Đánh giá kết quả chương trìnhtập gấp thụ động sớm sau phẫu thuật nối gân gấp bàn tay Báo cáo viên: Vu Vân Thanh Nhóm nghiên cứu:Vu Vân Thanh, Phạm Thị Ngọc Ái, Tống Hồ Ngọc Anh, Nguyễn T
Trang 1Đánh giá kết quả chương trình
tập gấp thụ động sớm sau phẫu thuật nối gân gấp bàn tay
Báo cáo viên: Vu Vân Thanh Nhóm nghiên cứu:Vu Vân Thanh, Phạm Thị Ngọc Ái, Tống Hồ Ngọc
Anh, Nguyễn Thị Lệ Hà, Hồ Quang Hưng, Viên Lập Phương
Bệnh viện Chợ Rẫy, Khoa Vật Lý Trị Liệu – Phục hồi chức năng
Trang 2Đặt vấn đề
• Tại BV Chợ Rẫy, các trường hợp mổ đứt gân
gấp được chỉ định tập VLTL sau 3 tuần, tương đương chương trình PHCN bất động Tỉ lệ cứng khớp và dính gân cao.
• Hiện nay trên thế giới đã áp dụng tập vận động sớm ngay sau mổ Ở trong nước vài nơi cũng đã áp dụng và đạt kết quả khả quan.
• Chúng tôi tiến hành nghiên cứu này để đánh giá hiệu quả của chương trình tập gấp thụ động
sớm.
Trang 3Phương pháp tập gấp thụ động sớm
3 Các bài tập vận động chủ động: trượt gân, đính gân, đặt – giữ,… sẽ được thực hiện từ tuần thứ 4 trở đi.
1 Gấp thụ động sớm được thực
hiện trong 3 tuần đầu tiên, thực
hiện với tay lành hay dây thun.
2 Phối hợp với duỗi thụ động hay
duỗi chủ động đến giới hạn của
nẹp ở mặt lưng
*Lịch tái khám: 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng, 5(6) tháng, 12 tháng.
Trang 4Lượng giá kết quả lúc 12 tuần
1 Tổng tầm vận động chủ động đạt được TAM (Total
Active Motion) theo Hiệp Hội Phẫu Thuật Bàn Tay Hoa Kì (ASSH:
American Society for Surgery of the Hand)
• TAM = [Tổng tầm vận động gấp (MP+PIP+DIP) – tổng tầm vận
Trang 5KẾT QUẢ
Trang 6Số trường hợp và thời gian theo dõi
Trong nhóm 21 ca theo dõi tối thiểu 03 tháng, thời gian theo dõi
trung bình là 5,3 tháng
Tổng số ca
43, 142 ngón
Mất 14 ca, 44 ngón
Trang 10PHCN tại khoa CTCH
• Thời gian nằm viện trung bình: 03 ngày (2 – 7)
• Số lần hướng dẫn tập trung bình: 1,95 lần (1 – 4)
• Số trường hợp đã thay nẹp trong lúc nằm viện: 03 (nẹp sai vì không bảo vệ được ngón cái).
• Số trường hợp dùng dây thun đầu ngón sau mổ là 10/43 ca.
• Tất cả đều xuất viện an toàn, trừ 1 trường hợp
không đổi nẹp ôm ngón cái (bị đứt lại sau này)
Trang 11Phục hồi tầm vận động lúc 3 tháng
Phân loại Nhóm theo dõi đủ Nhóm theo dõi không đủ
Trang 13Phân bố lực nắm theo tổn thương thần kinh kèm theo trong nhóm theo dõi đủ
Số ca Lực nắm (kg)
Trung bình (tối thiểu-tối đa)
Tổn thương thần kinh giữa 5 13,8 (11-19)
Tổn thương thần kinh trụ 2 9 (6-12)
Càng nhiều tổn thương thần kinh thì lực nắm càng thấp
Trang 14Phục hồi tầm vận động khi theo dõi
Trang 15Phục hồi lực nắm khi theo dõi sau
Trang 16Biến chứng
1.Đứt gân : có 2/43 ca, 2/142 ngón (1,4%)
– 1 ca có tổn thương 2 ngón: ngón 3 vùng II và ngón 4 vùng I Trường hợp này đứt lại ngón 3, không mổ lại
– 1 ca có tổn thương 3 ngón 1, 2, 3 vùng V, mang nẹp bột sau phẫu thuật nhưng không ôm ngón cái Đứt lại
ngón 1 vào tuần 3 sau mổ Bệnh nhân được mổ nối gân lại ở tuần thứ 5
2.Dính gân
– Mổ lại do dính: 01 ca Trường hợp này tổn thương 5 ngón vùng V Ở tháng thứ 4, TAM các ngón 1, 4 và 5 rất tốt; ngón 3 tốt, ngón 2 đạt kết quả trung bình
– Có 5 ca phải mang nẹp kéo dãn, trong đó là 3/10 ca có dây thun và 2/33 ca không có dây thun
Trang 17BÀN LUẬN
Trang 18Sự phục hồi tầm vận động và lực nắm
• Tỉ lệ phục hồi tầm vận động rất tốt và tốt chiếm 85%,
tương đương tác giả Phạm Đình Ngân Thanh 78,95%
• Tuy nhiên, lực nắm trung bình là 10,35 kg (31,5% so với tay bệnh) thấp hơn kết quả của tác giả Phạm Đình Ngân Thanh là 13 kg (42%) Điều này có thể lý giải là do
nghiên cứu chúng tôi có tổn thương đa số ở vùng 5,
thường có tổn thương thần kinh đi kèm nên lực nắm sẽ
bị ảnh hưởng Số liệu cho thấy tổn thương càng nhiều dây thần kinh thì sẽ cho kết quả kém hơn
Trang 19Thời gian theo dõi
• Nhóm theo dõi tái khám đủ 3 lần trong 3
tháng đầu có kết quả phục hồi tốt hơn nhóm theo dõi không đủ cho thấy tầm quan trọng
của việc theo dõi thường xuyên.
• Sau 3 tháng, tầm vận động khớp vẫn còn cải thiện tuy không nhiều Lực nắm tiếp tục cải
thiện rõ vì thần kinh cần thời gian hồi phục lâu hơn.
Trang 20Biến chứng
• Tỉ lệ đứt lại chiếm 1,4%, thấp so với
nghiên cứu của tác giả Phạm Đình
Ngân Thanh là 3,6% Nằm trong giới
hạn tỉ lệ đứt gân chung là 5%
• Sự sử dụng dây thun đầu ngón sau mổ,
nếu bệnh nhân không tập duỗi tốt thì có
nguy cơ bị co rút gấp ngón và phải
mang nẹp kéo dãn lúc 7-8 tuần để điều
trị sự co rút
• Biến chứng bỏng do tổn thương thần
kinh thường không được dự phòng tốt,
khi xảy ra cản trở việc tập luyện
Trang 21Kết luận
• Có 21 trường hợp với 77 ngón tay được đánh giá lúc 3 tháng
• Thời gian theo dõi trung bình là 17 tuần
• Tổn thương gân gấp vùng 5 chiếm 87%
• Tổn thương thần kinh kèm theo chiếm 90%
• Tại thời điểm 3 tháng, kết quả phục hồi tầm vận động là rất tốt-tốt chiếm 85%, lực nắm trung bình là 10,35 kg, tỉ
lệ lực nắm tay bệnh so với tay lành là 27%
• Tỉ lệ đứt lại là 1,4 %
• Chương trình tập gấp thụ động sớm sau mổ nối gân gấp ngón tay là hiệu quả và an toàn
Trang 22• Trường hợp 1: BN nam, 21 tuổi, làm rẫy, thuận tay phải Chẩn đoán đứt gân gấp cổ tay quay, gân gấp nông sâu các ngón 1-2-3-4-5
vùng V tay trái, đứt thần kinh trụ, giữa Sau mổ mang nẹp bột đến
tuần thứ 5.
TAM Xếp loại
TAM
Lực nắm Tuần 5 Tuần 9 Tuần 13
Ngón 1 3% 50% 75% Tốt (T)=5kg,
(P)=32kg Ngón 2 11% 76% 89% Tốt
Ngón 3 11% 69% 82% Tốt Ngón 4 12% 71% 79% Tốt Ngón 5 13% 81% 95% Tốt
Trang 23• Trường hợp 2: Nam, 28 tuổi, thợ sơn nước, thuận tay phải Chẩn đoán đứt gân gấp nông sâu ngón 1-2-3 vùng IV ngón 4-5 vùng V tay trái, đứt thần kinh trụ, giữa Sau mổ mang nẹp vải có dây thun đầu ngón đến tuần thứ 5 Cho mang nẹp kéo dãn co rút ngón ở tuần thứ 7.
TAM Kết quả TAM Lực nắm Tuần 4 Tuần 7 Tuần 9 Tuần 13
Ngón 1 32,9% 45% 60% 80% Tốt (T)=2kg,
(P)=38kg Ngón 2 4% 21,5% 40% 70% Trung bình
Ngón 3 5% 20,8% 64,6% 82% Tốt
Ngón 4 6,7% 22,3% 67,7% 78% Tốt
Ngón 5 4% 26,2% 71,5% 85% Tốt