luận văn thạc sĩ, tiến sĩ, cao học, luận văn
Trang 1lời cam đoan
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và ch−a hề đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đ−ợc cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã
đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Đinh Thị Nh−
Trang 2Lời cám ơn
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân còn có sự quan tâm giúp đỡ của các tập thể và cá nhân, cùng với sự động viên của bạn bè và đồng nghiệp
Nhân đây, chúng tôi xin chân thành cám ơn:
Sự hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của Tiến sĩ Nguyễn Văn Viên-Phó trưởng bộ môn bệnh cây-Nông dược, trường Đại học Nông Nghiệp I-Hà Nội; Thạc sĩ Dương Minh Tú-Giám đốc Trung tâm giám định kiểm dịch thực vật-Cục Bảo vệ thực vật
Ban chủ nhiệm khoa Nông học, Ban chủ nhiệm khoa sau đại học-Trường
Đại học Nông nghiệp I-Hà Nội và Ban giám đốc Cục Bảo vệ thực vật đã tạo
điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và hoàn thành luận văn đúng tiến độ
Tập thể giáo viên bộ môn bệnh cây-Nông dược-Trường Đại học Nông nghiệp I-Hà Nội và tập thể cán bộ Trung tâm Giám định kiểm dịch thực vật-Cục Bảo vệ thực vật đã giúp đỡ về cơ sở vật chất để hoàn thành các thí nghiệm của luận văn
Sự động viên và giúp đỡ của gia đình, bạn bè và đồng nghiệp
Tác giả luận văn
Đinh Thị Như
Trang 3mục lục
Chương 2: Tổng quan tài liệu
2.1.1 Vị trí phân loại của cỏ Striga lutea Lour 4
2.1.4 Một số đặc điểm hình thái, sinh học của cỏ Striga lutea
Lour
6
2.1.5 Biện pháp phòng trừ cỏ Striga lutea Lour 11
Trang 4chương 3: vật liệu, địa điểm, nội dung và
phương pháp nghiên cứu
Trang 5chương 4: Kết quả và thảo luận
4.1 Kết quả điều tra phát hiện, giám định cỏ Striga lutea
Lour ở Việt Nam
29
4.2 Kết quả điều tra tình hình phân bố của cỏ Striga lutea
Lour ở một số tỉnh, thành phố của Việt Nam
4.3 Kết quả nghiên cứu một số đặc điểm hình thái và sinh
học của cỏ Striga lutea Lour
35
4.3.1 Kết quả nghiên cứu một số đặc điểm hình thái cỏ Striga
lutea Lour ở Việt Nam
4.3.4 ảnh hưởng của chất kích thích nảy mầm tự nhiên đến sự
nảy mầm của hạt cỏ Striga lutea Lour
48
4.3.4.1 ảnh hưởng của chất tiết từ rễ ngô (Zea mays) tới tỷ lệ nảy
mầm của hạt cỏ Striga lutea Lour
48
4.3.4.2 ảnh hưởng của chất tiết từ rễ cao lương (Sorghum bicolor)
tới tỷ lệ nảy mầm của hạt cỏ Striga lutea Lour
49
4.3.4.3 ảnh hưởng của chất tiết từ rễ lúa nương (Oryza sativa) tới
tỷ lệ nảy mầm của hạt cỏ Striga lutea Lour
50
Trang 64.3.5 ảnh hưởng của chất kích thích tổng hợp đến sự nảy mầm
của hạt cỏ Striga lutea Lour
54
4.3.6 ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự nảy mầm của hạt cỏ
Striga lutea Lour
56
4.3.7 ảnh hưởng của thời gian bảo quản đến sự nảy mầm của
hạt cỏ Striga lutea Lour
4.4.3.1 Khảo sát hiệu lực của một số thuốc trừ cỏ đối với cỏ
Striga lutea Lour
64
4.4.3.2 Khảo sát hiệu lực của một số thuốc trừ cỏ đối với cỏ ký
chủ của cỏ Striga lutea Lour
66
4.4.3.3 Khảo sát hiệu lực của thuốc Gramoxone 20 SL ở một số
liều lượng khác nhau đối với cỏ Striga lutea Lour và cỏ
ký chủ của chúng
67
4.4.3.4 Khảo sát hiệu lực của thuốc Ally 20 DF 20 SL ở một số
liều lượng khác nhau đối với cỏ Striga lutea Lour và cỏ
ký chủ của chúng
70
Trang 8danh mục các bảng số liệu
Bảng 4.1: Tình hình phân bố của cỏ Striga lutea Lour tại một số tỉnh,
thành phố của Việt Nam
Bảng 4.2: Đặc điểm đất đai nơi phát hiện thấy cỏ Striga lutea Lour
Bảng 4.3: Ký chủ của cỏ Striga lutea Lour
Bảng 4.4: Tình hình sinh trưởng, phát triển của cỏ Striga lutea Lour
Bảng 4.5: ảnh hưởng của chất tiết từ rễ ngô (Zea mays) tới tỷ lệ nảy
mầm của hạt cỏ Striga lutea Lour
Bảng 4.6: ảnh hưởng của chất tiết từ rễ cao lương (Sorghum bicolor) tới
tỷ lệ nảy mầm của hạt cỏ Striga lutea Lour
Bảng 4.7: ảnh hưởng của chất tiết từ rễ lúa nương (Oryza sativa) tới tỷ lệ
nảy mầm của hạt cỏ Striga lutea Lour
Bảng 4.8: ảnh hưởng của chất kích thích tổng hợp tới tỷ lệ nảy mầm của
hạt cỏ Striga lutea Lour
Bảng 4.9: ảnh hưởng của nhiệt độ tới tỷ lệ nảy mầm của hạt cỏ Striga
lutea Lour
Bảng 4.10: ảnh hưởng của thời gian bảo quản tới tỷ lệ nảy mầm của hạt
cỏ Striga lutea Lour
Bảng 4.11: ảnh hưởng của chiếu xạ Cobalt-60 tới tỷ lệ nảy mầm của hạt
cỏ Striga lutea Lour
Bảng 4.12: Hiệu quả xử lý hạt cỏ Striga lutea Lour bằng Methyl bromide
Trang 9Bảng 4.13: Hiệu lực của một số thuốc trừ cỏ đối với cỏ Striga lutea Lour
Bảng 4.14: Hiệu lực của một số thuốc trừ cỏ đối với cỏ ký chủ của cỏ
Striga lutea Lour
Bảng 4.15: Hiệu lực của thuốc trừ cỏ Gramoxone 20 SL ở một số liều
l−ợng khác nhau đối với cỏ Striga lutea Lour
Bảng 4.16: Hiệu lực của thuốc trừ cỏ Gramoxone 20 SL ở một số liều
l−ợng khác nhau đối với cỏ ký chủ của cỏ Striga lutea Lour
Bảng 4.17: Hiệu lực của thuốc trừ cỏ Ally 20 DF ở một số liều l−ợng khác
nhau đối với cỏ Striga lutea Lour
Bảng 4.18: Hiệu lực của thuốc trừ cỏ Ally 20 DF ở một số liều l−ợng
khác nhau đối với cỏ ký chủ của cỏ Striga lutea Lour
Trang 10danh mục các hình
Hình 4.1: Địa điểm phát hiện thấy cỏ Striga lutea Lour tại Bản Khuổi
Tẳng-Mẫu Sơn-Lạng Sơn Hình 4.2: Bộ rễ cỏ Striga lutea Lour trên rễ cỏ lông may (Chrysopogon
aciculatus (Retz.) Trin.)
Hình 4.3: Giác bám của cỏ Striga lutea Lour trên rễ cỏ lông may
(Chrysopogon aciculatus (Retz.) Trin.)
Hình 4.4: Đoạn thân cỏ Striga lutea Lour mamg lá và nhánh
Hình 4.5: Hoa cỏ Striga lutea Lour màu vàng
Hình 4.6: Hoa cỏ Striga lutea Lour màu đỏ da cam
Hình 4.7: Hoa cỏ Striga lutea Lour màu đỏ tía
Hình 4.8: Qủa cỏ Striga lutea Lour
Hình 4.9: Hạt cỏ Striga lutea Lour
Hình 4.10: Cỏ lông may (Chrysopogon aciculatus (Retz.) Trin.)
Hình 4.11: Cỏ bông nâu (Eragrostis zeylanica Nees et Mey)
Hình 4.12: Cỏ lông sương (Ischeamum indicum L.)
Hình 4.13: Cỏ mía (Rottboellia exaltata Linn.f.)
Hình 4.14: Cỏ lá tre (Paspalum conjugatum Berg.)
Hình 4.15: Cỏ trứng ếch (Paspalum orbiculare G Forster)
Hình 4.16: Hạt cỏ Striga lutea Lour nảy mầm nhờ chất tiết từ rễ ngô LVN
10, ở nhiệt độ 30 0C
Trang 11Hình 4.17: Hạt cỏ Striga lutea Lour nảy mầm nhờ chất tiết từ rễ cao
lương KU-439, ở nhiệt độ 30 0C
Hình 4 18: Hạt cỏ Striga lutea Lour nảy mầm nhờ Hum-Na 0,03%, ở
nhiệt độ 30 0C Hình 4.19: Hạt cỏ Striga lutea Lour không nảy mầm được sau xử lý chiếu
xạ Cobalt-60 ở liều 15 KGy Hình 4.20: Hạt cỏ Striga lutea Lour không nảy mầm được sau xử lý bằng
Methyl bromide ở liều 80 gam CH3Br/m3/24 giờ
Trang 12Chương 1: Mở đầu
1.1 Đặt vấn đề
Cỏ dại là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm giảm năng suất và phẩm chất cây trồng Thậm chí những nơi cỏ dại mọc nhiều có thể làm mất mùa hoàn toàn Theo số liệu thống kê của Mỹ năm 1972 thì hàng năm cỏ dại làm giảm 11,5% tổng sản lượng lương thực toàn thế giới [45] Cỏ dại cạnh tranh ánh sáng, nước và chất dinh dưỡng với cây trồng Đặc biệt, có những loài cỏ dại ký sinh trên cây trồng, chúng sử dụng trực tiếp nguồn dinh dưỡng
mà cây trồng tổng hợp được, kìm hãm mạnh mẽ sự sinh trưởng, phát triển của cây trồng dẫn đến làm giảm năng suất cây trồng
Trong những năm gần đây, các nhà khoa học đã chú trọng nhiều tới nhóm cỏ dại ký sinh này vì thiệt hại do chúng gây ra cho cây trồng là rất lớn
đồng thời việc phòng trừ chúng còn gặp nhiều khó khăn [32]
Theo Johann Visser (1981) [43] thì có tới hàng nghìn loài cỏ dại ký
sinh trên cây trồng Tuy nhiên, loài cỏ Striga lutea (Họ hoa mõm sói:
Scrophulariaceae) có phân bố rộng nhất trên thế giới và gây thiệt hại lớn nhất cho cây trồng, đặc biệt là cây lương thực như: Ngô, cao lương, kê và lúa
cạn [51] Cỏ S lutea là loài cỏ sống bán ký sinh trên rễ cây trồng, phân bố
chủ yếu ở vùng nhiệt đới
Thiệt hại hàng năm do loài cỏ này gây ra trên cây trồng là rất lớn Theo LeRoy G.Holm (1977) [51], trong những năm 1930 trên cao lương và ngô ở Nam Phi, loài cỏ này đã gây ra những thiệt hại cao hơn so với thiệt hại do bệnh cây và côn trùng gây ra Nghiên cứu của tổ chức lương thực và Nông
nghiệp của liên hiệp quốc (FAO, 1986) [32], trung bình cỏ Striga làm giảm
năng suất cây trồng từ 25-50% Đặc biệt, ở Tây Phi là nơi thường xuyên bị cỏ
Trang 13Striga gây hại nặng, hàng năm thiệt hại do chúng gây ra khoảng 7 triệu đô la
Mỹ [19]; do đó, chúng đã ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống hơn 400 triệu
người châu Phi, Trung Đông và ấn Độ [58] Như vậy, cỏ S lutea đã trở thành
loài dịch hại nguy hiểm đối với cây trồng ở nhiều nước trên thế giới Hiện nay, nhiều nước đã liệt kê loài cỏ này vào danh mục đối tượng kiểm dịch thực vật (KDTV) như: Mỹ, Isrel, Newzealand, Liên Xô, úc,
ở nước ta, cỏ dại trong lĩnh vực KDTV chưa được quan tâm nhiều vì việc kiểm tra, phát hiện và phòng trừ chúng trên hàng hoá là khó khăn hơn nhiều so với các đối tượng là côn trùng, nấm bệnh, Trong vài năm gần đây, khi mở rộng quan hệ trao đổi, buôn bán thực vật và sản phẩm thực vật với các nước trong khu vực ASEAN (Đông Nam châu á) cũng như nhiều nước trên thế giới thì cỏ dại trong KDTV mới thực sự được quan tâm và được đặt ngang tầm quan trọng cùng với các loài đối tượng kiểm dịch thực vật khác
Cỏ Striga lutea được đưa vào danh mục đối tượng kiểm dịch thực vật
của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 do có tiềm năng gây hại có ý nghĩa về kinh tế và phân bố hẹp trên lãnh thổ nước ta Hiện nay, loài
cỏ này đang là đối tượng kiểm dịch thực vật thuộc nhóm II Việc triển khai nghiên cứu về phân bố, đặc điểm sinh học, sinh thái và biện pháp phòng trừ cỏ
S lutea nhằm có được những thông tin cần thiết làm cơ sở khoa học cho việc
đánh giá nguy cơ dịch hại của loài cỏ này ở Việt Nam là yêu cầu cấp bách của công tác kiểm dịch thực vật hiện nay Vì thế, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
"Nghiên cứu một số đặc điểm phân bố, ký chủ, sinh học và biện
pháp phòng trừ cỏ ma ký sinh (Striga lutea Lour.) ở Việt Nam"
Trang 141.2 Mục đích, yêu cầu:
1.2.1 Mục đích
Thu thập dẫn liệu khoa học về cỏ Striga lutea để phục vụ cho việc đánh
giá nguy cơ dịch hại và sửa đổi danh mục đối t−ợng kiểm dịch thực vật của Việt Nam
1.2.2 Yêu cầu
- Điều tra phân bố và ký chủ của cỏ Striga lutea tại một số tỉnh, thành phố
- Nghiên cứu đặc điểm hình thái và sinh học của cỏ Striga lutea
- Nghiên cứu một số biện pháp phòng trừ cỏ Striga lutea
Trang 15Chương 2: Tổng quan tài liệu
2.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài
Trên thế giới có tới 10 họ thực vật xuất hiện các loài cây có hoa có khả năng ký sinh và gây hại lớn cho cây trồng Một số loài cỏ ký sinh nguy hiểm nhất trên thế giới nằm trong họ hoa mõm sói (Scrophulariaceae) Trong đó, chủ yếu là các loài cỏ thuộc chi Striga Chi Striga có khoảng 60 loài và ít nhất
có 11 loài có thể ký sinh và gây hại cho các cây trồng nhiệt đới quan trọng
như: Ngô (Zea mays L.), cao lương (Sorghum bicolor L.), kê (Pennisetum spp.), lúa nương (Oryza sativa), mía và nhiều loài cỏ làm thức ăn gia súc Nhưng cỏ Striga lutea là loài gây hại lớn nhất cho cây trồng [21], [32], [43],
[51]
2.1.1 Vị trí phân loại của cỏ Striga lutea Lour
Tên khác: Buchnera asiatica L 1753, Buchnera hirsuta Benth 1835,
Striga asiatica (L.) O Kuntze 1891,…
Tên tiếng Anh: Witch weed
Tên Việt Nam: Cỏ ma ký sinh, Voòng phá
Họ hoa mõm sói: Scrophulariaceae
Bộ: Scrophulariales
Lớp hai lá mầm: Dicotyledonae
2.1.2 Phân bố của cỏ Striga lutea Lour
Cỏ Striga lutea lần đầu tiên được Linnaeus tìm thấy ở đảo Comoro gần Madagascar và được ông đặt tên là Buchnera asiatica vào năm 1753 Đến năm 1790, Loureiro đã tách chi Striga từ chi Buchnera và dùng tên Striga lutea
Trang 16cho mẫu cỏ Striga lutea có hoa màu vàng chanh thu từ ấn Độ Sau đó, loài cỏ này được gọi với nhiều tên khác nhau như: Buchnera hirsuta Bentham 1835,
Striga hirsuta, Striga asiatica, Nhưng đến nay, cỏ Striga lutea được nhiều
nhà khoa học sử dụng với tên Striga lutea Loureiro (hay Striga lutea Lour.) hoặc Striga asiatica [L.] O Kuntze [21] Như vậy, cỏ Striga lutea có nguồn
gốc ở châu á [49]
Hiện nay, cỏ Striga lutea xuất hiện phổ biến ở vùng nhiệt đới, từ châu
Phi đến miền đông châu á, ở Nam Trung Quốc và Philippines (gồm 58 nước trên thế giới) Đồng thời, là loài cỏ dại gây hại phổ biến ở Nam Phi, Sudan, ấn
Độ, Pakistan, New Zealand, úc, Mỹ (Bắc và Nam Carolina) và một số nước vùng Đông Nam châu á (In-đô-nê-xi-a, Thái Lan, My-an-ma) [1], [21], [34], [68], [73], [74]
2.1.3 Tác hại của cỏ Striga lutea Lour
Nhìn chung khi cây trồng bị cỏ Striga lutea tấn công thì năng suất sẽ bị
giảm trung bình từ 10-90%
Theo nghiên cứu của Saunders (1933) [66] thì năng suất ngô ở Mỹ bị
giảm 20% khi bị cỏ Striga lutea xâm nhiễm năm đầu tiên và đến năm thứ 3
năng suất ngô bị mất hoàn toàn Trên ngô ở Nam ấn Độ năng suất trung bình
bị giảm 21% do cỏ Striga lutea gây ra [21] Năng suất ngô ở Tây Phi bị giảm tới 90% do cỏ Striga [23]
Năng suất lúa nương ở ấn Độ cũng bị giảm từ 80-90% thậm chí nhiều
nơi nông dân phải bỏ đất hoang vì sự xâm lấn của cỏ Striga lutea quá lớn [51]
Đặc biệt, ở các nước châu Phi cỏ Striga lutea là dịch hại phổ biến và
thường xuyên gây hại nghiêm trọng trên cao lương và ngô; năng suất cao lương và ngô hàng năm giảm từ 10-100% [57] Do vậy, theo tổ chức Lương
Trang 17thực và Nông nghiệp của Liên Hiệp Quốc (FAO) [19] thì hàng năm có tới hàng trăm triệu người dân châu Phi bị mất một nửa tổng sản lượng cây trồng
do cỏ Striga lutea Thật vậy, kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học về thiệt hại do cỏ Striga lutea cho thấy trung bình hàng năm chúng làm mất 40% tổng
sản lượng cây trồng ở tất cả các nước châu Phi (tương ứng với 7 triệu USD) Trong đó, các nước đông Phi mất 20-95% sản lượng cây trồng; Gambia mất 20-35% tổng sản lượng cây trồng; Sudan mất 60% tổng sản lượng cây trồng
hàng năm do cỏ Striga ký sinh gây hại Ngay cả những nơi có điều kiện phòng trừ cỏ Striga tốt mà khi có cỏ Striga lây nhiễm trên đồng ruộng thì năng suất
cao lương cũng bị giảm khoảng từ 3-4 kg/ha tương ứng với mật độ cỏ là 100
cây cỏ Striga/ha và năng suất ngô bị giảm khoảng 5-6 kg/ha tương ứng với mật độ cỏ là 100 cây cỏ Striga/ha [17], [19], [20], [48]
2.1.4 Một số đặc điểm hình thái, sinh học của cỏ Striga lutea Lour
Cỏ Striga lutea là loài cỏ bán ký sinh trên rễ ngô, cao lương, lúa nương,
kê, mía và 1 số loài cỏ dại họ hoà thảo (Poaceae)
Là cỏ hàng năm, chiều cao cây biến động từ 7 cm-30 cm thậm chí lên tới 40-50 cm [21], [51]
Đặc điểm nổi bật của loài này là hoa có nhiều màu sắc khác nhau, màu sắc hoa biến đổi rất lớn giữa các quần thể ở các vùng sinh thái khác nhau
Chẳng hạn, ở phía bắc của miền trung Namibia thì chủ yếu là thứ hoa màu đỏ tươi; ngoài ra, cũng có thứ hoa màu xanh và hoa màu đỏ gạch nhưng ít [56]
ở châu Phi hoa của Striga lutea chủ yếu có màu đỏ tươi, vàng da cam
và màu vàng Trong khi đó ở các nước châu á thì hoa của loài Striga lutea chủ
yếu là màu trắng, vàng, màu hồng và có cả màu đỏ tía [55]
Trang 18Người ta ghi nhận được hình như ở mỗi vùng sinh thái khác nhau thì thứ hoa ký sinh trên cây trồng khác với thứ hoa ký sinh trên cỏ dại Ví dụ, theo tài liệu của CABI (2003) [21] thì ở Nam và Đông Phi thứ hoa màu đỏ gây hại trên cây trồng là chủ yếu, còn thứ hoa màu vàng cũng ký sinh trên cây trồng nhưng chỉ xảy ra ở một vài địa phương và thường ký sinh trên cỏ dại ở ấn Độ và Myanmar thì hầu hết là thứ hoa màu trắng ký sinh trên cây trồng Cả hai thứ hoa màu đỏ và màu trắng đều ký sinh gây hại trên cây trồng ở Arabia Tuy nhiên, thứ hoa màu vàng đôi khi cũng ký sinh gây hại cho cây trồng ở Tây Phi, Đông nam châu á (Thái Lan, In-đô-nê-xi-a) và Trung Quốc
ở ấn độ và Đông Nam châu á, người ta ghi nhận hiện tượng cùng một màu hoa nhưng loại hoa có kích thước nhỏ thì ký sinh trên cỏ dại còn loại hoa
có kích thước lớn hơn thì ký sinh trên cây trồng; cụ thể là thứ hoa nhỏ màu hồng và màu đỏ tía thường ký sinh trên cỏ dại
Như vậy, ở mỗi vùng khác nhau thì thứ ký sinh trên cây trồng có màu sắc và kích thước hoa khác với thứ ký sinh trên cỏ dại Nhưng thường trong một vùng tồn tại nhiều thứ có màu sắc hoa khác nhau Chính vì vậy, khả năng
ký sinh gây hại của cỏ Striga lutea trên cây trồng là rất lớn
Đến nay, đã có rất nhiều các nhà khoa học nghiên cứu về đặc điểm sinh
học của cỏ Striga lutea làm cơ sở khoa học cho biện pháp phòng trừ chúng
Bằng phương pháp sử dụng chất đánh dấu phóng xạ, Rogers W.E và
Nelson R.R (1962) [65] đã chứng minh cỏ Striga lutea là một loài cỏ bán ký
sinh trên rễ cây ký chủ Nghĩa là chúng không chỉ hút nước và chất dinh
dưỡng từ ký chủ mà nó còn có khả năng quang hợp được vì trong cây Striga
lutea có chứa sắc tố quang hợp chính chlorophyll a
Shah et al (1984) [60] đã chỉ ra rằng các loài cỏ Striga spp chỉ quang hợp được 20% so với cây bình thường Vì thế, khi hạt cỏ Striga lutea nẩy mầm
Trang 19và bám được vào rễ cây ký chủ thì ngay lập tức nó hình thành chồi và các rễ
hút Khi đó, có tới 35% lượng các-bon cần thiết cho cây cỏ Striga lutea phát
triển được lấy từ sản phẩm quang hợp của cây ký chủ Đồng thời, khả năng
thoát hơi nước của cây cỏ Striga lutea lớn hơn rất nhiều so với cây bình
thường, thậm chí ngay cả ở điều kiện khô hạn; do đó, khả năng hút nước và
chất dinh dưỡng của cỏ Striga lutea từ cây ký chủ luôn đạt ở mức cao nhất [14] Chính vì thế, cỏ Striga lutea đã làm giảm sự sinh trưởng, phát triển và
năng suất của cây ký chủ
Mặt khác, cỏ Striga lutea còn có khả năng phát tán gây hại rất lớn vì:
Hạt cỏ rất nhỏ và nhẹ như hạt bụi (kích thước hạt nhỏ hơn 0,5 mm, nặng khoảng 5 àg) Số lượng hạt cỏ trên cây rất lớn, thường mỗi cây có thể sinh ra hàng trăm đến hàng nghìn hạt và thậm chí có tới 50.000-500.000 hạt/cây Hạt
cỏ có khả năng giữ sức nẩy mầm trong thời gian dài trên đồng ruộng [14], [15], [21], [34], [47], [49], [51], [59]
Hạt cỏ S lutea có khả năng phát tán đi xa nhờ gió, nước, gia súc, hạt
cây trồng, Trong đó, khả năng phát tán do lẫn với hạt cây trồng là chủ yếu
Kết quả nghiên cứu về sự phát tán hạt cỏ S lutea của D.K Berner et al năm 1991-1992 tại một số vùng ở Tây Phi [19] cho thấy: Hạt cỏ Striga spp
phát tán mạnh nhất do lẫn trên hạt cây trồng; ngoài ra, chúng có thể phát tán nhờ gia súc nhưng không đáng kể Thể hiện là kết quả nghiên cứu về sự phát tán của hạt nhờ gió cho thấy hạt của chúng có thể bay đi nhờ gió ở độ cao tối
đa là 2 m và khoảng cách bay tối đa là 12 m Nghiên cứu về khả năng phát tán
của hạt cỏ do gia súc thấy rằng trong phân gia súc ở vùng không có cỏ Striga spp có từ 0-2 hạt cỏ Striga spp còn nguyên vẹn/1 mẫu phân (1 kg) Trong khi
đó thì tất cả các mẫu hạt cây trồng lấy từ các chợ ở các địa phương của
Nigeria trong 2 năm 1991-1992 đều phát hiện thấy hạt cỏ Striga spp Trung
Trang 20bình trên hạt đậu có 20,9 hạt Striga/1 mẫu (1-3 kg), trên ngô trung bình có 32,4 hạt Striga/mẫu (1-3 kg), trên kê có trung bình 24,2 hạt Striga/1 mẫu (1-3 kg) và trên cao lương có trung bình 27,3 hạt Striga/1 mẫu (1-3 kg)
Theo Fred K.Kanapiu et al (2003) [34] thì hạt cỏ S lutea có khả năng
tồn tại trong đất nhiều năm và khi gặp điều kiện thuận lợi nó sẽ nảy mầm
Nghiên cứu của Kostermans et al (1987) [49] cho thấy hạt cỏ Striga lutea có
thời gian ngủ nghỉ từ 18 tháng đến trên 20 năm Theo CABI (2003) [21] thì hạt cỏ này có khả năng giữ sức nẩy mầm ở trong đất ít nhất là 10 năm và thậm chí chúng có thể kéo dài sức sống tới 20 năm
Tuy nhiên, không phải tất cả các hạt cỏ Striga spp phát tán tới các vùng
đều có khả năng lây nhiễm và gây hại cho cây trồng Bởi vì hạt cỏ này chỉ nẩy mầm được khi có chất kích thích tiết ra từ rễ cây ký chủ thích hợp
Các nghiên cứu cho thấy có nhiều chất kích thích tự nhiên và chất kích
thích tổng hợp có khả năng kích thích hạt cỏ S lutea nảy mầm Nhìn chung
các chất kích thích nảy mầm hạt của loài cỏ này đều là các hợp chất lactone như: Strigol, Sogolactone, Ethylene,
Theo Robert (1968) [63], các dung dịch hoá học như: Thiourea, Allythioure, Kinetin và 6-Substitude aminopurines là các chất kích thích nảy
mầm hạt cỏ Striga lutea hữu hiệu
Egley và Dale (1970) [24] cho thấy Ethylene là chất kích thích nảy mầm có hiệu qủa tốt đối với loài cỏ này (tỷ lệ nảy mầm của hạt cỏ có thể đạt tới 90%) Do đó, Eplee và Witt et al (1972-1975) [27], [28], [72] đã sử dụng
khí Ethylene để kích thích hạt cỏ Striga lutea ở trong đất nảy mầm và diệt trừ
chúng đạt hiệu quả cao
Trang 21Năm 1972, kết quả nghiên cứu của Egley G.H [25] đã chỉ ra rằng các chất kích thích sinh trưởng như Gibberellin (GA3) và Auxin (IAA) cũng làm
tăng tỷ lệ nảy mầm của hạt cỏ Striga lutea
Theo Hsiao et al (1981, 1987) [39], [40], [41] khi xử lý hạt cỏ S lutea
bằng dl-Strigol, Kinetin, Zeatin hoặc chất tiết từ rễ ngô thì tỷ lệ nảy mầm đạt 83-95%
Trong những năm gần đây, người ta còn tìm ra hợp chất 11 βH,
13-dihydroparthenolide cũng có khả năng kích thích hạt cỏ S lutea nảy mầm đạt
40-56% ở nồng độ 10-9-10-4 M [57]
Bên cạnh yếu tố kích thích nảy mầm thì yếu tố nhiệt độ cũng tác động
lớn tới sự nảy mầm của hạt cỏ S lutea Hầu hết các nghiên cứu cho thấy nhiệt
độ thích hợp cho hạt nảy mầm là từ 30 0C-35 0C, nhưng cây cỏ Striga lutea có
thể sinh trưởng và phát triển bình thường ở điều kiện nhiệt độ 22 0C trở lên [21], [51], [64]
Cỏ S lutea có thể sinh trưởng và phát triển ở nhiều loại đất (từ đất cát
thô đến đất sét nặng) Tuy nhiên, loài cỏ này sinh trưởng phát triển tốt nhất
đồng thời gây hại cho cây trồng mạnh nhất trên những chân đất nghèo dinh dưỡng, đất nhẹ khô cằn và thoát nước nhanh [18], [21], [51], [64]
Như vậy, cỏ S lutea là một trong những loài cỏ dại nguy hiểm nhất trên
thế giới Thể hiện:
- Có phân bố rộng rãi ở những vùng nhiệt đới trên thế giới
- Ký sinh gây hại cho một số cây trồng nông nghiệp quan trọng như: Ngô, cao lương, lúa nương, mía Ngoài ra, còn ký sinh trên nhiều loài cỏ dại họ hoà thảo (Poaceae) Khi ký sinh trên cây trồng chúng có thể làm giảm năng suất cây trồng từ 10% đến 90%
Trang 22- Có khả năng phát tán đi xa theo nhiều con đường và đặc biệt phát tán do lẫn trên hạt cây trồng
- Có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt ở những vùng khô, nóng và trên nhiều loại đất nhưng thích hợp nhất với đất khô cằn, nghèo dinh dưỡng và dễ thoát nước
Hạt cỏ chỉ nảy mầm được khi có chất kích thích nảy mầm tiết ra từ rễ cây ký chủ hoặc khi có chất kích thích tổng hợp như: Strigol, Ethylen, Gibberellin, Auxin, Nhiệt độ thích hợp cho hạt nảy mầm là từ 30 0C trở lên
Chính vì vậy, việc phòng trừ loài cỏ này là rất cần thiết
2.1.5 Biện pháp phòng trừ cỏ Striga lutea Lour
Hiện nay, đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu và tìm ra các biện pháp phòng trừ chúng như: Biện pháp KDTV, biện pháp vật lý, biện pháp kỹ thuật canh tác, biện pháp sinh học, biện pháp hoá học
2.1.5.1 Biện pháp kiểm dịch thực vật
Trong chương trình phòng trừ tổng hợp loài cỏ này thì biện pháp KDTV nhằm ngăn cản sự lây nhiễm của chúng từ vùng dịch sang các vùng khác là
hết sức quan trọng Vì hạt cỏ Striga lutea chủ yếu phát tán nhờ hạt cây trồng
và bám dính vào dụng cụ sản xuất, phương tiện vận chuyển
Biện pháp kiểm dịch thực vật hữu hiệu nhất là cấm nhập khẩu hàng nông sản từ vùng có dịch Chính vì vậy, nhiều nước đã ghi loài cỏ này vào danh mục đối tượng kiểm dịch thực vật như: Mỹ, Israel, úc, New-zealand, Liên Xô cũ, Việt Nam Ngay cả trong một nước cũng cần phải áp dụng tốt biện pháp kiểm dịch nội địa đối với loài cỏ này ở Mỹ có luật cấm mang hàng
nông sản có hạt cỏ Striga lutea từ vùng có dịch sang vùng khác (KDTV nội
địa): Cấm vận chuyển hạt cỏ Striga lutea ra khỏi vùng dịch ở Bắc và Nam
Carolina [21]
Trang 23Bên cạnh đó, trong công tác kiểm dịch thực vật còn có các biện pháp
khác có thể làm mất hoàn toàn khả năng nảy mầm của hạt cỏ Striga lutea lẫn
trên hàng nông sản Chương trình xử lý hạt cỏ dại nguy hiểm của cơ quan Bảo
vệ và Kiểm dịch thực vật (PPQ)-Bộ nông nghiệp Mỹ đã khuyến cáo sử dụng
phương pháp chiếu xạ đối với một số loài cỏ dại trong đó có loài Striga lutea ở
liều lượng từ 15-30 kilogray(KGy)
2.1.5.2 Biện pháp kỹ thuật canh tác
Biện pháp kỹ thuật canh tác là biện pháp được sử dụng thường xuyên trên
đồng ruộng để phòng trừ cỏ Striga lutea Dựa vào đặc điểm sinh học của
chúng mà người ta đã đề xuất các biện pháp phòng trừ phù hợp
Chẳng hạn, dựa vào đặc tính ưa điều kiện khô hạn và đất nghèo dinh dưỡng của loài cỏ này mà Bebawi (1981) [18] và Chibudu (1998) [22] đã đề xuất biện pháp tưới tiêu hợp lý và cải tạo đất để tăng độ màu mỡ nhằm giảm
thiệt hại của cỏ Striga lutea Có thể tăng cường bón đạm nitơ (N) cho cây, thúc đẩy cây phát triển nhanh để giảm sự nảy mầm của hạt cỏ Striga lutea
Đồng thời, khi cây phát triển mạnh sẽ tăng độ che phủ đất, khi đó nhiệt độ đất
giảm sẽ không thích hợp cho hạt cỏ Striga lutea nảy mầm (vì điều kiện nhiệt
độ thích hợp cho hạt Striga lutea nảy mầm là từ 30 0 C trở lên) Hoặc có thể trồng luân canh với cây họ đậu để tăng độ màu mỡ cho đất Đối với những vùng có mùa mưa rõ rệt thì nên trồng cây vào trước mùa mưa
Biện pháp trồng xen với cây trồng không phải là ký chủ của chúng cũng
làm giảm tác hại của cỏ Striga lutea: ở Nigeria, Kuchinda et al (2002) [50]
thí nghiệm trồng xen ngô với lạc và đậu tương đã làm giảm đáng kể mật độ cỏ
S lutea và làm tăng năng suất ngô rõ rệt từ 180 kg/ha đến 494 kg/ha
Vì hạt cỏ Striga lutea chỉ nảy mầm khi có chất kích thích tiết ra từ rễ ký
chủ và hạt có thể giữ sức nảy mầm lâu trong đất nên người ta có thể sử dụng
Trang 24biện pháp trồng luân canh với cây trồng không phải là ký chủ của nó: ở Ethiopia người ta trồng luân canh ngô hoặc cao lương với lúa mì, lúa mạch
hoặc lạc trong 2 năm liên tiếp đã giảm 50% cỏ S lutea [14] Tuy nhiên, việc
luân canh cây trồng phải tiến hành liên tục trong nhiều năm [32]
Trong các biện pháp kỹ thuật canh tác thì biện pháp "bẫy cây trồng " là biện pháp được áp dụng rộng rãi nhất và mang lại hiệu quả cao nhất Biện
pháp này nhằm mục đích nhử cỏ Striga lutea mọc lên sau đó chúng tự chết Các cây trồng được dùng để bẫy cỏ Striga lutea phải là những loài có khả
năng tiết ra chất kích thích hạt cỏ nảy mầm nhưng không thích hợp cho chúng
ký sinh; ví dụ như cây bông, đậu hà lan, đậu tương, kê hạt nhỏ Người ta thường gieo trồng những loài cây này trước khi gieo trồng vụ cây chính Hoặc
thậm chí người ta còn sử dụng những cây trồng mẫn cảm với cỏ Striga lutea
như ngô, cao lương, kê hoặc những loài cỏ dại là ký chủ của chúng để nhử cỏ mọc lên sau đó diệt trừ trứơc thời kỳ ra quả Biện pháp này cũng cần phải tiến hành liên tục trong nhiều năm [21], [51]
Cùng với việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác hợp lý để phòng
trừ cỏ S lutea, các nhà khoa học đã nghiên cứu tạo ra các giống cây trồng có
khả năng chống chịu cao đối với loài cỏ này Kết quả nghiên cứu của Hiweris
(1987) [38] đã chỉ ra rằng ở những giống cao lương Sorghum vulgare (Pers.)
có khả năng chống chịu cao đối với các loài Striga spp thì có chứa hàm lượng axit phenolic tổng số lớn hơn những giống mẫm cảm với các loài Striga
Trong những năm qua, viện nghiên cứu cây trồng nhiệt đới quốc tế (International Crops Research Institute for the Semi-Arid Tropics-ICRISAT)
đã chọn ra một số dòng cao lương có khả năng chống chịu cao với cỏ S lutea
và đã được áp dụng rộng rãi ở In-đô-nê-xi-a như: SAR1, SAR2; ngoài ra còn có
một số giống cao lương cũ cũng có khả năng chống chịu với cỏ S lutea như:
Trang 25N.13, Framida, SRN-4841, 148, 168, 555, IS-2603, IS4-4202, ICSV-1007, SRN-39 [44]
Trên ngô cũng có những giống lai có khả năng chống chịu với cỏ
S lutea như: Giống IZi-30, Pioneer 3181 đã được sử dụng ở Mỹ [60]
ở ấn Độ cũng đã sử dụng một số giống kê có khả năng chống chịu với loài cỏ này như TF-23A [54]
Theo Riches et al.(1996) [62] thì đối với lúa cạn, dòng lai
IR-49255-BB-52 cũng có khả năng chống chịu với loài cỏ này
Mặc dù các nhà khoa học đã chọn tạo ra một số giống cây trồng chống
chịu với cỏ S lutea nhưng hiện nay biện pháp này vẫn chưa được áp dụng rộng
rãi ở các nước có loài cỏ này gây hại
2.1.5.3 Biện pháp thủ công cơ giới
Một số nghiên cứu cũng cho thấy biện pháp nhổ cỏ bằng tay và giẫy cỏ
bằng công cụ thủ công cũng làm giảm tác hại của cỏ Striga lutea Theo
Kasembe và Chivinge (1997) [46] nên giẫy cỏ thường xuyên 2-3 lần/tuần, nhưng biện pháp này phải áp dụng trước khi cỏ ra hoa mới có ý nghĩa Đây là biện pháp rẻ tiền nhất và thường áp dụng ở những nơi dư thừa lao động
Nhưng ở những nơi có cỏ Striga lutea lây nhiễm nặng thì biện pháp luân canh
cây trồng, biện pháp nhổ cỏ bằng tay và giẫy cỏ không có hiệu quả [32]
2.1.5.4 Biện pháp sinh học
Biện pháp sinh học phòng trừ cỏ S lutea cũng được các nhà khoa học quan
tâm nghiên cứu
Một số các loài sinh vật có tiềm năng gây hại cho loài cỏ này như: Các
loài sâu ăn lá Smicronyx spp, dòi đục lá Ophiomyia strigalis, một số loài nấm gây bệnh: Drechslera longirostrata, Phoma spp., Cercospora spp., Fusarium
Trang 26spp., Myrothecium roridum, Curvularia eragrostidis và C.lunata, Nhưng chúng vẫn chưa được sử dụng thành công trong việc phòng trừ cỏ Striga lutea
[12], [13], [23], [37]
2.1.5.5 Biện pháp hoá học
Biện pháp hoá học phòng trừ cỏ Striga lutea là một biện pháp được áp
dụng rộng rãi nhất, diệt trừ cỏ nhanh chóng và đem lại hiệu qủa cao nhất Hiện nay, có rất nhiều hoá chất được đưa vào sử dụng trong việc phòng trừ loài cỏ này
Biện pháp xử lý hạt giống bằng một số hoá chất trước khi gieo trồng sẽ
làm giảm đáng kể thiệt hại của cỏ Striga lutea Kết quả thí nghiệm của Fred
K Kanampiu et al ở một số nước châu Phi (2001, 2003) [34], [35] thì xử lý hạt ngô giống bằng cách ngâm trong dung dịch muối Magnesium imazapyr với nồng độ 0,38-0,84 mg a.i Magnesium imazapyr/144 hạt ngô và Pyrithiobac nồng độ 0,21-0,4 mg a.i Pyrithiobac/144 hạt ngô, trong 24 giờ (hay 30-45 g a.i Magnesium Imazapyr/ha và 11-21 g a.i Pyrithiobac/ha) sẽ
có tác dụng phòng trừ loài cỏ này rất tốt và làm tăng năng suất ngô 197-2143 kg/ha so với trồng hạt ngô không xử lý bằng các dung dịch trên
Do cỏ S lutea là cỏ lá rộng cho nên có thể sử dụng một số thuốc trừ cỏ
để diệt trừ chúng trên đồng ruộng như: 2,4 D, Paraquat, Atrazine, Goal(R), Glyphosate, Flek,
ở Bắc và Nam Carolina (Mỹ), người dân đã sử dụng thuốc Goal(R) phun
Trang 27Ethylene, Methyl bromide và một số hoá chất khác có tác dụng kích
thích hạt cỏ Striga lutea nảy mầm rất tốt nên trên đồng ruộng người ta đã sử
dụng các hoá chất này để kích thích hạt cỏ trong đất nảy mầm và diệt trừ trước
vụ trồng cây
Theo Eplee (1972,1975) [27], [28] khí Ethylene khi bơm vào trong đất
và có phủ bạt thì từ 1 điểm bơm thuốc chúng có thể khuyếch tán trong đất ở tầng đất sâu trên 90 cm, rộng 120 cm Nên ông đã khuyến cáo sử dụng khí Ethylene với tỷ lệ 0,42 kg/ha đối với đất cát và 1,1 kg/ha đối với đất sét nặng
sẽ làm tăng tỷ lệ nảy mầm của hạt cỏ Striga lutea ở trong đất từ 85-90%
Nghiên cứu Witt et.al.(1974) [72] chỉ ra rằng sử dụng khí Ethylene 3
lần từ tháng 4 đến tháng 7 để diệt trừ cỏ Striga lutea trước khi gieo trồng
ở Mỹ đã sử dụng khí Methyl bromide để diệt trừ cỏ S.lutea trên đồng ruộng: Bộ Nông Nghiệp Mỹ (1995) đã khuyến cáo sử dụng Methyl bromide
10 lbs/1000 ft3 (16 gram/1 m3) trong 24 giờ để trừ diệt cỏ Striga spp Nhưng
do giá thành Methyl bromide đắt nên không được sử dụng phổ biến [21], [32], [69]
Mặc dù biện pháp hoá học có hiệu quả cao nhất trong các biện pháp
phòng trừ cỏ S lutea nhưng nếu quá lạm dụng chất hoá học sẽ làm ô nhiễm
môi trường và phá vỡ cân bằng sinh thái Vì vậy, chúng ta không nên chỉ áp dụng một biện pháp riêng lẻ mà nên kết hợp hài hoà các biện pháp trong chương trình phòng trừ tổng hợp loài cỏ này Có như vậy thì hiệu quả phòng
trừ cỏ Striga lutea mới được nâng cao đồng thời bảo vệ được môi trường sinh
thái bền vững Tuỳ điều kiện cụ thể của từng vùng mà có thể kết hợp các biện pháp phòng trừ thích hợp Chẳng hạn, ở những vùng có loài cỏ này gây hại nặng thì phải sử dụng thuốc hoá học kết hợp với nhổ cỏ bằng tay [32], [49] Trong điều kiện sản xuất với quy mô nhỏ ở châu Phi thì biện pháp xử lý hạt
Trang 28cây trồng bằng thuốc hoá học kết hợp với nhổ cỏ bằng tay có tác dụng phòng trừ loài cỏ này rất tốt [34]
Trên ngô ở Mỹ, người ta đã sử dụng thuốc trừ cỏ để trừ cỏ Striga lutea
và các loài cỏ dại là ký chủ của chúng kết hợp với biện pháp luân canh với cây trồng lá rộng như thuốc lá, đậu tương Đồng thời, dùng khí Ethylene hoặc Methyl bromide để diệt trừ cỏ trước khi trồng cây và thực hiện tốt biện pháp kiểm dịch thực vật nội địa Do đó, đến 1994 (sau 20 năm áp dụng liên tục) ở
nước này đã có tới gần 93% các vùng nhiễm cỏ Striga lutea trước đây không
còn loài cỏ này nữa [26]
Như vậy, có rất nhiều biện pháp phòng trừ cỏ Striga lutea, nhưng biện
pháp dùng thuốc hoá học được sử dụng phổ biến và có hiệu quả cao nhất, đặc biệt là ở những vùng có mật độ cỏ cao Tuy nhiên, biện pháp phòng trừ hạt cỏ này trên hàng nông sản chưa được áp dụng rộng rãi Hiện nay, một số nước phát triển trên thế giới như: Mỹ, Newzealand, úc, đã tiến hành áp dụng biện pháp chiếu xạ đối với hạt của một số loài cỏ dại nguy hiểm trong đó có cỏ
S lutea
Trang 292.2 Những nghiên cứu ở trong nước
ở nước ta hiện nay hầu như chưa có tác giả nào nghiên cứu về loài cỏ này ngoài một số dẫn liệu về phân bố của Lê Khả Kế, Phạm Hoàng Hộ và Jean-F Leroy Cụ thể:
Theo Lê Khả Kế (1969) [2] và Phạm Hoàng Hộ (1991) [4] cỏ S lutea
sống chủ yếu ở vùng rừng thưa, thảo nguyên và vùng cát có độ cao dưới 1500
m so với mực nước biển: Từ Mẫu Sơn (Lạng Sơn) đến Đà Lạt, Thủ Đức (Thành phố Hồ Chí Minh) và Phú Quốc
Theo tài liệu của Jean-F Leroy (1985) [74] thì ở Việt Nam, cỏ Striga
lutea phân bố ở các tỉnh, thành phố: Lộc Bình (Lạng Sơn), Bắc Ninh, Tam Đảo
(Vĩnh Phúc), Ba Vì (Hà Tây), Phủ Lỗ (Hà Nội), Hải Hưng, Hải Phòng, Hà Nam Ninh, Nghệ Tĩnh, Đăk Lắc, Phú Khánh, Lâm Đồng, Thuận Hải, Sài Gòn, Sông Bé, Phú Quốc (Kiên Giang) Những kết quả điều tra này đã quá cũ và không có điều tra xác minh cũng như cập nhật số liệu về phân bố, ký chủ, và thiệt hại do chúng gây ra đối với cây trồng ở Việt Nam
Trang 30Chương 3: vật liệu, địa điểm, nội dung
và phương pháp nghiên cứu
3.1 vật liệu nghiên cứu
3.1.1 Hạt cỏ Striga lutea Lour
Hạt cỏ Striga lutea được thu từ xã Thạch Hoà-Thạch Thất (Hà Tây)
- Hạt lúa nương: Các giống Pencang, Tẻ đỏ, Bào thai nương và Pemúa của Điện Biên
3.1.3 Thuốc trừ cỏ
- Hoạt chất Paraquat: Tên thuốc thương mại dùng là Gramoxone 20 SL
- Hoạt chất Glyphosate IPA: Tên thuốc thương mại dùng là Roundup 480
SC
- Hoạt chất Metolachlor: Tên thuốc thương mại dùng là Dual 720 EC
- Hoạt chất Metsulfuron-Methyl: Tên thuốc thương mại dùng là Ally 20
DF
Trang 313.1.4 Hoá chất dùng để kích thích nảy mầm hạt cỏ Striga lutea Lour
GA3: Gibberellin (C19H22O6) và các muối Humat: Hum-Na (Hum(COONa)n), Hum-K (Hum(COOK)n), Hum-NH4 (Hum(COONH4)n ) của Công ty cổ phần công nghệ sinh học
3.1.5 Thuốc dùng để xông hơi hạt cỏ Striga lutea Lour
Methyl bromide (CH3Br) 98%
3.1.6 Nguồn chiếu xạ
Cobalt 60 của Trung tâm chiếu xạ Hà Nội, Viện khoa học kỹ thuật hạt nhân
3.1.7 Dụng cụ thí nghiệm
Chậu vại, khay nhựa, đất đã xử lý khử trùng, chamber, khung điều tra kích thước 1 m2, túi lấy mẫu,
3.2 địa điểm nghiên cứu
- Điều tra phân bố và ký chủ của cỏ Striga lutea tại các tỉnh, thành phố:
Bắc Giang, Bắc Kạn, Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Tây, Hoà Bình, Ninh Bình, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Thủ Đức (Thành phố Hồ Chí Minh)
và Đà Lạt (Lâm Đồng)
- Phòng thí nghiệm của Trung tâm giám định kiểm dịch thực vật, Cục bảo vệ thực vật-149 Hồ Đắc Di-Đống Đa-Hà Nội
- Phòng thổ nhưỡng-Công ty cổ phần công nghệ sinh học, 814/3 Láng Thượng-Đống Đa-Hà Nội
- Phòng chiếu xạ tia gamma tại Trung tâm chiếu xạ Hà Nội, Viện khoa học kỹ thuật hạt nhân
Trang 32- Thí nghiệm thuốc trừ cỏ đối với cỏ Striga lutea ở ngoài đồng tại Thôn 9
xã Thạch Hoà-Thạch Thất-Hà Tây
3.3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu:
3.3.1 Nội dung
- Giám định cỏ Striga lutea Lour ở Việt Nam
- Điều tra sự phân bố và ký chủ của cỏ Striga lutea ở Việt Nam
- Nghiên cứu đặc điểm hình thái và sinh học của cỏ Striga lutea
- Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích nảy mầm tổng hợp (GA3,
Hum-Na, Hum-K, Hum-NH4) và chất kích thích nảy mầm tự nhiên (chất tiết từ rễ
ngô, rễ cao lương, rễ lúa nương) đến sự nảy mầm của hạt cỏ S lutea
- Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ và thời gian bảo quản tới tỷ lệ nảy mầm
của hạt cỏ Striga lutea
- Khảo sát hiệu lực của một số thuốc trừ cỏ trên cạn (Paraquat, Glyphosate
IPA salt, Metolachlor, Metsulfuron-Methyl) đối với cỏ Striga lutea
- Đánh giá hiệu quả xử lý hạt cỏ Striga lutea của phương pháp xông hơi
bằng Methyl bromide và chiếu xạ bằng tia gamma
3.3.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra phân bố và ký chủ của cỏ Striga lutea theo
phương pháp điều tra ngẫu nhiên của Viện bảo vệ thực vật (1997)
Dùng khung điều tra có kích thước 1 m2, đếm số cây cỏ Striga
lutea trong khung Lấy mẫu đất ở độ sâu 0-30 cm để phân tích các chỉ
tiêu: Độ chua (pH), hàm lượng mùn tổng số (%) và hàm lượng đạm tổng
số (%)
Trang 33- Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học cỏ Striga lutea như sau: trồng cỏ Striga lutea với ký chủ thích hợp của nó ở ngoài tự
nhiên theo phương pháp theo dõi cá thể với n = 30 Một số chỉ tiêu sinh trưởng phát triển được theo dõi bao gồm: Chiều cao cây, số lá, hoa, quả/cây, số hạt/quả, thời gian sống, thời gian ra hoa Cụ thể là:
+ Chiều cao cây: Bắt đầu đo chiều cao cây từ thời điểm cây cỏ bắt
đầu nhú lên khỏi mặt đất
+ Số lá/cây: Kiểm tra 7 ngày/lần từ khi cây nhú lên khỏi mặt đất + Số hoa/cây: Kiểm tra 7 ngày/lần từ khi cây bắt đầu ra hoa
+ Số quả/cây: Kiểm tra 7 ngày/lần từ khi bắt đầu ra quả
+ Số hạt/quả: Mỗi cây chọn ngẫu nhiên 1 quả để đếm số hạt/quả
- Nghiên cứu ảnh hưởng của các chất kích thích nảy mầm tổng hợp và chất tiết từ rễ ngô, cao lương và lúa nương đến sự nảy mầm của hạt cỏ
Striga lutea theo phương pháp của K.M Hameed et al (1973) như sau: Trồng cây trong nước để thu chất tiết ra từ rễ cây
Hạt ngô, cao lương và lúa nương được làm sạch, cho nảy mầm trên giấy lọc ẩm trong đĩa petri: Cây con sau 3 ngày được cho vào bình nước cất (50 cây/100 ml nước) Để cây ra rễ trong nước trong 5 ngày Thu nước có chứa chất tiết từ rễ ngô, rễ cao lương và rễ lúa nương, điều chỉnh
pH = 4 bằng dung dịch HCl 0,1 M
Gieo trồng và đánh giá:
+ Hạt cỏ Striga lutea được rửa sạch bằng nước cất
+ Dung dịch agar 2,5% được hấp khử trùng và đổ vào đĩa petri Φ9
đã vô trùng với lượng 20 ml/đĩa
Trang 34+ Hạt cỏ Striga lutea ngâm trong dung dịch GA3, Hum-Na, Hum-K,
và Hum-NH 4 ở các nồng độ 0,01%; 0,02% và 0,03% trong 24 giờ Sau đó rửa sạch hạt cỏ bằng nước cất và cho vào đĩa petri để làm nảy mầm
+ Dung dịch chất tiết từ rễ ngô, rễ cao lương và rễ lúa nương được cho vào đĩa petri với lượng 2,5 ml/đĩa
+ Cho 200 hạt cỏ/1 đĩa (mỗi đĩa chia 5 điểm và mỗi điểm cho 40 hạt)
+ Mỗi công thức nhắc lại 3 lần và được chuyển vào trong tủ ấm ở nhiệt độ 30 0C trong điều kiện tối
+ Sau 7 ngày lấy đĩa ra và kiểm tra dưới kính lúp và tính phần trăm hạt nảy mầm
Các công thức thí nghiệm:
+ Xác định ảnh hưởng của chất tiết từ rễ ngô, cao lương và lúa
nương đến khả năng nảy mầm của hạt cỏ S lutea:
Công thức 1: 200 hạt cỏ S lutea + 2,5 ml dung dịch chất tiết từ rễ
ngô/đĩa petri
Công thức 2: 200 hạt cỏ S lutea + 2,5 ml dung dịch chất tiết từ rễ
cao lương/đĩa petri
Công thức 3: 200 hạt cỏ S lutea + 2,5 ml dung dịch chất tiết từ rễ
lúa nương/đĩa petri
+ Xác định ảnh hưởng của chất kích thích tổng hợp ở một số nồng độ
khác nhau tới khả năng nảy mầm của hạt cỏ S lutea:
Công thức 1: 200 hạt cỏ S lutea được xử lý bằng dung dịch GA3 ở các nồng độ 0,01%, 0,02% và 0,03%
Trang 35Công thức 2: 200 hạt cỏ S lutea được xử lý bằng dung dịch Hum-Na ở
- Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ và thời gian bảo quản tới tỷ lệ nảy mầm
của hạt cỏ Striga lutea như sau:
Số hạt đã nảy mầm Tổng số hạt đã xử lý
+ Tính tỷ lệ nảy mầm của hạt cỏ Striga lutea ở các mức nhiệt độ:
26 0C, 28 0C, 30 0C, 32 0C (có chất tiết từ rễ ngô)
+ Tính tỷ lệ nảy mầm của hạt cỏ Striga lutea có thời gian bảo quản
khác nhau: Dưới 1 tháng, 12 tháng, 24 tháng và 36 tháng; ở nhiệt độ
30 0C và có chất tiết từ rễ ngô
Mỗi công thức thí nghiệm nhắc lại 3 lần, mỗi lần nhắc lại gồm 200
hạt cỏ Striga lutea
Trang 36- Khảo sát hiệu lực của một số thuốc trừ cỏ đối với cỏ Striga lutea
Chúng tôi đã chọn địa điểm có cỏ S lutea mọc tương đối đồng đều và
có diện tích khoảng 40-50 m2 tại thôn 9-Xã Thạch Hoà-Huyện Thạch Tỉnh Hà Tây Sau đó chia các ô thí nghiệm, mỗi ô có diện tích là 1 m2, số cây
Thất-cỏ Striga lutea trong mỗi ô thí nghiệm ≥ 30 cây/m2
Đếm và đánh dấu số cây cỏ Striga lutea trong từng ô thí nghiệm trước
khi phun thuốc 1 ngày và sau phun thuốc 7 ngày, 14 ngày, 21 ngày
Đối với cỏ ký chủ và các loài cỏ khác: Cân trọng lượng tươi ở các công thức phun thuốc và công thức đối chứng ở thời điểm 21 ngày sau phun
Mỗi công thức thí nghiệm nhắc lại 3 lần
+ Thí nghiệm 1: Khảo sát hiệu lực của một số thuốc trừ cỏ đối với cỏ
Lượng thuốc thương mại dùng/1 m 2
Trang 37+ Thí nghiệm 2: Khảo sát hiệu lực của thuốc trừ cỏ Gramoxone 20 SL
và Ally 20 DF ở các nồng độ khác nhau đối với cỏ Striga lutea và cỏ ký
chủ của chúng
Bảng 3.2: Khảo sát hiệu lực của thuốc trừ cỏ Gramoxone 20 SL
và Ally 20 DF ở các nồng độ khác nhau đối với cỏ Striga lutea
và cỏ ký chủ của chúng
Công thức Lượng hoạt chất dùng
(gam ai/ha)
Lượng thuốc thương mại dùng/ha
Lượng thuốc thương mại dùng/1 m 2
Trong đó: Tb: Mật độ cỏ S lutea ở công thức thí nghiệm trước phun thuốc
Ta: Mật độ cỏ S lutea ở công thức thí nghiệm sau phun thuốc Cb: Mật độ cỏ S lutea ở công thức đối chứng trước phun thuốc Ca: Mật độ cỏ S lutea ở công thức đối chứng sau phun thuốc
Trang 38+ Công thức của Abbort: Tính hiệu lực của thuốc đối với cỏ ký chủ của cỏ
S lutea và cỏ khác
Pa - Pb
Hiệu lực (%) = x100
Pa Trong đó:
Pa: Trọng lượng cỏ tươi ở công thức đối chứng Pb: Trọng lượng cỏ tươi ở công thức thí nghiệm
- Xác định hiệu quả của biện pháp xử lý hạt cỏ Striga lutea bằng Methyl
bromide (CH3Br) và chiếu xạ tia gamma
+ Phương pháp xông hơi bằng Methyl bromide:
Cho hạt cỏ Striga lutea vào đĩa petri và để vào chamber có thể tích
1 m3, sau đó làm kín khí và bơm lượng thuốc đã tính toán vào chamber Sau khi bơm thuốc xong và trước khi xả thuốc phải bật quạt đảo khí 15 phút để thuốc khuếch tán đều trong chamber
Các công thức thí nghiệm:
Công thức 1: Xử lý ở nồng độ 40 gam CH3Br/m3 trong 24 giờ
Công thức 2: Xử lý ở nồng độ 40 gam CH3Br/m3 trong 48 giờ
Công thức 3: Xử lý ở nồng độ 80 gam CH3Br/m3 trong 24 giờ
Công thức 4: Xử lý ở nồng độ 80 gam CH3Br/m3 trong 48 giờ
Công thức 5: Đối chứng (Không xử lý)
+ Phương pháp chiếu xạ bằng tia gamma:
Dùng nguồn Co-60 sẵn có tại Trung tâm chiếu xạ Hà Nội với thiết
kế để chiếu xạ thực phẩm, đo liều bằng liều kế dung dịch Fricke
Trang 39+ Chỉ tiêu đánh giá là tỷ lệ (%) nảy mầm của hạt sau xử lý
Trang 40- Xử lý số liệu thu được bằng phương pháp thống kê sinh học
n : Tổng số quan sát X : Gía trị trung bình Xi: Gía trị quan sát thứ i σ : độ lệch chuẩn
- So sánh theo Duncan