1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu đặc trưng lâm học của thảm thực vật tự nhiên trên rú cát ven biển tại huyện vĩnh linh, tỉnh quảng trị​

103 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở Liên Xô cũ có nhiều công trình nghiên cứu của Vưsotxki 1915, Alokhin 1904, Craxit 1927, Sennhicốp 1933, Creepva 1978…Nói chung theo các tác giả thì mỗi vùng sinh thái sẽ hình thành thả

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

LÊ CHÍ NGHĨA

NGHIÊN CỨU ĐẶC TRƯNG LÂM HỌC CỦA THẢM THỰC VẬT TỰ NHIÊN TRÊN RÚ CÁT

VEN BIỂN TẠI HUYỆN VĨNH LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Hà Nội - 2011

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS Phạm Xuân Hoàn

Hà Nội, 2011

Trang 3

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay ở Việt Nam có khoảng 500.000 ha cát ven biển, rú cát là một hiện tượng độc đáo với thảm thực vật tự nhiên trên cát ở vùng khí hậu khô hạn và khắc nghiệt, cần được đầu tư, nghiên cứu để đánh giá về giá trị khoa học, kinh tế, xã hội, môi trường và có những chiến lược cho việc bảo tồn và sử dụng Tuy chưa được điều tra nghiên cứu, đánh giá một cách đầy đủ, nhưng những điều tra bước đầu cho thấy rú cát tại xã Vĩnh Tú, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị chứa đựng tài nguyên đa dạng sinh học hiếm có của hệ sinh thái vùng cát biển của vùng khí hậu khô nóng của Việt Nam

Rú cát là những quần xã thực vật tự nhiên, xuất hiện và phát triển hằng trăm năm về trước, qua thời gian năm tháng, chúng đã chịu nhiều tác động tiêu cực của thiên tai và con người, dần dần diễn thế dật lùi, suy thoái chất lượng và giảm thiểu thành phần loài Tuy thế, nó vẫn là những tài nguyên vô giá của địa phương Tác dụng to lớn của rú cát đã được người dân vùng cát tổng kết qua thành ngữ "rú tàn, làng mạt" Ai có thâm nhập thực tế mới thấy hết ý nghĩa của thành ngữ dân gian đó

Hệ sinh thái vùng cát ven biển được xem là một trong những hệ sinh thái kém ổn định và dễ bị tổn thương nhất nhưng đây đồng thời cũng là hệ sinh thái có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ vùng đới bờ trước những hiểm họa của thiên tai và biến đổi khí hậu

Vĩnh Tú là xã thuộc vùng cát ven biển của huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị với diện tích rú cát khoảng 450 ha, với thảm thực vật tự nhiên “đa loài, nhiều tầng”, chứa đựng nguồn tài nguyên đa dạng sinh học khá phong phú và đặc thù của hệ sinh vùng cát ven biển của Việt Nam Hiện tại vùng rú cát này đóng vai trò rất lớn đối với đời sống người dân địa phương như cung cấp nguồn nước tưới cho ruộng lúa, giảm tốc độ gió bảo, hạn chế cát bay cát nhảy, chống xói mòn, chống sa mạc hóa, điều hòa khí hậu, cải thiện môi trường sinh thái…

Trang 4

Đề tài "Nghiên cứu đặc trưng lâm học của thảm thực vật tự nhiên trên

ru ́ cát ven biển ta ̣i huyê ̣n Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Tri ̣"

Nhằm góp phần bổ sung những thông tin mới về đă ̣c điểm cấu trúc, xây dựng danh lục thảm thực vâ ̣t rú cát làm cơ sở cho việc bảo tồn, khôi phục và sử dụng hiệu quả môi trường và tài nguyên rú cát trên địa bàn

Trang 5

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Trên thế giới

1.1.1 Những nghiên cứu về thảm thực vật

1.1.1.1 Khái niệm về thảm thực vật

Thảm thực vật (vegetation) là khái niệm rất quen thuộc, có nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đưa ra các định nghĩa khác nhau Theo J.Schmithusen (1959) thì thảm thực vật là lớp thực bì của trái đất và các bộ phận cấu thành khác nhau của nó Thái Văn Trừng (1978) [25] cho rằng thảm thực vật là các quần hệ

thực vật phủ trên mặt đất như một tấm thảm xanh Trần Đình Lý (1998) [15] cho

rằng thảm thực vật là toàn bộ lớp phủ thực vật ở một vùng cụ thể hay toàn bộ lớp phủ thảm thực vật trên toàn bộ bề mặt trái đất Thảm thực vật là một khái niệm chung chưa chỉ rõ đối tượng cụ thể nào Nó chỉ có ý nghĩa và giá trị cụ thể khi có định nghĩa kèm theo như: thảm thực vật cây bụi, thảm thực vật rừng ngập mặn…

Maurand (1943) [28] nghiên cứu về thảm thực vật Đông Dương đã chia thảm thực vật Đông Dương thành 3 vùng: Bắc Đông Dương, Nam Đông Dương và vùng trung gian Đồng thời ông đã liệt kê 8 kiểu quần lạc trong các vùng đó

1.1.2 Những nghiên cứu về hệ thực vật

Tổng số loài thực vật hiện nay trên thế giới có nhiều biến động và chưa cụ thể, tuỳ từng tác giả do chưa có sự nghiên cứu và điều tra đầy đủ Các nhà thực vật

Trang 6

học dự đoán số loài thực vật bậc cao hiện có trên thế giới vào khoảng 500.000 - 600.000 loài

Năm 1965, Al A Phêđôrốp đã dự đoán trên thế giới có khoảng: 300.000 loài thực vật hạt kín; 5.000 - 7.000 loài thực vật hạt trần; 6.000 - 10.000 loài quyết thực vật; 14.000 - 18.000 loài rêu; 19.000 - 40.000 loài tảo; 15.000 - 20.000 loài địa y; 85.000 - 100.000 loài nấm và các loài thực vật bậc thấp khác

Năm 1962, G N Slucop đã đưa ra số lượng các loài thực vật hạt kín phân bố

ở các châu lục như sau:

Châu Mỹ có khoảng 97.000 loài trong đó: Hoa Kỳ + Canada: 25.000 loài; Mehico + Trung Mỹ: 17.000 loài; Nam Mỹ: 56.000 loài; Đất lửa + Nam cực: 1.000 loài

Châu Âu có khoảng 15.000 loài trong đó: Trung và Bắc Âu: 5.000 loài; Nam

Âu, vùng Ban căng và Capcasơ: 10.000 loài

Châu Phi có khoảng 40.500 loài trong đó: các vùng nhiệt đới ẩm: 15.500 loài; Madagasca: 7.000 loài; Nam Phi: 6.500 loài; Bắc Phi, Angieri, Ma Rốc và các vùng phụ cận khác: 4.500 loài; Abitxini: 4.000 loài; Tuynidi và Ai cập: 2.000 loài; Xomali và Eritrea: 1.000 loài

Châu Á có khoảng 125.000 loài trong đó: Đông Nam Á: 80.000 loài; các khu vực nhiệt đới Ấn Độ: 26.000 loài; Tiểu Á: 8.000 loài; Viễn đông thuộc Liên bang Nga, Triều Tiên, Đông bắc Trung Quốc: 6.000 loài; Xibêria thuộc Liên bang Nga, Mông Cổ và Trung Á: 5.000 loài

Châu Úc có khoảng 21.000 loài trong đó: Đông Bắc Úc: 6.000 loài; Tây Nam Úc: 5.500 loài; Lục địa Úc: 5.000 loài; Taxman và Tây tây lan: 4.500 loài

1.1.3 Những nghiên cứu về cấu trúc và thành phần loài

1.1.3.1 Những nghiên cứu về cấu trúc rừng

Trong nghiên cứu cấu trúc rừng người ta chia thành ba dạng cấu trúc là cấu trúc sinh thái, cấu trúc không gian và cấu trúc thời gian Cấu trúc của lớp thảm thực vật là kết quả của quá trình chọn lọc tự nhiên, là sản phẩm của quá trình đấu tranh sinh tồn giữa thực vật với thực vật và giữa thực vật với hoàn cảnh sống Trên quan

Trang 7

điểm sinh thái thì cấu trúc rừng chính là hình thức bên ngoài phản ánh nội dung bên trong của hệ sinh thái rừng

Baur G.N (1962) đã nghiên cứu các vấn đề về cơ sở sinh thái học nói chung

và về cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng mưa nói riêng, trong đó đã đi sâu nghiên cứu các nhân tố cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm sinh áp dụng cho rừng mưa tự nhiên Từ đó tác giả này đã đưa ra những tổng kết hết sức phong phú

về các nguyên lý tác động xử lý lâm sinh nhằm đem lại rừng cơ bản là đều tuổi, rừng không đều tuổi và các phương thức xử lý cải thiện rừng mưa

Việc nghiên cứu cấu trúc rừng đã có từ lâu, trong đó việc mô hình hoá cấu trúc rừng, xác lập mối quan hệ giữa các nhân tố cấu trúc rừng đã được nhiều tác giả nghiên cứu có kết quả Vấn đề về cấu trúc không gian và thời gian của rừng được các tác giả tập trung nghiên cứu nhiều nhất Có thể kể đến một số tác giả tiêu biểu như: Rollet B (1971), Brung (1970), Loeth et al (1967) rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu cấu trúc không gian và thời gian của rừng theo hướng định lượng và dùng các mô hình toán để mô phỏng các qui luật cấu trúc (dẫn theo Trần Văn Con, (2001)) Rollet B (1971) đã mô tả mối quan hệ giữa chiều cao và đường kính bằng các hàm hồi qui, phân bố đường kính bằng các dạng phân bố xác suất (dẫn theo Bảo Huy (1993) Nhiều tác giả còn sử dụng hàm Weibull để mô hình hoá cấu trúc đường kính loài thông theo mô hình của Schumarcher và Coil (Belly, 1973) Bên cạnh đó các dạng hàm Meyer, Hyperbol, hàm mũ, Pearson, Poisson, cũng được nhiều tác giả sử dụng để mô hình hoá cấu trúc rừng

Một vấn đề nữa có liên quan đến nghiên cứu cấu trúc rừng đó là việc phân loại rừng theo cấu trúc và ngoại mạo hay ngoại mạo sinh thái Cơ sở phân loại rừng theo xu hướng này là đặc điểm phân bố, dạng sống ưu thế, cấu trúc tầng thứ và một

số đặc điểm hình thái khác của quần xã thực vật rừng Đại diện cho hệ thống phân loại rừng theo hướng này có Humbold (1809), Schimper (1903), Aubreville (1949), UNESCO (1973) Trong nhiều hệ thống phân loại rừng theo xu hướng này khi nghiên cứu ngoại mạo của quần xã thực vật đã không tách rời khỏi hoàn cảnh của

nó và do vậy hình thành một hướng phân loại theo ngoại mạo sinh thái

Trang 8

Khác với xu hướng phân loại rừng theo cấu trúc và ngoại mạo chủ yếu mô tả rừng ở quần xã tĩnh Trên cơ sở nghiên cứu rừng ở quần xã động Melekhov đã nhấn mạnh sự biến đổi của rừng theo thời gian, đặc biệt là sự biến đổi của tổ thành loài cây trong lâm phần qua các giai đoạn khác nhau trong quá trình phát sinh và phát triển của rừng

1.1.3.2 Những nghiên cứu về thành phần loài

Những nghiên cứu về thành phần loài là một trong những nghiên cứu được tiến hành từ lâu trên thế giới Ở Liên Xô (cũ) có nhiều công trình nghiên cứu của Vưsotxki (1915), Alokhin (1904), Craxit (1927), Sennhicốp (1933), Creepva (1978)…Nói chung theo các tác giả thì mỗi vùng sinh thái sẽ hình thành thảm thực vật đặc trưng, sự khác biệt của thảm này so với thảm khác biểu thị bởi thành phần loài, thành phần dạng sống, cấu trúc và động thái của nó Vì vậy, việc nghiên cứu thành phần loài, thành phần dạng sống là chỉ tiêu quan trọng trong phân loại loại hình thảm thực vật

Ramakrishman (1981 – 1992) nghiên cứu thảm thực vật sau nương rẫy ở vùng Tây bắc Ấn Độ đã khẳng định: chỉ số đa dạng loài rất thấp, chỉ số loài ưu thế đạt cao nhất ở pha đầu của quá trình diễn thế và giảm dần theo thời gian bỏ hoá

Longchun và cộng sự (1993), nghiên cứu về đa dạng thực vật ở hệ sinh thái nương rẫy tại Xishuang Bana tỉnh Vân Nam Trung Quốc đã nhận xét: khi nương rẫy

bỏ hóa được 3 năm thì có 17 họ, 21 chi, 21 loài; bỏ hoá 19 năm thì có 60 họ, 134 chi và 167 loài

1.1.4 Những nghiên cứu về rừng có giá trị bảo tồn cao

Năm 2003, ProForest (Công ty tư vấn lâm nghiệp Anh) đưa ra bộ công cụ chung đầu tiên để xác định Rừng có giá trị bảo tồn cao

Một số nước trong khu vực Đông Nam Á như Indonesia và Lào đang tiến hành xây dựng bộ công cụ HCVF quốc gia Ngoài ra, việc đánh giá HCVF cũng được thực hiện trong đơn vị quản lý rừng PITC tại Malaysia

1.2 Ở Việt Nam

1.2.1 Những nghiên cứu về thảm thực vật

Trang 9

Những công trình nghiên cứu về thảm thực vật Việt Nam đến nay còn ít Chevalier (1918) là người đầu tiên đã đưa ra một bảng phân loại thảm thực vật rừng Bắc bộ Việt Nam (đây được xem là bảng phân loại thảm thực vật rừng nhiệt đới Châu Á đầu tiên trên thế giới) Theo bảng phân loại này rừng ở Miền bắc Việt Nam được chia thành 10 kiểu [27]

Năm 1953 ở Miền nam Việt Nam xuất hiện bảng phân loại thảm thực vật rừng Miền nam của Maurand khi ông tổng kết về các công trình nghiên cứu các quần thể rừng thưa của Rollet, Lý Văn Hội, Neang Sam Oil

Bảng phân loại đầu tiên của ngành Lâm nghiệp Việt Nam về thảm thực vật rừng ở Việt Nam là bảng phân loại của Cục điều tra và quy hoạch rừng (1960) Theo bảng phân loại này rừng trên toàn lãnh thổ Việt Nam được chia làm 4 loại hình lớn:

Loại I: đất đai hoang trọc, những trảng cỏ và cây bụi, trên loại này cần phải trồng rừng

Loại II: gồm những rừng non mới mọc, cần phải tra dặm thêm cây hoặc tỉa thưa Loại III: gồm tất cả các loại hình rừng bị khai thác mạnh trở nên nghèo kiệt tuy còn có thể khai thác lấy gỗ, trụ mỏ, củi, nhưng cần phải xúc tiến tái sinh, tu bổ, cải tạo

Loại IV: gồm những rừng già nguyên sinh còn nhiều nguyên liệu, chưa bị phá hoại, cần khai thác hợp lý

Phan Nguyên Hồng (1970) [8], phân chia kiểu thảm thực vật ven bờ biển Miền bắc Việt Nam thành rừng ngập mặn, rừng gỗ ven biển và thực vật bãi cát trống

Thái Văn Trừng (1978) [25] đã đưa ra 5 kiểu quần lạc lớn (quần lạc thân gỗ kín tán; quần lạc thân gỗ thưa; quần lạc thân cỏ kín rậm; quần lạc thân cỏ thưa và những kiểu hoang mạc) và nguyên tắc đặt tên cho các thảm thực vật Năm 1975, trên cơ sở các điều kiện lập địa trên toàn lãnh thổ Việt Nam, tại hội nghị thực vật học quốc tế lần thứ XII (Leningrat), ông đưa ra bảng phân loại thảm thực vật rừng

Trang 10

Việt Nam theo quan điểm sinh thái, đây được xem là bảng phân loại thảm thực vật rừng ở Việt Nam phù hợp nhất theo quan điểm sinh thái cho đến nay

Phan Kế Lộc (1985) [13] dựa trên bảng phân loại của UNESCO 1973, cũng

đã xây dựng thang phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam thành 5 lớp quần hệ, 15 dưới lớp, 32 nhóm quần hệ và 77 quần hệ khác nhau Nguyễn Nghĩa Thìn (1994-1996) cũng đã áp dụng cách phân loại này trong những nghiên cứu của ông

Nguyễn Hải Tuất (1991) [23] nghiên cứu một số đặc trưng chủ yếu về sinh thái của các quần thể thực vật tại vùng núi cao Ba Vì đã chia ra 3 kiểu rừng cơ bản: kiểu rừng hỗn giao ẩm á nhiệt đới; kiểu rừng kín hỗn giao ẩm á nhiệt đới núi cao; kiểu rừng kín hỗn giao cây hạt kín và hạt trần

Vũ Tự Lập và cộng sự (1995) [10] cho rằng khí hậu ảnh hưởng đến sự hình thành và phân bố các kiểu thực bì thông qua nhiệt độ và độ ẩm Dựa vào mối quan

hệ giữa hình thái thực bì và khí hậu chia ra 15 kiểu thực bì khác nhau: kiểu rừng rậm nhiệt đới gió mùa rụng lá; kiểu rừng rậm nhiệt đới ẩm thường xanh; kiểu rừng rậm nhiệt đới gió mùa nửa rụng lá; kiểu rừng khô nhiệt đới gió mùa khô rụng lá; kiểu rừng thưa nhiệt đới khô lá kim; kiểu sa van nhiệt đới khô; kiểu truông nhiệt đới khô; kiểu rừng nhiệt đới trên đất đá vôi; kiểu rừng nhiệt đới trên đất mặn; kiểu rừng nhiệt đới trên đất phèn; kiểu rừng rậm á nhiệt đới ẩm lá rộng thường xanh; kiểu rừng rậm á nhiệt đới ẩm hỗn giao; kiểu rừng thưa á nhiệt đới hơi ẩm lá kín; kiểu rừng rêu á nhiệt đới mưa mùa; kiểu rừng lùn đỉnh cao

Thái Văn Trừng (1998) [26] khi nghiên cứu hệ sinh thái rừng nhiệt đới Việt Nam đã kết hợp 2 hệ thống phân loại (hệ thống phân loại lấy đặc điểm cấu trúc ngoại mạo làm tiêu chuẩn và hệ thống phân loại thực vật dựa trên yếu tố hệ thực vật làm tiêu chuẩn) để phân chia thảm thực vật Việt Nam thành 5 kiểu thảm (5 nhóm quần hệ) với 14 kiểu quần hệ (14 quần hệ) Bảng phân loại này của ông từ bậc quần

hệ trở lên gần phù hợp với hệ thống phân loại của UNESCO (1973)

Lê Ngọc Công (2004) [4] cũng dựa theo khung phân loại của UNESCO (1973) đã phân chia thảm thực vật của tỉnh Thái Nguyên thành 4 lớp quần hệ: rừng rậm; rừng thưa; trảng cây bụi và trảng cỏ Ở đây, những trạng thái thứ sinh (được

Trang 11

hình thành do tác động của con người như: khai thác gỗ, củi, chặt đốt rừng làm nương rẫy…) bao gồm: trảng cỏ; trảng cây bụi và rừng thưa

Ngô Tiến Dũng (2004) [6] dựa theo phương pháp phân loại thảm thực vật của UNESCO (1973) đã phân chia thảm thực vật Vườn quốc gia Yok Don thành: kiểu rừng kín thường xanh; kiểu rừng thưa nửa rụng lá và kiểu rừng thưa cây lá rộng rụng lá gồm 6 quần xã khác nhau

Kế Lộc (1998) đã kiểm kê và ghi nhận đến nay trong hệ thực vật Việt Nam đã biết được 9.653 loài thực vật bậc cao có mạch mọc tự nhiên, thuộc 2.011 chi và 291 họ Nếu kể cả khoảng 733 loài cây trồng đã được nhập nội thì tổng số loài thực vật bậc cao có mạch biết được ở Việt Nam đã lên tới 10.386 loài, thuộc 2.257 chi và 305

họ, chiếm khoảng 4% tổng số loài, 15% tổng số chi và 57% tổng số họ của toàn thế giới Cũng do điều kiện khí hậu và địa hình đa dạng, đặc thù nên hệ thực vật nước ta

có thành phần loài khá phong phú mang cả yếu tố của thực vật nhiệt đới ẩm

Indonesia - Malaisia, yếu tố của thực vật nhiệt đới gió mùa, thực vật ôn đới nam

Trung Hoa và các yếu tố của thực vật Ấn Độ - Trung và Nam Tiểu Á

* Nhận xét chung

Nhìn chung, những nghiên cứu về thảm thực vật của các tác giả hầu hết chỉ tập trung nghiên cứu ở một vùng cụ thể và phần lớn các tác giả đều dựa vào khung phân loại của UNESCO (1973) trong nghiên cứu của mình

Những nghiên cứu về hệ thực vật trên thế giới và ở Việt Nam: hầu hết các tác giả đều mới chỉ đưa ra con số dự đoán về hệ thực vật ở một châu lục, một quốc

Trang 12

gia, hoặc một khu vực cụ thể Những số liệu này chưa được nghiên cứu và điều tra đầy đủ Vì vậy, số loài thực vật hiện có chắc chắn còn dao động và cao hơn nhiều

1.2.3 Những nghiên cứu về cấu trúc và thành phần loài

1.2.3.1 Những nghiên cứu về cấu trúc rừng

Cấu trúc rừng là sự sắp xếp tổ chức nội bộ của các thành phần sinh vật trọng

hệ sinh thái rừng mà qua đó các loài có đặc điểm sinh thái khác nhau có thể chung sống hài hoà và đạt tới sự ổn định tương đối trong một giai đoạn phát triển nhất định của tự nhiên Cấu trúc của rừng vừa là kết quả, vừa là sự thể hiện quan hệ đấu tranh và thích ứng lẫn nhau giữa các sinh vật rừng với môi trường sinh thái và giữa các sinh vật với nhau Các nhân tố trong cấu trúc rừng là: cấu trúc tổ thành, cấu trúc tầng (trên mặt đất và dưới mặt đất), cấu trúc tuổi…

Trong vòng vài chục năm qua, nghiên cứu về cấu trúc rừng là một trong những nội dung quan trọng nhằm đề xuất các giải pháp kỹ thuật phù hợp Thái Văn Trừng (1978), Trần Ngũ Phương (1970) [25], [17] cũng đã nghiên cứu cấu trúc sinh thái để làm căn cứ phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam

Trần Ngũ Phương (1970) [17] đã chỉ ra những đặc điểm cấu trúc của các thảm thực vật rừng miền Bắc Việt Nam trên cơ sở kết quả điều tra tổng quát về tình hình rừng miền Bắc Việt Nam từ 1961 đến 1965 Nhân tố cấu trúc đầu tiên được nghiên cứu là tổ thành và thông qua đó một số quy luật phát triển của các hệ sinh thái rừng được phát hiện và ứng dụng vào thực tiễn sản xuất

Khi nghiên cứu kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới ở nước ta Thái Văn Trừng (1963, 1970, 1978) đã đưa ra mô hình cấu trúc tầng như: tầng vượt tán (A1), tầng ưu thế sinh thái (A2), tầng dưới tán (A3), tầng cây bụi (B) và tầng cỏ quyết (C) Thái Văn Trừng đã vận dụng và cải tiến, bổ sung phương pháp biểu đồ mặt cắt đứng của Davit - Risa để nghiên cứu cấu trúc rừng Việt Nam, trong đó tầng cây bụi và thảm tươi được vẽ phóng đại với tỷ lệ nhỏ hơn và có ghi ký hiệu thành phần loài cây của quần thể đối với những đặc trưng sinh thái và vật hậu cùng biểu

đồ khí hậu, vị trí địa lý, địa hình Bên cạnh đó, tác giả này còn dựa vào 4 tiêu chuẩn

để phân chia kiểu thảm thực vật rừng Việt Nam, đó là dạng sống ưu thế của những

Trang 13

thực vật trong tầng cây lập quần, độ tàn che của tầng ưu thế sinh thái, hình thái sinh thái của nó và trạng mùa của tán lá Với những quan điểm trên Thái Văn Trừng đã phân chia thảm thực vật rừng Việt nam thành 14 kiểu Như vậy, các nhân tố cấu trúc rừng được vận dụng triệt để trong phân loại rừng theo quan điểm sinh thái phát sinh quần thể

Vũ Đình Phương (1987) [18] trong vấn đề thâm canh rừng tự nhiên ở nước

ta, ông cho rằng muốn xác định được hướng kỹ thuật thâm canh rừng tự nhiên cần phải hiểu biết về rừng, nắm bắt được quy luật tự nhiên của rừng Những quy luật tự nhiên của rừng có liên quan đến cấu trúc rừng, nghiên cứu về cấu trúc rừng hỗn loài thường xanh (cấu trúc tổ thành, cấu trúc tầng, cấu trúc theo thời gian…) là cơ

sở cho việc đề xuất biện pháp thâm canh rừng Nguyễn Hải Tuất (1991), nghiên cứu quy luật cấu trúc quần thể cây rừng (Ba Vì) cho rằng, điều kiện sinh thái ở đây đảm bảo tính ổn định của một hệ sinh thái núi cao thể hiện qua các quy luật cấu trúc rừng

Trần Văn Con (1992) ứng dụng mô phỏng toán học trong nghiên cứu động thái rừng tự nhiên tại lâm trường Nam Phú Nhơn (Gia Lai Kon Tum) đã cho rằng,

sự biến đổi cấu trúc lâm phần (động thái) là kết quả tổng hợp của ba quá trình: tái sinh, sinh trưởng và đào thải (chết tự nhiên và tỉa thưa) Mô phỏng toán học có thể rút ngắn thời gian nghiên cứu để dự báo sự thay đổi cấu trúc khi biết hiện trạng rừng

và các tương quan nhất định

Những nghiên cứu về cấu trúc rừng của nước ta còn có một số tác giả như: Phạm Minh Nguyệt (1994) đưa ra những tiêu chuẩn về một cấu trúc rừng cần được quan tâm khi tiến hành chặt tu bổ Cấu trúc thích hợp tức là mọi tầng cây đều phát triển tốt Tầng cây trên cung cấp nguyên vật liệu cho kinh doanh nhưng cũng tạo ra các điều kiện khác cho cây rừng phát triển cân đối nhịp nhàng Tầng trung bình bổ sung độ tàn che tạo điều kiện sinh thái thuận lợi cho cây rừng và cung cấp một số nguyên liệu Tầng cây tái sinh mọc xen giữa thảm tươi cây bụi, dây leo là tiềm lực của rừng tạo điều kiện tái sinh lâu dài

Võ Đại Hải (1996), đưa ra khái niệm chức năng phòng hộ nguồn nước của thảm thực vật Theo tác giả mô hình cấu trúc hợp lý của rừng phòng hộ đầu nguồn

Trang 14

là mô hình cấu trúc rừng đáp ứng được yêu cầu phòng hộ về điều tiết nước và xói mòn Trong mô hình cấu trúc, ông đề cập tổ thành loài cây và điều kiện sinh trưởng phát triển của chúng

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về cấu trúc rừng gần đây thường thiên về việc mô hình hoá các quy luật kết cấu lâm phần và việc đề xuất các biện pháp kỹ thuật tác động vào rừng thường ít đề cập đến các yếu tố sinh thái nên chưa thực sự đáp ứng mục tiêu kinh doanh rừng ổn định lâu dài Muốn đề xuất được các biện pháp kỹ thuật lâm sinh chính xác, đòi hỏi phải nghiên cứu cấu trúc rừng một cách đầy đủ và phải đứng trên quan điểm tổng hợp về sinh thái học, lâm học và sản lượng

1.2.3.2 Những nghiên cứu về thành phần loài

Ở Việt Nam, Phan Kế Lộc (1978) đã xác định hệ thực vật miền bắc Việt Nam có 5.609 loài thuộc 1.660 chi và 240 họ [12]

Khi nghiên cứu về thành phần loài, Hoàng Hữu Hiếu (1970) đã đề nghị áp dụng công thức đánh giá tổ thành loài rừng nhiệt đới

X = N/a

( X : Trị số trung bình cá thể của một loài; N: Số cây điều tra; a: Số loài điều tra) Một số loài được gọi là thành phần chính của loại hình phải có số lượng cá thể bằng hoặc lớn hơn X

Nguyễn Đăng Khôi (1971) đã bổ sung thêm 26 loài không được F Gagnepain ghi nhận ở Miền bắc Việt Nam trong “Thực vật chí đại cương Đông Dương”

Nguyễn Đăng Khôi và Nguyễn Văn Phú (1975) đã thống kê 39 loài cây bộ Đậu thân bò và thân leo làm thức ăn giàu protein cho gia súc Miền Bắc Việt Nam Thái Văn Trừng (1970) thống kê hệ thực vật Việt Nam có 7.004 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 1.850 chi, 289 họ

Phan Kế Lộc (1978) điều tra phát hiện 20 loài cây có tannin thuộc họ Trinh

nữ (Mimosaceae) và giới thiệu 4 loài khác mọc ở Việt Nam có tannin [12]

Trang 15

Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (1983) khi nghiên cứu hệ thực vật Tây Nguyên

đã thống kê được 3.210 loài, chiếm gần 1/2 số loài đã biết của toàn Đông Dương [2]

Phạm Hoàng Hộ (1999 - 2000) trong “Cây cỏ Việt Nam” đã thống kê số loài hiện có của hệ thực vật là 10.500 loài [7]

Phan Nguyên Hồng (1991) lập danh mục cùng với một số chỉ tiêu khác (dạng sống, môi trường, khu phân bố) của 75 loài thuộc 2 nhóm loài cây ngập mặn điển hình và cây gia nhập vào rừng ngập mặn [8]

Đỗ Tất Lợi (1995) khi nghiên cứu các loài cây thuốc đã công bố 798 loài thuộc 164 họ có ở hầu hết các tỉnh nước ta [11]

Trần Đình Đại (2001) căn cứ vào kết quả điều tra thực địa, mẫu vật lưu giữ tại các phòng tiêu bản đã thống kê danh lục các loài thực vật tại vùng Tây bắc bộ (Lai Châu, Lào Cai, Sơn La) gồm 226 họ, 1.050 chi và 3.074 loài thuộc 6 ngành thực vật bậc cao có mạch [5]

Nguyễn Nghĩa Thìn (1998) đã thống kê thành phần loài của Vườn quốc gia Tam Đảo có khoảng 2.000 loài thực vật, trong đó có 904 cây có ích thuộc 478 chi,

213 họ thuộc 3 ngành: Dương xỉ, Hạt trần và Hạt kín Các loài này được xếp thành

8 nhóm có giá trị khác nhau Năm 1998, khi nghiên cứu về họ Thầu Dầu (Euphorbiaceae) ở Việt Nam, ông thu được 156 loài trong tổng số 425 loài của họ Thầu dầu ở Việt Nam chia làm 7 nhóm theo cách sử dụng [20]

Thái Văn Trừng (1998) khi nghiên cứu về hệ thực vật Việt Nam đã có nhận xét về tổ thành loài thực vật của tầng cây bụi như sau: trong các trạng thái thảm khác nhau của rừng nhiệt đới Việt Nam, tổ thành loài của tầng cây bụi chủ yếu có

sự đóng góp của các chi Psychotria, Prismatomeris, Pavetta (họ Cà phê - Rubiaceae); chi Tabermontana (họ Trúc đào - Apocynaceae); chi Ardisia, Maesa (họ Đơn nem Myrsinaceae) [26]

Nguyễn Nghĩa Thìn (1998) khi tổng kết các công trình nghiên cứu về khu hệ thực vật ở Việt Nam đã ghi nhận có 2.393 loài thực vật bậc thấp và 1.373 loài thực vật bậc cao thuộc 2.524 chi, 378 họ [20], [21]

Trang 16

Thái Văn Thụy, Nguyễn Phúc Nguyên (2005) nghiên cứu về thảm thực vật Vườn quốc gia Ba Vì đã xác định ở đây có 11 kiểu quần xã thực vật khác nhau Trong quần xã cây bụi thứ sinh thường xanh, lá rộng thành phần chủ yếu là cây gỗ dạng bụi cao từ 2 - 5m [22]

* Nhận xét chung

Những nghiên cứu về thành phần loài của các tác giả trên thế giới và ở Việt Nam đều tập trung nghiên cứu và đánh giá thành phần loài ở một vùng và khu vực

cụ thể, phản ánh hệ thực vật đặc trưng trong mối tương quan với điều kiện địa hình

và khí hậu Tuy vậy, số lượng các công trình nghiên cứu còn chưa nhiều, cần có những nghiên cứu cụ thể hơn rộng rãi hơn nhằm mục đích có thể đánh giá chính xác thành phần loài thực vật đặc trưng của một khu vực hoặc một quốc gia

Những nghiên cứu về cấu trúc rừng còn tương đối ít, mỗi tác giả đều đưa ra những tiêu chuẩn riêng để xây dựng một cấu trúc rừng thích hợp Cấu trúc thích hợp tức là mọi tầng cây đều phát triển tốt Tuỳ từng giai đoạn mà cấu trúc rừng có thể thay đổi, phụ thuộc vào nhiều yếu tố

1.2.3.4 Những nghiên cứu về thảm thực vật tự nhiên vùng cát ven biển ở Việt nam

Vùng cát ven biển ở Viêt Nam là một trong những vùng sinh thái khắc nghiệt

và rất nhạy cảm với điều kiện khí hậu, thời tiết Điều kiện môi trường của vùng đất này trong vài thập niên vừa qua có sự biến động khá mạnh do tác động của thiên nhiên và con người Bão lụt hàng năm thường xuyên đe dọa đời sống của cư dân địa phương Nguy cơ sạt lở bờ biển và hiện tượng cát bay, cát trôi, cát chuồi là những mối đe dọa thường xuyên Ngay cả việc phát triển sản xuất nâng cao đời sống trong mấy năm gần đây như đào hồ nuôi trồng thủy sản cũng đã làm xáo trộn không ít cảnh quan, môi trường; cộng với việc khai khoáng đại trà đã làm cho những vùng đất nơi đây vốn đã khốn khó lại càng khốn khó hơn Thực trạng nhiễm mặn đất trồng, sa mạc hóa cảnh quan, gia tăng hạn hán, ngập úng do lún sụt địa tằng do hậu quả của khai khoáng và đào hồ nuôi trồng thủy sản thiếu kiểm soát gây ra, đã và đang là vấn nạn của đời sống cư dân tại chỗ

Trang 17

Một trong những phương thức phát triển bền vững là phải là xây dựng hệ thống nông lâm kết hợp lấy nguồn gen bản địa làm gốc, bảo tồn, phát triển thảm thực vật tự nhiên đã có trên cơ sở hiểu biết tường tận tiềm năng đất đai và đa dạng sinh học

Năm 2005, Đổ Xuân Cẩm Trường Đại học Nông Lâm Huế đã nghiên cứu về tiềm năng sử dụng cây bản địa ở vùng cát ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế, qua bước đầu điều tra đã xác định được 372 loài, thuộc 268 chi và 112 họ thực vật khác nhau Trong đó có họ Myrtaceae có giá trị nhất về phục hồi rừng tự nhiên và khai thác gỗ củi Trong số 7 chi hiện hữu của họ này ở vùng nghiên cứu, chi Syzygium có đến 6 loài, trong đó có 5 loài cây gỗ có ý nghĩa sinh thái và sử dụng vào đời sống… Từ đó

đã đề xuất một số nhóm cây gổ, cây bụi sử dụng để trồng rừng, xúc tiến tái sinh tự nhiên góp phần tạo ra những dải rừng hỗn loài phòng hộ bền vững cho bờ biển

Năm 2008, Phan Thị Thúy Hằng - Trường Đại học Khoa học, Đại Huế và Nguyễn Nghĩa Thìn - Trường Đai học Khoa học tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội đã có những nghiên cứu bước đầu về đa dạng thảm thực vật tự nhiên vùng cát huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế: với kết quả là có 320 loài thực vật bậc cao

có mạch phân bố trên các sinh cảnh khác nhau Đặc biệt, nhiều nơi có các cây gỗ lớn và cây bụi tập trung thành các khoảnh rừng nhỏ được dân địa phương gọi là “rú cát” Dựa trên đặc điểm của các vùng cát và cấu trúc thành phần loài thực vật trên

đó, thảm thực vật tự nhiên vùng cát huyện Phong Điền được phân thành 10 kiểu thảm thực vật khác nhau

Mặc dù đã có những nghiên cứu ban đầu về thảm thực vật tự nhiên vùng cát ven biển nhưng cũng chưa có những nghiên cứu sâu về khả năng tái sinh tự nhiên của những loài cây bản địa chủ chốt cũng như những ý kiến cụ thể đề bảo tồn các thảm thực vật tự nhiên vùng cát ven biển Việt Nam

1.2.4 Những nghiên cứu về rừng có giá trị bảo tồn cao

Từ năm 2004, Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (WWF) cùng với sự trợ giúp của ProForest đã phát triển phiên bản thứ nhất của Bộ công cụ đánh giá Rừng

có giá trị bảo tồn cao cho Việt Nam Từ năm 2005 đến 2006, các phiên bản đầu từ

Trang 18

1.1 đến 1.3 đã được đưa vào thử nghiệm ở các đơn vị quản lý rừng với mục tiêu phục vụ cho công tác cấp chứng chỉ rừng Kết quả thử nghiệm ở hiện trường cho thấy phiên bản 1.3 của Bộ công cụ chưa thực sự hoàn chỉnh để đưa vào sử dụng trên diện rộng Năm 2008, Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (WWF) cùng Tổ chức bảo tồn tự nhiên (TNC) đã chỉnh sửa nâng cấp Bộ Công cụ (Phiên bản 1.4) [14] và đưa vào thử nghiệm tại các công ty Lâm nghiệp Sơ Pai và Hà Nừng tại tỉnh Gia Lai, tại Công ty Lâm nghiệp Bến Hải tại tỉnh Quảng Trị Vào ngày 26 tháng 8 năm 2008, WWF và TNC đã tổ chức hội thảo tại Hà Nội nhằm trình bày các kết quả đánh giá Rừng có giá trị bảo tồn cao tại hiện trường và công bố phiên bản cuối của Bộ công cụ

Khái niệm về Rừng có giá trị bảo tồn cao được hình thành ban đầu trong bối cảnh chứng chỉ rừng Nguyên tắc 9 trong số các nguyên tắc và tiêu chí cấp chứng chỉ rừng của Hội đồng Quản trị Rừng Thế giới (FSC) được dùng để nhận biết riêng các loại rừng có giá trị bảo tồn cao và cần được bảo vệ đặc biệt do một hoặc một số đặc trưng có liên quan đến thuộc tính của hệ sinh thái, các dịch vụ môi trường và các giá trị xã hội của chúng

Trang 19

Chương 2 MỤC TIÊU, TÍNH CẤP THIẾT NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

2.1.2 Giới hạn của đề tài

- Đối tượng nghiên cứu: Thảm thực vật tự nhiên tại vùng cát ven biển xã Vĩnh Tú, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị

- Địa điểm nghiên cứu: Tại hai thôn Đông Trường và Tứ Chính, xã Vĩnh Tú, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị

- Các yếu tố kinh tế, xã hội không thuộc phạm vi của đề tài

2.2 Tính cấp thiết và phương pháp luận

2.2.1 Tính cấp thiết của đề tài

Rừng tự nhiên nói chung, rừng tự nhiên vùng cát ven biển (hay thảm thực vật

tự nhiên trên vùng cát) nói riêng cần phải được đầu tư, quản lý và bảo tồn nghiêm ngặt Hiện nay Chính phủ cũng như các tổ chức ngoài nước đã quan tâm rất nhiều đến vấn đề môi trường, biến đổi khí hậu, thiên tai lũ lụt… nên đã đầu tư không ít cho công tác duy trì và phát triển rừng bền vững Tuy nhiên việc nghiên cứu và bảo tồn các thảm thực vật tự nhiên trên vùng cát ven biển vẫn chưa được quan tâm xứng với tầm quan trọng và vai trò của nó Trên địa bàn tỉnh Quảng Trị cũng như các tỉnh

Trang 20

lân cận chưa có những nghiên cứu đầy đủ và hoạt động nào đến bảo tồn, phục hồi

và phát triển thảm thực vật tự nhiên này Vì vậy cần phải có những nghiên cứu đầy

đủ hơn để đánh giá về giá trị khoa học, kinh tế, xã hội và môi trường; từ đó đưa ra các hoạt động nhằm bảo tồn, phục hồi và sử dụng hiệu quả tài nguyên rú cát

2.2.2 Phương pháp luận

Rú cát được hình thành và phát triển đến nay như là mô ̣t hệ sinh thái, là sự thống nhất giữa điều kiê ̣n lâ ̣p đi ̣a với thảm thực vật tự nhiên…và nằm trong mối quan hệ không thể tách rời với các hoa ̣t đô ̣ng phát triển kinh tế xã hội của vùng Từ đó, cần có những nghiên cứu, tác đô ̣ng phù hợp, không phá vỡ sự thống nhất biê ̣n chứ ng cũng như các mối quan hê ̣ sinh thái-nhân văn của rú cát trong sự phát triển

bền vững

Bản chất của việc bảo tồn và phát triển thảm thực vật tự nhiên vùng cát ven biển chính là các hoạt động về mặt kỹ thuật lâm sinh và xã hội nhằm tạo điều kiện cho thảm thực vật tự nhiên được duy trì, bảo vệ và phát triển

Các giải pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm bảo tồn rú cát chính là những tác động nhằm thúc đẩy sự tái sinh tự nhiên của thảm thực vật cũng như gây trồng các loài thực vật bản địa của hệ sinh thái rú cát để thúc đẩy sự phát triển liền khoảnh (lấp các khoảng trống trong rú cát)

Các giải pháp về xã hội thực chất là tạo điều kiện cho cộng đồng, người dân tham gia công tác bảo vệ, hưởng lợi từ rú cát Cộng đồng tham gia các mô hình phát triển sản xuất, tạo cơ hội sinh kế lâu dài cho người dân Trên cơ sở đó người dân có điều kiện để bảo tồn rú cát tốt hơn

Trang 21

Quá trình nghiên cứu được thực hiện theo sơ đồ sau:

Hình 2.1 Sơ đồ quá trình nghiên cứu của đề tài

Thu thập thông tin cơ bản

- Điều kiện khí hậu - thổ nhưỡng

- Điều kiện kinh tế - xã hội

- Thông tin về diện tích đất đai, tài nguyên

Điều tra khảo sát tổng thể khu

Xác định rừng có

giá trị bảo tồn cao

Đề xuất các giải pháp bảo tồn rú cát

Trang 22

2.3 Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Đă ̣c điểm cấu trúc của thảm thực vật tự nhiên rú cát

2.3.1.1.Một số đặc điểm cấu trúc tầng cây cao

- Đặc điểm cấu trúc tổ thành tầng cây cao

- Một số chỉ tiêu sinh trưởng của tầng cây cao D1.3, Hvn, M, G

- Phân bố số cây theo cỡ đường kính (phân bố N/D1.3)

- Phân bố số cây theo cỡ chiều cao (N/Hvn)

- Phẩm chất tầng cây cao

2.3.1.2 Đặc điểm cây bụi, thảm tươi, thảm mục

- Đặc điểm cây bụi thảm tươi

- Đặc điểm thảm mục rừng

2.3.1.3 Đă ̣c điểm tái sinh tự nhiên

- Tổ thành cây tái sinh

- Phẩm chất và nguồn gốc cây tái sinh,

- Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao

- Quy luật phân bố cây tái sinh trên mặt đất

- Mật độ tái sinh và cây tái sinh có triển vọng

- Ảnh hưở ng của mô ̣t số nhân tố đến tái sinh tự nhiên

2.3.2 Đánh giá tính đa dạng của thảm thực vật rú cát

2.3.2.1 Tiềm năng đa dạng sinh học

2.3.2.2 Lập danh lục thực vật rú cát

2.3.3 Xác định các giá trị bảo tồn cao của thảm thực vật rú cát

2.3.3.1 Giá trị bảo tồn cao về đa dạng sinh học

2.3.3.2 Giá trị bảo tồn cao về hệ sinh thái hiếm

2.3.3.3 Giá trị bảo tồn cao về các dịch vụ cơ bản của tự nhiên

2.3.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm ba ̉ o tồn và phát triển thảm thực vật rú cát

- Giải pháp Lâm sinh

- Giải pháp Kinh tế - Xã hội

2.4 Phương pháp nghiên cứu

Trang 23

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu

2.4.1.1 Kế thừa các tài liệu thứ cấp

Kế thừa số liệu của các nghiên cứu trước đây về thảm thực vật rừng tự nhiên

ở tỉnh Quảng Trị như:

- Những văn bản quy phạm, pháp quy về bảo tồn và phát triển rừng

- Các dự án, đề tài nghiên cứu về rừng tự nhiên trên địa bàn

- Những số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu

2.4.1.2 Phương pháp điều tra hiện trường

a Điều tra sơ bộ

- Khảo sát sơ bộ thực trạng rừng ở khu vực nghiên cứu

- Xác định các điểm nơi đại diện cho các đối tượng điều tra,

- Tiến hành khảo sát theo các tuyến, lựa chọn OTC tạm thời để thu thập số liệu Các OTC đảm bảo bao gồm các nhóm đối tượng điều tra

b Điều tra tỷ mỷ

- Thiết lập ô tiêu chuẩn

Sử dụng các phương pháp điều tra rừng truyền thống để nghiên cứu một số đặc trưng cấu trúc và tái sinh của hệ sinh thái rừng tại thảm thực vật rú cát ven biển

xã Vĩnh Tú, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị:

Lập 12 OTC với diện tích 1.000 m2/OTC Các OTC (cấp 1) được lựa chọn điển hình, có tính đại diện cao với số lượng đủ độ tin cậy

Vị trí các OTC được thiết lập nằm cách xa đường mòn ít nhất 15 m, không vượt qua dông, qua khe suối Các OTC có hình chữ nhật, góc vuông được xác định theo phương pháp Pitago, dùng thước dây khép góc sao cho AB2 + AC2 = BC2

Trong mỗi OTC, lập 5 ODB (OTC cấp 2) với diện tích mỗi ô là 16 m2 (4m x 4m) để điều tra cây tái sinh và cây bụi thảm tươi

Trong mỗi ODB lập 1 ô có vị trí nằm chính giữa ODB (OTC cấp 3) có diện tích 1 m2 để điều tra thảm mục rừng

Trang 24

Sơ đồ bố trí các OTC theo 3 cấp

Hình 2.2 Sơ đồ bố trí ô dạng bản trong ô tiêu chuẩn (1.000m 2 )

- Điều tra tầng cây cao

Điều tra toàn diện tầng cây cao trong OTC về các chỉ tiêu: Xác định tên cây rừng theo tên địa phương, tên phổ thông, những loài chưa xác định được thì lấy tiêu bản để giám định và đánh số thứ tự từ 1 đến n toàn bộ số cây trong ô điều tra

+ Đường kính ngang ngực (D1,3, cm): Đo chu vi cây (đường vanh) sau đó tính ra đường kính, vanh được đo bằng thước dây tại vị trí 1,3 m tất cả các cây có đường kính từ 6 cm trở lên (vanh ≥ 20cm); đối với cây hai thân: nếu thân chia tại vị trí dưới 1,3m thì coi như hai cây, còn nếu thân chia tại vị trí trên 1,3m thì được xem

là một cây, đơn vị đo là cm, sau đó để tính đường kính 1,3 m và các chỉ tiêu khác

Trang 25

+ Chiều cao vút ngọn (Hvn, m) và chiều cao dưới cành (Hdc, m) đo chiều cao bằng thước đo cao Blumleis, đơn vị đo tính lấy tròn đến 0,2m (ví dụ 14,2 m; 14,4 m; 14,6 m)

+ Đường kính tán lá (Dt, m) đường kính tán cây đo theo hai chiều Đông Tây, Bắc Nam, đơn vị lấy tròn đến 0,1m, ghi tương ứng với kết qủa đo D1,3 của tất cả các cây trong phân ô

+ Đánh giá chất lượng cây thông qua 3 cấp: Tốt; trung bình; xấu, trong đó: Cây phẩm chất tốt (A): Cây gỗ khỏe mạnh, thân thẳng, cân đối, tròn đều, tán

lá cân đối, không sâu bệnh hoặc rỗng ruột

Cây phẩm chất trung bình (B): Cây có đặc điểm như thân hơi cong, tán lệch,

có thể có u bứu hoặc một số khuyết tật nhỏ nhưng vẫn có khả năng sinh trưởng và phát triển đạt đến độ trưởng thành; hoặc cây đã trưởng thành, có một số khuyết tật nhỏ nhưng không ảnh hưởng nhiều đến khả năng sinh trưởng hoặc lợi dụng gỗ

Cây phẩm chất xấu (C): Là những cây đã trưởng thành, bị khuyết tật nặng (sâu bệnh, cong queo, rỗng ruột, cụt ngọn…) hầu như không có khả năng lợi dụng gỗ; hoặc những cây chưa trưởng thành có nhiều khiếm khuyết (sâu bệnh, cong queo, rỗng ruột, cụt ngọn, sinh trưởng không bình thường…) khó có khả năng tiếp tục sinh trưởng và phát triển đạt đến độ trưởng thành

+ Xác định độ tàn che:

Dùng phương pháp vẽ trắc đồ rừng theo phương pháp của Richards và Davis (1934), biểu diễn trên giấy kẻ ô ly với dãi rừng có diện tích 500m2 (10 x 50m) tỷ lệ 1/200, sau đó tính diện tích tán che trên giấy kẻ ly, tính tỷ lệ %

- Điều tra cây tái sinh

Cây tái sinh được điều tra trên 5 ô dạng bản (ODB), mỗi ô có diện tích 16 m2

(4m x 4m), các ODB được bố trí theo hệ thống trong OTC, (một ô ở tâm và 4 ô ở 4 góc của ô tiêu chuẩn) Cây tái sinh được điều tra gồm các cây có đường kính nhỏ hơn 6cm Các chỉ tiêu xác định là:

+ Tên loài cây, chiều cao vút ngọn, tình trạng sinh trưởng, nguồn gốc tái cây sinh (theo hạt, theo chồi)

Trang 26

+ Đo chiều cao vút ngọn (Hvn) bằng thước sào, lấy đến 0,1 m

+ Xác định phẩm chất cây tái sinh với từng cá thể và phân thành 3 cấp chất lượng là tốt, trung bình và xấu

Cây tốt: Là những cây có tán lá phát triển đều đặn, tròn, xanh biếc, thân tròn thẳng, không bị khuyết tật, không bị sâu bệnh

Cây trung bình: Là những cây có thân thẳng, tán lá không đều, ít khuyết tật, không bị sâu bệnh

Cây xấu: Là những cây có tán lá lệch, lá tập trung ở ngọn, sinh trưởng kém, khuyết tật nhiều và bị sâu bệnh

+ Xác định nguồn gốc cây tái sinh: được xác định theo tái sinh hạt hoặc tái sinh chồi

- Điều tra tầng cây bụi, thảm tươi: Được tiến hành trên 5 ODB (ô cấp 2) có diện tích 16 m2

+ Điều tra cây bụi (shrubs) theo các chỉ tiêu: Tên loài chủ yếu, số lượng

khóm (bụi), chiều cao bình quân, độ che phủ trung bình của từng loài trên ODB, kết quả ghi vào phiếu điều tra cây bụi

+ Điều tra thảm tươi (ground cover vegetation) theo các chỉ tiêu: loài chủ

yếu, chiều cao bình quân, độ che phủ bình quân của loài và tình hình sinh trưởng của thảm tươi trên ODB Để xác định độ che phủ của tầng cây bụi, thảm tươi đề tài dùng phương pháp dùng thước dây đo theo 2 đường chéo của ODB, đo từng đường chéo một và tính trên thước dây những đoạn bị tán của cây bụi hoặc thảm tươi che kín, chia đoạn này cho tổng độ dài đường chéo thì sẽ ra độ che phủ, sau đó cộng kết quả của hai lần tính trên hai đường chéo và chia trung bình ta sẽ có độ che phủ trung bình của một ODB

- Điều tra thảm mục rừng: Được tiến hành trên 5 ODB (ô cấp 3) có diện tích

1 m2 Thu toàn bô ̣ cành khô lá ru ̣ng, cân và tính trung bình cho mỗi OTC Qua đó đánh giá khả năng cung cấp chất hữu cơ cho đất hàng năm/ha

- Điều tra xây dựng danh lục thực vật

Trang 27

+ Xác định địa điểm và tuyến thu mẫu: Để thu mẫu một cách đầy đủ và đại

diện cho một khu nghiên cứu, chúng ta không thể đi hết các điểm trong khu nghiên cứu, vì thế việc chọn tuyến và điểm thu mẫu là cần thiết Tuyến đường đi phải xuyên qua các môi trường sống của khu nghiên cứu Có thể chọn nhiều tuyến theo các hướng khác nhau, nghĩa là các tuyến đó cắt ngang các vùng đại diện cho khu nghiên cứu Trên các tuyến đó chúng ta lại chọn những điểm chốt, tức là những điểm đặc trưng nhất để thu mẫu hay đặt các ô tiêu chuẩn vừa phục vụ cho nghiên cứu về đa dạng loài vừa nghiên cứu về đa dạng hệ sinh thái

+ Phương pháp thu mẫu: Để thu mẫu, chúng tôi đã dùng túi polyetylen để

đựng mẫu nhằm vừa thuận lợi khi đi lại trong rừng cũng như khi gặp thời tiết bất lợi vừa dễ bảo quản, sử dụng sổ ghi chép riêng, nhãn hay băng dính giấy có thể viết được và kéo cắt cây

Nguyên tắc thu mẫu:

Mỗi mẫu phải có đầy đủ các bộ phận, nhất là cành, lá và hoa đối với cây lớn hay cả cây đối với cây thảo và có quả càng tốt

Mỗi cây thu từ 3-5 mẫu, còn mẫu cây thảo thì tìm các mẫu giống nhau và cũng thu với số lượng trên để vừa nghiên cứu các biến dạng của loài, vừa để trao đổi

Các mẫu thu trên cùng một cây thì đánh cùng một số hiệu mẫu Đánh số từ

1 trở đi kể từ khi thu mẫu đầu tiên cho đến mầu cuối cùng trong quá trình đi hiện trường thu mẫu

Khi thu, phải ghi chép ngay những đặc điểm dễ nhận biết ngoài thiên nhiên như đặc điểm vỏ cây, kích thước cây nhất là các đặc điểm dễ mất sau khi khô như: màu sắc của hoa, quả, mùi vị

Thu và ghi chép xong, chụp ảnh bằng máy ảnh kỹ thuật số, cho vào túi polyetylen to mang về nhà mới làm mẫu Việc cho vào túi polyetylen có lợi là gọn nhẹ, không bị va quệt khi băng qua rừng, mẫu giữ tươi lâu kể cả khi trời nắng to nhưng cần chú ý là khi cho mẫu vào túi phải nhẹ nhàng, nếu có hoa thì dùng các lá

Trang 28

của mẫu để bọc lấy trước khi cho vào túi Có thể dùng túi nhỏ và mỏng đựng một loài và buộc chặt lại và tất cả các túi nhỏ đó cho vào túi to hay bao tải

+ Xác định và kiểm tra tên khoa học:

Xác định tên loài theo phương pháp hình thái so sánh

Sau khi đã có tên khoa học, cần kiểm tra lại các bản mô tả đã được giới thiệu trong các bộ thực vật chí và các tài liệu chuyên khảo:

Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam, Nguyễn Tiến Bân (1999), Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội;

Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật, Nguyễn Nghĩa Thìn (1997), Nhà xuất bản Nông Nghiệp, Hà Nội;

Cây gỗ rừng Việt Nam, Tập 1-7, Bộ Lâm nghiệp (1971-1988), Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội;

Cây cỏ có ích ở Việt Nam, tập 1-2, Võ Văn Chi & Trần Hợp (1999-2001), Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội;

Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam, tập 1-6, Vũ Văn Chuyên, Phan Nguyên Hồng, Trần Hợp (1996-1976), Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội;

Cây cỏ Miền Nam Việt Nam, Quyển I, Phạm Hoàng Hộ (1970), Bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh Niên, Trung tâm học liệu, Sài Gòn;

Cây cỏ Miền Nam Việt Nam, Quyển II, Phạm Hoàng Hộ (1972), Bộ Giáo dục, Trung tâm học liệu, Sài Gòn;

Cây cỏ Việt Nam, Phạm Hoàng Hộ (1991-1993), 3 tập 6 quyển, Montréal; Cây cỏ Việt Nam, quyển I, II, III, Phạm Hoàng Hộ (1999-2000), Nhà xuất bản Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh;

Sau khi đã có tên khoa học của các mẫu thu thập cần tiến hành kiểm tra lại các tên khoa học để đảm bảo tính hệ thống, tránh sự nhầm lẫn và sai sót

+ Xây dựng danh lục thực vật

Bảng danh lục được xây dựng theo hệ thống phân loại của Brummitt (1992) Trong bảng danh lục phải phản ánh đầy đủ các thông tin cần thiết cho mục đích nghiên cứu Do đó, trước hết phải có một danh sách các loài theo từng họ, các họ

Trang 29

theo từng lớp và các lớp theo từng ngành Các ngành và lớp xếp theo thứ tự tiến hóa

từ thấp đến cao Ở mỗi lớp, các họ được xếp theo alphabet tên khoa học Danh lục các loài cần có tên khoa học, tên Việt Nam hay tên địa phương (nếu có) cùng với các thông tin giúp cho việc đánh giá tính đa dạng Đó là các thông tin về dạng sống, yếu tố địa lý, giá trị sử dụng,…

- Điều tra, phỏng vấn để xác định rừng có giá trị bảo tồn cao

Dựa vào bộ công cụ xác định rừng có giá trị bảo tồn cao Việt Nam theo tiêu chí mà WWF đưa ra năm 2008 [14]

2.4.1.3 Phương pháp chuyên gia:

- Trực tiếp phỏng vấn người chủ rừng hoặc các cơ quan chuyên môn (Hạt Kiểm lâm, UBND xã…) để nắm được các thông tin về điều kiện tự nhiên ở khu vực nghiên cứu, trạng thái của rừng, tên các loài thực vật (tên địa phương), những tác động của con người và động vật…

- Tìm hiểu mối quan hệ giữa thảm thực vật với đời sống người dân và diễn thế của thảm thực vật bằng phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (nghiên

cứ u tham dự - PRA)

- Số tổ m = 5 log (n) (2.1)

m

XminXmax

(2.2) Trong đó: m là số tổ

Trang 30

K là cự ly tổ

n là số cây trong OTC Xmax, Xmin là trị số quan sát lớn nhất và nhỏ nhất Căn cứ vào phân bố thực nghiệm, tiến hành mô hình hoá quy luật cấu trúc tần số theo những phân bố lý thuyết khác nhau

X

1.

1

Trong đó: X : chỉ tiêu điều tra trung bình

Xi: trị số giữa tổ

fi: Tần số xuất hiện của từng cỡ

n: Tổng số cây trong OTC

b Tính tổng tiết diện ngang (G)

Tính g/OTC g   gi f i (m2/OTC) (2.4)

Tính G/ha: G = g.10 (m2/ha) (2.5)

Trong đó: G: tổng diện ngang trên ha

g: tổng diện ngang trên OTC

gi: tổng tiết diện ngang của cỡ kính i

fi: tần số xuất hiện của cỡ kính i

Trang 31

10.000 S

N

Trong đó: N: số lượng cá thể của loài hay tổng số cá thể trong OTC

S: diện tích OTC

e Mô phỏng các quy luật phân bố số cây theo đường kính, chiều cao

Nghiên cứu quy luật phân bố để thấy được sự tồn tại của nó trong tổng thể, mặt khác với các quy luật phân bố này cũng có thể biểu thị một cách gần đúng bằng

mô hình toán học cho phép xác định tần số và tần suất tương ứng ở mỗi cự ly tổ của đại lượng điều tra nào đó có ý nghĩa trong điều tra rừng

Căn cứ vào phân bố thực nghiệm, tiến hành mô hình hóa quy luật cấu trúc cho phân bố theo hàm phân bố như sau:

Hàm phân bố:

xe x

F ( )  1   . với x ≥ 0 (2.9) Nếu dùng phân bố Weibull để mô hình hóa phân bố số cây theo cỡ kính và chiều cao (gọi chung là đại lượng Y) thì cần chuyển đổi biến số bằng cách sau: X =

Yi - Ymin (2.10)

Trong đó: Yi là trị số giữa của cỡ đường kính thứ i; Ymin là giá trị đường kính hay chiều cao nhỏ nhất trong dãy quan sát sau khi được chỉnh lý số liệu

α và λ là hai tham số của phân bố Weibull

α là đặc trưng cho độ lệch của phân bố

λ biểu thị độ nhọn của phân bố

Khi α = 3 phân bố có dạng đối xứng

Khi α > 3 phân bố có dạng lệch phải

Trang 32

Khi α < 3 phân bố có dạng lệch trái

Khi α = 1 phân bố bị suy biến thành phân bố giảm,

Tùy theo độ lệch của phân bố thực nghiệm mà chọn giá trị của tham số α cho

phù hợp, sau đó ước lượng tham số λ theo công thức:

1 i

α

a)-fi(xi

Với:  =f0/n, với f0 là tần số quan sát tuyệt đối ứng với tổ đầu tiên

n là dung lượng mẫu

X = (xi – x1)/k với k là cự ly tổ, xi là trị số giữa cỡ đường kính (chiều cao) thứ i, x1

là trị số giữa cỡ đường kính (chiều cao) tổ thứ nhất Như vậy X lấy các giá trị  0, là những số tròn

- Phân bố giảm (phân bố mũ)

Phân bố giảm dạng hàm Meyer để mô phỏng quy luật cấu trúc tần số số cây theo đường kính (N/D1.3), số cây theo chiều cao (N/Hvn) ở những lâm phần hỗn giao, khác tuổi qua khai thác chọn không quy tắc nhiều lần

Phân bố giảm là phân bố xác xuất của biến ngẫu nhiên liên tục Hàm Meyer có dạng:

ft = .e-x (2.13)

Trong đó: ft là tần số quan sát, x là cỡ kính hoặc cỡ chiều cao

,  là hai tham số của hàm Meyer

Trang 33

Để xác định tham số của phân bố giảm dạng hàm Meyer, trước hết phải tuyến tính hoá phương trình mũ, bằng cách logarit hoá cả hai vế của phương trình (2.13) để đưa về dạng phương trình hồi quy tuyến tính một lớp có dạng y = a + bx

* Kiểm tra giả thuyết về luật phân bố:

Cho giả thuyết H0: Fx(x) = F0(x), trong đó F0(x) là một hàm phân bố hoàn toàn xác định Để kiểm tra giả thuyết H0, người ta dùng tiêu chuẩn phù hợp khi bình phương của Pearson:

 

flt

flt)(ft

(2.14)

Trong đó: ft là trị số thực nghiệm

flt là trị số lý thuyết

Nếu 2 tính  052 tra bảng với bậc tự do k = m - r - 1 (r là tham số của phân bố

lý thuyết cần ước lượng, m là số tổ sau khi gộp) thì phân bố lý thuyết phù hợp với phân

bố thực nghiệm (Ho+)

Nếu 2 tính  052 tra bảng với bậc tự do k = m - r -1 thì phân bố lý thuyết không phù hợp với phân bố thực nghiệm (Ho-)

f Xác định công thức tổ thành tầng cây gỗ

- Xác định tổ thành theo chỉ số quan trọng của loài IV (Important Value):

Trên quan điểm sinh thái người ta thường xác định tổ thành tầng cây cao theo số cây còn trên quan điểm sản lượng, người ta lại xác định tổ thành thực vật theo tiết diện ngang hoặc theo trữ lượng

Để xác định tổ thành tầng cây cao, đề tài sử dụng phương pháp tính tỷ lệ tổ thành theo phương pháp của Daniel Marmillod (Đào Công Khanh, 1986 và Vũ Đình Huề 1984):

2

% G

% N

%

IVi 1  i

Trong đó: IVi% là tỷ lệ tổ thành (chỉ số quan trọng: Important Value) của loài i

Ni% là % theo số cây của loài i trong QXTV rừng Gi% là % theo tổng tiết diện ngang của loài i trong QXTV rừng

Trang 34

Theo Daniel M, những loài cây có IV%  5% mới thực sự có ý nghĩa về mặt sinh thái trong lâm phần Theo Thái Văn Trừng (1978), trong một lâm phần nhóm loài cây nào đó ∑IV ≥ 40% tổng số cá thể của tầng cây cao thì nhóm loài đó được coi là nhóm loài ưu thế Cần tính tổng IV% của những loài có trị số này lớn hơn 5%, xếp từ cao xuống thấp và dừng lại khi tổng IV% đạt 50%

- Xác định tổ thành theo số cá thể và số loài tham gia

Xác định công thức tổ thành theo các bước sau

+ Tính số cây trung bình cho các loài:

Trong đó: Ntb : là số cây trung bình cho các loài

ni: số cây của loài i trong OTC

∑ ni : là tổng số cây của toàn OTC N: là tổng số loài có trong OTC + Xác định tên loài cây tham gia vào công thức tổ thành:

Khi nào loài có tổng số cây (ni) lớn hơn hoặc bằng số cây trung bình của từng loài (Ntb) thì loài đó tham gia vào công thức tổ thành

Trong đó: Ki : là số là hệ số tổ thành của tầng cây cao

Ni: số cá thể của mỗi loài trong OTC

∑ ni : là tổng số cá thể trong OTC 2.4.2.2 Tính các chỉ tiêu của tầng cây tái sinh

Từ các số liệu quan sát cho từng ô, từng trạng thái, các chỉ tiêu đwọc xác định

cụ thể là:

a Mật độ tầng cây tái sinh:

Là chỉ tiêu biểu thị số lượng cây tái sinh trên một đơn vị diện tích, được xác định theo công thức sau:

Trang 35

Với Si là diện tích ODB điều tra tái sinh (m2) thứ i và Ni là số lượng cây tái

sinh điều tra trong ODB thứ i

b Xác định số cây tái sinh có triển vọng là những cây có chiều cao lớn hơn chiều cao trung bình của tầng cây bụi thảm tươi và có chất lượng từ trung bình đến tốt,

Tính tỷ lệ % cây tái sinh có triển vọng xác định theo công thức:

100 N

fi

Trong đó: N%: tỷ lệ phần trăm cây tái sinh có triển vọng

fi: tổng số cây tái sinh có triển vọng

N: tổng số cây tái sinh

c Tổ thành cây tái sinh xác định tương tự như công thức tổ thành tầng cây cao

d Xác định phân bố số cây tái sinh trên mặt đất được xác định trên cơ sở phân

bố Poison Các bước tiến hành như sau:

+ Xác định N cây trong ODB:

a

N

Trong đó: N là tổng số cây trong OTC

a là số ODB trong OTC + Xác định phương sai về số cây giữa các ODB theo công thức:

2 2

) (

1 -

K < 1 phân bố cây tái sinh trên mặt đất là phân bố đều,

K = 1 phân bố cây tái sinh trên mặt đất là phân bố ngẫu nhiên

Trang 36

K > 1 phân bố cây tái sinh trên mặt đất là phân bố cụm,

e Phân bố cây tái sinh theo cấp chất lượng (kết quả ghi vào biểu)

f Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao và nguồn gốc (kết quả được điền vào biểu) Thống kê số lượng cây tái sinh theo 3 cấp chiều cao: < 0,5m; 0,5-1m; 1-2m , và trên 2 m Vẽ biểu đồ biểu diễn số lượng cây tái sinh theo cấp chiều cao

2.4.2.3 Tính các chỉ tiêu của tầng cây bụi thảm tươi

a Tính chiều cao trung bình của cây bụi, thảm tươi

N

H   Xi

(m) (2.23)

Trong đó: H là chiều cao trung bình của cây bụi thảm tươi trong OTC

Xi là chiều cao trung bình của cây bụi thảm tươi trong ODB

N là số ODB trong OTC

b Tính độ che phủ của cây bụi thảm tươi trong OTC

Độ che phủ = tổng độ che phủ của các ODB/tổng số ODB trong OTC (%)

2.4.2.4 Phương pháp nghiên cứu để xác định rừng có giá trị bảo tồn cao

Dựa vào bộ công cụ xác định rừng có giá trị bảo tồn cao Việt Nam theo tiêu chí mà WWF đưa ra năm 2008 [27] Đối chiếu với các thuộc tính mà thảm thực vật

rú cát có được kết hợp văn bản quy định nhà nước, ý kiến tham vấn của các nhà khoa học, cộng đồng người dân địa phương để xác định rú cát đạt giá trị nào của HCVR

Trang 37

Chương 3 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1 Lược sử đối tượng nghiên cứu

Đặc trưng của tỉnh Quảng Trị là diện tích vùng cát có 30.100 ha, trong đó

có 10.000 ha cát cố định (cát nội đồng), và 20.100 ha cát di động (cát ven biển) phân bố ở 4 huyện Vĩnh Linh, Gio Linh, Triệu Phong, Hải Lăng Trong vùng đất cát có khoảng 1.000 ha có thảm thực vật tự nhiên phân bố, người dân địa phương thường gọi là các rú cát Rú cát phân bố chủ yếu trên hai địa bàn Vĩnh Linh và Hải Lăng Địa bàn xã Vĩnh Tú, huyện Vĩnh Linh có chứa khoảnh 450 ha diện tích rú cát mang những đặc điểm cơ bản của cát ven biển Đây là thảm thực vật tự nhiên

“đa loài, nhiều tầng” với khoảng 100 loài thực vật (cây gổ, cây bụi, dây leo) và trên 30 loài động vật Độ tàn che 0,4 - 0,7 Trong thảm thực vật có các khoảng cát trống chiếm khoảnh 25% diện tích rú cát Với những nghiên cứu bước đầu cho thấy các rú cát xã Vĩnh Tú chứa đựng nguồn tài nguyên đa dạng sinh học khá phong phú Tầng cây gổ trong thảm thực vật có đường kính từ 6 - 25 cm, chiều cao từ 6 - 11 m, có các loài cây Họ Sồi dẽ gồm các loài Sồi dẻ, Dẻ ăn quả; Họ Long não gồm các loài Hậu phát, Bời lời, Chập chại; Họ Sim gồm các loài Trâm;

Họ măng cụt gồm có Rõi mật, Bứa Tầng cây bụi gồm các loài Họ thầu dầu-Ba mảnh vỏ gồm các loài Thấu tấu; Họ Cà phê; Họ Trinh nữ gồm các loài Bông trang, Cổ yếm Trong thảm thực vật tự nhiên trên cát có khoảng 30 loài động vật gồm Họ Rắn hổ, Họ rắn ráo, Họ Chồn, họ Sóc, Họ Bìm bịp, Họ Chim cu đất, Họ Chim sâu…

Trang 38

Hình 3.1 Rú cát tại xã Vĩnh Tú

Rú cát có chức năng rất quan trọng đối với đời sống của người dân địa phương trong việc cung cấp lượng nước tưới cho 110 ha ruộng lúa hai vụ, các ao nuôi cá, một phần diện tích đất trồng màu và nước sinh hoạt cho người dân Rú cát còn cung cấp củi, bổi cho người dân địa phương: Người dân địa phương có tập quán lâu đời thu gom lá cây trong các rú cát đốt lấy tro, rải vào chuồng lợn, trâu bò để làm phân bón ruộng làm tăng độ phì nhiêu đất cát canh tác nông nghiệp Ngoài ra rú cát còn có chức năng làm giảm tốc độ gió bảo, hạn chế cát di động

3.2 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu

Trang 39

Từ 1060 40’48” đến 1070 06'51” kinh độ Đông

Cực Bắc tại thôn Mạch Nước xã Vĩnh Thái Cực Nam tại tiểu khu 583 xã Vĩnh Ô

- Ranh giới hành chính:

Phía Đông giáp biển Đông;

Phía Tây giáp huyện Hướng Hóa;

Phía Nam giáp huyện Gio Linh;

Phía Bắc giáp huyện Lệ Thủy tỉnh Quảng Bình

Trang 40

- Vùng đồi: Nằm về Tây đường Quốc lộ 1A (bao gồm các xã và thị trấn: TT Bến Quan, xã Vĩnh Hà, Vĩnh Ô, Vĩnh Khê, Vĩnh Sơn, Vĩnh Thủy, Vĩnh Long, và 2/3

xã Vĩnh Chấp) với diện tích tự nhiên hơn 40.000 ha chiếm 65% diện tích tự nhiên toàn huyện, có địa hình chia cắt hết sức phức tạp Độ cao tuyệt đối từ 50m đến 800m

có nơi lên đến 900m (Vùng Vĩnh Ô giáp với Huyện Hướng Hóa), độ cao tuyệt đối lớn nhất là 1.240m (động Nóc), độ cao tương đối trung bình khoảng 100m đến 300m

Độ dốc bình quân từ 15 đến 25%

- Vùng đồng bằng và cát nội đồng, cát ven biển nằm về phía Đông đường quốc lộ 1A, (bao gồm các xã và thị trấn: TT Hồ Xá, TT Cửa Tùng, xã Vĩnh Tú, Vĩnh Thái, Vĩnh Trung, Vĩnh Nam, Vĩnh Hòa, Vĩnh Hiền, Vĩnh Thạch, Vĩnh Thành, Vĩnh Kim, Vĩnh Giang) với diện tích tự nhiên khoảng 22.000 ha chiếm 35% diện tích tự nhiên toàn huyện, là vùng tập trung chủ yếu cho sản xuất Nông nghiệp Ở đây có một

số diện tích rừng tự nhiên trên vùng đồng bằng như: Khu Rừng Đặc dụng Rú lịnh thuộc xã Vĩnh Hòa, Vĩnh Hiền (có nhiều loài cây gỗ, dược liệu, đặc sản quí như: Lim, Gụ, Re hương, Gió bầu ) và một số thảm thực vật tự nhiên rú cát tại xã Vĩnh Tú với các loài cây chủ yếu như Dẻ, Trâm bầu

3.2.2 Khí hậu, thủy văn

Ngày đăng: 21/06/2021, 05:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Tiến Bân (1997), Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam, NXb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tiến Bân
Năm: 1997
2. Nguyễn Tiến Bân (1983), Danh lục thực vật Tây Nguyên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh lục thực vật Tây Nguyên
Tác giả: Nguyễn Tiến Bân
Năm: 1983
3. Hoàng Chung (1980), Đồng cỏ vùng núi phía Bắc Việt Nam, Công trình nghiên cứu khoa học trường Đại học sư phạm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng cỏ vùng núi phía Bắc Việt Nam
Tác giả: Hoàng Chung
Năm: 1980
4. Lê Ngọc Công (2004), Nghiên cứu quá trình phục hồi rừng bằng khoanh nuôi trên một số thảm thực vật ở Thái Nguyên, Luận án tiến sĩ sinh học, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu quá trình phục hồi rừng bằng khoanh nuôi trên một số thảm thực vật ở Thái Nguyên
Tác giả: Lê Ngọc Công
Năm: 2004
5. Trần Đình Đại (2001), “Những dẫn liệu về hệ thực vật Tây bắc Việt Nam (ba tỉnh Lai Châu, Lào Cai, Sơn La)”, Tuyển tập các công trình nghiên cứu Sinh thái học và Tài nguyên sinh vật 1996-2000, tr. 45-49, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Những dẫn liệu về hệ thực vật Tây bắc Việt Nam (ba tỉnh Lai Châu, Lào Cai, Sơn La)”, Tuyển tập các công trình nghiên cứu Sinh thái học và Tài nguyên sinh vật 1996-2000
Tác giả: Trần Đình Đại
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2001
6. Ngô Tiến Dũng (2004), “Đa dạng thực vật VQG Yok Don”, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đa dạng thực vật VQG Yok Don”
Tác giả: Ngô Tiến Dũng
Năm: 2004
7. Phạm Hoàng Hộ (1999-2000), Cây cỏ Việt Nam, quyển I, II, III. Nhà xuất bản Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cỏ Việt Nam, quyển I, II, III
Nhà XB: Nhà xuất bản Trẻ
8. 15. Phan Nguyên Hồng (1970), Đặc điểm phân bố sinh thái của hệ thực vật và thảm thực vật Miền bắc Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm phân bố sinh thái của hệ thực vật và thảm thực vật Miền bắc Việt Nam
Tác giả: 15. Phan Nguyên Hồng
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1970
9. Phan Nguyên Hồng (1991), Sinh thái thảm thực vật rừng ngập mặn Việt Nam, Luận án tiến sĩ khoa học sinh học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh thái thảm thực vật rừng ngập mặn Việt Nam
Tác giả: Phan Nguyên Hồng
Năm: 1991
10. Vũ Tự Lập và cộng sự (1995), Địa lý tự nhiên Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý tự nhiên Việt Nam
Tác giả: Vũ Tự Lập và cộng sự
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1995
11. Đỗ Tất Lợi (1995), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, NXb khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam
Tác giả: Đỗ Tất Lợi
Năm: 1995
13. Phan Kế Lộc (1985), “Thử vận dụng bảng phân loại UNESCO để xây dựng khung phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam”, Tạp chí Sinh học, (12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thử vận dụng bảng phân loại UNESCO để xây dựng khung phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam”
Tác giả: Phan Kế Lộc
Năm: 1985
14. Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên - WWF , Bộ công cụ xác định rừng có giá trị bảo tồn cao Việt Nam, Hà Nội-2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ công cụ xác định rừng có giá trị bảo tồn cao Việt Nam
15. Trần Đình Lý (1998), Sinh thái thảm thực vật, Giáo trình cao học, Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh thái thảm thực vật, Giáo trình cao học
Tác giả: Trần Đình Lý
Năm: 1998
16. Trần Đình Lý và cs, 2005: Thảm thực vật vùng cát Quảng Bình, Quảng Trị. Những vấn đề nghiên cứu cơ bản trong khoa học sự sống. NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội 971 - 974 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thảm thực vật vùng cát Quảng Bình, Quảng Trị. Những vấn đề nghiên cứu cơ bản trong khoa học sự sống
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
17. Trần Ngũ Phương (1970), Bước đầu nghiên cứu rừng Miền bắc Việt Nam, Nxb khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu nghiên cứu rừng Miền bắc Việt Nam, Nxb khoa học và kỹ thuật
Tác giả: Trần Ngũ Phương
Nhà XB: Nxb khoa học và kỹ thuật"
Năm: 1970
18. Vũ Đình Phương (1987), Cấu trúc rừng và vốn rừng trong không gian và thời gian, Thông tin khoa học Lâm nghiệp, 1, tr. 5-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc rừng và vốn rừng trong không gian và thời gian
Tác giả: Vũ Đình Phương
Năm: 1987
19. Nguyễn Nghĩa Thìn (2004), Hệ thực vật và đa dạng loài, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thực vật và đa dạng loài
Tác giả: Nguyễn Nghĩa Thìn
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
20. Nguyễn Nghĩa Thìn (1998), Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh học, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh học
Tác giả: Nguyễn Nghĩa Thìn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1998
21. Nguyễn Nghĩa Thìn (1998), Đa dạng thực vật bậc cao có mạch vùngnúi cao Sa Pa, Phanxiphăng, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng thực vật bậc cao có mạch vùngnúi cao Sa Pa, Phanxiphăng
Tác giả: Nguyễn Nghĩa Thìn
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w