Theo kết quả thống kê đất đai của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đến ngày 31/12/2005, diện tích rừng trên toàn quốc là 12,28 triệu ha độ che phủ của rừng là 36,7%, tổng diện tích
Trang 1NGUYỄN ĐÌNH TRƯỜNG
NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC CHO VIỆC SỬ DỤNG HIỆU QUẢ NGUỒN TÀI NGUYÊN ĐẤT TRỐNG ĐỒI NÚI TRỌC TẠI XÃ THẢI GIÀNG PHỐ - HUYỆN BẮC HÀ - TỈNH LÀO CAI.
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
HÀ TÂY-2007
Trang 2NGUYỄN ĐÌNH TRƯỜNG
NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC CHO VIỆC SỬ DỤNG HIỆU QUẢ NGUỒN TÀI NGUYÊN ĐẤT TRỐNG ĐỒI NÚI TRỌC TẠI XÃ THẢI GIÀNG PHỐ - HUYỆN BẮC HÀ - TỈNH LÀO CAI.
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN PHÚ HÙNG
HÀ TÂY-2007
Trang 3Mục lục
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục bảng
Danh mục biểu đồ
ĐẶT VẤN ĐỀ……… 1
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Vấn đề nghiên cứu trên thế giới 3
1.2 Vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam 5
CHƯƠNG II MỤC TIÊU - ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI 11
2.1 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 11
2.1.1 Về mặt lý luận 11
2.1.2 Về mặt thực tiễn 11
2.2 Đối tượng nghiên cứu của đề tài 11
2.3 Nội dung nghiên cứu 11
2.3.1 Nghiên cứu một số cơ sở pháp lý và thực tiễn cho việc sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên đất trống đồi núi trọc 11
2.3.3 Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc quy hoạch sử dụng diện tích đất trống đồi núi trọc xã Thải Giàng Phố - huyện Bắc Hà - tỉnh Lào Cai 12
2.3.4 Đề xuất phương án quy hoạch diện tích đất trống đồi núi trọc xã Thải Giàng Phố - huyện Bắc Hà - tỉnh Lào Cai 12
2.4 Phương pháp nghiên cứu 13
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 13
2.4.1.1 Thu thập số liệu về cơ sở lý luận và thực tiễn về QHSDĐ cấp vi mô 13
2.4.1.2 Thu thập số liệu về điều kiện dân sinh, kinh tế, xã hội của địa phương 13
2.4.1.3 Thu thập thông tin từ các mô hình canh tác sử dụng ĐTĐNT trong vùng 13
2.4.1.4 Lập kế hoạch cho việc sử dụng tài nguyên đất trống đồi núi trọc 13
2.4.2 Phương pháp tổng hợp, phân tích số liệu và đánh giá hiệu quả sau khi thực hiện quy hoạch 17
2.4.2.1 Phương pháp tổng hợp, phân tích số liệu 17
2.4.2.2 Phương pháp đánh giá hiệu quả sau khi thực hiện kế hoạch 18
2.5 Giới hạn của đề tài 20
CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 21
3.1 Nghiên cứu một số cơ sở pháp lý và thực tiễn cho việc sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên đất trống đồi núi trọc 21
Trang 43.1.1 QHSDĐ cấp vi mô trong hệ thống QHSDĐ ở nước ta hiện nay 21
3.1.2 QHSDĐ cấp vi mô có sự tham gia của người dân 24
3.1.2.1 Phương pháp tiếp cận có sự tham gia của người dân 24
3.1.2.2 QHSDĐ có sự tham gia của người dân 26
3.1.2.3 Thực tiễn ứng dụng của PRA tại Việt Nam 28
3.1.3 QHSDĐ cấp vi mô theo quan điểm bền vững 29
3.1.4 QHSDĐ cấp vi mô trong nền kinh tế thị trường 33
3.1.4.1 Khái niệm về thị trường và kinh tế thị trường 33
3.1.4.2 QHSDĐ cấp vi mô trong nền kinh tế thị trường 33
3.2 Tìm hiểu vị trí và chức năng của cấp xã trong công tác quản lý nguồn tài nguyên đất trống đồi núi trọc tại địa phương 35
3.2.1 Cơ sở, căn cứ pháp lý cho công tác quản lý, sử dụng nguồn tài nguyên đất trống đồi núi trọc tại địa phương 35
3.2.2 Vị trí và chức năng của cấp xã đối với công tác quy hoạch phát triển lâm nông nghiệp 38
3.3 Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc quy hoạch sử dụng diện tích đất trống đồi núi trọc xã Thải Giàng Phố - huyện Bắc Hà - tỉnh Lào Cai 39
3.3.1 Thu thập thông tin từ các mô hình hiện đang canh tác trong xã 39
3.3.2 Phân tích hiệu quả kinh tế của các mô hình canh tác hiện có tại xã 42
3.3.3 Đề xuất các mô hình canh tác nên được sử dụng cho quy hoạch phát triển sử dụng diện tích đất trống đồi núi trọc tại xã Thải Giàng Phố-huyện Bắc Hà- tỉnh Lào Cai 43
3.4 Đề xuất phương án quy hoạch diện tích đất trống đồi núi trọc xã Thải Giàng Phố - huyện Bắc Hà - tỉnh Lào Cai 47
3.4.1 Điều kiện tự nhiên của xã Thải Giàng Phố 47
3.4.1.1 Vị trí địa lý 47
3.4.1.2 Địa hình 47
3.4.1.3 Thổ nhưỡng 47
3.4.1.4 Khí hậu - thuỷ văn 48
3.4.1.5 Tài nguyên thiên nhiên 49
3.4.2 Điều kiện dân sinh kinh tế xã hội của xã Thải Giàng Phố 52
3.4.2.1 Dân cư và phân bố dân cư 52
3.4.2.2 Các hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp và ngành nghề khác 53
3.4.2.3 Cơ sở hạ tầng 54
Trang 53.4.2.4 Tình hình sinh hoạt và đời sống của người dân trong xã 56
3.4.2.5 Tình hình sử dụng lao động của xã 56
3.4.2.6 Thực trạng thi hành các chính sách lâm nghiệp 56
3.4.2.7 Thực trạng về thị trường 57
3.4.2.8 Tình hình khai thác sử dụng tài nguyên rừng 57
3.4.3 Đánh giá hiện trạng sử dụng tài nguyên đất 58
3.4.3.1 Đất nông nghiệp 60
3.4.3.2 Đất phi nông nghiệp 60
3.4.3.3.Đất chưa sử dụng 61
3.4.4 Dự báo nhu cầu: Lương thực, sử dụng lâm sản và thị trường tiêu thụ lâm sản trong và ngoài địa phương 62
3.4.4.1 Nhu cầu lương thực 62
3.4.4.2 Nhu cầu sử dụng lâm sản 62
3.4.5.1 Hiện trạng đất trống đồi núi trọc (ĐTĐNT) 63
3.4.5.3 Ước tính vốn đầu tư, nguồn vốn để thực hiện sản xuất trong thời gian 10 năm 70
3.4.5.4 Tiến độ thực hiện phương án 72
3.5 Dự đoán hiệu quả sau khi thực hiện quy hoạch 74
3.5.1 Dự đoán hiệu quả kinh tế 74
3.5.2 Dự đoán hiệu quả môi trường 77
3.5.3 Dự đoán hiệu quả xã hội 77
3.6.1 Giải pháp về chính sách 78
3.6.2 Giải pháp về tổ chức quản lý 80
3.6.3 Giải pháp về vốn đầu tư 80
3.6.4 Giải pháp về khoa học công nghệ 81
3.6.5 Giải pháp về thị trường 81
CHƯƠNG IV: KẾT LUẬN - KHUYẾN NGHỊ 82
4.1 Kết luận 82
4.1.1 Về cơ sở lý luận 82
4.1.2 Về cơ sở thực tiễn 82
4.2 Tồn tại 84
4.3 Khuyến nghị 85 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ BIỂU
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
Hệ sinh thái rừng có vai trò cực kỳ quan trọng đối với việc bảo vệ môi
trường sống và nền kinh tế quốc dân ở nhiều quốc gia Giữ đất, giữ nước, điều hoà
khí hậu, phòng chống ô nhiễm và thiên tai là những tác dụng chính của rừng, vìthế mà cho đến nay nhiều nước trên thế giới đã coi tác dụng bảo vệ môi trườngcủa rừng lớn hơn nhiều so với giá trị kinh tế của nó Tuy nhiên sức ép về kinh tế
và dân số đã và đang dẫn đến việc sử dụng quá mức tài nguyên rừng ở các nước
đang phát triển, đặc biệt là nạn chặt phá rừng bừa bãi Tình hình đó làm cho nguồn
tài nguyên có thể tái tạo được như rừng và đất rừng bị cạn kiệt nhanh chóng, môi
trường rừng nói riêng và môi trường sống nói chung bị suy thoái nghiêm trọng
Theo kết quả thống kê đất đai của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
đến ngày 31/12/2005, diện tích rừng trên toàn quốc là 12,28 triệu ha (độ che phủ
của rừng là 36,7%), tổng diện tích đất trống đồi núi trọc (ĐTĐNT) là 4,31 triệu ha(chiếm 13,01% tổng diện tích đất tự nhiên và chiếm 35,1% diện tích đất có rừng).Vùng rừng núi Việt Nam là nơi sống tập trung của 54 dân tộc anh em,phần lớn những diện tích này có địa hình phức tạp, công tác thông tin tuyêntruyền không đến được với người dân dẫn đến cuộc sống của họ còn gặp rấtnhiều khó khăn, phong tục và phương thức canh tác theo lối tự cung tự cấptrong cộng đồng bản làng, dòng tộc đã có hàng nghìn đời nay Tập quán canhtác còn lạc hậu và được lưu truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác Cùng với
phương thức canh tác lạc hậu và mức độ gia tăng dân số cao dẫn đến tài
nguyên rừng suy giảm, tài nguyên đất bị khai thác cạn kiệt theo hướng tàn phákhông còn khả năng phục hồi Tình trạng cháy rừng diễn ra hàng năm cùngvới nạn khai thác rừng trái phép kết hợp với đốt nương làm rẫy là nguyênnhân chính dẫn đến suy thoái tài nguyên rừng như hiện nay [27] Bởi vậy theo
số liệu thống kê, hàng năm diện tích rừng bị mất đi do đốt nương làm rẫychiếm từ 50% - 60% diện tích rừng bị mất Những vấn đề này là một tháchthức cho các nhà khoa học cũng như các nhà quản lý
Xét lại vấn đề ta thấy, người dân các tỉnh trung du miền núi thường gặp rấtnhiều khó khăn trong cuộc sống Cuộc sống của họ phụ thuộc phần lớn vào rừng,nhiều nơi người dân có cuộc sống rất khó khăn, đời sống phụ thuộc vào điều kiện
Trang 8tự nhiên Khi được tuyên truyền về vai trò của rừng đối với cuộc sống hiện tạicũng như trong tương lai của con người, họ đã phần nào hiểu được vai trò quantrọng của rừng Tuy nhiên, nếu các nhà quản lý chỉ nói đến vai trò của rừng là
“vô cùng quan trọng” mà không có kế hoạch hay chiến lược đảm bảo được cuộc
sống của người dân vừa bảo vệ và phát triển được vốn rừng thì sẽ còn tình trạngphá rừng lấy đất trồng cây lương thực phục vụ cuộc sống trước mắt của họ
Quản lý, bảo vệ và phát triển vốn rừng hiện có để tiến tới chấm dứt nạnphá rừng nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước làmột trong những mục tiêu chủ yếu của chính sách Lâm nghiệp trong thời kỳ
đổi mới, được Chính phủ và Ngành Nông nghiệp phát triển Nông thôn quan
tâm Một trong những nhiệm vụ cấp bách hiện nay nhằm hướng đến một nềnLâm nghiệp bền vững, cải thiện và từng bước nâng cao đời sống của cộng
đồng dân cư vùng núi là phải tìm ra các giải pháp đưa đất trống đồi núi trọc,đất sau canh tác nương rẫy vào sản xuất nông lâm nghiệp theo phương thức
lấy ngắn nuôi dài để vừa đảm bảo cuộc sống hiện tại của người dân vừa bảo
vệ và phát triển tài nguyên rừng của đất nước
Thải Giàng Phố là xã vùng cao, thuộc diện đặc biệt khó khăn của huyệnBắc Hà, cách trung tâm huyện 4 km về hướng Đông, có tổng diện tích tự
nhiên 6.585,00 ha, trong đó: đất nông nghiệp 2818,20ha (chiếm 42,8% tổng
diện tích tự nhiên); đất phi nông nghiệp 81,40 ha (chiếm 1,2%); đất chưa sửdụng là 3685,40ha (chiếm tới 56,0%) Toàn xã có 415 hộ, với 2.290 nhânkhẩu của 4 dân tộc cùng sinh sống, phân bố ở 10 thôn bản [26] Là xã có trình
độ dân trí thấp và không đều, đời sống vật chất tinh thần gặp nhiều khó khăn,
tập quán canh tác còn lạc hậu, phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, phương thức sảnxuất nhỏ lẻ, tự cấp, tự túc là chính, Cơ sở hạ tầng thấp kém, một số thôn bản
và hộ gia đình nằm rải rác, phân tán xa khu trung tâm xã và các đường liên
thôn thường dốc, hẹp, chất lượng xấu, hay bị sạt lở,…Tình hình sử dụng đấtđai trong nhiều năm qua còn nhiều bất cập, hiệu quả sử dụng thấp và không
bền vững Các nhân tố trên đã thực sự cản trở đến sự phát triển kinh tế xã hội
và ổn định đời sống nhân dân trên địa bàn Vì vậy, để góp phần khắc phụcphần nào những khó khăn trên, tác giả tiến hành thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên
đất trống đồi núi trọc tại xã Thải Giàng Phố - huyện Bắc Hà - tỉnh Lào Cai”
Trang 9CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Vấn đề nghiên cứu trên thế giới
Rừng được coi là lá phổi xanh của nhân loại, mất rừng sẽ dẫn đếnnhững hậu quả nghiêm trọng cho loài người chứ không chỉ riêng một dân tộc,một quốc gia nào
Trong những năm gần đây diện tích rừng ở Việt Nam cũng như tại các
nước đang phát triển bị suy giảm nhanh chóng Theo tài liệu của Đại hội Lâm
nghiệp diễn ra vào tháng 10 năm 1997 tại Thổ Nhĩ Kỳ, tổ chức Nông lươngthế giới FAO đã thống kê được sự suy giảm diện tích rừng trong những nămvừa qua là hết sức nghiêm trọng Theo thống kê, trong giai đoạn 1990 - 1995,khi Châu Âu và khu vực Bắc Mỹ trồng được 8,50 triệu ha rừng, thì các châu lụckhác bị mất đến 64,90 triệu ha rừng Diện tích rừng, độ che phủ rừng, tỷ lệ mấtrừng hàng năm trên thế giới, Đông Nam Á và Việt Nam được thể hiện tại bảng 1.1
Bảng 1.1 Thống kê một số vấn đề về tài nguyên rừng trên thế giới
Các chỉ tiêu cho thấy tỷ lệ che phủ của rừng ở Việt Nam lớn hơn so với
tỷ lệ che phủ rừng trung bình của thế giới, nhưng trên thực tế diện tích rừng
tính theo đầu người thì Việt Nam nằm ở dưới mức trung bình (0,14 ha) so vớiĐông Nam Á (0,42 ha) và bằng 1/4 so với thế giới (0,6 ha) Nguyên nhân của
tình trạng suy giảm diện tích rừng có nhiều nhưng chủ yếu do sự thay đổi thờitiết bất thường trên toàn cầu cũng như tại mỗi khu vực và nguyên nhân trựctiếp vẫn là tình trạng phá rừng để phát triển sản xuất nông nghiệp theo
phương thức quảng canh của các cộng đồng dân cư tại các nước đang phát
triển mà điển hình là hình thức canh tác nương rẫy, trong đó có Việt Nam
Như vậy, sự đói nghèo và tình trạng phá rừng diễn ra song hành với nhau như
“hai chân đi về một hướng” Hiện nay, các nhà khoa học ước tính có khoảng
từ 250 đến 300 triệu người trên thế giới đang sống bằng hình thức canh tác nươngrẫy và tác động đến gần một nửa diện tích đất của vùng nhiệt đới Trong đó, riêng
Trang 10vùng Châu Á Thái Bình Dương đã có hơn 30 triệu người sống phụ thuộc vào hệcanh tác nương rẫy trên diện tích khoảng 75 triệu ha (Srivastava, 1986).
Canh tác nương rẫy là một dạng sử dụng đất, có lịch sử lâu đời và tỏ ra
phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng nhiệt đới Trong hệ thống canh tác
nương rẫy truyền thống chỉ có từ 5% đến 10% diện tích đất được sử dụngtheo đúng nghĩa, còn lại bị bỏ hoang hoá để tự phục hồi gọi là thời kỳ hưucanh (Fallow) Canh tác nương rẫy xét về một góc độ nào đó thì có thể coi là
một phương thức sử dụng đất bền vững trong điều kiện mật độ dân số thưanhư ở Borneo hoặc như ở bán đảo Malaysia (Abdul và Faizah, 1988) Tạimiền trung Ấn Độ, 17,52% diện tích của bang Orissa bao gồm khoảng mộttriệu người vẫn đang duy trì hình thức canh tác nương rẫy, hình thức canh tác
này là phương tiện sống duy nhất của một bộ phận dân cư đang sống, bởi sức
ép dân số và không có diện tích đất thích hợp để canh tác nông nghiệp bềnvững (UNESCO,1979) Ở Indonexia một bộ phận lớn dân số đang canh tác
nương rẫy ở các vùng có mật độ dân số thưa ngoài đảo Java và Bali, hậu quả
của hình thức canh tác này là đã để lại một thảm cỏ tranh 16 triệu ha và hàng
năm diện tích này tăng thêm 150 nghìn ha Chính phủ Indonexia đã có chính
sách cải tạo diện tích đất bị thoái hoá bằng các chương trình di dân và nôngnghiệp thâm canh Tại bang Sarawak miền Đông Malaysia, canh tác nươngrẫy được diễn ra rất phổ biến tại các triền núi thuộc vùng nhiệt đới, năm 1976
có khoảng 50 nghìn hộ trực tiếp canh tác nương rẫy, người ta ước tính cókhoảng 2,8 triệu ha đất đang hoặc đã qua canh tác nương rẫy, hàng năm cókhoảng 30 nghìn ha rừng nguyên sinh bị chặt hạ để làm nương rẫy, vì vậy vôhình đã biến những diện tích rừng nguyên sinh thành những vùng đất trống
đồi núi trọc chỉ sau một vài chu kỳ canh tác Chính phủ Malaysia đã có nhiều
cố gắng khuyến khích người dân xanh hoá những diện tích này nhằm pháttriển kinh tế cũng như cải tạo môi trường sinh thái bằng cách trồng cây côngnghiệp nhiệt đới, như: Cà phê, Cao su, Hồ tiêu và các loại cây ăn quả khác.Tại Philippin có khoảng 120 nghìn hộ gia đình trực tiếp tham gia hoạt động
nương rẫy, hàng năm có đến 172 nghìn ha rừng bị tàn phá thì có đến 80 nghìn
ha bị quy cho là do canh tác nương rẫy Hoạt động nương rẫy không chỉ giớihạn ở các tộc người vùng cao mà còn có những người nông dân nghèo vùngthấp thiếu đất canh tác hay dân nghèo thành thị tham gia
Trang 11Như vậy, canh tác nương rẫy không phải là phương thức canh tác dành riêng
cho các tộc người lạc hậu, bởi vì hình thức canh tác này còn được thực hiện ở các
nước như SriLanka, Hàn Quốc v.v Tại vùng núi phía bắc của Hàn Quốc, nhữngngười chạy chốn lên núi vì chính trị hay tôn giáo cũng thực hiện canh tác nương rẫy
du canh Người ta chia canh tác nương rẫy ra làm hai dạng, đó là canh tác nương
rẫy cục bộ (Partial Swidden) là dạng canh tác chỉ liên quan đến mục đích kinh tếcủa người thực hiện (người từ nơi khác đến làm nương rẫy để sản xuất cây hànghoá và làm kinh tế), dạng canh tác nương rẫy truyền thống (Integral Swidden) là
phương thức canh tác đã trở thànhg phong tục tập quán của người dân địa phương
Canh tác nương rẫy đã gây ra tình trạng xói mòn, thoái hoá đất do vậy đểphục hồi lại những vùng đất bị xói mòn, thoái hoá, đã có nhiều nhà khoa họcquan tâm và nghiên cứu, những công trình nghiên cứu điển hình về tình trạngxói mòn đất đã được thực hiện, như:
Công trình nghiên cứu về xói mòn được nhà bác học Volni tiến hành
vào năm 1870; Hudson, 1981; ông đã sử dụng một hệ thống ô thí nghiệm để
nghiên cứu hàng loạt các nhân tố liên quan đến xói mòn đất, như loại đất, độdốc, thực bì, lớp phủ bề mặt, kỹ thuật canh tác vv
Tiếp sau công trình của Volni, những nghiên cứu về xói mòn được thựchiện ngày một nhiều ở Liên Xô cũ, Mỹ và một số nước phát triển khác Trongthời gian gần đây với sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế, những nghiên cứunhằm phục hồi, phát triển đất trống đồi núi trọc đã và đang được thực hiện tại
các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam
1.2 Vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam
Trong những năm gần đây, tình hình phát triển Lâm nghiệp ở các tỉnh miền núiphía Bắc nước ta có nhiều chuyển biến tích cực Tuy nhiên, nhìn tổng thể thì quátrình phát triển vẫn còn tương đối chậm, diện tích đất trống đồi núi trọc, đất
không được sử dụng có hiệu quả và hợp lý vẫn không ngừng đã gia tăng Trong
những năm qua, các nhà khoa học cũng như các nhà quản lý có những công trìnhnghiên cứu và đưa ra các chính sách để phục hồi phát triển và đưa những diện
tích đất trống đồi núi trọc vào sản xuất nhằm phát triển kinh tế cũng như giải
quyết vấn đề nông thôn miền núi Điểm qua những công trình nghiên cứu củacác tác giả như: Nguyễn Đình Huấn, (1988); Trần Thị Quế, (1989); Trần ThanhBình (1997) [2]; Phùng Ngọc Lan (1994); Bùi Minh Vũ (1994); Nguyễn XuânQuát (1994) [17]; Vũ Văn Mễ (1994); Nguyễn Cát Giao (1994); Lê Xuân Lịch
Trang 12(1996); Chu Hữu Quý (1996); Lê Văn Khoa; Trần Thị Lành (1997); Vũ VănTuấn; Trần Thị Vân Anh (1997); Trần An Phong (1998); vv…
Các công trình nghiên cứu bảo vệ đất đầu tiên được tiến hành từ nhữngthập kỷ 60 của thế kỷ XX, những cơ quan nghiên cứu khoa học tham giatrong lĩnh vực này bao gồm: Viện Nông hoá thổ nhưỡng, trường Đại họcNông nghiệp, trường Đại học Tổng hợp, Đại học Lâm nghiệp, Đại học Sưphạm Hà Nội và một số trung tâm nghiên cứu khác gồm những nhà khoa học
có chuyên môn: Đào Khương; Vũ Hữu Giao (1970); Nguyễn Quang Mỹ(1990); Lê Văn Lanh (1991); Bùi Quang Toản (1996) [21]; Thái Phiên;Nguyễn Tử Siêm (1992); Huỳnh Đức Nhân (1993); Vương Văn Quỳnh(1994); Vi Văn Viện; Lâm Quế Như (1994) tham gia nghiên cứu Tuy nhiên
trong giai đoạn đó, đất nước còn gặp nhiều khó khăn, công tác nghiên cứu bảo
vệ đất trong các hệ canh tác đòi hỏi kinh phí lớn, phương tiện hiện đại Do đókết quả mang lại không được như sự mong đợi của xã hội
Ở Việt Nam, trong tổng số 54 dân tộc, theo số liệu thống kê năm 1989,
tổng số người tham gia vào hoạt động canh tác nương rẫy là 2,9 triệu người
tương đương với 500.000 hộ gia đình, diện tích đất canh tác nương rẫy là 3,5
triệu ha, phân bố chủ yếu ở các vùng núi Duyên Hải miền Trung, vùng núiBắc bộ và Tây Nguyên (Đỗ Đình Sâm, 1994) Trong giai đoạn 1991-1995 hàng
năm có hơn 46 nghìn ha rừng bị mất, trong đó 63,4% là rừng sản xuất, rừng phòng
hộ 35% và 1,6% là rừng đặc dụng (Nguyễn Huy Phồn - Phạm Đức Lân, 1998)
Trên địa bàn Tây Nguyên, năm 1972 trung tâm lâm nghiệp nhiệt đới và nhóm
nghiên cứu Lâm nghiệp xã hội thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
đã tiến hành điều tra nông thôn nhằm thu thập thông tin cơ bản để phục vụ
xây dựng Dự án phát triển lâm, nông, công nghiệp và định canh định cư theo
chương trình 327 tại xã Sơpai huyện Kbang Kết quả điều tra cho thấy thực
trạng đời sống kinh tế của đồng bào dân tộc BaNa ở đây còn gặp rất nhiều
khó khăn, cuộc sống của họ phụ thuộc hoàn toàn vào nương rẫy Kết quả
nghiên cứu được thể hiện qua một số vấn đề:
- Việc sử dụng đất theo hướng phá rừng làm nương rẫy còn phổ biến, đây
là hình thức sử dụng đất hết sức lãng phí, tác động tiêu cực đến tài nguyên
môi trường
Trang 13- Chưa tận dụng hết diện tích ruộng nước, nguyên nhân là thiếu vốn đầu
tư theo hướng thâm canh, nhưng quan trọng hơn cả là chưa có thói quen canhtác lúa nước
- Có ba hình thức tác động của canh tác nương rẫy gây lên sức ép đốivới tài nguyên rừng Một là do rẫy cũ giảm độ phì và cỏ dại phát triển khiến
đồng bào phải phát rẫy mới, nơi được chọn làm rẫy mới là những nơi đất tốt
có những cây gỗ lớn để hạn chế công làm cỏ Thứ hai là do sự gia tăng dân số,
do tình trạng di dân tự do và chính sách đi xây dựng vùng kinh tế mới cho nênnhu cầu sử dụng diện tích đất cho canh tác tăng cao, những người dân mới
đến đã mua lại rẫy của đồng bào địa phương, đồng bào địa phương lại phá
rừng làm rẫy mới và cứ như vậy diện tích rừng bị phá ngày càng tăng Thứ ba
là có hiện tượng một số người Kinh di cư lên vùng này tạm trú và mua rẫy đểcanh tác vài vụ sau đó bán rẫy về quê, hiện tượng này đã vô hình chung đẩy
đồng bào vào sâu trong rừng
Canh tác nương rẫy là nguyên nhân chính dẫn đến mất rừng và hình
thành lên tình trạng đất trống đồi núi trọc Tuy vậy, một số nhà nghiên cứu đã
cho đó là phương pháp hiệu quả để đối phó với thực thể rừng nhiệt đới (Cox
và Atkins, 1976) Trong nhiều trường hợp, canh tác nương rẫy còn có tácdụng trong quá trình diễn thế và tái tạo rừng (Odum, 1971; Bodlley, 1976),
nhưng đây là một hệ canh tác chỉ thích hợp với điều kiện khi mật độ dân số
còn thấp (<50 người/km2) Như vậy, hệ canh tác nương rẫy gắn chặt với rừng
và lấy hệ sinh thái rừng làm cơ sở, nó vừa là nguyên nhân của sự suy giảmrừng, và chính sự suy giảm tài nguyên rừng lại tác động mạnh mẽ đến hệ canh
tác đó Ngày nay với sức ép của sự gia tăng dân số kéo theo nhu cầu về đất thì
hình thức canh tác này không thích hợp và tỏ ra hoàn toàn không có hiệu quả
Hội nghị chuyên đề về đất liền miền núi Đông Nam Á (Rerkasenetal,
1996) đã phát hiện ra một vấn đề là loại hình canh tác rập khuôn của ngườidân vùng cao như những người canh tác du cư là không thực hiện được
Nhiều tộc người thiểu số ở các thôn bản vùng cao của Việt Nam và Vân Nam(Trung Quốc) sử dụng một hệ thống phức hợp ổn định về sản xuất nôngnghiệp kết hợp trồng lúa nước tổng hợp trên các ruộng bậc thang với canh tác
Trang 14nương rẫy trên các diện tích đất dốc sườn đồi Hệ thống nông nghiệp canh tácnương rẫy và canh tác phát đốt cho thấy tính phức tạp, tính đa dạng và tính
thích ứng với các điều kiện kinh tế - xã hội và môi trường của các cộng đồng
dân cư vùng cao Bởi vậy các hệ thống canh tác nông nghiệp vùng cao tạo
thành những phương thức canh tác khác nhau mà canh tác nương rẫy là một
điển hình nổi bật hơn cả, các phương thức canh tác này được các nhóm cộngđồng dân cư tiến hành ở các vùng khác nhau với mức độ thành công khác
nhau cả về mặt kinh tế và môi trường
Menzies (1995) đã ghi nhận trong khi nghiên cứu hiện trường đã đưa rađánh giá mới về tính phức tạp của canh tác nương rẫy, thời gian đáng kể, nănglượng và các nguồn lực khác vẫn được dành để tìm kiếm giải pháp đối với
những trở ngại hoặc những vấn đề của canh tác nương rẫy Hình như quan
điểm đã có từ lâu là canh tác nương rẫy được các dân tộc thiểu số lạc hậu sử
dụng và là một hình thức đầu tiên trong sử dụng đất vẫn còn tồn tại dai dẳng.Thất bại trong việc canh tác nương rẫy là một hình thức hợp pháp trong hệthống sử dụng đất được tồn tại mãi mãi bởi các hệ thống đánh giá đất ở hạngnào ở những nơi có tiến hành canh tác nương rẫy, đất rừng hoặc là đất trống,
đó chính là hình thức canh tác nông lâm kết hợp (Ngân hàng phát triển Châu
Á, 1996) Tuy nhiên các nhà hoạch định chính sách Việt Nam gần đây đã bắt
đầu có sự thừa nhận canh tác nương rẫy là một hình thức canh tác phổ biến
trong sử dụng đất vùng cao Trong một công văn gửi Chính phủ, cựu thủ tướng
Võ Văn Kiệt đã khẳng định canh tác nương rẫy hiện nay được công nhận làmột loại hình sử dụng đất vùng cao (Đỗ Đình Sâm, 1998 - thông tin cá nhân)
Trong khi một số người tiếp tục phê phán canh tác nương rẫy là nguyênnhân chính gây ra mất rừng, thì trong những nghiên cứu gần đây gợi ý là canh
tác nương rẫy có thể dẫn đến mất rừng ít hơn như ta tưởng Theo Đỗ ĐìnhSâm (1994) đã phát hiện ra có khoảng 30% rừng bị tàn phá ở Tây Bắc có thể
là do canh tác nương rẫy, nhưng về thực chất thì điều đó còn ít hơn nhữngđiều mà chúng ta giả thiết Tuy nhiên, canh tác nương rẫy vẫn là nguyên nhân
chính gây ra tình trạng cháy rừng ở Việt Nam hiện nay, vì canh tác nương rẫy
thường gắn với đốt nương, do vậy gây ra tình trạng cháy rừng ở nhiều vùng
có điều kiện thời tiết khô nóng như Tây Nguyên, Tây Bắc, Bắc Trung Bộ…
Trang 15Tóm lại, canh tác nương rẫy (hoặc nói đúng hơn là sự suy thoái hệthống canh tác nương rẫy) ở một chừng mực nào đó là nguyên nhân của sựmất rừng, vì áp lực khác nhau nên buộc nó phải thích ứng với các phươngthức sử dụng đất kém bền vững - trừ khi có đủ thời gian và các điều kiện thíchhợp tạo khả năng cho nó thích ứng (Bass và Morrison, 1990) Thực trạng của
canh tác nương rẫy ở môi trường vùng cao đã bị che khuất bởi những nhận
thức tiêu cực ở một chừng mực nào đó của người dân thực hiện nó Gần đâycác nhà hoạch định chính sách đã thừa nhận canh tác nương rẫy như là mộthình thức hợp pháp trong sử dụng đất, được hoan nghênh và cần được nghiêncứu ở những nơi và trong những điều kiện nào đó mà nó có thể là một cơ sởthích hợp nhằm quản lý đất vùng cao
Chính phủ Việt Nam có mục đích làm giảm sự mất rừng và tăng độ chephủ bằng một số giải pháp:
Hạn chế lấy sản phẩm từ rừng: Thực hiện lệnh đóng cửa rừng, hạn chế
khai thác rừng tự nhiên, Chính phủ đã đóng cửa khai thác tất cả rừng tự nhiên.Trữ lượng rừng của chúng ta ít hơn 40 m3/ha và sẽ mất khoảng 10 năm đểphục hồi (Nguyễn Văn Đẳng, 1998) Chủ yếu là hạn chế khai thác, khối lượng
gỗ lấy ra phục vụ cho các mục đích công nghiệp đã giảm từ hàng triệu m3
trước đây, nay chỉ còn 350 nghìn m3/năm được khai thác từ rừng tự nhiên
Chính phủ Việt Nam cấm khai thác hoàn toàn rừng tự nhiên song không có đủ khả
năng làm như vậy cho đến khi rừng trồng thành thục, thậm chí tổ thành loài hạn
chế sẽ không phản ánh được tính đa dạng và giá trị kinh tế của các loại gỗ truyềnthống Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ hàng năm Chính phủ chỉ cho phép khaithác 350 nghìn m3/năm từ rừng tự nhiên, nhưng khoảng gần 1 triệu m3 đã được
khai thác mà không được quản lý do nhu cầu gỗ nguyên liệu rất cao của Việt Namhiện nay Hàng năm Việt Nam phải nhập một lượng gỗ lên đế gần 3 triệu m3tươngđương khoảng 2,7 tỷ USD (số liệu Đề án trồng rừng nguyên liệu phục vụ sản xuất
chế biến hàng xuất khẩu thực hiện theo chỉ thị số 19 TTg của Chính phủ)
Những hạn chế này đã để lại thách thức về nhu cầu sử dụng sản phẩm
từ rừng, tỷ lệ tiêu thụ gỗ tròn hàng năm tăng 15-20% năm Chính những nhucầu này đã làm tăng nạn khai thác rừng bất hợp pháp dẫn đến nguy cơ mấtrừng ngày càng nghiêm trọng, hiện nay Chính phủ đang tăng cường nhữngbiện pháp hạn chế khai thác để bảo tồn và phát triển vốn rừng hiện có
Trang 16Thực hiện những chương trình trồng rừng trên quy mô lớn: Chính phủ
Việt Nam đã và đang thực hiện những chương trình trồng rừng rộng lớn từ
năm 1976, hàng năm trồng được 150.000 ha, chi phí cho trồng rừng là 3
triệuVND/ha (Nguyễn Văn Đẳng, 1998), từ năm 1998 chúng ta thực hiện
chương trình 661 trồng rừng trên quy mô toàn quốc Trải qua thực hiện giaiđoạn 1998-2005, Dự án đã thu được kết quả nhất định; một số mục tiêu dự ánđạt kết quả chưa cao, tiến độ của dự án chỉ mới thực hiện tốt đối với trồng
rừng phòng hộ, đặc dụng (đạt 63 % nhiệm vụ dự án), trong khi đó trồng rừngsản xuất còn chậm (đạt 34 % nhiệm vụ dự án) Diện tích rừng tự nhiên cóchiều hướng tăng lên nhưng chất lượng rừng còn tăng chậm, diện tích rừngtrồng tăng lên về số lượng nhưng năng suất còn tăng chưa đồng đều (Báo cáotổng kết Dự án 661 giai đoạn 1998 - 2005)
Tái sinh tự nhiên: Một vài nhà khoa học ủng hộ việc sử dụng tái sinh tựnhiên, hỗ trợ hoặc không trái với quan điểm chung của các nhà hoạch định
chính sách, đó là rừng phải được trồng và phát triển một cách triệt để trongđiều kiện có thể Sự thực là có một khả năng to lớn về tái sinh tự nhiên ở một
số vùng, như vùng Sông Đà (Hoà Bình), điều này đảm bảo cung cấp gỗ có chất
lượng tốt hơn (mặc dù các loài cây khác nhau) Trong so sánh phạm vi giới hạn
những cây mọc nhanh sử dụng trong trồng rừng cho thấy các loài cây bản địa đòihỏi giá trị đầu tư cao hơn so với những cây ngoại lai, do vậy biện pháp tái sinh tựnhiên là phương án được lựa chọn đầu tiên cho công tác phục hồi phát triển rừng
Giao đất cho các hộ gia đình: Điều này đã và đang được thực hiện có
hiệu quả nhằm tăng khả năng mở rộng canh tác nông nghiệp thông qua việc
đo vẽ và giao đất canh tác nông nghiệp (mà nó đã được hoàn tất đối với đất
nông nghiệp vùng thấp), đồng thời nâng độ che phủ của rừng thông qua việctrồng và bảo vệ đất rừng đã giao Giao đất đang được thực hiện với mục tiêu
là “tất cả đất đai đều có người sử dụng”.
Như vậy, ta thấy bảo vệ phát triển Lâm nghiệp và phát triển kinh tếtheo hướng bền vững trên đất dốc, đất trống đồi núi trọc là những vấn đề songhành, đan xen với nhau Giải quyết một vấn đề sẽ góp phần tháo gỡ được
những vấn đề khác Do vậy đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên đất trống đồi núi trọc tại xã Thải Giàng Phố - huyện Bắc Hà - tỉnh Lào Cai” góp phần đưa ra một số giải pháp cần
thiết nhằm giúp người dân thực hiện canh tác nông lâm nghiệp có hiệu quảtrên diện tích đất trống đồi núi trọc
Trang 17CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU - ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI
2.1 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1.1 Về mặt lý luận
- Xác định rõ được cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn cho việc sử dụng
hiệu quả tài nguyên đất trống đồi núi trọc tại địa phương
- Nghiên cứu đánh giá vai trò của cấp xã trong việc quản lý và sử dụng
nguồn tài nguyên đất trống đồi núi trọc Vận dụng phương pháp QHSDĐ có
sự tham gia của người dân cho việc quy hoạch sử dụng đất trống đồi núi trọctại địa phương
2.1.2 Về mặt thực tiễn
- Trên cơ sở phân tích các mô hình kinh tế, phân tích tiềm năng của tài
nguyên đất trống trên địa bàn xã, xác định tiềm năng của tài nguyên đất trốngđồi núi trọc, từ đó có thể đưa ra những phương án sử dụng nguồn tài nguyên
này có hiệu quả nhất
- Giúp người dân hiểu và đánh giá được hiệu quả kinh tế của một số mô
hình canh tác các loại cây trồng nông lâm nghiệp, trên cơ sở đó lựa chọn sửdụng hiệu quả diện tích đất trống đồi núi trọc hiện có
2.2 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Toàn bộ diện tích đất canh tác nương rẫy (cố định và không cố định),diện tích đất trống đồi núi trọc (đất IA, IB, IC) hiện có trên địa bàn xã
Địa điểm nghiên cứu là xã Thải Giàng Phố - huyện Bắc Hà - tỉnh Lào Cai
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Nghiên cứu một số cơ sở pháp lý và thực tiễn cho việc sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên đất trống đồi núi trọc
- QHSDĐ cấp vi mô có sự tham gia của người dân.
- QHSDĐ cấp vi mô theo quan điểm bền vững.
- QHSDĐ cấp vi mô trong nền kinh tế thị trường.
2.3.2 Tìm hiểu vai trò của cấp xã trong công tác quản lý nguồn tài
nguyên đất trống đồi núi trọc tại địa phương
- Vị trí và chức năng của cấp xã trong việc quản lý cũng như công tác
quy hoạch sử dụng tài nguyên đất trống đồi núi trọc
Trang 18- Tìm hiểu cơ sở và những căn cứ pháp lý cho việc sử dụng hiệu quả tài
nguyên đất trống đồi núi trọc trên địa bàn xã
2.3.3 Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc quy hoạch sử dụng diện
tích đất trống đồi núi trọc xã Thải Giàng Phố - huyện Bắc Hà - tỉnh Lào Cai
- Thu thập thông tin từ các mô hình hiện đang canh tác trong xã.
- Phân tích hiệu quả kinh tế của các mô hình canh tác hiện có tại xã.
- Đề xuất các mô hình canh tác nên được sử dụng cho quy hoạch phát
triển sử dụng diện tích đất trống đồi núi trọc tại xã Thải Giàng Phố-huyện BắcHà- tỉnh Lào Cai
2.3.4 Đề xuất phương án quy hoạch diện tích đất trống đồi núi trọc
xã Thải Giàng Phố - huyện Bắc Hà - tỉnh Lào Cai
2.3.4.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội
1 Điều kiện tự nhiên của xã Thải Giàng Phố
2 Điều kiện dân sinh kinh tế xã hội của xã Thải Giàng Phố
3 Đánh giá hiện trạng sử dụng tài nguyên đất trống đồi núi trọc
4 Đánh giá hiệu quả của một số mô hình canh tác trên địa bàn xã
5 Quy hoạch phát triển sản xuất lâm nông nghiệp trên diện tích đấttrống đồi núi trọc
2.3.4.2 Dự báo nhu cầu tiêu dùng, sử dụng, thị trường trong và ngoài
địa phương
2.3.4.3 Đề xuất phương án quy hoạch phát triển sản xuất lâm nông nghiệp trên diện tích đất trống đồi núi trọc
- Lập kế hoạch sản xuất Lâm nông nghiệp.
- Xác định cơ cấu cây trồng vật nuôi.
- Tiến độ thực hiện phương án.
2.3.4.4 Ước tính vốn đầu tư và nguồn vốn và tiến độ thực hiện phương
án sản xuất trong thời gian 10 năm
2.3.4.5 Dự đoán hiệu quả sau khi thực hiện quy hoạch
1 Dự đoán hiệu quả kinh tế của một số loại cây trồng vật nuôi trên diện
tích đất trống đồi núi trọc đã được quy hoạch trong thời gian 10 năm
2 Dự đoán hiệu quả môi trường
Trang 193 Dự đoán hiệu quả xã hội.
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu
2.4.1.1 Thu thập số liệu về một số cơ sở lý luận và thực tiễn về QHSDĐ cấp vi mô
Sử dụng phương pháp kế thừa có chọn lọc: thu thập các tài liệu nghiêncứu có liên quan tới lý luận và kết quả thực tiễn của QHSDĐ cấp vi mô củacác tác giả trong và ngoài nước
2.4.1.2 Thu thập số liệu về điều kiện dân sinh, kinh tế, xã hội của địa phương
- Tài liệu về địa lý, đất đai, thổ nhưỡng
- Tài liệu về khí hậu, thủy văn
- Các tài liệu, bản đồ, thuyết minh chuyên ngành của xã
- Tài liệu về dân sinh KTXH
- Những tài liệu về lĩnh vực nông - lâm nghiệp
+ Phân loại rừng và các loại đất đai khác
+ Bản đồ quy hoạch huyện (tỷ lệ 1/25000), bản đồ hiện trạng sử dụng
đất (tỷ lệ 1/25000), bản đồ giao đất, giao rừng (tỷ lệ 1/25000),
2.4.1.3 Thu thập thông tin từ các mô hình canh tác sử dụng ĐTĐNT trong vùng.
- Sử dụng Phương pháp phòng vấn hộ,
- Điều tra giá cả ngoài thị trường
- Điều tra mức đầu tư, thu nhập từ các hộ có mô hình
2.4.1.4 Lập kế hoạch cho việc sử dụng tài nguyên đất trống đồi núi trọc
Trình tự các bước tiến hành:
* Bước 1: Tìm hiểu khái quát tình hình chung của xã
Tiến hành gặp mặt, trao đổi với Ban lãnh đạo xã, các trưởng thôn bản nhằm:
- Trình bày mục đích, yêu cầu của phương án
- Tìm hiểu khái quát tình hình của xã và từng thôn, bản về các mặt:
+ Diện tích:
* Tổng diện tích đất tự nhiên
* Đất nông nghiệp
* Đất lâm nghiệp có rừng
Trang 20+ Sản xuất nông nghiệp:
* Ruộng lúa 2 vụ (quy mô, năng suất, sản lượng)
* Ruộng lúa 1 vụ (quy mô, năng suất, sản lượng)
* Nương rẫy không cố định
* Mặt nước ao hồ và tình hình sử dụng
* Đồng cỏ, bãi chăn thả
* Đàn gia súc
* Tổng sản lượng quy thóc, cân đối: thừa - thiếu
+ Sản xuất lâm nghiệp:
* Trồng rừng (diện tích, loài cây, chất lượng)
* Khoanh nuôi bảo vệ (diện tích, biện pháp kỹ thuật, triển vọng)
* Khai thác, chế biến lâm sản (loại lâm sản, ước tính/năm)
* Các dự án, chính sách nông, lâm nghiệp dã thực hiện tại địa phương.+ Sản xuất NLKH:
* Các mô hình đã được áp dụng tại địa phương
* Cơ cấu cây trồng trên các mô hình đó
* Cây công nghiệp, cây đặc sản (loài cây, năng suất, triển vọng, )
* Những thuận lợi và khó khăn chính hiện nay của địa phương
* Những nhu cầu cơ bản về hướng giải quyết theo thứ tự ưu tiên
* Đề xuất lựa chọn người cung cấp thông tin
* Thống nhất lịch báo cáo kết quả điều tra và dự kiến quy hoạch
* Bước 2: Khảo sát nắm tình hình chung của xã.
Sau khi đã có một số thông tin ban đầu do chủ tịch UBND xã, trưởng thôn
cung cấp, tiến hành khảo sát nhằm quan sát bổ sung và kiểm tra lại những thông
Trang 21tin đã được cung cấp, thu thập thêm một số thông tin mới Những số liệu thuđược trong quá trình khảo sát được ghi chép để chuẩn bị cho bước phỏng vấn và
thảo luận với những người cung cấp thông tin hay các HGĐ
Một số điểm cần lưu ý quan sát và tìm hiểu trong bước 2:
- Nắm được khái quát về phạm vi, ranh giới và đặc điểm địa hình của xã
- Quan sát các loại hình canh tác chủ yếu, các loài cây trồng, vật nuôi
- Tìm hiểu các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của cộng đồng dân cư tại xã
* Bước 3: Lập sơ đồ hiện trạng của từng thôn trong xã.
Sơ đồ hiện trạng thôn thường do người dân tự xây dựng bằng trí nhớ và
những hiểu biết của mình qua quá trình sinh sống và làm việc lâu dài tại thôn.Kết hợp phác thảo những chi tiết mà mình nhận biết được thông qua khảo sát,tài liệu, bản đồ có sẵn, thông qua những người cung cấp thông tin Sơ đồ hiệntrạng thôn cần được bổ sung chi tiết các vấn đề:
- Về mặt xã hội:
+ Phân bố các HGĐ trong thôn
+ Phân chia hành chính
+ Vị trí các công trình thuỷ lợi
+ Hệ thống đường sá đã có hoặc cần mở mang thêm
- Về mặt hiện trạng sử dụng đất:
+ Khu vực nhà ở và vườn nhà
+ Phạm vi ranh giới đất nông nghiệp
+ Phạm vi ranh giới đất lâm nghiệp
+ Phạm vi ranh giới đất trống chưa sử dụng
+ Ranh giới 3 loại đất, loại rừng
* Bước 4: Đi lát cắt thôn.
- Cách thức tiến hành: Trước hết người hướng dẫn làm rõ mục đích củaviệc xây dựng lát cắt thôn, đồng thời cùng người cung cấp thông tin thamkhảo bản đồ hiện trạng sử dụng đất, sau đó tiến hành đi thực địa xem xét,nghiên cứu từng thực địa Ghi chép những đặc điểm địa hình, hiện trạng sửdụng đất, những vấn đề và giải pháp có thể, cũng như những ý kiến về sửdụng và quản lý trong tương lai Sau đó người dân thẩm định lại các thông tin
Trang 22thu thập được từ các mặt cắt khác nhau để vẽ sơ đồ Mỗi loại đất nông - lâmnghiệp cần đưa ra thông tin:
+ Phía trên: Số liệu (vẽ) mô tả hiện trạng sử dụng của mỗi thực địa
+ Phía dưới: Những thông tin được trình bày theo cách lập biểu, sẽ là dữ
liệu về lựa chọn cho hiện tại và tương lai đối với loại đất đó, cũng như cả khó
khăn và giải pháp
* Bước 5: Phân loại cây trồng, vật nuôi.
Hướng dẫn viên hỏi người dân các loài cây mà dân thích trồng trên đất
của mình (có thể hướng dẫn người dân lập bảng so sánh theo phương pháp ôvuông La tinh) Trong bảng liệt kê tên các loài cây trên biểu theo các cột, sau
đó người dân đưa ra các tiêu chuẩn đánh giá tại sao lại thích loài cây đó? Khi
có được danh sách các loài cây, người hướng dẫn có thể đưa thêm một số tiêu
chuẩn mang tính chất gợi mở mà dân chưa đề cập tới, như:
- Phù hợp với khí hậu và đất đai
- Dễ kiếm hạt và cây con
- Dễ trồng
- Ít sâu bệnh
- Có giá trị về kinh tế
- Có giá trị bảo vệ môi trường
* Bước 6: Phân tích lịch mùa vụ.
- Lịch mùa vụ cũng được chính người dân sống trong cộng đồng phân
tích, thông qua đó người dân xác định được biểu đồ lịch mùa vụ
- Biểu đồ lịch mùa vụ gồm trục thời gian được mô tả 12 tháng trong
năm theo âm lịch
+ Biểu đồ lịch thời gian được người dân mô tả các nhân tố chủ yếu củathời tiết, khí hậu như: Lượng mưa, độ nóng theo tháng, bằng phương pháp sosánh giữa các tháng nông dân dễ dàng thống nhất đánh giá các yếu tố khí hậu,thời tiết
+ Phần dưới mục thời gian được người dân mô tả các nhân tố mà họ
quan tâm như: Lịch gieo trồng của các loài cây chính, các hoạt động sản xuất
nông - lâm nghiệp, lịch sử dụng lao động, lịch thu nhập và chi tiêu, lịch sâuhại, bệnh tật, Người dân phân tích từng nhân tố theo kinh nghiệm nhiều đời
họ dễ dàng đưa ra lịch mùa vụ thực tế tại thôn, bản, xã mình
* Bước 7: Thẩm định lại các vấn đề, giải pháp và xếp loại mục tiêu quản lý.
Trước hết cả nhóm đưa ra một danh sách cụ thể về những vấn đề và giải
pháp có thể (có sự nhất trí của người dân) Sau đó các chuyên gia kỹ thuật và
Trang 23cán bộ phổ cập có thể bổ sung thêm những giải pháp khác và thảo luận tínhkhả thi những giải pháp kỹ thuật này Sau khi xem xét lại các vấn đề và giải
pháp khác nhau, người hỗ trợ sẽ đặt ra câu hỏi để giúp đỡ người dân thấy rõ
các mục tiêu quản lý sau khi người dân đã đưa ra những ý kiến của mình Cán
bộ phổ cập sẽ trình bày những ý kiến của họ và giải thích nếu cần thiết Sau
đó người dân cần xem xét những ý kiến khác nhau và lựa chọn những mục
tiêu quản lý nào họ muốn đạt được
* Bước 8: Lập kế hoạch, quy hoạch phát triển lâm nông nghiệp cho tương lai.
Những người hỗ trợ giải thích rõ kế hoạch hành động Có thể sử dụngmột biểu đơn giản với những cột ghi rõ cái gì? khi nào? ai? Và những nguồncung cấp Sau đó nhóm thảo luận sẽ hoàn thành bảng này bằng cách sắp xếpmỗi hoạt động vào một dòng khác nhau và định rõ hoạt động đó sẽ được thựchiện bằng cách nào?
- Khi lập kế hoạch hành động xong, cán bộ phổ cập sẽ giải thích rõ mục
đích của việc lập sơ đồ quy hoạch, sau đó người dân sẽ tự vẽ Nếu cần, cán bộ
phổ cập có thể giúp đóng vai trò như những người trợ giúp, đặt ra một số câuhỏi cho người dân để giúp họ nghĩ đến những hoạt động về lập kế hoạch khácnhau có thể có sau này Trước tiên người dân có thể kẻ ranh giới, đường giaothông, sông, suối và hệ thống cơ sở hạ tầng mà sẽ được giữ nguyên như trong
sơ đồ hiện trạng sử dụng đất Sau đó người dân sẽ có yêu cầu: Diện tích đất
trống đồi núi trọc, đất nương rẫy ở đâu sẽ được phát triển lâm nông nghiệp
trong tương lai Họ sẽ xem xét những mục tiêu phát triển, các mô hình lâm
nghiệp và các loài cây mà người dân đã lựa chọn
2.4.2 Phương pháp tổng hợp, phân tích số liệu và đánh giá hiệu quả sau
khi thực hiện quy hoạch
2.4.2.1 Phương pháp tổng hợp, phân tích số liệu
Trên cơ sở tài liệu, số liệu đã khảo sát ở các bước thu thập, tiến hànhchỉnh lý, tổng hợp và phân tích các mặt:
- Thống kê số liệu hiện trạng sử dụng đất, phân loại cây trồng, vật nuôi
- Diễn biến tài nguyên rừng, kinh tế hộ và hệ thống tổ chức quản lý thôn
- Rút ra những khó khăn, thuận lợi
- Đề xuất các giải pháp
Trang 242.4.2.2 Phương pháp đánh giá hiệu quả sau khi thực hiện kế hoạch
1) Phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế
Sử dụng 2 phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế, với sự trợ giúp của
máy vi tính chương trình Excel
(2 - 2)
- Hiệu quả vốn đầu tư: PV = 100
V
Pdt
(2 - 3)
Trong đó: P: là tổng lợi nhuận trong 1 năm
TN: là tổng thu thập trong 1 năm
CP: là tổng chi phí sản xuất kinh doanh trong 1 năm
Vdt: là tổng vốn đầu tư trong 1 năm
* Phương pháp động
Coi các yếu tố về chi phí và thu nhập trong mối quan hệ động với mục
tiêu đầu tư, thời gian và giá trị đồng tiền Các chỉ tiêu kinh tế được tập hợp và
Tổng số doanh thu - Thuế
Tổng số vốn SXKD Tổng số doanh thu - Thuế
Diện tích dùng vào SXKD
Trang 25tính toán bằng các hàm: NPV, BCR, BPV, CPV, IRR, trong phần mềm xử lý sốliệu Excel 7.0.
Các tiêu chuẩn:
- Giá trị hiện tại thuần tuý NPV (Net Present Value): NPV là hiệu số giữa
giá trị thu nhập và chi phí thực hiện các hoạt động sản xuất trong các mô hình
khi đã tính chiết khấu để quy về thời điểm hiện tại
CB
(2 - 6)
Trong đó:
NPV: Là giá trị hiện tại thu nhập ròng (đồng)
Bt : Là giá trị thu nhập ở năm t (đồng)
Ct: Là giá trị chi phí ở năm t (đồng)
i: Là tỷ lệ chiết khấu hay lãi suất (%)
t: Là thời gian thực hiện các hoạt động sản xuất (năm)
NPV dùng để đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình kinh tế hay cácphương thức canh tác NPV càng lớn thì hiệu quả càng cao
- Tỷ lệ thu hồi nội bộ IRR (Internal Rate of Return): IRR là chỉ tiêu đánh giá
khả năng thu hồi vốn đầu tư có kể đến yếu tố thời gian thông qua tính chiết khấu.IRR chính là tỷ lệ chiết khấu khi tỷ lệ này làm cho NPV = 0, tức là khi:
CB
)i1(C
)i1(B
n
1 i
t t
n
1 i
t t
Trang 26Trong đó: BCR là tỷ suất thu nhập và chi phí (đồng/đồng)
BPV là giá trị hiện tại của thu nhập (đồng)CPV là giá trị hiện tại của chi phí (đồng)Nếu mô hình nào hoặc phương thức canh tác nào có BCR > 1 thì có hiệuquả kinh tế BCR càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao Ngược lại BCR < 1thì kinh doanh không có hiệu quả
2) Phương pháp tính hiệu quả tổng hợp
Hiệu quả tổng hợp của các phương thức canh tác có nghĩa là một phương thứccanh tác phải có hiệu quả kinh tế nhất, mức độ chấp nhận xã hội cao nhất (hiệu quả
xã hội) và góp phần gìn giữ bảo vệ môi trường sinh thái (hiệu quả sinh thái)
Áp dụng phương pháp tính chỉ số hiệu quả tổng hợp các phương thứccanh tác (Ect) của W.Rola (1994)
fhoặc
max n
1
min
f
f
fn
f : Là các đại lượng tham gia vào tính toán (NPV, CPV, IRR, )
n : Là số đại lượng tham gia vào tính toán
2.5 Giới hạn của đề tài
- Đề tài nghiên cứu cơ sở khoa học bao gồm cơ sở lý luận và cơ sở thực
tiễn để sử dụng hiệu quả tài nguyên đất trống đồi núi trọc trên địa bàn xã ThảiGiàng Phố
- Tìm hiểu vị trí và chức năng của cấp xã trong việc quản lý tài nguyên đất
trống đồi núi trọc chỉ dừng lại ở mức độ tìm hiểu cơ sở và các căn cứ pháp lý
- Vận dụng phương pháp QHSDĐ có sự tham gia để tiến hành quy
hoạch nguồn tài nguyên đất trống đồi núi trọc trên địa bàn xã
- Đánh giá hiệu quả tổng hợp trên 3 mặt, tuy nhiên chỉ đi sâu vào đánh
giá hiệu quả kinh tế, còn hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường sinh thái chỉdùng lại ở mức độ mô tả
Trang 27CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Nghiên cứu một số cơ sở pháp lý và thực tiễn cho việc sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên đất trống đồi núi trọc
QHSDĐ là cơ sở quan trọng cho việc sử dụng có hiệu quả nguồn tàinguyên đất trống đồi núi trọc, do vậy để đảm bảo tính hiệu quả và bền vững
thì QHSDĐ phải được hình thành trên cơ sở lý luận và thực tiễn Việc sửdụng có hiệu quả nguồn tài nguyên đất trống đồi núi trọc là một bộ phận quantrọng của nội dung QHSDĐ, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của
xã Thải Giàmg Phố
3.1.1 QHSDĐ cấp vi mô trong hệ thống QHSDĐ ở nước ta hiện nay
Lý thuyết hệ thống được L.Vonbertallanfy khởi xướng vào năm 1923
đã giúp cho việc hiểu biết và giải thích các sự vật hiện tượng trong mối quan
hệ qua lại, có thể coi là cơ sở để giải quyết các vấn đề phức tạp và tổng hợp
Hệ thống được định nghĩa như là một “tổng thể có trật tự của các yếu
tố khác nhau có quan hệ và tác động qua lại” Như vậy hệ thống có thể được
xác định như là “một tập hợp các đối tượng hoặc các thuộc tính, được liên kết
bằng nhiều mối tương tác” [29] Một cách khác, hệ thống được hiểu như là
“Một cơ cấu hoàn chỉnh gồm nhiều bộ phận chức năng tạo nên một cách có
tổ chức và trật tự, tồn tại và hoạt động theo những qui luật thống nhất, tạo lên một chất lượng mới không giống tính chất của từng yếu tố hợp thành, và cũng không phải con số cộng của những bộ phận đó” [10].
Từ những quan niệm đó có thể thấy rõ 2 đặc trưng cơ bản của hệ thống là:
- Gồm nhiều thành phần hợp thành, có mối quan hệ tương tác hữu cơ vàrất phức tạp
- Cấu thành một chỉnh thể có tính độc lập ở mức độ nhất định và có thểphân biệt với môi trường hoặc hệ thống khác
Tất cả những thành phần ở bên ngoài hệ thống được coi là môi trườngcủa hệ thống và giữa chúng có mối quan hệ tương tác
Quan điểm hệ thống là sự khám phá đặc điểm của hệ thống đối tượng
bằng nghiên cứu bản chất và đặc tính của các mối tác động qua lại giữa cácyếu tố Do đó tiếp cận hệ thống là con đường nghiên cứu và xử lý đối với cácphức hệ có tổ chức theo quan điểm sau đây:
Trang 28- Không chỉ nghiên cứu riêng rẽ các phần tử mà trong mối quan hệ vớicác phần tử khác cần chú ý tới thuộc tính mới xuất hiện.
- Nghiên cứu hệ thống trong mối tương tác với môi trường của nó
- Xác định rõ cấu trúc (thứ bậc) của hệ thống đang nghiên cứu
- Các hệ thống thường là hệ thống hữu ích, hoạt động của nó có thể
điều khiển được để đạt tới mục tiêu đã định, do đó cần kết hợp nhiều mục tiêu
- Kết hợp cấu trúc và hành vi của hệ thống vì hành vi phụ thuộc một
cách tái định hoặc ngẫu nhiên vào cấu trúc
- Nghiên cứu hệ thống trên nhiều góc độ do tính đa cấu trúc phức tạpcủa hệ thống
Quan điểm hệ thống được nhiều nhà khoa học tiếp cận trong nghiên
cứu tự nhiên, KTXH nhằm thúc đẩy sự phát triển của xã hội loài người.Trong nghiên cứu về lĩnh vực nông lâm nghiệp, đề xuất khái niệm hệ thốngnông trại, hay hệ thống canh tác, trên cơ sở coi đầu vào và đầu ra của nôngtrại là một tổng thể nghiên cứu độ màu mỡ của đất Grigg (1977) đã sử dụngkhái niệm hệ thống nông nghiệp để phân kiểu nông nghiệp và nghiên cứu sựtiến hoá của chúng
- Hệ thống QHSDĐ của Việt Nam bao gồm: Cấp quốc gia, cấp tỉnh,cấp huyện (gọi chung là cấp vĩ mô), cấp xã, cấp thôn, bản và cấp HGĐ (gọichung là cấp vi mô) Ngoài ra, trong QHSDĐ cấp vĩ mô còn có QHSDĐ cho
các đơn vị kinh doanh, các khu rừng đặc dụng, khu phòng hộ, Trong phạm
vi giới hạn của đề tài, chỉ xin giới thiệu QHSDĐ theo đơn vị quản lý lãnh thổ
a) Đối tượng và nội dung của QHSDĐ cấp vĩ mô
Cấp vĩ mô là cấp có tầm lớn, bao quát có tính chất liên ngành Trong
QHSDĐ nó là cấp định hướng thống nhất cho các cấp QHSDĐ thấp hơn Vềđối tượng QHSDĐ cấp vĩ mô bao gồm: Cấp quốc gia, cấp tỉnh và cấp huyện
* Cấp quốc gia: Nhìn chung QHSDĐ cấp quốc gia đề cập tới những nội
dung sau đây:
- Nghiên cứu chiến lược ổn định và phát triển KTXH làm cơ sở xác định
phương hướng, nhiệm vụ phát triển lâm nông nghiệp trong phạm vi toàn quốc
Trang 29- QHSDĐ cho các ngành và theo các vùng trong toàn quốc.
- Điều chỉnh việc quy hoạch đất đai cho phù hợp với từng giai đoạn pháttriển KTXH của cả nước
* Cấp tỉnh
- Nghiên cứu phương hướng, nhiệm vụ phát triển của tỉnh và căn cứ vàoquy hoạch sử dụng đất toàn quốc xác định phương hướng, nhiệm vụ phát triểnnông - lâm nghiệp và các ngành trong phạm vi tỉnh
- Quy hoạch sử dụng đất cho các ngành các vùng trong tỉnh
- Điều chỉnh việc khoanh định (quy hoạch) nói trên cho phù hợp vớitừng giai đoạn phát triển KTXH của tỉnh
* Cấp huyện
- Nghiên cứu phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế của huyện và
căn cứ vào QHSDĐ cấp tỉnh để xác định phương hướng, nhiệm vụ phát triển
lâm nông nghiệp và các ngành trong phạm vi huyện
- Quy hoạch các loại đất đai (3 loại đất) cho các ngành, các tiểu vùngtrong huyện
- Điều chỉnh việc quy hoạch nói trên cho phù hợp với từng giai đoạnphát triển KTXH của huyện
b) Đối tượng và nội dung QHSDĐ cấp vi mô
Ngược lại với cấp vĩ mô, cấp vi mô là cấp thấp hơn, cấp cơ sở, gồm cấp
xã, cấp thôn bản và HGĐ
* Cấp xã: Căn cứ vào dự án phát triển KTXH của xã, vào QHSDĐ của
huyện và điều kiện cơ bản có liên quan đến phát triển lâm nông nghiệp xã,
xác định phương hướng, nhiệm vụ phát triển lâm nông nghiệp cho xã và tiếnhành QHSDĐ đai trong xã, đồng thời xác định rõ mối quan hệ giữa các ngành
sử dụng đất đai
* Cấp thôn bản: Căn cứ vào QHSDĐ cấp xã và điều kiện cụ thể về tự
nhiên, KTXH của thôn, bản tiến hành QHSDĐ lâm nông nghiệp cho thôn, bản
theo phương pháp cùng tham gia
Như vậy, nội dung của QHSDĐ các cấp được đề cập là tương tự, nhưng
mức độ giải quyết theo chiều sâu, chiều rộng các nội dung có khác nhau theocác cấp bậc QHSDĐ Phạm vi đề cập của các nội dung trong QHSDĐ cấp vĩ
Trang 30mô, có tính chất định hướng, nguyên tắc và luôn gắn với ý đồ phát triển kinh tếcủa các cấp quản lý lãnh thổ Cấp xã, cấp thôn bản là các đơn vị cấp thấp, trong
đó xã được coi là đơn vị cơ bản quản lý và tổ chức SXNLN của thành phần
kinh tế tập thể và tư nhân Cấp thôn bản tuy không phải là cấp quản lý hành
chính nhưng nó có vị trí hết sức quan trọng trong việc ổn định xã hội và phát
triển kinh tế trên địa bàn NTMN với tổ chức cộng đồng cao Nên trong côngtác QHSDĐ cấp xã và thôn bản yêu cầu giải quyết các nội dung, biện pháp kỹthuật, KTXH và cần tính được cả vốn đầu tư, nguồn vốn, hiệu quả, thời gianthu hồi vốn một cách cụ thể hơn
* Thực tiễn QHSDĐ ở Việt Nam trong thời gian qua đã tiến hành ở các cấp
- Quy hoạch phát triển ngành (nông nghiệp, lâm nghiệp)
- Quy hoạch các vùng lãnh thổ (gồm nhiều tỉnh)
- Quy hoạch tổng thể (quy hoạch phát triển KTXH) cả nước, cấp tỉnh vàcấp huyện (quy hoạch cấp xã trước đây có làm nhưng rất ít và chưa rõ ràng) [3]
Căn cứ vào định hướng phát triển của các ngành, các địa phương triển
khai thống nhất công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai từ cấp tỉnhxuống cấp huyện, cấp xã, cấp thôn bản và HGĐ
3.1.2 QHSDĐ cấp vi mô có sự tham gia của người dân
Phát triển nông thôn thường là những ưu tiên quốc gia hàng đầu của các
nước Châu Á, trong đó có Việt Nam Tuy nhiên trong các hoạt động phát triển
nông thôn hiện nay, vẫn tồn tại quá trình đánh giá, tiếp cận nông thôn mộtchiều, thiếu sự tham gia của người dân Vì vậy việc thay đổi phương pháp tiếpcận nông thôn (từ trên xuống) bằng phương pháp tiếp cận mới, phương pháptiếp cận có sự tham gia của người dân (từ dưới lên) là hết sức cần thiết
3.1.2.1 Phương pháp tiếp cận có sự tham gia của người dân
- Khái niệm: Phương pháp tiếp cận có sự tham gia của người dân là phương pháp có khả năng khuyến khích, nâng đỡ và củng cố mọi khả năng
hiện có của cộng đồng để họ xác định chính xác yêu cầu của họ, đề ra các mục tiêu rồi kiểm tra và đánh giá chúng
Các phương pháp đánh giá nông thôn được áp dụng ở Việt Nam, chủ yếu
là các phương pháp đánh giá nông thôn có người dân tham gia, gồm phương
Trang 31pháp RRA và PRA Trong phạm vi giới hạn của đề tài, chỉ xin giới thiệu về
phương pháp PRA
* Phương pháp PRA
Định nghĩa: "PRA là phương pháp tiếp cận và cũng là phương pháp học
hỏi cùng với người dân, từ người dân và bằng người dân về đời sống và điều kiện nông thôn" [23], [11].
Định nghĩa PRA được Robert Chamechers (1994) mở rộng
"Một loạt các phương pháp tiếp cận và phương pháp cho phép người
dân nông thôn cùng chia sẻ, nâng cao và phân tích kiến thức của họ về đời sống và điều kiện nông thôn để lập kế hoạch và hành động" [23].
Như vậy PRA cho phép cán bộ hiện trường:
- Học hỏi từ người dân, cùng người dân và bằng người dân
- Là người thúc đẩy để giúp người dân địa phương tự phân tích, lập kếhoạch và hành động
* Đặc điểm của PRA:
Theo Robert Chambers (1994) [23], PRA có các đặc điểm chủ chốt sau:
- Xây dựng kiến thức và năng lực của người dân
- Quan hệ hài hoà giữa người dân bên ngoài cộng đồng và người sốngtrong cộng đồng
- Biểu đồ hoá
- Sự nối tiếp và phối hợp
- Đào tạo và định hướng lại cho người bên ngoài cộng đồng
* Nguyên tắc của PRA:
- Trực quan/lập biểu đồ
- Phỏng vấn bán định hướng
- Thảo luận nhóm
- Giao công việc
- Kiểm tra chéo
- Sai số thích hợp
- Thái độ xin lỗi
- Sống trong cộng đồng
Trang 32* Các loại PRA:
- PRA thăm dò
- PRA chủ đề
* Các điều kiện để thực hiện PRA
- Cơ chế, chính sách của Chính phủ và địa phương cho phép sử dụng
phương pháp có sự tham gia của người dân
- Các thành viên trong nhóm PRA phải hiểu biết lẫn nhau, cảm nhậnthoải mái và thân thiện
- Các thành viên trong nhóm PRA gặp gỡ người dân, tạo mối quan hệ qualại để có thể hoà nhập, học hỏi về phong tục, văn hoá, cách sống và thói quen
- Cần làm rõ và giải thích rõ cho người dân: cái gì sẽ xảy ra với kết quả
thu lượm được sau đợt PRA dưới thôn, bản?
* Các yêu cầu sau đây cần phải được bảo đảm trước khi thực hiện một cuộc PRA
- Phân tích các yêu cầu có sẵn của xã, thôn, bản
- Tiến hành tổ chức đào tạo/huấn luyện PRA cho cán bộ thực hiện PRA
và những nông dân chủ chốt của thôn, bản
- Thành lập tổ PRA bao gồm cán bộ PRA và cộng tác viên chính của xã,thôn, bản
3.1.2.2 QHSDĐ có sự tham gia của người dân
QHSDĐ có sự tham gia của người dân xuất hiện ở Việt Nam cùng với
việc chuyển hướng tổ chức sản xuất trong ngành lâm nghiệp từ một nền lâmnghiệp Nhà nước sang đẩy mạnh phát triển LNXH, phát triển sản xuất theo
hướng thị trường, đa dạng hoá ngành nghề, đa thành phần kinh tế
Trong LNXH, người dân giữ vai trò trung tâm, họ vừa là đối tượng, mục
tiêu, vừa là nhân tố hành động
- Xét về phạm vi và hình thức hoạt động, LNXH hoạt động trong phạm
vi không gian xã hội với những hình thức như: HGĐ (nhóm hộ), cộng đồnglàng, bản, hay hoạt động lâm nghiệp quần chúng
- Xét về mục tiêu, LNXH là một chương trình hay chiến lược phát triển
NTMN, trong đó mọi hoạt động nhằm huy động người dân vào làm lâm
nghiệp, họ cùng gánh vác trách nhiệm và được hưởng lợi trực tiếp từ chính sự
Trang 33cố gắng của họ Như vậy xét cho đến cùng, mục tiêu phát triển LNXH là vìlợi ích của cộng đồng.
- Xét về nội dung hoạt động, LNXH không chỉ có hoạt động lâm nghiệp
mà còn có liên quan đến hoạt động của các ngành kinh tế, các hoạt động vănhoá, giáo dục, y tế nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người dân cả vềvật chất, văn hoá, tinh thần Ngay trong lĩnh vực hoạt động lâm nghiệp trongLNXH, cũng không chỉ có bảo vệ, trồng cây gây rừng, khai thác tài nguyênrừng mà còn sơ chế hoặc chế biến nông, lâm sản ở quy mô HGĐ, làng bản, đểtạo ra sản phẩm hàng hoá [12]
Vì vậy, QHSDĐ và phát triển sản xuất trong LNXH phải do chính ngườidân trực tiếp tham gia thì mới có tính khả thi cao và mang lại hiệu quả thiếtthực Cán bộ (người hướng dẫn) chỉ đóng vai trò cố vấn hướng dẫn thực hiện
Như vậy, trong QHSDĐ có người dân tham gia - mục tiêu được người dânđịa phương xác định, có thể linh hoạt điều chỉnh tuỳ theo điều kiện tình hình củađịa phương, người dân được khuyến khích và coi việc QHSDĐ là nhiệm vụ của
chính họ Họ sẵn sàng, tự giác và chủ động trong việc tham gia thực hiện
Nhược điểm của phương pháp là khó phù hợp với quy hoạch ở cấp caohơn và nỗ lực của người dân địa phương có thể bị thất bại nếu thiếu sự quan
tâm ủng hộ của cấp trên.Vì vậy cần giải quyết tốt mối quan hệ hai chiều: từtrên xuống và từ dưới lên, cần có sự quan tâm, hỗ trợ thoả đáng từ cấp trên
Ở nước ta trước đây, các lâm trường quốc doanh thường bao chiếm phần
lớn đất đai và áp dụng chế độ khoán quản đất đai cho các hộ gia đình, trong
khi năng lực quản lý và nguồn kinh phí kinh doanh của các lâm trường quốc
doanh rất hạn chế nên đã sử dụng đất không hợp lý và không có hiệu quả,bên cạnh đó nhu cầu sử dụng đất của nhân dân không được đáp ứng Nhiều
nơi các lâm trường quốc doanh trở thành loại hình tổ chức trung gian làm cho
các nguồn lực đầu tư vào miền núi cũng như việc quy hoạch sử dụng gặp
vướng mắc Công tác quy hoạch đất sản xuất cho người dân gặp khó khăn
trong việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất, cân đối phân bổ diện tích đất với
lâm trường quốc doanh
Nhà nước khẳng định quyền sử dụng đất đai lâu dài, ổn định, quyền sở hữu
những thành quả lao động do người dân tạo ra, để nhân dân yên tâm sản xuất là
Trang 34một trong những điều kiện cơ bản để phát triển LNXH Vì vậy QHSDĐ phải điliền với việc giao đất cho dân và phải được chính người dân trực tiếp tham gia.
3.1.2.3 Thực tiễn ứng dụng của PRA tại Việt Nam
PRA được coi là công cụ lập kế hoạch phát triển có sự tham gia của người
dân, lần đầu tiên được áp dụng trong chương trình hợp tác lâm nghiệp ViệtNam - Thuỵ Điển do SIDA tài trợ vào cuối năm 1991 Đây là chương trình sửdụng PRA một cách hệ thống, trên một địa bàn rộng trong một thời gian dài.Trong giai đoạn 1991-1994, chương trình hợp tác lâm nghiệp Việt Nam -Thuỵ Điển đã sử dụng PRA cho lập kế hoạch phát triển ở 70 thôn, bản của 5tỉnh: Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai và Hà Giang
Từ cuối năm 1994 đến nay, chương trình phát triển NTMN của 5 tỉnh phíaBắc do SIDA tài trợ tiếp tục sử dụng PRA cho lập kế hoạch, thực hiện, giám
sát và đánh giá các dự án cấp thôn, bản cho gần 200 cộng đồng Phương phápPRA ngày càng được hoàn thiện để phù hợp với điều kiện NTMN Việt Nam
Những năm gần đây, PRA được các chương trình của chính phủ, các tổchức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trong các chương trình, dự
án liên quan đến phát triển nông thôn ở Việt Nam đã mang lại những thành công
nhất định trong việc khai thác và phát huy các nguồn lực của cộng đồng vào pháttriển kinh tế, văn hoá, xã hội NTMN, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, như:
- Dự án lập kế hoạch sử dụng đất và GĐLN có sự tham gia của ngườidân tại Quảng Ninh (FAO/Italy)
- Chương trình PAM 5233 - Phát triển kinh tế HGĐ tại 5 tỉnh Đông Bắc
- Dự án phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn quy mô nhỏ tại Quảng Nam
và thành phố Đà Nẵng (UNICEF - Liên hiệp quốc)
Dự án quản lý đầu nguồn có sự tham gia của người dân tại Hoành Bồ Quảng Ninh (FAO/Belgium)
Dự án phát triển LNXH Sông Đà (GTZ CHLB Đức) và các dự án củacác tổ chức phi chính phủ như: Các tổ chức OXFAM, Helvetas, IFAD, SIDSE,
- Trung tâm đào tạo LNXH - ĐHLN - Xuân Mai và dự án hỗ trợ LNXH
đã tư vấn đào tạo cho các dự án Helvetas/Cao Bằng, GCP/VIE/019/BZEL ở
Quảng Ninh, dự án phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn ở Quảng Nam - Đà
Trang 35Nẵng, dự án quản lý LNXH ở Hoà Bình của OXFAM của 5 tỉnh phía Bắc,gần 2.000 cán bộ cấp huyện và cán bộ dự án được đào tạo về PRA, 300 thôn,bản được lập kế hoạch phát triển bằng phương pháp PRA [23], [25].
3.1.3 QHSDĐ cấp vi mô theo quan điểm bền vững
Phát triển phải bảo đảm lợi ích lâu dài cho người nông dân, tài nguyên và
môi trường cần phải được giữ gìn cho các thế hệ mai sau, thể hiện trên ba mặt:
- Thích hợp về mặt môi trường
- Có lợi về mặt xã hội
- Có thể đạt được về mặt kinh tế
* Tính bền vững: Bao gồm các hoạt động sản xuất có hiệu quả, tăng năng
suất song phải bảo đảm được sự ổn định và bền vững về nguồn lực và cânbằng sinh thái [10]
Muốn đạt được điều đó, cần chú trọng:
- Duy trì sự cân bằng dinh dưỡng trong đất
- Áp dụng các hệ thống NLKH
- Sử dụng các tập đoàn cây đa mục đích và cây cố định đạm
- Xây dựng các mô hình tổng hợp về các hệ thống và kỹ thuật canh tác
đất dốc trên cơ sở có sự tham gia của người dân và cộng đồng địa phương
* Phát triển bền vững: “Là hoạt động kinh tế đáp ứng các nhu cầu hiện tại không làm tổn hại khả năng của các thế hệ mai sau nhằm bảo đảm các nhu cầu riêng của mỗi người dân” [3].
Hệ thống sử dụng đất bền vững chủ yếu được xây dựng trên cơ sở những
hệ thống sử dụng đất lâm nông nghiệp canh tác định canh lâu bền bằng cách sửdụng đất, rừng, nước, khí hậu phù hợp để phát triển cây trồng, vật nuôi hàng năm
và lâu năm, phục vụ cho con người một cách ổn định, liên tục và lâu dài
Tuy nhiên các hệ thống sử dụng đất bền vững chủ yếu dựa trên cơ sở sửdụng đất đai phải duy trì được tính đa dạng và khả năng sinh lợi của các nguồntài nguyên, phải đáp ứng dược nhu cầu hiện tại và duy trì khả năng cung cấp
cho tương lai
Trang 36- Coi các hệ thống thiên nhiên làm mẫu, từ đó tác động vào thiên nhiên
để xây dựng các mô hình canh tác bền vững thông qua kinh nghiệm tích luỹđược trong thực tế sản xuất
- Tạo lập được các mô hình canh tác lâu bền bằng việc xây dựng các môhình phù hợp với điều kiện sinh thái từng địa phương
* Nguyên tắc cơ bản của các hệ thống sử dụng đất bền vững
- Đa ngành: Đa dạng hóa các loại hình sản xuất, các chế độ canh tác, cácchủng loại sản phẩm và các loại hình sinh thái
- Liên ngành: Kết hợp liên thông nhiều ngành nghề nông nghiệp, lâmnghiệp, chăn nuôi, thuỷ sản và thông tin, tiếp thị
- Ngăn ngừa các tai biến môi trường, những rủi ro và nạn ô nhiễm, suy thoái
- Sử dụng được các loài động, thực vật hoang dã, các loài cây bản địa,các loài cây quý hiếm đa tác dụng
- Tận dụng được các tài nguyên đất, nước, năng lượng, sinh học làm cho
nó được bảo toàn, tái tạo, tự điều chỉnh và tự tái sinh
- Sử dụng được đất theo quy mô nhỏ, thâm canh có hiệu quả, được quản
lý, chăm sóc, bảo vệ và phục hồi
Biện pháp sử dụng đất tổng hợp bền vững:
* Mục tiêu: Sản xuất phải được ổn định, lâu dài và phát triển
* Các biện pháp: Áp dụng các phương thức sử dụng đất tổng hợp
- Kết hợp nhiều loài cây trồng đa mục đích
+ Mở được nhiều ngành nghề để tận dụng được nhiều lao động
+ Ứng dụng NLKH để có thu hoạch trước mắt và lâu dài mà đất đai
được cải thiện tốt
- Thực hiện các kỹ thuật canh tác tổng hợp:
- Chọn các loài cây, con và giống tốt thích hợp cho từng chân đất, từng vùng
Trang 37- Thâm canh bằng các biện pháp sinh học, nông học và lâm học để cânbằng chất dinh dưỡng và duy trì độ phì cho đất.
- Ứng dụng triệt để các kỹ thuật canh tác đất dốc để giữ độ phì, giữ nước
cho đất
- Áp dụng tổng hợp nhiều biện pháp một cách hài hoà sẽ xây dựng đượccác mô hình sử dụng đất tổng hợp bền vững, đất đai được bảo vệ duy trì tốt đểsản xuất ổn định và lâu dài
Kỹ thuật sử dụng đất bền vững
Kỹ thuật canh tác nông nghiệp đất dốc (SALT) là hệ thống canh tácnhằm sử dụng đất dốc bền vững đã được trung tâm đời sống nông thônBapstit Mindanao Philipin tổng kết, hoàn thiện và phát triển từ những năm
1970 đến nay Cho đến năm 1992 đã có 4 loại mô hình tổng hợp về kỹ thuật
canh tác nông nghiệp đất dốc bền vững đã được ghi nhận ứng dụng là [6]:
Mô hình kỹ thuật canh tác nông nghiệp đất dốc (SALT1) - với cơ cấucây trồng được sử dụng để bảo đảm được sự ổn định và có hiệu quả nhất là75% cây nông nghiệp và 25% cây lâm nghiệp Trong cây nông nghiệp thì
50% là cây hàng năm và 25% cây lâu năm
- Mô hình kỹ thuật canh tác nông súc kết hợp đơn giản (SALT2) - cơ cấu
sử dụng đất thích hợp ở đây là 40% dành cho nông nghiệp, 20% cho lâmnghiệp, 20% cho chăn nuôi
- Mô hình kỹ thuật canh tác NLKH bền vững (SALT3) - với cơ cấu sửdụng đất thích hợp ở đây là 40% nông nghiệp, 60% lâm nghiệp (mô hình đòi hỏi
đầu tư cao)
- Mô hình kỹ thuật SXNLN với cây ăn quả kết hợp quy mô nhỏ (SALT4)
- cơ cấu sử dụng đất thích hợp là 60% lâm nghiệp, 15% nông nghiệp, 25%
cây ăn quả (mô hình này đòi hỏi đầu tư cao)
Các mô hình trên đã được nông dân chấp nhận và cũng đã và đang đượckiểm nghiệm ở nhiều nước Đông Nam Á
Ở Việt Nam, cũng có các mô hình tương tự như hệ thống canh tác vườn
-ao - chuồng (VAC) hoặc luân canh rừng, rẫy và bãi chăn thả là những môhình kỹ thuật nông - lâm - súc kết hợp đơn giản nhưng rất hiệu quả
Trang 38VAC là mô hình lập vườn để trồng cây, đào ao để thả cá và làm chuồng để
chăn nuôi Đây là hệ thống theo chu trình khép kín, các bộ phận bổ sung và hỗ trợ
nhau Quy mô không lớn, nhưng lợi ích thì nhiều, phù hợp với mọi nhà, mọi nơi.Luân canh rừng - rẫy - bãi chăn thả cũng là một mô hình kết hợp đơngiản Song ngoài việc lựa chọn kỹ các loài cây trồng và vật nuôi phù hợp còn
bố trí thời gian quay vòng sao cho đất dốc có điều kiện phục hồi và phải ápdụng biện pháp chăn dắt, có hàng rào cây xanh bảo vệ,
Các chỉ tiêu đánh giá tính bền vững trong các hệ thống và kỹ thuật
sử dụng đất
- Đảm bảo được an toàn lương thực, cho nhiều sản phẩm có giá trị hàng
hoá bán được để thu tiền mặt
- Phù hợp với các điều kiện môi trường sinh thái, giữ được quỹ đất,nguồn nước, đa dạng sinh học và tạo ra nhiều loại sản phẩm
- Nằm trong hành lang pháp luật và chính sách của Nhà nước
- Kiểm soát được xói mòn, có biện pháp kỹ thuật phòng chống xói mòn,duy trì bảo vệ độ phì đất và năng suất cây trồng
- Không gây ảnh hưởng xấu tới người khác, hộ khác và cộng đồng ở nơimình sinh sống và trong vùng
- Không làm tổn hại đến rừng phòng hộ, các hoạt động sản xuất và xã hội khác
- Có tổng thu nhập, hiệu quả kinh tế và khả năng sinh lợi cao
- Ý thức tự nguyện, tự giác của người dân tham gia không có sự áp đặt từtrên xuống hoặc từ ngoài vào
Đó là những chỉ tiêu chủ yếu bảo đảm tính bền vững trong việc xây dựng
và phát triển các hệ thống sử dụng đất bền vững
Trên đây là toàn bộ quan điểm sử dụng đất bền vững, những biện pháp,
kỹ thuật sử dụng đất và những chỉ tiêu đánh giá tính bền vững trong các hệthống sử dụng đất bền vững, là cơ sở quan trọng để lựa chọn cơ cấu cây trồng,vật nuôi, cũng như những biện pháp kinh tế, kỹ thuật áp dụng cụ thể phù hợpvới điều kiện của mỗi vùng, mỗi địa phương trong QHSDĐ và phát triển
SXNLN trên cơ sở xây dựng hệ thống sử dụng đất bền vững
Trang 393.1.4 QHSDĐ cấp vi mô trong nền kinh tế thị trường
3.1.4.1 Khái niệm về thị trường và kinh tế thị trường
* Khái niệm về thị trường: Hiện nay có nhiều khái niệm về thị trường đượcdiễn đạt theo cách rộng, hẹp khác nhau, ở đây xin nêu mấy khái niệm chủ yếu:
“Thị trường là một hình thức biểu hiện sự phân công lao động xã hội và
do đó có thể phát triển vô cùng tận Ở đâu và khi nào có sự phân công lao động xã hội thì ở đó và khi ấy có thị trường” [22].
“Thị trường là nơi, là địa điểm diễn ra các hoạt động chuyển nhượng
trao đổi, mua - bán hàng hoá và dịch vụ” [22].
* Khái niệm về kinh tế thị trường: “Kinh tế thị trường là kinh tế hàng
hoá phát triển ở trình độ cao, khi tất cả các quan hệ kinh tế trong quá trình tái sản xuất xã hội đều được tiền tệ hoá, các yếu tố của sản xuất như vốn, tài sản, sức lao động, chất xám, các sản phẩm và dịch vụ làm ra đều có giá, mà giá cả hình thành bởi tác động của quy luật cung cầu trên thị trường" [22].
Trong kinh tế thị trường, mỗi chủ thể kinh tế trong hoạt động kinh doanh
theo đuổi lợi ích của mình và lợi nhuận Do đó nói đến kinh tế thị trường cần
phải bảo đảm những điều kiện cơ bản sau:
- Tính tự chủ cao của các chủ thể kinh tế Họ phải độc lập với nhau và cótoàn quyền quyết định mọi hoạt động kinh doanh của mình Sản xuất cái gì?sản xuất như thế nào? sản xuất cho ai? Phải do họ quyết định Người bán và
người mua tự do giao dịch
- Mua bán theo giá cả thị trường
- Đảm bảo có đủ thông tin về thị trường
3.1.4.2 QHSDĐ cấp vi mô trong nền kinh tế thị trường
Hiện nay, quá trình kinh doanh nông - lâm - ngư nghiệp nói chung đangvận động theo cơ chế thị trường, mà đặc trưng của nó là sản xuất hàng hoá vàdịch vụ theo yêu cầu của nền kinh tế thị trường Do đó, việc xác định phương
hướng, quy mô kinh doanh và mục tiêu kinh doanh hợp lý có ý nghĩa quan
trọng và là điều kiện tiên quyết trong kinh doanh
Xác định phương hướng gắn liền với xác định quy mô sản xuất hàng hoá
và dịch vụ là những vấn đề lớn và có quan hệ chặt chẽ với nhau
Trang 40Dựa vào sự phân tích khoa học về cung - cầu ở thị trường và khả năng củamỗi vùng để xác định phương hướng quy mô sản xuất hàng hoá, dịch vụ nông -lâm - ngư nghiệp của các chủ thể Trong đó phải trả lời được 4 vấn đề cơ bản [7]:
- Sản xuất và dịch vụ cái gì?
- Sản xuất và dịch vụ như thế nào?
- Sản xuất và dịch vụ cho ai?
- Lợi nhuận thu được bao nhiêu?
Trên cơ sở xác định phương hướng quy mô sản xuất hàng hoá và dịch vụ
mà xác định mục tiêu kinh doanh, cái đích cuối cùng của chủ thể kinh tế Saukhi xác định được phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh thìQHSDĐ là căn cứ để quy hoạch các biện pháp sản xuất kinh doanh, quản lý
và sử dụng đất đai, phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp để đạt đượcnhững mục tiêu đã đề ra Vì vậy QHSDĐ cần bám sát mục tiêu kinh doanh đã
xác định, căn cứ vào những điều kiện cơ bản của khu vực có liên quan đến
sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp, sự tiến bộ của khoa học công nghệ vànhững điều kiện khác có liên quan, để quy hoạch mặt bằng quản lý sử dụng
đất và cơ cấu vật nuôi, cây trồng phù hợp với mục tiêu kinh doanh (tức phù
hợp với thị trường) và điều kiện địa phương, trên cơ sở phát triển bền vững,bảo đảm hài hoà giữa lợi ích kinh tế với lợi ích xã hội và môi trường sinh thái.Thực tế đã chứng minh rằng thị trường và sự biến động của thị trường
trong và ngoài nước có tính chất quyết định đối với sự thay đổi mục tiêu kinh
doanh và những nội dung kinh doanh Nghề trồng hoa, cây cảnh, ở nước ta
có phát triển và mở rộng quy mô sản xuất hay không là do chợ thành phố vàthị xã quyết định Các trang trại sản xuất tôm, quế, chè, cà phê, lúa gạo, ở
nước ta đã từng được mở rộng quy mô kinh doanh và đưa nhanh tiến bộ kỹ
thuật vào kinh doanh là do yêu cầu biến động của thị trường xuất khẩu Trong
trường hợp ngược lại, chẳng những quy mô sản xuất không được mở rộng mà
còn bị thu hẹp, thậm chí phải thay đổi, khi đó sẽ kéo theo hàng loạt vấn đề
thay đổi, mà trước tiên là QHSDĐ cũng phải thay đổi theo