Để hoàn thành chương trình đào tạo Cao học Khoá XIII - Hệ tập trungtrường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam và đánh giá kết quả học tập của khoá học,được sự đồng ý của Khoa Sau đại học, dưới s
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Những nghiên cứu về Bạch đàn E.urophylla
Từ thế kỷ XIX, Bạch đàn đã từ châu Úc du nhập đến nhiều nước trên thế giới và được đánh giá như là một loài cây nhập nội có khả năng thích ừng với nhiều điều kiện khí hậu khác nhau và sau đó, nó lại được đánh giá là loài cây trồng rừng kinh tế Năm 1955, trên thế giới đã có 700.000 ha rừng trồng Bạch đàn và tới năm 1975 đã có khoảng 4 triệu ha rừng trồng tại nhiều vùng khác nhau của 58 nước.
Phải nói rằng, sự thành công của việc phát triển rộng lớn của rừng trồng Bạch đàn trên nhiều nước có phần đóng góp rất lớn của những chương trình nghiên cứu về loài và xuất xứ Bạch đàn Đề cập đến những công trình nghiên cứu liên quan đến khảo nghiệm loài và xuất xứ Bạch đàn Urophylla, có thể kể đến những công trình như:
Khảo nghiệm loài Bách đàn E.urophylla năm 1977 trên 11 địa điểm khác nhau ở Brazil Kết quả cho thấy, ở tuổi 3,5 sinh trưởng chiều cao trung bình cho cả 11 địa điểm là 8,34m Địa điểm có sinh trưởng tốt nhất là Aracruz, chiều cao đạt trung bình là 11,94m, nơi kém nhất là Joao Pinheiro đạt 3,27m.
Khảo nghiệm 17 xuất xứ Bạch đàn Urophylla ở tỉnh Santos và xuất xứ ở Brazil, Amazon cho thấy có sự tương quan rất chặt chẽ giữa độ cao phân bố của các xuất xứ với tỷ lệ sống, sinh trưởng chiều cao Khảo nghiệm 22 xuất xứ Bạch đàn Urophylla năm 1981 ở Wanagama, Indonesia cho thấy sau 22 tháng tuổi, các xuất xứ từ Wetar sinh trưởng trội hơn về chiều cao và đường kính.
Sau đó, vào năm 1971 người ta lại tiến hành khảo nghiệm 5 xuất xứ Bạch đàn Urophylla trên 2 lập địa khác nhau ở Puerto Rico Sau 8 năm cho thấy xuất xứ ở Timor sinh trưởng tốt hơn về đường kính và chiều cao.
Những nghiên cứu thành công về loài Bạch đàn lai giữa E.grandis với E.urophylla ở Brazil và E.allba với E.urophylla ở Công Gô đã góp phần vào việc tạo được những khu rừng trồng nguyên liệu giấy có năng suất cao.
Ngày nay, việc khảo nghiệm xuất xứ Bạch đàn Urophylla đã được một số tổ chức Lâm Nghiệp như Trung tâm Lâm Nghiệp nhiệt đới Pháp (CTFT), cơ quan Lâm Nghiệp Úc (CSIRO) quan tâm và giúp đỡ cung cấp hạt giống, hướng dẫn phương pháp và kể cả việc hỗ trợ kinh phí cho khảo nghiệm.
Nghiên cứu quy luật cấu trúc lâm phần
1.1.2.1 Nghiên cứu quy luật phân bố số cây theo đường kính
Quy luật phân bố số cây theo cỡ đường kính là quy luật cơ bản của lâm phần và được các nhà Lâm học, điều tra rừng quan tâm nghiên cứu Đầu tiên phải kể đến công trình nghiên cứu của Meyer (1934), Prodan (1949) Các tác giả này đã mô tả phân bố số cây theo cỡ đường kính của rừng tự nhiên bằng phương trình toán học dạng:
Phương trình này được gọi là phương trình Meyer hay hàm Meyer.Tiếp đó, Naslunel (1936-1937) đã xác lập phân bố Charlier-A đối với phân bố N-D của lâm phần thuần loài đều tuổi Loetch (1973) dùng hàm Beta nắn phân bố thực nghiệm, Roemisch (1975) nghiên cứu khả năng dùng hàmGamma mô phỏng sự biến đổi của phân bố N/D theo tuổi J.L.F Batista vàH.T.Z Docuto (1992) trong khi nghiên cứu rừng nhiệt đới ở Maranhoo -Brazin đã dùng hàm Weibull mô phỏng phân bố N-D.
1.1.2.2 Nghiên cứu quy luật tương quan giữa chiều cao với đường kính Đây cũng là quy luật cơ bản và quan trọng trong hệ thống các quy luật cấu trúc lâm phần Qua nghiên cứu nhiều tác giả cho thấy, chiều cao tương ứng với mỗi cỡ đường kính luôn tăng theo tuổi Trong một cỡ kính xác định, ở các cấp tuổi khác nhau cây rừng thuộc cấp sinh trưởng khác nhau. Tiurin.D.V (1927) đã phát hiện ra quy luật này khi xác lập đường cong chiều cao ở các cấp tuổi khác nhau Prodan.M (1935) cho thấy độ dốc đường cong chiều cao có chiều hướng giảm dần khi tuổi tăng lên.
Curtis.R.O đã mô phỏng quan hệ chiều cao với đường kính và tuổi theo dạng phương trình: Logh = d + b1.1/d + b2.1/A + b3.1/dA (1.2)
Tại từng tuổi nhất định dùng phương trình:
Các tác giả như: Hohenadl; Krenn; Michailoff; Naslund, M; Anoutchin, NP; Eckert, KH; Korsum, F; Levakovic, A; Meyer, H.A; Munller và V.Soest,
J đã đề xuất dùng các phương trình dưới đây: h = a0+ a1d + a2d 2 (1.4) h - 1,3 = d 2 /(a + bd) 2 (1.5) h = a.b d ; logh = a + b.logd (1.6) h = a.(1 – e -bd ) (1.7) h = a + b.logd (1.8) h - 1,3 = a.(d/(1 + b)) b (1.9) h - 1,3 = a.e -b/d (1.10) log (h – 1,3) = loga + b.((loge)/d) (1.11) h = a(b.lnd – c.(lnd)^2)
Như vậy, để biểu thị tương quan chiều cao với đường kính có thể sử dụng nhiều dạng phương trình khác nhau Việc lựa chọn phương trình thích hợp nhất cho những đối tượng nào thì chưa được nghiên cứu đầy đủ Hai dạng phương trình được sử dụng nhiều nhất để biểu thị đường cong chiều cao là phương trình Parabol và Logarit.
Biểu thể tích
Biểu thể tích 2 nhân tố là biểu ghi bằng số liệu mối quan hệ giữa thể tích với 2 nhân tố cấu thành thể tích là đường kính và chiều cao thân cây. Prodan, Meyer, Spurr, Halaj, Tiorin… đưa ra nhiều dạng phương trình khác, nhưng tập trung nhiều nhất là 2 dạng phổ biến:
Hai dạng phương trình trên được nhiều tác giả kiểm tra và thiết lập để cấu trúc nên biểu thể tích 2 nhân tố ở nhiều nước, như Đức, Ấn độ, Mỹ,Indoiaxia, Thái lan… Mặc dù là biểu thể tích 2 nhân tố nhưng yếu tố hình dạng thân cây đã được xem như một hằng số hoặc một biến số quy về đường kính và chiều cao thân cây Vì vậy, độ chính xác và tính rộng rãi trong sử dụng của biểu thể tích hai nhân tố rất cao Để giảm chi phí cho công tác nghiên cứu lập biểu, một số quốc gia hoặc địa phương thường tiến hành kiểm nghiệm biểu thể tích hai nhân tố của nước láng giềng hay địa phương lân cận để sử dụng cho đối tượng của mình.
Biểu cấp đất
Cấp đất là một chỉ tiêu biểu thị sức sản xuất hay mức độ phù hợp của điều kiện hoàn cảnh đối với một kiểu rừng nhất định Nghiên cứu lập biểu cấp đất làm cơ sở cho việc xác định và sử dụng các biểu điều tra, sản lượng nói riêng và thiết kế các biện pháp kinh doanh rừng nói chung.
Trên thế giới, quá trình tìm tòi những chỉ tiêu biểu thị mức độ phù hợp của điều kiện hoàn cảnh rừng đã trải qua nhiều giai đoạn Trước tiên người ta đi theo hướng tìm những nhân tố có tính chất nguyên nhân, tác động rõ đến quá trình sinh trưởng của rừng như khí hậu, không khí, đất… Nhưng thực ra có rất nhiều nhân tố luân chuyển ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của cây rừng, cho dù có thể xác định được một nhân tố chủ đạo đi chăng nữa, thì nhân tố này lại tác động một cách tổng hợp với các nhân tố khác Do đó, đi theo hướng này không đạt được kết quả mong muốn Sau đó, việc nghiên cứu đi theo hướng dùng nhân tố có tính chất hệ quả, như trong nông nghiệp dùng kết quả thu hái để phân chia cấp sản lượng của đồng ruộng còn đối với lâm nghiệp dựa vào trị số sản lượng của rừng để phân chia sức sản xuất.
Từ khi Eichhorn (1904) phát hiện ra quy luật “Trữ lượng rừng là một hàm số của chiều cao lâm phần”thì phương pháp phân chia cấp đất được củng cố với cơ sở lý luận vững chắc hơn Theo ông, tất cả các lâm phần trên các điều kiện khác nhau, có cùng trữ lượng khi chúng có cùng chiều cao bình quân.
Nội dung chính của phân chia cấp đất là phải tìm được mối quan hệ theo tuổi của một nhân tố điều tra được lựa chọn nào đó, thông thường là chiều cao bình quân lâm phần, chiều cao bình quân tầng ưu thế… Nhân tố được lựa chọn này phải có quan hệ chặt chẽ với trữ lượng, ít chịu ảnh hưởng của biện pháp kinh doanh.
Kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả đều khẳng định, quy luật sinh trưởng chiều cao của mỗi loài cây phụ thuộc vào các vùng sinh thái Từ đó ứng với mỗi kiểu sinh trưởng chiều cao, cần xác định một biểu cấp đất hay còn gọi là một hệ thống cấp đất.
Như vậy, việc phân chia cấp đất cho dù sử dụng chỉ tiêu nào thì thực chất là đánh giá và phân chia trực tiếp mức độ sinh trưởng của rừng.
Những nghiên cứu về đánh giá hiệu quả kinh tế
Năm 1974, giáo sự Jonh E – Gunter trường đại học Tổng Hợp thuộc bang Michigan - Mỹ đã xuất bản giáo trình:“Những vần đề cở bản trong đánh giá đầu tư Lâm nghiệp” Trong đó tác giả đưa ra các cơ sở để đánh giá hiệu quả trồng rừng, với những nội dung cơ bản như: Lãi suất đơn, lãi suất kép, thời gian và năm chiết khấu.
Năm 1979, tổ chức Nông nghiệp và lương thực thế giới (FAO) đã xuất bản giáo trình:“Phân tích các Dự án Lâm Nghiệp” do Hans M – Gregesen và Amoldo H Contresal biên soạn.
Theo tài liệu lưu trữ của TREE CD – ROM (Cab International for Asia), từ năm 1939 đến tháng 4 năm 1995 có 48 công trình đánh giá hiệu quả kinh tế trong Lâm nghiệp Trong đó có 19 công trình đánh giá hiệu quả kinh tế Lâm nghiệp nhiệt đới, đặc biệt có công trình đánh giá hiệu quả kinh tế rừng trồng, trong đó có 9 công trình tập trung vào đánh giá hiệu quả do áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh.
Ở Việt Nam
1.2.1 Những nghiên cứu về Bạch đàn E.urophylla Ở Việt Nam, Bạch đàn đã được nhập vào trồng rải rác trước năm 1945.
Từ giữa những năm 60 ở miền Bắc đã nhập giống Bạch đàn trắng (E.tereticornis), Bạch đàn liễu ( E.exserta), Bạch đàn chanh (E.citriodora), Bạch đàn đỏ (E.robus) để phát triển phong trào trồng cây trong nhân dân và thiết lập rừng trồng ở các Lâm trường Quốc doanh.
Từ năm 1960, Bạch đàn trở thành một trong những loài cây chủ yếu của Lâm nghiệp, tuy nhiên cho đến nay Bạch đàn đã trải qua những bước thăng trầm, có thể chia ra thành 3 giai đoạn: Từ 1977 – 1983 là thời kỳ bài trừBạch đàn mạnh nhất, do quan niệm Bạch đàn trồng làm xấu đất, làm cạn kiệt nguồn nước, do đó diện tích trồng chỉ có 2000 đến 3000 ha/năm, mặt khác Bạch đàn còn bị tàn phá hoặc không được chăm sóc, nhiều cây con trong vườn đủ tiêu chuẩn nhưng bị vứt bỏ Giai đoạn 1984 – 1986 là giai đoạn phục hồi, diện tích trồng Bạch Đàn hàng năm không ngừng tăng lên Từ năm 1987 trở lại đây là giai đoạn phát triển, diện tích trồng rừng Bạch đàn luôn đứng đầu trong các loài cây trồng của Lâm nghiệp Các loài Bạch đàn được trồng nhiều như: E exserta, E camaldulensis, E citriodora, E robusta, E. urophylla…
Nguyễn Dương Tài (1992) [18] nghiên cứu xuất xứ Bạch đàn
(Eucalyptus urophylla) đã đưa ra kết luận, 21 xuất xứ Eucalyptus urophylla từ Indonesia đều tỏ ra tốt với điều kiện tự nhiên ở nơi thí nghiệm trong những năm đầu.
Nguyễn Thanh Vân (2003) [21] khi đánh giá sinh trưởng Bạch đàn (Eucalyptus urophylla) trồng thuần loài tại Lạng Sơn, Bắc Giang, đã so sánh sinh trưởng Bạch đàn (Eucalyptus urophylla) giữa các dòng U6, PN2 và Bạch đàn hạt trồng thuần loài và kết luận các dòng này đều phù hợp với điều kiện tự nhiên ở Bắc Giang - Lạng Sơn và nhận thấy dòng PN2 sinh trưởng nhanh nhất.
Phạm Quang Việt (2004) [22] qua nghiên cứu Bạch đàn Eucalyptus urophylla ST Black đã chọn được 2 dòng vượt trội nhất về sinh khối tại thời điểm 3 tháng tuổi ở cây hom.
Gần đây, Vũ Thành Nam (2006) [16] đã nghiên cứu cấu trúc và mô phỏng sinh trưởng Bạch đàn (Eucalyptus urophylla) dòng U 6 và PN 2 trồng thuần loài nhằm đề xuất một số giải pháp kinh doanh có hiệu quả cho loài cây này tại địa phương.
1.2.2 Nghiên cứu quy luật cấu trúc lâm phần
1.2.2.1 Nghiên cứu quy luật phân bố số cây theo đường kính (N-D) Đối với rừng tự nhiên nước ta, Đồng Sỹ Hiền (1974) [5] đã dùng họ đường cong Pearson biểu diễn phân bố số cây theo cỡ đường kính của rừng tự nhiên Vũ Nhâm (1988) [17] và Vũ Tiến Hinh (1990) [7] cho thấy, có thể dùng phân bố Weibull với hai tham số để biểu thị phân bố N-D cho những lâm phần thuần loài, đều tuổi như thông đuôi ngựa (pinus massoniana), thông nhựa (Pinus merkussii), Mỡ (Manglietia glauca) và bồ đề (Styrax tonkinensis).
Nguyễn Ngọc Lung (1999) [14] khi nghiên cứu phân bố số cây theo cỡ đường kính đã thử nghiệm 3 hàm phân bố: Poisson, Charlier, Weibull cho rừng thông ba lá (Pinus kesiya) ở Việt Nam và rút ra kết luận: Hàm Charlier kiểu A là hàm phù hợp nhất.
Tuy vậy, đối với rừng thuần loài đều tuổi nhiều tác giả đã chọn phân bố Weibull để mô tả và xây dựng mô hình cấu trúc đường kính lâm phần.
1.2.2.2 Nghiên cứu quy luật phân bố số cây theo chiều cao (N-H)
Phân bố số cây theo chiều cao thường ít được các tác giả quan tâm hơn và cũng được sử dụng ít hơn trong thực tế Với các lâm phần thuần loài đều tuổi, phân bố số cây theo chiều cao xét cho toàn lâm phần hay trong từng cỡ chiều cao đều có dạng đường cong một đỉnh hơi lệch phải.
Theo nhiên cứu của nhiều tác giả, nếu lấy chiều cao bình quân làm đơn vị, thì giới hạn thấp nhất về chiều cao là 0,69 và cao nhất là 1,16; hệ số biến động chiều cao lâm phần khoảng 8% Nguyễn Ngọc Lung (1999) [14] đã dùng hàm Charlier kiểu A mô phỏng phân bố N-H cho lâm phần thông ba lá(Pinus kesiya) ở Việt Nam và nhân thấy có 82% các ô tiêu chuẩn phù hợp.
Với rừng tự nhiên lá rộng nước ta, theo Đồng Sỹ Hiền (1974) [5], phân bố chiều cao của từng loài cây hay lâm phần thường có nhiều đỉnh, phản ánh kết cấu phức tạp của rừng tự nhiên Hệ số biến động chiều cao với lâm phần tự nhiên từ 25-40%, trong phạm vi loài từ 12-34%.
1.2.2.3 Nghiên cứu quy luật tương quan giữa chiều cao với đường kính
Khi sắp xếp cây rừng cùng một lúc theo hai đại lượng đường kính ngang ngực (D 1.3 ) và chiều cao cây (H) sẽ được quy luật phân bố hai chiều và có thể định lượng thành quy luật tương quan giữa chiều cao và đường kính thân cây, quy luật kết cấu cỏ bản này cũng được nhiều tác giả nghiên cứu. Ở nước ta, Đồng Sỹ Hiền (1974) [5] đã thử nghiệm năm dạng tương quan thường được nhiểu tác giả nước ngoài sử dụng là: (1.4), (1.6), (1.8), (1.13), (1.14), và kết luận phương trình (1.6) thích hợp cho đối tượng rừng hỗn giao khác tuổi có nguồn gốc tự nhiên.
Vũ Nhâm (1988) [17] dùng phương trình (1.8) xác lập quan hệ H/D cho mỗi lâm phần làm cở sở lập biểu thương phẩm gỗ trụ mỏ rừng thông đuôi ngựa Vũ Tiến Hinh (2000) [8] dùng phương trình (1.8) xác lập quan hệ H/D cho các loài Mỡ, Sa mộc, thông đuôi ngựa.
Như vậy, đối với rừng trồng thuần loài dạng phương trình được sử dụng nhiều nhất để biểu thị đường cong chiều cao là phương trình Logarit.
Phân tích sâu sắc thực tiễn điều tra rừng nước ta Đồng sỹ Hiền khẳng định: “Ở Việt Nam chỉ nên lập và sử dụng biểu thể tích 2 nhân tố” Để lập loại biểu này cần nghiên cứu mối quan hệ giữa thể tích (V) với đường kính(D) và chiều cao (H) thân cây Vì vậy, mối quan hệ này được hầu hết các tác giả trong và ngoài nước quan tâm. Đồng Sỹ Hiền (1974) [5] đã kiển tra hai dạng phương trình (1.15) và (2.16) và kết luận: Có thể lập biểu thể tích cho một số loài cây rừng tự nhiên theo dạng phương trình (1.16) Sau này phương trình (1.16) được Viện điều tra quy hoạch rừng sử dụng để lập biểu cho một số kiểu rừng trồng thuần loài như: Đước, Tràm, Bạch đàn… Vũ Đình Phương cũng sử dụng phương trình này để lập biểu thể tích cho thông Caribe, keo vùng trung tâm.
Phạm Ngọc Giao (1976) đề xuất phương trình: V = a + b.h + c.d 2 h (1.17) sau đó được Bộ môn Điều tra quy hoạch rừng thử nghiệm và giới thiệu để lập biểu thể tích cho 2 loài thông nhựa và thông đuôi ngựa vùng Đông Bắc Biểu này được sử dụng rộng rãi trong điều tra hiện nay.
Việc kiểm nghiệm biểu thể tích, các tác giả trong nước và ngoài nước thường dùng phương pháp chặt trắng lâm phần làm tài liệu đối chứng để kiểm tra biểu Cách làm này cho độ chính xác rất cao, nhưng cũng rất tốn công sức, tiền của và không phải lúc nào cũng thực hiện được.
Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
Bạch đàn được xem là loài cây của Australia Hiện nay, người ta biết có hơn 600 loài nguyên sản ở Australia và một số đảo quanh vùng Có 2 loài E.deglupta và E.urophylla xuất hiện bên ngoài khu phân bố của Australia Hai loài Bạch đàn này có nhiều triển vọng để gây trồng ở các vùng có vĩ độ thấp Chúng là loài chịu được vĩ độ thấp tốt hơn so với bất kỳ loài Bạch đàn nào khác được tìm thấy ở Australia.
Bạch đàn Eucalyptus Urophylla là loài nhập nội có phân bố tự nhiên ỏ một số quần đảo của Indonesia và đã được khảo nghiệm cải thiện giống ở nhiều vùng cho kết quả khả quan: Vùng trung tâm (Phú Thọ, Yên Bái ), Đông Bắc (Quảng Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên ), miền Trung (Quảng trị, Thừa Thiên Huế), Tây Nguyên (Gia Lai ). Đây là loài cây mọc nhanh, chu kỳ kinh doanh ngắn (6-8 năm), phạm vi thích ứng rộng, dáng thân thon thẳng, độ che phủ của tán lá cao h ơn so với Bạch Đàn trắng nên tác dụng chống xói mòn tốt hơn Kỹ thuật thâm canh rừng trồng đã được xác định và nhiều dòng vô tính đã được công nhận giống (PN2 và PN14) hoặc giống tiến bộ kỹ thuật (W4, W5,U6) kỹ thuật nhân hom và nuôi cấy mô đã được áp dụng và có khả năng cung cấp cây con có chất lượng và số lượng lớn (Trung tâm nghiên cứu cây nguyên liệu giấy, Trung tâm Nông Lâm Nghiệp QuảngNinh).
Bạch đàn Urophylla là một trong hai loài Bạch đàn E Urophylla,
E alba không mọc tự nhiên ở lục địa Châu Úc Khu vực phâm bố tự nhiên được giới hạn bởi các hòn đảo cực nam quần đảo Sonda của Indonesia, bao gồm các đảo Timor, Wetar, Alor, Pandar, Andonara và Flores Những đảo này bị tách biệt về phía Bắc và phía Nam bởi các biển Timor và Flores Bên trong các đảo này, E.Urophylla có mặt trên một giải giữa các vĩ độ nam 7 0 30’ và 10 0 Giới hạn về phía Tây và phía Đông thường không rõ Trong vùng phân bố tự nhiên E Urophylla sống ở vùng bán sơn địa đến vùng núi Trong đảo Wetar gặp loài Bạch đàn ở độ cao 300 đến 400 m, trong khi đảo Timor chỉ xuất hiện ở độ cao 2900m trên đỉnh Tatamailan (2963m) Nguyễn Luyện (1993) [15].
Trong vùng phân bố tự nhiên về phía Tây, loài Bạch đàn này lan tới dãy núi dài khoảng 250 km của đảo Flores, tiếp đó còn thấy Bạch đàn xuất hiện ở đảo Adorama, Lomblem, Alor và cuối cùng là đảo Wetar và Timor về phái Tây.
Khu vực khô hạn hơn trong vùng phân bố của loài Bạch đàn này gồm các đảo Adorama, Pandar, Alor, phần Bắc đảo Timor và Tây đảo Wetar, trong khu vực này tổng lượng mưa bình quân chỉ từ 900 đến
Khu vực khác bao gồm phần Nam đảo Timor, một phần cuả đảo Flores và phía Tây đảo Wetar, có tổng lượng mưa cả năm từ 1400 -
1500 mm Nhìn chung đây là vùng có tiểu khí hậu mưa mùa hè, tổng lượng mưa biến động từ 1000 đến 1500mm và mùa khô không quá khắc nghiệt Nhiệt độ tối cao trung bình của tháng nóng nhất là 29 0 C, nhiệt độ tối thấp của tháng trung bình lạnh nhất 8-10 0 C, nhiệt độ trung bình năm là 27,2 0 C.
Bạch đàn E Urophylla là loài cây sinh trưởng nhanh và đạt đến kích thước lớn Trong vùng Laclubar trên đảo Timor thuộc Bồ Đào Nha có những cây cao tới 53m đường kính đạt tới 1,26m, đặc biệt dãy Monter Mutio với độ cao 2100m có những cá thể cực lớn, đường kính đạt 2,5m. Trong khi đó ở những nơi khô hay trên các đỉnh dông, E Urophylla lại có dạng rất khác, chiều cao giảm, mặc dầu thân có thể đạt đường kính lớn [15].
Dạng thân cành: Loại Bạch đàn E Urophylla tăng trưởng nhanh có thể đạt kích thước lớn, thân thẳng, phân cành thấp và tỉa thưa tự nhiên tốt.
Hình thái vỏ: vỏ của Bạch đàn E Urophylla ít sần sùi, ráp dày và có sợi thẳng Mầu sắc thông thường là mầu nâu Cây non có vỏ nâu đỏ. Ở nơi độ cao thấp thì vỏ trơn nhẵn, với phần gốc cao đến 2m có vỏ sần sùi Kiểu vỏ thay đổi tuỳ theo điều kiện nơi mọc và tuổi trưởng thành của cây.
Kiểu lá: Lá Bạch đàn E Urophylla của cây trưởng thành sắp xếp so le, hình dáng kích thước thay đổi theo tuổi của cây Cuống lá có chiều dài từ 19-22mm, chiều dài phiến lá từ 127 -158mm, chiều rộng phiến lá 38 - 68mm Lá non rất khác so với lá trưởng thành có màu sắc ngả đỏ [15].
Dạng hoa quả: Hoa Bạch đàn E Urophylla là hoa lưỡng tính có cấu tạo thích hợp với kiểu thụ phấn chéo nhờ côn trùng Cụm hoa có kiểu hình xim hai ngả, số quả của cụm trung bình là 7, đế của hoa có hai dạng chủ yếu là đế hình chuông và dạng đế hình bán cầu Bầu hoa là bầu thượng, bầu khi lõm xuống thì phẳng, tỉ lệ giữa hai loài này thường thay đổi theo độ cao.
2.1.3 Công dụng của Bạch đàn
Gỗ Bạch đàn Urophylla có thể phục vụ nhiều mục đích khác nhau, kể cả đồ gia dụng và xây dựng, nhưng thông dụng và phổ biến nhất là cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp giấy và gỗ trụ mỏ.
Năng suất rừng Bạch đàn Urophylla trồng quảng canh trên lập địa xấu chỉ đạt 7,7 – 8m 3 / ha/ năm Trong khi đó thâm canh cao sản ở vùng Trung tâm có thể đạt 16 – 20m 3 / ha/ năm.
2.1.4 Một số biểu lập cho rừng trồng Urophylla
Biểu lập cho rừng trồng Urophylla chủ yếu thuộc đối tượng rừng trồng từ hạt, các biểu gồm:
1 Biểu thể tích hai nhân tố cây đứng có vỏ Bạch đàn Urophylla.
2 Biểu cấp đất rừng trồng Bạch đàn Urophylla (theo chiều cao bình quân Hg).
3 Biểu quá trình sinh trưởng rừng trồng Bạch đàn Urophylla.
MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xác định hiệu quả kinh tế rừng trồng Bạch đàn E.urophylla dòng PN2 tại Lâm trường Hữu Lũng II, tỉnh Lạng Sơn.
- Xác định cấu trúc và năng suất rừng trồng Bạch đàn E.urophylla dòng PN2 tại Lâm trường Hữu Lũng II, tỉnh Lạng Sơn
- Xác định hiệu quả kinh tế của rừng trồng Bạch đàn E.urophylla dòngPN2 tại Lâm trường Hữu Lũng II, tỉnh Lạng Sơn.
Giới hạn nghiên cứu
Đề tài chỉ xác định hiệu quả rừng trồng Bạch đàn Eucalyotus urophylla dòng PN2 (trồng bằng hom) trồng thuần loài tại Lâm trường Hữu Lũng II – LạngSơn.
Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc của rừng trồng Bạch đàn
3.3.1.1 Quy luật phân bố số cây theo đường kính (N-D)
3.3.1.2 Quy luật phân bố số cây theo chiều cao (N-H)
3.3.1.3 Quy luật tương quan giữa chiều cao với với đường kính (H/D)
3.3.2 Xác định năng suất rừng trồng Bạch đàn.
- Kiểm tra biểu thể tích đã có.
- Xác định năng suất rừng trồng theo cấp đất và tuổi.
3.3.3 Xác định hiệu quả kinh tế của rừng trồng Bạch đàn
- Xác định chi phí đầu tư cho 1ha rừng trồng Bạch đàn E.urophylla.
Xác định thu nhập cho 1ha rừng trồng Bạch đàn E.urophylla.
3.3.3.1 Xác định hiệu quả kinh tế theo phương pháp tĩnh
3.3.3.2 Xác định hiệu quả theo phương pháp động
Cân đối thu nhập - chi phí và tính toán các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả.
- Giá trị hiện tại thuần tuý (NPV).
- Tỷ lệ thu nhập trên tỷ lệ chi phí (BCR).
- Tỷ lệ thu hồi nội bộ (IRR).
3.3.4 Đánh giá rủi ro trong kinh doanh trồng Bạch đàn
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Một số quy luật cấu trúc của các lâm phần điều tra
4.1.1 Quy luật phân bố số cây theo đường kính.
Phân bố số cây theo đường kính (N-D) là phân bố quan trọng nhất khi nghiên cứu quy luật phân bố của các đại lượng điều tra lâm phần Dẫy phân bố N-D là cơ sở xác định các đai lượng điều tra lâm phần Phân bố số cây theo đường kính đôi khi còn được gọi là phân bố đường kính và thường được ký hiệu là N-D Khi biểu thị phân bố số cây theo đường kính của một lâm phần nào đó trên biểu đồ, trục hoành biểu diễn cỡ kính, trục tung biểu thị số cây hoặc tần suất tương ứng Đặc điểm phân bố số cây theo đường kính của những lâm phần thuần loài đều tuổi khác biệt hoàn toàn những lâm phần hỗn giao khác tuổi.
Những lâm phần thuần loài đều tuổi, đường cong phân bố N-D hầu hết có dạng một đỉnh lệch trái Tuổi càng tăng, độ lệch phân bố càng giảm và càng tiệm cân phân bố chuẩn.
4.1.1.1 Một số đặc trưng mẫu về đường kính
Một số đặc trưng phân bố N-D được xác định bằng phần mềm Excel. Kết quả tính được thống kê theo tuổi từ biểu 4.1 đến biểu 4.3:
Biểu 4.1: Các đặc trưng mẫu phân bố N-D tuổi 4
Hệ số biến động (S%) ở các ô nhìn chung tương đối ổn định, biến động từ 14,77% đến 19,21% Điều này cho thấy giữa các lâm phần Bạch đàn ở tuổi
4 mặc dù có sự phân hoá về đường kính, nhưng chưa rõ nét. Độ lệch (S k ) của đường cong chưa ổn định, có trường hợp lệch trái (Sk> 0), có trường hợp lệch phải (Sk< 0). Độ nhọn (Ex) đều mang giá trị âm, đường cong phân bố có đỉnh bẹt hơn so với phân bố chuẩn.
Biểu 4.2: Các đặc trưng mẫu phân bố N-D tuổi 5
Hệ số biến động (S%) các lâm phần Bạch đàn ở tuổi 5 từ 17,12% đến 22,74% Điều này cho thấy sự phân hoá về đường kính không lớn. Độ lệch (Sk) của đường cong tương đối ổn định, tất cả các trường hợp đều lệch phải (S k < 0). Độ nhọn (Ex) của các lâm phần Bạch đàn ở tuổi 5 đều mang giá trị âm,đường cong phân bố có đỉnh bẹt hơn so với phân bố chuẩn.
Biểu 4.3: Các đặc trưng mẫu phân bố N-D tuổi 6
Từ biểu 4.3 nhận thấy: Hệ số biến động (S%) không ổn định, biến động từ 14,25% đến 24,19% Điều này cho thấy sự phân hoá về đường kính khá lớn Độ lệch (Sk) của đường cong tương đối ổn định, phần lớn các trường hợp lệch phải (Sk< 0), chỉ có 1 trường hợp lệch trái (Sk> 0) Độ nhọn (Ex) mang giá trị âm, đường cong phân bố có đỉnh bẹt hơn so với phân bố chuẩn.
Tóm lại: ở cả ba cấp tuổi, hệ số biến động đường kính (S%) ở các tuổi là khá lớn (từ 14,25% đến 24,19%), tuy nhiên chênh lệch S% ở các ô tiêu chuẩn cùng tuổi không lớn và có xu hướng tăng khi tuổi tăng lên Độ lệch (Sk) của đường cong chưa ổn định, có trường hợp lệch trái (S k > 0), có trường hợp lệch phải (Sk < 0), nhưng chủ yếu là lệch phải so với số trung bình Độ nhọn của phân bố (Ex) cho thấy, đường cong thực nghiệm bẹp hơn so với phân bố chuẩn (Ex 0), có trường hợp lệch phải (S k < 0) so với số trung bình. Độ nhọn (Ex) có trường hợp mang giá trị âm, đường cong phân bố có đỉnh bẹt hơn so với phân bố chuẩn Có trường hợp mang giá trị dương, đường cong phân bố có đỉnh nhọn hơn so với phân bố chuẩn.
Biểu 4.8: Các đặc trưng mẫu phân bố N-H tuổi 5
Hệ số biến động (S%) ở các ô nhìn chung tương đối ổn định, biến động từ 8,84% đến 12,34%. Độ lệch (S k ) của đường cong chưa ổn định, có trường hợp lệch trái (Sk> 0), có trường hợp lệch phải (Sk < 0) Tuy nhiên, số trường hợp lệch phải nhiều hơn (7 trường hợp mang giá trị âm, còn lại mang giá trị dương). Độ nhọn (Ex) có ba trường hợp mang giá trị âm, đường cong phân bố có đỉnh bẹt hơn so với phân bố chuẩn Các trường hợp còn lại mang giá trị dương, đường cong phân bố có đỉnh nhọn hơn so với phân bố chuẩn.
Biểu 4.9: Các đặc trưng mẫu phân bố N-H tuổi 6
Hệ số biến động (S%) ở các ô dao động từ 6,02 đến 12,07. Độ lệch (Sk) của đường cong đã ổn định, tất cả các trường hợp lệch phải (S k < 0) so với số trung bình. Độ nhọn có trường hợp mang dấu âm, có trường hợp mang dấu dương.
Qua các biểu 4.7; 4.8; 4.9 cho thấy, biến động chiều cao (S%) ở các cấp tuổi không lớn và có xu hướng tăng theo tuổi Đường cong phân bố chủ yếu lệch phải và bẹt hơn so với phân bố chuẩn (Ex