luận văn thạc sĩ, tiến sĩ, cao học, luận văn
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo
trường đại học nông nghiệp hà nội
-
Nguyễn đức kiên
Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất
một số biện pháp kỹ thuật góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất của hệ thống trồng trọt tại huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh
Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
Chuyên ngành: trồng trọt Mã số: 60.62.01
Người hướng dẫn khoa học: pgs.ts nguyễn thị lan
Hà Nội, 2009
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và ch−a từng đ−ợc ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 21 tháng 9 năm 2009
Tác giả luận văn
Nguyễn Đức Kiên Nguyễn Đức Kiên
Trang 3Lời cảm ơn
Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Trường đại học nông nghiệp Hà Nội, Khoa sau đại học, các thầy giáo, cô giáo trong bộ môn Hệ thống nông nghiệp đặc biệt là PGS.TS Nguyễn Thị Lan đã giúp tôi hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Trung tâm Khí tượng thủy văn tỉnh Bắc Ninh, các phòng ban thuộc UBND huyện Thuận Thành, UBND các xã Ninh Xá, Nghĩa Đạo, Đình Tổ, bà con nông dân trong huyện cùng các đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Hà Nội, ngày 21 tháng 9 năm 2009
Tác giả
Nguyễn Đức Kiên Nguyễn Đức Kiên
Trang 4Môc Lôc
2.1.2 BiÖn ph¸p kü thuËt víi sù ph¸t triÓn n«ng nghiÖp bÒn v÷ng 8
2.2.3 Mét sè kÕt qu¶ nghiªn cøu vµ øng dông cã liªn quan ë ViÖt Nam 23
Trang 53.1.1 §¸nh gi¸ ®iÒu kiÖn tù nhiªn vµ kinh tÕ - xP héi cña huyÖn ThuËn
3.1.3 Thùc tr¹ng s¶n xuÊt n«ng nghiÖp cña huyÖn ThuËn Thµnh 293.1.4 Ph©n tÝch c¸c lîi thÕ vµ h¹n chÕ cña hÖ thèng trång trät 29
4.2.6 NhËn xÐt chung vÒ ®iÒu kiÖn tù nhiªn, kinh tÕ xP héi 644.3 Thùc tr¹ng hÖ thèng trång trät cña huyÖn ThuËn Thµnh 664.3.1 HÖ thèng c©y trång hµng n¨m huyÖn ThuËn Thµnh 2005 - 2008 66
Trang 64.3.3 Đầu t− phân bón của hộ nông dân 764.3.4 Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật phòng trừ dịch hại cây trồng 794.3.5 Hiện trạng các hệ thống cây trồng của huyện Thuận Thành 80
4.3.7 Đánh giá hiện trạng của hệ thống trồng trọt huyện Thuận Thành 894.4 Thí nghiệm một số biện pháp kỹ thuật cho hệ thống trồng trọt
4.4.1 Thí nghiệm so sánh một số giống cà chua trong vụ xuân hè 2009 904.4.2 Thí nghiệm xác định l−ợng phân bón hữu cơ vi sinh Vinamix cho
4.5 Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật trồng trọt góp phần nâng cao
Trang 7Danh môc tõ viÕt t¾t
Trang 8Danh mục bảng
4.1: Một số yếu tố khí hậu nông nghiệp tại huyện Thuận Thành 374.2 Diện tích và cơ cấu các loại đất chính của huyện Thuận Thành 414.3: Hiện trạng sử dụng đất của huyện Thuận Thành năm 2008 45
4.7: Giá trị sản xuất trong ngành nông, lâm, ngư nghiệp 514.8: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong ngành nông, lâm, ngư nghiệp 52
4.16: Hiện trạng sử dụng giống cây lương thực năm 2008 734.17: Hiện trạng giống cây lạc, đậu tương, khoai tây năm 2008 75
4.20: Sử dụng phân hữu cơ ở hộ nông dân cho cây dưa chuột 79
4.25: Hiệu quả kinh tế của các công thức luân canh trên đất phù sa 864.26: Hiệu quả kinh tế của các công thức luân canh trên đất trong đê 88
Trang 94.27: Đặc điểm nông học các giống cà chua trong vụ xuân 2009 91
4.29: Các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất các giống cà chua 934.30: Hiệu quả kinh tế các giống cà chua trong thí nghiệm 944.31: Một số đặc điểm nông học giống d−a chuột Xuân Yên 266 954.32: Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất d−a chuột 96
4 34: Hạch toán hiệu quả kinh tế các công thức bón phân 974.35: Hiệu quả kinh tế qua việc áp dụng kết quả thí nghiệm 101
Trang 101 Mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là nước nông nghiệp, nên nông nghiệp có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Nông nghiệp không chỉ cung cấp lương thực, thực phẩm phục vụ cho đời sống của con người, làm thức ăn cho chăn nuôi mà còn cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp
Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp nước ta vẫn còn nhiều tồn tại: sản xuất phần lớn còn nhỏ lẻ, thiếu tập trung, hiệu quả kinh tế còn thấp, chưa đảm bảo được tính bền vững Đặc biệt, trong những năm gần đây, sản xuất nông nghiệp phát triển vẫn còn mang tính tự phát, chủ yếu chạy theo số lượng, ít quan tâm đến chất lượng, nhưng giá thành sản xuất lại khá cao dẫn tới sức cạnh tranh trên thị trường kém Mặt khác, thu nhập người dân trong các vùng nông thôn vẫn còn thấp, lao động nông thôn dư thừa nhiều, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp còn thiếu và thị trường tiêu thụ không ổn định
Trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đP đề ra phương hướng phát triển nông nghiệp: “Hiện nay và trong nhiều năm tới, vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng, phải luôn coi trọng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp hàng hoá lớn, đa dạng, phát triển nhanh và bền vững, có năng xuất, chất lượng và khả năng cạnh tranh cao”
Phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững, hiệu quả cao và sản xuất hàng hoá là một hướng đi đúng đắn trong quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp hiện nay của nước ta, đồng thời đó cũng là điều kiện để thực hiện tiến trình hội nhập với kinh tế thế giới
Trang 11Huyện Thuận Thành nằm ở phía Nam của tỉnh Bắc Ninh, thuộc vùng
đồng bằng sông Hồng, là huyện thuần nông với điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh thuận lợi cho phát triển nông nghiệp Với lợi thế
là vùng phụ cận Hà Nội, cách trung tâm tỉnh 15 km về phía Bắc và cách thủ
đô Hà Nội 25 km về phía Tây Nam, có điều kiện đất đai màu mỡ, cùng với nguồn lao động rồi rào và hệ thống giao thông thuận lợi cho việc phát triển kinh tế xP hội Nhưng hiện tại, mức độ phát triển vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của huyện, việc khai thác và sử dụng các nguồn lợi:
điều kiện tự nhiên, kinh tế - xP hội chưa đạt hiệu quả cao: sản xuất nông nghiệp còn mang tính tự cấp, tự túc, tỷ xuất hàng hóa thấp
Thực hiện chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, phù hợp với nhu cầu thị trường, với điều kiện sẵn có của địa phương, phát triển nông nghiệp phục vụ công nghiệp và đô thị, nâng cao hiệu quả sản xuất của hệ thống trồng trọt, nâng cao đời sống nhân dân đồng thời phát triển nông nghiệp theo quan điểm phát triển bền vững là yêu cầu cần thiết đối với tỉnh Bắc Ninh nói chung và huyện Thuận Thành nói riêng
Để góp phần vào mục tiêu trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất một số biện pháp kỹ thuật góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất của hệ thống trồng trọt tại huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh”
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục đích
Phân tích, đánh giá điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xP hội tác
động đến sản xuất nông nghiệp nói chung và ngành trồng trọt nói riêng Đánh giá thực trạng sản xuất nông nghiệp, hệ thống trồng trọt tại huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh làm cơ sở đề xuất một số giải pháp kỹ thuật góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất của hệ thống trồng trọt, hình thành nền nông nghiệp hiệu quả và bền vững, nhằm phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống của người dân
Trang 12- Đánh giá hiện trạng giống cây trồng, biện pháp kỹ thuật canh tác một
số cây trồng chính tại địa phương
- Thử nghiệm một số biện pháp kỹ thuật và đánh giá hiệu quả của biện pháp kỹ thuật được áp dụng tại địa phương
- Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất của hệ thống trồng trọt tại huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh
1.3 ý nghĩa của đề tài
1.3.1 ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ sung và làm phong phú vào cơ sở khoa học, cũng như phương pháp luận trong việc nghiên cứu về hệ thống nông nghiệp và các biện pháp kỹ thuật canh tác Ngoài ra, giúp định hướng việc sử dụng hợp lý tài nguyên đất, nước và các tài nguyên thiên nhiên khác theo quan điểm sinh thái và nông nghiệp bền vững, khai thác một cách hiệu quả nguồn lực kinh tế - xP hội của địa phương
- Xác định hướng nghiên cứu và ứng dụng các biện pháp kỹ thuật vào
hệ thống trồng trọt để nâng cao hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp của huyện
1.3.2 ý nghĩa thực tiễn
- Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất của hệ thống trồng trọt tại huyện Thuận Thành, góp phần phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống của nông dân
Trang 13- Việc thực hiện đề tài đP góp phần nâng cao nhận thức và trình độ sản xuất của người dân trong vùng nghiên cứu Đề xuất được biện pháp kỹ thuật
cụ thể trong sản xuất cà chua, dưa chuột xuất khẩu đảm bảo nông sản phẩm
an toàn đối với người tiêu dùng, từng bước mở rộng quy mô sản xuất cây rau, màu xuất khẩu, nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp
- Đây là nghiên cứu đầu tiên một cách có hệ thống và đánh giá được tình hình sản xuất nông nghiệp của huyện Thuận Thành, làm cơ sở để xây dựng kế hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp trong thời gian tới
Trang 142 Tổng quan tình hình nghiên cứu
2.1 Cơ sở lý luận của đề tài
2.1.1 Lý thuyết hệ thống với biện pháp kỹ thuật
Lý thuyết hệ thống được ứng dụng ngày càng rộng rPi trong nhiều ngành khoa học, giúp cho sự hiểu biết và giải thích các mối quan hệ tương hỗ giữa các sự việc hiện tượng Cơ sở lý thuyết hệ thống đP được Bertalanffy đề xướng vào đầu thế kỷ XX [50], đP được sử dụng như một cơ sở lý luận để giải quyết các vấn đề phức tạp và tổng hợp Trong những năm gần đây, quan điểm
về hệ thống được phát triển mạnh và áp dụng khá phổ biến trong lĩnh vực sinh học và nông nghiệp
Hệ thống (System) là một tổng thể có trật tự của các yếu tố khác nhau
có quan hệ và tác động qua lại Một hệ thống có thể xác định một tập hợp các
đối tượng hoặc các thuộc tính được liên kết bằng nhiều mối tương tác (Speeding, 1979 [71]; Phạm Chí Thành, 1993 [39])
Theo Đào Thế Tuấn, 1989 [53] hệ thống nông nghiệp thực chất là sự thống nhất của hai hệ thống: (1) Hệ sinh thái nông nghiệp (Agro - Ecosystems) là bộ phận của hệ sinh thái tự nhiên, bao gồm các cơ thể sống (cây trồng, vật nuôi) trao đổi năng lượng, vật chất và thông tin với ngoại cảnh, tạo nên năng suất sơ cấp (trồng trọt) và thứ cấp (chăn nuôi) của hệ sinh thái (2) Hệ kinh tế - xP hội chủ yếu là sự hoạt động của con người trong sản xuất tạo ra của cải vật chất cho toàn xP hội Như vậy hệ thống nông nghiệp là sự kết hợp giữa các quy luật tự nhiên và kinh tế - xP hội, được chi phối bởi các yếu tố sinh học
Hệ thống nông nghiệp (Agricultural system) là sự biểu hiện không gian của sự phối hợp các ngành sản xuất và kỹ thuật do xP hội thực hiện để thoả mPn các nhu cầu Nó biểu hiện sự tác động qua lại giữa một hệ thống sinh học
- sinh thái mà môi trường tự nhiên là đại diện và một hệ thống xP hội - văn
Trang 15hoá, qua các hoạt động xuất phát từ những thành quả kỹ thuật
Grigg, 1979 [67] cho rằng: yếu tố quyết định của kiểu hệ thống nông nghiệp là sự thay đổi về kinh tế và dân số Theo tác giả việc luân canh, sử dụng phân hoá học, thuốc trừ sâu bệnh, chọn giống, cơ giới hoá… do dân số
và kinh tế thay đổi trong thời gian qua
Hệ thống canh tác (Farming system) là sản phẩm của bốn nhóm biến số
là môi trường vật lý, kỹ thuật sản xuất, chi phối của tài nguyên và điều kiện kinh tế - xP hội Trong đó điều kiện tự nhiên và con người chi phối các biện pháp kỹ thuật canh tác (H.G Zandstra, E.C Price, 1981 [75])
Theo Nguyễn Văn Luật, 1990 [29], hệ thống canh tác là tổ hợp cây trồng được bố trí theo không gian và thời gian với hệ thống biện pháp kỹ thuật
được thực hiện, nhằm đạt năng suất cây trồng cao và nâng cao độ phì của đất
đai Tác giả còn nhấn mạnh cây trồng phải được đặt trong một không gian
và thời gian nhất định, đi đôi với nó là các biện pháp kỹ thuật thích ứng Sản xuất nông nghiệp luôn gắn với điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế -
xP hội Cây trồng là đối tượng của sản xuất nông nghiệp và chịu sự tác
động trực tiếp của nhiều yếu tố trong tự nhiên cũng như các các yếu tố khác Để phát triển nông nghiệp với tốc độ nhanh và vững chắc thì biện pháp kỹ thuật là giải pháp quan trọng nhằm tận dụng tối đa các điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xP hội để nâng cao năng suất, chất lượng nông sản và thoả mPn nhu cầu của con người
Tác giả Đường Hồng Dật, 1994 [11] đP tổng kết lịch sử phát triển hệ thống canh tác của Việt Nam như sau: “Khai thác các tài nguyên thiên nhiên bằng các lao động sản xuất phù hợp với điều kiện môi trường bên ngoài, gieo trồng nhiều trà, nhiều giống có thời gian sinh trưởng khác nhau để ứng phó với điều kiện thời tiết, dùng nhiều biện pháp kỹ thuật canh tác, làm đất, bón phân, trồng gối, trồng xen để tận dụng diện tích đất trồng Hệ thống canh tác mang tính đa dạng: đa dạng về cơ cấu cây trồng, cơ cấu giống, áp dụng nhiều biện pháp, nhiều hệ thống canh tác nhằm tăng tính thich nghi, tăng tính chống
Trang 16chịu với điều kiện không thuận lợi và sâu bệnh hại”
Đào thế Tuấn, 1984 [50] cho rằng: hệ thống cây trồng (Cropping system) là thành phần các giống và loại cây trồng được bố trí theo không gian trong một hệ sinh thái nông nghiệp, nhằm tận dụng hợp lý các nguồn lợi tự nhiên, kinh tế - xP hội có sẵn Tác giả cho rằng bố trí cây trồng hợp lý là biện pháp kỹ thuật, nhằm sắp xếp lại hoạt động của hệ sinh thái
Theo Nguyễn Duy Tính, 1995 [47] một hệ thống cây trồng mang tính chất tự túc, tự cấp muốn trở thành hệ thống cây trồng mang tính chất hàng hoá cần phải phá vỡ tính hệ thống khép kín của từng hộ, trong đó chính sách
là môi trường tốt nhất để chuyển đổi hệ thống canh tác
Theo Phạm Chí Thành, 1996 [42] việc phát triển trồng trọt trong thời gian tới chủ yếu dựa vào “hiệu ứng hệ thống” bằng cách bố trí lại hệ thống cây trồng thích hợp với điều kiện đất đai, chế độ khí hậu, chế độ nước khác nhau, đồng thời phải đa dạng sản xuất trồng trọt Cần áp dụng các tiến bộ kỹ thuật tổng hợp nhằm sử dụng hợp lý các nguồn lợi tự nhiên và lao động, sử dụng hiệu quả vốn đầu tư
Để xây dựng hệ thống luân canh hợp lý, cần phải căn cứ vào điều kiện kinh tế - xP hội cụ thể của địa phương, các nhân tố đó là cơ sở vật chất
kỹ thuật, nguồn lao động, thị trường tiêu thụ, các chính sách kinh tế, tập quán và kinh nghiệm truyền thống (Lê Quý An, 1991 [1]; Dixon - Kueelmer, 1989 [62])
Theo Lê Minh Toán, 1988 [49] nghiên cứu cải tiến cơ cấu cây trồng là tìm ra các biện pháp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng nông sản bằng cách áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào hệ thống cây trồng hiện tại hoặc đưa ra những hệ thống cây trồng mới Hướng vào các hợp phần tự nhiên, kỹ thuật sinh học, lao động, quản lý, thị trường để phát triển cơ cấu cây trồng trong những điều kiện mới nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất
Theo Lý Nhạc, Phùng Đăng Chinh, Dương Hữu Tuyền 1987 [33] biện pháp kỹ thuật nông nghiệp căn cứ vào chế độ luân canh mà xác định
Trang 17nội dung của mình như thuỷ lợi, bón phân, làm đất, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh hại… đều căn cứ vào loại cây trồng, trình tự luân phiên cây trồng trong hệ thống để xây dựng các biện pháp kỹ thuật cụ thể cho suốt cả chu
kỳ luân canh
Như vậy lý thuyết hệ thống là cơ sở của các biện pháp kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp, bởi nó nghiên cứu sự kết hợp giữa nhiều yếu tố cùng với các tiến bộ khoa học công nghệ, đặc biệt là các tiến bộ về giống và kỹ thuật canh tác cũng như công cụ sản xuất Bên cạnh đó còn phải đáp ứng nhu cầu của xP hội, cũng như những yếu tố quyết định việc xây dựng hệ thống cây trồng
2.1.2 Biện pháp kỹ thuật với sự phát triển nông nghiệp bền vững
Theo Phạm Văn phê, Nguyễn Thị Lan, 2001 [35] một hoạt động sản xuất được gọi là bền vững khi đạt được tất cả các mục đích và có thể bền vững mPi mPi Nội dung của phát triển bền vững gồm: (1) Đáp ứng những nhu cầu cơ bản của con người; (2) San bằng được khoảng cách giữa giàu - nghèo và toàn xP hội; (3) Bảo vệ được các tài nguyên thiên nhiên
Phát triển nông nghiệp bền vững chiếm vị trí quan trọng, nhiều khi có tính quyết định trong sự phát triển chung của xP hội Phát triển nông nghiệp bền vững là điều hoà các mục tiêu và tạo cơ hội cho việc đạt được kết quả về môi trường, kinh tế và xP hội vì lợi ích trước mắt và lâu dài Vì thế việc khai thác các nguồn lợi tự nhiên cũng như các biện pháp kỹ thuật áp dụng trong sản xuất nông nghiệp cần phải được chú trọng một cách hợp lý để bảo vệ năng suất cây trồng và môi trường tự nhiên
Phạm Chí Thành, 1996 [42] cho rằng, có 3 điều kiện để tạo nông nghiệp bền vững đó là công nghệ bảo tồn tài nguyên, những tổ chức từ bên ngoài và những tổ chức từ các nhóm địa phương Tác giả cho rằng xu thế phát triển nông nghiệp bền vững được các nước phát triển khởi xướng mà hiện nay đP trở thành đối tượng để các nước nghiên cứu theo hướng kế thừa, chắt lọc các tinh tuý của các nền nông nghiệp, chứ không chạy theo cái hiện đại mà bác
Trang 18bỏ những cái thuộc về truyền thống Trong nông nghiệp bền vững như chọn cây gì, con gì trong một hệ sinh thái tương ứng không thể áp đặt theo ý muốn chủ quan mà phải điều tra, nghiên cứu để hiểu biết thiên nhiên
Theo Đào Thế Tuấn, 1986 [52] nhiệm vụ của ngành trồng trọt Việt Nam
là phải tìm ra mọi biện pháp bảo vệ năng suất cây trồng Có hai khả năng đẩy mạnh sản xuất trồng trọt là:
- Thâm canh ở những vùng sinh thái khó khăn, chú trọng vấn đề giống
và chế độ bón phân thích hợp
- Tăng vụ ở những vùng sinh thái thuận lợi nhất như trồng cây vụ đông
và thực hiện biện pháp hữu hiệu là bố trí cây trồng thích hợp với điều kiện khí hậu, đất đai, chế độ nước và thời vụ nhằm phát triển nông nghiệp bền vững Theo Võ Minh Kha, 1978 [21] việc sử dụng phân hữu cơ trong phát triển nông nghiệp có vai trò quan trọng trong việc tăng năng suất cây trồng và phát triển nông nghiệp bền vững
Các nhà khoa học đP khẳng định khi trồng trọt đP làm tiêu hao độ phì của đất, nhưng cũng qua trồng trọt cây sẽ hoàn trả lại cho đất một số chất hữu cơ làm tăng độ phì của đất Nếu bố trí hệ thống luân canh phù hợp ta vừa kết hợp giữa sử dụng đất hiệu quả và bồi dưỡng đất (Lý Nhạc và cộng
sự, 1987) [33]
Theo FAO, 1989 [68] nông nghiệp bền vững bao gồm quản lý có hiệu quả tài nguyên cho nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu của cuộc sống con người,
đồng thời giữ gìn, cải thiện môi trường và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
Cao Liêm, Phạm Văn Phê, Nguyễn Thị Lan, 1995 [28] đP khái quát nội dung nông nghiệp bền vững gồm các phần cơ bản sau:
- Bền vững về an ninh lương thực trong thời gian dài trên cơ sở
hệ thống nông nghiệp phù hợp với điều kiện sinh thái và không tổn hại môi trường
- Bền vững về tổ chức quản lý, hệ thống nông nghiệp phù hợp mối quan
hệ con người cho các thế hệ mai sau
Trang 19- Bền vững thể hiện tính cộng đồng trong hệ thống nông nghiệp hợp lý Thực tế không có ranh giới rõ ràng giữa hệ sinh thái tự nhiên và hệ sinh thái nông nghiệp, phân biệt giữa chúng là sự can thiệp của con người (Phạm Văn Phê, Nguyễn Thị Lan, 2001) [35] Chính vì thế, mà mọi hoạt
động trong sản xuất nông nghiệp đều ảnh hưởng đến tính bền vững của hệ sinh thái Trên cơ sở đó các biện pháp kỹ thuật áp dụng trong sản xuất nông nghiệp cũng phải tuân thủ qui luật khách quan của tự nhiên vừa bảo
vệ môi trường vừa thoả mPn nhu cầu thiết yếu của con người Phát triển nông nghiệp bền vững chiếm vị trí quan trọng, có tính quyết định trong sự phát triển chung của xP hội
2.1.3 Một số biện pháp kỹ thuật trồng trọt
2.1.3.1 Sử dụng giống cây trồng
Khi nghiên cứu hệ thống cây trồng, phát triển giống cây trồng là vấn đề cốt lõi của hệ thống canh tác Những năm gần đây các giống mới ra đời đóng góp đáng kể vào việc nâng cao năng suất cây trồng (Trương Đích, 1993 [14];
Vũ Tuyên Hoàng, 1994 [19]; Nguyễn Hữu Nghĩa, 1997 [34]) Mỗi giống cây trồng phù hợp với từng điều kiện của từng địa phương, chính vì thế việc sử dụng giống cây trồng cần phải đi đôi với việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật phù hợp như: kỹ thuật canh tác góp phần đáng kể vào việc nâng cao năng suất, phẩm chất và sản lượng lương thực
Phạm Chí Thành, Trần Văn Diễn, Phạm Tiến Dũng, Trần Đức Viên
1993 [39] cho rằng ở nước ta và các nước đang phát triển đP áp dụng chiến lược dựa chủ yếu trên thành tựu “cách mạng xanh” nhằm vào một số sản phẩm của nông nghiệp quan trọng như lúa, ngô bằng cách tập trung đầu tư vào việc chọn tạo giống có năng suất cao, đầu tư thuỷ lợi, bón phân và phòng chống dịch hại
Những thành tựu khoa học kỹ thuật trong thời gian gần đây đP đóng góp không nhỏ cho ngành nông nghiệp, đặc biệt trong công tác chọn giống như tạo các giống có ưu thế lai, công nghệ nuôi cấy mô, chuyển gen…làm
Trang 20tăng năng suất và phẩm chất nông sản, nâng cao hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp
2.1.3.2 Sử dụng phân bón cân đối và hợp lý
Bón phân hợp lý thực chất là tìm ra cách thoả mPn tốt nhất mối quan hệ tương hỗ giữa các nguyên tố cần thiết đối với cây trồng Bón phân hợp lý là tìm ra khoảng cách ngắn nhất bù lại lượng chất dinh dưỡng mà cây trồng lấy
đi cùng với tiêu hao dinh dưỡng trong quá trình sản xuất Muốn thâm canh cây trồng cần phải bón các loại phân và đáp ứng đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng cho cây, việc sử dụng phân hợp lý là biện pháp duy trì, bồi dưỡng, cải tạo và phục hồi nhanh chóng có hiệu quả nhất đặc biệt là ở những đất nghèo dinh dưỡng hoặc đP bị thoái hoá trong quá trình trồng trọt
Cao Liêm, Phạm Văn Phê, Nguyễn Thị Lan, 1995 [28] đưa ra quan
điểm nông nghiệp sinh thái là sử dụng tốt các nguồn lợi và các mối quan hệ của sinh thái với hiệu quả đầu tư năng lượng hoá thạch cao, nhằm phát triển sản xuất
Theo Lê Văn Tiềm, 1992 [48] mật độ trồng cao và chế độ bón phân thích hợp là các biện pháp kỹ thuật quan trọng làm cho quần thể cây trồng phát triển mạnh
Võ Minh Kha, 2003 [22] cho rằng: Hệ thống sử dụng phân bón phối hợp cân đối có thể hiểu là sự phối hợp hoàn hảo giữa các thành tố trong hệ thống nông nghiệp với kỹ thuật bón phân để cung cấp cân đối chất dinh dưỡng cho cây trồng nhằm đạt 5 mục tiêu sau:
(1) Đạt năng suất cây trồng mong muốn;
(2) Đạt chất lượng sản phẩm mong muốn;
(3) Tăng thu nhập cho người sản xuất;
(4) Hồi phục, làm tăng độ phì nhiêu cho đất và bảo vệ môi trường; (5) ứng dụng sát với điều kiện thị trường
Như vậy sử dụng phân bón hợp lý là vấn đề không thể thiếu trong hệ thống các biện pháp canh tác nông nghiệp để tăng năng suất, phẩm chất cây trồng, nâng cao hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường
Trang 212.1.3.3 Biện pháp luân canh, xen canh
Luân canh, xen canh là trung tâm của các biện pháp kỹ thuật trồng trọt Tuỳ thuộc vào các chế độ canh tác khác nhau mà các biện pháp kỹ thuật cũng có sự thay đổi tương ứng như thuỷ lợi, bón phân, làm đất, phòng chống sâu bệnh…đều căn cứ vào loại cây trồng, trình tự sắp xếp, luân phiên cây trồng trong hệ thống mà xây dựng biện pháp kỹ thuật phù hợp
Biện pháp tăng hiệu quả sử dụng đất và đất cát biển rất phù hợp bằng
kỹ thuật trồng xen, các công thức trồng xen phổ biến như: lạc xen sắn; đậu đỗ xen sắn, ớt; lạc xen ngô sau đó trồng đậu đen hoặc đậu đỏ Cũng theo tác giả
để nâng cao năng suất cây trồng cần áp dụng các biện pháp trồng xen canh, luân canh kết hợp cùng với đầu tư thâm canh như: sử dụng thêm giống mới; bón phân hợp lý, đặc biệt là phân hữu cơ, đồng thời cung cấp nước đầy đủ cho cây trồng (Trần Văn Minh, 2000) [31]
Nguyễn Ngọc Bình, Vũ Biệt Linh, 1995 [4] khẳng định rằng nếu không thiết lập các dải rừng phòng hộ trên các bờ cát bao quanh của vùng ven biển thì không có khả năng sản xuất nông nghiệp trên đất cát ven biển Để giải quyết vấn đề này, phải có các biện pháp xen canh, gối vụ các cây trồng như lạc, đậu tương, vừng tạo nguồn hữu cơ bổ sung cho đất
Ngoài các biện pháp kỹ thuật cơ bản trên còn có các biện pháp khác như phòng chống dịch hại, thời vụ, kỹ thuật làm đất, tưới nước Mỗi một biện pháp có ý nghĩa, vai trò riêng nhưng chúng có tác động quan hệ chặt chẽ với nhau trong một tổng thể các biện pháp kỹ thuật trong sản xuất và phụ thuộc vào loại cây trồng, vùng sinh thái khác nhau nhưng đều hướng tới là tăng hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường bền vững
2.1.4 Vai trò của các biện pháp kỹ thuật canh tác
- Duy trì, cải tạo, bồi dưỡng đất: Trong quá trình trồng trọt cây trồng lấy
đi từ đất một lượng dinh dưỡng để tạo năng suất, vì vậy cần có biện pháp trả lại cho đất lượng dinh dưỡng đP mất Biện pháp kỹ thuật trong nông nghiêp nhằm duy trì, cải tạo và bảo vệ đất có thể bao gồm: trồng cây họ đậu, bón phân, làm
Trang 22đất, che phủ đất huy động một cách có hiệu quả các nguồn dinh dưỡng, giảm tối thiểu việc sử dụng năng lượng hoá thạch trong quá trình canh tác
- Tăng khả năng sinh trưởng, phát triển cây trồng cũng như tăng năng suất và phẩm chất nông sản Đây là mục đích của các biện pháp kỹ thuật nông nghiệp, bởi có biện pháp kỹ thuật thích hợp không chỉ lợi dụng tốt nhất các yếu tố tự nhiên và môi trường mà còn phát huy vai trò của giống, kỹ thuật canh tác cũng như công tác phòng chống dịch hại tổng hợp
- Bảo vệ môi trường và các hệ sinh thái, đặc biệt là môi trường đất, hệ sinh thái đồng ruộng, chống xói mòn, hạn chế tối thiểu tác hại của sâu bệnh
và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
- Điều hoà lao động và việc sử dụng các vật tư: mỗi loại cây trồng cần phải gieo trồng, chăm sóc sử dụng các vật tư công cụ khác nhau tuỳ từng giai đoạn Vì thế khi sử dụng các biện pháp kỹ thuật thích hợp với một loại cây trồng nào đó sẽ tạo ra việc bố trí nguồn nhân lực, vật tư… một cách hợp
lý hơn và giảm tính thời vụ, nâng cao hiệu quả sản xuất
2.1.5 Phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu trong hệ thống được đề cập đến rất sớm, một số phương pháp nghiên cứu phổ biến như phương pháp mô hình hoá, phân tích kinh tế, phương pháp chuyên khảo Tuy nhiên, bất kỳ một đề xuất nào về đổi mới kỹ thuật nông nghiệp cần được xem xét dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn để người nông dân dễ sử dụng nhưng lại đạt hiệu quả cao
FAO, 1995 [69] đưa ra phương pháp phát triển hệ thống canh tác và cho đây là một phương pháp tiếp cận nhằm phát triển các hệ thống nông nghiệp và cộng đồng nông thôn trên cơ sở bền vững Việc nghiên cứu chuyển
đổi cơ cấu sản xuất ngành trồng trọt phải được bắt đầu từ phân tích hệ thống canh tác hiện tại Những nghiên cứu phát triển hệ thống canh tác của FAO là
nỗ lực nhằm bổ sung và hoàn thiện cho việc tiếp cận đơn lẻ Xuất phát điểm của hệ thống canh tác là nhìn nông trại như một hệ thống, phân tích những hạn chế và tiềm năng, xác định các nghiên cứu thích hợp theo thứ tự ưu tiên
Trang 23và những thay đổi cần thiết được đưa vào chính sách, thử nghiệm trên thực tế
đồng ruộng hoặc mô phỏng các hiệu ứng của nó bằng mô hình hoá trong trường hợp chính sách thay đổi Sau đó phân tích đánh giá hiệu quả và đề xuất hướng phát triển
Đào Thế Tuấn, 1984 [53] cũng đưa ra sơ đồ khái quát về mối quan hệ chặt chẽ giữa điều kiên tự nhiên (đất - nước - khí hậu) với sinh lý cá thể cây trồng trong quần thể và không thể tách rời với các yếu tố kinh tế - xP hội:
Sơ đồ 1 Quan hệ giữa cây trồng và môi trường
(Nguồn: Đào Thế Tuấn, 1984 [53])
1 Thu thập tài liệu về khí hậu, đánh giá thuận lợi và khó khăn vùng nghiên cứu
2 Thu thập tài liệu đất đai, đánh giá số lượng, chất lượng, hiện trạng sử dụng và khai thác, các mặt hạn chế của đất đai
3 Xem xét hệ thống thuỷ lợi, nước và các biện pháp quản lý khai thác nước
4 Xem xét bộ giống cây trồng được sử dụng dựa trên đặc tính của giống trong sản xuất để lựa chọn giống thích hợp cho vùng sinh thái
Trang 245 Xem xét tình hình sâu bệnh hại
6 Tìm hiểu các định hướng, mục tiêu phát triển sản xuất của cơ sở
7 Phân tích nguồn nhân lực, tư liệu sản xuất
Speeding, 1975 [73] trong nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng sản xuất ngành trồng trọt có hai phương pháp cơ bản:
(1) Nghiên cứu cải tiến hệ thống có sẵn: có nghĩa phân tích hệ thống hiện trạng tìm ra chỗ hẹp hay chỗ thắt lại của hệ thống, đó là chỗ ảnh hưởng xấu nhất, hạn chế đến hoạt động của hệ thống Vì thế cần tác động để cải tiến, sửa chữa, khai thông để cho hệ thống hoàn thiện hơn, có hiệu quả hơn
(2) Nghiên cứu xây dựng hệ thống mới: trong phương pháp này cần có
sự tính toán, cân nhắc kỹ, tổ chức sắp đặt sao cho các bộ phận trong hệ thống
dự kiến nằm đúng vị trí trong mối quan hệ tương đương của các phần tử để
đạt mục đích của hệ thống tốt nhất
Phạm Chí Thành, Đào Châu Thu, Trần Đức Viên, Phạm Tiến Dũng,
1996 [41] đP đưa ra phương pháp rất cụ thể để điều tra, xử lý tổng hợp khi nghiên cứu hệ thống nông nghiệp:
1 Mô tả nhanh điểm nghiên cứu
2 Phương pháp thu thập thông tin từ nông dân bằng phương pháp KIP
3 Phương pháp thu thập, phân tích và đánh giá thông tin bằng phương pháp SWOT
4 Thu thập thông tin, xác định chẩn đoán những hạn chế, trở ngại theo phương pháp ABC và WEB
5 Xây dựng bản đồ lát cắt, mô tả hệ sinh thái nông nghiệp
và mô tả hoạt động sản xuất của hộ nông dân
6 Xử lý số liệu và trình bày kết quả các cuộc điều tra khảo sát
2.2 Những kết quả nghiên cứu có liên quan
2.2.1 Nghiên cứu trên thế giới
Các nhà khoa học nông nghiệp trên thế giới đP và đang tập trung mọi
nỗ lực nghiên cứu nhằm hoàn thiện hệ thống canh tác bằng việc sử dụng các
Trang 25nguồn lực sẵn có và áp dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất nhằm tăng năng suất, sản lượng, phẩm chất và bền vững về mặt môi trường và các hệ sinh thái
Từ thế kỷ VIII đến thế kỷ XVIII chế độ canh tác phổ biến ở các nước Châu Âu là chế độ luân canh 3 khu và luân chuyển trong 3 năm, với hệ thống cây trồng là ngũ cốc - ngũ cốc - bỏ hoá có năng suất khoảng 5 - 6 tạ/ha Đầu thế kỷ XIX việc thay đổi chế độ luân canh với 4 khu, 4 năm với hệ thống cây trồng khoai tây - ngũ cốc xuân - cỏ 3 lá - ngũ cốc đông Do áp dụng chế độ luân canh trên nên phải tăng cường các biện pháp kỹ thuật như làm đất, bón phân và cỏ 3 lá có tác dụng cải tạo, bồi dưỡng đất Chính vì vậy, đP làm tổng sản lượng tăng gấp 4 lần, một số nước đP áp dụng thành công chế độ này như Pháp, Đan Mạch, Hà Lan, Đức (dẫn theo Bùi Huy Đáp, 1974 [13])
Châu á được xem là cái nôi của lúa nước, chiếm tới 90% diện tích và sản lượng của thế giới Những nước Đông Nam á có năng suất lúa cao nhất cũng không vượt quá 35 tạ/ha ( Thái Lan 30,25 tạ/ha, Philippines 29,42 tạ/ha), trong khi đó Nhật Bản đạt 68,82 tạ/ha Nguyên nhân chính dẫn đến năng suất ở
Đông Nam á không cao là do kỹ thuật canh tác ít được cải tiến, đặc biệt là giống (Suichi, 1985 [37]) Vào những năm 60 của thế kỷ XX cùng với cuộc cách mạng xanh là việc tạo ra các giống lúa ngắn ngày, đầu tư cơ giới và năng lượng hoá thạch dưới dạng nhiên liệu, phân hoá học, thuốc trừ sâu, thuỷ lợi
đP tạo bước nhảy vọt về năng suất và sản lượng cây trồng Tuy nhiên, sau đó người ta cũng nhận thấy những hậu quả tiêu cực của nó về ô nhiễm môi trường,
đặc biệt là ô nhiễm đất
ấn Độ đP tiến hành công trình nghiên cứu nông nghiệp từ năm 1962 -
1972, lấy thâm canh, tăng vụ chu kỳ 1 năm, 2 vụ ngũ cốc, 1 vụ đậu đỗ với 3 mục tiêu là: khai tác tối ưu tiềm năng của đất đai, nâng cao độ phì của đất và
đảm bảo tăng lợi ích cho nông dân Cũng ở ấn Độ đP đề cập tới vấn đề các biện pháp kỹ thuật canh tác hợp lý dựa vào điều kiện của từng vùng sinh thái khác nhau, chế độ chính sách và giá cả nông sản hàng hoá Do vậy trong giai
Trang 26đoạn này hàng loạt các biện pháp kỹ thuật canh tác được khảo nghiệm trên diện rộng và cho năng suất cao [33]
Zandstra H.G, 1982 [62] khẳng định xen canh gối vụ có tác dụng tăng tổng sản lượng của các cây trồng cạn, do tạo ra được chế độ che phủ đất tốt hơn, tận dụng được bức xạ mặt trời trong suốt thời gian sinh trưởng Các cơ cấu cây trồng được thực hiện: ngô + lúa; lúa + đậu xanh; lúa + lúa mì; lúa + rau; lúa + lúa; lúa mì + ngô
Conway G.R, 1985 [63] cho rằng công thức lúa + lúa mì là hệ thống luân canh chính ở thung lũng Kangra cho năng suất ngũ cốc hàng năm không vượt 30 tạ/ha do khan hiếm phân bón Thí nghiệm bón 100 kg N/ha, cày vùi rơm rạ cho năng suất lúa và lúa mì đều tăng so với không cày vùi rơm rạ (không cày vùi rơm rạ năng suất 31,57 tạ/ha lên 40,24 tạ/ha khi cày vùi rơm rạ)
Theo Kolar JS, Grewal HS, 1989 [70] trên đất thịt pha cát của vùng Ludiana lượng phân bón cho lúa 13 kg P2O5/ha so với lượng bón 26 kg
P2O5/ha thì không có hiệu lực sai khác nhau, nhưng bón 26 kg P2O5/ha thì còn
để tồn dư lại vụ sau
Indonexia bằng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp như kết hợp trồng trọt, chăn nuôi gia súc và cá với các giống cây trồng có năng suất cao, trong vòng 9 năm (từ 1975 đến 1984) đP làm thay đổi đáng kể về kinh tế nông nghiệp [33]
Các tác giả Mandal, 1987 [68]; Tarhalkar, 1990 [72] nghiên cứu ở Rajasthan ấn Độ cho thấy trồng bông thuần cho năng suất thấp hơn so với trồng xen lạc, đậu xanh, đậu tương giảm được mức phân bón thấp (NPK tương ứng là 5- 10- 10 kg/ha) và chi phí phân bón hoàn toàn có thể được bù đắp bằng năng suất lạc
Trung Quốc là một nước có nền nông nghiệp phát triển hàng đầu của khu vực, nhờ áp dụng các tiến bộ khoa học vào sản xuất nhất là trong công nghệ sản xuất hạt giống lúa lai, ngô, các loại cây ăn quả, giống rau đP làm
Trang 27tăng 43% sản lượng ngũ cốc Các biện pháp kỹ thuật như trồng xen canh ngô với lúa mì, sử dụng phân bón hợp lý đP nâng cao năng suất của các cánh
đồng lên 15 tấn/ha
Đài Loan có diện tích đất nông nghiệp rất thấp, nhưng áp dụng được các biện pháp khoa học kỹ thuật, thực hiện các chính sách khuyến khích sản xuất nên đP tạo cho nền nông nghiệp có những bước tiến vượt bậc, không những cung cấp đầy đủ lương thực mà còn chuyển vốn cho các ngành khác,
đóng góp cho công nghiệp hoá và thúc đẩy kinh tế phát triển Đài Loan thực hiện rộng rPi và áp dụng kinh doanh cần nhiều sức lao động và kỹ thuật vi sinh để nâng cao sản lượng cây trồng, nâng cao khả năng canh tác của đất đai, nhập thêm nhiều giống có năng suất cao Để phát triển nông nghiệp nông thôn Đài Loan đP tiến hành cải cách ruộng đất, cải tiến kỹ thuật, phát triển nông nghiệp, thúc đẩy kiến thiết nông thôn
Nghiên cứu về kỹ thuật canh tác trên đất dốc theo mô hình SALT lần
đầu tiên áp dụng ở Philippines có kết quả với hệ thống cây trồng và các biện pháp canh tác như sau: các cây hàng năm và cây lâu năm được trồng thành băng xen kẽ rộng từ 4 - 5 m, các loại cây họ đậu cố định đạm được trồng thành 2 dPy theo đường đồng mức để tạo thành hàng rào, khi cây hàng rào cao 1,5 -2 m đốn để lại 40 cm gốc, cành lá dùng để rải lên băng tạo lớp che phủ
và giữ ẩm, chống xói mòn
Nhật Bản là nước có điều kiện sản xuất nông nghiệp không thuân lợi, vì thế đP nghiên cứu và đề ra chính sách quan trọng, xây dựng những chương trình với mục tiêu như: (1) an toàn về lương thực; (2) cải tạo ruộng đất; (3) ổn
định thị trường nông sản trong nước; (4) đẩy mạnh công tác khuyên nông; (5) một số giải pháp kỹ thuật trong sản xuất; (6) cải cách nông thôn
Ngoài ra các nhà khoa học Nhật Bản đP đề ra 4 tiêu chuẩn khi xây dựng
hệ thống nông nghiệp là: (1) phối hợp giữa cây trồng với vật nuôi; (2) phối hợp giữa kỹ thuật trồng trọt và kỹ thuật chăn nuôi gia súc; (3) tăng cường độ lao động, vốn đầu tư, tổ chức sản xuất và sản phẩm làm ra; (4) sản phẩm
Trang 28mang tính chất hàng hoá cao Nhờ vậy mà Nhật Bản trở thành một nước có nền nông nghiệp phát triển hàng đầu thế giới (dẫn theo Nguyễn Duy Tính,
Trên thế giới có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu về việc bón phân cho cây lúa và nêu lên những ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng phát triển và năng suất của cây lúa
Mitsui (1973) khi nghiên cứu ảnh hưởng của đạm đến hoạt động sinh lý của lúa đP kết luận: Sau khi bón đạm cường độ quang hợp, cường độ hô hấp
và hàm lượng diệp lục tăng lên, nhịp độ quang hợp, hô hấp không khác nhau nhiều nhưng cường độ quang hợp tăng mạnh hơn cường độ hô hấp 10 lần vì thế đạm làm tăng tích luỹ chất khô (dẫn theo Nguyễn Thị Lẫm, 1994 [26])
Tìm hiểu hiệu suất phân đạm đối với lúa Iruka (1963) thấy: Bón đạm với liều lượng cao thì hiệu suất cao nhất là bón vào lúc lúa đẻ nhánh, sau đó giảm dần, với liều lượng thấp thì bón vào lúc lúa đẻ và trước trỗ 10 ngày có hiệu quả cao (Yoshida, 1985 [37])
Các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả đều cho thấy các hoạt
động sinh lý của cây lúa thay đổi qua các giai đoạn sinh trưởng phát triển khác nhau Cường độ hoạt động của chúng phụ thuộc vào hàm lượng đạm có trong đất và sự hoạt động tích cực của bộ rễ cây lúa
Năm 1973 Xiniura và Chiba đP thí nghiệm bón đạm theo 9 cách tương ứng với các giai đoạn sinh trưởng, phát triển và mỗi lần bón với 7 mức đạm khác nhau, hai tác giả trên đP có những kết luận:
Trang 29- Hiệu suất của đạm (kể cả rơm, rạ và thóc) cao khi lượng đạm bón ít
- Có 2 đỉnh về hiệu suất, đỉnh thứ nhất xuất hiện ở giai đoạn lúa đẻ nhánh, đỉnh thứ hai xuất hiện ở 9 đến 19 ngày trước trỗ, nếu lượng đạm nhiều thì không có đỉnh thứ hai
Hai tác giả đP đề nghị: nếu lượng đạm ít sẽ bón vào 20 ngày trước trỗ, khi lượng đạm trung bình bón 2 lần: giai đoạn lúa con gái và 20 ngày trước trỗ bông, khi lượng đạm nhiều bón vào lúc lúa con gái [37]
Như vậy việc nghiên cứu hệ thống canh tác, hệ thống cây trồng và các biện pháp kỹ thuật như: trồng xen, trồng gối, thâm canh tăng vụ, kỹ thuật bón phân, tưới nước…đP được các nhà khoa học đề cập từ lâu Những nghiên cứu này đP được ứng dụng có hiệu quả ở nhiều nước trên thế giới góp phần vào sự phát triển nghiên cứu hệ thống nông nghiệp, góp phần tăng năng suất sản lượng, phẩm chất cây trồng, đảm bảo an ninh lương thực
và tạo sự bền vững sinh thái
2.2.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam
Lịch sử phát triển của nước ta gắn liền với hoạt động sản xuất nông nghiệp Hàng loạt các giống cây trồng và biện pháp kỹ thuật canh tác về lúa, lạc, đậu đỗ, ngô, rau màu, cây ăn quả ra đời đP góp phần đáng kể vào việc nâng cao năng suất và phẩm chất Trước áp lực gia tăng dân số và nhu cầu mới về lương thực, thực phẩm ngày các tăng nên việc nghiên cứu giống cây trồng cùng với các biện pháp kỹ thuật đP đặt ra nhiều vấn đề được các nhà khoa học nông nghiệp quan tâm
Thời Pháp thuộc, nhiều giống cây trồng như càfê, cam quýt, chè, cao su… đP được tuyển chọn và đưa vào sản xuất tại nhiều vùng khác nhau Tuy nhiên, ở Việt Nam cây lúa vẫn đóng vai trò chính (Mai Văn Quyền,
1996 [38])
Theo Đỗ ánh và cs, 1992 [2] sau ngày giải phóng (1954) các nhà khoa học đP tạo được nhiều vùng thâm canh thông qua một loạt các giải pháp về giống, phân bón, thuỷ lợi và bảo vệ thực vật
Trang 30Từ năm 1960 bắt đầu hình thành vụ lúa xuân Các giống lúa ngắn ngày
có tiềm năng được đưa thay thế dần các giống dài ngày năng suất thấp (Lê Sinh Cúc, 1995 [8], Phạm Chí Thành, 1996 [42]) Sau nhiều năm nghiên cứu
ở Viện Trồng trọt Việt Bắc, Viện Nông lâm, Trường Đại học Nông Lâm (Đại học Nông nghiệp Hà Nội), một hệ thống tương đối hoàn chỉnh kỹ thuật gieo cấy lúa xuân với 100% diện tích
Theo Bùi Huy Đáp, 1977 [13] sử dụng nguồn tài nguyên đất và khí hậu hợp lý là việc tăng sản lượng trên đơn vị sản xuất Tác giả cho rằng phát triển cây vụ đông là tận dụng giai đoạn “đất nghỉ” và đặc biệt là giai đoạn khí hậu mùa đông tại đồng bằng Bắc bộ, độ ẩm đất tăng 30 - 50%, có thể trồng các cây có nguồn gốc ôn đới hoặc á nhiệt đới như: xu hào, bắp cải, cà chua
Theo Lý Nhạc, Dương Hữu Tuyền, Phùng Đăng Chính, 1987 [33] luân canh giữa cây trồng cạn và lúa vừa có tác dụng cải tạo đất, vừa có tác dụng diệt trừ các mầm bệnh
Đánh giá tiểu vùng sinh thái bạc màu Hà Nội thuộc vùng đồng bằng sông Hồng đP khẳng định trừ các chân ruộng quá cao và quá trũng, đất bạc màu có thể nâng cao hệ số sử dụng (2 - 4 vụ/năm) và trồng được nhiều vụ lương thực, hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày, đặc biệt là những cây có củ, cây đậu đỗ, thuốc lá để đẩy năng suất cây trồng lên cao và ổn định phải đầu tư thích đáng thuỷ lợi, phân bón (Đào Châu Thu, Đỗ Nguyên Hải, 1990) [45]
Nguyễn Ninh Thực, 1990 [46] nghiên cứu ứng dụng các biện pháp kỹ thuật hợp lý trên đất bạc màu đP kết luận: Vùng đất bạc màu Hà Nội có tiềm năng sản xuất lớn, tập đoàn cây trồng phong phú và hệ thồng luân canh đa dạng hơn các loại đất khác nhưng năng suất còn thấp, cần có nhiều biện pháp
kỹ thuật ứng dụng rộng rPi và quy trình thâm canh vào sản xuất, nhất là thâm canh lạc, khoai lang
Kết quả nghiên cứu trồng xen ngô với lạc, đậu nành, đậu xanh, đậu rồng, đậu ván của Hoàng Kim, Mai Văn Quyền (1990) [23] đP rút ra các kết luận các giống thích hợp để trồng ở đồng bằng Nam bộ là đậu xanh HL- 89-E3, 12 giống lạc, 9 giống đậu triều
Trang 31Những nghiên cứu về kỹ thuật thâm canh đậu đỗ của đề tài cấp Nhà nước 01A-05-02 đP tập trung vào các mặt như hiệu lực của vi khuẩn nốt sần,
kỹ thuật bón phân vi lượng, kỹ thuật trồng xen, tăng vụ đậu tương trên đất mạ, nghiên cứu phòng trừ sâu bệnh (Ngô Thế Dân, 1991) [9]
Theo Trần Đức Viên, 1993 [60] đồng bằng sông Hồng có truyền thống
về xây dựng đê điều, làm thuỷ lợi, làm đất bằng trâu bò và đầu tư nhiều lao
động sống Một vùng tận dụng phân chuồng, phân xanh để thâm canh tạo nên nền “Văn minh lúa nước”
Lê Hưng Quốc, 1994 [36] đP xác định được hệ thống cây trồng thích hợp, tiến bộ, cần nhiều lao động, có hiệu quả cao gấp đôi hệ thống cũ, cơ sở cho việc làm giàu, làm sạch và bảo vệ môi trường sinh thái dựa trên 3 cơ sở: (1) giống cây trồng; (2) tăng vụ; (3) đổi mới công nghệ sản xuất cũng như chế biến Tác giả cũng đP đề xuất các giải pháp sử dụng đất có hiệu quả và hoàn thiện cơ cấu cây trồng, cơ cấu sản xuất trong nông nghiệp
Bùi Thị Xô, 1994 [61] đP tiến hành xây dựng mô hình thử nghiệm đánh giá hiệu quả kinh tế một số công thức luân canh trên các vùng đất khác nhau
ở Hà Nội, kết quả thu được như sau:
- Vùng thâm canh: hiệu quả kinh tế đạt từ 115 - 339% so với mô hình cũ
- Vùng đất bạc màu: Hiệu quả kinh tế đạt 130 - 167% so với mô hình cũ
- Vùng đất trũng: Với công thức lúa xuân - cá giống, hiệu quả kinh tế thu được rất cao, tổng giá trị sản phẩm đạt 72 triệu đồng/ha/năm
Đoàn Văn Điếm, Nguyễn Hữu Tề, 1995 [16] nghiên cứu hệ thống cây trồng thích hợp trên đất gò đồi, bạc màu huyện Sóc Sơn - Hà Nội đP khẳng
định hiệu quả của các giải pháp kỹ thuật đP làm tăng năng suất cây trồng lên khá rõ Đặc biệt tăng độ che phủ đất, tác dụng cải tạo đất, cải thiện môi trường và các hệ sinh thái cũng tăng
Trần Đình Long, 1997 [27] cho rằng hệ thống cây trồng thích hợp với các điều kiện đất đai và chế độ nước khác nhau: phải áp dụng các biện pháp
kỹ thuật tổng hợp nhằm khai thác hiệu quả cao nhất các nguồn lợi tự nhiên,
Trang 32lao động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư Cũng theo tác giả giống cây trồng là tư liệu sản xuất sống, có liên quan chặt chẽ với điều kiện ngoại cảnh và đóng vai trò quan trọng trong cải tiến cơ cấu cây trồng Tác giả nhấn mạnh để tăng năng suất cây trồng cần có sự tác động của các biện pháp
kỹ thuật thích hợp theo yêu cầu từng giống khác nhau Sử dụng giống tốt là một biện pháp để tăng năng suất cây trồng và ít tốn kém trong sản xuất
Theo Phạm Văn Hiền, 1998 [20] khi nghiên cứu yếu tố hạn chế sản xuất nông nghiệp vùng đồng bào dân tộc Êđê ở Tây Nguyên đP xếp hạng các yếu tố cần thiết cho sản suất tại vùng này theo thứ tự ưu tiên: (1) giống cây trồng; (2) phân bón; (3) chăn nuôi; (4) tín dụng
Trần Danh Thìn, 2001 [44] khi nghiên cứu vai trò cây đậu tương, cây lạc ở một số tỉnh trung du, miền núi phía Bắc đP đưa ra kết luận: sử dụng phân khoáng, phối hợp giữa đạm, lân và vôi trong thâm canh không những chỉ nâng cao năng suất, hiệu quả kinh tế của việc trồng lạc và đậu tương, mà còn có tác dụng tạo ra một khối lượng lớn chất xanh, làm tăng độ che phủ đất và cung cấp nhiều chất hữu cơ cho đất qua tàn dư thực vật Điều này có ý nghĩa đối với việc cải tạo đất đồi thoái hoá, đất chua, đất nghèo chất hữu cơ ở vùng trung du và miền núi
2.2.3 Một số kết quả nghiên cứu và ứng dụng có liên quan ở Việt Nam 2.2.3.1 Thành tựu chọn tạo giống cà chua
So sánh 24 dòng, giống cà chua dùng cho chế biến nhập từ Trung tâm Rau châu á, Hungari, Trung tâm Rau Việt Xô, Công ty giống rau quả Đà Lạt kết luận: các giống có năng suất cao hơn hẳn đối chứng là PT4237, PT4192, PT4026, D139, những giống thích hợp cho chế biến nguyên quả là Lucky, D130 và những giống dùng tốt cho chế biến dạng cà chua cô đặc là TRD2, TW3, DL146, D139, N0327 (Tạ Thu Cúc, Hoàng Ngọc Châu, Nghiêm Thị Bích Hà, 1993) [7]
Năm 1994 - 1995, Hồ Hữu An và cộng sự tiến hành nghiên cứu chọn lọc một giống cà chua thích hợp với vùng sinh thái, khí hậu đồng bằng miền
Trang 33Bắc Việt Nam Với 38 dòng giống có nguồn gốc khác nhau, sau 2 năm nghiên cứu kết quả cho thấy: trong điều kiện trồng trái vụ năng suất thực thu của các giống đạt từ 21,5 - 29,1 tấn/ha, đa số các giống có phẩm chất tương đối tốt, quả cứng, tỷ lệ thịt quả và hàm lượng chất khô cao (đặc biệt là giống Merikuri) Giống DT- 4287 có triển vọng trồng chính vụ, các giống DV-1, UC- 82A, Miliana, Testa và Italy-2 có thể trồng trái vụ Cuối cùng tác giả kết luận: hầu hết các giống nghiên cứu đều có các tính trạng có lợi riêng như khả năng chống chịu nhiệt cao, tính kháng bệnh tốt, có năng suất, chất lượng tương đối tốt, đây là nguồn gen quý dùng làm vật liệu khởi đầu cho lai tạo (Hồ Hữu An, 1996) [3]
Theo Nguyễn Hồng Minh, qua các nghiên cứu của mình cho thấy HT21 phù hợp cho phát triển vụ đông, khai thác tiềm năng trên đất vụ 2 lúa,
vụ xuân hè có khả năng cho năng suất cao (50,6 - 57,6 tấn/ha) HT21 được công nhận là giống tạm thời ngày 29/7/2004 [32]
Giống cà chua Hồng Lan do Viện Cây Lương thực - Thực phẩm chọn lọc từ một dạng đột biến tự nhiên của giống cà chua Ba Lan trắng Giống sinh trưởng hữu hạn, thích ứng rộng về thời vụ và khu vực trồng, khối lượng trung bình quả 80 - 100 g, năng suất ổn định 25 - 30 tấn/ha, khi chín quả mềm khó vận chuyển đi xa Giống được khu vực hoá năm 1994 Giống SB2 được Viện Khoa học Nông nghiệp miền Nam chọn từ tổ hợp lai Star x Ba Lan Cây sinh trưởng hữu hạn, thời gian sinh trưởng 100 - 110 ngày, năng suất vụ Đông - Xuân 35 - 40 tấn/ha Giống được Hội đồng Khoa học Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp Thực phẩm công nhận giống Nhà nước năm 1994 (Trương Đích, 1999) Giống CS1 do Trung tâm Kỹ thuật Rau - Hoa - Quả Hà Nội chọn từ tổ hợp quần thể lai nhập từ Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Rau châu á (AVRDC) Năm 1995 được công nhận là giống khu vực hoá Giống thuộc loại hình sinh trưởng hữu hạn, có khả năng chống chịu virut, trồng được trong vụ Xuân - Hè và Đông sớm, năng suất cao 25 - 30 tấn/ha (vụ Xuân - Hè) và 35 -
40 tấn/ha (vụ Đông - Xuân) (Trương Đích, 1999) [15]
Trang 34Trong những năm gần đây có nhiều công ty trong nước và nước ngoài
đP tập trung nghiên cứu chọn tạo giống cà chua phục vụ cho thị trường trong nước và xuất khẩu, công ty: Seminis, Syngenta, Chiatai, Namdhari, Nunhem, Nông Hữu đP đưa ra nhiều giống cà chua đáp ứng cho nhu cầu của thị trường: Savior, Gandeeva, Vl-642, Dvs-048, Thúy Hồng
2.2.3.2 Thời vụ gieo trồng cà chua
Nghiên cứu về thời vụ trồng thường gắn liền với công tác chọn tạo giống Theo Tạ Thu Cúc, 2007 [7], nếu nhiệt độ trung bình các tháng từ 150C
đến 300C thì nhiều vùng có thể trồng cà chua quanh năm Những thời vụ hay gặp mưa, bPo cũng gây khó khăn cho sản xuất cà chua Nhìn chung, cây cà chua có thể sinh trưởng, phát triển tốt trong vụ đông ở vùng Đồng bằng, Trung du Bắc bộ và các tỉnh thuộc Bắc Trung bộ Các tỉnh Nam Trung bộ chủ yếu trồng vào mùa khô từ tháng 1 đến tháng 4
- Vùng Đà Lạt cà chua gieo trồng trong vụ đông xuân từ tháng 9 đến tháng 4 là mùa khô lạnh ở Đà Lạt
- Các tỉnh miền núi phía Bắc có thể gieo trồng từ tháng 9, 10 kết thúc trước tháng 12 Chú ý chọn giống chịu rét, sử lý hạt giống và giữ ấm cho cây
- Vùng đồng bằng sông Hồng và Trung du Bắc bộ:
+ Vụ cực sớm gieo cuối tháng 6
+ Vụ sớm gieo tháng 7, tháng 8 Chú ý che cho vườn ươm, làm luống cao, thoát nước tốt, chọn được những giống chịu nóng ẩm
+ Vụ chính gieo trồng tháng 9 đến trung tuần tháng 10 Thời vụ này điều kiện khí hậu thời tiết thuận lợi cho cây sinh trưởng, phát triển, ít sâu bệnh hại, năng suất cao
+ Vụ muộn gieo trồng cuối tháng 10 đến tháng 11 Thời vụ này nhiệt
độ thấp, trời âm u, độ ẩm cao, bệnh phát triển mạnh nên năng suất không cao
và không ổn định Nhưng thu hoạch vào tháng 3, 4 thị trường khan hiếm nên
có giá bán cao
Trang 35+ Cà chua xuân hè (cà chua trái vụ) là vụ cà chua chính trong năm sau
vụ đông xuân Thời vụ gieo vào trung tuần tháng giêng, trồng vào cuối tháng
2 đầu tháng 3, thu hoạch vào tháng 5, 6 Ưu điểm đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng, có giá bán cao nên có lợi cho người sản xuất Khó khăn khi gieo nhiệt độ thấp hạt mọc kém, thời gian ra hoa, quả nhiệt độ cao, mưa nhiều, mưa lớn, ẩm độ không khí cao cây dễ nhiễm nhiều sâu bệnh hại như sâu đục quả, bệnh mốc sương, virut… nhiệt độ cao, ánh sáng mạnh trong thời gian quả chín ảnh hưởng đến sự hình thành sắc tố
2.2.3.3 Sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh
Trong sản xuất nông nghiệp, phân bón có một vai trò quan trọng quyết
định cả về chất lượng và sản lượng thu hoạch Trên thế giới cũng như ở nước ta
có nhiều công trình nghiên cứu giúp cho nông dân biết lựa chọn những loại phân bón có ích nhất và cách sử dụng phân bón: bón phân vào thời điểm nào và liều lượng là bao nhiêu là có hiệu quả cao nhất Hiện nay, có nhiều dạng phân bón khác nhau đP được sử dụng trong nông nghiệp như: phân hóa học dưới dạng đa lượng, hoặc vi lượng, phân hữu cơ, phân sinh học, phân vi sinh…
Nhu cầu sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh ngày càng tăng vì:
(1) Sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh sẽ thay thế dần việc bón phân hóa học trên đồng ruộng, mà đất trồng trọt mà vẫn đảm bảo và được nâng cao năng suất
(2) Sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh về lâu dài sẽ dần trả lại độ phì nhiêu cho đất như làm tăng lượng phots pho và kali dễ tan trong đất canh tác, cải tạo, giữ độ bền của đất đối với cây trồng nhừ khả năng cung cấp hàng loạt các chuyển hóa chất khác nhau liên tục do nhiều quần thể vi sinh vật khác nhau tạo ra
(3) Việc sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh còn có ý nghĩa rất lớn là tăng cường bảo vệ môi trường sống, giảm tính độc hại do hóa chất tích lũy trong các loại nông sản do lạm dụng phân bón hóa học
Trang 36(4) Tránh được ô nhiễm môi trường, giá thành hạ, nông dân dễ chấp nhận, có thể sản xuất được tại địa phương và giải quyết được việc làm cho một số lao động Ngoài ra, cũng giảm được một phần chi phí ngoại tệ khi nhập khẩu phân bón hóa học
Sản phẩm phân bón Biogro được Bộ NN-PTNT đưa vào danh mục các loại phân được phép sử dụng ở Việt Nam từ năm 2005, được nông dân ở nhiều nơi sở dụng cho kết quả tốt Thành phần cơ bản gồm 4 chủng vi khuẩn: Pseudomonas, Klebsiella, Citrobacter và Bacillus, các loại vi khuẩn này có tác dụng: khả năng cố định đạm, phân giải lân khó tiêu trong đất giúp cây trồng dễ hấp thụ, sản sinh ra chất điều tiết sinh trưởng giúp cây trồng màu lớn, phân giải xenllulo từ các chất hữu cơ trong đất dể cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng Bón phân Biogro khoảng 200 kg/ha có thể giảm từ 25 - 50% phân đạm vẫn đảm bảo năng suất lúa như bón phân vô cơ truyền thống, khả năng chống chịu sâu bệnh của cây cây trồng tốt hơn, đồng thời góp phần cải tạo đất và bỏ vệ môi trường sinh thái Biogro đP được sử dụng tại các vùng sản xuất rau sạch, rau an toàn như Vân Nội, Đạo Đức, Lĩnh Nam (Hà Nội) (Nguyễn Khuê, 2007) [24]
Để bổ sung lượng phân bón hữu cơ truyền thống, hiện đP có nhiều loại phân chế biến theo phương pháp công nghệ sinh học như các loại phân vi sinh, phân hưu cơ sinh học… Chất hữu cơ có trong loại phân này cung cấp dinh dưỡng cho cây một cách cân đối và nhanh chóng, có thể thay thế cho phân hóa học, ngoài ra còn bổ sung lượng lớn các vi sinh vật có ích giúp tăng cường phân giải chất hữu cơ, cùng cấp thêm các chất dinh dưỡng thiết yếu cho cây và hạn chế các vi sinh vật có hại trong đất, góp phần duy trì và tăng
độ phì nhiêu của đất trồng
Công ty Phân bón Bình Điền sản xuất loại phân hữu cơ sinh học Biorganic No1 chứa 6% các chất dinh dưỡng NPK và 24% chất hữu cơ, ngoài
ra còn có các chất trung, vi lượng và nấm đối kháng Trichodepma, có tác dụng không những giúp cây sinh trưởng, phát triển tốt mà hạn chế được nhiều
Trang 37loại bệnh hại, giảm lượng thuốc hóa học sử dụng, góp phần đảm bảo an toàn cho rau Dạng phân bón lá hữu cơ Phomix, qua thí nghiệm thực tế trên các loại rau cải, rau muống, mồng tơi tại Hợp tác xP Tân Phú Trung (Củ Chi, Tp Hồ Chí Minh) phun phân bón lá Phomix 7 ngày một lần làm tăng năng suất rau từ 15 - 30%, chất lượng rau hoàn toàn đảm bảo tốt (Nguyễn Khuê, 2007) [24]
Tóm lại: Những cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu nêu trên đP cho thấy:
- Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật trồng trọt theo quan điểm hệ thống là rất phù hợp trong sản xuất nông nghiệp Đặt vấn đề nghiên cứu trong điều kiện cụ thể về tự nhiên, khí hậu, đất đai và điều kiện kinh tế - xP hội của vùng sinh thái, từ đó khai thác hợp lý nguồn tài nguyên sẵn có của địa phương, tăng thu nhập cho người dân, nâng cao hiệu quả kinh tế của hệ thống nông nghiệp nói chung và hệ thống trồng trọt nói riêng, bảo vệ, khai thác và phát triển nền nông nghiệp bền vững
- Mặt khác cũng cho thấy trong thời gian qua các tiến bộ khoa học đP
được nghiên cứu một cách khoa học kể cả trong và ngoài nước, được áp dụng trong sản xuất có hiệu quả ở nhiều vùng sinh thái, khu vực và nhiều địa phương đP đem lại nhiều thành quả to lớn trong sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất trồng trọt nói riêng
- Làm sáng tỏ vị trí, vai trò của các biện pháp kỹ thuật trong nông nghiệp nói chung và ngành trồng trọt nói riêng
Trang 383 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
3.1 Nội dung nghiên cứu
3.1.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên và kinh tế - xP hội của huyện Thuận Thành
- Vị trí địa lý huyện Thuận Thành
- Tài nguyên, khí hậu của huyện Thuận Thành
- Điều kiện kinh tế - xP hội
+ Thực trạng phát triển kinh tế - xP hội
+ Thực trạng dân số, lao động
+ Thực trạng cơ sở hạ tầng của địa phương
3.1.2 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất
- Hiện trạng sử dụng đất tự nhiên của huyện Thuận Thành
- Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của huyện Thuận Thành
3.1.3 Thực trạng sản xuất nông nghiệp của huyện Thuận Thành
- Hiện trạng sử dụng giống cây trồng
- Thí nghiệm một số giống cà chua vụ xuân - hè năm 2009
- Thí nghiệm xác định lượng phân bón Vinamix cho cây dưa chuột 3.1.6 Đề xuất một số giải pháp kỹ thuật trồng trọt
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các tài liệu thứ cấp có ở địa phương có liên quan đến đề tài
Trang 39- Các hộ nông dân tham gia đề tài (điều tra, phỏng vấn và làm thử nghiệm trên đồng ruộng) có ảnh hưởng trực tiếp đến hệ thống trồng trọt
- Các hệ thống trồng trọt và các biện pháp kỹ thuật hiện đang được sử dụng, đề xuất biện pháp kỹ thuật để nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất của hệ thống trồng trọt
- Giống cây trồng được sử dụng tại địa phương, vật tư thí nghiệm 3.2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Đề tài được thực hiện tại huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh; các xP Nghĩa Đạo, Đình Tổ, Ninh Xá đại diện để điều tra và làm thử nghiệm
- Thời gian: từ tháng 8/2008 - đến tháng 7/2009
3.2.3 Phương pháp nghiên cứu
3.2.3.1 Phương pháp điều tra thu thập, thừa kế số liệu
Chúng tôi thực hiện phương pháp điều tra nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA: Pariticipatory Rural Appraisal)
* Thu thập thông tin không dùng phiếu điều tra
- Sử dụng các tài liệu thứ cấp tại địa phương:
+ Số liệu khí tượng thuỷ văn từ năm 1998 - 2008
+ Số liệu về đất đai năm 2008 và hướng qui hoạch đến năm 2010 + Số liệu về kinh tế - xP hội giai đoạn năm 2000 – 2008
- Khảo sát mô tả vùng nghiên cứu và điều tra phỏng vấn các hộ nông dân
* Thu thập thông tin bằng phiếu điều tra
- Chọn 3 xP Nghĩa Đạo, Ninh Xá và Đình Tổ đại diện cho huyện Thuận Thành, mỗi xP tiến hành điều tra trực tiếp 50 hộ nông dân, kết hợp hội thảo, thừa kế số liệu với các nội dung sau:
+ Diện tích, năng suất, sản lượng của các loại cây trồng
+ Điều tra về việc sử dụng giống, phân bón cho các loại cây trồng + Các công thức luân canh hiện có của hộ nông dân
+ Kỹ thuật canh tác trong nông nghiệp hiện đang áp dụng tại địa phương + Việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất
+ Tình hình tiêu thụ nông, sản phẩm trong nông nghiệp
Trang 403.2.3.2 Thí nghiệm các biện pháp kỹ thuật
* Thí nghiệm 1: So sánh một số giống cà chua trong vụ xuân - hè 2009
- Địa điểm: Thí nghiệm được bố trí tại xP Đình Tổ - Thuận Thành - Bắc Ninh, với 8 giống cà chua, giống đối chứng của công ty Syngenta (Savior), còn lại các giống khác của công ty Seminis:
+ Giống cà chua 747 (CT 1) + Giống cà chua Loreto (CT 2) + Giống cà chua BM 746 (CT 3) + Giống cà chua Gandeeva (CT 4) + Giống cà chua Vl - 642 (CT 5) + Giống cà chua Sas 0202 (CT 6) + Giống cà chua NP - 2961 (CT 7) + Giống cà chua Savior (đ/c) (CT 8)
- Phương pháp bố trí thí nghiệm (Nguyễn Thị Lan, Phạm Tiến Dũng, 2006) [25] thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB), với 3 lần nhắc lại, diện tích một ô thí nghiệm 15 m2 (trồng 36 cây), diện tích cho một lần nhắc lại 120 m2, tổng diện tích 360 m2 (chưa tính dải bảo vệ, mật độ trồng 24000 cây/ha) dải bảo vệ xung quanh thí nghiệm rộng 1,5 m Sơ đồ thí nghiệm như sau:
vệ Dải bảo vệ
Ghi chú: I, II, III: các lần nhắc lại
1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8: các công thức
- Thí nghiệm được thực hiện trong điều kiện sản xuất của nông hộ, trên
đất vàn cao
- Ngày gieo hạt: 02/12/2008