Nghiên cứu của tôi về tín ngưỡng Tống Hậu, một vị thần có gốc Trung Hoa nhưng đang được các cư dân vùng sông biển thờ cúng.. Khái niệm về tục thờ nữ thần và cơ sở khoa học của vấn đề Tr
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
ĐỖ VĂN CƯỜNG
TÍN NGƯỠNG TỐNG HẬU NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP ĐỀN MẪU NINH CƯỜNG
XÃ TRỰC PHÚ, HUYỆN TRỰC NINH, NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Nhân học
Hà Nội-2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
ĐỖ VĂN CƯỜNG
TÍN NGƯỠNG TỐNG HẬU NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP ĐỀN MẪU NINH CƯỜNG
XÃ TRỰC PHÚ, HUYỆN TRỰC NINH, NAM ĐỊNH
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Nhân học
Mã số: 60 31 03 02
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Văn Chính
Hà Nội-2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi; các tư liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, những phát hiện được đưa ra trong luận văn là kết quả nghiên cứu của tác giả luận văn
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về những nội dung có trong luận văn
Hà Nội, ngày 24 tháng 06 năm 2016
Tác giả
Đỗ Văn Cường
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Văn Chính, người thầy đã hướng dẫn và chỉ bảo tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu của mình Tôi xin được gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giảng viên khoa Nhân học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội đã giảng dạy và tạo điều kiện cho tôi học tập nghiên cứu trong thời gian học tập bậc Cao học Tôi xin cảm ơn tới nhân dân và chính quyền địa phương các xã: Trực Phú, Trực Thái, Trực Hùng, Trực Cường đã tạo điều kiện cho tôi có cơ hội trực tiếp nghiên cứu trên thực địa, tiếp xúc với các cá nhân và tổ chức trên địa bàn để thu thập tư liệu Tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn của mình Tôi luôn biết ơn và trân trọng những tình cảm đó
Hà Nội, ngày 24 tháng 06 năm 2016
Đỗ Văn Cường
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Đóng góp của luận văn 4
Chương 1.TỤC THỜ NỮ THẦN VÀ TÍN NGƯỠNG TỐNG HẬU Ở VIỆT NAM VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN 5 1.1 Khái niệm về tục thờ nữ thần và cơ sở khoa học của vấn đề 5
1.2.Các khuynh hướng tiếp cận nghiên cứu tín ngưỡng Nữ thần ở Việt Nam 9
1.3 Tống Hậu: Lịch sử thờ cúng và các nghiên cứu liên quan 14
1.4 Vấn đề nghiên cứu, lý thuyết và phương pháp tiếp cận 26
1.5 Tóm lược về địa bàn nghiên cứu 31
Tiểu kết chương 1 40
Chương 2.TÍN NGƯỠNG TỐNG HẬU TẠI NINH CƯỜNG: LỊCH SỬ VÀ NGHI LỄ 41
2.1 Lịch sử tục thờ Tống Hậu ở Ninh Cường 41
2.2 Nghi lễ và thực hành thờ cúng 50
2.3 Quản lý, coi sóc và tu bổ đền 70
2.4 Vị trí tục thờ Tống Hậu trong thần đạo địa phương 75
Trang 6Tiểu kết chương 2 77
Chương 3 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA TÍN NGƯỠNG TỐNG HẬU TRONG MỐI LIÊN HỆ VỚI TỤC THỜ NỮ THẦN Ở VIỆT NAM 78
3.1 Đặc điểm tục thờ các nữ thần gốc Hoa ở Việt Nam 78
3.2 Đặc điểm của tục thờ nữ thần gốc Việt 84
3.3 Vị trí của Tống Hậu trong hệ thống nữ thần Việt Nam 92
3.4 Phụ nữ và nữ thần 94
3.5 Những thay đổi trong tục thờ cúng Tống Hậu ở Ninh Cường và xu hướng thế tục hóa, thương mại hóa hoạt động tâm linh 97
3.6 Nữ thần, bản sắc văn hóa địa phương và vấn đề bảo tồn di sản
văn hóa 103
Tiểu kết chương 3 105
KẾT LUẬN 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
PHỤ LỤC 117
Phụ lục 1: Ảnh 117
Phụ lục 2: Danh sách những người cấp tin 128
Phụ lục 3: Giới thiệu đền Quốc Mẫu Ninh Cường thờ Tống Thái hậu 129 Phụ lục 4: Thần tích các làng thờ Tứ vị Thánh nương 133
Phụ lục 5: Tứ Đại Cờn Sự Tích Văn 137
Phụ lục 6: Văn Tứ vị Vua Bà đền Cờn Môn 143
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Các vị thần được phối thờ tại đền Mẫu Ninh Cường 50 Bảng 3.1: Bảng thống kê số người đến lễ đền Mẫu trong ngày đầu tháng 10,
11, 12 âm lịch 2015 96
Trang 9Hiện nay, các hiện tượng tín ngưỡng tôn giáo đặc biệt là sự phát triển nhanh của tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ trong quá trình hiện đại hóa Sự nở rộ của các lễ hội đã bộc lộ những bất cập và những vấn đề mới đòi hỏi phải được tìm hiểu Những trường hợp cụ thể như hiện tượng thờ cúng ở Phủ Giầy (Nam Định),
Bà Chúa Kho (Bắc Ninh), Bà Chúa Xứ (An Giang), hay một vài địa điểm nổi trội về tín ngưỡng tâm linh như Chùa Hương (Hoài Đức, Hà Nội), chùa Bái Đính (Ninh Bình), v.v là những điểm gây chú ý với dư luận trong nước và quốc tế Có một đặc điểm chung là đối tượng thờ cúng ở những địa điểm này đa phần là nữ thần
Nghiên cứu của tôi về tín ngưỡng Tống Hậu, một vị thần có gốc Trung Hoa nhưng đang được các cư dân vùng sông biển thờ cúng Vị thần này được thờ cúng chủ yếu tại những cửa sông lớn dọc theo bờ biển Việt Nam trở thành một trong những vị thần chủ đạo đối với nghề sông nước và đi biển Đó là tín ngưỡng Tứ vị Thánh nương với vai trò trung tâm là Tống Hậu, một Hoàng Thái hậu thời nhà Tống Tín ngưỡng này đã vào sâu trong đất liền tới trung tâm Thăng Long, Phố Hiến và được phối thờ rải rác khắp các vùng duyên hải miền Trung và miền Nam Việt Nam
Từ một vị thần biển, trải qua thời gian, Tống Hậu trở thành nữ thần được gán cho nhiều chức năng hơn ban đầu mang lại sự sinh sôi, mùa màng, con cái, công danh, tài lộc đáp ứng các nhu cầu tâm linh của người dân địa phương, được người
Trang 102
dân tôn bà làm Quốc Mẫu Tục thờ Tống Hậu đã nhanh chóng hòa cùng các tín ngưỡng nữ thần khác ở Việt Nam đặc biệt là Đạo Mẫu góp phần làm đa dạng hóa tín ngưỡng tâm linh của người Việt
Tôi chọn đề tài nghiên cứu về Tín ngưỡng Tống Hậu: Nghiên cứu trường
hợp đền mẫu Ninh Cường với mong muốn tìm hiểu sự hình thành và phát triển tín
ngưỡng Tống Hậu tại Ninh Cường (xã Trực Phú, huyện Trực Ninh, Nam Định), một trong 12 địa điểm được vua Lê Thánh Tông ban chỉ dụ sau khi đánh Chiêm Thành thắng lợi (1470) Trong luận văn, tôi sẽ trình bày những phát hiện về nghi lễ thờ phụng và những thay đổi trong phong tục thờ cùng Tống Hậu trước và sau Đổi mới (1986), vai trò của nữ thần trong cộng đồng cư dân địa phương Qua đó, góp phần làm rõ hiện trạng và những xu hướng trong văn hóa tâm linh tín ngưỡng nữ thần ở Việt Nam, những đặc điểm của một vị thần có nguồn gốc du nhập từ Trung Quốc Hi vọng đây sẽ là một nghiên cứu trường hợp có thể cung cấp thêm một phần nào đó tư liệu cho các nghiên cứu khác về nữ thần ở Việt Nam
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là tìm hiểu diễn trình lịch sử của một vùng đất gắn liền với việc thờ phụng một vị thần biển mang gốc gác Trung Hoa Vị trí của Tống Hậu với tín ngưỡng thờ nữ thần của người Việt nói chung và tục thờ nữ thần gốc Trung Hoa nói riêng Những thay đổi trong tập tục thờ cúng, văn hóa tín ngưỡng của người dân địa phương cùng vai trò của nữ thần đối với người dân đặc biệt là với phụ nữ Qua đó chúng tôi tập trung trả lời các câu hỏi sau:
- Tục thờ Tống Hậu ở Ninh Cường diễn ra như thế nào?
- Tục thờ Tống Hậu ở Ninh Cường có những đặc điểm gì và tại sao bà lại được người dân thờ cúng?
- Vị trí của tục thờ Tống Hậu và mối liên hệ lịch sử văn hóa với tục thờ nữ thần của người Việt nói chung và tục thờ nữ thần gốc Trung Hoa nói riêng?
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tục thờ Tống
Hậu, quá trình hình thành và xác lập tín ngưỡng trên vùng đất Ninh Cường Những
Trang 113
thay đổi trong tục thờ và vị trí của Tống Hậu trong đời sống của người dân địa phương Trong nghiên cứu này tôi tập trung vào những người thường xuyên đi lễ, niềm tin của họ vào vị thần, sự linh thiêng và những mong muốn của họ khi tìm đến với Tống Hậu
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu Tục thờ Tống Hậu trên địa bàn vùng đất
thuộc tổng Ninh Cường xưa, ngày nay là bốn xã Trực Phú, Trực Thái, Trực Hùng, Trực Cường thuộc huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định, trung tâm là đền Mẫu Ninh Cường (đền Quốc Mẫu Ninh Cường) Tuy nhiên, không chỉ có cư dân bốn xã này thờ Tống Hậu, người dân ở các nơi khác xung quanh cũng thường xuyên về đây lễ bái như huyện Hải Hậu, Nghĩa Hưng, Nam Trực, vì nhiều đền ở các địa phương này rước chân nhang từ đền Mẫu Ninh Cường về thờ Ngoài ra, rất nhiều người ở các nơi khác cũng về để cúng bái do họ được nghe rằng đây là một ngôi đền linh thiêng trong đó có các đoàn hầu đồng, những người làm ăn và sinh sống ở nơi xa v.v
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn của mình tôi sử dụng nhiều nguồn tư liệu khác nhau, chủ yếu là tài liệu điền dã dân tộc học, đó là những bản văn chép tay, bia ký, nguồn tài liệu phỏng vấn và quan sát tại thực địa Trong nghiên cứu của mình, tôi tập trung vào sử dụng phương pháp định tính, trong đó tôi có hơn một năm quan sát và thực hiện các cuộc phỏng vấn cấu trúc và phi cấu trúc cũng như các cuộc tiếp xúc trò chuyện cùng với người dân, đặc biệt là những người thường xuyên có mặt tại đền Mẫu Ninh Cường Tôi đã có mặt trong hầu hết các nghi lễ lớn nhỏ tại đền diễn ra trong năm 2015, trong đó có: ba ngày lễ hội, lễ tết Nguyên Đán, ngày lễ kỷ niệm Hai Bà Trưng, lễ tịch điền, một số ngày rằm, mùng một; được nghe người dân nơi đây chia sẻ những câu chuyện về sự linh thiêng của Tống Hậu, niềm tin của họ về vị thần và quá trình thay đổi trong tập tục thờ cúng từ xưa tới nay
Bên cạnh đó tôi sưu tầm và tham khảo các nguồn tài liệu thứ cấp, các bài nghiên cứu của những nhà nghiên cứu đi trước trong các hội thảo, sách chuyên khảo, tạp chí và nguồn tài liệu từ internet Đó là những nguồn tư liệu không thể
Trang 124
thiếu trong quá trình phân tích, xử lý tư liệu để đạt được một cái nhìn tổng quan và
so sánh
5 Đóng góp của luận văn
Trên phương diện thực tiễn: đây là một đề tài nghiên cứu từ những trăn trở của
bản thân tác giả khi quan sát việc thực hành nghi lễ tại địa phương nơi mà mình sinh ra và lớn lên Đền Mẫu Ninh Cường là một ngôi đền có ảnh hưởng lớn tới đời sống tín ngưỡng của người dân trong vùng Những vấn đề và câu hỏi được đặt ra khi tham dự các nghi lễ, lễ hội tại ngôi đền này Mặt khác tôi muốn liên hệ với sự phát triển mạnh mẽ của tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ trong thời gian gần đây
Trên phương diện lý luận: tôi áp dụng các quan đểm của lý thuyết chức năng
trong Nhân học về nghiên cứu tín ngưỡng tôn giáo vào việc giải thích một số hiện tượng nghi lễ và sự phát triển của tín ngưỡng nữ thần ở Việt Nam Trên cơ sở đó tôi đưa ra một số nhận định về xu hướng phát triển của các tín ngưỡng tôn giáo trong tương lai, đặc biệt nhìn nhận từ góc độ người dân, những người thực hành tín ngưỡng – là chủ thể của văn hóa tín ngưỡng đương đại
Trang 135
Chương 1 TỤC THỜ NỮ THẦN VÀ TÍN NGƯỠNG TỐNG HẬU Ở VIỆT NAM:
VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN 1.1 Khái niệm về tục thờ nữ thần và cơ sở khoa học của vấn đề
Trước khi đi vào nghiên cứu tục thờ Nữ thần, Mẫu thần ở Việt Nam, chúng ta
cần phải làm rõ một số thuật ngữ liên quan tới tín ngưỡng, tôn giáo bởi trong văn
hóa Việt Nam để phân biệt hai khái niệm này vô cùng phức tạp Về mặt ý nghĩa của
hai khái niệm tín ngưỡng, tôn giáo theo Từ điển Hán – Việt của Đào Duy Anh (2005) thì “tôn giáo”(宗教) là một thứ tổ chức lấy thần đạo làm trung tâm mà lập nên giới ước để khiến người ta tín ngưỡng; còn “tín ngưỡng” (信仰) là lòng ngưỡng
mộ mê tín đối với một tôn giáo hoặc một chủ nghĩa Thuật ngữ tôn giáo bắt nguồn
từ phương Tây, từ “Religion” (tôn giáo) bắt nguồn từ religio, xuất phát từ tiếng Latinh là legere, relegere có nghĩa là thu lượm thêm sức mạnh siêu nhiên (Đặng Nghiêm Vạn 2001:16-17) Religio có nghĩa kép là sự tồn tại của một quyền năng
bên ngoài mà con người tuân theo và thể hiện lòng mộ đạo vào quyền năng đó (Nguyễn Thị Hiền 2012:24) Tuy nhiên thuật ngữ này được thay đổi ngữ nghĩa nhiều lần qua từng giai đoạn lịch sử (xem Đặng Nghiêm Vạn 2001, Nguyễn Thị
Hiền 2012) Ở phương Đông, thuật ngữ religion lần đầu tiên được người Nhật dịch thành “tông giáo” vào đầu thế kỷ XVIII, sau đó du nhập vào Trung Hoa Tuy nhiên, khi đó ở Trung Hoa tông giáo bao hàm một ý nghĩa khác nhằm chỉ giáo lý nhà Phật (Giáo: lời giảng của Phật, Tông: lời của đệ tử Đức Phật) (xem Đặng Nghiêm Vạn
2001, Trác Tân Bình 2007) Đến thế kỷ XIX, thuật ngữ tông giáo được du nhập vào Việt Nam, nhưng do kị húy vua Thiệu Trị nên được dịch thành tôn giáo
Học giả Trung Quốc Trác Tân Bình cho rằng tôn giáo là quan niệm của “con
người” về “thần tính” hoặc “thần thánh”, mà loại “quan niệm này” lại nói lên rằng tôn giáo chính là một loại học thuyết quan hệ “giữa trời và người”; nếu không có tâm linh con người hoặc “quan niệm” thần tính với ý nghĩa tu tập tâm linh, tức lĩnh
Trang 14croyance) hay niềm tin tôn giáo (belief, believe, croyance religieuce) Nếu hiểu tín
ngưỡng là niềm tin thì có một phần ở ngoài tôn giáo, nếu hiểu là niềm tin tôn giáo
(belief, believe theo nghĩa hẹp là croyance religieuce) thì tín ngưỡng là một bộ phận
chủ yếu nhất cấu thành của tôn giáo (Đặng Nghiêm Vạn 2001:68) Như vậy, chúng
ta có thể thấy, nếu theo định nghĩa của Đào Duy Anh (2005), Đặng Nghiêm Vạn
(2001), Trác Tân Bình (2007) thì tín ngưỡng chỉ là một thành tố cấu thành nên tôn
giáo chứ chưa phải là tôn giáo
Sau đây chúng ta sẽ xem khái niệm về tôn giáo của các nhà Nhân học phương
Tây: Theo B.Malinowski, những thực hành mang tính tâm linh, ma thuật cũng giống như khoa học ở chỗ chúng luôn luôn có những mục đích nhất định, gắn liền với bản năng, nhu cầu và niềm mong muốn của con người Thực hành tâm linh dựa trên kinh nghiệm cụ thể của những trạng thái tinh thần mà trong đó sự thật được bộc
lộ không chỉ bằng lý trí mà còn bằng hoạt động tình cảm con người Khoa học được xây dựng trên lòng tin vững chắc bằng kinh nghiệm, nỗ lực, lí trí, và được chỉ đạo bởi logic, lý thuyết Thực hành tâm linh được thiết lập với niềm tin rằng hi vọng không thể thất bại, được chỉ đạo bởi một liên kết các ý tưởng dưới sự tác động của lòng mong muốn Tambiah cho rằng “Khái niệm chung về tôn giáo không chỉ nằm ở lĩnh vực niềm tin và giải thích duy lý về sự vận hành của vũ trụ, mà còn nằm trong nhận thức đặc biệt về cái siêu việt và những hành động giao tiếp biểu tượng” (Nguyễn Thị Hiền 2012:24-33)
Định nghĩa tôn giáo của E.Herbert gồm những đặc điểm sau: Có một vị thần
tối cao (1), Vị thần đó phải được thờ cúng (2), Đức hạnh kết hợp với mộ đạo là phần chủ yếu của cúng thần (3), Con người phải ăn năn về tội lỗi của họ và từ bỏ chúng (4), Thưởng và phạt sau đó đến từ lòng tốt và công minh của Chúa cả trong cuộc sống này lẫn sau đó (5) Năm điều này chứa đựng toàn bộ học thuyết của giáo
Trang 157
hội Công giáo thực sự, có nghĩa là tôn giáo lí trí E.B.Tylor cho rằng cái tối thiểu
hoặc đơn giản nhất có thể của tôn giáo là “niềm tin vào đấng siêu nhiên”; Jame Frazer thì lại định nghĩa tôn giáo là “sự làm nguôi ngoai hay hòa giải những những
sức mạnh mạnh hơn con người mà những sức mạnh đó được tin là dẫn dắt và kiểm soát quá trình của tự nhiên và cuộc sống con người”; William James cho rằng tôn
giáo chính là “những tình cảm, hành động” và trải nghiệm của cá nhân con người
trong cô đơn, tới chừng mực mà họ hiểu chính họ đại diện cho bất kể điều gì mà họ
có thể cho là thánh thần Paul Radin làm sáng tỏ về khía cạnh tình cảm hơn, “Tôn giáo bao gồm hai phần: phần thứ nhất để định rõ, nếu không phải cụ thể chính xác
là tình cảm; phần thứ hai là một số hành động, tập quán, niềm tin và khái niệm liên quan đến tình cảm này Niềm tin gắn bó chặt chẽ nhất với tình cảm , cụ thể là niềm tin vào thần thánh ở bên ngoài con người, được nhận thức là có sức mạnh hơn con người và như vậy kiểm soát tất cả những yếu tố này trong cuộc sống và qua đó con người đặt niềm tin vào Với Clifford Geertz cho tôn giáo là: (1) Một hệ thống biểu tượng hoạt động nhằm (2) thiết lập những tâm trạng và động cơ mạnh mẽ, rộng khắp và tồn tại lâu dài trong con người bằng cách (3) hình thành nên những khái niệm về một trật tự chung về sự tồn tại và (4) khoác lên những khái niệm này bằng hào quang của sự thật mà (5) những tâm trạng và động cơ dường như là hiện thực duy nhất (Nguyễn Thị Hiền 2012:24-33)
Otto Rank nghĩ rằng đó là trải nghiệm huyền bí của cái “thiêng”; S.Freud thì nghĩ đó là sự thể hiện của quá trình tâm lý vô thức; Lucien Levy Bruhl thì nghĩ đó là sản phẩm của trí tuệ nguyên thủy; Robin Horton nhấn mạnh “trong mỗi tình huống
mà được gọi chung là mang tính tôn giáo chúng ta đối mặt với hành động hướng tới đấng tối cao mà được tin là ứng với một số phạm trù trong văn hóa riêng của chúng
ta bao gồm mục đích, trí tuệ, tình cảm… Áp dụng những phạm trù này vào đấng tôi cao, tức là chúng ta đã nhân cách hóa họ Mối quan hệ giữa con người và các nhân vật mang tính tôn giáo có thể được xác định xa hơn khi được thống trị bởi một số ý tưởng về mẫu hình và sự bắt buộc như là việc khắc họa các mối quan hệ của con người Nói một cách ngắn gọn, tôn giáo có thể được xem xét như là sự mở rộng lĩnh
Trang 168
vực của mối quan hệ xã hội của con người vượt lên trên giới hạn của xã hội loài người thuần túy” (Nguyễn Thị Hiền 2012:24-33)
Như vậy, các nhà Nhân học phương Tây không phân biệt giữa tôn giáo và tín
ngưỡng, đặc điểm chung của các định nghĩa đều nhấn mạnh đến niềm tin vào cái thiêng, có một hệ thống biểu tượng và con người đặt tình cảm của mình vào đó Rõ
ràng với khái niệm tín ngưỡng nêu ở trên cũng mang đầy đủ các sắc thái tôn giáo này Trong nghiên cứu này tôi sử dụng khái niệm tín ngưỡng với hàm nghĩa tôn
giáo của các nhà Nhân học phương Tây, bên cạnh đó những khái niệm tương đương
như “tục thờ” có thể hiểu là phong tục thờ cúng và một phần nào đó trong thuật ngữ
“đạo” đều nằm trong phạm vi của các khái niệm này
Nữ thần là những vị thần linh mang giới tính nữ được con người tín ngưỡng,
thờ phụng Các nữ thần thường được xây dựng trên các chức năng của người phụ nữ
như sản sinh, tồn trữ, che chở… (Ngô Đức Thịnh 2012:30-31) Trong văn hoá nông
nghiệp, tính chất âm tính dẫn đến hậu quả trong lĩnh vực quan hệ xã hội là lối sống thiên về tình cảm, trọng phụ nữ, và trong lĩnh vực tín ngưỡng là tình trạng lan tràn các nữ thần Và vì cái đích mà người Việt Nam hướng tới là sự phồn thực, cho nên
nữ thần của ta không phải là các cô gái trẻ đẹp, mà là các bà Mẹ, các Mẫu (Trần Ngọc Thêm 2000:132-133) Tuy nhiên, không dừng lại ở đó, một nữ thần có thể trở
thành một Mẫu thần khi vị thần ấy: có khả năng sinh đẻ, có công lao, tài năng và
đức hạnh và đặc biệt phải hiển linh trong một số sự kiện nào đó Vị đó không nhất
thiết phải có quan hệ thân thích với Vua như Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Thánh Mẫu Thiên Yana, v.v Có thể là mẹ vũ trụ, mẹ loài người, mẹ vua hoặc mẹ của một vĩ nhân nào đó trong lịch sử (xem Vũ Ngọc Khánh 2001, 2005; Nguyễn Hữu Thụ 2010; Ngô Đức Thịnh 2012)
Theo Trần Thị An (2013) Tống Hậu - Tứ vị Thánh nương là những Nữ thần
cai quản 12 cửa biển từ miền Trung trở ra, sau đó bà được tăng thêm các quyền lực trở thành vị thần của cư dân sông nước và đi biển dọc duyên hải Việt Nam Bà được
tôn xưng là Mẫu, sau đó là Quốc Mẫu với các mỹ tự dành cho bà như: “Đại Càn
Quốc Gia Nam Hải Tứ Vị Thánh Nương”; “Quốc Mẫu Vương bà Tứ Vị Thượng
Trang 179
Đẳng Thần”; “Đại Càn Thánh Nương Quốc Gia Nam Hải Tứ Vị Thánh Nương Thượng Đẳng Thần” người dân một số nơi gọi với những tên thân mật hơn: bà Giàng Lạch, Tống Hậu, Tứ vị Thánh nương v.v Nơi thờ chính của bà tại đền Cờn,
phường Hoàng Mai, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An Theo thống kê chính thức của Viện Hán Nôm, hiện cả nước có 1968 đền thờ bà, ngoài ra một số lớn đền điện từ miền Trung trở vào phối thờ bà với các vị thần địa phương như Thiên Y A Na, thần
Cá Ông, Thiên Hậu, v.v
Theo một số tài liệu, ở Nam Định tín ngưỡng Tống Hậu được hình thành từ thế kỷ XIV, trong đó Ninh Cường (Trực Ninh) được xem là một trong những nơi đầu tiên trong vùng xuất hiện tín ngưỡng này Vậy tục thờ Tống Hậu ở Ninh Cường diễn ra như thế nào? Tại sao bà lại được thờ cúng ở nơi đây? Và vị trí của bà trong mối liên hệ lịch sử văn hóa với tục thờ nữ thần của người Việt nói chung và tục thờ các vị nữ thần người Hoa nói riêng như thế nào? Trong nghiên cứu của mình, tôi sẽ lần lượt trả lời các câu hỏi bằng các thông tin điền dã và tìm hiểu từ các nguồn thứ cấp Qua đó tôi sử dụng các cách tiếp cận trong Nhân học văn hóa để tiếp cận vấn
đề, đặc biệt là hướng tiếp cận liên ngành trong khoa học xã hội
1.2 Các khuynh hướng tiếp cận nghiên cứu tín ngưỡng Nữ thần ở Việt Nam
Thật khó có thể thống kê được hết các công trình nghiên cứu tín ngưỡng Nữ thần, Mẫu thần và Đạo Mẫu ở Việt Nam Ngày càng nhiều các công trình nghiên cứu với những hướng tiếp cận mới cho chúng ta những cách nhìn mới về tôn giáo tín ngưỡng đặc biệt là về Nữ thần, Mẫu thần Tuy nhiên, tôi tóm lược trong hai khuynh hướng tiếp cận chính với những công trình tiêu biểu có ảnh hưởng tới các
nghiên cứu khác về tôn giáo tín ngưỡng: 1) khuynh hướng tiếp cận văn bản học; và
2) khuynh hướng tiếp cận Dân tộc học/Nhân học văn hóa
1.2.1 Khuynh hướng tiếp cận văn bản học
Các nghiên cứu về nữ thần ở Việt Nam theo khuynh hướng này chủ yếu tập trung vào nội dung của các văn bản truyền thuyết, thần tích, thần sắc, các văn bản thơ ca, câu đối, các ghi chép của người xưa về thực hành nghi lễ tín ngưỡng v.v
Trang 1810
Nghiên cứu tín ngưỡng Nữ thần, Mẫu thần luôn luôn có sức hấp dẫn đối với các nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam Một số câu chuyện về nữ thần được ghi chép
từ sớm trong các tác phẩm Lĩnh Nam Chích Quái của Trần Thế Pháp vào khoảng
thế kỷ thứ XIV sau đó được Vũ Quỳnh, Kiều Phú san định lại thế kỷ thứ XV Tiếp
theo là Việt Điện U Linh của Lý Tế Xuyên thế kỷ XV Thế kỷ XVI, Nguyễn Bính
san định lại các thần tích, thần phả cho phù hợp với nội dung tư tưởng của triều đình nhà Lê Sơ, từ đó hầu hết các học giả phong kiến đều sao chép hoặc san định lại các câu chuyện thần tích theo ý của mình nhưng vẫn giữ được nội dung cốt truyện
Từ đầu thế kỷ XX, học giả Phan Kế Bính (2005) trong Việt Nam phong tục (xuất bản lần đầu năm 1915) đã mô tả hiện tượng Thanh đồng và Đồng cốt với con mắt
phê phán của một nhà Nho như một thứ hủ tục, thực chất đó là nghi lễ của Đạo Mẫu
Tam phủ, Tứ phủ Đào Duy Anh (2006) trong Việt Nam văn hóa sử cương (xuất bản
lần đầu năm 1938) với con mắt của nhà nghiên cứu hiện đại lại xếp các hoạt động tín ngưỡng thờ Mẫu vào Đạo giáo phù thủy Nguyễn Văn Huyên (1996) nghiên cứu
Bà chúa Liễu Hạnh trong sự luân chuyển các kiếp sống dưới trần bằng các câu chuyện thần tiên về sự đầu thai theo mô hình Đạo giáo thần tiên Đến năm 1984, Đỗ
Thị Hảo và Mai Thị Ngọc Chúc xuất bản cuốn Các nữ thần Việt Nam, đây là cuốn
sách đầu tiên đi vào việc sưu tầm các câu chuyện thần tích về nữ thần một cách có
hệ thống
Vũ Ngọc Khánh đã sưu tầm 120 câu chuyện về Nữ thần và Thánh Mẫu Việt Nam chia ra thành bốn loại: Nữ thần trong thần thoại; Nữ thần của các dân tộc thiểu số; các Thánh Mẫu và các chư thần cùng các biến dị của truyện Ông cho rằng, trải qua thời gian, các triều đình phong kiến đã tăng cường ảnh hưởng của mình bằng
cách phân phong cho các vị thần thành “thượng – trung – hạ đẳng thần” cùng với
việc ghi lại nội dung thần tích, thần phả mang đậm dấu ấn tư tưởng theo đạo đức Nho giáo, dốc lòng vì đế nghiệp, tôn trọng kỷ cương Nhưng nhân dân có lẽ không quan tâm mấy về những ân sủng ấy đối với vị thần của họ, họ kỷ niệm các vị anh hùng, các vị thần của mình bằng những ngày hội hè, diễn xướng, họ tổ chức các trò chơi cộng đồng, v.v Tuy nhiên, những vị thần ấy chủ yếu là những vị thần được thờ
Trang 1911
theo tín ngưỡng phồn thực, hoặc những thần văn hóa, thần nghề nghiệp Thần nữ nhiều hơn thần nam Nhân dân cũng không cần biết là loại thần nào, thượng đẳng hay hạ đẳng Họ chỉ gọi là bà, là mẹ, là Thánh mẫu, Tiên nương Những thần trong thần phả không phải là những nữ thần được quan niệm trong thần thoại (Vũ Ngọc Khánh 2005:23-24)
Ngô Đức Thịnh dựa trên các văn bản truyền thuyết, thần tích các phong tục và tín ngưỡng thờ mẫu đương đại đã phân chia các cấp bậc trong tín ngưỡng nữ thần ở Việt Nam bao gồm: nữ thần, mẫu thần, đạo mẫu Tam phủ, Tứ phủ theo dạng hình tháp nhọn dưới đáy tháp là tín ngưỡng nữ thần, trên cùng là đạo mẫu Tam, Tứ phủ Ông cho rằng Đạo Mẫu Tam phủ, Tứ phủ hình thành và phát triển trên nền tảng thờ
Nữ thần và Mẫu thần, nhưng sau khi đã hình thành rồi thì Đạo Mẫu Tam phủ, Tứ phủ lại tác động ảnh hưởng theo xu hướng “Tam phủ, Tứ phủ hóa” tín ngưỡng thờ
nữ thần và mẫu thần Điều này chúng ta thấy khá phổ biến ở các đền, miếu thờ Nữ thần, thể hiện ở cách phối thờ, các hình thức trang trí, tranh tượng, các lễ vật, tục hát chầu văn…” (Ngô Đức Thịnh 2012:38-39) Ngày nay chúng ta thường bắt gặp hiện tượng này trong các ngôi đền thờ nữ thần, mẫu thần mà những vị thần ấy không nằm trong hệ thống Đạo Mẫu Tam phủ, Tứ phủ, các đền thờ Tống Hậu – Tứ vị Thánh nương là một điển hình tiêu biểu như vậy
Năm 2013, Hội thảo khoa học quốc tế về “Văn hóa thờ Nữ thần (Mẫu) ở Việt
Nam và Châu Á, bản sắc và giá trị” diễn ra tại Nam Định do Trung tâm Nghiên cứu
và bảo tồn văn hóa tín ngưỡng Việt Nam, UBND tỉnh Nam Định, Hội Folklore Châu Á phối hợp tổ chức, kết quả là tập Kỷ yếu khá dày dặn cùng tên ra đời với những tham luận nghiên cứu tín ngưỡng thờ Mẫu dưới các góc nhìn khác nhau Các
tham luận nghiên cứu theo hướng tiếp cận này của Nguyễn Thị Huế (2013) với “Nữ
thần trong thần thoại Việt Nam, bản sắc và giá trị”; Chu Xuân Giao (2013) với
“Mẫu Liễu Thanh Sam: bước đầu nghiên cứu về nhóm văn bản chép sự tích Liễu Hạnh công chúa xuất hiện từ thời Lý”; Trần Ngọc Thêm, Nguyễn Thị Lệ Hằng
(2013) với “Bản sắc và giá trị văn hóa thờ nữ thần của người Việt ở vùng Tây Nam
Bộ”; Đặng Văn Bài, Nguyễn Thị Thu Trang (2013) với “Đạo Mẫu nhìn từ bản sắc
Trang 20Như vậy, với khuynh hướng tiếp cận từ văn bản thần thoại với một góc nhìn hẹp hơn là nghiên cứu nội dung cốt truyện, câu chuyện về quá trình hình thành tín ngưỡng Nữ thần, Mẫu thần đã cho thấy việc dân gian đã kết nối các sự kiện một cách hoàn hảo tạo thành một nhân vật cụ thể sống động, những sáng tạo vượt trội có
sự chỉnh sửa qua nhiều thế hệ, một cốt truyện bền chặt qua thời gian Sự sáng tạo tập thể hay cá nhân, sự bồi đắp các tín ngưỡng cho phù hợp thời đại, các cách diễn giải nguồn gốc loài người, công lao vị thần đối với cộng đồng đó là những yếu tố giúp tín ngưỡng ăn sâu vào lòng dân gian
1.2.2 Khuynh hướng tiếp cận Dân tộc học/Nhân học văn hóa
Khuynh hướng tiếp cận Dân tộc học/Nhân học văn hóa về tôn giáo tín ngưỡng đang ngày càng được các giới học giả quan tâm nhất là những nghiên cứu sâu về hành vi, tập tục thờ cúng, các diễn giải văn hóa từ góc độ cộng đồng và từ chính chủ thể văn hóa Một trong những người đi đầu trong nghiên cứu tín ngưỡng tôn giáo ở
Việt Nam theo hướng này phải kể đến Đặng Nghiêm Vạn Trong cuốn “Lý luận về
tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam” (2001), ông cho rằng việc thờ nữ thần
xuất hiện từ thời đồ đá giữa khi con người chuyển dần sang trồng trọt chăn nuôi Các hiện vật được tìm thấy ở thời kỳ này là những tượng phụ nữ với những đặc điểm nữ tính nổi bật (vú to, mông lớn, bụng như có mang) hoặc các quan hệ âm - dương liên quan tới mùa màng phong đăng Họ tin có một mối quan hệ vô hình giữa khí âm và dương, giữa đực và cái, và nhờ vào sự giao hòa đó mà đất đai phì nhiêu, cây lúa nhiều bông, v.v Vì vậy, khi bắt đầu làm mùa, trong lễ hội nông nghiệp, việc thờ và rước các sinh thực khí theo tín ngưỡng phồn thực (rước nõn nường) thờ Linga, hay các trò chơi tượng trưng như như ném còn, đánh đu… vẫn ngang nhiên diễn ra trong các xã hội phong kiến vốn rất coi trọng lễ nghi Nho giáo Và cũng từ
Trang 2113
đó, nhiều vị nữ thần được bắt nguồn từ sông nước, từ các thủy thần cho đến những tinh linh như: rắn, cá sấu, thuồng luồng, ba ba, trai, hến và các loại cá… đã được nhân cách hóa, thần thánh hóa, nhờ một dịp lập công với làng với nước, bằng những tên gọi hết sức mỹ miều Sau này tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng nữ thần được tiếp xúc với Đạo giáo, Phật giáo, Nho giáo và Thiên Chúa giáo (xem Đặng Nghiêm Vạn 2014) Điều này chứng tỏ, nữ thần có một vị trí rất đặc biệt trong đời sống tín ngưỡng của người Việt Nam
Ngô Đức Thịnh (2010) với công trình tiêu biểu về nữ thần, mẫu thần là “Lên
đồng: hành trình của thần linh và thân phận” Ông đã đi sâu vào việc miêu thuật
một khóa hầu đồng từ sự nhận thức của người hầu đồng, so sánh lên đồng của người Việt với các dân tộc thiểu số, diễn giải hầu đồng dưới khía cạnh tâm sinh lý, nghệ thuật trình diễn và ý nghĩa của nó trong xã hội đương đại Đây rõ ràng là một hướng
đi khác so với các nghiên cứu trước của ông về Đạo Mẫu nhất là trong Đạo Mẫu
Việt Nam (Ngô Đức Thịnh 1996, 2001, 2007, 2012) Việc đi sâu vào một khía cạnh
của Đạo Mẫu giúp chúng ta hiểu rõ hơn bản chất của các nghi lễ và điều gì hấp dẫn các con nhang đệ tử đến với Đạo Mẫu và lên đồng
Tuy nhiên, chúng ta cũng phải kể đến các bài nghiên cứu theo hướng tiếp cận
này trong Kỷ yếu “Văn hóa thờ Nữ thần (Mẫu) ở Việt Nam và Châu Á, bản sắc và
giá trị” (2013) Các nhà nghiên cứu đã đi sâu vào nghiên cứu các trường hợp cụ thể
trong các vấn đề cụ thể: Trần Thị An (2013) với “Hiển thánh và tăng quyền, một
khảo sát về tục thờ nữ thần biển ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ”; Vũ Thị Tú Anh
(2013) với “Đạo Mẫu với vấn đề trao quyền lực và cách thức sử dụng quyền lực
của người phụ nữ Việt Nam”; Trần Hạnh Minh Phương (2013) với “Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh – tiếp cận từ lý thuyết chức năng”;
Nguyễn Thị Thanh Xuyên (2013) với “Nữ thần Yeang Sarì trong đời sống của cộng
đồng người Hrê (Nghiên cứu tại xã An Vinh, huyện An Lão, tỉnh Bình Định)”;
Dương Hoàng Lộc (2013) với “Tìm hiểu ý nghĩa bắc tranh thờ thập nhị thánh mẫu
ở miếu Bà An Thuận (xã An Thủy, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre)”, v.v Đây là những
bài viết tiêu biểu cho khuynh hướng Dân tộc học/Nhân học văn hóa từ tiếp cận lý
Trang 22sử văn hóa xã hội và con người Việt Nam Việc nhận diện Nữ thần, Mẫu thần và Đạo Mẫu Tam phủ, Tứ phủ sẽ giúp chúng ta dễ dàng hơn trong hệ thống hóa các tín ngưỡng
1.3 Tống Hậu: Lịch sử thờ cúng và các nghiên cứu liên quan
1.3.1 Từ truyền thuyết đến lịch sử nghiên cứu
1.3.1.1 Truyền thuyết về Tứ vị Thánh nương ở Việt Nam
Câu chuyện bắt đầu từ năm 1279, quân Mông Nguyên tấn công căn cứ địa cuối cùng nhà Nam Tống tại Nhai Sơn Môn (Quảng Đông), quân Tống do Trương Thế Kiệt chỉ huy đã bị đánh bại hoàn toàn, hơn 10 vạn quân lính cùng quan lại và người hầu thiệt mạng Phụ chính đại thần nhà Tống Lục Tú Phu đã cõng vua Tống cuối cùng là Triệu Bính nhảy xuống biển tự vẫn, trận Nhai Sơn đã đánh dấu sự diệt vong của nhà Tống và hoàn thành công cuộc thôn tính Trung Hoa của Mông Nguyên.1 Riêng Thái hậu cùng các con gái được đưa lên một chiến thuyền xuôi về phương Nam, nhưng trên đường đi, thuyền gặp bão lớn bị lật, mọi người trên thuyền đều chết Ba mẹ con Thái hậu bám vào một mảnh ván trôi dạt vào một hòn đảo, trên đảo có một ngôi chùa do một sư ông trụ trì Hôm ấy, trời về chiều, sư đang
đi tản bộ quanh chùa, miệng lẩm bẩm đọc kinh, tay cầm tràng hạt, thốt nhiên nhìn ra ngoài khơi trông thấy thấp thoáng một vật gì lạ bồng bềnh trên sóng Sư chèo thuyền ra xem thì thấy ba người đàn bà đang bám vào một mảnh ván, lập tức sư đỡ
1
Câu chuyện về trận đánh Nhai Sơn được ghi trong Đại Việt sử ký toàn thư (Mục Nhân Tôn Hoàng
Đế) như sau: Quân Nguyên đánh úp quân Tống ở Nhai Sơn, quân Tống thua, tả thừa tướng nhà Tống là Lục
Tú Phu cõng vua Tống nhảy xuống biển chết; hậu cung và các quan chết theo rất nhiều Qua 7 ngày xác nổi lên mặt biển đến hơn 10 vạn người Xác vua Tống cũng ở đấy thế là ứng điềm sao sa xuống biển Năm ấy nhà Tống mất (1279)
Trang 2315
từng người lên thuyền và đưa họ về chùa chữa chạy Một thời gian sau, khi họ đã khỏe mạnh, da dẻ hồng hào, chưa bao giờ sư nhìn thấy những người đàn bà xinh đẹp đến thế, sư đem lòng tương tư Một đêm nọ, nhân lúc hai cô con gái đang ngủ,
sư lần đến chỗ người thiếu phụ định tư thông nhưng người phụ nữ đã khước từ Nhà
sư thấy hối hận và nhảy xuống biển tự vẫn Ba mẹ con thấy ân nhân đã chết, họ ân hận rồi cùng nhau liều mình xuống biển quyên sinh Mấy ngày sau những người dân chài ở cửa Cờn vớt được xác ba người đàn bà và nhà sư, họ chôn cất chu đáo Người dân đi biển cầu khấn thấy linh thiêng trong những lần ra khơi nên đã lập đền thờ và tạc tượng cả bốn người để thờ cúng (Vũ Ngọc Khánh 2005:153-160)
Đây là nội dung thần tích được nhiều người thừa nhận, tuy nhiên còn có nhiều
dị bản khác nhau khi nói về cái chết của mẹ con Tống Thái hậu Sự khác nhau không nằm ở cốt truyện mà nằm ở các nhân vật Ninh Viết Giao (2009) cho rằng bốn người trong Tứ vị Thánh nương là ba mẹ con Hoàng hậu cùng với một người nhũ mẫu Trần Thị An đã nhận ra sự tăng lên số lượng người trong truyền thuyết từ một đến bốn qua các văn bản truyền thuyết theo thời gian (Trần Thị An 2009:24-55) Nguyễn Ngọc Định (2010) cho rằng bốn người là ba mẹ con Tống Thái hậu và vua Tống Đế Bính (Triệu Bính), Ngô Đức Thịnh (2012) cho rằng bốn người là Tống Thái hậu và ba vị Công chúa nhà Tống
Một câu truyện khác còn lưu truyền về Tứ vị Thánh nương ở thôn Phú Nghĩa (Quỳnh Phương), truyện kể rằng: Thời Hùng Vương thứ 13, hoàng hậu đã sinh được hai quý nương mà tuổi tác nhà vua đã cao nên muốn có con trai kế vị Lúc hoàng hậu có mang lần thứ ba, nhà vua bảo rằng: “Nếu sinh con gái thì cứ bóp chết đi” Quả thực, lần đó hoàng hậu sinh con gái Tới khi nhà vua về, biết chuyện sai đày hai mẹ con hoàng hậu ra đảo xa ngoài biển, gặp biển động dạt vào cửa Cờn rồi
ở lại đó tới khi chết Sau khi chết hiển linh thành Nam Hải Đế Thần, chủ việc mưa gió ngoài biển
Một huyền thoại khác liên quan tới sự tích đền Cờn về việc trôi dạt của “cây
gỗ thần” và tục “Chạy ói” ở làng Càn Miếu (Phương Cần): Một đêm, ở thôn Càn
Miếu có cây gỗ thần trôi về, dân làng không biết nên đã xúc phạm tới khiến gỗ thần
Trang 2416
trôi xuống làng Phú Lương Một ngư ông thấy cây gỗ lạ liền lấy dao chặt thử thấy toát ra hương thơm, biết đó là gỗ thần nên dân Phú Lương lập đền thờ, từ đó dân làng đánh bắt được nhiều tôm cá Sau đó dân Càn Miếu ân hận nên lập mưu khiêng
gỗ quý về Do được tiên nữ ở Long vương báo mộng, dân làng chuẩn bị làm đền thờ Không ngờ sau một đêm mưa to gió lớn, gỗ thần từ đâu trôi về đủ để xây đền, dân làng tin đó là gõ của thần linh Do vậy đền được làm xong, gỗ thơm tạc thành
tượng thờ, Càn Miếu đổi thành Hương Cần (Phương Cần) Và từ đó tục Chạy ói
trong lễ hội đền Cờn tái hiện lại sự tích tranh cây gỗ thần giữa hai làng Phương Cần
và Phú Lương (xem Ngô Đức Thịnh 2001, Vũ Ngọc Khánh 2005)
Như vậy, trên đây là ba câu chuyện xảy ra tại ba ngôi làng gần nhau tại xã Quỳnh Phương đều liên quan tới Tứ vị Thánh nương Ba câu chuyện này khác nhau
về nội dung nhưng đều cho thấy sự linh thiêng của Tứ vị Thánh nương đối với người đi biển, chính vì sự linh thiêng đó nên người dân đã tạc tượng và lập đền thờ
Câu chuyện về Tống Thái hậu được xuất hiện lần đầu tiên trong Lĩnh Nam
chích quái liệt truyện của Trần Thế Pháp (? - ?) và Việt điện u linh tập mục truyện Càn Hải môn từ do Lý Tế Xuyên (? - ?) chép từ thế kỷ thứ XIV, câu chuyện có nội
dung tương đối giống với thần tích Tứ vị Thánh nương Cuối thế kỷ XV, Ngô Sỹ
Liên biên chép Đại Việt sử ký toàn thư có ghi lại chuyện vua Trần Anh Tông đi
đánh Chiêm Thành (1311), được thần cửa Càn Hải phù trợ cho sóng yên biển lặng,
khi về qua vua cho lập đền thờ hằng năm cúng tế, phong cho thần là “Quốc Gia
Nam Hải Đại Càn Thánh Nương” Năm 1424, Lê Lợi hành quân đánh giặc Minh
được nữ thần Càn Hải báo mộng giúp đỡ Năm 1471, vua Lê Thánh Tông thân chinh đánh Chiêm Thành cũng qua cửa Càn Hải dừng chân xin nữ thần phù hộ, khi
trở về vua không quên công đức Thánh nữ, liền ban sắc “Đại Càn Thánh Nương
Quốc Gia, Nam Hải Tứ Vị Thượng Đẳng Thần” và cho 12 cửa biển lập đền thờ Thế
kỷ thứ XVI, Dương Văn An biên chép Ô Châu cận lục, khi nói về Đền Tứ vị Thánh
nương cũng biên chép hai câu chuyện nhà sư và vua Hùng thứ 13 có nội dung như
chuyện kể trên Sau này Đại Nam nhất thống chí (1882) cũng ghi lại các câu chuyện
này
Trang 2517
1.3.1.2 Lịch sử nghiên cứu tín ngưỡng Tứ vị Thánh nương ở Việt Nam
Những nghiên cứu về tín ngưỡng Tứ vị Thánh nương ở Việt Nam được đề cập
đến trong các công trình địa chí của Nghệ An như của Ninh Viết Giao với Địa chí
văn hóa huyện Quỳnh Lưu (Nxb.Nghệ An – 1998) và Tục thờ thần và thần tích ở Nghệ An (Sở Văn hóa thể thao Nghệ An xuất bản - 2000); Quỳnh Phương và văn hóa truyền thống (Nxb.Nghệ An – 2000); Đền Cờn với địa lịch sử - văn hóa trong tâm thức dân gian (Nxb.Văn hóa dân tộc – 2001); v.v
Năm 2009, Hội thảo về “Lễ hội đền Cờn, tục thờ Tứ vị Thánh nương với văn
hóa biển ở Việt Nam” do Sở Văn hóa, Thể thao, Du lịch Nghệ An; Hội văn nghệ
dân gian Nghệ An; Trung tâm Hỗ trợ nghiên cứu tín ngưỡng và lễ hội dân gian – thuộc Hiệp hội UNESCO Việt Nam phối hợp tổ chức, hội thảo diễn ra ngày 15/06/2009 tại xã Quỳnh Phương, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An Kết quả là một tập công trình Kỷ yếu hội thảo cùng tên xuất bản năm 2010 với nhiều nghiên cứu có giá trị của các nhà nghiên cứu văn hóa nổi tiếng như Nguyễn Đình Chú, Phong Lê, Ngô Đức Thịnh, Ninh Viết Giao, Trần Thị An, Hồ Đức Thọ, Võ Hoàng Lan, v.v về tục thờ Tứ vị Thánh nương ở Việt Nam đặc biệt vùng duyên hải miền Trung và vùng Đồng bằng sông Hồng Các bài viết này đưa ra các giả thuyết về nguồn gốc hình thành tục thờ Tứ vị Thánh nương qua các truyền thuyết, tài liệu cổ, lễ hội, ở nhiều nơi đặc biệt tại đền Cờn – Nghệ An Các học giả đều cho rằng tín ngưỡng Tứ vị Thánh nương có nguồn gốc thờ Cá Ông của cư dân Chăm bản địa, sau đó hội nhập với tín ngưỡng Nữ thần của người Việt và sau này là sự du nhập của dân Tống chạy loạn quân Nguyên Mông và từ đó lan tỏa theo con đường biển của cư dân chài lưới
đi khắp nơi (Ninh Viết Giao (chủ biên) 2010)
Năm 2010, Nguyễn Ngọc Định cho xuất bản sách Đền Cờn – lịch sử và lễ hội, trước đó là cuốn Đại Càn Thánh Mẫu (2007) Ông là người Phương Cần, cả hai
cuốn sách của ông đều mô tả chi tiết về tục thờ Tứ vị Thánh nương trong truyền thuyết, lịch sử và lễ hội dưới con mắt của một người dân địa phương, có lẽ đó là hai
Trang 2618
công trình mô tả toàn diện nhất về lịch sử và lễ hội đền Cờn – nơi phát tích tục thờ
Tứ vị Thánh nương, ta có thể lấy đó so sánh với các nơi thờ khác Một số nghiên
cứu khác của Nguyễn Xuân Hương về Tín ngưỡng thờ nữ thần của người Việt ở xứ
Quảng cho rằng: “Có thể, Bà Dàng Lạch chính là nữ thần cửa Biển – Thần nước/
Mẫu Thoải/ Bà Thủy Bà Dàng Lạch có thể là hình tượng tiếp nối, chuyển hóa từ tín ngưỡng thờ Nữ thần cửa biển – Đại Càn, mà cư dân Thanh Nghệ mang vào vùng Thuận Quảng Và tín ngưỡng thờ Bà Đại Càn – Đại Càn Tứ vị Thành nương đã từng có vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của cư dân xứ Quảng” (Nguyễn Xuân Hương 2011:60) Như vậy, khi vào phía trong, Tống Hậu đã được gọi với những tên khác nhau là Bà Dàng Lạch, Bà Thủy, được phối thờ cùng với nhiều nữ thần bản địa như Thiên Y A Na, Po Yan Na Ri hoặc phối thờ cùng với Thiên Hậu cùng gốc Trung Hoa v.v
Nghiên cứu của Long Bằng (2013) và Trần Lê Bảo (2013) về lễ hội Tống Hậu
ở đền Lộ (Thường Tín, Hà Nội) và điện Mẫu (Tân Hội, Quảng Đông) đều cho thấy
sự khác nhau trong tâm thức Tống Hậu giữa hai nước Ở Việt Nam, người dân coi Tống Hậu như một vị thần biển, phù trợ cho người đi biển còn ở Trung Quốc Tống Hậu lại được xem như một nhân vật anh hùng dân tộc với các đức tính cao cả của người phụ nữ như trung nghĩa, tiết hạnh Trần Quốc Tuấn đã tổng luận các nghiên cứu về Tứ vị Thánh nương và cho rằng “sự phát triển thương mại bằng đường biển cộng với sự di dân về phía Nam đã nâng cao vị thế các nữ thần biển Họ trở thành một thế lực chống lại chế độ nam quyền Nho giáo ở khắp nơi Thế lực này cùng với truyền thống cũ đã giữ được uy thế trong tập hợp Đạo giáo Việt nam ở thế kỷ XVIII, XIX…” (Trần Quốc Tuấn 2013:28)
Như vậy, Tục thờ Tống đã lan tỏa đi khắp nơi duyên hải Việt Nam theo chân những người dân chài, cùng những thương nhân vào sâu trong đất liền tới Phố Hiến, Thăng Long hoặc vào sâu trong miền Nam Trung bộ và Nam bộ, được phối thờ cùng với các nữ thần bản địa Điều đó cho thấy Tống Hậu Tứ vị Thánh nương có sức ảnh hưởng rất lớn trong tâm thức người đi biển và có sức lan tỏa mạnh mẽ trong cộng đồng cư dân sông nước
Trang 2719
1.3.2 Tục thờ Tống Thái hậu ở Việt Nam và Trung Quốc
Có một điều không thể phủ nhận rằng Tống Thái hậu (Tống Hậu) là một nhân vật có thật trong lịch sử Trung Quốc Bà sống vào thời kỳ cuối cùng của triều đại nhà Nam Tống Bà họ Dương,2 là vợ của vua Tống Độ Tông và là mẹ của Tống Đế Bính, người ta gọi bà dưới các tên gọi khác nhau như Dương Thục phi, Dương Thái hậu, Tống Thái hậu hay Tống Hậu,3 bà là một trong Tứ vị Thánh nương được thờ ở
Việt Nam Câu chuyện về Dương Thái hậu được chép trong Tống sử rằng sau khi
Lục Tú Phu cõng vua Tống Đế Bính nhảy xuống biển, biết được tin này bà cùng các con và người hầu nhảy xuống biển tự vẫn để không bị rơi vào tay giặc Nguyên Mông Hành động này đã khiến cho người dân vùng Tân Hội – Quảng Đông (gần
Nhai Sơn Môn) cảm kích và lập đền thờ bà, đền ấy có tên là Nhai Sơn từ, sau này
trở thành điểm du lịch quan trọng trong quần thể du lịch hải chiến Nhai Môn, nơi
đây còn được quen gọi là “Cố cung Quảng Đông” Trung tâm của điện Mẫu Tân Hội là miếu Từ Nguyên thờ Dương Thái hậu, miếu này được xây để tưởng nhớ tấm
lòng từ mẫu và tinh thần tiết liệt của Dương Thái hậu, năm Hồng Trị thứ 13 (1500)
nhà Minh ban cho tấm biển “Toàn Tiết miếu” và cho tế lễ ở đây như tế lễ vua chúa
các đời, tuy nhiên dân gian quen gọi là “điện Quốc Mẫu” hay “điện Mẫu” (Trần Lê Bảo 2013:473) Lễ hội Dương Thái hậu ở Tân Hội được tổ chức ngày 27/4 âm lịch
hằng năm, đó là ngày sinh của Dương Thái hậu hay còn gọi là ngày “Quốc Mẫu
đản” Con cháu họ Triệu ở khắp mọi nơi về chẩy hội như một kỳ hành hương về cội
nguồn Một trong những đặc sản ở nơi đây được gắn liền với thần tích của Dương Thái Hậu khi bà báo mộng cho Trần Bạch Sa lập đền thờ gọi là “điện Quốc Mẫu”, ngay sau đó giống quất “Triền Long Sơn” mọc lên mang hình đầu rồng đuôi rồng có quả thơm và cành làm tẩu hút rất tốt, bà cũng báo mộng cho nơi đây làm món
Trang 2820
ngỗng quay Cổ Tỉnh chỉ truyền cho phụ nữ Đó là sự linh thiêng hóa trong truyền
thuyết Dương Thái hậu ở Trung Quốc
Như vậy, việc lập đền thờ Dương Thái hậu ở Trung Quốc cũng giống như nhiều nhân vật lịch sử khác, là một người trong hoàng tộc, là mẹ của vua nên được gọi là Quốc Mẫu bà hoàn toàn không được phong thần (thánh nương) như ở Việt
Nam (Tứ vị Thánh nương) mà các triều đại Trung Quốc chỉ tôn phong là “Toàn
Tiết” (bảo toàn khí tiết) Người dân nhớ đến bà như một người phụ nữ tiết hạnh,
trung nghĩa mẫu mực trong đạo lý của các nhà Nho chứ không phải một vị thần phù
trợ cho người đi biển
Sự khác nhau giữa tục thờ Tống Thái hậu ở Việt Nam và Trung Quốc
Trong nghiên cứu của Long Bằng (2013) “Truyền thuyết và lễ hội về Tứ vị Thánh nương ở đền Lộ (Hà Nội) qua đối sánh với truyền thuyết và lễ hội về Dương Thái Hậu ở điện Mẫu (Tân Hội, Trung Quốc)”, cô cho rằng tục thờ Tứ vị Thánh nương ở Việt Nam xuất phát từ Trung Quốc nhưng sự khác biệt ở chỗ Trung Quốc chỉ thờ một mình Dương Thái hậu còn khi về Việt Nam đã trở thành bốn vị “Tứ vị Thánh nương” Truyền thuyết Dương Thái hậu kể về cuộc đời của Dương Thái hậu trong thời kỳ từ Nam Tống chạy nạn sang Quảng Đông đến Nam Tống bị diệt vong tại Nhai Hải Truyền thuyết Tứ Vị Thánh Nương chủ yếu kể về những việc sau sự kiện lịch sử này, tức kể về những chuyện sau khi Dương Thái hậu chết, nói về sự hiển linh của các vị nữ thần đối với một số việc của vua chúa và người dân ở Việt Nam Về kết cấu, truyền thuyết Tứ Vị Thánh Nương được xây dựng nên bởi các mô-típ điển hình của truyền thuyết như: cái chết thần kỳ, ngài hóa, vinh phong gia phong, tài năng và phép lạ, hiển linh âm phù… Những mô-típ này một mặt làm nên tính kì ảo của truyền thuyết, điểm tô lòng yêu kính, ngưỡng mộ của người dân đối với những vị thần, tăng sức hấp dẫn lôi cuốn người đọc, người nghe và mặt khác nó cũng ẩn chứa nhiều điều thú vị về lịch sử, văn hóa của những làng quê đã sản sinh
ra nó Truyền thuyết Tứ Vị Thánh Nương đối sánh với truyền thuyết về Dương Thái hậu, tình tiết đa dạng, phong phú hơn, yếu tố thần kỳ, yếu tố tưởng tượng nhiều
Trang 2921
hơn Danh hiệu thần trong truyền thuyết về Dương Thái hậu là Quốc Mẫu, Quốc Mẫu là một vị thần đa chức năng, có thể cai quản tất cả mọi việc của cõi trần Với danh hiệu là Tứ Vị Thánh Nương, theo truyền thuyết ở đền Lộ, các vị thần này vốn là thần biển sau đó đã mở rộng uy thế đến vùng sông Hồng Bắc Bộ, phát huy chức năng của thủy thần Chủ đề của truyền thuyết Dương Thái hậu là Dương Thái hậu hy sinh vì nước, chủ đề của truyền thuyết về Tứ Vị Thánh Nương thì đã thay đổi hẳn là: Thần biển hiển linh trị thủy Sự khác nhau giữa tín ngưỡng Dương Thái hậu ở Trung Quốc và Tứ vị Thánh nương ở Việt Nam nằm ở mục đích thờ phụng, ngoài những mục đích chung như tôn sùng người mẹ, lễ hội thờ Dương Thái hậu (Trung Quốc) nhằm ca ngợi những tiêu chuẩn đạo đức phong kiến như tinh thần yêu nước, hướng về cội nguồn, đặc biệt ngợi ca “từ mẫu” trung trinh tiết liệt Còn mục đích lễ hội Tứ vị Thánh nương (Việt Nam) là ngợi ca người mẹ và sùng bái nước, cầu mong sự che trở và phù trợ trong sản xuất nông nghiệp, cũng như hướng
về cội nguồn (Trần Lê Bảo 2013:76-77)
Như vậy, câu chuyện Tống Hậu ở Việt Nam là sự tiếp nối của sự kiện hải chiến Nhai Sơn Tống Thái hậu khi vào Việt Nam đã mang một sắc thái khác, một huyền thoại khác và những ý nghĩa khác với ban đầu Những người mang theo tín ngưỡng Dương Thái hậu đã hòa nhập vào cuộc sống cư dân bản địa, bị bản địa hóa ngay cả với tín ngưỡng của họ
1.3.3 Sự hình thành tín ngưỡng Tống Hậu ở Việt Nam
Các giả thuyết về sự hình thành tín ngưỡng Tống Hậu ở Việt Nam
Sự xuất hiện tín ngưỡng thờ Tống Hậu - Tứ vị Thánh nương ở Việt Nam được nhiều nhà nghiên cứu luận bàn, hầu hết đều thừa nhận rằng sự xuất hiện đó phải được những người di dân Trung Quốc sang Việt Nam trong lịch sử mang đến, ban đầu là đám di dân Nam Tống chạy loạn quân Nguyên vào vùng miền Trung Việt Nam và sau đó là những lớp di dân khác bằng đường biển, họ có thể là thương nhân hoặc dân chài lưới Tục thờ Tống Hậu phải phù hợp với các đặc điểm văn hóa bản địa từ sau thế kỷ XIII nên được người dân bản địa chấp nhận và lan tỏa đi nơi khác vào các thế kỷ sau đó
Trang 3022
Hiện có rất ít các nghiên cứu về người Hoa tị nạn quân Nguyên ở Việt Nam
vào thế kỷ XIII-XIV đặc biệt ở vùng Thanh Nghệ Trong Đại Việt sử ký toàn thư có
nói về việc tướng Trần Nhật Duật đã sử dụng những người Tống giúp quân dân Đại Việt đánh giặc Nguyên năm 1285 và 1289 phục thù mất nước khiến quân Nguyên
khiếp sợ Một số sách về sau như Đại Việt thông sử (Lê Quý Đôn) và Đại Việt
thông giám cương mục (Quốc Sử quán triều Nguyễn) cũng chép lại sự kiện ấy
Hok Lam Chan (1966) khi nghiên cứu “Tị nạn Trung Hoa tại An Nam và xứ Chàm cuối thời nhà Tống”, ông cho rằng người Trung Hoa chạy tới xứ Chàm (Thanh Nghệ) sau khi nhà tống bị diệt vong là do xứ Chàm không quá xa bờ biển Quảng Đông và là một nước chư hầu của nhà Tống, nước Chàm có lòng trung thành
và thân thiện với Trung Hoa Người đầu tiên thực hiện kế hoạch này là quan đại thần nhà Tống Trần Nghi Trung năm 1276, tuy nhiên sau khi đặt chân lên xứ Chàm ông đã không bao giờ trở về, ông mất năm 1282 trên đất Xiêm Trương Thế Kiệt và Lục Tú Phu đã cố gắng đưa nhà vua cùng hoàng gia và đoàn tùy tùng chạy xuống phương Nam tị nạn.Tuy nhiên đoàn tị nạn đã bị bão lớn đánh chìm và toàn bộ số người trên các chiến thuyền đều chết, xác Dương Thái hậu đã trôi vào cửa biển vùng Nghệ An và được người dân chôn cất, thờ cúng Đó là sự khởi đầu của Tục thờ Tống Hậu ở Việt Nam Sau này còn có nhiều đợt di dân nhỏ lẻ vào vùng này Hok Lam Chan cho rằng sự gần gũi về mặt địa dư là yếu tố quan trọng nhất để người Hoa tị nạn vào xứ Chàm hơn nữa đó là nơi an toàn nhất không chịu áp lực Mông Cổ (phía bắc có Đại Việt đang có những thắng lợi trước quân Nguyên) Mặt khác, các vua xứ Chàm cũng dành cho người Tống một tình cảm đặc biệt, họ coi đó
là “danh dự” khi tiếp nhận những người hoàng tộc ở nước “bá chủ” về tị nạn ở một nước “chư hầu” Ngoài ra, điểm dừng chân đó còn là hải trình quen thuộc của các thương nhân người Hoa trong các cuộc mậu dịch về phía Nam Đại Việt Việc không còn hi vọng trở về của những người tị nạn đã khiến họ dần trở thành cư dân bản địa
và có ảnh hưởng không nhỏ tới văn hóa Đại Việt sau này
Năm 1311, vua Trần Anh Tông đi đánh Chiêm Thành có ghé qua cửa Càn Hải
được nữ thần báo mộng: “Thiếp là cung phi của nhà Triệu Tống, bị giặc bức bách,
Trang 3123
gặp sóng gió chết đuối trôi dạt đến đây, thượng đế phong cho làm thần biển ở đây
đã lâu, nay thấy bệ hạ đem quân đi thiếp xin giúp đỡ lập công Khi thức dậy vua cho gọi các cố lão ở đấy hỏi sự thực, ban tế một tuần rồi đi, thì biển không nổi sóng, tiến thẳng đến thành Chà Bàn, bắt được vua Chiêm đem về Đến nay sai hữu
ty lập đền, tuế thờ cúng tế” (Đại Việt sử ký toàn thư – Mục Trần Anh Tông Hoàng Đế) Sự kiện này xảy ra sau trận hải chiến Nhai Sơn 32 năm đánh dấu cho sự linh
thiêng hóa của nữ thần đền Cờn Nhà vua đã cho lập đền thờ và hằng năm sai người dân nơi đây cúng tế Lúc này Dương Thái hậu đã được Thượng đế phong làm thần biển và có công giúp vua đánh giặc, đó một sự kiện quan trọng khiến Tục thờ Tống Hậu đứng chân vững chắc tại xứ Thanh Nghệ, có thể coi đó là sự kiện nhằm chính thức hóa một tín ngưỡng mới ở Việt Nam Như vậy, Tục thờ Tống Hậu đã nhanh chóng được thừa nhận ở Việt Nam chỉ sau 32 năm từ khi trận hải chiến Nhai Sơn nổ
ra Nếu xét ở một góc độ khác, với từng ấy thời gian những người Tống tị nạn tại xứ Chàm họ vẫn còn sống, họ còn đủ tỉnh táo để nhớ lại sự kiện mất nước và mong muốn phục thù, không ai khác chính họ là người đã kể về giấc mộng Trần Anh Tông để có một chỗ định cư vững chắc trên mảnh đất phía Nam Đại Việt Sau đó là các cuộc hành quân ngang qua của vua Lê Lợi (1424) và vua Lê Thánh Tông (1476) đều được nữ thần báo mộng giúp đỡ, sau này các vua đã phong thần cho Tống Hậu, ban sắc phong và cho nhân dân sửa đền cầu cúng, lệnh cho 12 cửa biển lập đền thờ
bà Chính những điều đó đã củng cố hơn vị thế của Tống Hậu - Tứ vị Thánh nương trên đất Việt và sự lan tỏa tín ngưỡng đi nhiều nơi khác trở thành một trong những
vị thần quan trọng của người đi biển và người làm nghề sông nước
Trong Ô Châu cận lục do Dương Văn An chép vào thế kỷ XVI đã phê phán việc “Cựu tục thổ nhân bất tri dĩ dâm vật sự thần” (tục cũ của cư dân địa phương vì không hiểu cứ đem dâm vật để thờ) mà Tạ Chí Đại Trường cho rằng “dĩ dâm vật sự
thần” đó chính là sự thờ cúng Linga của tín ngưỡng phồn thực phổ biến của người
Việt (Tạ Chí Đại Trường 2006:178) Ông còn cho rằng “tính chất phức tạp đó càng tăng thêm khi ta thấy có cả dấu vết thờ cá voi ở nơi này Miếu thờ người học trò
thủy thần của Chu Văn An ở đầm Sét (Thanh Trì – Hà Nội) có tên nôm là Gàn, và
Trang 3224
tên chữ là Xá Càn Từ, có thể từ gốc Mã Lai sakan: cá voi Và câu chuyện của Việt
điện u linh tập lại cho thấy dạng cá voi trong hành trạng của “Phu nhân” Cảnh
“thuyền đi biển gặp sóng to gió lớn, nếu van vái với Phu nhân thì được bình yên vô sự” là điều người dân chài phía Nam ngày nay thường thấy và cầu khấn với cá Ông (voi) – và cả người di tản bây giờ cũng còn lan truyền với nhau” (Tạ Chí Đại Trường 2006:177) Ngô Đức Thịnh cũng cho rằng đây là một dạng thờ nữ thần cửa sông biển Tục thờ này được phổ biến nhất ở những vùng ven biển Trung Bộ, mà trung tâm là đền Cờn Tục thờ này được biểu hiện dưới dạng thờ Tống Hậu, Thiên Hậu (có nơi nhập Tống Hậu và Thiên Hậu là một) Sớm nhất của tín ngưỡng thờ tứ
vị là thờ cá (kàn, càn) của người dân bản địa (người Việt hay người Chăm) Sau này
nó được nhân hóa, thiêng hóa thành tiên nữ, thành thần biển mang tính nữ, nữ thần Muộn hơn tín ngưỡng thờ cá là tiếp thu ảnh hưởng của Trung Hoa hay Đại Việt và
có thể cả hệ thống thần linh Chăm để lịch sử hóa thành hệ thống nhân thần mà xưa
nay triều đình phong thần với tước hiệu Tứ vị Thánh nương, Đại Càn Quốc Gia
Nam Hải Tứ vị Thánh nương… (Ngô Đức Thịnh 2012:305-306)
Ninh Viết Giao nhận xét: tục thờ Tứ vị Thánh nương là một tín ngưỡng được
ẩn sau tục thờ các thần sông biển mà trước đó nữa là tục thờ thần cá của những
người đi biển Dần dần về sau các vị thần này đã được nhân hóa, phong kiến hóa, dân tộc hóa và địa phương hóa để trở thành Tứ vị Thánh Nương như ta thấy hiện nay Tín ngưỡng Tứ vị Thánh nương còn là sự kết hợp giữa tín ngưỡng thờ thần gỗ (chuyện cây gỗ thần), thờ thần cá, thần nước – thần nông nghiệp của người Việt (Ninh Viết Giao 2009:43) Trần Thị An cũng đồng ý cho rằng ẩn chứa trong lớp tín
ngưỡng này là tín ngưỡng thờ cá Hơn nữa, đằng sau lớp tín ngưỡng thờ cá này còn
đan xen một lớp tín ngưỡng khác nữa đó là tín ngưỡng thờ người chết trôi trên
sông/biển… Bên cạnh đó, mô-típ khúc gỗ trôi sông trong truyền thuyết Việt Nam
thường là một biểu tượng chỉ sự hội nhập: sự hội nhập Phật giáo và tín ngưỡng dân gian (Man Nương), sự hội nhập tín ngưỡng thờ Mẫu của người Chăm với tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt (Thiên Y A Na) và ở đây là sự hội nhập của những danh xưng xa lạ (Tống Hậu) với tín ngưỡng thờ thần biển của cư dân ngư nghiệp
Trang 33sự bao dung văn hóa trong quá trình tiếp nhận văn hóa ngoại lai của người Việt Nam Tuy nhiên, để có thể gia nhập hệ thống nữ thần bản địa của một vùng văn hóa lúa nước đồng bằng sông Hồng, hình tượng Dương Thái hậu được chuyển hóa thành Tứ vị Thánh nương đều liên quan tới nước và thực hiện chức năng phù trợ cho người đi biển (Trần Lê Bảo 2013:472)
Để tín ngưỡng Tống Hậu - Tứ vị Thánh nương đứng chân được ở Việt Nam phải có sự tương thích với văn hóa bản địa và một sự thừa nhận chính thức của chính quyền cai trị Tín ngưỡng Tứ vị Thánh nương đã hội tụ đủ những yếu tố đó
Sự tương hợp với tín ngưỡng sinh thực khí bản địa, tục thờ thần cây, sự thờ phụng
nữ thần của người Việt kết hợp với tín ngưỡng thờ cá của ngư dân Chăm Đó là cơ
sở để sau khi nhóm người Tống tị nạn mang theo văn hóa của mình thờ Dương Thái hậu và thần biển Ma Tổ (Thiên Hậu) hội nhập dễ dàng vào văn hóa bản địa tạo nên một vị thần mới mang đầy đủ chức năng của một nữ thần sông/biển Đặc biệt là sự chấp thuận của triều đình qua việc báo mộng giúp vua đánh giặc đã khiến Tống Thái hậu chính thức trở thành một vị nữ thần biển cai quản một vùng cửa sông rộng lớn
Như vậy, việc Tống Hậu – một Thái hậu Trung Quốc trở thành một vị thần biển Việt Nam đã trải qua một quá trình thần thoại hóa của chính người Tống tị nạn Sau đó được linh thiêng hóa trong một số sự kiện lịch sử và chính thức được thừa
Trang 3426
nhận ở Việt Nam như một vị thần biển có công giúp vua đánh giặc Những yếu tố văn hóa, lịch sử đã Việt Nam hóa Tống Hậu thành một vị thần Việt Nam chứ không phải vị thần của người Trung Quốc
1.4 Vấn đề nghiên cứu, lý thuyết và phương pháp tiếp cận
1.4.1 Vấn đề đặt ra trong nghiên cứu Tống Hậu
1.4.1.1 Các vấn đề đã được nghiên cứu
Tục thờ Tống Hậu (Tứ vị Thánh nương) đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, chúng ta có thể khái quát những vấn đề đã được nghiên cứu: 1) nguồn gốc hình thành Tứ vị Thánh nương; 2) So sánh tục thờ Tống Hậu Việt Nam và Trung Quốc; 3) Tăng quyền cho Tống Hậu; 4) Đưa các nghi lễ Đạo Mẫu vào đền thờ Tống Hậu: hầu đồng, nâng số vị thần từ một lên bốn
Trước hết, về nguồn gốc hình thành Tứ vị Thánh nương, các nghiên cứu đều chỉ ra rằng tục thờ Tứ vị Thánh nương có nguồn gốc từ tục thờ thần cá của người Chăm bản địa (xem Tạ Chí Đại Trường 2006, Ninh Viết Giao 2009, Trần Thị An
2009, Ngô Đức Thịnh 2012) Sau đó là tín ngưỡng phồn thực và tín ngưỡng nữ thần của người Việt (xem Tạ Chí Đại Trường 2006, Ngô Đức Thịnh 2012, Nguyễn Hữu Thụ 2012) và cuối cùng là ảnh hưởng của cư dân tị nạn người Tống trước cuộc xâm lược của quân Nguyên (xem Trần Thị An 2009; Trần Quốc Tuấn 2013)
Tục thờ Tống Hậu ở Việt Nam hoàn toàn không giống với tục thờ ở Trung Quốc về mặt ý nghĩa thờ cúng tuy cả hai đều thừa nhận Tống Hậu (Dương Thái hậu) là một người có thật, một vị Hoàng Thái hậu triều đại cuối cùng nhà Tống Người Việt coi Tống Hậu – Tứ vị Thánh nương là vị thần biển phù trợ cho người đi biển còn người Hoa coi Ngài là một liệt nữ Tống Hậu ở Việt Nam được thờ ở nhiều nơi vùng ven biển, cửa sông còn ở Trung Quốc chỉ một nơi thờ bà là đền Mẫu Tân Hội (Quảng Đông), nơi được xem như kinh đô cuối cùng của nhà Nam Tống (xem Long Bằng 2013; Trần Lê Bảo 2013)
Trần Thị An cho rằng các vị nữ thần biển đều có một cung cách hiển thần,
tăng quyền khá tương đồng với một mô-típ quen thuộc: bị ném/rơi xuống biển (cái
chết bất đắc dĩ) – hóa thành thần – hiển linh: trừng phạt/phù hộ - được thờ cúng
Trang 3527
Công thức này tự thân nó thể hiện đậm đà sắc thái giới tính của các nhân vật được
thờ Sắc thái này còn được thể hiện trong cách sùng bái của người dân đối với các vị thần nữ mà ẩn chứa đằng sau sự yếu đuối, chịu đựng, sự bất lực trong cuộc sóng đời
thường là sức mạnh thiêng liêng khi họ hiển thần Sự khác nhau giữa nam thần biển
và nữ thần biển ở chỗ hệ thống các nam thần biển thể hiện sức mạnh chinh phục,
gắn với các trận chiến đấu trong khi hệ thống nữ thần biển thể hiện sự hòa giải thích ứng, sự phù hộ độ trì cho cư dân biển và các miền vũ trụ, sự thích ứng mềm mại trước các biến động tự nhiên, chính trị, xã hội ở mọi thời đại (Trần Thị An 2012:122-145)
Sự tăng lên từ một đến bốn trong tục thờ Tống Hậu - Tứ vị Thánh nương mà Tống Hậu là trung tâm của tín ngưỡng này đã cho thấy sự hội nhập sâu của tục thờ Tống Hậu vào tín ngưỡng dân gian Việt Nam, con số chẵn 2-4-6-8 thể hiện tính nữ (Tứ vị Thánh nương, Tứ vị vua bà, Tứ phủ), trong khi các con số lẻ như 3-5-7-9 thể hiện nam tính (Tam thế, Tam tài, Ngũ vị tôn ông) (Trần Thị An 2009, 2012) Việc đưa hầu đồng của Đạo Mẫu vào làm nghi lễ trong các đền thờ Tống Hậu (xem Võ Hoàng Lan 2009, Ngô Đức Thịnh 2012)
Nhìn chung các nghiên cứu đi trước đều đặt trọng tâm vào quá trình hình thành và hội nhập của tín ngưỡng Tống Hậu vào văn hóa dân gian Việt Nam dựa trên các văn bản truyền thuyết, thần tích và lễ hội Điều đó cho chúng ta nhìn một cách tổng quát về tín ngưỡng Tống Hậu - Tứ vị Thánh nương ở Việt Nam cung cấp một nguồn tư liệu phong phú và những kết luận khoa học quan trọng để các nhà nghiên cứu sau luận giải chuyên sâu về tín ngưỡng này
1.4.1.2 Những vấn đề đặt ra
Trên cơ sở tổng quan tình hình nghiên cứu, tôi nhận thấy các học giả đã có những đồng thuận về sự hình thành tín ngưỡng Tống Hậu - Tứ vị Thánh nương, mối liên hệ tín ngưỡng này với tục thờ nữ thần Việt Nam và tương quan với tục thờ thần biển của cư dân đi biển Tuy nhiên, có một số vấn đề chưa được các nhà nghiên cứu quan tâm làm rõ:
Trang 3628
Những nghiên cứu đi trước hầu hết đã khái quát chung về tục thờ Tống Hậu -
Tứ vị Thánh nương trên bình diện rộng lớn, chủ yếu là nghiên cứu trên các văn bản truyền thuyết sưu tầm được ở nhiều địa điểm và thời gian khác nhau Các nghiên cứu trường hợp tương đối ít và chủ yếu mang tính chất so sánh Trong nghiên cứu này, tôi muốn đi sâu vào phong tục thờ cúng tại một địa điểm cụ thể, một nghiên cứu trường hợp với phạm vi nhỏ hơn bằng các thông tin điền dã Quá trình hình thành tín ngưỡng, những đặc điểm thờ cúng nữ thần ở địa phương và đặc biệt tôi sẽ
sử dụng cách tiếp cận từ chủ thể văn hóa (tiếp cận emic), quan điểm của chủ thể với tín ngưỡng của mình theo hướng nhận thức luận Bởi chính người dân, đối tượng thờ cúng mới là những người tạo nên tín ngưỡng của mình
Trong nghiên cứu của mình tôi sẽ đi xem xét các yếu tố giới trong tín ngưỡng
nữ thần, đặc biệt vai trò của nữ thần đối với phụ nữ, những nhìn nhận khác nhau của chính người dân về Tống Hậu với các nữ thần khác và các nam thần Qua đó chúng
ta có thể nhận thấy vị trí của Tống Hậu trong khung cảnh chung tín ngưỡng nữ thần
ở Việt Nam, nhất là vùng Đồng bằng sông Hồng
Một số thảo luận xung quanh việc người Việt thờ Tống Hậu bên cạnh các các
nữ thần ngoại nhập nhất là những nữ thần xuất thân từ Trung Hoa, bản thân Tống Hậu cũng là một nữ thần ngoại nhập, sự giống và khác nhau trong quá trình hội nhập ấy là gì? Tại sao Tống Hậu có hình thức thờ cúng như ngày nay? Quan điểm của các nhà nghiên cứu đi trước trong việc thờ cúng nữ thần biển sẽ được đề cập trong luận văn này Do đó, tôi dựa trên các lý thuyết và cách tiếp cận Nhân học văn hóa để trả lời cho các câu hỏi trên
1.4.2 Cơ sở lý thuyết
Lý thuyết chức năng xuất hiện vào những năm 1920 của trường phái Nhân học
xã hội Anh Người đề xướng lý thuyết chức năng là Bronislaw Malinowski và Radcliffe-Brown (với lý thuyết cấu trúc chức năng) Lý thuyết chức năng ra đời gần như cùng thời với trường phái Đặc thù luận lịch sử của Mỹ do Franz Boas khởi xướng, cả hai đều phê phán Tiến hóa luận thế kỷ XIX, đề cao vai trò của thực địa đặc biệt là nghiên cứu các cộng đồng nhỏ cũng như việc học tiếng nói của người
Trang 3729
dân bản địa B.Malinowski nhấn mạnh đến nhu cầu của cá nhân (gồm cả nhu cầu sinh học như ăn uống, tình dục, cũng như nhu cầu thứ cấp như nghe một loại nhạc nào), tính duy lý của cá thể (tương trợ có qua có lại là nguyên tắc của quan hệ xã hội) và sự căng thẳng giữa nhu cầu cá nhân và quy ước xã hội Trong lễ nghi phong tục, ông quan tâm đến chức năng tâm sinh lý của cá thể Ông có một thời gian dài trong thế chiến thứ nhất thực địa trên quần đảo Trobriand ở Thái Bình Dương, ông
đã quan sát những người Trobriand khi đánh cá trong đầm mà không gặp nguy hiểm, họ không cần phải tiến hành nghi lễ phù phép gì Tuy nhiên, khi ra biển đánh
cá, độ rủi ro tăng cao và kết quả cũng bấp bênh hơn Những ngư phủ Trobriand thường làm lễ và phù phép để trấn an chính mình về mặt tâm lý mong được an toàn
và được mẻ cá to Malinowski đã đưa ra một giả thuyết là môi trường càng bất trắc, kết quả càng bấp bênh thì con người lại càng cần đến lễ nghi phù phép (Lương Văn
Hy & Trương Huyền Chi 2012:235-279) Chúng tôi giả định rằng các chức năng cá thể này gắn với từng lĩnh vực nào đó của con người, đặc biệt đối với người phụ nữ
họ cần đến những vị thần của mình (Nữ thần, Mẫu thần) để cầu mong sự bù đắp lại thứ mà họ đang thiếu trong cuộc sống như tâm lý, kinh tế, giáo dục con cái
Radcliffe-Brown kế thừa khuynh hướng nghiên cứu chức năng của nhà xã hội học Durkheim nghiên cứu chức năng của tổng thể các sự kiện xã hội Ông cho rằng tôn giáo có các chức năng: Tạo quy củ (áp đặt quy củ), và những cảm giác tích cực (đối trọng lại những cảm giác tiêu cực hay mất niềm tin), chức năng gắn kết (tăng cường đoàn kết) các thành viên trong cộng đồng, tạo và tái tạo sức sống di sản của một nhóm người và truyền đạt giá trị cho một thế hệ tiếp theo (xem Trần Hạnh Mai Phương 2013) Tôn giáo rất có hiệu quả trong việc gắn kết con người, đưa một cá nhân vào trong một cộng đồng bắt những cá nhân đó phải tuân thủ quy tắc chung của cộng đồng, bên cạnh đó là việc lưu giữ và trao truyền lại những giá trị tốt đẹp của cộng đồng cho từng thành viên của cộng đồng Lý thuyết chức năng có thể giúp chúng ta tìm hiểu những khía cạnh chung và riêng của từng con người trong cộng đồng, những nhân tố tác động đưa họ tìm đến tôn giáo, tìm đến vị thần của họ mà ở đây là Tống Hậu
Trang 3830
1.4.3 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Trong nghiên cứu của mình tôi sử dụng cách tiếp cận liên ngành và tiếp cận từ chủ thể văn hóa “tiếp cận emic” xuyên suốt luận văn Tôi cho rằng chính người dân, những “chủ thể văn hóa” mới là người quyết định ý nghĩa và thực hành tín ngưỡng văn hóa của mình Nhận thức của người dân về vai trò của nữ thần trong đời sống văn hóa và tín ngưỡng nữ thần trong mối liên hệ với phụ nữ tại địa phương
Tôi đã có hơn một năm quan sát và nghiên cứu tại địa bàn đền Mẫu Ninh Cường (xã Trực Phú, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định), tôi đã từng tham dự tất cả các dịp lễ lớn nhỏ trong năm như lễ hội, ngày kỷ niệm Hai Bà Trưng, ngày lễ tịch điền, lễ cuối năm và một số ngày rằm, mồng một hàng tháng Tôi có quan sát một
số khóa hầu tại đền Mẫu – Ninh Cường, một số nghi lễ tại đền như bán khoán, lễ tạ, v.v Bên cạnh đó tôi đã thực hiện những cuộc phỏng vấn sâu với 18 người về cách thực hành nghi lễ, quan niệm của họ về tín ngưỡng thờ Mẫu, sự khác nhau giữa mẫu Tống Hậu với các vị thần khác tại địa phương Những đối tượng phỏng vấn gồm: một số thành viên trong Ban quản lý di tích, ông bà Thủ từ, các cụ thường xuyên ra đền làm công việc nhà đền, người đi lễ, một số ông bà trưởng đoàn hội địa phương
và một số người dân Công giáo Các hình thức phỏng vấn như phỏng vấn cấu trúc theo bảng hỏi, phỏng vấn phi cấu trúc theo chủ đề nghiên cứu, trò chuyện thân mật
và thảo luận dưới sự có mặt của nhiều người Những đối tượng phỏng vấn sâu (một người) tôi để họ cho một lịch hẹn nhất định vào thời gian rảnh rỗi của họ, tôi có một khoảng thời gian từ 1,5 – 3 tiếng vừa trò chuyện, vừa trao đổi và đặt câu hỏi với người phỏng vấn Nội dung các cuộc phỏng vấn gồm sự so sánh lễ hội xưa (trước 1945), trước đổi mới (1986), và hiện nay; những phong tục tập quán xưa, những kỷ niệm của người được phỏng vấn về đền Mẫu, đi lễ và tính linh thiêng trong tâm linh của họ Quan điểm cá nhân của người được phỏng vấn về Mẫu Tống Hậu so sánh với các vị nữ thần khác như Liễu Hạnh, Ngọc Hoa Công Chúa, Thiên Hậu (những
vị nữ thần mà họ biết) v.v và các nam thần như Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt, Triệu Việt Vương là những vị thần được thờ nhiều gần địa bàn tôi nghiên cứu
Trang 3931
Bên cạnh đó, tôi kế thừa từ các kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu đi trước về nữ thần và Tống Hậu nhằm định hướng thông tin cho nghiên cứu của mình, những quan điểm, hướng tiếp cận lý thuyết, phương pháp tiếp cận giúp tôi có một nền tảng thông tin vững chắc trước khi bắt tay viết luận văn Đồng thời tôi có những trao đổi với giảng viên hướng dẫn nhằm định hướng nghiên cứu của mình
1.5 Tóm lƣợc về địa bàn nghiên cứu
1.5.1 Địa giới hành chính Ninh Cường qua các thời kỳ
Ninh Cường ngày nay gồm bốn xã: Trực Phú, Trực Thái, Trực Hùng, Trực Cường thuộc huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định Tuy nhiên, quá trình hình thành vùng đất Ninh Cường gắn liền với quá trình lịch sử huyện Hải Hậu bởi Ninh Cường
là một trong những nơi làm tiền đề cho công cuộc khai phá vùng đất Hải Hậu sau này
Thế kỷ XIV nơi đây còn là biển, chỉ có những cồn cát dọc ven biển chặn lại phù sa của sông Cường Giang dần dần tạo thành các xối nước: Xối Đông, Xối Tây, Xối Thượng, Xối Trì Có một vài nóc nhà gianh của dân chài lưới sống rải rác trên các xối nước đó Thế kỷ XV (1428) cụ Trần Quốc Hiến nhận thấy nơi đây có thể khai khẩn được liền huy động dân vùng Tương Dương xuống đây lập ấp.4 Cụ cho dân sống trên các Cồn Đất nhô lên khỏi mặt bể gọi là “Xôm” (Cồn thấp) “Trong làng” là danh từ gọi đất từ Nhất Trùng trở vào, từ đê sông Ninh đến đê Hồng Đức – đất cát cứng và già hơn “Ngoài bể” gọi từ Nhất Trùng trở ra (phía nam đê Hồng Đức đường 56 trở ra) bùn và cát non hơn “Trên làng” từ bắc đê Mộc đến đê sông Ninh thường là đất thịt (Trần Xuân Mậu 2004:7)
Năm 1471, Vua Lê Thánh Tông chỉ dụ đắp đê Hồng Đức dọc theo bờ biển từ cửa Lác Môn đến cầu Yên Định (ngày nay) dài 12km ngăn nước mặn, tạo lập đồng ruộng để nhân dân yên ổn sinh sống Tuy nhiên, sự nghiệp cụ Trần Quốc Hiến chưa thành thì mất Năm 1485 con trai cả của cụ là Trần Vu cùng các bạn đồng môn là Hoàng Gia, Phạm Cập, Vũ Chi đưa dân xuống khai khẩn bãi bồi Lạch Lác, tiếp tục quai đê lấn biển Dân cư sống trên các Xối nước, ban đầu gọi là xóm Phú Cường
4
Nay thuộc thị trấn Cổ Lễ, huyện Trực Ninh
Trang 4032
Khi đắp được đê Hồng Đức (đường 56 nay) thì Cồn Ấp trở thành Quần Cường Ấp
Các cụ chia Quần Cường ấp là, “Nội Thập Giáp, Ngoại Tứ Thôn” nghĩa là ở giữa
chia làm 10 giáp, bốn phương Quần Cường chia làm 4 thôn Đất giáp Nhất nằm phía Đông giáp với Cầu Đông nay thuộc xã Hải Trung đến Giáp Thập nằm ở địa phận Cầu Ngói phía Tây nay thuộc xã Hải Anh, ngày nay vẫn còn gọi các giáp theo các số thứ tự từ 1 đến 10 Còn bốn thôn là Đông Cường, Tây Cường, Bắc Cường và
Trung Cường Trong đó, Ninh Cường thuộc thôn Tây Cường Thôn Tây Cường còn
gọi là An Cường chia ra đất Cồn Khuôn còn gọi là Cồn Chăn, sau này là Cát Hạ, Cát Trung, Tuân Chử.5 Người đến Cồn Ấp sau phải ở ngoài các thôn này Khi thành
xã Quần Anh thì dân cư được mở rộng xuống ven đê Hồng Đức, khu Trung Cường Năm Lê Hồng Thuận thứ ba (1511), triều đình phân định hành chính, vùng đất Quần Cường ấp được thăng làm xã Quần Anh Lúc này xã Quần Anh thuộc Tổng Thần Lộ (sau thuộc Kim Giả), huyện Tây Chân (sau đổi là huyện Nam Chân thời Lê Trung Hưng), phủ Thiên Trường, trấn Sơn Nam Năm 1516, phả ký xã Kim Đê ghi
“năm 1516 Tứ tổ Mai, Phạm, Phan, Nguyễn từ Cầu Gai sang nhận đất ở Tây Quần
Cường” (Địa chí Hải Hậu 2009:18) Năm 1723 tách đất An Cường đổi làm xã Ninh
Cường
Năm 1804, vua Gia Long chuẩn y chia xã Quần Anh thành ba xã: Quần Anh Thượng, Quần Anh Trung, Quần Anh Hạ, hợp với xã Kim Đê hình thành tổng Kim Giả, thuộc huyện Nam Chân, trấn Sơn Nam Hạ
Năm 1822, trấn Sơn Nam Hạ đổi tên thành trấn Nam Định (sau là tỉnh Nam Định) Năm 1827, tách tổng Kim Giả để thành lập tổng Quần Anh, gồm các xã: Quần Anh Thượng, Quần Anh Trung, Quần Anh Hạ, Kim Đê, Ninh Cường, Phường Lác Môn, Lác Môn Trại, Tân Lác Lý
5
Chia đất 4 thôn: Thôn Bắc Cường gồm: Đầm Cát (sau thành xã Hùng Mỹ, thôn Phạm Rỵ xã Trung Hòa, xã An Ninh); Thôn Phạm Pháo; Xã Cát Thượng (sau xã Cát Thượng hợp vào xã Hải Minh và xã Hải Anh); Thôn Trung Cường chia ra phía Đông thành Nam Biên, phía Tây vẫn giữ tên Trung Cường; Thôn Đông Cường chia ra thành Đông Cường, Đông Biên, Bắc Biên (năm 1804 thuộc xã Quần Anh Hạ); Thôn Tây Cường còn gọi là An Cường chia ra đất Cồn Khuôn còn gọi là Cồn Chăn Sau là Cát Hạ, Cát Trung, Tuân Chử