1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu đánh giá kết quả trồng rừng cây bản địa lá rộng trên đất trống đồi núi trọc tỉnh quảng trị​

72 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Đánh Giá Kết Quả Trồng Rừng Cây Bản Địa Lá Rộng Trên Đất Trống Đồi Núi Trọc Tỉnh Quảng Trị
Tác giả Hoàng Đức Doanh
Người hướng dẫn PGS.TS. Phạm Xuân Hoàn
Trường học Trường Đại Học Lâm Nghiệp
Chuyên ngành Lâm Học
Thể loại luận văn thạc sỹ
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Tây
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các phương thức trồng rừng khác nhau đã được áp dụng thực hiệnnhư cây bản địa hỗn giao với các loài cây phụ trợ, trồng dưới tán rừng, trồng đồngthời trên đất trống với nhiều công thức tr

Trang 1

Hoàng Đức Doanh

Nghiên cứu Đánh giá kết quả

trồng rừng cây bản địa lá rộng

trên đấT TRốNG ĐồI NúI TRọCtỉnh Quảng Trị

Luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp

Hà Tây, 2007

Trang 2

Luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp

Người hướng dẫn khoa học PGS.TS Phạm Xuân Hoàn

Hà Tây, 2007

Trang 3

Đặt vấn đề

Trong nhiều năm qua, do nhiều nguyên nhân khác nhau nên diện tích, trữ lượngrừng và tính đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng tự nhiên bị suy giảm nghiêmtrọng, làm ảnh hưởng lớn đến quá trình phát triển kinh tế xã hội và môi trường sống.Một trong những nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước đang đặt ra hiện nay là phải tậptrung bảo vệ và phát triển rừng, thực hiện trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc,giải quyết công việc làm cho nông dân, tạo vùng nguyên liệu cho phát triển côngnghiệp chế biến gỗ, giải quyết nhu cầu gỗ phục vụ cho đời sống người dân và cảithiện môi trường sinh thái góp phần phát triển ổn định kinh tế - xã hội của đất nước

Để nhằm mục tiêu đó, Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng của Chính phủ đang tậptrung vào việc đầu tư trồng mới khôi phục lại rừng sản xuất, rừng phòng hộ Thôngqua việc trồng rừng bằng các loài cây bản địa nhằm từng bước tái tạo lại hệ sinhthái rừng tự nhiên với đa dạng các loài cây trồng, phát huy tốt chức năng phòng hộ

và góp phần phát triển kinh tế rừng, nâng cao thu nhập cho người dân tham gia làmnghề rừng

Là một Tỉnh bị chiến tranh tàn phá nặng nề, môi trường sinh thái bị huỷ hoạinghiêm trọng, trong những năm qua, bằng nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước,tỉnh Quảng Trị đã tập trung trồng rừng, bảo vệ rừng, khôi phục lại màu xanh trêncác vùng đất trống núi trọc Độ che phủ rừng trên địa bàn tỉnh từ 23% năm 1990 đãtăng lên đạt 41% vào năm 2006

Công tác trồng rừng bằng cây bản địa lá rộng đã được tiến hành từ những năm

1980, đặc biệt trong vòng 10 năm trở lại đây các chương trình trồng rừng như 327,

661, Việt-Đức, JBIC đã đưa nhiều loài cây bản địa vào trồng rừng và bước đầu manglại kết quả khả quan Nhiều mô hình trồng cây bản địa lá rộng như Huỷnh, Sao đen,Sến trung, Muồng đen, Gió trầm sinh trưởng và phát triển tốt trên vùng đất đồi núitrọc thoái hoá Các phương thức trồng rừng khác nhau đã được áp dụng thực hiệnnhư cây bản địa hỗn giao với các loài cây phụ trợ, trồng dưới tán rừng, trồng đồngthời trên đất trống với nhiều công thức trồng rừng như trồng theo băng, trồng theohàng, trồng theo đám, vv

Trang 4

Qua thực tiễn, bên cạnh một số loài và mô hình sinh trưởng tốt, có triển vọng,còn có một số loài và mô hình bộc lộ những nhược điểm, một số loài không phùhợp, cây sinh trưởng kém, bị sâu bệnh, khả năng thành rừng thấp.

Việc đánh giá công tác trồng rừng bằng các loài cây bản địa trên địa bàn tỉnhQuảng Trị chỉ dựa trên báo cáo khái quát của kết quả nghiệm thu trồng rừng, chămsóc và báo cáo tình hình sinh trưởng chung của các loài cây, mô hình trồng từ cácchủ rừng như các Lâm trường, các Ban quản lý dự án, Những nghiên cứu đánh giámột cách khoa học về diện tích, trữ lượng, chất lượng rừng trồng, tăng trưởng củarừng, khả năng phòng hộ cũng như cung cấp nguyên liệu trên địa bàn tỉnh cho đốitượng rừng này, tới nay vẫn còn là một khoảng trống

Đề tài "Nghiên cứu đánh giá kết quả trồng rừng cây bản địa lá rộng trên đấttrống đồi núi trọc tỉnh Quảng Trị” là một nghiên cứu góp phần xác định đượcnguyên nhân, thành công và những hạn chế của các mô hình trồng rừng bằng câybản địa lá rộng trong thời gian qua, từ đó đề xuất các mô hình có triển vọng đáp ứng

được nhu cầu cung cấp nguyên liệu và phòng hộ, phục hồi đa dạng sinh học, gópphần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Trang 5

các nước Châu Âu tiến hành từ những năm đầu thế kỷ 20 Điển hình là một số công

trình nghiên cứu trồng hỗn loài Quercus và Ulmus campestris với tên kiểu hỗn loài

Donsk của tác giả Tikhanop (1872)

Trong mô hình này do đặc điểm sinh trưởng nhanh hơn nên loài Ulmus campestris đã nhanh chóng lấn át Quercus Để giải quyết sự cạnh tranh này, năm

1884 tác giả Dolianxki đã cải tiến kiểu hỗn loài Donsk song vẫn không thành công.Một số tác giả khác Grixenlo, 1951; Kharitononis, 1950; Timofeev, 1951; Encova,

1960 và các cộng sự đã tiến hành phân tích nguyên nhân thất bại của kiểu Donsk và

chỉ ra rằng các Phitonxit của loài Ulmus đã tác động xấu đến loài cây Quercus.

Nghiên cứu về sự ảnh hưởng tương hỗ giữa các loài, các tác giả cho rằng sự cảmnhiễm tương hỗ là yếu tố quan trọng lý giải cơ chế cạnh tranh sinh học của thực vật

nghiên cứu tạo rừng hỗn loài giữa Quercus và Fraxinus Nghiên cứu của Malxev (1954) cho thấy sinh trưởng của Quercus khi trồng hỗn loài tốt hơn khi trồng thuần loài Tiếp tục nghiên cứu rừng trồng hỗn loài giữa Quercus với các loài khác Malxev thấy rằng khi trồng Quercus theo băng hẹp (3-4 hàng) và hỗn loài với một

hàng Fraxinus sinh trưởng của Quercus tốt hơn Kết quả nghiên cứu về rừng trồng

hỗn loài của các tác giả trên đều cho rằng việc bố trí các loài cây trong một mô hìnhrừng trồng hỗn loài thường có ảnh hưởng của chúng tuỳ theo số lượng cá thể và cự

ly trồng từng loài Đặc biệt các đặc điểm hoạt hoá của các loài cây (kích thích, ứcchế, kìm hãm quá trình sống) thông qua ảnh hưởng của Phitonxit là căn cứ để quyết

định tỷ lệ tổ thành các loài cây trong lâm phần hỗn loài Nghiên cứu về vấn đề nàyKolesnitsenko (1977) đề nghị mật độ loài cây trồng chính trong mô hình trồng rừng

hỗn loài không ít hơn 50 loài cây hoạt hoá không quá 30-40%, loài cây ức chếkhông quá 10-20% trong tổng các loài cây trong mô hình

Trang 6

Năm 1995, các tác giả Ball, Wormald và Cusso đã nghiên cứu quá trình điều

chỉnh các lâm phần rừng trồng hỗn loài theo quá trình sinh trưởng của mô hìnhthông qua việc giảm bớt sự cạnh tranh giữa các loài cây và tạo điều kiện để chúng

cùng sinh trưởng và phát triển tốt Bermar Dupuy (1995) nghiên cứu cấu trúc tầng

tán của lâm phần hỗn loài và thấy rằng kết cấu tầng tán phụ thuộc vào đặc tính sinh

trưởng và tính hợp quần của loài cây

Việc tạo lập các loài cây hỗ trợ ban đầu cho cây trồng chính trước khi xây dựngcác mô hình trồng rừng hỗn loài là rất cần thiết Vì bản chất của khai thác phục hồi

rừng bằng trồng cây bản địa là “trồng rừng dưới tán rừng” Vì vậy, việc tạo lập môi

trường rừng phải đi trước một bước bằng cách trồng một số loài cây mọc nhanh phù

hợp với điều kiện lập địa ban đầu (loài cây đến trước - theo cách nói hiện nay).Nghiên cứu về lĩnh vực này, điển hình có các tác giả Matthew (1995), ông đãnghiên cứu tạo lập mô hình rừng trồng hỗn loài giữa cây thân gỗ với cây họ đậu.Kết quả cho thấy cây họ đậu có tác dụng hỗ trợ rất tốt cho cây trồng chính Nghiêncứu về đặc điểm sinh thái của các loài cây cũng là vấn đề rất quan trọng khi xâydựng mô hình rừng trồng hỗn loài Tuy nhiên, rất ít công trình nghiên cứu đầy đủ vềvấn đề này Giai đoạn 1930 – 1960 các tác giả Rod Keenan, David Lamb, Gary

Sexton đã gặp khó khăn khi nghiên cứu gây trồng các lâm phần hỗn loài do hiểu

biết về yêu cầu sinh thái của các loài cây rừng mưa còn nghèo nàn Vì vậy, việc bốtrí kiểu rừng hỗn loài và điều chỉnh các mô hình này cũng rất khó khăn Đặc điểmnổi bật hay mục đích chính của phục hồi rừng bằng cây bản địa chính là tạo ra rừnghỗn loài có kết cấu nhiều tầng tán vì thế nghiên cứu tạo rừng hỗn loài nhiều tầng đã

được một số nước trên thế giới quan tâm Năm 1999, dự án xây dựng rừng nhiều

tầng ở Malaysia đã giới thiệu cách thiết lập mô hình trồng rừng hỗn loài trên 3 đối

tượng: rừng tự nhiên, rừng Keo tai tượng (Acacia mangium) 10-15 tuổi và 2-3 tuổi.

Đối với rừng tự nhiên đã mở các băng chặt 30m và sử dụng 23 loài cây bản địa có

giá trị để tạo rừng hỗn loài, mỗi băng trồng 6 hàng cây Đối với rừng Keo tai tượng

dự án chia thành 2 khu: khu chặt theo băng có các loại: băng 10m, trong mỗi băngtrồng 3 hàng cây bản địa, băng 20m trồng 7 hàng, băng 40m trồng 15 hàng với 14

Trang 7

loài cõy khỏc nhau Khu chặt theo hàng gồm: chặt 1 hàng keo trồng 1 hàng cõy bản

địa Chặt 2 hàng trồng 2 hàng, chặt 4 hàng trồng 4 hàng, chặt 6 hàng trồng 6 hàng

và chặt 16 hàng trồng 16 hàng Sau khi chặt 5 năm đưa vào trồng 3 loài và sau khichặt 7 năm trồng 7 loài cõy bản địa Trong cỏc loài cõy bản địa được trồng trong cỏc

băng cú 3 loài cõy gồm: S.soxbur ghii, S ovalis, S lepsosula cú sinh trưởng chiều

cao và đường kớnh tốt nhất Tỷ lệ sống giữa cỏc cụng thức khụng khỏc biệt sinhtrưởng chiều cao cõy trồng trong băng 10m và 40m tốt hơn băng 20m Khu trồng

theo hàng cú tỉ lệ sống, sinh trưởng, chiều cao tốt nhất ở cụng thức trồng 6 hàng và

16 hàng Dự ỏn cũn vạch ra kế hoạch điều chỉnh cỏc cụng thức trồng theo tại thời

điểm 2, 8, 12, 18, 28, 34, 41, 47 năm sau khi trồng Ngoài ra cỏc cụng trỡnh nghiờn

cứu trồng rừng dưới tỏn, trồng theo băng, rạch dưới tỏn ở Chõu Phi và Chõu Á thựcchất cũng tạo cỏc lõm phần hỗn loài trờn cơ sở cỏc loài đó cú sẵn trong tự nhiờn và

tăng số lượng cỏ thể loài cú giỏ trị bằng biện phỏp gõy trồng bổ sung, điển hỡnh ởcỏc nước Nigieria, Cụngụ, Camơrun… Đõy là những cụng trỡnh đó đạt được nhiều

kết quả tốt do lợi dụng được thảm che tự nhiờn, chỳng đó hỗ trợ tốt cho cõy bản địa(cõy trồng chớnh) trong giai đoạn đầu Khi cõy trồng chớnh lớn dần thỡ việc điềuchỉnh cỏc loài cõy trồng trờn đó được tiến hành kịp thời Như vậy, những cõy mục

đớch trồng thờm vẫn được sống trong lũng rừng ẩm mới cú hiệu quả

Cỏc kết quả nghiờn cứu về trồng rừng hỗn loài trờn thế giới tuy chưa nhiều songvới những thụng tin thu thập được về cỏch lợi dụng độ tàn che tầng cõy cao (rừng tựnhiờn, rừng trồng), cỏch sử dụng cõy phự trợ Keo tai tượng và cỏc phương thức bốtrớ cỏc loài cõy trong mụ hỡnh thớ nghiệm cũng như ảnh hưởng sinh trưởng, tiểuhoàn cảnh rừng tới sự sinh trưởng, phỏt triển của cỏc loài cõy bản địa dựng để phụchồi rừng là những tài liệu tham khảo và bài học kinh nghiệm rất cú ớch cho đề tài

Với đặc thù riêng của rừng nhiệt đới người ta thường tác động theo các hướngsau:

a Hướng thứ nhất

Từ những lâm phần rừng tự nhiên hỗn giao lá rộng, thông qua sự tác động củanhững biện pháp kỹ thuật lâm sinh trở thành những lâm phần có cấu trúc ít phức tạp

Trang 8

Ưu thế thuộc về một số loài cây có giá trị kinh tế, tuổi ít chênh lệch nhau Tại một

số nước Châu Phi thuộc khu vực nói tiếng Pháp, người ta sử dụng phương thức trồngdặm dưới tán theo kiểu quảng canh Fomy (1956) đã tóm tắt kinh nghiệm thu được

về kiểu rừng trồng dặm và nêu ra 7 điểm cần thiết về kỹ thuật để đi đến thành côngnhư sau:

1 Đặt cây theo khoảng cách hẹp, dọc trên rạch trồng để có được sự lựa chọn về

số cây cần giữ lại và hạ được chi phí về nhân công chăm sóc

2 Chỉ dùng những loài cây ưa sáng

3 Rạch trồng theo hướng Đông - Tây để thu được ánh sáng tối đa

4 Khai thác rừng đầy đủ trước khi trồng

5 Phương pháp không đem lại hiệu quả gì nếu có thú lớn

6 Không bao giờ đánh giá thấp sự cạnh tranh của rễ cây và bóng rợp ở trên đầu

và bên sườn

7 Xử lý toàn bộ quần thể coi như đã được tái sinh một cách tự nhiên sau khitrồng cây

b Hướng thứ hai

Thay thế hoàn toàn lâm phần cũ bằng lâm phần mới (phương pháp cải tạo triệt

để) đã được nhiều quốc gia áp dụng nhằm tạo diện tích rừng đều tuổi thuần loài cógiá trị kinh tế cao Theo tài liệu của Baur, Catino đã giới thiệu và đánh giá cácphương thức tái sinh rừng tự nhiên và nhân tạo ở Châu Phi, ấn Độ và một số nước

Đông Nam á đều đi đến kết luận: việc đưa cây rừng vào các thảm rừng tự nhiênnhằm bổ sung tổ thành nâng cao chất lượng rừng tuỳ thuộc vào cách xử lý, điều kiện

ánh sáng, xử lý thảm rừng cũ một cách thích hợp đối với đặc tính sinh thái của từngloài ở từng giai đoạn tuổi khác nhau mới có thể đem lại hiệu quả

Tóm lại, các kết quả nghiên cứu về rừng trồng hỗn loài trên thế giới tuy chưanhiều, song với những thông tin thu thập được về cách lợi dụng độ tàn che tầng câycao (rừng tự nhiên, rừng trồng), cách sử dụng cây phụ trợ và các phương thức bố trícác loài cây trong mô hình thí nghiệm cũng như ảnh hưởng sinh trưởng, tiểu hoàncảnh rừng tới sự sinh trưởng, phát triển của các loài cây bản địa dùng để phục hồirừng là những tài liệu tham khảo và bài học kinh nghiệm rất có ích cho những thửnghiệm sau này ở các nước nhiệt đới trong đó có Việt Nam

Trang 9

1.2 ở Việt Nam

Đầu thế kỷ 20, ở miền Nam - Việt Nam người Pháp đã tiến hành khảo nghiệmnghiên cứu về nhiều loài cây lá rộng bản địa, tại các trạm thực nghiệm như: TrảngBom, Lang Hanh, Ek’Mat, Tân Tạo …và cũng đã trồng khảo nghiệm một số loàicây khác nhau Miền Bắc có các trạm thực nghiệm thuộc Viện nghiên cứu Khoa họclâm nghiệp như: Cầu Hai, Hữu Lũng đã được thành lập và tiến hành sản xuất thửnghiệm một số loài cây, đồng thời thành lập thêm các trạm thực nghiệm ở Đông Hà,

Xí nghiệp giống cây lâm nghiệp Nam Trung Bộ ở Bình Định, Các Trung tâm giốngNông - Lâm nghiệp trực thuộc các Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cácPhân viện chuyên ngành với vai trò nòng cốt nghiên cứu giống cây lâm nghiệp như:Trung tâm sinh thái và Môi trường, Phân viện nghiên cứu lâm nghiệp Miền Nam(Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam) Những năm 1980 - 1990, đã tiến hành khảonghiệm nhiều loài cây bản địa lá rộng như: Trám, Sao đen, Muồng đen, Chò chỉ, Gõ

đỏ, Huỷnh, Dầu rái, Dầu mít, Căm xe, Sữa, Bời lời đỏ, Giổi xanh, Giáng hương, Gió,Xoan mộc và các loài cây ngập mặn khác Nhìn chung số loài nghiên cứu nhiều,nhưng công tác tổng kết, đánh giá để nhân rộng, sản xuất quy mô lớn, còn khiêmtốn so với yêu cầu trồng rừng

Mục tiêu của dự án trồng mới 5 triệu ha rừng trên đất trống đồi núi trọc là: Trồng

2 triệu ha rừng phòng hộ, 3 triệu ha rừng sản xuất, gấp khoảng 20 lần tốc độ trồngrừng trong vòng 50 năm qua (theo Lâm Công Định, 1999) Vì vậy, công tác thựcnghiệm nghiên cứu khoa học và ứng dụng thực tế, để lựa chọn các loài cây bản địaphù hợp với từng vùng sinh thái, điều kiện lập địa, đẩy nhanh tốc độ mở rộng diệntích, nâng cao chất lượng rừng trồng cây bản địa hiện nay là một yêu cầu hết sức cầnthiết, một nội dung cốt lõi trong chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng của quốc gia

từ nay đến năm 2010 và sau năm 2010

Trong thời gian qua chỳng ta đó tạo lập lại hơn 1,4 triệu ha rừng và 16 tỷ cõyphõn tỏn Tuy diện tớch rừng trồng tương đối lớn song về năng suất, chất lượng vàcỏc giỏ trị khỏc của rừng chưa đạt yờu cầu mong muốn Cơ cấu loài cõy và kết cấurừng trồng cũn đơn điệu Cỏc loài cõy bản địa chiếm khụng quỏ 5% mỗi loài Nhỡnchung rừng Bạch đàn và rừng trồng thuần loài cõy lỏ rộng khỏc đều cú ảnh hưởng

Trang 10

chưa tốt đến đất trồng Rừng Bồ đề trồng thuần loài ở trên tuổi 6, lượng đạm trongđất đã giảm mất 3.935 kg/ha Trong thời gian qua có rất nhiều dự án đã thử nghiệm

trồng hỗn loài ở nhiều vùng bằng nhiều loại cây với nhiều phương thức khác nhau.Tuy nhiên, kết quả còn tản mạn, chưa được đúc kết, đánh giá và chưa được áp dụngvào sản xuất Việc tìm chọn cấu trúc, loài cây, phương thức trồng và thời điểm hỗnloài cũng rất phức tạp Nghiên cứu để xây dựng hệ thống biện pháp kỹ thuật trồngrừng, chăm sóc rừng hỗn loài nhằm nâng cao hiệu quả của rừng về nhiều mặt có ýnghĩa quan trọng tới việc phát triển và duy trì hệ thống rừng của Việt Nam

Từ năm 1931, Maurall đã thử nghiệm gây trồng các loài Sao đen (Hopera odorata Roxb), Dầu rái (Dipterocarpus alatus Roxb), Vên vên (Anisoptera costata

Korth) trong rạch hẹp 1-2m, sau đó mở rộng 5m Cây bụi, thảm tươi trong rạch

được phát dọn nhưng vẫn giữ lại cây che bóng ở tầng trên Ông đã gọi đây làphương thức “trồng rừng dưới tán che dày và thấp” Sau 2 năm, thí nghiệm này củaông đã bị cỏ lấn át, tác giả đã cải tiến bằng cách cho tiến hành phát quang các tầng

trên và chỉ để lại loài cây ưu thế Phương pháp này được gọi là phương pháp “trồngrừng dưới tàn che cao và nhẹ” Nhưng thí nghiệm này của ông đến năm thứ 3 lạinảy sinh vấn đề là cây trong rạch sinh trưởng không bình thường Ông lại tiếp tục

dùng thảm che nhân tạo với các loài cây họ đậu như Muồng đen (Cassia siamea),

Đậu tràm (Indigofora teysmanii) và ông cho rằng việc dùng cây che phủ ban đầu

kết hợp với cây che phủ trung gian là có hiệu quả Những thí nghiệm trên của ông

được tiến hành tại vùng Trảng Bom - Đồng Nai Tác giả cho rằng nhân tố ánh sáng

trong rạch chừa đã ảnh hưởng tới cây trồng chính

Ngoài việc sử dụng thảm che tự nhiên, một số tác giả đã nghiên cứu sử dụng cácloài cây họ đậu làm cây phù trợ nhằm tạo lập các lâm phần rừng trồng hỗn loài

Năm 1985, các tác giả Nguyễn Minh Đường và Lê Đình Cẩm đã thí nghiệm trồng

hỗn loài các cây bản địa: Sao, Dầu, Gõ đỏ (Afzelia xylocapa Kurz) Cẩm lai (Dalbergia basiaensis Pierre), Căm xe (Xylia xyclocarpa Roxb) Theo băng và theo rạch có trồng các loài cây phù trợ là Muồng đen, Keo lá tràm (Acacia auricoliformis) Đậu tràm và Keo dậu ở lâm trường La Ngà (Đồng Nai) Các công

Trang 11

thức được bố trí theo cự ly 4x4m, theo phương pháp hỗn loài theo hàng, 1 hàng Sao

đen xen kẽ với 1 hàng Dầu nước và Vên vên, giữa 2 hàng cây chính là Đậu tràm

(hoặc Keo lá tràm, Muồng đen, Keo dậu) Ngoài ra, các tác giả còn tiến hành trồngthử nghiệm trong các băng chặt 20m, chừa 20m và băng chặt 10, chừa 10m Trongmỗi băng trồng một loài cây bản địa, cây trồng cách nhau 2m, giữa các hàng câytrồng xen hàng Đậu tràm (hoặc Keo lá tràm hoặc Muồng đen) Các thí nghiệm nàytrồng vào tháng 6/1983, cây con từ 13-14 tháng tuổi Sau 1 năm trồng các tác giảnhận thấy cây phù trợ mới có tác dụng đến tỷ lệ sống chết, chưa có ảnh hưởng đếncác yếu tố khác Nhìn chung các thí nghiệm trồng Dầu rái, Sao đen trên các loại đấtxám phù sa cổ ở Trảng Bom, đất bazan màu đen ở Bàu Cạn, trên đất phiến thạch sét

ở Mã Đà (Đồng Nai), đất phù sa cổ sâu ẩm ở Dương Minh Châu cũng chỉ có nhậnxét tương tự

Năm 1962 các nhà lâm học Học viện Nông lâm đã tìm thấy việc trồng rừng Mỡ

thuần loài gặp nhiều điều bất lợi nên họ đã tiến hành thí nghiệm trồng rừng hỗn loài

Lấy cây Mỡ (Manglietia glauca Wull BL) làm đối tượng chính của rừng hỗn loài

và dùng các loài cây bạn theo từng cặp: Mỡ + Lim xanh (Erythrophloeum fordii Oliv) Mỡ + Xà cừ (Khaya senegalensis Benth), Mỡ + Tếch (Tectona grandis Linn).

Mỗi loài trồng trong một hàng, hàng cách hàng 2m, cây cách cây 2m, kết quả chothấy Xà cừ, Tếch không thích hợp với đất và kỹ thuật trồng chưa đúng nên 2 loàicây này có tốc độ sinh trưởng chậm và bị các loài cây khác cạnh tranh, cuối cùngchỉ còn Mỡ thuần loài Cây Lim xanh 2 năm đầu sinh trưởng kém, đến năm thứ 3cây Mỡ đã sinh trưởng vượt Lim xanh Giai đoạn tiếp theo Lim xanh phát triểnchiều cao nhanh hơn nên đến tuổi 10-12 Lim xanh đã vươn lên cùng tầng với Mỡ.Trần Nguyên Giảng đã nhận xét: Lim xanh có khả năng trồng hỗn loài với Mỡ

nhưng chưa tìm được tỉ lệ thích hợp Thí nghiệm này cũng chưa quan tâm đến cây

trồng chính với các loài cây bạn của chúng Xét về mặt cải thiện đất, cây Lim xanh

có thể đáp ứng song cây Xà cừ và cây Tếch tác dụng này không rõ

Năm 1971, cây Bồ đề (Styrax tonkinensis Pierre) đã được lựa chọn để trồng rừng

cung cấp nguyên liệu giấy và đã phát triển ở 6 tỉnh phía Bắc với diện tích hơn

25.000 ha, nhưng hầu hết là rừng thuần loài Là cây mọc nhanh, rụng lá mùa đông,

Trang 12

rừng trồng Bồ đề thuần loài chỉ có 1 tầng, do đó các quá trình phục hồi đất, hoànnguyên các chất dinh dưỡng trả lại đất chậm Năng suất rừng Bồ đề ở các luân kỳsau bị giảm sút, dịch sâu bệnh hại dễ tái phát đã gây ảnh hưởng tới tăng trưởng,thậm chí đã làm chết một số diện tích không nhỏ như rừng Bồ đề Trước thực tế ấycác nhà khoa học của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã nghiên cứu phươngthức và kỹ thuật trồng rừng hỗn loài Bồ đề với các loài cây lá rộng khác, nhằm khắcphục các mặt hạn chế của rừng Bồ đề thuần loài Giai đoạn 1971-1976, Nguyễn BáChất và các cộng sự đã tiến hành thí nghiệm trồng rừng hỗn loài Bồ đề với một sốloài cây bản địa khác ở Tuyên Quang và Phú Thọ Đề tài đã thí nghiệm trồng theo

băng, theo hàng các loài cây có khả năng cố định đạm như: Ràng ràng mít (Omosia

balansea Drakel), Lim xanh, Lim xẹt (Peltophorum tonkinensis), Cốt khí hỗn loài với hai loài cây khác là Mỡ và Xoan đào (Prunus arborea Bl Kalcm) Kết quả sau

5 năm cho thấy năng suất rừng Bồ đề trồng hỗn loài tăng 15-20% so với rừng Bồ đề

trồng thuần loài Thảm mục do rừng trồng hỗn loài tăng lên 10-20%, tính chất đất

đai cũng được cải thiện hơn so với những rừng trồng thuần loài Để có cơ sở chính

xác cho việc bố trí các loài cây trong mô hình hỗn loài tác giả Ngô Quang Đê

(1991) đã chú ý và đề cập nhiều đến mối tương tác hoá sinh trong trồng rừng hỗn

loài Trong mô hình hỗn loài giữa Mỡ và Bồ đề tác giả cho thấy Mỡ trồng hỗn loàivới Bồ đề cho năng suất khá hơn (105,73m3/ha) trong khi đó Mỡ trồng thuần loài

chỉ đạt 65,5m3/ha

Từ những năm 1980 trở lại đây, việc phục hồi rừng bằng các loài cây lá rộng bản

địa đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Nổi bật có 1 số công trình “Nghiên

cứu các phương thức phục hồi rừng vùng sông Hiếu” (1981-1985) của Nguyễn BáChất Đề tài này đã thí nghiệm gây trồng hỗn loài cây Lát hoa với các loài cây lárộng bản địa khác: Lim xẹt, Giổi xanh, Thôi chanh, Lõi thọ, Ràng ràng… nhằm tạo

ra cấu trúc rừng hỗn loài hợp lý để đạt mục đích phục hồi rừng Tác giả và các cộng

sự đã theo dõi mô hình rừng hỗn loài trên đến năm thứ 10 thấy rõ sinh trưởng củarừng Lát hoa trồng hỗn loài tốt hơn là rừng Lát hoa trồng thuần loài Và kiểu cấutrúc rừng Lát hoa hỗn loài sử dụng lớp thực bì phục hồi tự nhiên có ưu điểm về sinh

trưởng cây trồng và tỏ ra có dấu hiệu của sự phục hồi các tính chất của đất

Trang 13

Mức ảnh hưởng của cây phù trợ tới cây trồng chính (các loài cây bản địa) tác giảNguyễn Xuân Quát (1985-1990) đã tiến hành trồng thử nghiệm Tếch kết hợp với

Đậu tràm và Muồng đen ở Tây Nguyên Từ kết quả nghiên cứu tác giả đã nhận xét

“Bước đầu cho thấy chưa rõ hiệu quả sinh trưởng của Tếch là tốt hơn hoặc xấu hơn,nhưng đã tạo được cấu trúc rừng kết hợp giữa cây rụng lá mùa khô, cây phù trợ làcây Đậu tràm và cây bạn Muồng đen thường xanh”, Phạm Đình Tam (1995-1999)

đã tiến hành thí nghiệm trồng hỗn loài giữa Trám trắng, Lim xẹt và Keo lai đã kết

luận chưa thấy ảnh hưởng rõ rệt sinh trưởng của Trám trắng ở các phương thứctrồng hỗn giao khác nhau Sau 4 năm mô hình hỗn loài Trám + Keo + Lim xẹt đãthấy Keo lai bắt đầu che bóng cho Lim xẹt Tuy nhiên các thí nghiệm này đã không

được theo dõi và điều chỉnh độ tàn che thích hợp cho cây trồng chính sinh trưởng và

phát triển Đây cũng là tồn tại chung của các công trình nghiên cứu về trồng rừnghỗn loài có sử dụng cây phù trợ ban đầu

Ngoài các công trình nghiên cứu tạo lập các lâm phần rừng trồng hỗn loài bằngcác loài cây lá rộng còn có một số công trình nghiên cứu tạo ra rừng hỗn loài giữacây lá kim và cây lá rộng, giữa các loài cây nhập nội với nhau Năm 1986, PhùngNgọc Lan đã nghiên cứu thử nghiệm tạo rừng hỗn loài ở rừng núi Luốt - Trường

Đại học Lâm nghiệp - Xuân Mai, Thông đuôi ngựa (Pinus massoniana Lambert)

được chọn làm đối tượng chính Tác giả đã cho tiến hành trồng hỗn loài Thông đuôi

ngựa với Keo lá tràm và Bạch đàn trắng theo các tỉ lệ, mật độ, phương thức, thời điểm

khác nhau Căn cứ vào các chỉ tiêu sinh trưởng, động thái đất, sâu bệnh hại tác giả đã

có những nhận xét sau:

+ Sau 2 năm sinh trưởng của Thông trồng hỗn loài tốt hơn so với Thông trồng

thuần loài Tỷ lệ hỗn giao chưa có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng của Thông trêncác công thức thí nghiệm

+ Trong các công thức hỗn giao đã tiến hành trồng, hiệu quả thấy giun đất pháttriển nhiều hơn so với các công thức đối chứng thuần loài Điều này chứng tỏ tại các

mô hình trồng rừng hỗn loài thì các tính chất của đất đã được cải thiện rõ rệt

Với thí nghiệm trên sau 2 năm tác giả nhận thấy sinh trưởng chiều cao củaThông trồng thuần loài là 2,53m, trong đó chiều cao Thông được trồng hỗn loài với

Trang 14

Keo theo tỉ lệ 1:1 là 2,8m và tỉ lệ 1:2 là 2,72m Sinh trưởng đường kính của Thôngtrồng hỗn loài với Keo theo tỉ lệ 2:1 cũng lớn hơn, nhanh hơn, với mô hình trồnghỗn giao giữa Thông đuôi ngựa và Bạch đàn trắng sinh trưởng của Thông chưa rõ.Cũng tại địa điểm nghiên cứu là khu vực núi Luốt - Đại học Lâm nghiệp - XuânMai Với đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu thực nghiệm trồng cây bản địa dưới tán

rừng Thông đuôi ngựa (Pinus massoniana) và Keo lá tràm (Acacia auriculiformis)

tại khu rừng thực nghiệm trường Đại học Lâm nghiệp” bước đầu đã có một số nhậnxét sau:

Tại khu rừng thực nghiệm này loài cây được sử dụng để tạo môi trường là Keo

lá tràm và Thông đuôi ngựa, hai loài này đều được trồng năm 1985 Khi độ tàn checủa rừng đạt 0,7-0,8 vào các năm 1990-1991 thì các loài cây bản địa được đưa vàotrồng dưới tán rừng Khi đó, khi nghiên cứu về tiểu khí hậu rừng thì thấy giữa cáclâm phần Thông và Keo không có sự khác biệt lớn về nhiệt độ và độ ẩm dưới tánrừng (nhiệt độ bình quân 23,10C, độ ẩm trung bình là 84,2%)

Tại rừng thực nghiệm của trường Đại học Lâm nghiệp, số loài cây bản địa được

đưa vào trồng dưới tán rừng Keo và Thông là 165 loài khác nhau Cây con được thu

thập từ rừng tự nhiên và gieo ươm tại vườn ươm, phương thức trồng hoàn toàn ngẫunhiên và hỗn giao theo đám Dưới tán rừng Thông trồng 27 loài, dưới tán rừng Keotrồng 21 loài, số còn lại được trồng dưới tán các trạng thái rừng hỗn giao Thông –Keo lá tràm, Thông – Keo tai tượng, Bạch đàn… Kết quả theo dõi đến cuối năm

2001 cho thấy:

+ Dưới tán rừng Thông tỉ lệ sống của cây bản điạ là 93,2% và ở rừng Keo látràm là 91,2% Tăng trưởng thường xuyên và tăng trưởng bình quân của cây bản địa

có sự phân hoá rõ rệt ở các loài Tuy nhiên đáng chú ý nhất là một số loài cây

thường được đánh giá là sinh trưởng chậm như Đinh thối, Re hương, Lim xanh,Sưa… nhưng ở giai đoạn chịu bóng dưới tán rừng Thông, Keo lại có tăng trưởng rất

tốt

Ví dụ : Re hương có: ZD00= 0,5cm, ZHvn= 0,5m, ZDt= 0,2m

Lim xanh có: ZD00= 0,5cm, ZHvn= 0,45m, ZDt= 0,15m

Trang 15

Cá biệt có một số loài đạt D1,.3tới 10cm và Hvnlớn hơn 7m như Re, Lim, Quếchtrắng, Đinh thối, Trám.

Sự sinh trưởng và phát triển của các loài cây bản địa trên chịu sự chi phối, ảnh

hưởng rất lớn của các nhân tố: Độ tàn che của tầng cây cao (giai đoạn chịu bóng…)cường độ ánh sáng, nhân tố đất (điều kiện lập địa…)

Cũng trong mảng nghiên cứu này, Phạm Xuân Hoàn, Phạm Văn Điển với đề tài

“Nghiên cứu đặc điểm một số nhân tố tiểu hoàn cảnh của rừng trồng thử nghiệm

hỗn giao cây lá rộng nhiệt đới tại phân khu phục hồi sinh thái Vườn quốc gia Cát Bà

- Hải Phòng” đã có một số kết quả sau:

Tại Vườn quốc gia Cát Bà - Hải Phòng cây tạo môi trường là Keo lá tràm

(A auriculiformis) và Keo tai tượng (A mangium) Cả hai loài cây này được trồng

thuần loài với mật độ ban đầu là 3.300cây/ha vào năm 1992 Năm 1994 rừng Keo

tai tượng khép tán và năm 1995 rừng Keo lá tràm cũng khép tán Đây cũng là thờiđiểm cây bản địa được đưa vào trồng dưới tán rừng Điểm khác biệt cơ bản ở hai

loài cây tạo môi trường này là sau khi khép tán, với tán lá dầy, dưới tán rừng Keo

tai tượng cây bụi thảm tươi không phát triển và hầu như bị diệt hoàn toàn Bề mặtđất rừng rất khô, nhiệt độ bình quân năm dưới tán rừng là 29,4oC Ngược lại, với

rừng Keo lá tràm có tán lá thưa do đó dưới tán rừng có tới 12 loài cây bụi thảm tươimọc với độ che phủ trên 75% và đạt chiều cao trung bình 0,83m Nhiệt độ bình

quân dưới tán rừng là 27,50C Với đặc điểm đó, độ ẩm tầng đất mặt được duy trì ổn

định, đây là một yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng tới tỷ lệ sống cũng như chất lượngsinh trưởng của cây bản địa

Với 10 loài cây bản địa (Gội trắng, Re hương, Nhội, Trám, Sấu, Lát hoa, Limxanh, Lim xẹt, Giẻ và Kim giao) được đưa vào trồng dưới tán các lâm phần Keo lá

tràm và Keo tai tượng ở Vườn quốc gia Cát Bà theo phương thức trồng hỗn giao

theo hàng, kết quả theo dõi từ năm 1995-2000 cho thấy dưới tán rừng Keo tai tượngcác loài cây bản địa sinh trưởng kém hơn Tỉ lệ sống đạt 79,1%, có loài bị chết hoàntoàn (Sấu) Lượng tăng trưởng thường xuyên đạt ở mức thấp Ví dụ, Trám trắng có

ZD00 = 0,22cm, ZHvn= 0,05m, ZDt= 0,03m (ZD00, ZHvn, ZDt lần lượt là tăng trưởng

Trang 16

đường kính gốc, tăng trưởng chiều cao vút ngọn và tăng trưởng đường kính tán).Ngược lại, ở lâm phần Keo lá tràm tỉ lệ sống đạt 95,25%, lượng tăng trưởng thườngxuyên và lượng tăng trưởng bình quân của cây bản địa cao hơn so với các cây cùngloài dưới tán rừng Keo tai tượng Chẳng hạn loài Gội trắng có ZD00= 0,61cm, ZHvn=0,45m, ZDt= 0,08m

Chương trình 327 có định hướng trồng rừng phòng hộ theo phương pháp hỗn

loài: 500 cây Bản địa + 1.100 cây phù trợ, khi thực hiện hơn 60 tỉnh thành có dự án

đã trồng rất nhiều mô hình rừng hỗn loài khác nhau với hơn 70 loài cây Tuy nhiên,

hiện nay chưa có đánh giá chính thức về kết quả các mô hình trồng rừng hỗn loài

này để rút ra các kết luận cần thiết Bên cạnh đó chương trình trồng rừng mới 5 triệu

ha rừng cũng đã đạt đặc biệt nhấn mạnh tới việc nghiên cứu và sử dụng tập đoàncây bản địa và coi đây là một trong những ưu tiên nhằm không chỉ hướng tới mụctiêu chung của chương trình mà còn góp phần to lớn vào chiến lược bảo tồn và giữgìn tính đa dạng loài thực vật ở nước ta

Qua các tổng kết trên ta thấy các nghiên cứu thực nghiệm trong nước về việctrồng rừng hỗn loài thường là dành cho rừng phòng hộ Một vài thí nghiệm chưavận dụng được đặc tính sinh thái quần thể, cá thể trong quá trình nghiên cứu Mộtvài nghiên cứu khác lại chú ý đối tượng cây nhập nội hoặc cây có chu kỳ kinhdoanh ngắn (8 - 15 năm) Việc thiết kế các mô hình và giải pháp kỹ thuật lâm sinhtrong quá trình nuôi dưỡng về sau phần lớn là dựa theo chủ quan Ngoài ra việctrồng rừng hỗn loài gỗ lớn đã được trồng thử nghiệm tại nhiều cơ sở sản xuất vớinhiều loài cây nhưng chưa được đánh giá một cách đúng mức Nhìn chung các côngtrình nghiên cứu đó chỉ được tiến hành trong một thời gian ngắn, chưa có sự đánhgiá nào về kết quả phục hồi bằng cây bản địa và những nghiên cứu cơ bản nhằm cónhững cơ sở chính xác để xây dựng các mô hình rừng trồng hỗn loài theo hướngbền vững (đa dạng hoá lâm sinh) còn ít Vì vậy việc xây dựng các lâm phần rừngtrồng hỗn loài đạt hiệu quả cao thật sự rất khó khăn Đây là những tồn tại cần đượcnghiên cứu giải quyết

Trang 17

Nhìn chung tất cả những nghiên cứu về vấn đề này cũng đã thu được nhiều kếtquả có giá trị về mặt khoa học và thực tiễn sản xuất Tuy nhiên, tại khu vực miềnTrung nói chung và Quảng Trị nói riêng, với những đặc thù về mặt địa lý và điềukiện lập địa việc trồng rừng bằng cây bản địa ở đây chưa có những nghiên cứu để

đánh giá một cách hệ thống Đề tài nghiên cứu này sẽ góp phần vào việc giải quyếttồn tại đó

Trang 18

Chương 2 Mục tiêu, quan điểm, nội dung và phương pháp nghiên cứu 2.1 Mục tiờu và đối tượng nghiờn cứu của đề tài

2.1.1 M ục tiờu

* Về khoa học

- Đánh giá được tình hình sinh trưởng và khả năng phát triển một số loài cây bản địahiện đang được sử dụng trồng trên đất trống đồi núi trọc trong các chương trình trồngrừng trên địa bàn tỉnh Quảng Trị

- Xác định các giải pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp cho trồng rừng bằng cây bản

địa trên vùng đất trống đồi núi trọc tại tỉnh Quảng Trị

* Về thực tiễn

- Rút ra được những bài học kinh nghiệm cho việc trồng rừng cây lá rộng bản địatrên đất trống đồi núi trọc ở tỉnh Quảng Trị và những địa phương khác có cùng điềukiện tự nhiên tương tự

- Đề xuất một số loài cây trồng bản địa có triển vọng cho việc phát triển trồngrừng phòng hộ, sản xuất trên đất trống đồi núi trọc tại tỉnh Quảng Trị

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứu rừng trồng cây bản địa lá rộng trên đất trống đồi núi trọc (trồng hỗngiao đồng thời)

- Trồng cây bản địa trồng hỗn giao dưới tán rừng Keo (phương thức đa dạng hoálâm sinh)

2.1.3 Phạm vi, giới hạn nghiên cứu

- Vùng nghiên cứu: Rừng trồng bằng cây bản địa (trồng hỗn giao đồng thời vàtrồng dưới tán) thực hiện trên vùng đất trống đồi núi trọc trên địa bàn các huyệnVĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ tỉnh Quảng Trị

- Giới hạn nghiên cứu: Đề tài chỉ nghiên cứu đánh giá tình hình sinh trưởng(chiều cao, đường kính thân và đường kính tán cây rừng) của cây bản địa, để rút rabài học kinh nghiệm phục vụ cho công tác trồng rừng trong những năm tới

2.2 Nội dung nghiờn cứu

2.2.1 Đánh giá hoạt động sản xuất lâm nghiệp Tỉnh Quảng Trị

Trang 19

2.2.2 Đánh giá thực trạng một số loài cây trồng bản địa chủ lực trên địa bàn nghiên cứu

2.2.3 Đánh giá sinh trưởng một số loài cây bản địa lá rộng chủ yếu hiện đang

được gây trồng trên vùng đất trống đồi núi trọc theo 2 mô hình sau đây:

+ Mô hình trồng đồng thời cây bản địa với cây phụ trợ ( Keo) (MH I)

+ Mô hình trồng cây bản địa dưới tán cây phụ trợ ( Keo) (MH II)

2.2.4 Đề xuất một số cây trồng bản địa lá rộng phục vụ cho chương trình trồng rừng trên đất trống đồi núi trọc tỉnh Quảng Trị

- Cơ sở để lựa chọn cơ cấu cây trồng bản địa

- Đề xuất một số loài cây bản địa lá rộng sử dụng cho trồng rừng trên đất trống

đồi núi trọc

2.2.5 Đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh trồng rừng cây bản địa trồng trên đất trống đồi núi trọc

- Đề xuất phương thức trồng rừng bằng cây bản địa lá rộng

- Đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh áp dụng cho các chương trình trồngrừng trên đất trống đồi núi trọc tỉnh Quảng Trị

2.3 Phương phỏp nghiờn cứu

2.3.1 Quan điểm và phương pháp luận nghiên cứu

Trang 20

- Khi đánh giá sinh trưởng của một loài cây nếu xem các nhân tố khí hậu, tuổicây là đồng nhất thì mức độ biến động các nhân tố không đồng nhất (ánh sáng, dinhdưỡng) chính là những nhân tố tạo ra sự sai khác về năng lực sinh trưởng của chúng.

Sự ảnh hưởng tích cực của các nhân tố chủ đạo ở một mức độ nhất định sẽ tạo chocây trồng dưới tán sinh trưởng tốt nhất và có chất lượng cao nhất, tại đó gọi là giá trịtối ưu

- Trong mối quan hệ chồng chéo của các nhân tố môi trường đến các loài cây khácnhau, ta có thể tìm ra được khoảng thích hợp của chúng Vì vậy, nhiệm vụ chính củacác nhà lâm sinh là tìm ra khoảng thích hợp đó nhằm đưa ra hướng tác động phù hợp đểcây trồng được sinh trưởng, phát triển trong điều kiện thuận lợi nhất

2.3.2 Ph ương phỏp kế thừa cỏc tài liệu thứ cấp (cú sẵn)

- Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng nghiên cứu: Từ niên giám thống kêtỉnh Quảng Trị năm 2006

- Các quy trình, quy phạm, hướng dẫn kỹ thuật đã có về trồng rừng cây lá rộngbản địa

- Các kết quả nghiên cứu, thử nghiệm về cây lá rộng bản địa nói chung và trồngrừng cây lá rộng bản địa trên đất trống đồi núi trọc nói riêng

- Các báo cáo, hồ sơ thiết kế, nghiệm thu trồng rừng, theo dõi giám sát các môhình rừng trồng, theo dõi diễn biến rừng của Sở Nông nghiệp & PTNT, Chi cục Lâmnghiệp, Chi cục Kiểm lâm, các chủ rừng, ban quản lý dự án,

2.3.3 Ph ương phỏp điều tra hiện trường

- Lập ô tiêu chuẩn

Trong mỗi một mô hình đồng nhất, bố trí các ô tiêu chuẩn để thu thập các số liệu

có liên quan Diện tích và số lượng các ô tiêu chuẩn điều tra đánh giá sẽ được căn cứvào mức độ phong phú của các loại mô hình và hệ số biến động của các chỉ tiêu điềutra mà quyết định Trong mọi trường hợp, sai số không vượt quá 10% và các chỉ tiêu

đo đếm trong ô phải có dung lượng mẫu lớn hơn 30

- Chọn 3 chủ rừng đại diện: Trung tâm KHSX lâm nghiệp vùng Bắc Trung bộ;BQLDA trồng rừng Việt - Đức huyện Vĩnh Linh và huyện Gio Linh

Trang 21

Mỗi chủ rừng, mỗi loài cây và mỗi mô hình trồng (trồng đồng thời, trồng dướitán) chọn 5-8 ô tiêu chuẩn để thu thập tài liệu Ô tiêu chuẩn có diện tích 1.000m2(25x40m) Tổng số cú 29 ụ tiờu chuẩn được lập Trong mỗi một ô tiêu chuẩn, tiếnhành thu thập các số liệu: loài cây trồng, đường kính, chiều cao cây, đường kính tán,

tỷ lệ sống, loài và số lượng cây tái sinh tự nhiên,

+ Đo đường kính tất cả các cây trong ô: Nếu D1,3>=5cm thì đo D1,3; nếu D1.3<5

cm thì đo đường kính cổ rễ

+ Đo chiều cao vút ngọn tất cả các cây trong ô

+ Cây tái sinh: Trên mỗi ô tiêu chuẩn lập 4 ô dạng bản 1x1m để điều tra cây táisinh

- Tất cả các chỉ tiêu điều tra đều được thống kê vào phiếu điều tra lô

Việc điều tra và thu thập số liệu hiện trường sẽ được thử nghiệm trước ở một

điểm để hoàn thiện phương pháp điều tra, đặc biệt là các mẫu phiếu thu thập số liệu;sau đó sẽ tiến hành thu thập số liệu chính thức ở các địa bàn để đánh giá

2.3.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

Số liệu sau khi điều tra ngoại nghiệp được tổng hợp vào cỏc mẫu biểu, sử dụngphần mềm Excel trong mỏy tớnh để xử lý số cỏc liệu sau chỉnh lý Sử dụng phươngphỏp thống kờ toỏn học trong Lõm nghiệp để xử lý cỏc chỉ tiờu điều tra

- Xử lý số liệu tầng cõy cao: Tiến hành chia tổ ghộp nhúm cỏc chỉ tiờu điều tra

Số tổ: m = 5logN, cự ly tổ: K= (Xmax – Xmin)/m, lập bảng tính cỏc đặc trưng mẫu

(sai tiờu chuẩn mẫu: S, trung bỡnh mẫu: Xtb, hệ số biến động: S%, xỏc lập cỏc phõn

bố đặc trưng: phõn bố số cõy theo cỡ kớnh N/D1.3, phõn bố số cõy theo cỡ chiều caoN/Hvn)

- Tớnh cỏc chỉ tiờu điều tra tầng cõy bản địa: Tớnh cỏc chỉ tiờu sinh trưởng trungbỡnh: Doo, D1.3 , Hvnrr…,thống kờ tỷ lệ số cõy theo phẩm chất, xỏc lập cỏc phương

trỡnh tương quan giữa cỏc chỉ tiờu sinh trưởng của tầng cõy bản địa với một số nhõn

tố sinh thỏi cơ bản

Trang 22

- Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Bình.

- Phía Nam giáp tỉnh Thừa Thiên Huế

- Phía Đông giáp với biển Đông

- Phía Tây giáp các tỉnh Savanakhet, Salavan của CHDCND Lào

Trên biển tỉnh Quảng Trị có huyện đảo Cồn Cỏ, cách đất liền khoảng 30km vềphía Đông, với diện tích tự nhiên 2,2 km2

3.1.1.2 Khí hậu, thuỷ văn

Khí hậu Quảng Trị mang đặc điểm chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa Tuy nhiên,

do vị trí địa lý và các đặc điểm về địa hình, khí hậu Quảng Trị có diễn biến khá phứctạp, ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông lâm nghiệp

- Nhiệt độ: Lượng nhiệt tương đối cao, tổng tích nhiệt trung bình năm bình quân9.0000C, miền núi Khe Sanh thấp nhất nhưng cũng đạt tới 8.0000C Nhiệt độ trungbình năm từ 23-250C, nhiệt độ tháng cao nhất (tháng 6 đến tháng 7) khoảng 350C,

có ngày nhiệt độ lên trên 400C, tháng thấp nhất (tháng 1 và tháng 12) khoảng 180C

có khi xuống tới 8-90C

- Chế độ ẩm: Độ ẩm không khí trung bình năm 85%, phân thành 2 mùa rõ rệt:Mùa khô nóng kéo dài 4 tháng, từ tháng 5 đến tháng 8 với độ ẩm trung bình từ 70 -80% và đạt cực tiểu vào tháng 7 xuống 65 - 70% Độ ẩm tăng nhanh khi bước vàomùa mưa và duy trì ở mức cao, với độ ẩm trung bình từ 85 - 90%

- Chế độ mưa: Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 năm trước kéo dài đến tháng 2 nămsau, đạt cực đại vào tháng 10, 11, chiếm 70% lượng mưa năm Từ tháng 3 đến tháng

7 lượng mưa ít nhất, tổng lượng mưa trong thời kỳ này chỉ chiếm dưới 30% lượngmưa năm Tổng lượng mưa bình quân năm từ 2.300 - 2.700 mm ở vùng núi và

Trang 23

1.800-2.000 mm ở vùng đồng bằng Tháng 10 có lượng mưa cao nhất thường đạttrên 600 mm/tháng Mưa tiểu mãn thường xảy ra từ ngày 15 đến ngày 30 tháng 5, lũsớm xảy ra cuối tháng 8 đầu tháng 9.

Hình 3.1 Bản đồ hành chính tỉnh Quảng Trị

- Chế độ gió: Quảng Trị là một trong những vùng chịu ảnh hưởng của 2 loại giómùa chính: Gió mùa Tây Nam (gió Lào) thường xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 8 vàgió mùa Đông Bắc xuất hiện từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau

Trang 24

- Bão: Hàng năm mùa bão thường bắt đầu từ tháng 9 và kết thúc vào cuối tháng

11 Do vị trí địa lý tiếp giáp với biển, bão thường xuất hiện với cường độ lớn, kèmtheo triều cường nên khả năng gây thiệt hại do bão đối với sự phát triển nông lâmnghiệp và đời sống nhân dân thường rất lớn

3.1.1.3 Hiện trạng sử dụng đất

Theo số liệu thống kê của Sở Tài nguyên và Môi trường, hiện trạng sử dụng đấtphân theo mục đích sử dụng được thể hiện ở biểu 3.1

Biểu 3.1 Hiện trạng sử dụng đất tỉnh Quảng Trị năm 2006

2 Đất phi nông nghiệp

3 Đất chưa sử dụng

474.415404.59174.465210.852119.27440.82728.997

100,0085,2815,7044,4425,148,616,11

( Nguồn: Sở Tài nguyên môi trường tỉnh Quảng Trị)

Đất sản xuất nông nghiệp 74.465 chiếm 15,70% diện tích đất tự nhiên.

Đất lâm nghiệp có rừng 210.852 ha chiếm 44,44% diện tích tự nhiên của tỉnh Đất trống lâm nghiệp 119.274 ha chiếm 25,14% diện tích đất tự nhiên toàn

Tỉnh

Đất phi nông nghiệp 40.827 ha chiếm 8,61% diện tích đất tự nhiên toàn Tỉnh Đất chưa sử dụng 28.997 ha chiếm 6,11% diện tích đất tự nhiên toàn Tỉnh.

3.1.1.4 Địa hình

Với nền địa hình phân hoá theo dọc kinh tuyến có độ cao giảm dần từ Tây sang

Đông và thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam đã hình thành những vùng kinh tếxã hội đặc trưng tương đối khác biệt: Vùng núi, vùng gò đồi, vùng đồng bằng vàvùng ven biển

- Vùng địa hình đồi núi

Trang 25

Phân bố chủ yếu ở phía Tây và chiếm gần 78% lãnh thổ toàn tỉnh Sự phân hoá

địa hình ở vùng đồi núi tạo thành 2 tiểu vùng:

Tiểu vùng địa hình gò đồi, núi thấp (tiểu vùng Trung du): Chiếm diện tích lớn

và trải dài từ Bắc xuống Nam, nằm kẹp giữa vùng địa hình đồi cao và dải đồng bằngven biển Địa hình này bao gồm các đồi bát úp (chủ yếu trên các loại đá mẹ phiếnthạch, phiến sa thạch) và các dải đồi thoải (của vùng đất ba zan và phù sa cổ) có độcao từ 20 - 700 m, độ dốc biến động từ 8 - 300

Tiểu vùng địa hình vùng núi

Trường Sơn: Phân bố tập trung

theo dãy Trường Sơn thuộc huyện

Hướng Hoá và Tây - Tây Nam

huyện Đakrông Địa hình chung

- Nhóm bãi cát, cồn cát và đất cát biển: Bao gồm: Bãi cát ven sông, ven biển(Cb): 150 ha, Cồn cát trắng (Cc): 21.731ha, Cồn cát vàng (Cv): 3.582 ha, Đất cátbiển (C): 9.267 ha

Hình 3.2 Vùng núi huyện Hướng Hoá

Quảng Trị

Trang 26

- Đất mặn: Diện tích 1.430 ha

- Đất phèn: Đất phèn ít và trung bình - mặn ít (Sj): Diện tích 418 ha

- Đất xám bạc màu trên phù sa cổ: Diện tích 1.404 ha

- Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ (D): Diện tích 1.902 ha

3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

3.1.2.1 Dân cư, phân bố dân cư, dân trí

Dân số toàn Tỉnh năm 2006: 625.838 người; Trong đó dân cư sống ở vùng nôngthôn: 472.195 người (chiếm tỷ lệ 75,45%), dân cư sống ở vùng thành thị 153.643người (chiếm tỷ lệ 24,55%) Cơ cấu dân số nông thôn/ thành thị thay đổi nhanh theohướng giảm dân số sống tại vùng nông thôn Năm 1990: Dân số nông thôn chiếm84,47%, thành thị: 15,53%: Năm 1995: Dân số nông thôn chiếm 79,28%, thành thị:20,72%; Năm 2005: Dân số nông thôn chiếm 75,47%, thành thị: 24,53%)

Cơ cấu dân số: Nữ: 316.425 người (chiếm tỷ lệ 50,56%), Nam: 309.413 người(chiếm tỷ lệ 49,44%)

bào các dân tộc ít người tập trung

chủ yếu ở các huyện miền núi

(Hướng Hoá, Đakrông) và một số xã

thuộc miền núi của huyện Vĩnh

Linh, Gio Linh, Cam Lộ

Hình 3.3 Dân tộc Vân Kiều - Pa Kô

Trang 27

và vùng ven biển chiếm 9% Giữa các vùng có sự chênh lệch về qui mô và chất lượng lao

động, vùng đồng bằng là địa bàn có lực lượng lao động tập trung đông nhất và số lao

động có trình độ thâm canh sản xuất chiếm tỷ lệ lớn, đặc biệt là sản xuất nông sản theohướng hàng hoá

Trong những năm qua, cùng với sự phát triển về kinh tế - xã hội, chất lượng lao

động nhìn chung đã có sự chuyển biến tích cực Tuy nhiên, trong cơ cấu và chất lượnglao động còn bộc lộ rõ sự mất cân đối giữa các ngành như lao động nông nghiệp vẫncòn chiếm tỷ lệ cao, phần lớn là lao động phổ thông, tỷ lệ lao động được đào tạo cònthấp, lực lượng lao động thiếu việc làm còn chiếm tới gần 5% tổng số lao động trong

độ tuổi (đặc biệt đối với lao động vùng đồng bằng) Đây là một trong những nguyênnhân làm cho nền kinh tế - xã hội của Tỉnh phát triển chậm

3.1.2.3 Tập quán sản xuất, canh tác

Vùng núi và gò đồi: Sản xuất nông nghiệp phần lớn còn theo phương thức quảng

canh, trình độ canh tác lạc hậu, chủ yếu dựa vào tự nhiên nên hiện đang ở trong tìnhtrạng không an toàn về lương thực, số hộ nghèo đói chiếm tỷ lệ lớn

Vùng đồng bằng, ven biển: Nhờ có những chính sách mới trong công tác quản

lý và ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất nông, lâm nghiệp nên điều kiệnkinh tế của các hộ nông dân có chuyển biến tích cực, nhiều mô hình phát triển kinh

tế có hiệu quả cao đã xuất hiện trong thời gian qua

3.1.2.4 Tình hình hưởng thụ các cơ sở văn hoá - phúc lợi

Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, nhiều chươngtrình dự án đã được triển khai thực hiện trên địa bàn tỉnh như chương trình 135, định

Trang 28

canh định cư, Do vậy nhiều cơ sở văn hoá - phúc lợi như trường học, bệnh viện,trạm y tế, cấp nước sạch được chú trọng đầu tư phát triển Nhờ vậy mức độ hưởngthụ các cơ sở văn hoá - phúc lợi của đại bộ phận dân cư đã được cải thiện đáng kể,sức khoẻ của dân cư được tăng cường, dịch bệnh bị đẩy lùi.

Tuy nhiên mức độ và chất lượng đáp ứng của hệ thống các cơ sở văn hoá - phúclợi chưa đồng đều giữa các địa bàn Số trường lớp ở miền núi còn thiếu, nhiều xãmới chỉ là những công trình tạm và bán kiên cố Tỷ lệ dân miền núi được sử dụngnước sạch còn thấp Tỷ lệ học sinh trong độ tuổi bỏ học ở miền núi cao hơn so vớitoàn Tỉnh (tỷ lệ mù chữ chiếm 0,78% dân số miền núi) Về y tế, bình quân ở miềnnúi mới đạt 2 giường bệnh/1.000 dân (ở đồng bằng - ven biển là 2,5 giườngbệnh/1.000 dân), tỷ lệ bác sỹ trên 1.000 dân miền núi là 0,28, trong khi đó miền

đồng bằng là 0,5 bác sỹ 51% số trạm xá miền đồng bằng - ven biển có bác sỹ, riêngmiền núi mới có 10%

Nhìn chung sự chênh lệch về kinh tế cũng như trong đời sống văn hoá - phúc lợi

là một trong những yếu tố còn hạn chế tới việc phân bố dân cư giữa các vùng trongTỉnh Do vậy, trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh cần chú trọng đầutư đồng bộ cả cho phát triển kinh tế lẫn nâng cao điều kiện đời sống văn hoá - phúclợi cho dân cư, đặc biệt đối với các địa bàn còn nhiều tiềm năng như miền núi vàmiền ven biển

Trang 29

Chương 4

Kết quả nghiên cứu và thảo luận 4.1 Hiện trạng lâm nghiệp Tỉnh Quảng Trị

4.1.1 Hiện trạng tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp

Hình 4.1 Hiện trạng rừng và đất rừng tỉnh Quảng Trị

Trang 30

- Rừng tự nhiên

Hiện tại toàn Tỉnh có 133.256 ha với tổng trữ lượng khoảng 18 triệu m3 Rừng tựnhiên đều là rừng gỗ với 2 kiểu: Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, ở độ caodưới 700m và rừng kín thường xanh á nhiệt đới, phân bố ở độ cao trên 700m

Theo "Báo cáo điều tra Lâm học vùng Bắc Trung Bộ" của Viện Điều tra Quyhoạch rừng công bố, hiện tại rừng Quảng Trị có khoảng 597 loài thực vật thuộc 118

họ, trong đó có 175 loài cây gỗ Rừng tự nhiên là nơi giao lưu giữa nhiều luồng thựcvật với các họ tiêu biểu: Dẻ (Fagaceae), Re (Lauraceae), Mộc lan (Mangnoliaceae),Dâu tằm (Moraceae), Hoàng đàn (Podocapaceae), vv

Động vật rừng tại Quảng Trị cũng khá phong phú và đa dạng, hiện có khoảng 55loài lớp thú (thuộc 23 họ, 10 bộ), 176 loài lớp chim (thuộc 46 họ, 15 bộ) và 64 loàilớp lưỡng cư bò sát (thuộc 17 họ, 3 bộ)

Hệ sinh thái rừng tự nhiên trong toàn Tỉnh bị suy thoái do bị chiến tranh tàn phánặng nề và việc khai thác rừng trái phép, phát nương làm rẫy xảy ra trong nhiềunăm, đặc biệt vùng rừng bị chất độc màu da cam huỷ hoại khó có thể khôi phục.Trữ lượng rừng tự nhiên hiện nay thấp, chất lượng rừng kém do vậy cần có giảipháp hữu hiệu nhằm tăng cường công tác quản lý, bảo vệ trong thời gian tới tốt hơn

- Rừng trồng

Rừng trồng trong những năm gần đây, do thay đổi cách nhận thức nên một sốgiống cây lâm nghiệp trước khi đưa vào trồng rừng được tuyển chọn chu đáo vàphương thức canh tác phù hợp Nhìn chung chất lượng khá, tăng trưởng ở mức độtrung bình

Trồng cây bản địa: Một số loài cây bản địa đã được đưa vào trồng rừng trong cácchương trình, dự án như Sến trung, Muồng đen, Sao đen, Huỷnh, Lát hoa, vv Quátrình sinh trưởng và phát triển của rừng trồng bằng cây bản địa chưa được nghiêncứu và có các giải pháp kỹ thuật tác động cụ thể, đang còn là vấn đề cần phải có sựquan tâm nhiều của các nhà chuyên môn kỹ thuật

Các loài cây nhập nội được chú trọng đưa vào trồng rừng sản xuất, trồng câyphân tán và cây trồng phụ trợ trong trồng rừng phòng hộ bao gồm chủ yếu các giốngKeo lá tràm (Acacia auriculiformis), Keo tai tượng (Acacia mangium), Keo lai hom

Trang 31

(Acacia auriculiformis x Acacia mangium) Riêng cây Bạch đàn hiện nay có khoảng

10 loài đã được trồng đại trà và trồng khảo nghiệm Tuy nhiên, do các yếu tố vềthâm canh, chọn vùng lập địa chưa phù hợp nên hầu hết các diện tích rừng trồngBạch đàn năng suất thấp, không đáp ứng được mục tiêu kinh tế Trong những nămgần đây xu thế chuyển dịch từ trồng Bạch đàn sang trồng các loài Keo có hiệu quảkinh tế cao hơn

- Đất chưa sử dụng quy hoạch cho lâm nghiệp

Hiện nay, trên toàn tỉnh Quảng Trị còn 119.274 ha diện tích đất chưa sử dụngquy hoạch cho lâm nghiệp (đất trống, đồi núi trọc) Đây là thách thức rất lớn, nhiệm

vụ nặng nề của ngành trong những năm tới là phát triển rừng để bảo đảm độ che phủcần thiết, phục vụ cho mục tiêu xây dựng môi trường sinh thái bền vững cho toànTỉnh

Hiện nay, Tỉnh đang thực hiện một số dự án đầu tư trồng rừng bằng nguồn vốntrong nước và ngoài nước như Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, Dự án trồng rừngViệt - Đức, Dự án trồng rừng phòng hộ đầu nguồn sông Thạch Hãn (vay vốn JBIC),

dự án trồng rừng phòng hộ Trúc Kinh (vay vốn ADB) Các Dự án trên đã góp phầntích cực và có hiệu quả trong việc giải quyết vấn đề phục hồi lại rừng, bảo vệ rừng,nâng cao độ che phủ, bảo vệ môi trường sinh thái, góp phần tích cực trong côngcuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn

- Độ che phủ của rừng

Trong các năm qua do có sự tập trung cao cho công tác bảo vệ rừng, xây dựngvốn rừng nên độ che phủ của rừng được tăng thêm (bình quân 1%/năm), độ che phủcủa rừng hiện nay đạt 41% Tuy nhiên, chất lượng rừng còn chưa cao, đặc biệt làphục hồi lại tính đa dạng sinh học của các khu rừng tự nhiên đã bị tàn phá trong vàsau chiến tranh Hướng những năm tới cần phải đẩy mạnh trồng rừng tập trung, ưutiên việc khoanh nuôi tái sinh tự nhiên nhằm tăng nhanh diện tích phòng hộ củarừng, mới đảm bảo độ an toàn về mặt sinh thái, môi trường, hạn chế những điều kiệnbất lợi về thời tiết và thiên tai

Trang 32

4.1.2 Những đóng góp của ngành lâm nghiệp trong phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh

4.1.2.1 Về môi trường

Là một trong những địa phương bị ảnh hưởng nặng nề do chiến tranh để lại, sựphát triển lâm nghiệp của Tỉnh đã góp phần tích cực vào việc ổn định môi sinh, môitrường chung, góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp và các ngành kinh tế khácphát triển

Sự ổn định và phát triển của rừng đã góp phần tích cực trong việc ổn định và điềutiết nguồn nước cho các công trình thuỷ lợi, nâng cao nguồn nước ngầm phục vụ chosản xuất và sinh hoạt, hạn chế xâm nhập mặn, cát bay, cát lấp, góp phần hạn chếcác thiệt hại do thiên tai, hạn hán, lũ lụt gây ra hàng năm

4.1.2.2 Về kinh tế

Ngành lâm nghiệp đã có nhiều đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế chungcủa Tỉnh Thông qua việc phát triển trồng rừng đã cơ bản giải quyết được nhu cầucủi đun cho nhân dân, giải quyết được một phần gỗ xây dựng cơ bản cho nông thôn,bước đầu hình thành được vùng nguyên liệu gỗ cho công nghiệp giấy và ván nhântạo, chế biến nhựa thông trong tương lai Lượng gỗ khai thác từ rừng trồng hàngnăm khoảng 85.000 - 100.000 m3 là nguồn nguyên liệu đáng kể cung cấp cho cácnhà máy trong khu vực, đồng thời là nguồn thu lớn cho các hộ nông dân, góp phầntích cực vào công cuộc xoá đói giảm nghèo trên địa bàn Tỉnh

4.1.2.3 Về xã hội

Việc hình thành và phát triển lâm nghiệp đã góp phần tích cực trong việc phân bốlại dân cư, ổn định đời sống cho nhân dân từ vùng núi đến vùng cát ven biển Cácmô hình kinh tế mới, trang trại lâm nghiệp trên các vùng cát, vùng đồi đã thu hút

được nhiều lao động, giải quyết việc làm cho người lao động và thực sự đóng góptích cực vào công cuộc xoá đói giảm nghèo của địa phương, góp phần ổn định anninh chính trị và trật tự xã hội Thông qua phát triển lâm nghiệp hàng năm đã huy

động được hàng vạn ngày công lao động tham gia nghề rừng Nhiều địa phương đãhình thành các hợp tác xã làm nghề rừng, hình thành các nhóm hộ sản xuất nghềrừng Phát triển sản xuất lâm nghiệp đã thực sự trở thành phong trào của nhiều địaphương

Trang 33

4.2 Đánh giá thực trạng một số loài cây trồng bản địa chủ lực trên địa bàn nghiên cứu

Trong những năm qua, trên địa bàn tỉnh Quảng Trị đã và đang triển khai trồng vàkhảo nghiệm một số loài cây trồng bản địa lá rộng phục vụ cho chương trình trồng mới

5 triệu ha rừng và các chương trình, dự án khác Diện tích rừng trồng cây bản địa lárộng đến năm 2006 có 14.470 ha chiếm 20% diện tích rừng trồng toàn Tỉnh Bước đầucho thấy các lâm phần cây bản địa lá rộng sinh truởng và phát triển tốt Tổng số loài câybản địa trồng trên địa bàn tỉnh là rất nhiều, nhưng đề tài chỉ nghiên cứu những loài cây

được trồng với diện tích lớn, còn một số loài cây được Trung tâm Khuyến nông Khuyến lâm, Trung tâm Khoa học sản xuất Lâm nghiệp Bắc Trung Bộ đưa vào trồngkhảo nghiệm với diện tích nhỏ và mới đưa vào trồng nên chưa đánh giá được như câyQuế(Cinnamomum cassia), cây Bời lời đỏ (Litsea odoratissima).

-Biểu 4.1 Tập đoàn cây trồng bản địa lá rộng tỉnh Quảng Trị

4.2.1 Cây Sao đen (Hopea odorata Roxb)

Sao đen phân bố ở ấn Độ, Myanma, Thái Lan, Malaysia và khu vực Đông dương ởViệt Nam, Sao đen phân bố chủ yếu ở các tỉnh phía Nam từ Gia Lai, Kom Tum, Đông

Trang 34

Nam bộ trở vào (từ 15 vĩ nam) Trong vùng phân bố, Sao đen thường mọc ở rừng câylá rộng, ít dốc và đất màu mỡ.

Sao đen là loài cây gỗ lớn, thường xanh, thân hình trụ thẳng, tỉa cành tự nhiên tốt, cókhả năng tái sinh chồi mạnh Sao đen thường mọc thành từng đám hỗn giao với các loàicây họ dầu khác trong rừng rậm, ẩm, mát nhiệt đới, sinh trưởng và phát triển thuận lợitrong điều kiện nhiệt đới có 2 mùa mưa, khô rõ rệt, nhiệt độ trung bình năm 24 - 25olượng mưa bình quân 1.800 - 2.000 mm/năm Cây sinh trưởng tốt trên đất xám phù sa

cổ, sét pha cát, đất đỏ bazan, độ PH từ 4,5 - 5, 0

Sao đen thường để dùng để trồng rừng, làm giàu rừng theo phương thức trồng dặm ởkhoảng trống theo đám hay theo băng để cải thiện tổ thành, nâng cao chất lượng và sảnlượng rừng

Sao đen là loài cây mới được đưa vào trồng rừng trên địa bàn tỉnh Quảng Trị từ năm

2000 cho đến nay Cây Sao đen không phải là cây phân bố ở rừng tự nhiên tại QuảngTrị Nguồn hạt giống chủ yếu được cung cấp từ các tỉnh vùng Đông - Nam bộ

Đến nay toàn tỉnh đã trồng được

7.992 ha, trồng theo nhiều phương

thức trồng khác nhau như trồng đồng

thời với cây Keo (cây phụ trợ) trên

vùng đất núi trọc và đất đồi thoái hoá,

trồng dưới tán rừng trồng Keo thuần

loại theo phương thức đa dạng hoá

lâm sinh, làm giàu rừng trong khoanh

nuôi xúc tiến tái sinh rừng

Nhìn chung, cây Sao đen có sức

chống chịu khá tốt, khả năng sinh

trưởng và phát triển tốt, không bị sâu

bệnh, gia súc, gia cầm phá hoại Hiện

nay đang là loài cây bản địa chủ yếu

được gây trồng trong trồng rừng

phòng hộ đầu nguồn

Hình 4.2 Cây Sao đen trồng hỗn giao

Keo tai tượng

Trang 35

4.2.2 Cây Lát hoa (Chukrasia tabularis A Juss)

Lát hoa phân bố rộng trong rừng tự nhiên nhiệt đới và á nhiệt đới Tại Việt Nam Lát hoa phân bố từ Hà Tĩnh trở ra các tỉnh phía Bắc Lát hoa là loài cây mọc nhanh, cho gỗ lớn, có khả năng tái sinh hạt tốt dưới độ tàn che cao.

Lát hoa là loài cây mọc khá nhanh, dễ gây trồng, có thể phát triển trên diện rộng Cây ưa sáng, lúc nhỏ chịu bóng, phân bố tự nhiên ở vùng có nhiệt độ bình quân năm 18 - 240C, lượng mưa năm 1.200- 2.000mm và trên đất ferralit phát triển trên đá mẹ granit, đá vôi, ưa đất tơi xốp, ẩm nhiều mùn.

Lát hoa được đưa vào trồng với diện

tích tương đối lớn tại khu vực Trung

Trung Bộ, ở tỉnh Quảng Trị được Trung

tâm khoa học sản xuất lâm nghiệp vùng

Bắc Trung Bộ đưa vào trồng khảo

nghiệm mô hình trồng cây Keo lai hỗn

giao với Lát hoa + Sao đen tỷ lệ 1:1

Qua điều tra sinh trưởng tại hiện trường

cho thấy, cây Lát hoa sinh trưởng, phát

triển kém, tỷ lệ sống còn lại thấp

Nguyên nhân do cây Keo lai phát triển

mạnh, không gian hấp thụ dinh dưỡng

hạn chế

4.2.3 Cây Muồng đen (Casia siamea Lamk)

Cây Muồng đen nguyên sản vùng Đông - Nam á ở Việt Nam cây phân bố tự nhiên

từ Nghệ An đến vùng Tây nguyên và Đông - Nam bộ ở độ cao 1.200m trở xuống, lượngmưa 1.000 m - 1.500 m, nhiệt độ bình quân 21 - 25oC

Là loại cây gỗ nhỡ, phân cành sớm Cây ưa sáng, lúc nhỏ cần che bóng 20 - 25%,cây phát triển tốt trên đá mẹ bazan, poocphia, phiến thạch mica, có thể chịu đựng nơi

đất nghèo dinh dưỡng, khô hạn, khả năng tái sinh hạt và chồi tốt

Hình 4.3 Cây Lát hoa trồng hỗn giao

Keo lai

Trang 36

Cây Muồng đen được đưa vào trồng rừng

từ năm 1994 khi thực hiện Chương trình

327 và dự án trồng rừng Việt - Đức năm

1998 Phương thức trồng chủ yếu trồng

hỗn giao đồng thời với các loài Keo (cây

phụ trợ), trồng đồng thời trên đất đồi núi

trọc thoái hoá Cây sinh trưởng và phát

triển tốt trong thời gian 1-2 năm sau khi

trồng, giai đoạn từ năm thứ 3 trở đi cây bị

sâu ăn lá, sinh trưởng kém và chết dần

Cây Muồng đen chỉ thích hợp cho những

vùng đất tốt, còn tính chất đất rừng và

trồng trên đất trồng cây công nghiệp với

tính năng phòng hộ che bóng, đai chắn

4.2.4 Sến trung (Homalium hainannenses Gagnep )

Cây Sến trung còn có tên khác là cây Chà ran, cây Sến, phân bố tập trung ở các tỉnhBắc Trung bộ Là loại cây gỗ nhỡ, thường xanh, cây mọc nhanh, ưa sáng, khi nhỏ cầnche bóng nhẹ, thích hợp trên đất sâu, nhiều mùn, thịt nhẹ, thịt pha cát đến thịt nặng.Sến trung được đưa vào trồng rừng từ

năm 1995 trên địa bàn Tỉnh Nguồn hạt

giống cung cấp chủ yếu từ tỉnh Thừa

Thiên - Huế Cây sinh trưởng và phát

triển tốt trên các vùng đất còn tính chất

Ngày đăng: 21/06/2021, 05:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w