền vững Trong thời gian dài tại nhiều vùng khác nhau, quản lý rừng và môi trường sinh thái của cộng đồng đã đóng một vai trò rất quan trọng và mang lại hiệu quả thiết thực cho người dân địa phương
Theo công bố thống kê của Bộ Nông nghiệp và PTNT về hiện trạng rừng toàn quốc năm 2018, tính đến 31/12/2018 tổng diện tích rừng trên toàn quốc là 14.491.295 ha Trong đó diện tích rừng giao cho cộng đồng là 1.156.714 ha Chi tiết được thể hiện ở Phụ biểu 1
Như vậy diện tích rừng giao cho cộng đồng chiếm gần 8%, diện tích rừng tự nhiên giao cho cộng đồng chiếm hơn 10, 2% trong tổng diện tích rừng
tự nhiên trên toàn quốc
Trong thời gian gần đây rừng tự nhiên giao cho các tổ chức, doanh nghiệp nhà nước chưa được quản lý bảo vệ tốt và vẫn đang bị xâm hại, đặc biệt khu vực Miền Trung, Tây Nguyên., nơi còn nhiều rừng tự nhiên có trữ lượng Rừng tự nhiên ở Việt Nam đang tiếp tục giảm sút về cả diện tích và chất lượng, đặc biệt là các diện tích rừng đặc dụng và rừng phòng hộ (nơi ít nhiều vẫn còn các khu rừng giàu và trung bình với nhiều loại động thực vật quý hiếm) Vì vậy, ngành lâm nghiệp cần phải có các giải pháp khác có hiệu quả hơn để quản lý và bảo vệ các diện tích rừng tự nhiên còn lại, trong đó lâm nghiệp cộng đồng và đồng quản lý rừng là giải pháp đang được nhân rộng
Trang 22Tại Quảng Trị, trên cơ sở Quyết định 178/2001/QĐ-TTg ngày 12/11/2001 của Thủ tướng Chính phủ về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp; Thông tư liên tịch số 08/2003/TTLT-BNN-BTC ngày 03/9/2003 của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT và Bộ tài chính về Hướng dẫn thực hiện Quyết định 178/2001/QĐ-TTg ngày 12/11/2001 của Thủ tướng chính phủ về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp; Năm 2005 Chi cục Kiểm lâm xây dựng Đề án giao rừng tự nhiên cho cộng đồng dân cư thôn, hộ gia đình và cá nhân đã được UBND tỉnh đồng ý cho triển khai giao thí điểm tại huyện Đakrông và Hướng Hóa Đến năm 2009 đề án đã được phê duyệt theo quyết định số 2352/QĐ-UBND của UBND tỉnh Từ năm 2005 đến 2018 trên địa bàn huyện Đakrông đã tổ chức giao 7.871,5 ha rừng tự nhiên cho cộng đồng và hộ gia đình bảo vệ và hưởng lợi theo chính sách của Nhà nước, của tỉnh Qua giao thí điểm rừng tự nhiên cho cộng đồng nhận và bảo vệ và hưởng lợi đã tạo công ăn việc làm cho người dân, phát huy được các luật tục tích cực tại địa phương Thông qua thực hiện các quy ước bảo vệ rừng do người dân xây dựng từ đó người dân trong cộng đồng đoàn kết giử gìn trật tự trị an trên địa bàn Tình trạng khai thác, phát rừng làm nương rẫy, bẫy bắt động vật trong rừng cộng đồng và hộ gia đình giảm hẳn, các vụ cháy rừng không còn xảy ra
Vì vậy rừng được sinh trưởng phát triển tốt góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ nguồn nước chống sạt lở xói mòn đất Bảo vệ hệ sinh thái cảnh quan rừng tại địa phương Đặc biệt với các khu rừng do cộng đồng tự quản lý theo tập tục và truyền thống như rừng ma của người dân tộc Vân kiều, Pa Kô, khu rừng phòng hộ cảnh quan của làng, bản đồng bằng đã được bảo vệ nghiêm ngặt, không xảy ra tình trạng chặt phá, mọi người nhắc nhở nhau tự giác bảo vệ, đây là những cơ sở để cần làm rõ vai trò tác động của cộng đồng trong công tác quản lý bảo vệ rừng
Trang 231.3.3 Hiệu quả đạt được từ quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng ở Việt Nam
Đã có một số kinh nghiệm bước đầu về quản lý rừng cộng đồng thông qua các dự án lâm nghiệp cộng đồng (LNCĐ) của các dự án ODA và dự án của Chính phủ đã thực hiện ở Việt nam như các dự án Lâm nghiệp xã hội Sông Đà và Chương trình hợp tác lâm nghiệp Việt- Đức của GTZ, dự án ETSP (Hỗ trợ đào tạo khuyến nông vùng cao) của Thuỵ Sỹ, dự án Chương trình thí điểm LNCĐ của TFF, dự án SNV, dự án PPFP vv Các dự án lâm nghiệp cộng đồng và đồng quản lý rừng đã và đang được Nhà nước quan tâm
và hỗ trợ để thử nghiệm và nhân rộng ở Việt nam
Thực tiễn cho thấy do tính đa dạng của các cộng đồng nên không thể có một mô hình lâm nghiệp cộng đồng chung mà cần có các loại hình lâm nghiệp cộng đồng khác nhau, phù hợp với từng điều kiện cụ thể Nhiều vấn đề đang đặt ra cho quản lý rừng cộng đồng như địa vị pháp lý của cộng đồng dân cư thôn trong quản lý rừng, các khía cạnh về quyền đầy đủ khi cộng đồng tham gia quản lý rừng, kế hoạch quản lý rừng, sử dụng thương mại sản phẩm từ rừng cộng đồng, cơ chế hưởng lợi, tổ chức quản lý rừng, vấn đề này cũng được đưa ra đánh giá tại Hội thảo quốc gia về quản lý rừng cộng đồng 5/6/2009 Ngoài ra, từ tổng kết của các dự án Lâm nghiệp cộng đồng tại Việt Nam cũng đưa ra một số nhận định như sau:
- Mô hình giao rừng tự nhiên cho cộng đồng thôn, bản quản lý và sử dụng được đánh giá là mô hình giao rừng có hiệu quả nhất, đặc biệt ở các vùng đồng bào dân tộc ít người có truyền thống sinh hoạt theo cộng đồng với các phong tục, luật tục đơn giản và có hiệu quả về quản lý sử dụng rừng và nơi mà các quyết định cộng đồng vẫn đang là một chuẩn mực văn hoá Rừng sau khi giao cho cộng đồng nhìn chung đã được bảo vệ tốt hơn so với trước đây
- Quản lý rừng tự nhiên dựa vào cộng đồng là một giải pháp phù hợp giúp chia sẻ lợi ích thu được từ rừng một cách công bằng và bền vững Công bằng trong việc chia sẻ lợi ích giữa các thành viên cộng đồng là một trong các nhân tố quyết định cho sự thành công và tính bền vững của quản lý bảo vệ rừng
Trang 24- Thông qua việc giao rừng và cắm mốc ranh giới trên thực địa, chính quyền địa phương đã bước đầu xác lập quyền quản lý và sử dụng rừng của cộng đồng và đã thừa nhận quyền sử dụng lâu dài của cộng đồng và các cộng đồng cũng cảm nhận được họ là chủ thực sự của các khu rừng được giao
- Các cộng đồng sau khi được giao rừng đã chủ động tìm các phương thức quản lý bảo vệ rừng phù hợp Nhiều cộng đồng lựa chọn hình thức xây dựng tổ bảo vệ rừng thôn chuyên trách, trong khi các cộng đồng khác chọn hình thức tổ không chuyên trách quy định tất cả các hộ gia đình đều phải cử người luân phiên tham gia tuần tra rừng để bảo đảm tính công bằng (hộ nào cũng được hưởng tiền hỗ trợ bảo vệ rừng và khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ trong rừng cộng đồng và hộ nào cũng phải tham gia bảo vệ rừng)
- Kiến thức bản địa của các cộng đồng tham gia dự án là rất tốt và là cơ
sở để cộng đồng có thể tham gia đầy đủ vào tất cả các hoạt động Lâm nghiệp cộng đồng như xác định ranh giới rừng, chất lượng rừng, phân loại được loại đất nào phù hợp với cây trồng gì; nhận biết từng động vật rừng theo dấu chân, nhận biết các loài cây rừng; kiến thức về khai thác, trồng và sử dụng các sản phẩm từ rừng
- Quy ước bảo vệ phát triển rừng thôn bản là công cụ để đưa công tác quản lý bảo vệ rừng đi vào nề nếp, là cơ sở để tạo lập cơ chế tự quản ở thôn/ xã
và tiền đề cho việc xây dựng và thực hiện kế hoạch quản lý rừng cộng đồng
- Năng lực và sự ủng hộ của cộng đồng đã được nâng cao một bước khi
cộng đồng được tham gia vào tất cả các hoạt động điều tra rừng (như đánh giá chất lượng rừng, xác định ranh giới lô rừng, đo đếm cây rừng … sử dụng các kiến thức bản địa sẵn có), thảo luận quy ước bảo vệ phát triển rừng, kế hoạch quản lý rừng cộng đồng Người dân đã bước đầu nhận thức được, đây là rừng của
họ, nên họ sẵn sàng bảo vệ dù chưa có hoặc chỉ có hỗ trợ hạn chế của các dự án
- Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng do một số dự án hỗ trợ thành lập tuy còn hạn chế nhưng là nguồn vốn rất quan trọng ban đầu để cộng đồng
tổ chức bảo vệ và phát triển rừng của họ, khi họ chưa có thu nhập từ rừng và tạo điều kiện cho cộng đồng tập sự xây dựng và sử dụng quỹ này
Trang 25- Các cộng đồng đã có những chuyển biến quan trọng trong quá trình xây dựng và thực hiện kế hoạch quản lý rừng cộng đồng thôn, khi đã xác định bảo vệ rừng là nhiệm vụ quan trọng trước mắt và hoạt động khai thác rừng và trồng rừng sẽ là các nguồn hỗ trợ cộng đồng để quản lý bảo vệ rừng cộng đồng một cách bền vững
- Góp phần khôi phục truyền thống văn hoá, phong tục tập quán tốt đẹp của cộng đồng Thông qua việc quản lý rừng cộng đồng, có sự giúp đỡ và hướng dẫn của các tổ chức Nhà nước, đã góp phần thúc đẩy việc xây dựng và thực hiện quy chế quản lý, bảo vệ rừng ở cộng đồng; thực hiện quy chế dân chủ
ở cơ sở; khôi phục truyền thống văn hoá tốt đẹp, hương ước của cộng đồng
- Tư cách pháp lý, các quyền lợi của cộng đồng đã được cụ thể hóa tại các văn bản pháp luật
Tuy đạt được những kết quả trên, nhưng trong quá trình thực hiện còn một số bất cập như sau :
- Chính sách hưởng lợi còn bất cập; Trong khi cơ chế cơ chế hưởng lợi rừng từ dịch vụ môi trường đang được triển khai tương đối hiệu quả thì vấn
đề thể chế hoá khai thác thương mại và cơ chế hưởng lợi sản phẩm rừng thương mại từ rừng cộng đồng chưa rõ ràng;
- Thiếu các chính sách hỗ trợ sau giao đất, giao rừng đối với chủ rừng
là hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn bản như đầu tư tín dụng, hỗ trợ kỹ thuật, bao tiêu sản phẩm ;
- Do điều kiện kinh phí và giao thông đi lại khó khăn, nên việc cộng đồng tham gia tuần tra bảo vệ rừng đạt kết quả chưa cao
1.3.4 Những bài học kinh nghiệm quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng
Từ những lý luận và thực tiển có thể rút ra những bài học chủ yếu cho quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng ở Việt Nam như sau :
- Một là: Quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng là phương thức quản
lý cần thiết, hiệu quả cao, đáp ứng nhu cầu sinh kế ở các vùng sâu, vùng xa vùng đồng bào dân tộc thiểu số phù hợp với tập quán truyền thống, điều kiện sản xuất và thị trường kém phát triển, trình độ quản lý còn thấp Các sản
Trang 26phẩm từ rừng chủ yếu được sử dụng cho tiêu dùng trong cộng đồng như gỗ để làm nhà, củi đốt, khai thác lâm sản ngoài gỗ Rừng được quản lý theo truyền thống được quy định trong hương ước của cộng đồng
- Hai là : Quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng sẽ thành công khi kết hợp hài hoà giữa lợi ích người dân - cộng đồng- nhà nước
- Ba là : Thái độ, sự tham gia của người dân là yếu tố quan trọng đảm bảo sự thành công của quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng
- Bốn là : Quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng cần phải được phối hợp với các phương thức quản lý khác mà trước hết là phương thức quản lý dựa vào chính sách thể chế của Nhà nước, phương thức phát huy mọi tiềm năng nội lực của các thành phần trong cộng đồng
Nhìn chung, quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng là một vấn đề tổng hợp và phụ thuộc nhiều vào khuôn khổ thể chế, chính sách của từng quốc gia, từng địa phương Do vậy, không thể sao chép nguyên vẹn một mô hình nào từ nơi này sang nơi khác Tuy nhiên, việc chia sẻ kinh nghiệm, chia sẻ những bài học thành công hay thất bại trong cả nước và khu vực là rất cần thiết trong bối cảnh chính sách lâm nghiệp đang cải cách và hoàn thiện như hiện nay Điều đáng chú ý là phải có những nghiên cứu tổng hợp đánh giá và đúc kết kinh nghiệm, bổ sung và xây dựng những chính sách mới phù hợp cho mỗi vùng
Vì vậy quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng được xem như nền tảng của sự phát triển vì nó đảm bảo đáp ứng được những nhu cầu lợi ích cho cộng đồng, góp phần xoá đói giảm nghèo và khắc phục được tình trạng khánh kiệt tài nguyên trong những phương thức sử dụng kém bền vững
Đề tài tập trung phân tích đánh giá sâu điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, phong tục tập quán, kiến thức, thể chế bản địa và đánh giá thực trạng công tác bảo vệ rừng trên địa bàn huyện, đồng thời đánh giá mức độ đe doạ, mối quan tâm và khả năng hợp tác của các bên liên quan trong, ngoài cộng đồng đến công tác bảo vệ rừng cũng như đánh giá tiềm năng quản lý bảo vệ rừng của cộng đồng
Trang 27Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI 2.1 Điều kiện tự nhiên huyện Đakrông
2.1.1 Vị trí địa lý
Đakrông là huyện miền núi nằm phía Tây Nam tỉnh Quảng Trị, có vị trí địa lý từ 160 27’55’’ đến 16 0 49’12’’ vĩ độ Bắc; 1070 14’15’’ đến 1070 14’15’’ kinh độ Đông
Phía Bắc giáp huyện Gio Linh và Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị
Phía Nam giáp tỉnh Thừa Thiên Huế và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
Phía Đông giáp huyện Triệu Phong và Hải Lăng tỉnh Quảng Trị
Phía Tây giáp huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
Huyện có vị trí địa lý kinh tế quan trọng không chỉ đối với tỉnh Quảng trị
mà còn với cả khu vực Bắc Trung Bộ và cả nước Trên địa bàn huyện có mạng lưới giao thông đường bộ đi qua như Quốc lộ 9, đường xuyên Á nối Việt Nam – Lào – Thái Lan – Mianma và đường Hồ Chí Minh huyền thoại là tuyến đường xuyên Việt, nối hệ thống cảng biển với các cửa khẩu Lao Bảo,
La Lay, A Lưới Ngoài ra, huyện có hệ thống đường tỉnh lộ, huyện lộ là tiềm năng dồi dào tạo ra thế mạnh không những trong việc giao lưu phát triển kinh
tế, văn hóa, xã hội của huyện mà còn là cầu nối cho sự phát triển các địa phương khác
2.1.2 Địa hình, địa mạo
Nhìn chung, địa hình của huyện là đồi núi bị chia cắt mạnh bởi hệ thống sông suối, và hệ thống sông Đakrông và sông Quảng Trị (Ba Lòng) Đỉnh cao nhất là đỉnh Kovaladut 1.251m so với mắt nước biển nằm ở phía Đông Nam huyện, thấp nhất là bãi bồi ven sông Đakrông, đoạn chảy qua Ba Lòng với chiều dài 25km Toàn huyện có ba dạng địa hình chính:
Trang 28- Dạng thung lũng hẹp được phân bố ở các xã Hướng Hiệp, Mò Ó, Triệu Nguyên, Ba Lòng, Hải Phúc và một số ở Tà Rụt Dạng địa hình này tương đối bằng phẳng thích hợp cho việc phát triển cây nông nghiệp
- Dạng địa hình đồi núi thấp có độ dốc 8-200m với độ cao địa hình từ 150-300m được phân bố chủ yếu ở các xã phía Bắc và Đông Bắc huyện, địa hình này thích hợp để phát triển cây lâu năm như cây ăn quả, mít, hồ tiêu
- Dạng địa hình đồi núi cao, có độ cao địa hình trung bình 600-800m Dạng này được phân bố hầu hết ở các xã trong huyện nhưng nhiều nhất là các
xã Ba Nang, Tà Long, Húc Nghì, A Vao, Tà Rụt, A Bung, A Ngo Đây là vùng địa hình đa phần thích nghi cho phát triển lâm nghiệp
2.1.3 Đặc điểm khí hậu
* Chế độ nhiệt: Huyện Đakrông chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới - gió mùa, quanh năm nóng ẩm, nhiệt độ trung bình năm 240
C, cao hơn nhiệt
độ của huyện Đakrông và huyện A Lưới 2-30C, chế độ nhiệt của Đakrông nhìn chung ảnh hưởng bơi độ cao địa hình
* Chế độ mưa: Lượng mưa bình quân 2.375 mm/năm (các xã phía nam
có lượng mưa lớn hơn 300-400mm) Lượng mưa phân bố không đều, 86% tổng lượng mưa tập trung vào các tháng 9, 10, 11 Đây là tác nhân hàng đầu gây rửa trôi, xói mòn đất, đặc biệt đối với địa bàn vùng là nơi có diện tích đất
có độ dốc lớn chiếm tỷ lệ khá cao Ngoài ra, còn gây ngập úng cho khu vực đất thấp Đây là yếu tố giảm đáng kể độ màu mỡ và tầng dày của đật, hạn chế không ít tới việc khai thác sử dụng cho phát triển các hệ thống canh tác Thời
kỳ mưa lại trùng với thời kỳ nắng nóng, lượng bốc hơi lớn, độ ẩm không khí thấp gây khô hạn nặng trên diện rộng, hạn chế khả năng gieo trồng, năng suất các loài cây trồng bị giảm đáng kể
* Gió: Đakrông chịu ảnh hưởng của gió Tây khô nóng, trung bình
45-50 ngày/năm, thời kỳ có gió nóng độ ẩm hạ thấp, lượng bay hơi lớn, nền nhiệt cao ảnh hưởng đến phát triển cây trồng, gây nguy cơ cháy rừng lớn
Trang 29Do chịu tác động của các yếu tố độ cao và sự phân chia địa hình nên Đakrông có thể chia ra 2 tiểu vùng khí hậu mang những sắc thái khác nhau:
-Tiểu vùng khí hậu phía Bắc của huyện (dọc đường 9 và đường 14) chịu ảnh hưởng của chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa với nền nhiệt thấp vào mùa lạnh do ảnh hưởng của gió Đông Bắc Nền nhiệt bình quân cả năm tương đối cao (24,80
C)
- Tiểu vùng phía Nam huyện (đường Hồ Chí Minh) cũng như tiểu vùng phía Bắc chịu ảnh hưởng của chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa nhưng do độ cao địa hình và thảm thực vật rừng còn nhiều nên lượng mưa hàng năm, độ
ẩm không khí lớn hơn tiểu vùng phía bắc Nền nhiệt trung bình cả năm thấp hơn tiểu vùng trên 3,30
C
2.1.4 Tài nguyên nước:
* Nguồn nước mặt:
Nguồn nước mặt trong vùng rất phong phú, hệ thống sông suối khá đều
có hai sông lớn chảy qua: sông Quảng Trị và sông Đakrông
+ Hệ thống sông Quảng Trị: Sông Quảng Trị được hợp lưu của hai con sông chính là sông Đakrông và sông Rào Quán, chiều dài chảy qua huyện 38km, qua các xã Đakrông, Mò Ó, Triệu Nguyên, ba Lòng, Hải Phúc
+ Hệ thống sông Đakrông: Sông Đakrông được bắt nguồn từ dãy núi Trường Sơn phía Nam và Đông Nam huyện, qua các xã A Bung, A Ngo, Tà Rụt, Húc Nghì, Tà Log, ba nang và Đakrông với chiều dài 85 km
Ngoài hệ thống sông lớn trên, phía bắc (xã Hướng Hiệp) có suối Khe Duyên đổ ra sông Trịnh Hinh (Cam Lộ) và các ao hồ sông suối nhỏ Tuy nhiên lưu lượng nước mùa kiệt của hệ thống khe suối này khá nhỏ
* Nguồn nước ngầm: Nhìn chung nguồn nước trong vùng khá phong phú nhưng có một số hạn chế do địa hình dốc, lòng sông sâu nên việc khai thác, sử dụng nguồn nước mặt rất khó khăn, nguồn nước ngầm phân bố sâu đòi hỏi phải đầu tư đáng kế mới có thể khai thác đưa và sử dụng cho sản xuất
và sinh hoạt Tuy nhiên phía hạ lưu sông Quảng Trị (đoạn chảy qua Triệu
Trang 30Trong các loại đất trên địa bàn huyện Đakrông, nhóm đất dạng địa hình
gò, đồi, núi chiếm tỷ lệ lớn so với diện tích tự nhiên và gồm 7 loại đất chính là: Đất phù sa được bồi, đất nâu vàng trên đất phù sa cổ, đất đỏ vàng trên đất
đá sét, đất nâu tím trên đá sét, đất đỏ vàng trên đá biến chất, đất vàng trên đá cát và đất vàng đỏ trên đá macma acid
Biểu 2.1: Cơ cấu sử dụng đất huyện Đakrông 2018
TT Mục đích sử dụng
Tổng diện tích các loại đất (ha )
Cơ cấu
Tổng diện tích tự nhiên 122.467,48
1 Đất Nông nghiệp 99.685,48 81,4% diện tích tự nhiên 1.1 Đất sản xuất nông nghiệp 17.823,5 17,87% đất nông nghiệp 1.2 Đất lâm nghiệp 81.851,61 82,11% đất nông nghiệp 1.3 Đất nuôi trồng thủy sản 10,37 0,01% đất nông nghiệp
2 Đất phi nông nghiệp 3.142,95 2,57% diện tích tự nhiên
3 Đất chưa sử dụng 19.638,78 16,03% diện tích tự nhiên
Nguồn: Phòng TN-MT huyện Đakrông 2018
Biểu đồ 2.1: Hiện trạng sử dụng đất ở huyện Đakrông
( Nguồn Phòng TN-MT huyện Đakrông )
Trang 31Nhìn chung đất đai của Đakrông phù hợp với nhiều nhóm cây trồng khác nhau, song hiện nay nhiều diện tích đất đã và đang bị suy thoái do thảm thực vật bị tàn phá nặng nề và những tập quán canh tác lạc hậu, quảng canh bóc lột đất Do vậy cần áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đưa các mô hình canh tác hợp lý trên đất dốc, trồng rừng phòng hộ để bảo vệ
đất sử dụng hiệu quả, lâu dài
2.1.6 Tài nguyên rừng
Đakrông hiện có 80.022,94 ha rừng, độ che phủ chiếm 64,72% (Chi tiết tại Phụ biểu 3); Hiện nay trên địa bàn huyện Đakrông, trong số 1.452 loài thực vật, đã ghi nhận được 38 loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam, 40 loài trong Sách đỏ Thế giới; hệ động vật xương sống có 401 loài (91 loài thú, 193 loài chim, 32 loài bò sát, 17 loài lưỡng cư, 71 loài cá) Tuy nhiên trong những năm qua nguồn tài nguyên này có xu hướng giảm sút, nhiều loài thú quý hiế có xu hướng tuyệt chủng trên địa bàn (gấu, hổ…) cùng với việc tái tạo vốn rừng, nguồn động vật hoang dã quý hiếm cũng cần được bảo vệ chặt chẽ vì đây là nguồn tài nguyên có giá trị cao vệ nhiều mặt không dễ tái tạo, phát triển
Trang 32Biểu 2.2: Diện tích rừng và đất rừng huyện Đakrông phân theo mục đích
sử dụng 2018
Phân loại rừng
Diện tích có rừng
Đặc dụng
Phòng
hộ (Đầu nguồn)
Sản xuất
Rừng ngoài quy hoạch 80022,94 36990,26 15806,55 26861,48 364,65
Trang 332.1.7 Tài nguyên khoáng sản
Đakrông có nhiều khoáng sản quý và có trữ lượng lớn gồm:
- Vàng ở A Vao, Tà Long, A Ngo, A Bung nằm ở dạng quặng chính: Các đới biến chất nhiệt dịch chồng lên các đới milonit giàu Sulphur và các đai mạch thạch anh – sulphur phân chia hai đới cấu trúc địa tầng A Vương và A Lin rất có triển vọng khai thác công nghiệp
- Mỏ nước khoáng tự nhiên ở Đakrông có lưu lượng 1,7 l/s, cố nhiệt độ bình quân 53 0C, độ PH = 7
2.1.8 Tài nguyên nhân văn
Trong lịch sử vùng đất Đakrông từng thuộc các huyện Hướng Hóa, Gio Linh, Cam Lộ, Triệu Phong Do ảnh hưởng của chiến tranh, yêu cầu cách mạng nên nhiều lần tách ra hợp vào Đakrông là nơi hội tụ của nhiều nền văn hóa thời tiền sử Qua các phát hiện khảo cổ đã tìm thấy nhiều dấu vết của thời
kỳ đá mới thuộc văn hóa Hòa Bình, Bắc Sơn ở Đakrông Ở đây còn phát hiện nhiều dấu vết của nền văn hóa đồ đồng như rìu đồng, giáo đồng, lưỡi câu đồng và một số đồ trang sức Những dữ kiện nói trên chứng tỏ Đakrông có
bề dày trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc
Dân cư ở đây không chỉ có người Chăm mà gồm cả đồng bào dân tộc ít người như Vân Kiều, PaCô cùng người kinh định cư lâu đời Từ 1831 khi nhà Nguyễn thành lập tỉnh Quảng Trị thì Đakrông chính thức thuộc về tỉnh Quảng Trị Mặc dù có nhiều thành phần dân tộc nhưng trải qua quá trình chung sống, đấu tranh với thiên nhiên và giặc ngoại xâm các dân tộc huyện Đakrông đã trở thành một bộ phận quan trọng không thể tách rời của cộng đồng cư dân Việt Nam nói chung và Quảng Trị nói riêng
Sau khi người Kinh đến sinh sống cùng, nơi đây đã trở thành một cộng đồng cư dân mới hết sức đoàn kết và gắn bó cùng nhau tồn tại và phát triển
2.1.9 Thực trạng môi trường
* Thực trạng môi trường không khí:
Nhìn chung Đakrông có khí hậu trong lành, chưa bị ô nhiễm bởi các nhà
Trang 34máy công nghiệp; độ che phủ của rừng chiếm gần 63% Một vài khu vực đông dân cư nông thôn có hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ, các khu vực tập trung chất thải của người và gia súc; hay những đoạn đường có chất lượng mặt đường kém thường xảy ra tình trạng ô nhiệm không khí tuy nhiên chỉ mang tình cục bộ
* Thực trạng môi trường đất:
Tập quán canh tác của người dân huyện Đakrông đang làm cho chất lượng môi trường đất ngày càng suy giảm, bị thoái hóa do xói mòn, rửa trôi, mất chất hữu cơ, khô hạn dẫn đến nhiều vùng đất bị cằn cỗi, giảm năng suất, sản lượng, cây trồng
Môi trường đất tại các thị trấn, thị tứ trong huyện cũng đang có dấu hiệu
ô nhiễm cục bộ do nước thải sản xuất, sinh hoạt không qua xử lý và tiêu thoát bằng cách ngấm tự nhiên xuống đất Ngoài ra, tại các khu vực chứa rác chất lượng môi trường đất cũng bị ô nhiễm và suy thoái do các chất gây ô nhiễm trong nước rác thấm xuống
Đặc biệt, việc sử dụng thuộc bảo vệ thực vật cho cây trồng trong nông nghiệp, việc khai thác không đi kèm với phục hồi đất trong lâm nghiệp cũng làm cho môi trường đất bị suy thoái
2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
2.2.1 Khái quát thực trạng phát triển kinh tế
2.2.1.1.Cơ sở hạ tầng:
Đakrông là 1 trong 62 huyện nghèo của cả nước Kết quả thực hiện hiện Nghị quyết 30a/ NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững, Đakrông đã thu được những thành tựu hết sức quan trọng trên các lĩnh vực Việc đầu tư xây dựng các công trình cơ sở
hạ tầng, tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế - xã hội của địa phương phát triển và
có ý nghĩa quyết định trong việc thực hiện từng bước mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Mạng lưới điện, đường, trường,
Trang 35trạm không ngừng hoàn thiện, nhiều công trình được đầu tư xây dựng và đã vào sử dụng đem lại hiệu quả phục vụ sản xuất, phục vụ đời sống dân sinh Đến nay 14/14 xã, thị trấn đã có điện lưới quốc gia và đường giao thông kiên
cố vào đến trung tâm xã Các công trình phục vụ y tế, giáo dục, thể thao, văn hóa đã được quan tâm đầu tư nhằm phục vụ nhân dân được tốt hơn
2.2.1.2 Nông - Lâm nghiệp:
Đakrông là huyện có trên 93% dân số sinh sống ở khu vực nông thôn, nông nghiệp và thủy sản; có trên 90% lao động trực tiếp sản xuất trong ngành nông nghiệp
Trong sản xuất nông lâm nghiệp, Đakrông đã tập trung chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá; hình thành các vùng chuyên canh sản xuất các sản phẩm có năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh
tế cao; gắn sản xuất nông nghiệp với công nghiệp chế biến; chăn nuôi phát triển cả số lượng lẫn chủng loại Qua thống kê năm 2018, tổng giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 216,1 tỷ đồng, tăng 10,34% so với năm 2017
Trồng trọt được xác định là ngành sản xuất then chốt trong nông nghiệp của huyện, Các cây trồng chủ yếu là lúa nước, ngô lai, sắn nguyên liệu, lạc, rau, đậu thực phẩm, cây công nghiệp dài ngày
Đến cuối năm 2018, tổng đàn gia súc gần 30.000 con, gia cầm 90.000 con; tổng lượng thịt hơi xuất chuồng 1.100 tấn
Tổng giá trị sản xuất lâm nghiệp năm 2018 ước đạt 61,1 tỷ đồng, so sánh đánh giá với năm 2010 tăng 106% Phấn đấu toàn huyện đến năm 2020 trồng được 13.000 ha rừng trồng tập trung
2.2.1.3 Thương mại - Dịch vụ:
Thương mại và dịch vụ của huyện Đakrông đang phát triển theo chiều hướng tích cực Số lượng các ngành nghề kinh doanh – dịch vụ ngày càng được mở rộng đã cơ bản đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trên địa bàn Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng năm 2018 ước đạt 396 tỷ đồng, số
hộ kinh doanh cá thể 1.035 hộ
Trang 36Các loại hình dịch vụ được mở rộng trên các lĩnh vực bảo hiểm, ngân hàng, bưu chính viễn thông tăng trưởng khá, chất lượng dịch vụ được cải tiến đáng kế Hoạt động du lịch đã có sự khởi sắc
2.2.1.4.Công nghiệp, Tiểu thủ công nghiệp:
Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp được chú trọng ưu đãi và phát triển Giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp đạt 310,5 tỷ đồng, chủ yếu tập trung vào công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến và sản xuất điện Công tác khuyến công được chính quyền địa phương chú trọng đầu tư, hỗ trợ phát triển Một số sản phẩm truyền thống đã được đăng ký sở hữu trí tuệ như Rượu men lá Ba Nang; Dưa hấu Mò Ó; Lạc chiến khu Ba Lòng, Đậu xanh Ba Lòng
Đến nay toàn huyện có 103/103 thôn được sử dụng lưới điện quốc gia (đạt 98,6%)
2.2.1.5.Giáo dục - Đào tạo:
Hiện toàn huyện có 38 đơn vị trường học, giảm quy mô so với thời gian trước do sáp nhập để phù hợp với tình hình thực tế công tác giáo dục, đào tạo tại địa phương gồm 10 trường Tiểu học, 15 trường mầm non, 4 trường tiểu học và Trung học cơ sở, 4 trường Trung học cơ sở, 2 trường Phổ thông dân tộc bán trú, 2 trường Phổ thông trung học
Kết thúc năm học 2017-2018, toàn huyện có 4.772 học sinh hoàn thành chương trình học, đạt 96,9% Toàn huyện đã phổ cập mầm non cho trẻ 5 tuổi; phổ cập tiểu học đạt chuẩn mức độ 3
Công tác phát triển số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên được chú trọng, công tác kiểm định chất lượng giáo dục ngày càng được tăng cường
2.2.1.6 Y tế:
Chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe và khám chữa bệnh cho nhân dân có những bước phát triển tốt từng bước đáp ứng nhu cầu của nhân dân, công tác chăm sóc sức khỏe trong thời điểm giao mùa và phòng chống các loại dịch bệnh được chú trọng Toàn huyện có 01 trung tâm y tế , 01 phòng
Trang 37khám tư nhân và 14/14 xã có Trạm Y tế đạt chuẩn quốc gia về y tế xã đã đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh, tư vấn cho nhân dân trong đó phần lớn là ng-ười đồng bào dân tộc thiểu số Pa Kô, Vân Kiều, gia đình chính sách, người có công trong đó có cả nhân dân nước bạn Lào ở các huyện giáp biên giới với huyện Đakrông
2.2.2 Dân số và lao động
2.2.2.1 Dân số
Theo số liệu thống kê của đợt tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, đến tháng 4 toàn huyện có 10.274 hộ, 43.208 người, trong đó khu vực đô thị 4.732 người, khu vực nông thôn 38.476 người
Mật độ dân số trung bình toàn huyện là 67 người/ km2, song phân bố không đều chủ yếu tập trung ở thị trấn
Về dân tộc, toàn huyện có 3 dân tộc chính, dân tộc Vân Kiều chiếm 51,42%, Pa Cô 27,54%, Kinh chiếm 20,84%, và dân tộc khác 0,2%
Phần lớn các dân tộc thiểu số nhưng chiếm đa số trên địa bàn huyện có trình độ dân trí thấp, sống phân tán rải rác, sản xuất lạc hậu còn mang tính tự cung tự cấp
2.2.2.2 Lao động - việc làm
Theo số liệu thống kê, năm 2018 dân số trong độ tuổi lao động của Đakrông có 22.254 lao động, chiếm 51,5% tổng số dân, trong khu vục thành thị chiếm 20,25% và khu vực nông thôn 79,75%, dân số chưa đến độ tuổi lao động 20.954 người chiếm 48,5% dân số toàn huyện Như vậy dân số huyện Đakrông là dân số trẻ, nguồn lao động dồi dào, song chất lượng nguồn lao động nhìn chung còn thấp, số lao động đã qua đào tạo hiện nay mới chiếm khoảng 12% tổng số lao động
Về cơ cấu, lao động nông – lâm nghiệp chiếm chủ yếu 93 % lao động phi nông nghiệp chiếm 7% tổng số lao động Do tốc độ tăng dân số còn khá cao (1,84% năm 2010 ), tình trạng không có hoặc thiếu việc làm nhất là với
Trang 38lực lượng lao động nông lâm nghiệp vẫn là vấn đề bức xúc cần được tập trung giải quyết
2.2.2.3 Thu nhập và mức sống
Tình hình thu nhập và mức sống hiện nay phân thành hai vùng rõ rệt Vùng dọc quốc lộ 9 do tài nguyên đất đai, giao thông thuận lợi hơn so với các vùng khác nên kinh tế phát triển mạnh, đời sống dân cư được cải thiện rõ rệt, nhiều hộ có thu nhập từ 10 đến 15 triệu/người/năm trở lên Trong khi đó ở khu vực vùng sâu vùng xa, vùng cao chưa thoát khỏi tình trạng thiếu đói cục
bộ thu nhập từ 5 đến 7 triệu đồng/người/năm Tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo theo tiêu chuẩn mới còn khá cao, chiếm 48,3%
Có thể thấy, Đakrông có vị trí địa lý thuận lợi trong giao lưu quốc tế,
đặc biệt với Lào, Thái Lan và một số nước Đông Nam Á bằng đường bộ Trên địa bàn có nhiều địa điểm như suối nước nóng Klu, khu danh thắng Đakrông, Chiến khu Ba Lòng có lợi thế cho phát triển du lịch, dịch vụ cũng như hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội khác
Đakrông có tiềm năng về khai thác khoáng sản có thể phát triển công nghiệp Mật độ dân cư trên địa bàn còn thấp cũng là điều kiện để thu hút lao động có kỹ thuật và có trình độ thâm canh vào vùng góp phần tạo chuyển biến nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng Khu kinh tế và cửa khẩu Quốc
tế La Lay là động lực thu hút các doanh nghiệp trong tỉnh, ngoài tỉnh cũng như nước ngoài đầu tư phát triển các dịch vụ phụ trợ trong chuỗi Logistic từ Việt Nam qua Lào,
Với điều kiện tự nhiên không thuận lợi, Đakrông đối mặt với những thách thức không nhỏ trong phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng đòi hỏi phải có đầu tư lớn; Ý thức trách nhiệm bảo vệ rừng của một bộ phận dân cư chưa cao, đời sống của đa số đồng bào dân tộc thiểu số vẫn chủ yếu dựa vào rừng nên tình hình xâm hại rừng vẫn bị xâm hại Điều này đặt ra cho công tác quản lý, bảo vệ rừng phải đảm bảo hài hòa lợi ích của dân với Nhà nước, giữa bảo tồn
và phát triển rừng với phát triển kinh tế huyện nhà
Trang 39Chương 3 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng Quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Đakrông
và sự tham gia của cộng đồng vào việc quản lý bảo vệ rừng
- Đánh giá vai trò của một số cộng đồng trên địa bàn xã Đakrông, huyện Đakrông đối với công tác quản lý bảo vệ rừng và xác định những nhân tố cản trở hoặc thúc đẩy cộng đồng tham gia quản lý bảo vệ rừng
- Đề xuất một số giải pháp quản lý bảo vệ rừng có hiệu quả dựa vào cộng đồng
3.2 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
- Cộng đồng dân cư thôn, bản ở huyện Đakrông là chủ thể quản lý rừng cộng đồng và cộng đồng tham gia quản lý rừng)
- Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội và các đối tác liên quan đến quản
lý bảo vệ rừng
- Tài nguyên rừng của huyện Đakrông
- Luật pháp và chính sách của Trung ương, địa phương và phong tục, tập quán, kiến thức, thể chế bản địa có liên quan đến quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Phân tích sự ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và phong tục, tập quán, kiến thức, thể chế bản địa trên địa bàn huyện đến công tác quản
lý bảo vệ rừng
Trang 40- Phân tích, đánh giá các hình thức quản lý rừng và thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng của huyện
- Đánh giá tiềm năng quản lý rừng của cộng đồng dân cư thôn, bản và phân tích mối quan tâm đến tài nguyên rừng và vai trò của các bên liên quan đến quản lý rừng cộng đồng
- Đề xuất giải pháp quản lý bảo vệ rừng có hiệu quả dựa vào cộng đồng
Rừng là một bộ phận của hệ thống tự nhiên, do sự tồn tại và phát triển của rừng phụ thuộc vào những quy luật tự nhiên, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau trong hệ thống tự nhiên, như đất đai, khí hậu, địa hình
Rừng là một bộ phận của hệ thống kinh tế - xã hội vì sự tồn tại và phát triển của rừng gắn chặt với các hoạt động kinh tế của con người, như chặt phá rừng, khai thác lâm sản, săn bắt động vật rừng Mặt khác, các hoạt động tác động vào rừng của con người lại phụ thuộc vào đời sống kinh tế, trình độ, nhận thức, phong tục tập quán Bên cạnh đó, rừng có ảnh hưởng rất lớn đến các yếu tố kinh tế thông qua cung cấp tài nguyên và mhững yếu tố khác cho hoạt động của con người
Rừng là một thực thể sinh vật, sự tồn tại và phát triển của rừng phụ thuộc rất nhiều vào các hoạt động của con người Hoạt động của con người theo hướng bảo vệ, phát triển hay tàn phá rừng luôn bị chi phối bởi nhiều yếu
tố xã hội, như nhận thức về vai trò, tác dụng của rừng, ý thức chấp hành luật pháp của Nhà nước về bảo vệ rừng, trách nhiệm của cộng đồng, phong tục, tập quán, kiến thức, thể chế bản địa về bảo vệ rừng