luận văn thạc sĩ, tiến sĩ, cao học, luận văn
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo TrƯờng đại học nông nghiệp hà nội
- -
Trần vũ hùng
Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản
cá chiên Bagarius yarrelli (Sykes, 1839)
trong điều kiện nuôi vỗ
Trang 2LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan ñây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa ñược ai công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Tôi xin cam ñoan rằng, mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiện luận văn này ñã ñược cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn ñều ñã ñược chỉ rõ nguồn gốc
Bắc Ninh, ngày 30 tháng 10 năm 2008
(Ký tên)
Trần Vũ Hùng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời ựầu tiên, tôi xin ựược trân trọng cảm ơn Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I, Trường đại học nông nghiệp - Hà Nội, ựã tạo mọi ựiều kiện cho chúng tôi, những học viên lớp cao học nuôi trồng thủy sản khoá 8 có ựược khoá học này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc ựến thầy giáo hướng dẫn TS Phạm Anh Tuấn, người ựã ựịnh hướng và chỉ dẫn tận tình trong suốt quá trình thực hiện ựề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám ựốc, các ựồng nghiệp của Trung tâm giống Thuỷ sản nước ngọt Miền Bắc- Phú Tảo- Hải Dương, Trung tâm quan trắc cảnh báo dịch bệnh và môi trường - Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1 đặc biệt ựối với NCS Nguyễn Hữu Ninh người ựã ựịnh hướng cho tôi về ựối tượng nghiên cứu này và Ths Nguyễn Anh Tuấn
ựã tạo ựiều kiện giúp ựỡ tôi trong quá trình thực hiện ựề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn sự ựóng góp những ý kiến quý báu của các nhà nghiên cứu, thày giáo PGS- TS Nguyễn Tường Anh, kỹ sư Nguyễn Văn Hảo Dự án NORAD, Phòng Hợp tác quốc tế- đào tạo- Thông tin thư viện - Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản học 1 ựã tạo ựiều kiện thuận lợi cho tôi học tập và thực hiện hoàn thành luận văn
Xin chân thành cám ơn các bạn trong lớp cao học Nuôi trồng Thủy sản khoá 8 ựã cùng chia sẻ kinh nghiệm trong suốt khoá học
Bắc Ninh, ngày 30 tháng 10 năm 2008
Tác giả
Trần Vũ Hùng
Trang 41.3.2 Sự phát triển của noãn bào và buồng trứng 12 1.3.3 Tuổi phát dục và hệ số thành thục của cá Chiên 13
1.5 Tiềm năng của cá Chiên trong nuôi trồng thuỷ sản 16
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu mô học tuyến sinh dục cá 19 2.3.2 Quan sát quá trình ñẻ trứng và thụ tinh nhân tạo của cá Chiên 24
Trang 52.4 Theo dõi quá trình phát triển của phôi 26
3.1 Hình thái ngoài tuyến sinh dục của cá Chiên 27
3.2 Hệ số thành thục của cá Chiên theo các tháng trong năm 31
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Hệ số thành thục theo các tháng trong năm 32 Bảng 2 Tỷ lệ thành thục trung bình qua các tháng 34 Bảng 3: Sức sinh sản tuyệt ñối và sức sinh sản tương ñối của cá chiên 35 Bảng 4: Sức sinh sản thực tế của cá chiên qua các ñợt sinh sản 36 Bảng 5: Ảnh hưởng của nhiệt ñộ ñến quá trình phát triển phôi cá Chiên 51 Bảng 6: Thời gian phát triển của các giai ñoạn phôi cá Chiên 53
DANH MỤC CÁC BIỂU ðỒ
Biểu ñồ 1: Hệ số thành thục trung bình của cá Chiên qua các tháng 33 Biểu ñồ 2: Tỷ lệ phát triển tuyến sinh dục qua các tháng 34 Biểu ñồ 3: Ảnh hưởng của nhiệt ñộ ñến tỷ lệ thụ tinh của cá Chiên 52 Biểu ñồ 4: Ảnh hưởng của nhiệt ñộ ñến tỷ lệ nở của cá Chiên 52
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.2 Bản ñồ phân bố cá Chiên ở khu vực phía Bắc Việt Nam 9
Hình 2.2 Giải phẫu cá ñể tìm tuyến sinh dục cá Chiên 20
Hình 3.2 Hình thái ngoài buồng trứng cá Chiên (gñ II) 28 Hình 3.3 Hình thái ngoài buồng trứng cá Chiên (gñ III) 29 Hình 3.4 Hình thái ngoài buồng trứng cá Chiên (gñ IV) 30 Hình 3.5 Lát cắt ngang tinh sào cá Chiên (phóng ñại 400 lần) 37 Hình 3.6 Lát cắt ngang buồng trứng cá Chiên (phóng ñại 100 lần 39 Hình 3.7 Noãn bào giai ñoạn II (phóng ñại 100 lần) 41 Hình 3.8 Noãn bào giai ñoạn III (phóng ñại 100 lần) 42 Hình 3.9 Noãn bào giai ñoạn IV (phóng ñại 400 lần) 43 Hình 3.10 Các giai ñoạn noãn bào trong buồng trứng cá Chiên 43
Trang 8Hình 3.18 Giai ñoạn 64 tế bào 48
Hình 3.24 Giai ñoạn hình thành bọc mắt và túi tai 49
Trang 9MỞ đẦU
Từ thập kỷ 50 của thế kỷ trước, con người ựã hiểu rõ ựặc ựiểm sinh sản của nhiều loài cá nước ngọt là ựối tượng nuôi Trên cơ sở ựó, công nghệ sản xuất giống nhân tạo các loài cá này cũng ựược nghiên cứu thành công làm tiền ựề cho nghề cá nước ngọt phát triển, góp phần không nhỏ trong việc bổ sung nguồn protein cho nhân loại
Cá Chiên Bagarius yarrelli (Sykes, 1839) thuộc họ Sisoridae, bộ
Siluriformes, lớp Cá xương Actinopterygii Họ Sisoridae có khoảng 23 giống
và 85 loài, cá thường có kắch thước trung bình từ 6- 30cm; chỉ riêng giống
Bagarius mới có những loài có cỡ cá thể vượt quá 2m [11]
Cá Chiên thắch sống trong môi trường nước chảy nhanh ở vùng Nam Á (vùng phân bố kéo dài từ Ấn độ qua Myanmar, Thái Lan, Bắc Việt Nam, Inựônêsia) Con lớn nhất có thể ựạt 50kg; cỡ cá khai thác trung bình ngoài tự nhiên là 5- 7kg hoặc nhỏ hơn [7].Ở Việt Nam, ựây là một loài cá thường thấy nhiều trong các sông suối ở các tỉnh phắa Bắc, nhất là ở vùng trung và thượng lưu các sông Lô, sông Gâm, sông Hồng, sông đà Loài cá này sống ở tầng ựáy,
ưa những nơi có khe nước chảy, ựáy là cát ựá Hiện nay, ngư dân vẫn khai thác ựược cá Chiên cỡ 0,05- 1,2kg trên sông Lô thuộc ựịa phận tỉnh Hà Giang Cá Chiên có thể biến ựổi màu theo môi trường nước: ở môi trường nước trong cá
có màu nâu ựen, trong môi trường nước ựục cá có màu vàng nâu
Cá Chiên là loài cá ựược người tiêu dùng ưa chuộng Giá cá Chiên bán trên thị trường hiện nay thường dao ựộng từ 250.000 ựến 300.000 ựồng/kg Thịt
cá Chiên ngon Cá Chiên ựược coi là cá ựặc sản của các vực nước nhiệt ựới
Việc ựánh bắt quá mức cá Chiên trên các sông suối, ựặc biệt là ở vùng thượng nguồn các sông Hồng, đà, Lô- Gâm bằng ựủ loại ngư cụ trong ựó có
Trang 10cả các biện pháp mang tính huỷ hoại nguồn lợi cá tự nhiên như kích ñiện, hoá chất và việc phá hoại ñiều kiện sinh sản tự nhiên cũng như môi trường sống của loài cá này ñã ñẩy chúng vào tình trạng sắp tuyệt chủng, sách ñỏ Việt Nam ñã xếp cá Chiên vào diện dễ bị ảnh hưởng, cần ñược ñặc biệt chú ý [4]
Theo Ngô Trọng Lư, Thái Bá Hồ (2001) [11], Nguyễn Văn Hảo (2003) [6] thì bãi ñẻ của cá Chiên trên sông Hồng ở Trịnh Quyền, Bát Sát, chân cầu Cốc Lếu (Lào Cai), Ngòi Nhù Cá 3-4 tuổi thì thành thục Mùa sinh sản của cá vào khoảng tháng 3-6 Khi sinh sản cá di cư từ hạ lưu lên trung lưu, nơi nước chảy, có ñáy ñá Trứng cá ñẻ ra thường dính vào ñáy hoặc trong tổ do cá bố
mẹ ñào ðây là loài cá có tập tính bảo vệ trứng Cá Chiên có tốc ñộ lớn khá nhanh, cỡ 8,5cm nặng 4g; 10cm nặng 13,5g; 16- 17cm nặng 26- 31g; cá 1 tuổi nặng dưới 1kg; cá 4 tuổi thân dài 65cm, nặng 4,5kg
Trong những nghiên cứu gần ñây nhất về cá Chiên phải kể ñến công trình "ðiều tra hiện trạng nguồn lợi của 4 loài cá quý hiếm cá Lăng, Chiên, Bỗng, Anh vũ trên sông Hồng" của Phạm Báu và ctv (2000)[3] Các tác giả ñã tiến hành ñiều tra khảo sát bãi cá ñẻ, sản lượng khai thác ngoài tự nhiên, tổ chức khai thác, tình hình thực hiện pháp lệnh bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, những nguyên nhân gây giảm sút nguồn lợi thuỷ sản Một trong những biện pháp ñể bảo vệ nguồn lợi này ñã ñược các tác giả nhấn mạnh là cần ñẩy mạnh nghiên cứu sản xuất giống, nuôi cá thịt các loài cá quý hiếm này ñể thả bổ sung giống vào vùng trung, thượng lưu các sông Thao, Lô, Chảy, ña dạng hoá nghề nuôi thuỷ sản, tìm kiếm những ñối tượng nuôi mới có giá trị kinh tế cao ñồng thời giảm áp lực khai thác cá tự nhiên Gần ñây nhất, trong công trình nghiên cứu của mình, các tác giả Nguyễn Văn Hảo và Võ Văn Bình (2003) [7], Nguyễn Văn Hảo (2005) [7] ñã mô tả sơ bộ các ñặc ñiểm sinh học ñể
phân biệt 4 loài cá Chiên trong giống Bagarius có ở Việt Nam
Trang 11ðiểm qua các cơng trình nghiên cứu về cá Chiên ở nước ta trên đây cĩ thể thấy khơng nhiều và cũng chỉ phần lớn tập trung vào cơng tác phân loại và điều tra các đặc điểm sinh thái của lồi cá này ngồi tự nhiên: điều kiện và tập tính sống, tập tính ăn, mùa vụ sinh sản Chưa cĩ nghiên cứu chuyên sâu về đặc điểm sinh sản của cá Chiên ở điều kiện tự nhiên cũng như ở điều kiện nuơi
Trước thực trạng về nguồn lợi cá Chiên giảm sút ở các sơng suối tự nhiên của nước ta và yêu cầu cần thiết phải phục hồi và làm phong phú thêm đối tượng nuơi là các lồi cá bản địa, trong đĩ cĩ cá Chiên, việc nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản của lồi cá này sẽ là một khâu quan trọng giúp chủ động sản xuất giống nhân tạo, giảm áp lực đánh bắt cá giống ngồi tự nhiên, kiểm sốt được chất lượng con giống, đáp ứng nhu cầu cho người nuơi Từ đĩ trong tập đồn cá nuơi sẽ cĩ thêm một lồi cá nuơi mới theo hướng đa dạng hố đối tượng nuơi, gĩp phần phát triển bền vững nghề nuơi cá của nước ta
Với những lý do kể trên, tơi chọn đề tài "Nghiên cứu một số đặc điểm
sinh học, sinh sản cá Chiên Bagarius yarrelli (Sykes, 1839) trong điều
kiện nuơi vỗ ” với hy vọng sẽ đĩng gĩp cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu
sinh sản nhân tạo lồi cá này, cũng như vào cơng cuộc bảo vệ và phát triển nguồn lợi các lồi cá quý hiếm ở Việt Nam
Luận văn được thực hiện trong khuơn khổ của đề tài khoa học:
“Nghiên cứu xây dựng quy trình cơng nghệ sản xuất giống cá Chiên
(Bagarius yarrelli)” đang thực hiện tại Trung tâm giống Thuỷ sản nước ngọt
Miền Bắc- Phú Tảo- Hải Dương - Viện nghiên cứu nuơi trồng thủy sản 1
Trang 12Mục tiêu của ñề tài:
Góp phần xây dựng quy trình sản xuất giống cá Chiên trong ñiều kiện nhân tạo
Nội dung của ñề tài:
+ Xác ñịnh một số ñặc ñiểm sinh học sinh sản: Mùa vụ sinh sản, kích
cỡ sinh sản, hệ số thành thục, sức sinh sản tuyệt ñối, tương ñối và sức sinh sản thực tế
+ Theo dõi quá trình thành thục và xác ñịnh các giai ñoạn phát triển của tuyến sinh dục cá Chiên
+ Theo dõi quá trình phát triển của phôi cá Chiên
Mặc dù ñề tài ñược thực hiện với sự cố gắng của bản thân, sự hướng dẫn tận tình và khoa học của TS Phạm Anh Tuấn, song do thời gian có hạn và ñây là ñối tượng mới ñược nghiên cứu ở Việt Nam nên không thể tránh ñược những thiếu sót nhất ñịnh Kết quả thu ñược chỉ là những ghi nhận ban ñầu
Kính mong nhận ñược ý kiến ñóng góp của các thầy cô, cán bộ hướng dẫn và các bạn ñồng nghiệp
Trang 13PHẦN I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số ựặc ựiểm sinh học của cá Chiên
1.1.1 Vị trắ phân loại
Theo tài liệu phân loại của Mai đình Yên (1978) [4] và Nguyễn Văn Hảo (2005) [7] cá chiên thuộc Bộ cá Nheo (Siluriformes) và họ cá Chiên (Sisoridae) Ở Việt Nam, họ cá Chiên gồm 6 giống trong ựó giống Bagarius
bao gồm 4 loài Loài cá Chiên Bagarius yarelli có hệ thống phân loại như
Giống cá Chiên Bagarius
Loài cá Chiên Bagarius yarelli (Sykes, 1839)
Hình 1.1 Cá Chiên (Bagarius yarrelli)
Trang 141.1.1.1 ðặc ñiểm phân loại của họ Sisoridae
Cá có thân tròn, thon dần hoặc hơi dẹp bên dần về phía ñuôi ðầu rất rộng, dẹp bằng dần về phía miệng Miệng rộng, hình cung, nằm kề dưới hoặc dưới Mắt nhỏ nằm phía trên lưng và nửa trước của ñầu; nhìn từ mặt bụng lên không thấy Lỗ mũi trước và sau gần nhau, giữa có màng ngăn cách, màng này kéo dài thành râu Râu có 4 ñôi: 1 ñôi râu hàm phát triển thành phiến rộng, 1 ñôi mũi nhỏ và 2 ñôi râu cằm Răng mọc ở hàm trước và hàm dưới
Xương vòm miệng và xương lá mía không có răng Tia nắp mang có từ 5-12 chiếc Toàn thân phủ da rất dày Phần ngực có hoặc không có cơ quan bám Vây lưng ngắn, có một tia cứng, có 6-7 tia phân nhánh, nằm trước vây bong Vây hậu môn ngắn, có 4-9 tia phân nhánh Vây ngực bằng và rộng, có gai cứng Vây bụng nhỏ, có 6 tia, các vây hai bên tách rời, có khi liền nhau Vây ñuôi cắt nghiêng, lõm hay phân thuỳ sâu Bóng hơi hai ngăn trái phải, bọc trong túi xương [7]
1.1.1.2 ðặc ñiểm của giống Bagarius
ðầu dẹp bằng, mặt lưng thô hoặc lộ ra chất xương Phía trước thân thô lớn và dẹp bằng, phía sau tròn Cán ñuôi hình côn tròn Miệng rộng, hình cung rõ ràng Màng nắp mang chuyển rời, không nối liền với eo mang Phần ngực không có cơ quan giác bám Răng nhọn, hình dùi Mút răng hàm dưới thành dải rộng, mút hai bên hướng về phía sau và kéo dài ðai răng hàm trước tương ñối hẹp Xương vòm không có răng Vây lưng và vây ngực có gai cứng, phía sau gai vây lưng trơn láng, phía sau gai ngực có răng cưa Có 4 ñôi râu (1 ñôi râu mũi, 1 ñôi râu hàm, và 2 ñôi râu cằm) Râu hàm phát triển rộng bẹt và
có chiều dài lớn nhất Tia nắp mang 12 chiếc Bóng hơi 2 ngăn rất nhỏ và chứa trong túi xương Các vây mút cuối ñều kéo dài thành sợi Vây ñuôi phân thuỳ sâu Thân phủ da sù hoặc có nhiều nốt sần nhỏ [7]
Trang 151.1.1.3 ðặc ñiểm của loài Bagarius yarrelli
Theo Nguyễn Văn Hảo (2005) [7], cá có thân hình trụ, thon dần về phía ñuôi ðầu to rộng, rất dẹp bằng và có giáp cứng Mặt dưới của ñầu và bụng phẳng Miệng dưới rộng, hình bán nguyệt, nằm trên mặt phẳng ngang Hàm dưới hơi nhô ra Răng hàm nhỏ sắc Mắt nhỏ, hình bầu dục, có nếp da che phủ, nằm lệch về mặt lưng của ñầu và gần cách ñều mõm và ñiểm cuối nắp mang Khoảng cách 2 mắt hẹp vào khoảng 2 lần ñường kính mắt Có 4 ñôi râu, râu mũi rất ngắn Râu hàm trên phát triển thành phiến rộng và cứng Râu hàm dưới mảnh và ngắn Phần cuối của xương sọ tạo thành mẩu nhỏ gắn vào thân Khe mang rất rộng và kéo dài xuống mặt bụng
Vây lưng có khởi ñiểm sau phía dưới gốc sau vây lưng, có gai cứng, phần ngọn mềm và phía sau có răng cưa Vây mỡ ngắn, có khởi ñiểm trước hoặc ñối xứng với khởi ñiểm vây hậu môn Vây ngực rất phát triển có gai cứng ngọn mềm và phía sau có gai răng cưa Vây ñuôi hai thuỳ nhọn, thuỳ trên dài hơn thuỳ dưới Mút cuối các vây kéo dài thành sợi Thân phủ da, không có vẩy nhưng có nhiều nốt sần sùi ðường bên hoàn toàn, bắt ñầu từ một mấu nhọn phía sau sọ, chạy ñến ñiểm giữa gốc vây ñuôi Mặt lưng của thân và ñầu có màu nâu ñến màu nâu ñỏ và nhạt dần xuống bụng Mặt bụng của thân và ñầu có màu trắng Lưng, hông và các vây có vân hoặc dải nâu thẫm hoặc các chấm ñen Các nốt sừng có màu nâu vàng
Loài B yarelli tên tiếng Việt gọi là cá Chiên, tên tiếng Mường gọi là
cá Căl, tên tiếng Tày và Thái gọi là cá Pa Khể
Trang 161.1.2 đặc ựiểm phân bố
Nơi sống của các loài Bagarius là Nam và đông Nam Á Chúng phân
bố ở vùng sông nước của Ấn độ ở Pakistan và Ấn độ, ở phắa đông (bao gồm
cả bán ựảo Ấn độ) ựến sông Hồng của Việt Nam và phắa Nam là toàn bộ đông Dương bao gồm cả bán ựảo Malaysia và Indonesia B bagarius ựược biết ựến từ sông Hằng, Chao Phraya, vùng sông nước Mekong, cũng như cả ở bán ựảo Malaysia và vùng sông nước Salween và Mae Klong, sông
Brahmaputra và sông Ayeyarwady B suchus có nguồn gốc từ lưu vực sông Mekong và Chao Phraya B rutilus sống ở sông Hồng và sông Mã của Bắc Việt Nam B yarrelli phân bố rộng ở vùng nam và ựông- nam châu Á [29]
Theo Hoàng Duy Hiệp (1964) và Mai đình Yên (1978 ) [15], cá Chiên sống ở ựáy của những nơi nước chảy xiết, có nhiều ghềnh thác Ban ngày cá trú ở những hang hốc của các thác nước, ban ựêm mới ra hoạt ựộng, bắt mồi ở những vùng nước xung quanh Cá Chiên phân bố rộng trong hệ thống sông Hồng, giới hạn hạ lưu xuống tận Hưng Yên nhưng có nhiều ở khu vực thượng lưu và trung lưu các con sông, suối Hiện nay, vùng phân bố của cá Chiên bị thu hẹp chỉ còn chủ yếu ở vùng thượng lưu, nơi có nhiều ghềnh thác hiểm trở như Lai Châu trên sông đà, Lào Cai trên sông Thao, Hà Giang trên sông Lô,
ở sông Hồng vẫn còn gặp cá Chiên nhưng rất hiếm Nơi có nhiều cá Chiên hơn cả là thượng nguồn sông Gâm từ Na Hang tới Bắc Mê Trên các hồ chứa thuỷ ựiện Hoà Bình và Thác Bà bắt gặp cá Chiên ở khu vực ựầu hồ
Trang 17Hình 1.2 Bản ñồ phân bố cá Chiên ở khu vực phía Bắc Việt Nam (Theo ñiều tra của Phòng nguồn lợi và Trung tâm quan trắc cảnh báo môi
trường- Viện Thủy Sản I) Trên thế giới, cá Chiên phân bố ở Ấn ðộ, Miến ðiện, Thái Lan, Lào, Campuchia, Indonesia, Trung Quốc [4]
1.1.3 ðặc ñiểm dinh dưỡng của cá Chiên
Cá Chiên có bộ máy tiêu hoá của loại cá ăn ñộng vật ñiển hình: miệng rộng, răng cửa sắc nhọn (Hình 1.3), tỷ lệ chiều dài ruột/chiều dài thân (Li/L0) thấp Chiều dài của dạ dày/L0 = 18,9%, tỷ lệ chiều rộng miệng/chiều dài gần ñầu bằng 47,7% ðiều ñáng chú ý là tỷ lệ Li/L0 không phụ thuộc vào chiều dài
cá một cách rõ ràng, ñiều này chứng tỏ trong giai ñoạn trưởng thành là thức
Trang 18ăn không thay ựổi, mà chủ yếu phụ thuộc vào nơi sinh sống [3]
Thức ăn của cá biến ựộng theo mùa một cách rõ rệt Trong tháng 5, do thức ăn nghèo nàn nên thức ăn chắnh của cá Chiên là côn trùng dưới nước
(Ephermeroptera, Pleucoptera, Trichoptera, Tendipedidae) Trong hệ tiêu
hoá còn có các tổ côn trùng Trichoptera xây bằng các loại xơ, gỗ Tháng 7- 9, khi nước ngập nhiều vùng, thức ăn chắnh của cá là tôm, cua, cá với tỷ lệ tương ứng là tôm (70%), cua (20%), cá (10%), côn trùng (20%) Vào những tháng 1-2 khi mực nước thấp, cá chuyển sang ăn các chủng quần sinh vật bám ựá (Aphelochrinus, Nestevalis) hoặc Cimicoides trong họ Hemiptera và họ Heteroptera [3]
Hình 1.3 Cấu tạo miệng cá Chiên
Cá Chiên lúc còn nhỏ ăn các loại côn trùng sống dưới nước, khi lớn lên chúng ăn chủ yếu là cá Theo Mai đình Yên (1983) [17], cá Chiên từ 7cm ựã bắt ựầu ăn cá con Trong thực tế ngư dân dùng các loại cá cỡ từ 100g Ờ 200g làm mồi ựể câu cá Chiên Trong nuôi dưỡng thử nghiệm trong lồng, cá Chiên
ăn mạnh các loại thức ăn như : giun ựất, tôm, cá sắt miếng, bì lợn luộc
1.2 đặc ựiểm sinh trưởng
Theo Phạm Báu và ctv (2000) [3], thuỳ trên của vây ựuôi cá Chiên kéo
Trang 19dài phía sau thành dạng sợi, khó xác ñịnh chính xác nên ñã tính tốc ñộ tăng trưởng của cá Chiên theo chiều dài cá L0 Cá Chiên có tốc ñộ tăng trưởng khá nhanh Cá Chiên ñực và cái tăng trưởng chênh lệch không nhiều, có xu hướng
3 năm ñầu cá Chiên ñực lớn nhanh hơn sau ñó cá cái lớn nhanh hơn Cá Chiên tăng chiều dài chủ yếu từ năm thứ nhất ñến năm thứ tư từ 14,2-17,6cm sau ñó chậm dần ñều, năm thứ 8 ñến năm thứ 13 từ 7,5-8,2cm
Cá Chiên tăng nhanh khối lượng từ sau năm thứ 3, từ 3-7 tuổi trung bình ñạt từ 700-1200g/năm, trong giới hạn 13 tuổi, cá càng lớn tăng trọng càng nhanh, 13 tuổi cá ñạt 30kg ðiều ñáng chú ý là cá Chiên có tốc ñộ tăng trưởng sai khác nhau nhiều, sự sai khác lớn này có thể do cá Chiên bắt mồi thụ ñộng,
ít di chuyển xa nên nơi nào có thức ăn phong phú thì cá lớn nhanh còn nơi nào có thức ăn nghèo nàn thì cá lớn chậm
1.3 ðặc ñiểm sinh sản
Sinh sản là quá trình ñặc trưng cho cơ thể sống, ñể duy trì nòi giống và tăng số lượng quần thể ðộng vật ở nước có các hình thức sinh sản khác nhau như sinh sản vô tính, sinh sản hữu tính và sinh sản ñơn tính
Hiện nay, trong thực tế với một số loài cá có giá trị kinh tế cao như cá Chiên thì sản phẩm của chúng không ñáp ứng ñược nhu cầu của người nuôi, con người phải sử dụng biện pháp sinh sản nhân tạo ñể tạo ra một lượng lớn con giống nhằm ñáp ứng ñủ nhu cầu nuôi, ñể tạo ra một sản lượng cá thịt lớn
Trong quá trình sinh sản nhân tạo việc xác ñịnh chính xác các giai ñoạn thành thục và thời gian ñẻ trứng của cá Chiên ñể tác ñộng vào cá bố mẹ bằng kích dục tố tạo nên sự chín ñồng thời tránh sự lệch pha của cá ñực và cá cái
ñã góp phần vào sự thành công trong sinh sản nhân tạo loài cá này
Trang 201.3.1 Phân biệt cá ñực và cá cái
Khi còn non ít có sự sai khác về hình dạng giữa cá ñực và cá cái Khi cá trưởng thành, cá ñực có thân dài thuôn hơn cá cái Khi cá thành thục, lỗ sinh dục của con cái hình ovan có rãnh dọc ở giữa, trong khi ñó lỗ sinh dục của cá ñực dài, nhọn và không có rãnh
Cấu tạo bên trong: cá cái có buồng trứng gồm hai dải hình quả nhót, cá ñực có hai buồng tinh là hai dải có nhiều tua hình răng lược [3]
1.3.2 Sự phát triển của noãn bào và buồng trứng
Theo nghiên cứu của Phạm Báu và ctv [3] noãn bào cá Chiên chia ra làm 4 giai ñoạn:
• Noãn bào giai ñoạn I
Nhân to chiếm hầu hết diện tích của noãn bào, chất nhân bắt màu tím, nhân chứa nhiều nhân con tập trung tại trung tâm của nhân Noãn bào có nhiều góc cạnh, ñường kính của noãn bào dao ñộng trong khoảng 47-158 µm (trung bình 91µm) Noãn sào giai ñoạn này có kích thước nhỏ, chỉ tồn tại ở giai ñoạn cá giống
• Noãn bào giai ñoạn II
Nhân vẫn chiếm hầu hết tế bào, nhân con nằm rải rác trong nhân hoặc xung quanh màng nhân Tế bào chất bắt màu tím Cuối giai ñoạn này có sự hình thành nang trứng Noãn bào có nhiều góc cạnh, ñường kính noãn bào dao ñộng 127 – 133µm (trung bình 222µm) Noãn sào giai ñoạn này có màu hồng, chưa thể thấy các hạt trứng bằng mắt thường, hệ số thành thục 0,15- 0,5
• Noãn bào giai ñoạn III
ðặc ñiểm chủ yếu của giai ñoạn này là có sự hình thành không bào, bắt
Trang 21ựầu từ màng tế bào rồi lan ựến màng nhân nhưng chủ yếu tập trung tại vùng gần tế bào Nhân con tập tung tại màng nhân Tế bào ắt góc cạnh hơn tế bào giai ựoạn II Có sự tắch luỹ noãn hoàng nên tế bào chất bắt màu xám hồng rồi chuyển sang màu hồng nhạt đường kắnh của noãn bào dao ựộng 317 Ờ 634ộm (trung bình 419ộm) Noãn sào giai ựoạn này có màu xanh nhạt bằng mắt thường có thể quan sát thấy các hạt trứng nhỏ trong noãn sào Hệ số thành thục 0,3 Ờ 1,2
Ớ Noãn bào giai ựoạn IV
Ở giai ựoạn này có sự tắch luỹ nhiều noãn hoàng ở tế bào chất, tế bào lớn hơn nhiều về kắch thước Noãn bào có màu hồng, do sự tập trung nhiều tế bào chất vào khu vực xung quanh màng tế bào nên khu vực này có màu xám Không bào tồn tại nhiều xung quanh màng tế bào đầu giai ựoạn này nhân nằm ở trung tâm nhân, cuối giai ựoạn này khi ựã tắch luỹ ựầy ựủ noãn hoàng trứng chắn hoàn toàn thì nhân chuyển về cực ựộng vật đường kắnh trứng giai ựoạn này 666-1047ộm Noãn bào có màu xám xanh, có thể quan sát ựược các hạt trứng bằng mắt thường Hệ số thành thục là 1,5- 4,7%
Buồng trứng giai ựoạn IV, trong noãn sào chỉ có chứa noãn bào giai ựoạn I và giai ựoạn II mà không thấy sự xuất hiện của noãn bào giai ựoạn III Như vậy theo kết luận của Phạm Báu và ctv [3] thì có khả năng cá Chiên chỉ sinh sản một lần trong năm
1.3.3 Tuổi phát dục và hệ số thành thục của cá Chiên
Ớ Tuổi thành thục
Cá Chiên thành thục muộn, kắch cỡ lớn mặt khác do cá ngày càng khan hiếm nên việc thu mẫu cá thành thục gặp nhiều khó khăn đã thu ựược 16 mẫu cá Chiên có tuổi thành thục từ 4-13 trên tổng số 148 cá mẫu vật Chưa
Trang 22gặp trứng cá Chiên thành thục ở tuổi 4-5 Cá Chiên thành thục ở lứa tuổi lớn nhất ựã gặp là 6, chiếm tỷ lệ 25%; ở lửa tuổi 7 chiếm 66% trên tổng số cá trong lứa tuổi ựã gặp [3]
Ớ Hệ số thành thục
Cá Chiên có hệ số thành thục thấp, với 7 mẫu cá thu ựược có chiều dài
Lo từ 64 Ờ 120cm , khối lượng P từ 4,1 Ờ 3,2 kg trứng thành thục ở giai ựoạn
IV Hệ số thành thục của cá biến ựổi từ 1,4-4,7% Kiểm tra bằng cắt tế bào trứng của cá có hệ số thành thục bằng 4,7% thấy trứng ựã ựạt giai ựoạn thành thục giai ựoạn IV [3]
Ớ Sức sinh sản
đã thu ựược 4 mẫu trứng ở giai ựoạn IV cho thấy cá Chiên có sức sinh sản thấp dao ựộng lớn cả về sức sinh sản tuyệt ựối và sức sinh sản tương ựối Biên ựộ dao ựộng này phụ thuộc vào lứa tuổi và nơi sinh sống Nhìn chung cá
có tuổi cao, khối lượng từ 28 Ờ 32 kg có sức sinh sản thấp, sức sinh sản tuyệt ựối từ 31.000-48000 trứng/cá thể, sức sinh sản tương ựối từ 1.000-1.100 trứng/kg cơ thể cái Cỡ cá từ 7 Ờ 10kg có sức sinh sản cao hơn, sức sinh sản tuyệt ựối từ 45.000 Ờ 140.000 trứng/cá thể cái, sức sinh sản tương ựối từ 4100 Ờ 20100 trứng/kg cá cái Theo Mai đình Yên (1983) [17], cá Chiên cỡ 4kg có sức sinh sản tuyệt ựối là 100.000 trứng trong mùa ựẻ
1.3.4 Mùa vụ sinh sản của cá Chiên
Cá chiên có hệ số thành thục cao nhất vào tháng 4-5 và sau ựó giảm thấp, cá Chiên sinh sản vào mùa lũ và trùng với mùa vụ sinh sản của các loài
cá khác đến tháng 7-8 ựã thu ựược mẫu cá con cỡ 4-5cm tại chân cầu đông Tiến, Tuyên Quang Tập tắnh ựẻ của cá Chiên chưa biết rõ ràng Những quan sát ựược của ngư dân cho thấy cá ựẻ ở trong hang và các bãi ựá ngầm Các bãi
Trang 23ựẻ nổi tiếng như: chân cầu Cốc Lếu, cửa Ngòi Bo (Lào Cai), Quệch (Yên Bái) (Hoàng Duy Hiệp, 1964) Hiện nay, chúng ựẻ phân tán, rải rác không cố ựịnh Nơi ựẻ tập trung hiện nay là khu vực núi đổ trên sông Gâm thuộc Bắc Mê Ờ
Hà Giang
1.4 Sản lượng khai thác và ý nghĩa kinh tế
Hiện nay ngoài tự nhiên, dụng cụ khai thác cá Chiên là bao gồm các loại câu, cụp, chài Hiện nay, phương tiện ựánh bắt cá Chiên phổ biến là dùng xung ựiện: dùng ắc quy, phát ựiện quay tay, máy phát ựiện chạy bằng máy nổ, ựánh cá bằng xung ựiện ựơn thuần ựến kết hợp xung ựiện với lưới chắn Mùa khai thác cá Chiên gồm hai vụ chắnh là mùa cá ựi ựẻ từ tháng 3 Ờ 6 dương lịch, vụ phụ từ tháng 10- 12, mùa nước cạn là mùa cá ựi trú ựông Trước ựây,
cá Chiên có phổ biển trên sông Hồng Ngày nay phạm vi phân bố bị thu hẹp, chỉ còn ở những nơi hiểm trở nhiều ghềnh thác và sản lượng giảm sút nghiêm trọng, năm 1960- 1970 sản lượng cá Chiên của tỉnh Lào Cai ựạt tới 16,25 tấn/năm chiếm 50% sản lượng khai thác nhưng hiện nay chỉ còn 2-3 tấn (Hoàng Huy Hiệp, 1964; Mai đình Yên, 1998; Nguyễn Văn Hảo, 1993) Một
số nơi còn nhiều cá Chiên hiện nay là ựoạn Na Hang, Bắc Mê trên sông Gâm
và ựoạn Quỳnh Nhai trên sông đà
Cá Chiên là loài cá thường gặp và cho sản lượng cao ở những năm
trước ựây Vùng phân bố của loài cá này rộng xuống dưới vùng hạ lưu như ở Hưng Yên (Mai đình Yên, 1978) Sản lượng khai thác ở sông Hồng rất cao Sản lượng khai thác chiếm 50% sản lượng cá khai thác ở Lào Cai, tương ựương khoảng 16,25 tấn/năm (Hoàng Huy Hiệp, 1964) Với tập tắnh sống ựáy, phàm ăn, "rất dại" và có giá trị kinh tế cao, cá Chiên ựã bị khai thác một cách kiệt quệ ở mọi nơi Vùng phân bố của chúng bị thu hẹp nhiều Hiên tại ở khu vực Hà Tây gần như không còn ựánh bắt ựược cá Chiên trong vài năm gần
Trang 24ựây Trên sông Gâm, chỉ khai thác ựược cá ở khu vực Núi đổ (ranh giới giữa
Na Hang- Bắc Mê) có kắch thước lớn còn những khu vực khác chỉ khai thác ựược cá Chiên có kắch thưới nhỏ, dưới 1 kg Sản lượng khai thác ựược khoảng
8 - 9 tấn trong năm 1999 (Phạm Báu và ctv, 2000) Thực tế ựiều tra cho thấy sản lượng cá Chiên hiện nay chỉ bằng một nửa sản lượng trên, ước tắnh khoảng 3 - 4 tấn Sản lượng này còn giảm ựi rất nhiều trong nhưng năm tới
dưới áp lực khai thác và phương tiện khai thác cá như hiện nay
1.5 Tiềm năng của cá Chiên trong nuôi trồng thuỷ sản
Cá Chiên ựã ựược nuôi ở nhiều nơi, ựặc biệt là ở khu vực trên sông Lô (thuộc thị xã Tuyên Quang, Bắc Quang- Hà Giang) Cá Chiên có tốc ựộ tăng trưởng không cao khi nuôi trong lồng và tăng trưởng chậm khi nuôi trong ao Tốc ựộ cá nuôi trong lồng chỉ ựạt 100- 200 g/con/năm (Phạm Báu và ctv, 2000) Sức chống chịu rét của loài cá này khi nuôi trong lồng không cao, thể hiện là cá chết nhiều ở các lồng nuôi trên sông (thị xã Tuyên Quang) Trong giai ựoạn 1997 ựến 1999 ựã có một phong trào nuôi cá Chiên trong lồng ở hệ thống sông Lô Ờ Gâm, kết quả cho thấy cá chậm lớn và chịu rét kém Hạn chế lớn nhất của nuôi loài cá này trong lồng là chúng tiêu thụ thức ăn lớn trong khi tốc ựộ tăng trưởng chậm Chưa có thử nghiệm nào về hệ số tiêu thụ thức
ăn của loài cá này đây là việc cần thiết phải thực hiện nếu muốn thành công trong nuôi ựối tượng này
đã có những thử nghiệm nuôi cá Chiên trong các ao ựất của Viện nghiên cứu nuôi trồng Thuỷ Sản I Kết quả là cá có thể sống trong ao nước tĩnh nhưng gần như không tăng trưởng điều này cho thấy cá có thể nuôi ựược trong ao, cụ thể là các ao ở vùng miền núi (có nguồn nước vào, nguồn nước ra riêng biệt và thường xuyên) khi ựáp ứng ựược nguồn thức ăn cho cá Thực tế ựã có nhiều ngư dân làm thức ăn nhân tao tạo cho loài cá này bằng cách nhồi hỗn hợp cơm thừa, cá nấu chắn và bột sắn Kết quả là cá bắt mồi
Trang 25bình thường, mặc dù chưa ñem lại hiệu quả kinh tế cao, nhưng bước ñầu ñã
mở ra một cách nuôi mới khi nuôi ñối tượng này
Trong năm 2007, tại Hà Giang ñã triển khai một dự án giúp nông dân nghèo ở miền núi thử nghiệm nuôi cá Chiên trong lồng ñặt trên sông Lô Những kết quả bước ñầu cho thấy việc nuôi cá Chiên trong lồng, cho cá ăn thức ăn cám nấu có trộn với giun ñất (ñào ở vườn ñồi), giun quế (nuôi bằng phân trâu bò) ñã thu ñược cá Chiên có tốc ñộ tăng trưởng khá nhanh, mang lại thu nhập cho người nghèo ở miền núi Hà Giang Cá Chiên nuôi lồng có ưu ñiểm hơn cá Lăng Chấm là chúng không tấn công những ñối tượng cùng loài
có kích thước nhỏ hơn và với tập tính ñáy và ít vận ñộng, loài cá này có thể nuôi ở mật ñộ cao Tuy cá Chiên không phải là ñối tượng có khả năng chống chịu tốt, nhưng những thử nghiệm nuôi cá trong lồng không thấy biểu hiện bệnh Là ñối tượng có phổ thức ăn thiên nhiều về ñộng vật nên cá Chiên là ñối tượng có tiềm năng lớn trong các loài bản ñịa có thể ứng dụng vào nuôi cá lồng, ñặc biệt là nuôi cá lồng trên sông
Trang 26PHẦN II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 ðối tượng nghiên cứu
Cá Chiên (Bagarius yarrelli) bố mẹ ñược nuôi ở bể 25m2 tại Trung tâm giống Thuỷ sản nước ngọt Miền Bắc- Phú Tảo- Hải Dương – Viện nghiên cứu nuôi trồng Thuỷ Sản 1
Hình 2.1 Bể nuôi vỗ cá Chiên bố mẹ
Cá Chiên bố mẹ có nguồn gốc thu mua chủ yếu tại các tỉnh Tuyên Quang, Yên Bái và Hà Giang từ năm 2006 cho ñến nay Số lượng cá bố mẹ hiện nay khoảng 370 con, với tỷ lệ cá cái chiếm khoảng 70%, cá ñực chiếm 30% Kích cỡ trung bình với cá cái 1,5- 2,2kg/con và cá ñực: 1,2- 1,7kg/ con
Cá Chiên là loài cá ăn ñộng vật nên loại thức ăn lựa chọn ñể ñưa vào nuôi vỗ trong nghiên cứu này là cá tạp băm nhỏ, khẩu phần cho ăn chiếm từ 2- 6% trọng lượng cơ thể (tuỳ theo vào từng thời ñiểm nuôi vỗ) Trong thời gian nuôi vỗ có duy trì nguồn nước chảy vào bể và tạo thêm O2 bằng cách sục khí Sau thời gian nuôi vỗ khoảng 3- 4 tháng cá có thể thành thục và tham gia
Trang 27sinh sản Cá bắt ñầu thành thục ở tuổi 3+, cá cái có trọng lượng khoảng 1,5kg/ con, cá ñực 1,4kg/ con Trọng lượng cá thành thục trong nghiên cứu này nhỏ hơn nhiều so với cá Chiên thu ñược từ tự nhiên (3- 4 tuổi) [3]
2.2 ðịa ñiểm nghiên cứu
Các mẫu tuyến sinh dục ñược thu tại Trung tâm giống Thuỷ sản nước ngọt Miền Bắc- Phú Tảo- Hải Dương Nghiên cứu tổ chức học của tuyến sinh dục ñược thực hiện tại Trung tâm Quan trắc và Cảnh báo Môi trường, Bệnh thuỷ sản - Viện nghiên cứu nuôi trồng Thủy Sản I
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu mô học tuyến sinh dục cá
ðể nghiên cứu cấu trúc mô học tuyến sinh dục cá Chiên, chúng tôi tiến hành thu mẫu tuyến sinh dục từ tháng 4/ 2008 ñến tháng 8/ 2008 và làm tiêu bản cố ñịnh tuyến sinh dục ở các tháng khác nhau, cắt ra từng lát mỏng với
2.3.1.1 Nghiên cứu hình thái ngoài tuyến sinh dục
Cá Chiên ñược bắt lên, ñể cá nằm ngửa, sau ñó dùng dao và kéo giải phẫu mổ bụng cá thẳng từ lỗ hậu môn lên ñến hết phần dưới miệng trong khi
mổ cố gắng không gây chấn thương cho ruột sau ñó tìm tuyến sinh dục Quan sát hình thái, mằu sắc và ño kích thước của buồng trứng Mọi dữ kiện ñược ghi chép và chụp ảnh lại ñể mô tả (Hình 2.2)
Trang 28Hình 2.2 Giải phẫu cá ñể tìm tuyến sinh dục cá Chiên
Trước khi cố ñịnh, cân trọng lượng tuyến sinh dục và xác ñịnh một số chỉ tiêu sau:
Wtsd: Trọng lượng tuyến sinh dục (g)
W0 : Trọng lượng cá bỏ nội quan (g)
- Xác ñịnh sức sinh sản tuyệt ñối:
Trang 29Wtsd : Trọng lượng tuyến sinh dục P: Trọng lượng mẫu
N: Số lượng trứng trong mẫu
- Xác ñịnh sức sinh sản tương ñối:
2.3.1.2 Phương pháp nghiên cứu sự phát triển tuyến sinh dục
Xác ñịnh các giai ñoạn phát triển tuyến sinh dục cá theo phân loại của Sakun và Butskaia (1968) dựa trên lát cắt mô tế bào
Phương pháp làm tiêu bản tuyến sinh dục ñược thực hiện dựa trên phương pháp của Sheckan và Hrapchak (1980) và quy trình làm tiêu bản mô học của Trung tâm Quan trắc và Cảnh báo Môi trường, Bệnh thuỷ sản - Viện nghiên cứu nuôi trồng Thủy Sản I
Số trứng thu ñược sau khi cá ñẻ Sức sinh sản thực tế
(trứng/kg cá cái) = Khối lượng cá cái ñẻ (kg)
Trang 30Sơ ựồ quy trình làm tiêu bản mô học ựược tóm tắt như sau:
Cố ựịnh mẫu tuyến sinh dục:
Mẫu ựược cố ựịnh bằng dung dịch ựịnh hình Boin có thành phần như sau:
+ 750 ml dung dịch acid picric bão hoà
Xử lý mẫu
Nhuộm mẫu (Haematoxyline & Eosin)
đúc mẫu (Parafine), cắt mẫu
đọc kết quả (kắnh hiển vi QH)
Trang 31+ Xilen II: 1 lần trong 60 phút
Thấm parafin: Mẫu ựã ựược làm trong chuyển vào Parafin ựun nóng 56 - 580C
đúc Parafin:
+ Sử dụng máy ựể ựổ Parafin làm nóng chảy vào khuôn ựã có mẫu, sau ựó ựặt khuôn lên dàn lạnh cho Parafin ựông lại tạo ra khối Parafin có chứa mẫu Nên giữ mẫu tập trung ở một mặt khuôn ựể khi cắt ựược thuận tiện
+ Cắt gọt khối Parafin có chứa mẫu: Dùng dao mỏng cắt gọt bỏ những phần Parafin thừa vào mặt của khối mẫu sâu vào 3 -5 micrometer
Cát lát mẫu:
+ Gắn khối Parafin chứa mẫu vào máy Microtom
+ Tiến hành cắt những lát mô dày 5 -7 micrometer
+ đưa lát cắt vào nước ấm (40 -500C) khoảng 1- 2 phút ựể lát cắt giãn
ra, không bị nhăn (có thể cho vào một ắt lòng trắng trứng gà)
+ Dùng slide (lam) kắnh ựể lấy lát cắt ra khỏi nước
+ đặt lên máy sấy slide ở nhiệt ựộ 40 - 600C trong thời gian 1- 4 giờ, tuỳ theo nhiệt ựộ
Trang 32Nhuộm Hematoxylin và Eosin:
+ Loại bỏ Parafin ở lát cắt bằng Xilen I: 5 phút; Xilen II: 5 phút
+ Làm trong mẫu: Xilen I: 2 - 3 phút; Xilen II : 2- 3 phút
Dùng lamen sạch dán lên làm mẫu bằng Bouin Canada ñể bảo quản và quan sát dưới kính hiển vi ñiện tử
2.3.2 Quan sát quá trình ñẻ trứng và thụ tinh nhân tạo của cá Chiên
Cá Chiên sau khi thăm trứng, ñạt tiêu chuẩn thì tiến hành cho sinh sản Dùng que thăm trứng ñể kiểm tra ñộ thành thục sinh dục của cá cái Nếu thấy trứng ñã phát triển ñến giai ñoạn IV (Trứng có màu vàng ñậm hoặc xanh sẫm, tròn và rời nhau) Lỗ sinh dục lồi lên có màu hồng thì tiến hành cho sinh sản Với cá ñực kiểm tra ñộ thành thục chủ yếu bằng quan sát hình thái gai sinh dục, nếu thấy gai sinh dục dài có màu hồng thì cá ñã thành thục Sau ñó cá
Trang 33ñược ñưa lên bể ñẻ, bể có diện tích 2m2 , tạo dòng chảy và có hệ thống sục khí
ñể ñảm bảo hàm lượng oxy 5 -6 mg/l, nhiệt ñộ trung bình 25oC – 28oC Cá Chiên bố mẹ ñược tiêm thuốc LRHa ( Luteotropin releasing Hormone analog)
và DOM (Domperidone) với liều lượng: 40 µg LRHa và 8 mg DOM /kg cá cái + Cá cái ñược tiêm chia làm 2 lần:
Lần 1: Lượng thuốc tiêm bằng 1/ 3 tổng liều
Lần 2 : Số lượng thuốc còn lại
Thời gian tiêm lần 2 cách lần 1: 6 giờ
+ Cá ñực ñược tiêm với liều lượng: 8 µg và 2 mg/kg cá ñực, thời gian tiêm cùng với lần 2 của cá cái
Sau khoảng 4- 6 giờ cá bắt ñầu ñẻ Trứng ñược vuốt vào bát khô, tinh sào ñược lấy sau ñó ñược cho vào cối nghiền, công việc thu trứng và lấy tinh phải ñược tiến hành ñồng thời Sau ñó từ từ cho tinh vào trứng và dùng lông
gà khuấy nhẹ ñể tăng khả năng tiếp xúc giữa trứng và tinh Mọi hoạt ñộng ñược ghi chép, chụp ảnh ñể mô tả
Hình 2.3 Thăm trứng cá Chiên Hình 2.4 Tiêm thuốc kích dục tố
Trang 34
2.4 Theo dõi quá trình phát triển của phôi
Trứng sau khi ñược thụ tinh ñược ấp ở trong khay có mắt lưới nhỏ hoặc
ấp trong thùng xốp có sục khí Theo dõi quá trình phát triển của phôi ở các nhiệt ñộ khác nhau
Các giai ñoạn phát triển của phôi bắt ñầu từ giai ñoạn trứng bắt ñầu thụ tinh cho ñến khi cá nở ñược kiểm tra dưới kính hiển vi và chụp ảnh ñể ghi lại những hình ảnh ñã quan sát ñược
2.5 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu thu ñược ñược xử lý trên máy tính bằng phần mềm Excel
Trang 35PHẦN III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Hình thái ngoài tuyến sinh dục của cá Chiên
Tuyến sinh dục của cá Chiên bao gồm hai tuyến nằm sát thành cơ thể, ñược màng noãn bào hoặc màng tinh hoàn treo vào thành lưng của xoang cơ thể, dọc theo hai bên sống lưng ở phía trên ruột phía dưới bóng hơi Phía cuối của hai tuyến sinh dục này ñược dẫn chung vào một ống Ống này thông ra ngoài qua lỗ sinh dục Trên bề mặt của tuyến sinh dục có các mạch máu và dây thần kinh
3.1.1 Hình thái ngoài của tuyến sinh dục ñực
Tuyến sinh dục ñực (tinh sào) của cá Chiên là tuyến kép có nhiều tua hình răng lược, gồm hai ống dẫn tinh nối với nhau ở ñoạn cuối Ở những cá thể còn nhỏ thì tuyến sinh ñực là hai dải nhỏ màu hồng và chưa có sản phẩm sinh dục Ở những con cá từ hai tuổi trở lên (trọng lượng cơ thể trung bình ñạt 1,8 kg), trọng lượng của tuyến là 8,5g và ñã có sản phẩm sinh dục Trên bề mặt của tuyến sinh dục ñực có các mạch máu phát triển rất rõ ràng (Hình 3.1)
Hình 3.1 Hình thái ngoài TSD ñực cá Chiên
Trang 36Như vậy, việc nghiên cứu hình thái ngoài tuyến sinh dục cá Chiên cho thấy về cơ bản chúng giống với các loài cá khác mà Hồ Thị Cúc (1996) [5] ñã
mô tả Tuyến sinh dục của chúng là tuyến kép, ở giai ñoạn nhỏ chưa thể phân biệt ñược ñực cái Buồng trứng khi thành thục có kích thước lớn và có hình quả nhót, còn tinh sào có dạng chữ Y
3.1.2 Hình thái ngoài tuyến sinh dục cái
3.1.2.1 Hình thái ngoài tuyến sinh dục cá Chiên
Khi giải phẫu nghiên cứu tuyến sinh dục của cá Chiên ở các giai ñoạn khác nhau chúng tôi nhận thấy:
- Ở những con cái, tuyến sinh dục ở giai ñoạn II thì ñã có thể quan sát thấy tuyến sinh dục có màu hồng nhạt: Bao gồm một ñôi tuyến riêng biệt nhưng dính vào nhau, trên bề măt buồng trứng có những mạch máu nhỏ,ở giữa hai tuyến có một rãnh nhỏ (Hình 3.2)
Hình 3.2 Hình thái ngoài buồng trứng cá Chiên (gñ II)
(Mẫu ñã ñược cố ñịnh bằng dung dịch ñịnh hình Boin)
Trang 37- Tuyến sinh dục ở giai ñoạn III, buồng trứng nhỏ có màu vàng sẫm trên buồng trứng thấy xuất hiện mạch máu, ñã quan sát thấy những hạt trứng nhỏ.(Hình 3.3)
Hình 3.3 Hình thái ngoài buồng trứng cá Chiên (gñ III)
(Mẫu ñã ñược cố ñịnh bằng dung dịch ñịnh hình Boin)
- Khi thu mẫu tuyến sinh dục ở giai ñoạn IV chúng tôi nhận thấy: trọng lượng buồng trứng ñã phát triển cực ñại có dạng hình quả nhót Trên bề mặt tuyến sinh dục có các hạt trứng nổi lên mà mắt thường ta có thể quan sát rất
rõ Lúc này ta có thể dùng ống thăm trứng ñể kiểm tra mức ñộ thành thục của trứng Trên bề mặt tuyến có rất nhiều mạch máu Màu sắc của buồng trứng cũng ñã thay ñổi một cách rõ rệt từ màu vàng sẫm chuyển sang màu xanh sẫm Hai tuyến sinh dục áp sát vào nhau nên khoảng cách giữa chúng không còn nữa (Hình 3.4)
Trang 38Hình 3.4 Hình thái ngoài buồng trứng cá Chiên (gñ IV)
(Mẫu ñã ñược cố ñịnh bằng dung dịch ñịnh hình Boin)
3.1.2.2 Hình thái ngoài tuyến sinh dục cá Chiên (theo tháng)
Do thời tiết năm nay (2008) rét ñậm kéo dài nên thời gian nuôi vỗ cá Chiên ñược tiến hành muộn hơn so với dự kiến, tại Trung tâm giống Thủy sản miền Bắc- Phú Tảo- Hải Dương bắt ñầu ñưa cá vào nuôi vỗ từ tháng 2/ 2008
Vì vậy, chúng tôi tiến hành thu mẫu tuyến sinh dục cá Chiên bắt ñầu từ tháng 3/ 2008 cho ñến tháng 8/2008, chúng tôi nhận thấy:
- Khi thu mẫu chúng tôi thấy tất cả tuyến sinh dục ñều ở giai ñoạn II Hệ
số thành thục là 0,31%
- Khi thu tuyến sinh dục cá Chiên vào tháng 4 thì lúc này tuyến sinh dục chủ yếu ở giai ñoạn II, tuyến sinh dục ở giai ñoạn III cũng có gặp nhưng không nhiều Noãn sào ở giai ñoạn II có màu hồng, chưa thể thấy các hạt trứng bằng mắt thường Hệ số thành thục là 0,94%
- Vào tháng 5, tuyến sinh dục ñã bắt ñầu chuyển sang giai ñoạn III và
có một số ít ở giai ñoạn IV Tuyến sinh dục cái ở giai ñoạn III có màu xám nhạt, bằng mắt thường có thể quan sát ñược các hạt trứng nhỏ trong noãn sào, còn tuyến sinh dục ñực có màu hồng thẫm trên bề mặt xuất hiện nhiều vệt màu hồng ñó là dấu hiệu của sự phát triển mạch máu Vào giữa tháng 5 chúng tôi ñã bắt ñầu tiến hành cho sinh sản Hệ số thành thục là 4,44%
Trang 39- Khi thu tuyến sinh dục cá Chiên vào tháng 6, chúng tôi nhận thấy chủ yếu tuyến sinh dục ñã ở giai ñoạn IV Tuyến sinh dục cái cá Chiên có màu xám xanh sẫm, có thể quan sát ñược các hạt trứng bằng mắt thường Noãn sào ở giai ñoạn này có kích thước vượt hơn hẳn các giai ñoạn trước, các mạch máu phát triển mạnh Hệ số thành thục là 5,27%
- Chúng tôi thu tuyến sinh dục vào tháng 7, tất cả các mẫu thu tuyến sinh dục ñều ở giai ñoạn IV Hệ số thành thục là 5,39%
- Khi thu mẫu tuyến sinh dục vào tháng 8, những cá thể ñã tham gia sinh sản thì tuyến sinh dục một số ñã chuyển về giai ñoạn II Hệ số thành thục
là 1,86%
Qua theo dõi sự phát triển tuyến sinh dục của cá Chiên trong ñiều kiện nuôi
vỗ nhân tạo, chúng tôi nhận thấy: Mùa vụ sinh sản của cá Chiên bắt ñầu từ tháng 5
và kéo dài ñến các tháng tiếp theo Tuy nhiên vào thời gian cuối năm 2007 và ñầu năm 2008 rét ñậm kéo dài, nên thời gian ñưa cá bố mẹ vào nuôi vỗ chậm, chính vì vậy mà cá trong ñiều kiện nuôi vỗ sinh sản muộn hơn so với ngoài tự nhiên Cho nên cần phải tiếp tục theo dõi thêm trong những năm tiếp theo
3.2 Hệ số thành thục của cá Chiên theo các tháng trong năm
Khối lượng tuyến sinh dục là một trong những ñiều kiện thiết yếu ñể giải thích mức ñộ chín muồi của các sản phẩm sinh dục Hệ số thành thục ngày càng ñược sử dụng nhiều trong các công trình nghiên cứu hiện nay Tuy nhiên,
hệ số thành thục không phản ánh ñầy ñủ trạng thái thực của sản phẩm sinh dục, song nó là một phần bổ sung quan trọng cho sơ ñồ chín muồi tuyến sinh dục
Trong sinh sản nhân tạo các loài cá, chỉ tiêu này có rất ý nghĩa quan trọng trong quá trình nuôi vỗ cá bố mẹ nhằm tăng năng suất sinh sản Kết quả nghiên cứu ñược trình bày ở bảng 1
Trang 40Bảng 1: Hệ số thành thục theo các tháng trong năm
Giai ñoạn thành thục
TT Tháng Giới tính
Trọng lượng
cá (g)
Trọng lượng TSD (g) II III IV
Hệ số thành thục (%)