1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu khả năng tiếp cận các dịch vụ khuyến nông của hộ nông dân huyện gia lâm thành phố hà nội

151 764 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu khả năng tiếp cận các dịch vụ khuyến nông của hộ nông dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội
Tác giả Phạm Tài Thắng
Người hướng dẫn PGS.TS. Ngô Thị Thuận
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 151
Dung lượng 1,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn thạc sĩ, tiến sĩ, cao học, luận văn

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học Nông nghiệp hà nội

-

phạm tài thắng

Nghiên cứu khả năng tiếp cận

các dịch vụ khuyến nông của hộ nông dân

huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và ch−a đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đ/ đ−ợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đ/ đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Phạm Tài Thắng

Trang 3

Lời cảm ơn

Trong quá trình thực hiện luận văn này, tôi đ# nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các tổ chức và cá nhân Tôi xin chân thành cảm ơn những tổ chức, cá nhân đó

Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Ngô Thị Thuận, người thày đ# hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn các thày giáo, cô giáo Khoa Sau đại học, Khoa Kinh tế và PTNT, Bộ môn Phân tích định lượng đ# giúp đỡ và tạo điều kiện về mọi mặt để tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn Trạm Khuyến nông Gia Lâm; UBND huyện Gia Lâm, HTX nông nghiệp và nhân dân 3 x# Văn Đức, Cổ Bi và Yên Thường

đ# tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình nghiên cứu thực tế của tôi

Tôi xin chân thành cảm ơn những người thân và bạn bè đ# chia sẻ những khó khăn, động viên tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 27 tháng 11 năm 2009

Tác giả luận văn

Phạm Tài Thắng

Trang 4

Môc lôc

Trang

2 C¬ së lý luËn vµ thùc tiÔn vÒ khuyÕn n«ng vµ kinh tÕ n«ng hé 5

2.2 Thùc tiÔn vÒ tiÕp cËn khuyÕn n«ng cho ph¸t triÓn n«ng nghiÖp, n«ng th«n 28

4 Kh¶ n¨ng tiÕp cËn c¸c dÞch vô khuyÕn n«ng cña c¸c hé n«ng d©n

4.1 Thùc tr¹ng tæ chøc vµ cung cÊp c¸c dÞch vô khuyÕn n«ng huyÖn Gia L©m 60

4.1.3 C¸c ch−¬ng tr×nh dù ¸n hç trî khuyÕn n«ng cña huyÖn 65

Trang 5

4.2 Thực trạng khả năng tiếp cận dịch vụ khuyến nông của hộ nông dân

4.2.1 Điều kiện tiếp cận dịch vụ khuyến nông của các nhóm hộ điều tra 68

4.2.2 Khả năng tiếp cận dịch vụ khuyến nông của hộ nông dân 72

4.3 Đánh giá khả năng tiếp cận dịch vụ khuyến nông của hộ nông dân Gia lâm 91

4.3.4 Đánh giá kết quả áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất của các hộ nông dân 97

4.3.6 Đánh giá mối quan hệ giữa mức độ tiếp cận DVKN vói phát triển kinh tế hộ 99

4.3.7 Đánh giá những hạn chế trong tiếp cận các DVKN của các hộ nông dân 105

4.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận dịch vụ khuyến nông của

4.5 Định hướng và giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận DVKN của nông

Trang 6

Danh môc ch÷ viÕt t¾t

WTO (World Trade Organization) Tæ chøc Th−¬ng m¹i ThÕ giíi

Trang 7

Danh mục bảng

2.1 Kinh phí đầu t− cho khuyến nông từ ngân sách trung −ơng 37

3.3 Giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị sản xuất huyện Gia Lâm 50

3.5 Tổng hợp các tiêu chí theo các mức độ tiếp cận dịch vụ khuyến nông 56

4.1 Một số chỉ tiêu kết quả triển khai các DVKN của trạm khuyến nông

4.5 Tỷ lệ hộ nông dân tiếp xúc với cán bộ khuyến nông huyện Gia Lâm 75

4.6 Tỷ lệ hộ nông dân tham dự tập huấn khuyến nông huyện Gia Lâm 76

4.7 Kết quả thăm dò ý kiến của hộ nông dân về các lớp tập huấn khuyến

4.8 Nhận thức và khả năng tiếp cận của hộ nông dân về mô hình trình diễn 79

4.9 Kết quả đánh giá của hộ nông dân về XDMH trình diễn ở Gia Lâm 80

4.10 Tổng hợp ý kiến đánh giá về tiếp cận thông tin khuyến nông của các

4.11 Tỷ lệ số hộ đ−ợc tiếp cận dịch vụ t− vấn khuyến nông huyện Gia Lâm 84

4.12 Thực trạng đảm nhiệm công việc theo giới của các hộ điều tra huyện

4.13 Tiếp cận giới trong các hoạt động khuyến nông của hộ nông dân Gia Lâm 87

4.14 Kết quả tổ chức tham quan – hội thảo đầu bờ của 3 x/ 89

4.15 Tổng hợp kết quả điều tra tiếp cận các hoạt động khuyến nông của các

Trang 8

4.18 So sánh chỉ số WAI về mức độ tiếp cận khuyến nông giữa các x/ trong huyện 96

4.19 Số hộ và tỉ lệ hộ nông dân áp dụng TBKT vào sản suất huyện Gia lâm 97

4.20 Xếp hạng −u tiên về các hình thức khuyến nông ở Gia Lâm 98

4.21 Thu - chi và thu nhập thực tế của các hộ điều tra huyện Gia Lâm “tính

4.23 Mức độ tiếp cận khuyến nông và Sự phân bố thu nhập giữa các nhóm

Trang 9

Danh mục biểu đồ

4.2 Tỷ lệ các hộ được tập huấn và áp dụng vào sản xuất tại 3 x/ 77

4.4 Đường cong Lorenz về chênh lệch thu nhập giữa các nhóm hộ nông

2.2 Mối quan hệ giữa khuyến nông với các tổ chức và nông dân 9

2.4 Thay đổi hành vi nhận thức và tiếp nhận dịch vụ khuyến nông 14

2.5 Mô phỏng mối quan hệ giữa kinh tế hộ nông dân với khuyến nông 27

Danh mục hộp

Trang 10

1 Đặt vấn đề

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Sau hơn hai mươi năm đổi mới, cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước và gia nhập kinh tế quốc tế, nông nghiệp Việt Nam đ/ có những bước tiến vượt bậc Sự phát triển đó mang tính toàn diện ở tất cả các ngành: trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp ở mức ổn định 4-5%/năm Năm 2007, tỷ trọng của nông nghiệp trong GDP là khoảng 19,8% Nông nghiệp nước ta đ/ đáp ứng cơ bản nhu cầu lương thực và thực phẩm trong nước, an ninh lương thực đảm bảo, đ/ hình thành những vùng sản xuất nông sản hàng hoá quy mô tương đối lớn, lượng nông sản xuất khẩu tăng nhanh Một số mặt hàng nông sản đ/ khảng định được vị trí trên thị trường thế giới như hồ tiêu (đứng thứ nhất), gạo (đứng thứ 2 thế giới), cà phê (đứng thứ 3 thế giới) kim ngạch xuất khẩu nông sản, thuỷ sản chiếm khoảng 27% kim ngạch xuất khẩu cả nước năm 2006, lực lượng lao động ở nông thôn chiếm 70% tổng lao động x/ hội.[1]

Bên cạnh những thành tựu đạt được, ngành nông nghiệp nước ta vẫn còn những hạn chế cần được khắc phục như: Sản xuất nông nghiệp ở nước ta về cơ bản vẫn là sản xuất thủ công, quy mô nhỏ, chất lượng sản phẩm thấp, giá thành sản phẩm cao, khả năng cạnh tranh trên thị trường yếu; Trình độ khoa học và công nghệ trong sản xuất, chế biến nông lâm sản, trình độ thương mại hoá nông sản còn thấp Cơ sở hạ tầng nông thôn mặc

dù được cải thiện nhiều trong những năm qua nhưng vẫn còn yếu kém, chưa đáp ứng

được yêu cầu của nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá; Tổ chức sản xuất, chính sách, cơ chế gắn kết các khâu sản xuât, chế biến, tiêu thụ nông sản, thúc đẩy chuyển đổi ngành nông nghiệp theo hướng hàng hoá, chuyên nghiệp hoá, hiện đại hoá chưa đồng bộ và còn hạn chế Đặc biệt sản phẩm không an toàn thực phẩm, môi trường ô nhiễm, trước các rủi ro nên chịu thua thiệt, an sinh x/ hội bất ổn, nông dân ứng xử kém

Trong tình hình đó, việc nâng cao chất lượng dịch vụ khuyến nông là một trong những con đường ngắn nhất tạo ra sức mạnh trong thực hiện chiến lược công nghiệp hoá và hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn cũng như hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 11

Những năm qua công tác khuyến nông đ/ góp phần quan trọng cho công cuộc phát triển kinh tế - x/ hội nói chung và nông nghiệp và kinh tế nông thôn nói riêng Sự hoạt động tích cực của các hoạt động khuyến nông đ/ góp phần giúp cho sản xuất nông nghiệp có những bước chuyển biến rõ rệt đáp ứng được nhu cầu đầu tư thâm canh làm tăng sản lượng nông nghiệp, tăng năng suất cây trồng vật nuôi và tăng thu nhập cho hộ nông dân, góp phần tạo điều kiện đầu tư phát triển mở rộng ngành nghề nông thôn, đa dạng hoá nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ

Đời sống cư dân nông thôn ngày càng nâng cao

Tuy nhiên, trên thực tế, dịch vụ khuyến nông còn có nhiều điểm bất cập như: Nhận thức của nông dân về khuyến nông còn thấp, số nông dân được tập huấn, đào tạo và giáo dục ngay trên thực địa sản xuất (đồng ruộng, chuồng trại hay xưởng chế biến ) về kỹ năng phát triển sản xuất nông nghiệp, về thị trường và quản trị sản xuất kinh doanh còn ít mà nguyên nhân là do tiếp cận đầy đủ, toàn diện đến các dịch

vụ khuyến nông rất khó khăn đối với hộ nông dân Thực trạng này đòi hỏi hoạt động khuyến nông cần phải cải thiện hơn nữa, góp phần giúp cho các hộ nông dân tiếp cận chương trình khuyến nông ngày càng hiệu quả hơn

Gia Lâm là một huyện ngoại thành Hà Nội, so với các quận huyện khác trong thành phố ngành nông nghiệp vẫn đóng vai trò chủ yếu trong thu nhập của các hộ nông dân Thực trạng phát triển nông nghiệp cũng như công tác khuyến nông ở đây cũng gặp phải những bất cập nêu trên nên hiệu quả chưa cao, chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất hàng hóa Sự cần thiết đổi mới công tác khuyến nông để phát triển bền vững kinh tế nông hộ huyện Gia Lâm đang là mối quan tâm của các cấp l/nh

đạo huyện cũng như các ngành, các cấp

Để góp phần giải quyết những bất cập trên, nghiên cứu khả năng tiếp cận các dịch vụ khuyến nông của hộ nông dân trên địa bàn huyện là rất quan trọng và cần thiết Vì vậy chúng tôi chọn thực hiện đề tài: “Nghiên cứu khả năng tiếp cận các dịch vụ khuyến nông của hộ nông dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội”

Trang 12

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở đánh giá thực trạng tiếp cận các dịch vụ khuyến nông của hộ nông dân, mà đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường khả năng tiếp cận các dịch vụ khyến nông này một cách hiệu quả để phát triển kinh tế nông hộ huyện Gia Lâm theo hướng CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn và hội nhập kinh tế quốc tế 1.2.2 Mục tiêu cụ thể

Các mục tiêu nghiên cứu cụ thể của đề tài là:

- Phát triển thêm lý luận và thực tiễn có liên quan đến khuyến nông và tiếp cận khuyến nông, kinh tế nông hộ và phát triển kinh tế nông hộ

- Đánh giá thực trạng tiếp cận dịch vụ khuyến nông trong phát triển kinh tế hộ của nông dân huyện Gia Lâm trong những năm qua

- Phân tích những yếu tố ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận dịch vụ khuyến nông trong phát triển kinh tế hộ của nông dân huyện Gia Lâm

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường khả năng tiếp cận dịch

vụ khuyến nông của hộ nông dân huyện Gia Lâm trong những năm tới

Để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu này, chúng tôi đã xác định các câu hỏi nghiên cứu sau đây:

1) Hộ nông dân huyện Gia Lâm nhận thức và tiếp cận các dịch vụ khuyến nông bằng cách nào?

2) Thực trạng các hoạt động khuyến nông của huyện Gia Lâm những năm qua ra sao?

3) Đánh giá kết quả tiếp cận các hoạt động khuyến nông của nông dân huyện Gia Lâm bằng cách nào và kết quả ra sao?

4) Những yếu tố nào ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận các hoạt động khuyến nông?

5) Những giải pháp nào cần đề xuất để tăng khả năng tiếp cận các hoạt động khuyến nông của hộ nông dân trong những năm tới?

1.3 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu chính:

+ Các hộ nông dân huyện Gia Lâm (nông dân và các chủ trang trại)

Trang 13

+ Các hoạt động khuyến nông: dịch vụ cung cấp các yếu tố đầu vào, dịch vụ tập huấn và đào tạo, dịch vụ xây dựng mô hình và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, dịch vụ tín dụng

- Đối tượng nghiên cứu phụ: các ban ngành quản lý, hiệp hội có liên quan đến các dịch vụ khuyến nông huyện Gia Lâm

1.4 Phạm vi gnhiên cứu

Về không gian: Đề tài thực hiện trên phạm vi toàn huyện Gia Lâm Một số nội dung chủ yếu sẽ được tiến hành khảo sát các nhóm hộ nông dân tại 3 x/ đại diện theo vùng kinh tế thuộc huyện Gia Lâm (Văn Đức, Cổ Bi và Yên Thường)

Về thời gian: Số liệu sử dụng để nghiên cứu đề tài này được thu thập trong khoảng thời gian từ năm 2005-2008, các giải pháp đề xuất có thể áp dụng cho các năm 2010, 2015

Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu về khả năng tiếp cận các dịch vụ khuyến nông của các nhóm hộ nông dân khác nhau Thực trạng kinh tế nông hộ của các hộ nông dân Những giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường khả năng tiếp cận các dịch vụ này để phát triển kinh tế nông hộ huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội

Trang 14

2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về khuyến nông

và kinh tế nông hộ

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Lý luận cơ bản về khuyến nông

2.1.1.1 Khuyến nông trong phát triển kinh tế nông hộ

a) Khái niệm về khuyến nông

Khuyến nông là từ tổng quát để chỉ tất cả các công việc có liên quan đến phát triển nông nghiệp và nông thôn Từ "extension" được sử dụng đầu tiên ở Anh năm 1866

có nghĩa là “ mở rộng - triển khai” còn “agricultural extension” có nghĩa là “mở rộng nông nghiệp - triển khai nông nghiệp” và dịch gọn là “khuyến nông” Do vậy “khuyến nông” là một thuật ngữ có ý nghĩa rất rộng được tổ chức thực hiện bằng nhiều biện pháp khác nhau để phục vụ cho nhiều mục đích có quy mô khác nhau [9, 24]

ở các quốc gia phát triển, các nhà khoa học như Maunder(1973), Swanson và Claar(1977) và Chu-Yuan(1979) đều cho rằng khuyến nông “như một dịch vụ hoặc

hệ thống giúp nông dân hiểu biết những phương pháp công tác và kỹ thuật cải tiến, tăng hiệu quả sản xuất và thu nhập, làm cho mức sống của họ tốt hơn và nâng cao trình độ giáo dục của cuộc sống nông thôn”[ 9, 25]

ở Việt Nam, khuyến nông mới đưa vào từ năm 1993 Giai đoạn đầu, bàn về khuyến nông còn rất nhiều tranh c/i do Việt Nam mới xoá bỏ cơ chế bao cấp nên mọi hoạt động, chỉ đạo thực hiện vẫn có sự ảnh hưởng của cơ chế cũ Nhưng cho tới những năm gần đây, quan điểm này đang trở lên phù hợp với xu hướng khuyến nông không những ở Việt Nam mà còn ở các nước trên thế giới

Như vậy, khuyến nông bắt đầu bất cứ ở đâu mà con người hiện diện và với bất cứ cái gì họ có

Theo nghĩa hẹp, khuyến nông là sử dụng các cơ quan nông- lâm - ngư, các trung tâm khoa học nông nghiệp - lâm nghiệp để phổ biến, mở rộng các kết quả nghiên cứu tới nông dân bằng các phương pháp thích hợp để họ có thể áp dụng nhằm thu được nhiều nông sản hơn

ở đây khuyến nông chỉ là chuyển giao kỹ thuật đơn thuần Trong thực tiễn sản xuất ở nông thôn, người nông dân không chỉ có yêu cầu như vậy mà sản phẩm

Trang 15

của họ làm ra còn phải được tiêu thụ ở đâu, giá cả như thế nào để họ có lời Cho nên tại nhiều nơi, nhiều nước trên thế giới định nghĩa hẹp của khuyến nông được thay thế bằng một nghĩa rộng như sau:

Theo nghĩa rộng, khuyến nông hướng dẫn cho nông dân những tiến bộ kỹ thuật mới, ngoài ra còn phải giúp họ liên kết với nhau để chống thiên tai, tiêu thụ sản phẩm, hiểu biết các chính sách luật lệ của nhà nước, giúp người nông dân phát triển khả năng tự quản lý, điều hành, tổ chức các hoạt động x/ hội như thế nào cho ngày càng tốt hơn Trước kia người Pháp hiểu khuyến nông theo nghĩa hẹp là: “phổ cập nông nghiệp” nay họ đ/ chuyển sang nghĩa rộng là “phát triển nông nghiệp” Người Anh từ lâu đ/ hiểu khuyến nông theo nghĩa rộng là “triển khai", “mở rộng nông nghiệp”[ 9]

Từ các quan niệm về khuyến nông khác nhau theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng,

từ tổng kết các hoạt động của khuyên nông trên thế giới và ở Việt Nam mà tổ chức nông lương của liên hợp quốc(FAO) đ/ tổng kết lại, trong nghiên cứu này, chúng tôi thấy những điểm chính về quan niệm khuyến nông như sau:

- Khuyến nông là một hệ thống các biện pháp giáo dục nông nghiệp nhằm

đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp, nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nông dân, xây dựng và phát triển nông thôn mới

- Khuyến nông là cách đào tạo và rèn luyện tay nghề cho nông dân, đồng thời giúp họ hiểu những chủ trương chính sách về nông nghiệp, những kiến thức về kỹ thuật, kinh nghiệm về quản lý kinh tế, những thông tin về thị trường để họ có đủ khả năng tự giải quyết được các vấn đề của gia đình và cộng đồng nhằm đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống, nâng cao dân trí, góp phần xây dựng và phát triển nông thôn mới [11]

Khuyến nông nông nghiệp cần trả lời 3 câu hỏi : làm gì? đạt mục đích gì? làm bằng cách nào? Điều này được thể hiện tóm lược theo sơ đồ sau:

b) Nội dung và các hoạt động khuyến nông

Do người dân sống ở nông thôn, làm nông nghiệp nên thu nhập thấp, tiếp cận hạn chế và ít việc làm mà mục tiều của công tác khuyến nông là "Phát triển bền vững nông nghiệp và nông thôn mà chủ thể là người nông dân theo hướng CNH, HĐH" Vì vậy, các nội dung mà khuyến nông quan tâm là:

- Phổ biến những tiến bộ kỹ thuật và công nghệ tiên tiến về trồng trọt, chăn nuôi, chế biến, bảo quản nông, lâm, thuỷ sản và những kinh nghiệm điển hình sản

Trang 16

xuất giỏi, chuyển đổi cơ cấu kinh tế

- Bồi dưỡng và phát triển kiến thức quản lý kinh tế và quản trị sản xuất kinh doanh cho nông dân để sản xuất, dịch vụ, kinh doanh đạt hiệu quả cao

- Hỗ trợ giống, vật tư kỹ thuật để xây dựng mô hình trình diễn

Các hoạt động cụ thể của khuyến nông thường đặt ra bao gồm:

+ Tập huấn những tiến bộ kỹ thuật mới cho nông dân

+ Xây dựng các mô hình trình diễn

+ Tổ chức tham quan, hội thảo đầu bờ cho nông dân học tập kinh nghiệm lẫn nhau + Tuyên truyền kiến thức và kinh nghiệm khuyến nông trên các phương tiện thông tin đại chúng

+ Xuất bản và phát hành đến người nông dân các ấn phẩm khuyến nông như sách nhỏ, tranh nhỏ và tờ rơi [9]

Sơ đồ 2.1: Khuyến nông nông nghiệp

Bằng cách nào?

1 Nâng cao Sản lượng, hiệu quả

2 Cải thiện mức sống và thu nhập của nông dân

3 Cải thiện phương pháp và kỹ thuật canh tác

4 Tăng cường hiểu biết, kỹ năng

và thái độ ứng xử

5 Nâng cao địa vị x/ hội

6 Phổ biến kết quả nghiên cứu từ các trường, viện ngiên cứu đến nông dân

1 Cung cấp hiểu biết và kỹ năng

2 Giáo dục chính quy và không

chính quy

3 Quá trình truyền đạt thông tin

4 Thiết kế các hoạt động hỗ trợ

nông dân

Trang 17

- Phương pháp khuyến nông đào tạo và tham quan

- Phương pháp khuyến nông có sự tham gia của người nông dân (PRA)

- Phương pháp khuyến nông lập dự án

- Phương pháp khuyến nông phát triển hệ thống nông nghiệp

- Phương pháp khuyến nông cùng chịu phí tổn

- Phương pháp khuyến nông tổ chức giáo dục đào tạo

Mỗi phương pháp khuyến nông có nội dung cách thức tiến hành, ưu và nhược điểm riêng, song đều hướng vào hỗ trợ cho sự phát triển của nông nghiệp và nông thôn (xem phụ lục 1)

d) Vai trò và chức năng của công tác khuyến nông

Khuyến nông có vai trò chủ yếu là cầu nối giữa chính quyền, khoa học kỹ thuật, các dịch vụ x/ hội với nông dân Điều này được tóm tắt qua sơ đồ 2.2

Với vai trò là cầu nối, khuyến nông có các chức năng sau:

- Thường xuyên thu thập tài liệu và thông tin về tình trạng cộng đồng và sản xuất nông nghiệp

- Nhận biết lĩnh vực ưu tiên, khó khăn, nhu cầu và những vấn đề quan tâm của người dân và cộng đồng

- Xây dựng mối quan hệ thân hữu và tin cậy với nông dân

- Lựa chọn và hình thành các mục tiêu thay đỏi phù hợp

- Chuyển thông tin khoa học thành ngôn ngữ và nhận thức của người dân

- Lựa chọn và sử dụng phương pháp khuyến nông thích hợp

- Phổ biến và truyền bá thông tin và kỹ thuật mới

- Thực hiện các hoạt động giáo dục khuyến nông

- Công nhận và hướng dẫn các giai đoạn trong tiến trình thay đổi của cộng đồng

- Thực hiện các chức năng khuyến nông bổ sung

Trang 18

Sơ đồ 2.2: Mối quan hệ giữa khuyến nông với các tổ chức và nông dân

Từ vai trò và chức năng của khuyến nông mà các hoạt động khuyến nông

được coi là các dịch vụ hay thường gọi là dịch vụ khuyến nông

e) Tiến trình của công tác khuyến nông và phát triển nông thôn

Theo trình tự, công tác khuyến nông được thực hiện theo các bước sau:

Bước 1: Chuẩn đoán nhu cầu khuyến nông

Đây là bước đầu tiên và rất quan trọng nhằm xác định nhu cầu của người dân hay cộng đồng cần hỗ trợ gì, khi nào? và bằng cách nào?

Để chuẩn đoán đúng nhu cầu của người dân, công việc chính của bước này là thu thập được thông tin về thực trạng cộng đồng và sản xuất nông nghiệp, phân tích

đánh giá hiện trạng để phát hiện những thuận lợi, khó khăn, và nhu cầu cần hỗ trợ Bước 2: Lập kế hoạch có sự tham gia

Xây dựng kế hoạch khuyến nông có sự tham gia là phương pháp đang được

áp dụng rộng r/i Tuỳ thuộc từng điều kiện hỗ trợ mà có sự tham gia của cán bộ

KHUYếN NÔNG

Trang 19

khuyến nông, người dân và các tổ chức khác như đại diện chính phủ (UBND), đại diện các nhà khoa học và tổ chức dịch vụ x/ hội (tín dụng )

Kế hoạch khuyến nông có sự tham gia sẽ phù hợp với thực tế hơn

Chuẩn đoán nhu cầu

Sơ đồ 2.3: Tiến trình của công tác khuyến nông Bước 3: Thực hiện kế hoạch

Kế hoạch khuyến nông có thể do các tổ chức cung cấp dịch vụ khuyến nông thực hiện Hình thức tổ chức thực hiện được coi là hợp nhất là hợp đồng giữa người dân với một tổ chức cung cấp dịch vụ khuyến nông Trong quá trình thực hiện, cán

bộ khuyến nông sẽ giám sát cụ thể về tiến độ thực hiện và các vấn đề phát sinh để đề xuất điều chỉnh kế hoạch phù hợp

Bước 4: Giám sát và đánh giá kết quả

Đây là bước cuối cùng nhằm đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch khuyến nông Các tiêu chí được đặt ra để giám sát và đánh giá là tính phù hợp, tính hiệu lực, hiệu quả, tác động và bền vững Dựa trên các tiêu chí này kế hoạch khuyến nông

được đánh giá là thành công hay thất bại

sự tham gia

Giám sát

đánh giá

Đánh giá hiện trạng, phát hiện trở ngại, khó khăn

Giám sát Giám sát

1

2

3

4

Trang 20

2.1.1.2 Khả năng tiếp cận các dịch vụ khuyến nông của hộ nông dân

a) Khái niệm về tiếp cận và khả năng tiếp cận DVKN

* Dịch vụ khuyến nông

Cầu và cung các dịch vụ trong nông nghiệp bao gồm nhiều lĩnh vực, quan trọng nhất là: Dịch vụ khuyến nông; Dịch vụ vật tư nông nghiệp; Dịch vụ bảo vệ thực vật; Dịch vụ thú y, dịch vụ thủy lợi và dịch vụ cơ giới hóa nông nghiệp được nông dân hết sức quan tâm và chủ yếu được cung ứng bởi khu vực Nhà nước

Dịch vụ khuyến nông là một loạt các hoạt động được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước và các bên hữu quan khác với mục tiêu cung cấp các dịch vụ chuyển giao kiến thức và kỹ thuật sản xuất nông nghiệp cho nông dân, góp phần giúp họ có thể cải thiện, phát triển sản xuất, cải thiện đời sống và góp phần vào lợi ích chung của đất nước Khuyến nông xuất phát trực tiếp từ nhu cầu của người sản xuất và yêu cầu tăng cường năng lực cạnh tranh của ngành nông nghiệp Bốn hình thức chuyển giao chính được quan tâm là thông tin tuyên truyền; bồi dưỡng, tập huấn và đào tạo; xây dựng mô hình và chuyển giao khoa học công nghệ [4]

Dịch vụ khuyến nông đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển nông nghiệp Trong cơ chế mới, hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ thì dịch vụ khuyến nông càng có ý nghĩa to lớn để nông dân tiếp cận với khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong sản xuất kinh doanh Dịch vụ khuyến nông là một nội dung cơ bản trong dịch vụ nông nghiệp nhằm nâng cao kiến thức thông qua việc đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thuỷ sản (khuyến ngư), cơ khí, bảo quản chế biến, thủy nông

và ngành nghề nông thôn (khuyến công) Qua đó hỗ trợ sản xuất, hỗ trợ chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, chuyển đổi giống cây trồng vật nuôi, phát triển hạ tầng cơ sở phục vụ sản xuất, hỗ trợ về KHKT Thông qua các chương trình khuyến nông - khuyến ngư, hàng triệu nông dân đ/ được cung cấp kiến thức về canh tác, sử dụng giống mới, các biện pháp phòng trừ dịch bệnh, chế biến và bảo quản sau thu hoạch, Sự đầu tư này đ/ tạo tiền đề cho việc nâng cao năng suất lao động, người nông dân có cơ hội hình thành mô hình sản xuất, chuyển từ sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa Song, để triển khai các DVKN cho người dân thì cần có sự tiếp cận từ nguồn cung cấp DVKN và nguồn có nhu cầu đúng lúc, đúng đối tượng

Trang 21

* Thế nào là tiếp cận và tiếp cận dịch vụ khuyến nông?

Theo “Từ điển tiếng Việt” của Viện ngôn ngữ học thuộc Viện khoa học x/ hội Việt Nam thì tiếp cận vừa là một danh từ vừa là một động từ với các nghĩa như :

ở gần, ở cạnh; đến gần, có sự tiếp xúc; hoặc là từng bước, bằng những phương pháp nhất định, để tìm hiểu một đối tượng trong một hệ thống nhất định [13]

Tiếp cận là sự cần thiết của một hệ thống Mỗi hệ thống (hệ thống nền kinh

tế, hệ thống cây trồng, vật nuôi, hệ thống khuyến nông) đều có một cấu trúc tổ chức riêng, có sự l#nh đạo, có nguồn nhân lực, trang thiết bị và cơ sở vật chất Nó cũng

có chương trình hoạt động với những mục tiêu, phương pháp và kỹ thuật thực hiện

Nó cũng có liên kết với các tổ chức khác, các cộng đồng dân cư cũng như các đối tượng mà nó phục vụ

Vì vậy, sự tiếp cận là hình thức hoạt động trong nội bộ hệ thống Nó vừa cung cấp thông tin, khích lệ, hướng dẫn về tổ chức, l/nh đạo, xây dựng chương trình, huy động, sử dụng các nguồn lực và tạo dựng các mối liên kết

Tuỳ theo mục tiêu, lĩnh vực nghiên cứu mà có các hướng tiếp cận khác nhau như tiếp cận giới, tiếp cận thị trường, tiếp cận tín dụng, tiếp cận khuyến nông

Tiếp cận khuyến nông là sự thiết yếu của hệ thống khuyến nông, bao gồm những hoạt động nhằm tìm hiểu, nắm bắt thông tin về khuyến nông cũng như điều kiện và phương thức để thiết lập mối quan hệ cung cấp dịch vụ với các tổ chức hoặc cơ quan khuyến nông tại một khu vực hay một địa phương nào đó Sự tiếp cận này diễn ra theo hai phía ngược chiều nhau, từ cơ quan khuyến nông đến nông hộ và ngược lại Trong đó cơ quan cung cấp dịch vụ khuyến nông là người sở hữu lượng giá trị và nông hộ chính là người có nhu cầu sử dụng lượng giá trị này

* Khả năng tiếp cận các dịch vụ khuyến nông

Khả năng tiếp cận là một thuật ngữ có nguyên ngữ tiếng anh là

"accessibility" Thuật ngữ này dùng để nói đến việc tạo ra những điều kiện thuận lợi,

dễ dàng và uyển chuyển nhất giúp cho các nhóm người dân khác nhau có thể sử dụng được một dịch vụ nào đó Khả năng tiếp cận bao gồm nhận thức, kỹ năng và thái độ của người dân và người cung cấp dịch vụ sao cho hữu dụng nhất

Để tiếp cận được các dịch vụ khuyến nông, người nông dân cần có đủ 3 điều kiện sau: Điều kiện tự nhiên; Điều kiện vật chất; Điều kiện tri thức(bao gồm cả kiến

Trang 22

thức, kỹ năng và nhận thức) [23, 26] ở các quốc gia, các vùng sinh thái khác nhau khả năng tiếp cận của nông dân cũng khác nhau

Điều kiện vật chất và điều kiện tri thức là những điều kiện mà người nông dân không bao giờ có sẵn và đầy đủ, họ luôn phải tìm kiếm, thu nhận thêm từ bên ngoài, từ phía Nhà nước và x/ hội Có 2 loại trợ giúp cơ bản, đó là:

- Trợ giúp về điều kiện vật chất như: đất đai, tư liệu sản xuất, vốn Loại trợ giúp này từ 2 nguồn chính:

+ Nhà nước: các khoản trợ cấp: vật tư, tiền vốn ưu đ/i được hưởng thông qua chính sách đất đai, thuế, tín dụng giá cả

+ Nông dân tự mua bán từ các tổ chức kinh tế của Nhà nước cũng như các tổ chức kinh tế khác như: máy móc, công cụ, vật tư, nguyên liệu từ các tổ chức kinh doanh nông nghiệp, vay vốn từ các ngân hàng và tổ chức tín dụng, tiêu thụ sản phẩm của mình qua các tổ chức kinh doanh

- Trợ giúp về tri thức: Sự trợ giúp về kiến thức, kỹ năng và thái độ (ứng xử) cho nông dân từ 2 nguồn chủ yếu:

+Tự tích luỹ bằng cách tự học từ thực tiễn sản xuất và học qua sách vở, +Tiếp nhận từ các tổ chức, cá nhân thông qua truyền bá thông tin, giáo dục huấn luyện

Dựa trên các đều kiện nói trên, khả năng tiếp cận các dịch vụ khuyến nông của hộ nông dân thể hiện qua các tiêu chí sau:

(1) Nhận thức của hộ nông dân về cán bộ khuyến nông, các hoạt động khuyến nông, hệ thống khuyến nông và các tổ chức cung cấp dịch vụ khuyến nông (2) Thái độ và kết quả tham gia các hoạt động khuyến nông của hộ nông dân (3) Mục đích sử dụng và kết quả sử dụng các hỗ trợ của khuyến nông

(4) Mức độ sử dụng các dịch vụ khuyến nông

(5) Mức độ chia sẻ các thông tin do khuyến nông cung cấp cho các hộ nông dân b) Mục đích tiếp cận các dịch vụ khuyến nông của hộ nông dân

Trước đây, việc tiếp cận với các dịch vụ khuyến nông phục vụ sản xuất nông nghiệp của người nông dân còn rất hạn chế Tuy nhiên, trong vài năm trở lại đây, các tổ chức cung cấp dịch vụ khuyến nông ngày càng nhiều, do đó số chủ hộ và lao

động chính trong hộ được nâng cao nhận thức về khuyến nông, được tập huấn các kỹ

Trang 23

thuẺt trăng trảt, chẽn nuềi, ệ−ĩc tiạp cẺn cịc thềng tin vÒ khuyạn nềng còng tẽng lến

ậ−ĩc tham gia vộo cịc hoỰt ệéng khuyạn nềng, ng−êi dẹn sỳ hiÓu hển vộ nhẺn thục râ hển vai trư còng nh− tẵm quan trảng cựa khuyạn nềng Khi nhẺn thục cựa ng−êi dẹn tẽng lến, hả sỳ tÝch cùc tham gia tõ ệã ng−êi dẹn ịp dông nhọng kiạn thục vộ kủ nẽng cể bờn vÒ khuyạn nềng vộo sờn xuÊt trong gia ệinh cựa hả cã hiỷu quờ hển Vừ vẺy môc

ệÝch tiạp cẺn khuyạn nềng ệÓ thay ệữi nhẺn thục vộ hộnh vi: Theo cịch hiÓu nộy, tiạp cẺn gióp con ng−êi tõ quan sịt ệạn nhẺn thục, hảc tẺp vộ ịp dông mét kủ thuẺt nộo ệã vộo trong thùc tiÔn Vắi tiạp cẺn khuyạn nềng, quy trừnh nộy gióp ng−êi dẹn nhẺn thục

ệ−ĩc tẵm quan trảng cựa cịc hoỰt ệéng khuyạn nềng nãi chung, sỏ dông cịc dỡch vô khuyạn nềng nãi riếng tõ ệã thóc ệÈy hả ệ−a ra quyạt ệỡnh cã tiạp nhẺn cịc hoỰt ệéng cựa dỡch vô khuyạn nềng hay khềng mét cịch chự ệềng Mét dỡch vô khuyạn nềng chử hiỷu quờ nạu ng−êi dẹn sơn sộng chÊp nhẺn nã Sù sơn sộng sỳ gióp cho quị trừnh hảc tẺp tÝch cùc cựa ng−êi dẹn ệ−ĩc thùc hiỷn tèt Ng−êi dẹn cã tÝch luủ kiạn thục vộ kủ nẽng hoộn chửnh Tõ ệã, nhọng nềng dẹn nộy khềng chử cã khờ nẽng ịp dông cịc kiạn thục kủ nẽng hảc ệ−ĩc mộ cưn chia sĨ, tuyến truyÒn vộ ệộo tỰo cho cịc thộnh viến khịc trong céng ệăng Quy trừnh thay ệữi hộnh vi nộy ệ−ĩc thÓ hiỷn ẻ sể ệă d−ắi ệẹy:

Sể ệă 2.4: Thay ệữi hộnh vi nhẺn thục vộ tiạp nhẺn dỡch vô khuyạn nềng

Mong muốn thay ựổi (4)

Học tập và thử nghiệm (5)

đánh giá và ựúc rút kinh nghiệm

(6)

Vận dụng kiến thức, kỹ năng (7)

Chia sẻ và trao

ựổi kinh nghiệm

(8)

Trang 24

c) Phương pháp tiếp cận dịch vụ khuyến nông

Có nhiều cách tiếp cận dịch vụ khuyến nông đ/ và đang được áp dụng ở nhiều nước tren thế giới ở đây, chúng tôi hệ thống một cách ngắn gọn 8 phương pháp chính sau[17, 30]:

(1) Tiếp cận khuyến nông tổng quát: Theo cách tiếp cận này, thường có giả

định rằng công nghệ và thông tin sẵn có nhưng không được nông dân sử dụng, nên nếu kiến thức này được chuyển tới hộ nông dân thì các hoạt động sẽ được cải thiện Với mục đích nhằm giúp nông dân tăng sản lượng, chính phủ tài trợ và kiểm soát kế hoạch, chương trình hoạt động Cách tiếp cận này đòi hỏi số lượng nhân viên lớn, chi phí cao và khác nhau giữa các quốc gia, các địa phương Sự thành công đánh giá dựa trên tỷ lệ áp dụng các khuyến nghị và mức tăng sản lượng

(2) Tiếp cận chuyên môn hoá sản xuất: Giả định ở đây là cách làm tăng năng suất và sản lượng của một loại hàng hoá bằng cách tập hợp tất cả các chức năng có liên quan dưới sự điều khiển của một cấp quản lý, bao gồm khuyến nông đi đôi với nghiên cứu, cung cấp đầu vào, tiêu thụ sản phẩm và thông thường là giá cả.Việc lập

kế hoạch chương trình khuyến nông được kiểm soát bởi tổ chức chuyên về sản phẩm

đó (tổ chức hàng hoá) và việc thực hiện được thông qua các nhân viên cơ sở của tổ chức này Các nguồn lực có xu hướng được cung cấp bởi tổ chức hàng hoá mà theo

nó, khuyến nông được coi như là một sự đầu tư đúng đắn Cách tiếp cận này có thể

sử dụng các kỹ thuật và phương pháp như cách tiếp cận trên, tuy nhiên thông thường

sự thành công được đánh giá qua tổng sản lượng của loại cây trồng cụ thể

(3) Tiếp cận theo hướng tham quan và đào tạo: Các giả định là: Dưới sự chỉ

đạo của cục khuyến nông, các nhân viên khuyến nông được đào tạo một cách không

đầy đủ, thiếu sự quản lý và hỗ trợ về mặt hậu cần Hơn nữa, cách tiếp cận này giả

định rằng các chuyên gia được đào tạo một cách không bài bản và không tạo được mối liên hệ giữa chức năng nghiên cứu và đào tạo Mục đích của cách tiếp cận này

là nhằm thúc đẩy hộ nông dân tăng sản lượng của các cây trồng cụ thể Việc lập kế hoạch chương trình được quản lý một cách tập trung và thể hiện sự cộng tác giữa các nhà nghiên cứu và nhân viên khuyến nông Số lượng nhân viên khuyến nông cơ sở

có xu hướng lớn và được phân bố dàn trải nhằm giảm tỷ lệ số nông dân trên số cán

bộ khuyến nông Tất cả nhân viên khuyến nông là đàn ông và không thuộc vùng mà

Trang 25

họ phục vụ Do số lượng nhân viên lớn ở các cấp địa phương và cấp vùng, chi phí thường rất cao và phụ thuộc vào ngân quỹ của trung ương Hiệu quả của việc thực thi cách tiếp cận này đạt được thông qua một mô hình kết hợp chặt chẽ giữa các chuyến tham quan hộ nông dân và các lớp đào tạo nhân viên khuyến nông, cùng với các quy định nghiêm ngặt đối với các hoạt động hai tuần một và hàng ngày Cùng với các nguồn tài trợ quốc tế, tổng số nhân viên tăng lên đáng kể Sự thành công

được đánh giá thông qua tăng sản lượng của các cây trồng cụ thể trong chương trình

(4) Tiếp cận khuyến nông có sự tham gia: Giả định ở đây là nông dân có khá nhiều hiểu biết về việc sản xuất nông nghiệp từ đất đai của họ, tuy nhiên mức sống của họ vẫn có thể được cải thiện bằng việc học hỏi thêm những kiến thức bên ngoài Hơn nữa, cách tiếp cận này giả định rằng hiệu lực của công tác khuyến nông không thể đạt được nếu thiếu sự tham gia của hộ nông dân, công tác nghiên cứu và các dịch

vụ có liên qua; và có sự tác động tăng cường của việc học hỏi theo nhóm và hoạt

động nhóm; kết quả của công tác khuyến nông đạt được qua việc tập trung vào các

điểm quan trọng dựa trên các nhu cầu của người nông dân và qua việc tiếp cận tới các hộ nông dân nhỏ thông qua các nhóm/tổ chức của họ thay vì tiếp cận theo từng cá nhân

Mục đích của cách tiếp cận này là tăng sản xuất và tiêu dùng và cải thiện mức sống của người dân nông thôn Việc lập kế hoạch chương trình được quản lý theo địa phương, thông thường bởi các nhóm như Hội nông dân ở những nơi không

có Hội nông dân, nhân viên khuyến nông hỗ trợ cho việc thành lập Hội Sự ưu tiên khác nhau một cách đáng kể giữa các vùng và giữa các giai đoạn trong một quốc gia Nhân viên cơ sở có xu hướng là người địa phương, chi phí thấp hơn, với trình độ

đào tạo và mật độ phân bố với hoàn cảnh cụ thể của từng địa phương Chi phí cho cách tiếp cận này thấp và phần lớn có thể trang trải bằng địa phương Việc thực hiện thông qua các cuộc họp nhóm, các mô hình trình diễn, tham quan cá nhân và nhóm, chia sẻ các công nghệ phù hợp trong địa phương Sự thành công được đánh giá bằng

số nông dân tham gia tích cực và được hưởng lợi, cũng như tính liên tục của tổ chức khuyến nông địa phương

(5) Tiếp cận dự án: Cách tiếp cận này giả định rằng sự phát triển nông nghiệp

và nông thôn nhanh chóng là cần thiết và rằng bộ máy hành chính trong cục khuyến

Trang 26

nông dường như không có một sự tác động đáng kể nào đến sản xuất nông nghiệp và người dân nông thôn trong một khung thời gian hợp lý và các kết quả tốt hơn có thể

đạt được thông qua cách tiếp cận dự án ở một vùng cụ thể, trong một khoảng thời gian nhất định, với các hỗ trợ đáng kể các nguồn lực từ bên ngoài

Mục đích thường là để thử nghiệm những gì có thể được ứng dụng trong một vài năm tới Chính quyền trung ương quản lý việc lậ kế hoạch chương trình và thông thường với một lượng đầu vào đáng kể từ các tổ chức phát triển quốc tế Việc thực hiện thường gắn với phụ cấp cho nhân viên dự án, hỗ trợ cho việc đi lại tốt hơn, các trang thiết bị và nhà ở tốt hơn so với các chương trình thông thường của Chính phủ

và các chuyên gia nước ngoài giúp đỡ nhân viên ở địa phương Sự thành công được

đánh giá bởi các thay đổi ngắn hạn

(6) Tiếp cận phát triển hệ thống canh tác: Giả định ở đây là công nghệ phù hợp với nhu cầu của nông dân là không sẵn có, đặc biệt là đối với các hộ nông dân nhỏ và công nghệ này cần được tạo ra trong địa phương mục đích của cách tiếp cận này là cung cấp lực lượng nhân sự khuyến nông (người nông dân), với các kết quả nghiên cứu đáp ứng được nhu cầu và phù hợp với các điều kiện hệ thống nông nghiệp địa phương Các kế hoạch chương trình tiến triển một cách chậm trong quá trình thực hiện và có thể khác nhau đối với mỗi kiểu hệ thống sinh thái đồng ruộng

và khí hậu nông nghiệp, vì các kế hoạch này bao gồm một cách tiếp cận theo hướng chính thể đối với các cây trồng, vật nuôi và người dân trong một khu vực cụ thể Nhân viên cơ sở thường được chuyên môn hoá cao, chi phí tương đối nhiều và là người ngoài vùng mà họ phục vụ Việc thực hiện được thông qua sự phối hợp giữa các cán bộ nghiên cứu và nhân viên khuyến nông với người dân địa phương, áp dụng

"cách tiếp cận hệ thống" đối với hộ nông dân, đôi khi có cả một vài quy định khác nhau, tiến hành nghiên cứu và thử nghiệm trên đồng ruộng của hộ nông dân và tại nhà của họ Sự thành công được đánh giá thông qua mức độ mà nông dân ứng dụng công nghệ của chương trình và tiếp tục sử dụng các công nghệ này

(7) Tiếp cận chia sẻ chi phí: Giả định ở đây là chương trình phù hợp hơn với

điều kiện địa phương và lực lượng nhân sự đáp ứng tốt hơn các mối quan tâm của người dân địa phương nếu như một phần chi phí của công tác khuyến nông được trả bởi địa phương Cách tiếp cận này cũng giả định rằng người dân nông thôn quá

Trang 27

nghèo không thể chi trả toàn bộ những chi phí này, nên chính quyền địa phương và khu vực sẽ chi trả hầu hết các chi phí Mục đích ở đây là giúp người dân nông thôn học hỏi những điều mà họ cần biết để nâng cao kiến thức cho bản thân và đạt được năng suất cao hơn Việc quản lý kế hoạch chương trình được phân công giữa các cấp tài trợ tài chính cho chương trình, song phải đáp ứng được sự quan tâm của địa phương để duy trì các thoả thuận một cách "hợp tác" về vấn đề này Nhân viên cơ sở thường được tuyển dụng trong địa phương, chi phí ít hơn và thường phục vụ ở cùng một địa điểm trong một thời gian dài Do bản chất của cách tiếp cận này, chi phí nguồn lực đòi hỏi ở chính quyền trung ương thường thấp hơn Sự thành công được

đánh giá qua sự tự nguyện của nông dân và khả năng chia sẻ chi phí cá nhân hoặc thông qua các bộ phận chính quyền địa phương

(8) Tiếp cận thể chất giáo dục: Giả định ở đây là các khoa hoặc trường nông nghiệp có thông tin kỹ thuật phù hợp và hữu ích đối với nông dân Mục đích của cách tiếp cậnnày là giúp đỡ nông dân học hỏi về khoa học nông nghiệp Việc lập kế hoạch chương trình thường được quản lý bởi những người soạn ra chương trình giảng dạy của tổ chức giáo dục Việc thực hiện được tiến hành thông qua giảng dạy một cách không chính thức theo các nhóm, theo cá nhân, với nhiều phương pháp và

kỹ thuật khác nhau, đôi khi việc thực hiện được tiến hành bởi một trường cao đẳng hoặc đại học với đối tượng là nhân viên khuyến nông của các cơ quan

Trong khi cách tiếp cận này đòi hỏi một nguồn lực đáng kể, song bởi vì chi phí được chia sẻ giữa các chương trình giảng dạy trên lớp của tổ chức giáo dục với bộ phận khuyến nông, nên cách tiếp cận này có hiệu lực cao về mặt chi phí Sự thành công

được đánh giá qua sự tham gia của nông dân và các hoạt động khuyến nông của trường học

d) Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận dịch vụ khuyến nông của nông dân

Tiếp cận các dịch vụ khuyến nông hay gọi tắt là tiếp cận khuyến nông là quá trình hoạt động trong hệ thống khuyến nông được diễn ra từ hai phía ngược chiều, một là các tổ chức cung cấp dịch vụ khuyến nông, hai là hộ nông dân - người có nhu cầu sử dụng các dịch vụ khuyến nông Vì vậy, các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận các dịch vụ khuyến nông của nông dân là:

Trang 28

(1) Trình độ của cán bộ khuyến nông: Trình độ cán bộ khuyến nông thực hiện qua hiểu biết về kiến thức; kỹ năng giao tiếp và hành vi ứng xử của họ với người dân Cán bộ khuyến nông có hiểu biết rộng không chỉ về kỹ thuật, về thị trường, về chính sách, môi trường, x/ hội lại nhiệt tình và thân thiện với nông dân thì khả năng tiếp cận của nông dân với các dịch vụ khuyến nông sẽ thuận lợi hơn

(2) Trình độ của hộ nông dân: Trình độ của chủ hộ và các thành viên trong hộ thể hiện về nhận thức, khoa học kỹ thuật, về kiến thức kinh tế, thị trường, x/ hội môi trường do khuyến nông cung cấp Họ sẵn sàng tham gia, sử dụng các dịch vụ hỗ trợ

và giúp đỡ nông dân khác

(3) Nội dung và chất lượng của các dịch vụ khuyến nông Các chương trình,

dự án, hoạt động khuyến nông, xuất phát từ nhu cầu của nông dân Phù hợp với khả năng của họ, các nguồn hỗ trợ tuy ít nhưng có chất lượng mới đảm bảo uy tín và khích lệ nông dân tham gia

(4) Cơ chế chính sách: Đây là nhóm nhân tố ảnh hưởng ở tầm vĩ mô, ngoài các chính sách về khuyến nông thì các chính sách khác có liên quan như, chính sách

đất đai, chính sách tín dụng, chính sách thuế cũng có những tác động ảnh hưởng đến hoạt động khuyến nông [VUFO - Trung tâm tư liệu NGO (11/2004), Các vấn đề về giới và dân tộc thiểu số trong khuyến nông NXB Hà Nội]

(5) Điều kiện tự nhiên: Các vùng miền núi, trung du do điều kiện địa hình khó khăn, nông dân ở đây trình độ thấp, khả năng tiếp cận thấp hơn các cùng đồng bằng

Điều kiện tự nhiên là yếu tố mang tính chất khách quan, các hoạt động sản xuất nông nghiệp đều chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện thời tiết, khí hậu, do đó các chương trình, dự án khuyến nông có đạt hiệu quả cao hay không cũng phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thời tiết tốt hay xấu

(6) Phong tục tập quán: Đây là một yếu tố mang tính truyền thống ở các địa phương, nếu một chương trình dự án khuyến nông triển khai không phù hợp với phong tục tập quán và điều kiện sản xuất của địa phương thì sẽ rất dễ bị thất bại Các phong tục tập quán cần chú ý là tập quán canh tác, chăn nuôi, tập quán tổ chức sản xuất, sử dụng các yếu tố như đất đai, lao động, quản lý trong hộ

(7) Nguồn vốn cho hoạt động khuyến nông: Vốn là nhân tố rất quan trọng

Trang 29

cần thiết cho sản xuất, các chương trình khi được triển khai cũng cần có đủ vốn để thực hiện, đặc biệt đối với người nông dân họ rất cần vốn để đưa tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất

Chất lượng dịch vụ khuyến nông hay nói một cách khác mức độ tiếp cận dịch

vụ khuyến nông đang được quan tâm Nhiều nhà nghiên cứu, nhà quản lý và x/ hội

đang mong muốn có những công cụ để đo đếm chính xác khả năng tiếp cận cũng như chất lượng dịch vụ khuyến nông, làm cơ sở đưa ra những chính sách phù hợp nhằm cải thiện hệ thống khuyến nông[26] Tuy nhiên, đây là một vấn đề vô cùng phưc tạp (GS.TS Bùi Quang Toản, 2007) Trên thực tế, nhiều tác giả đ/ có những phương pháp đánh giá khả năng tiếp cận khuyến nông khác nhau Các phương pháp này về cơ bản được thực hiện thông qua các hình thức cơ bản sau:

i) Đánh giá của người dân sử dụng dịch vụ khuyến nông: Sử dụng các bảng câu hỏi phỏng vấn cấu trúc, bán cấu trúc, thảo luận nhóm trọng tâm, tập huấn hội thảo để thu thập những ý kiến đánh giá của người sử dụng dịch vụ khuyến nông

ii) Cán bộ khuyến nông đánh giá: phỏng vấn, thảo luận sâu, trưng cầu ý kiến

đánh giá, nhận xét của các cán bộ khuyến nông, các cá nhân phát triển cộng đồng về chất lượng các dịch vụ khuyến nông chính thống hoặc phi chính thống Những thông tin này bổ trợ rất hiệu quả cho các thông tin thu thập được từ người dân và nó khắc phục được những hạn chế do người dân thường thiếu tầm nhìn và quan tâm nhiều hơn đến lợi ích cá nhân của họ

iii) Đánh giá của các chuyên gia, các nhà nghiên cứu kinh tế x/ hội: Những chuyên gia khuyến nông và các nhà nghiên cứu kinh tế x/ hội đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện công tác khuyến nông Họ là những tác nhân bên ngoài nên có những đánh giá khách quan và đúng đắn hơn về năng lực cán bộ và chất luợng các dịch vụ khuyến nông Lấy ý kiến đánh giá của các chuyên gia khuyến nông và các nhà nghiên cứu kinh tế x/ hội thường được thực hiện thông qua phương pháp phỏng vấn trưc tiếp, hoặc gián tiếp, qua các cuộc hội thảo

Trên thực tế nhiều nhà quản lý, hoạch định chính sách cũng như nhiều tổ chức phi chính phủ quốc tế(NGOs, INNGOs) và các cá nhân cũng tham gia đánh giá với các phương pháp khác nhau Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng phương

Trang 30

pháp của Rachel Polestico(2005)

Trong nghiên cứu của Rachel Polestico về "Đánh giá trong phát triển nông thôn 2005", Viện đào tạo cán bộ l/nh đạo nông thôn Đông Nam á(SEARSLIN), bà

đưa ra rất nhiều phương pháp đánh giá dự án cũng như đánh giá các chương trình phát triển Về đánh giá mức độ tiếp cận dịch vụ khuyên nông, Rachel nêu ra phương pháp mà tập trung vào đánh giá ba đối tượng chính sau: người trực tiếp sử dụng DVKN, cán bộ khuyến nông và chất lượng các dịch vụ khuyến nông

Để thực hiện phương pháp này, theo bà chúng ta có thể sử dụng các cách đánh giá như: để người dân tự đánh giá, cán bộ KN đánh giá và các chuyên gia đánh giá Các công cụ mà Rachel đưa ra trong quá trình đánh giá là: các bảng câu hỏi phỏng vấn cấu trúc, bán cấu trúc, thảo luận nhóm, họp dân, hội thảo, danh sách số hộ tham gia tập huấn và phiếu dánh giá cán bộ KN Và bà cũng đưa ra những tiêu chí đánh giá mức độ tiếp cận dịch vụ khuyến nông của nông hộ như sau:

+ Đối với nông hộ: mức độ tiếp cận của các hộ đến đâu; Số dịch vụ được tiếp cận, tỷ lệ số hộ được tiếp cận với tổng số hộ, kết quả và hiệu quả kinh tế giữa các hộ tiếp cận và không tiếp cận

+ Đối với cán bộ khuyến nông: tỷ lệ KNV/số nông hộ, trình độ chuyên môn của KNV, số năm kinh nghiệm, động lực và tâm huyết của KNV, chính sách, chế độ của nhà nước đối với KNV

+ Đối với chất lượng dịch vụ KN: mức độ phù hợp của các dịch vụ KN với

định hướng phát triển nông nghiệp ở địa phương, các dịch vụ có đáp ứng về thời gian, không gian, địa điểm, về nội dung, có lưu ý vấn đề giới, kinh phí cho các dịch

vụ, chất lượng của chính sách khuyến nông

Các chỉ tiêu này cần được cho điểm theo mức độ đạt được và xếp hạng

2.1.1.3 Các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về khuyến nông

Phát triển dịch vụ khuyến nông ở Việt Nam được bắt đầu từ năm 1993 với mục tiêu hỗ trợ phát triển nông nghiệp nông thôn trên cơ sở tạo điều kiện thuận lợi cho nông dân tiếp cận tốt các dịch vụ khuyến nông Đảng và Chính phủ Việt Nam luôn đổi mới các chính sách nông nghiệp và nông thôn nói chung và chính sách khuyến nông khuyến lâm nói riêng Cụ thể:

Trang 31

- Tháng 7/1992 Bộ nông nghiệp thành lập Ban điều phối về công tác khuyến nông

- Ngày 2/3/1993 Chính phủ ban hành Nghị định số 13/CP “Quy định về công tác khuyến nông”

- Ngày 2/8/1993 có Thông tư liên bộ số 02/LB/TT: hướng dẫn thi hành Nghị

định số 13/CP

- Nghị định 13/CP và Thông tư 02 đ/ quy định về hệ thống tổ chức, chức năng nhiệm vụ và tài chính của công tác KN & KL

- Ngày 10/6/1993 Nghị quyết 5 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII nhấn mạnh “Đẩy mạnh công tác khuyến nông (bao gồm cả công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư) Tổ chức khuyến nông thành một hệ thống mạnh và đa dạng từ Trung ương đến cơ sở”

- Tháng 7/1993 Quốc hội nước cộng hoà x/ hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua

và công bố luật đất đai sửa đổi

- Ngày 16/3/1995 Quyết định của Thủ tướng chính phủ số 164/TTg về việc phê duyệt chương trình khuyến lâm từ năm 1995 – 2000

- Ngày 14/3/1996 Quyết định số 293/NNKNNL/QĐ của Bộ NN & PTNT về việc ban hành “Định mức vật tư kỹ thuật chủ yếu trong chương trình khuyến lâm”

- Ngày 2/10/1996 Quyết định số 1696/NN-TC/QĐ của Bộ trưởng Bộ NN & PTNT về nhiệm vụ quyền hạn cụ thể và tổ chức bộ máy của Cục KN&KL

- Ngày 10/11/1998 Bộ Chính trị ra Nghị quyết 6 khoá VIII về một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn Nội dung chủ yếu của nghị quyết là đẩy mạnh thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong nông thôn; chính sách về các thành phần kinh tế; chính sách về khoa học và công nghệ; chính sách về đầu tư, tín dụng

và thị trường và một số chính sách x/ hội

- Tháng 4 năm 2002 Bộ NN & PTNT ra quyết định thành lập Trung tâm khuyến nông Trung ương trực thuộc Cục khuyến nông và khuyến lâm chuyên làm nhiệm vụ khuyến nông Trước tình hình mới và nhu cầu của sản xuất ngày 18 tháng 7 năm

2003 chính phủ ban hành Nghị định số 86 /CP cho phép tách Cục Khuyến nông và

Trang 32

khuyến lâm thành hai đơn vị trực thuộc Bộ NN & PTNT đó là Trung tâm khuyến nông quốc gia, chuyên làm nhiệm vụ sự nghiệp khuyến nông và Cục Nông nghiệp chuyên làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về trồng trọt và chăn nuôi

- Tháng 7 năm 2008, Hội nghị BCH Trung ương đảng lần thứ 7 ra Nghị quyết số 26-NQ/TƯ "Về nông nghiệp, nông dân và nông thôn".Nghị quyết đánh giá và tổng kết lại những thành tựu cũng như những hạn chế và yếu kém về nông nghiệp, nông thôn và nông dân nước ta sau hơn hai mươi năm đổi mới Đồng thời nghị quyết đưa

ra những quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp cho những năm tới; Nghị quyết Trung ương nhấn mạnh: Nông nghiệp, nông dân, nông thôn luôn có vị trí quan trọng, là cơ sở và lực lượng để phát triển kinh tế - x# hội bền vững, ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc

và bảo vệ môi trường sinh thái Trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn, nông dân là chủ thể của quá trình phát triển [15]

Như vậy chính sách của Đảng và Nhà nước đối với nông lâm nghiệp nói chung, công tác KN&KL nói riêng, tuỳ từng giai đoạn lịch sử cụ thể, tuỳ thuộc vào sự phát triển của lực lượng sản xuất mà đ/ ban hành những chủ trương và chính sách Nếu các chính sách phù hợp sẽ có tác dụng kích thích sản xuất phát triển và ngược lại sẽ kìm h/m sự phát triển của sản xuất Trước sự chuyển đổi nền kinh tế của đất nước từ

kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường những chủ trương đó về cơ bản đ/ đưa nền nông nghiệp từ tự cung, tự cấp nhanh chóng có được sản phẩm hàng hoá (xuất khẩu gạo, cà phê, chè, các sản phẩm ngành chăn nuôi…) [2]

Như vậy, đặc trưng cơ bản của hộ là:

1 Hộ là một tập hợp chủ yếu và phổ biến của những thành viên có chung

Trang 33

huyết thống (cá biệt cũng có những thành viên của hộ không phải chung huyết thống như con nuôi, người tình nguyện và được sự đồng ý của các thành viên trong

hộ công nhận cùng chung hoạt động kinh tế lâu dài )

2 Hộ nhất thiết phải là một đơn vị kinh tế (chủ thể kinh tế), có nguồn lao

động và phân công lao động chung, có vốn và chương trình, kế hoạch sản xuất kinh doanh chung, là đơn vị vừa sản xuất, vừa tiêu dùng, có ngân quĩ chung và

được phân phối theo lợi ích thỏa thuận có tính chất gia đình hộ không phải là một thành phần kinh tế đồng nhất mà hộ có thể thuộc thành phần kinh tế cá thể, tư nhân, tập thể, nhà nước

3 Hộ là một đơn vị cơ bản của x/ hội, hay như chúng ta thường nói gia đình

là tế bào của x/ hội Vậy vẫn phải đồng thời khẳng định vai trò của hộ đối với x/ hội

và như vậy hộ sẽ không chỉ là một đơn vị kinh tế đơn thuần

b) Hộ nông dân

Từ khái niệm hộ gia đình mà nhiều nhà kinh tế- x/ hội như Frank

Ellis(1993); A.V Traianop(1996); Lê Đình Thắng (1993) khi nghiên cứu trong nông nghiệp đều thống nhất cho rằng Hộ nông dân là các hộ gia đình làm sản xuất nông nghiệp và có các đặc trưng sau:

- Hộ nông dân là những hộ sống ở nông thôn, có ngành nghề sản xuất chính

là nông nghiệp, nguồn thu nhập và sinh sống chủ yếu bằng nghề nông Ngoài hoạt

động nông nghiệp, hộ nông dân còn tham gia các hoạt động phi nông nghiệp (như tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, thương mại )

- Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa là một đơn vị tiêu dùng, đó là điều khẳng định Tuy vậy, kinh tế hộ nông dân thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao

Như vậy hộ nông dân không thể là một đơn vị kinh tế độc lập tuyệt đối và toàn năng, mà còn phải phụ thuộc vào hệ thống kinh tế lớn hơn của nền kinh tế quốc dân Khi trình độ phát triển lên mức cao của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thị trường x/ hội càng mở rộng và đi vào chiều sâu, thì các hộ nông dân càng phụ thuộc nhiều hơn vào hệ thống kinh tế rộng lớn không chỉ trong phạm vi một vùng, một nước Điều này càng có ý nghĩa đối với các hộ nông dân nước ta trong tình hình hiện nay

Trang 34

hỗ trợ và tạo đIều kiện để phát triển

Vì lý do hộ không tuyển dụng lao động nên không có khái niệm tiền lương và không tính được lợi nhuận, địa tô và lợi tức Nông hộ chỉ có thu nhập chung của tất cả các hoạt động kinh tế Đó là giá trị thu được hàng năm của hộ trừ đi chi phí mà

hộ đ/ bỏ ra cho sản xuất - kinh doanh

Trước đây quan niệm, kinh tế nông hộ là kinh tế của hộ làm nông nghiệp bao gồm cả nông – lâm – ngư nghiệp, nhưng hiện nay chúng ta có thể thấy rằng kinh tế nông hộ là kinh tế của hộ sống ở nông thôn, bao gồm cả thu từ nông nghiệp và phi nông nghiệp

Kinh tế hộ nông dân có các đặc trưng sau:

• Có sự thống nhất chặt chẽ giữa quyền sở hữu với quá trình quản lý và sử dụng các yếu tố sản xuất

• Lao động quản lý và lao động trực tiếp có sự gắn bó chặt chẽ, trong nông

hộ mọi người thường gắn bó chặt chẽ với nhau theo quan hệ huyết thống, kinh tế nông hộ lại tổ chức với quy mộ nhỏ hơn các loại hình doanh nghiệp nông nghiệp khác nên sự việc điều hành sản xuất và quản lý cũng đơn giản, gọn nhẹ

• Trong nông hộ chủ hộ thường vừa là người điều hành quản lý sản xuất,

đồng thời lại là người trực tiếp tham gia lao động sản xuất nên tính thống nhất giữa lao động quản lý và lao động trực tiếp rất cao

• Kinh tế nông hộ có khả năng thích nghi và tự điều chỉnh rất cao

• Có sự gắn bó chặt chẽ giữa quá trình sản xuất với lợi ích của người lao động

• Kinh tế nông hộ là đơn vị sản xuất có quy mô nhỏ nhưng hiệu quả

• Kinh tế nông hộ sử dụng sức lao động và tiền vốn của hộ là chủ yếu

Trang 35

về phát triển kinh tế hộ: đất, khuyến nông, tín dụng, thị trường

*Nhóm yếu tố về kinh tế và tổ chức quản lý: trình độ học vấn và kỹ năng lao

động, vốn, công cụ sản xuất, cơ sở hạ tầng, thị trường, hình thức và mức độ liên kết hợp tác trong các mối quan hệ sản xuất kinh doanh

Các chỉ tiêu thể hiện kết quả và hiệu quả kinh tế hộ nông dân thường dùng là:

• Tổng thu và cơ cấu tổng thu của hộ

• Tổng chi và cơ cấu chi tiêu

• Mức thu nhập bình quân/khẩu/tháng tăng lên

• Mức chi tiêu bình quân/1 khẩu/tháng tăng lên

• Số hộ khá tăng, số hộ nghèo giảm

• Số hộ thuần nông giảm, số hộ chuyên, kiêm tăng lên

• Chi phí đầu tư cho SXKD ngày càng nhiều

2.1.2.3 Mối quan hệ giữa kinh tế nông hộ với các dịch vụ khuyến nông

Thực tế nhiều năm ở nhiều nước đ/ chứng minh rằng những thành tựu của kinh tế hộ đạt được là do cách mạng khoa học kỹ thuật đưa lại thông qua các hoạt

động khuyến nông Khuyến nông hướng dẫn cho nông dân những tiến bộ kỹ thuật mới, xây dựng mô hình trình diễn Ngoài ra, khuyến nông còn giúp họ liên kết với nhau để chống thiên tai, tiêu thụ sản phẩm, hiểu biết các chính sách luật lệ của nhà nước, giúp người nông dân phát triển khả năng tự quản lý, điều hành, tổ chức các hoạt động x/ hội như thế nào cho ngày càng tốt hơn, phát triển bền vững hơn Thực

tế cũng cho thấy khuyến nông không phải luôn mang lại thắng lợi ở bất cứ địa

Trang 36

phương nào và bất cứ thời điểm nào, thậm chí còn phản tác dụng

Khuyến nông chỉ có thể thành công nếu xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của

người tiếp nhận khoa học kỹ thuật đó, trong đó việc kết hợp giữa các kiến thức hàn

lâm và kiến thức bản địa là rất quan trọng

Mối quan hệ giữa kinh tế nông hộ với các dịch vụ khuyến nông được thể hiện rõ hơn

trong sơ đồ sau:

Sơ đồ 2.5: Mô phỏng mối quan hệ giữa kinh tế hộ nông dân với khuyến nông

(theo Chanoch Jacobsen, 1996) [17]

Như vậy giữa khuyến nông với phát triển kinh tế nông hộ có mối quan hệ chặt

chẽ Trong mối quan hệ này khuyến nông được coi như là phương pháp tiếp cận phát

triển kinh tế nông hộ và cũng là một công cụ, phương tiện hữu hiệu để phát triển

kinh tế Để khuyến nông thực sự trở thành cầu nối vững chắc, một công cụ phát triển

và phương pháp tiếp cận thì các phương pháp đánh giá nông thôn có người dân tham

gia cũng giữ một vai trò hết sức quan trọng trong khuyến nông

Nghiờn cứu

Tớn

dụng

Thị trường

Kinh tế nông hộ

Trang 37

2.2 Thực tiễn về tiếp cận khuyến nông cho phát triển nông nghiệp, nông thôn 2.2.1 Thực tiễn về công tác khuyến nông ở một số nước trên thế giới và Việt Nam a) Trên thế giới

Khuyến nông trên thế giới bắt đầu xuất hiện từ thời kỳ Phục hưng (Thế kỷ XIV) khi khoa học bắt đầu ứng dụng lý thuyết vào thực tiễn Khởi đầu là Rabelais (1493-1553) - một thầy thuốc và cũng là nhà giáo người Pháp đ/ chủ trương gắn liền nhà trường với thực tiễn Từ khi hình thành đến nay, Khuyến nông đ/ đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển nông nghiệp thế giới và ngày càng được khẳng

định vai trò đó là không thể thiếu đối với nền nông nghiệp của bất kỳ quốc gia nào Hiện nay, nông nghiệp tất cả các nước đều có hệ thống khuyến nông chính thức Hầu hết trong Bộ Nông nghiệp các nước đều có Cục Khuyến nông hoặc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia

Theo báo cáo của Swanson và Rassi trong cuốn Niên giám quốc tế về hệ thống khuyến nông Quốc gia vào năm 1981, hệ thống khuyến nông Quốc gia đ/ tồn tại ở

104 nước vào thời gian đó Tổng số nhân viên khuyến nông của các tổ chức này là 290.252 người, chưa kể các nhân viên khuyến nông làm việc trong các dự án và các

tổ chức tư nhân và phi chính phủ, con số thực của nhân viên khuyến nông còn lớn hơn nhiều [8, 24]

Bên cạnh hoạt động của các cơ quan chính phủ, các hoạt động khuyến nông có thể được tiến hành bởi các đại lý của Ngân hàng nông nghiệp, các nhà cung cấp đầu vào (hạt giống, phân bón, thức ăn chăn nuôi, ), các tổ chức tư nhân tự nguyện, các nhóm tôn giáo và cả các h/ng tư nhân và nhà nước thu mua sản phẩm của nông dân Nguồn gốc của các tổ chức khuyến nông hiện nay có thể bắt nguồn từ các giáo viên lưu động của các trường nông nghiệp, các hội làm vườn, các hội cộng đồng nông thôn, hay từ các ban chính quyền được lập ra để nhập khẩu các cây trồng mới hay ngăn chặn dịch bệnh cây trồng và vật nuôi

- Những hoạt động khuyến nông ở châu Âu, Uc, Niu Dilân và Canada có khuynh hướng giống như ở Mỹ, nhưng tổ chức của họ đ/ phát triển và có phần khác nhau Tổ chức đòi hỏi các dịch vụ khuyến nông bắt nguồn từ những hội nông nghiệp Trong một số trường hợp những hoạt động này đ/ được đặt trong cơ quan

Trang 38

của Bộ nông nghiệp

- Khuyến nông ở Thái Lan được hình thành chậm, m/i đến năm 1967 mới có Tuy chậm nhưng được Chính phủ quan tâm, đầu tư cán bộ và kinh phí hoạt động, năm 1992 Thái Lan có khoảng 15.196 cán bộ khuyến nông, trong đó 11.933 người

là cán bộ biên chế và 3.263 người cán bộ hợp đồng

- ở Inđônêxia, là một trong các nước lớn trên thế giới với diện tích trên 1,9 triệu km2 và dân số trên 200 triệu người Inđônêxia có nguồn tài nguyên phong phú nhất trong khu vực Sau những năm thực hiện chương trình cải cách kinh tế, nền kinh tế Inđônêxia đ/ phát triển và đạt được thành công to lớn, được các nhà kinh tế

đánh giá Inđônêxia là một quốc gia đang phát triển

Inđônêxia đ/ thực hiện thành công "cuộc cách mạng xanh" trong nông nghiệp, lấy nông nghiệp làm điều kiện phát triển đầu tiên trong nền kinh tế thị trường Cuộc

"cách mạng xanh" ở Inđônêxia được cụ thể hoá trong 2 chương trình lớn là: chương trình BISMAS và INMAS

+ Chương trình BISMAS, Nhà nước đóng vai trò chính trong việc cấp vốn đầu tư (với l/i suất ưu đ/i), phân, giống, kỹ thuật nông nghiệp cho nông dân, thông qua mạng lưới trung gian là các tổ chức tín dụng và mua bán Tiến hành tăng diện tích

đất trồng trọt, sử dụng giống mới trong nông nghiệp phù hợp với điều kiện đất đai từng vùng

+ Chương trình INMAS cấp vốn với l/i suất thông thường cho những hộ nông dân có từ 5 ha đất trở lên, chủ yếu là các đồn điền, trang trại Người nông dân được vay tín dụng của Nhà nước để mua vật tư nông nghiệp và có nghĩa vụ bán sản phẩm cho Nhà nước ngoài phần thuế thu nhập của họ

Thành quả đạt được về phát triển nền kinh tế là do Inđônêxia giữ vững ổn

định về chính trị, có chính sách khuyến khích sản xuất trong nước và cởi mở với nước ngoài, đẩy mạnh công tác đầu tư và thu hút đầu tư nước ngoài nhằm tạo lập những ngành và sản phẩm mũi nhọn có sức cạnh tranh cao trên thị trường thế giới,

đa dạng hoá sản phẩm và mở rộng thị trường xuất khẩu [8]

- Khuyến nông ở Trung Quốc đ/ có từ lâu, nhưng đến năm 1933 ở Trường đại

Trang 39

học nông nghiệp Kim Lăng đ/ có khoa Khuyến nông Đến năm 1970 tại Trung Quốc mới chính thức có tổ chức khuyến nông Tại Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc khoá VIII năm 1991: “Tăng cường công tác nông nghiệp và nông thôn” có mục tiêu thứ 4 nêu rõ “phải nắm vững chiến lược khoa học công nghệ và khuyến nông” Cần đưa ngay các sinh viên mới tốt nghiệp xuống cơ sở Chú trọng đào tạo các nhân viên khuyến nông Kế hoạch 5 lần thứ 7 về phát triển nông nghiệp, Trung Quốc đ/ tập huấn 1,2 triệu lượt người về công tác khuyến nông và bồi dưỡng được 150 triệu nông dân về kiến thức khuyến nông và tiến bộ kỹ thuật mới Cả nước Trung Quốc có 10/33 l/nh đạo tỉnh là trưởng ban khuyến nông Đến nay Trung Quốc đ/ đạt được những thành công nhất định trong các công tác khuyến nông và tiến bộ kỹ thuật mới Trung Quốc rất tự hào là đang dẫn đầu thế giới về 3 lĩnh vực: lúa lai, chẩn đoán thú y và nuôi trồng thuỷ sản [2] b) Khuyến nông ở Việt Nam

Việt Nam là nước nông nghiệp với nền văn minh lúa nước từ lâu đời và phát triển tương đối sớm Trải qua các thời kỳ lịch sử của các triều đại, Nhà nước Việt Nam đều có những chủ trương, chính sách về phát triển nông nghiệp, nông thôn nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển, cải thiện đời sống nông dân Hoạt

động khuyến nông Việt Nam có từ thời vua Hùng

Qua kinh nghiệm và kết quả hoạt động khuyến nông của một số nước trên thế giới và khu vực cho thấy hoạt động khuyến nông có tác dụng thiết thực đối với nông dân, nhất là giúp đỡ họ trong việc chuyển giao tiến bộ KHKT vào sản xuất và nâng cao trình độ Từ kết quả hoạt động khuyến nông ở một số tỉnh như An Giang (năm 1998), Bắc Thái (năm 1991), cho thấy cách làm khuyến nông vừa có tính thiết thực vừa có hiệu quả, được nông dân đón nhận

Ngày 02/3/1993, Chính phủ đ/ ban hành Nghị định số 13/CP-NĐ về Khuyến nông - Khuyến nông Việt Nam chính thức được thành lập Để đáp ứng đầy đủ và kịp thời những yêu cầu phong phú và đa dạng của người dân và cộng đồng, đặc biệt trong điều kiện nền nông nghiệp nước ta bước vào hội nhập với thế giới, ngày 26/4/2005 Chính phủ đ/ ban hành Nghị định số 56/2005/NĐ-CP về công tác Khuyến nông, Khuyến ngư nhằm thay thế Nghị định 13/CP [10] Theo Nghị định

Trang 40

56/2005/NĐ-CP, hệ thống tổ chức khuyến nông đ/ được hình thành từ trung ương

đến tỉnh, huyện và cơ sở

Sơ đồ 2.6 Tổ chức khuyến nông Việt Nam [19]

Tính đến cuối năm 2007, 64 tỉnh thành trong cả nước đ/ có Trung tâm Khuyến nông tỉnh, có trên 400 trạm khuyến nông huyện Toàn quốc có 25.228 cán

bộ khuyến nông và khuyến nông viên, trong đó cấp trung ương có 43 người, cấp tỉnh

Trung tâm Khuyến nông Quốc gia

Bộ Nông nghiệp và PTNT

Trung tâm KNKL tỉnh, thành phố

Sở NN&PTNT tỉnh, thành

Trạm Khuyến nông huyện

UBND Huyện, quận

UBND X/, phường

Khuyến nông cơ sở

Hộ Nông dân

Các hội, đoàn thể, câu lạc bộ khuyến nông

Ngày đăng: 14/12/2013, 16:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1: Khuyến nông nông nghiệp - nghiên cứu khả năng tiếp cận các dịch vụ khuyến nông của hộ nông dân huyện gia lâm thành phố hà nội
Sơ đồ 2.1 Khuyến nông nông nghiệp (Trang 16)
Sơ đồ 2.3: Tiến trình của công tác khuyến nông  B−ớc 3: Thực hiện kế hoạch - nghiên cứu khả năng tiếp cận các dịch vụ khuyến nông của hộ nông dân huyện gia lâm thành phố hà nội
Sơ đồ 2.3 Tiến trình của công tác khuyến nông B−ớc 3: Thực hiện kế hoạch (Trang 19)
Sơ đồ 2.5: Mô phỏng mối quan hệ giữa kinh tế hộ nông dân với khuyến nông  (theo Chanoch Jacobsen, 1996)  [17] - nghiên cứu khả năng tiếp cận các dịch vụ khuyến nông của hộ nông dân huyện gia lâm thành phố hà nội
Sơ đồ 2.5 Mô phỏng mối quan hệ giữa kinh tế hộ nông dân với khuyến nông (theo Chanoch Jacobsen, 1996) [17] (Trang 36)
Sơ đồ 2.6 Tổ chức khuyến nông Việt Nam [19]. - nghiên cứu khả năng tiếp cận các dịch vụ khuyến nông của hộ nông dân huyện gia lâm thành phố hà nội
Sơ đồ 2.6 Tổ chức khuyến nông Việt Nam [19] (Trang 40)
Bảng 2.1. Kinh phí đầu t− cho khuyến nông từ ngân sách trung −ơng                                                                                      Đơn vị tính: tỷ VND - nghiên cứu khả năng tiếp cận các dịch vụ khuyến nông của hộ nông dân huyện gia lâm thành phố hà nội
Bảng 2.1. Kinh phí đầu t− cho khuyến nông từ ngân sách trung −ơng Đơn vị tính: tỷ VND (Trang 46)
Bảng 3.3. Giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị sản xuất huyện Gia Lâm   uồn : Phũng thống kờ huyện Gia Lõm) - nghiên cứu khả năng tiếp cận các dịch vụ khuyến nông của hộ nông dân huyện gia lâm thành phố hà nội
Bảng 3.3. Giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị sản xuất huyện Gia Lâm uồn : Phũng thống kờ huyện Gia Lõm) (Trang 59)
Bảng 3.4. Số hộ đại diện đ−ợc chọn từ các xã huyện Gia Lâm - nghiên cứu khả năng tiếp cận các dịch vụ khuyến nông của hộ nông dân huyện gia lâm thành phố hà nội
Bảng 3.4. Số hộ đại diện đ−ợc chọn từ các xã huyện Gia Lâm (Trang 63)
Bảng 3.5. Tổng hợp các tiêu chí theo các mức độ tiếp cận dịch vụ khuyến nông. - nghiên cứu khả năng tiếp cận các dịch vụ khuyến nông của hộ nông dân huyện gia lâm thành phố hà nội
Bảng 3.5. Tổng hợp các tiêu chí theo các mức độ tiếp cận dịch vụ khuyến nông (Trang 65)
Bảng 4.1. Một số chỉ tiêu kết quả triển khai các DVKN của trạm khuyến nông  huyện Gia Lâm - nghiên cứu khả năng tiếp cận các dịch vụ khuyến nông của hộ nông dân huyện gia lâm thành phố hà nội
Bảng 4.1. Một số chỉ tiêu kết quả triển khai các DVKN của trạm khuyến nông huyện Gia Lâm (Trang 72)
Bảng 4.2. Đặc điểm cơ bản của các nhóm hộ điều tra - nghiên cứu khả năng tiếp cận các dịch vụ khuyến nông của hộ nông dân huyện gia lâm thành phố hà nội
Bảng 4.2. Đặc điểm cơ bản của các nhóm hộ điều tra (Trang 78)
Bảng  4.2  cũng  cho  thấy,  số  nhân  khẩu  bình  quân  hộ  4,39  ng−ời.  Diện  tích  bình quân nhân khẩu 2,4sào - nghiên cứu khả năng tiếp cận các dịch vụ khuyến nông của hộ nông dân huyện gia lâm thành phố hà nội
ng 4.2 cũng cho thấy, số nhân khẩu bình quân hộ 4,39 ng−ời. Diện tích bình quân nhân khẩu 2,4sào (Trang 79)
Bảng 4.3. Tài sản  và vốn sản xuất của các hộ điều tra  Các xã điều tra  Diễn giải  §VT  Chung - nghiên cứu khả năng tiếp cận các dịch vụ khuyến nông của hộ nông dân huyện gia lâm thành phố hà nội
Bảng 4.3. Tài sản và vốn sản xuất của các hộ điều tra Các xã điều tra Diễn giải §VT Chung (Trang 81)
Bảng 4.4. Tỷ lệ hộ nông dân hiểu biết về khuyến nông - nghiên cứu khả năng tiếp cận các dịch vụ khuyến nông của hộ nông dân huyện gia lâm thành phố hà nội
Bảng 4.4. Tỷ lệ hộ nông dân hiểu biết về khuyến nông (Trang 82)
Bảng 4.6. Tỷ lệ hộ nông dân tham dự tập huấn khuyến nông   huyện Gia Lâm - nghiên cứu khả năng tiếp cận các dịch vụ khuyến nông của hộ nông dân huyện gia lâm thành phố hà nội
Bảng 4.6. Tỷ lệ hộ nông dân tham dự tập huấn khuyến nông huyện Gia Lâm (Trang 85)
Bảng 4.8.  Nhận thức và khả năng tiếp cận của hộ nông dân về MHTD                                                                                                                        §VT: % - nghiên cứu khả năng tiếp cận các dịch vụ khuyến nông của hộ nông dân huyện gia lâm thành phố hà nội
Bảng 4.8. Nhận thức và khả năng tiếp cận của hộ nông dân về MHTD §VT: % (Trang 88)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w