luận văn thạc sĩ, tiến sĩ, cao học, luận văn
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học nông nghiệp hà nội
Trang 2L ời cam ñoan
Tôi xin cam ñoan rằng số liệu kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung th ực và chưa sử dụng ñể bảo vệ trong một học vị nào
Tôi xin cam ñoan rằng mọi sự giúp ñỡ trong luận văn này ñã ñược cảm
ơn, mọi thông tin trích trong luận văn ñều ñã ñược chỉ rõ nguồn gốc
Hà N ội, tháng 10 năm 2009
Tác giả
Phïng T«n QuyÒn
Trang 3L ời cám ơn
Tụi xin trân trọng cám ơn cỏc Th ầy Cụ giỏo Khoa nụng học, Khoa công nghệ sinh học, Viện đào tạo sau đại học Trường ðại học nụng nghiệp Hà Nội;
Khoa Công nghệ sinh học và môi trường Trường đại học Phương đông ủ% tạo
điều kiện và giỳp ủỡ tụi trong suốt thời gian học tập cao học vừa qua
Tụi xin bày t ỏ lũng biết ơn TS Đoàn Duy Thanh, người ủó trực tiếp
h ướng dẫn và giỳp ủỡ tụi thực hiện luận văn này
Tụi xin trân trọng cám ơn tập thể cỏn bộ cụng nhõn viờn Viện Di truyền
Nụng nghi ệp đ%ã tạo ủiều kiện thuận lợi cho tụi trong quỏ trỡnh thực hiện luận
v ăn
Tụi xin chõn thành cám ơn gia đình, bạn bè và ủồng nghiệp ủó ủộng
viờn giỳp ủỡ tụi hoàn thành khoỏ học
Hà N ội, thỏng 10 năm 2009
Tỏc giả
Phùng Tôn Quyền
Trang 4MôC LôC
2.1 T×nh h×nh s¶n xuÊt hoa, c©y c¶nh trªn thÕ giíi vµ ë ViÖt Nam 4 2.1.1 T×nh h×nh s¶n xuÊt hoa, c©y c¶nh trªn thÕ giíi 4 2.1.2 T×nh h×nh s¶n xuÊt hoa, c©y c¶nh ë ViÖt Nam 5 2.1.3 Gi¸ trÞ kinh tÕ ®em l¹i tõ nghÒ trång hoa, c©y c¶nh 9 2.1.4 Gi¸ trÞ kinh tÕ ®em l¹i tõ c©y hoa Hång m«n 10
2.3 Ph−¬ng ph¸p nh©n gièng in vitro c©y Hång m«n 16 2.4 Gi¸ thÓ cho c©y con giai ®o¹n sau in vitro 18
2.5 Mét sè nghiªn cøu trong n−íc vÒ c©y Hång m«n 25
Trang 54.1 ThÝ nghiÖm giai ®o¹n v−ên −¬m sau in vitro 34
Trang 6DANH Mục Bảng
Bảng 1: ảnh hưởng của giá thể tới tỷ lệ sống (%) và sinh trưởng phát triển
Bảng 2: ảnh hưởng của dinh dưỡng đến sinh trưởng của cây con giai
Bảng 3: Thời gian ươm cây ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của
Bảng 4: ảnh hưởng của bầu đất đến sinh trưởng của cây giai đoạn trồng 42 Bảng 5: ảnh hưởng của tỷ lệ dinh dưỡng (NPK) đến sinh trưởng của cây
Bảng 6: ảnh hưởng của tỷ lệ NO3-/NH4+ đến phát triển của cây con giai
Bảng 7: ảnh hưởng của chu kỳ bón phân có hàm lượng Nitơ dạng NO3
-/NH4+ = 3: 2 đến sinh trưởng của Hồng môn 50
Trang 7
Phần I Mở đầu
1.1 Đặt vấn đề
Việt Nam có khí hậu và thổ nhưỡng thuận lợi để có thể trồng được nhiều loài hoa và cây cảnh, đang sở hữu một nguồn tài nguyên hoa rất đa dạng, từ các loài hoa miền nhiệt đới được trồng ở vùng đồng bằng đến các loại hoa xứ lạnh trồng trên các cao nguyên Lâm Đồng, Đà Lạt, SaPa… Sự phát triển của ngành hoa nước ta trong thời gian qua đi mang lại nhiều sản phẩm đa dạng và chất lượng vượt bậc Tính đến năm 2005 diện tích hoa cây cảnh cả nước có
15000 ha, tăng 7% so với năm 2004 [24]
Trên thực tế thu nhập từ cây hoa cao gấp 10 – 20 lần so với cây lúa, xét
về mặt kinh tế nghề trồng hoa và kinh doanh hoa là ngành mang lại lợi nhuận cao cho người nông dân Thị trường trong nước rộng lớn và phong phú, bên cạnh đó tiềm năng xuất khẩu cũng đầy hứa hẹn, hoa và cây cảnh Việt Nam tạo tiềm lực kinh tế lớn cho ngành sản xuất nông nghiệp Việt Nam trong tiến trình thay đổi cơ cấu cây trồng Sản xuất hoa cho thu nhập cao bình quân đạt khoảng
70 - 130 triệu đồng/ha/năm nên rất nhiều địa phương trong cả nước đang mở rộng diện tích hoa trên những vùng đất có tiềm năng Xuất phát từ ý nghĩa to lớn của ngành có nhiều tiềm năng này mà chính phủ đi phê duyệt và giao cho
bộ NN & PTNT chỉ đạo thực hiện chương trình phát triển rau, hoa, quả phục
vụ với mục tiêu đến năm 2010 đạt tổng kinh ngạch xuất khẩu là 1.2 tỷ USD [24]
Hồng môn (Anthurium tropical) là một loài hoa được nhiều người ưa chuộng vì chúng là một loài hoa đẹp, đa dạng về hình thái, màu sắc, bên cạnh
đó hoa Hồng môn còn có đặc tính rất bền và tươi lâu
Lợi nhuận thu được từ cây Hồng môn là rất lớn, tại Maurititus người ta
có thể thu được 225.000 bông hoa thương phẩm/ha/năm Lii xuất đạt được trên
Trang 8một bông hoa là 1 – 1.25 Rs (Ruspi) Một năm lợi nhuận thu được tối thiểu tương đương với 500 – 700 triệu Việt Nam đồng [12]
Hồng môn có thể được nhân giống bằng hạt hay bằng nhiều phương pháp nhân giống vô tính truyền thống như phương pháp tách chồi, chia bụi… tuy nhiên những phương pháp này còn có những hạn chế nhất định: số lượng cây nhân ra ít, không đảm bảo chất lượng cây con giống, không đủ đáp ứng cho quy mô sản xuất lớn và nhu cầu của thị trường
Một số nước trên thế giới như Nhật, Mỹ, Hà Lan… nhờ áp dụng thành tựu của công nghệ sinh học (CNSH) vào nhân giống đi sản xuất hoa Hồng môn trên quy mô công nghiệp Riêng ở Mỹ trong tổng số 6 triệu chậu Hồng môn được trồng thì có 90% được nhân giống bằng kỹ thuật in vitro
ở nước ta hiện nay ủó cú cỏc nghiờn cứu dụng công nghệ nhân giống in vitro như: nhân giống in vitro cây Hồng môn bằng phương pháp tái sinh cây từ callus [5], tạo phôi vô tính từ mô lá, mô lát cắt thân của cây Hồng môn in vitro, nghiên cứu tạo phôi vô tính và hạt nhân tạo [7] Đây là nghiên cứu mang tính chất cơ bản, đột phá phục vụ tốt cho công tác nhõn và chọn giống Tuy nhiờn cỏc nghiờn cứu về cụng nghệ trồng sau Invitro như: giá thể trồng và dinh dưỡng trồng giai đoạn ươm, giá thể và chế độ dinh dưỡng ở cỏc thời kỳ sinh trưởng phỏt triển của caay hoa Hồng mụn cũn nhiều hạn chế
Xuất phát từ thực tế trên, với mong muốn xây dựng quy trỡnh công nghệ trồng cây Hồng môn giai ủoạn sau Invitro, nhằm tiếp cận với công nghệ cao trong sản xuất hoa và từ ủú tạo cơ sở xây dựng công nghệ sản xuất hoa Hồng môn với quy mô công nghiệp, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“ Nghiên cứu giá thể trồng và dinh dưỡng sau in vitro cho cây hoa Hồng môn (Anthurium tropical)”
Trang 91.2 Mục đích của đề tài
Nghiên cứu công nghệ trồng cây hoa Hồng môn giai ủoạn sau Invitro bao gồm: Giá thể và dinh dưỡng thích hợp cho giai ủoạn vườn ươm, giá thể và dinh dưỡng thích hợp giai đoạn ủầu của vườn trồng, nhằm làm tài liệu cung cấp cho cỏc nghiờn cứu ở cỏc thời kỳ tiếp theo, trờn cơ sở ủú xây dựng công nghệ sản xuất hoa Hồng môn hoàn chỉnh với quy mô công nghiệp
1.3 Yêu cầu của đề tài
+ Xác định giá thể thích hợp cho tỷ lệ cây sống cao và sinh trưởng tốt của cây con sau in vitro giai đoạn vườn ươm
+ Xác định chế ủộ dinh dưỡng khoáng thích hợp cho cây sau in vitro giai đoạn vườn ươm
+ Xác định tuổi cây thích hợp giai đoạn vườn ươm cho giai đoạn vườn trồng
+ Xác định hỗn hợp bầu ủất thích hợp để trồng cây giai đoạn đầu của vườn trồng
+ Xác định tỷ lệ dinh dưỡng NPK thích hợp cho cây ở giai đoạn đầu của vườn trồng
+ Xác định tỷ lệ dinh dưỡng Nitơ (NO3- / NH4+) thích hợp cho cây ở giai
đoạn đầu của vườn trồng
+ Xác định chu kỳ bón phân thích hợp cho cây ở giai đoạn đầu của vườn trồng vườn trồng
1.4 ý nghĩa của đề tài:
ứng dụng công nghệ trồng giai đoạn vườn ươm và giai đoạn đầu vườn trồng trong việc xây dựng quy trình hoàn chỉnh sản xuất hoa Hồng môn quy mô lớn, hiệu quả kinh tế và nâng cao thu nhập cho người sản xuất
Trang 10Phần II Tổng quan tài liệu 2.1 Tình hình sản xuất hoa, cây cảnh trên thế giới và ở Việt Nam
2.1.1 Tình hình sản xuất hoa, cây cảnh trên thế giới
Tình hình sản xuất hoa, cây cảnh trên thế giới đang ngày càng phát triển một cách mạnh mẽ và đi trở thành một ngành thương mại mang lại lợi nhuận cao thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế Các nước trồng hoa, cây cảnh trong
đó có các nước châu á cũng đang phát triển mạnh và cạnh tranh quyết liệt để chiếm lĩnh thị trường hoa, cây cảnh thế giới
Diện tích trồng hoa trên thế giới ngày càng được mở rộng và không ngừng tăng lên Năm 1995 sản lượng hoa thế giới đạt khoảng 31 tỷ USD, trong
đó hoa Hồng chiếm 25 tỷ USD Ba nước có sản lượng hoa chiếm 50% sản lượng hoa thế giới là Nhật (3.731 tỷ USD), Mỹ (3.720 tỷ USD) và Hà Lan ( 3.358 tỷ USD) [31]
Giá trị nhập khẩu hoa của thế giới năm 1995 đạt 6.8 tỷ USD trong đó thị trường hoa Hà Lan chiếm gần 50%, sản xuất hàng năm 7 tỷ bó hoa tươi, lii xuất suất khẩu đạt tới 2.1 tỷ USD Tại châu á, Thái Lan là một trong nhưng nước đứng đầu về xuất khẩu hoa với giá trị xuất khẩu đạt 800 triệu USD ở Đài Loan diện tịch chuyên canh trồng hoa lên tới 9000 ha giá trị xuất khẩu khoảng 0.6 USD/cành hoa [30]
Tính đến năm 2005, các nước châu Âu vẫn là những quốc gia nhập khẩu hoa nhiều nhất Đứng đầu là Đức chiếm 36% thị trường hoa thế giới, Mỹ 21%
So với năm 1995 thị trường hoa nhập khẩu của Hà Lan chỉ còn 4% Một số quốc gia khác trên thế giới mức nhập khẩu hoa còn thấp 15.9% Hà Lan là nước xuất khẩu hoa lớn nhất chiếm 69.8% thị trường hoa thế giới, các nước châu Mỹ, đứng đầu là Colombia chiếm 12% Tại khu vực Đông Nam á, Thái Lan là quốc gia xuất khẩu hoa nhiều nhất đạt 1.6% thị trường hoa thế giới, các quốc gia khác trên thế giới là 7.9% [bảng 1.1 phụ lục I]
Trang 11Nhu cầu hoa của thế giới rất lớn do vậy việc xuất nhập khẩu hoa, cây cảnh đi trở thành một ngành kinh tế có hiệu quả lớn trên thị trường thế giới Hàng năm nghề trồng hoa cây cảnh trên thế giới đi đạt giá trị 25 tỷ USD, dự kiến đến năm 2010 đạt 40 tỷ USD
Hà Lan được coi là xứ sở của nghề trồng hoa, ở đây sản xuất và kinh doanh hoa đi trở thành một ngành công nghiệp với doanh thu hàng tỷ USD Chỉ tính riêng hoa Tuylip mỗi năm đạt mức doanh thu khoảng 600 triệu USD
Các nước công nghiệp ở Nam Mỹ, Châu Phi cũng muốn vươn lên thoát khỏi đói nghèo thông qua việc thay đổi cơ cấu cây trồng, trong đó có việc đưa hoa, cây cảnh vào hàng các cây sản xuất chính trong công nghiệp Năm 1990 Costarica đi xuất khẩu được 27 triệu USD hoa, cây cảnh trong đó hoa Hồng môn chiếm phần không nhỏ
Ngành sản xuất và kinh doanh hoa cây cảnh hàng năm tăng trưởng hơn 10% Kenia hàng năm xuất khẩu 25000 tấn hoa thu 47.2 triệu USD đứng thứ
ba về thu nhập ngoại tệ của đất nước [26]
2.1.2 Tình hình sản xuất hoa, cây cảnh ở Việt Nam
Việt Nam có điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng thuận lợi để có thể trồng
được nhiều loại hoa và cây cảnh Sản phẩm hoa, cây cảnh có vai trò quan trọng trong cuộc sống khi thu nhập và nhu cầu thẩm mỹ của người dân ngày càng cao
Thực trạng ngành hoa của Việt Nam
+ Diện tích, sản lượng
Năm 2005 diện tích hoa, cây cảnh cả nước có 15000 ha, tăng 7% so với
2004 Sản xuất hoa đang cho thu nhập cao bình quân đạt khoảng 70 - 130 triệu
đồng/ha/năm nên rất nhiều địa phương trong cả nước đang mở rộng diện tích hoa trên những vùng đất có tiềm năng [24]
+ Các vùng miền trồng tập trung một số loại hoa cây cảnh
Trang 12Cịc tửnh phÝa Bớc
Hộ néi ệ−ĩc ệịnh giị lộ vỉng hoa lắn nhÊt, tỰi huyỷn Tõ Liếm vắi diỷn tÝch 500 ha thừ xi Tẹy Tùu cã 330 ha (chiạm 66% diỷn tÝch trăng hoa toộn huyỷn, chiạm 84.6% diỷn tÝch canh tịc toộn xi), chự yạu trăng hoa cóc, hoa hăng, hoa ệăng tiÒn, hoa ly, hoa loa kÌnẦ ngoội ra mét sè huyỷn thộnh khịc
vộ mét sè tửnh khịc nh− Vỵnh Phóc, H−ng Yến, Hộ Tẹy, Thịi Bừnh,Ầ [27]
Cịc tửnh phÝa Nam
TỰi cịc tửnh phÝa Nam tẺp trung nhiÒu tỰi TP Hă ChÝ Minh vắi diỷn tÝch hoa cẹy cờnh hiỷn cã 700 ha, tẺp trung ẻ 8 quẺn huyỷn nh−: QuẺn 12 (110 ha), Thự ậục (87 ha)Ầ nhiÒu nhÊt lộ Cự Chi (131 ha) vắi khoờng 1400 hé sờn xuÊt hoa, cẹy cờnh ệang ệ−ĩc ệÒ nghỡ ệ−a vộo ch−ểng trừnh ba cẹy trăng chự lùc cựa thộnh phè (cẹy dụa cayen, cẹy rau an toộn, hoa cẹy cờnh) Diỷn tÝch trăng hoa cựa Lẹm ậăng nẽm 2005 ệỰt 2027 ha chự yạu tẺp trung tỰi TP ậộ LỰt, cịc xi Hiỷp Thộnh, Hiỷp AnẦsờn l−ĩng hoa khoờng 640 triỷu cộnh, nghÒ trăng hoa ẻ ậộ LỰt ệang cã xu h−ắng phịt triÓn mỰnh cỉng vắi viỷc ịp dông nhọng cềng nghỷ mắi Cịc gièng hoa cao cÊp nh− Lyly, Hăng mền, Layển gièng mắi, hoa ậăng tiÒn gièng mắi, Thiến ệiÓu, Tuylip ệang ệ−ĩc −a chuéng [29]
Hiỷn nay đà Lạt ựã phá bỏ một số diện tắch cà phê chuyển sang trồng hoa hồng môn, hơn nữa nếu chỉ trồng phong lan (treo trên giàn) thì rất lãng phắ ựất do vậy các nhà sản xuất ựã thiết kế 3 tầng, tầng trên treo hoa phong lan, tầng thứ hai trồng hồng môn, tầng sát mặt ựất có thể trồng rau dấp cá hoặc rau má rất tốt Cây hồng môn ưa sống dưới bóng râm nên phải làm giàn che, ánh sáng thắch hợp 40-60%, chất liệu ựể trồng cần tơi xốp, giữ ựộ ẩm cao, như
vỏ cây thông, vỏ cà phê, bụi chè, xơ dừa xay, tro trấu ủ hoai, làm luống rộng 1,6m, dài tùy khổ ựất, sung quanh có bờ ựể ựổ giá thể vào dày 20 cm Mật ựộ trồng cây cách hàng 40 x 40 cm Mùa khô tưới ngày 2 lần Về phân bón, có thể dùng Komix, 100 kg/1.000 m2, mùa mưa 4 tháng bón một lần, mùa khô 3
Trang 13tháng Hoặc dùng NPK tỷ lệ 20+20+10 hòa tan vào nước tưới Từ khi trồng sau 1 năm có 50% bông, sau 18 tháng có 100% bông, hoa có quanh năm thu
rộ, tuần cắt 1 lần Thời gian này không nên tưới trực tiếp mà phải bằng hệ thống phun sương Giá lan ngoại bán từ 150-200.000 ự/chậu, lan rừng 30.000 ự/giò Hoa hồng môn giá bán sỉ 2.000 ự/bông Riêng hoa hồng môn không ựủ nguồn hàng cung cấp cho cịc Cty kinh doanh tỰi đà Lạt Mô hình trồng hoa hồng môn, phong lan, cà phê rau má rau dấp cá của bà con nông dân ậộ lỰt là một trong những mô hình rất hiệu quả một năm thu khoờng 150 - 200 triệu ựồng/ ha, tạo công ăn việc làm cho người lao ựộng thường xuyên với mức lương 700.000 ự/tháng Mô hình này ựã ựược nhân rộng và rất thanh công[29]
Hoa Hăng mền (Anthurium): do viỷc ịp dông cịc thộnh tùu cựa cềng nghỷ sinh hảc trong nhẹn gièng Hăng mền, nghiến cụu cềng nghỷ trăng phôc
vô tiếu dỉng vộ xuÊt khÈu lộ mét h−ắng ệi ệóng [32]
ẻ Viỷt Nam, viỷc sờn xuÊt vộ tiếu thô hoa ệang cộng tẽng lến vộ ệi phẵn nộo ệịp ụng ệ−ĩc nhu cẵu tiếu thô hoa ẻ trong n−ắc Hăng mền tuy lộ hoa mắi xuÊt hiỷn ẻ Viỷt Nam nh−ng nã ệi nhanh chãng chiạm ệ−ĩc cờm từnh cựa ng−êi chểi hoa trong n−ắc Hăng mền chự yạu ệ−ĩc trăng ệÓ sờn xuÊt hoa cớt, hoa trăng chẺu tỉy thuéc vộo môc ệÝch cựa ng−êi sỏ dông Hăng mền chự yạu trăng ẻ ậộ LỰt, Tam ậờo, Hộ Néi, TP Hă ChÝ Minh vắi diỷn tÝch trăng rÊt nhá mang tÝnh thỏ nghiỷm, cưn sờn phÈm hoa chÊt l−ĩng cao chự yạu nhẺp ẻ n−ắc ngoội
ậộ LỰt lộ vỉng sờn xuÊt hoa nữi tiạng vộ lộ vỉng cã tiÒm nẽng lắn nhÊt
vÒ sờn xuÊt hoa cựa cờ n−ắc Hiỷn nay cềng ty TNHH ậộ LỰt - Hasfarm 100% vèn n−ắc ngoội ệang ịp dông cềng nghỷ sờn xuÊt hoa tiến tiạn vắi quy mề diỷn tÝch 15 ha sờn xuÊt trong nhộ kÝnh vộ 2 ha nhộ thĐp, cã hỷ thèng tù ệéng
ệiÒu chửnh nhiỷt ệé, Èm ệé, hỷ thèng t−ắi nhá giảt bỪng nguăn n−ắc sỰch hưa tan vắi phẹn bãn, thuèc bờo vỷ thùc vẺt [28]
Trang 14Nhìn chung, việc phát triển ở Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn về đất
đai, kỹ thuật canh tác, chủng loại hoa, bảo quản, vận chuyển, thị trường tiêu thụ… sản xuất hoa chủ yếu là các hộ gia đình tự tổ chức sản xuất và tìm thị trường tiêu thụ, một số nơi đi hình thành các doanh nghiệp tư nhân nhỏ lẻ tham gia nghiên cứu thử nghiệm các loại hoa mới và là đầu mối thu mua cho các hộ nông dân
Tiêu thụ sản phẩm hoa
Hiện nay, sản xuất hoa ở nước ta được thực hiện bởi hai đối tượng chính: nông dân sản xuất tự phát theo xu hướng nhu cầu thị trường trong nước và bởi các doanh nghiệp tư nhân trong nước liên doanh với nước ngoài hoặc 100% vốn nước ngoài sản xuất hoa chủ yếu cho xuất khẩu
Việt Nam đi xuất khẩu được các sản phẩm hoa cắt cành như: Hồng, Phong lan, Cúc, Đồng tiền, Cẩm chướng, Lyly,… sang Trung Quốc, Hồng Kông, Nhật Bản, Singapore, Australia, ảrập Vạn niên thanh, Mai chiếu thủy, Mai cảnh… sang Trung Quốc, Mỹ, Nhật bản Tuy nhiên số lượng xuất khẩu không nhiều, với doanh thu hơn 10 triệu USD/năm Trong khi tiêu thụ trong nước lại có xu hướng chạy theo mùa vụ (rằm, lễ, tết, các ngày kỷ niệm) là chính [27]
Các chủng loại hoa Công ty Đà Lạt - Hasfarm đang sản xuất bao gồm hoa Hồng, Cúc, Cẩm chướng, Lyly, Đồng tiền và ling hoa trang trí Sản lượng hoa xuất khẩu sang các nước Hồng Kông, Nhật Bản, Đài Loan, Singapore…chiếm 55%, phần còn lại dành cho tiêu thụ nội địa Quy trình sản xuất được thực hiện khép kín từ gieo trồng đến thu hoạch kể cả công nghệ sau thu hoạch như xử lý dung dịch giữ hoa, đóng gói bảo quản và vận chuyển trong ngày để gửi đến nơi tiêu thụ [28]
Mục tiêu dài hạn là xuất khẩu sang các nước vùng bắc Mỹ - Canada và Hoa Kỳ cũng như khu vực trung Âu Hoa tươi xuất khẩu của các nước khu vực
Đông Nam á nói chung và Việt Nam nói riêng khó có thể thâm nhập vào thị
Trang 15trường khu vực bắc Mỹ hoặc trung Âu vì các thị trường này đi có truyền thống nhập khẩu hoa tươi từ các khu vực khác như vùng nam Mỹ và trung Mỹ Các nước nam Âu, Israel và châu Phi, những thị trường này cũng khá xa về khoảng cách địa lý nên chi phí vận chuyển sẽ không phải là lợi thế Các yếu tố liên quan đến việc đạt được những mục tiêu trung hạn này chỉ có thể là giá cả và các dịch vụ khách hàng [24]
2.1.3 Giá trị kinh tế đem lại từ nghề trồng hoa, cây cảnh
Chỉ trong vòng 10 năm, từ năm 1995 - 2005 giá trị sản lượng hoa thế giới tăng gần gấp đôi Nếu như năm 1995 giá trị sản lượng hoa thế giới đạt 20
tỷ USD/năm thì cho đến năm 2005 đi đạt 31 tỷ USD/năm trong đó Hà Lan chiếm 65% Colombia 10%, Italya và Israel mỗi nước 6%, Tây Ban Nha 2%, Kenya 1%, các nước khác chiếm 16%, mức tăng trưởng hàng năm đạt 6 - 9%/năm [10]
Trên thị trường hoa thế giới, sản phẩm thương mại chính vẫn là các loại hoa cắt cành truyền thống: Hồng, Cúc, Lyly… những nước có thu nhập bình quân đầu người cao cũng là những nước có mức tiêu thụ hoa cắt cành lớn Các nước bắc Âu là những quốc gia có mức tiêu thụ hoa cắt cành bình quân đầu người/năm là lớn nhất Chỉ tính riêng Thụy Sỹ từ năm 1990 – 1995 mức tiêu thụ bình quân đạt 70 – 87 USD đầu người/năm, nhưng tới năm 2000 con số này đạt 120 USD Một số quốc gia khác như Bỉ mức tiêu thụ hoa cũng tăng gấp đôi trong vòng 10 năm, năm 1990 là 25 USD, năm 2000 là 50 USD [bảng 1.3 phụ lục I]
Bên cạnh đó thị trường hoa lạ cũng đang mở ra cơ hội mới cho các nước trồng hoa Nhật Bản là nước có thị trường hoa thời thượng nhất, có nhu cầu hoa lạ cao nhất
Việt Nam là nước nhiệt đới có nền khí hậu và đất đai đa dạng, hoa cây cảnh có thể được sản xuất quanh năm Hơn nữa lại có truyền thống trồng hoa nên hiệu quả kinh tế mà nghề trồng hoa đem lại ngày càng cao
Trang 16Thu nhập từ nghề trồng hoa cao gấp 10 – 20 lần trồng cây lương thực, trong khi chi phí sản xuất chỉ cao hơn 6 lần nên lii thuần của nghề trồng hoa cao hơn nhiều so với cây lương thực Việc thu lii thuần cao tương ứng với việc thu lợi nhuận cao, vì vậy cây hoa đang từng bước thay thế dần các cây lương thực kém hiệu quả Hiệu suất của một số yếu tố đầu vào như công lao động, phân bón và thủy lợi của cây lương thực đều thấp hơn so với cây hoa Điều này chứng tỏ việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng sang trồng rau và hoa sẽ làm tăng hiệu quả lao động, phân bón, thủy lợi [3]
Theo thống kê, chi phí sản xuất trồng hoa cho 1 ha là 56.2 triệu đồng lớn hơn rất nhiều so với trồng cây lương thực 8.8 triệu đồng, cây rau 11.5 triệu
đồng, nhưng thu nhập đem lại từ nghề trồng hoa thì lại vô cùng lớn đạt 105.8 triệu đồng, trong khi cây lương thực và cây rau chỉ được 10, 11.5 triệu đồng Lii thuần từ cây hoa đạt 49.6 triệu đồng cao gấp 5 lần so với cây rau và gấp 25 lần so với cây lương thực [bảng 1.4 phụ lục I]
Bên cạnh đó việc xuất khẩu hoa cũng đem lại nguồn ngoại tệ đáng kể Năm 2004 thành phố Đà Lạt xuất khẩu 40 triệu cành hoa các loại thu được trên
6 triệu USD Ngành sản xuất hoa ở nước ta đang có cơ hội phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Tuy nhiên trình độ sản xuất hoa còn thấp chưa ứng dụng rộng rii thành tựu khoa học trên quy mô công nghiệp [28]
2.1.4 Giá trị kinh tế đem lại từ cây hoa Hồng môn
Hồng môn là loại hoa có giá trị kinh tế cao ở Mỹ giá trị buôn bán cây lá làm cảnh như: Anthurium, Schefflera (thuộc họ ngũ gia bì), Acchmea (thuộc
họ dứa)… tăng từ 13 triệu USD năm 1949 tới 574 triệu USD năm 2000 Lợi nhuận thu được từ cây Hồng môn là rất lớn Tại Maurrititus người ta có thể thu
được 225000 bông hoa thương phẩm/ha/năm lii xuất đạt được trên 1 bông hoa
là 1 - 1.25 Rs Một năm lợi nhuận thu được tối thiểu sẽ là 225000 Rs/ha tương
đương 500 - 700 triệu đồng Việt Nam [10]
Trang 17Năm 1987 diện tích trồng hoa Hồng môn ở Hà Lan là 76 ha, cho sản lượng 16.3 - 20 triệu cành hoa cắt, doanh thu đem lại là 16.9 triệu France - Thụy Sỹ Cũng ở thời điểm này thì doanh thu hoa cắt ở Hawai là 9.9 triệu France - Thụy Sỹ và vào năm 1993 đi là 17.5 triệu France - Thụy Sỹ…[33]
Do đó việc áp dụng các thành tựu của công nghệ sinh học trong nhân giống Hồng môn, nghiên cứu công nghệ trồng phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu
là một hướng đi đúng
2.1.5 Tình hình sản xuất hoa Hồng môn
Nhu cầu thưởng thức hoa của người tiêu dùng thay đổi nhiều so với trước đây, trong đó thị phần hoa lạ tăng lên ở Nhật, hoa lạ chiếm 50% thị phần hoa, ở Hà Lan và Đức chiếm 45% Trong số các loại hoa đang được chú ý trên thị trường phải kể đến hoa Hồng môn Nhu cầu về hoa Hồng môn trên thế giới tăng rất nhanh, tới 38% trong giai đoạn từ 1999 - 2002 trong khi các loại hoa truyền thống như Hồng, Cẩm chướng chỉ tăng 18%
Giá trị thương mại của hoa Hồng môn chỉ đứng sau hoa Lan trong các loại hoa nhiết đới Hà Lan và Hawaii được coi là xứ sở của hai loại hoa này ở
Hà Lan ước tính có khoảng 37 triệu cành Hồng môn được bán tại các phiên
đấu giá hoa trong năm 1993 đứng thứ mười bốn trong số các loại hoa, cũng trong năm đó các trang trại trồng Hồng môn ở Hawaii bán được 10.6 triệu cành thu được 7.5 triệu USD [2]
ở Việt Nam Hồng môn tuy là loại hoa mới xuất hiện nhưng nó đi nhanh chóng chiếm được cảm tình của nhiều người chơi hoa trong cả nước, Hồng môn chủ yếu được trồng ở Đà Lạt, Tam Đảo, Hà Nội, TP Hồ Chí Minh với diện tích sản xuất rất nhỏ chỉ mang tính chất thử nghiệm, còn sản phẩm hoa chất lượng cao chủ yếu phải nhập từ nước ngoài
Trang 182.2 Mét sè ệẳc ệiÓm vÒ cẹy hoa Hăng mền
2.2.1 Nguăn gèc vộ phẹn bè ệỡa lý
Cây hoa hồng môn (Anthurium sp.) là giống cây lớn nhất thuộc họ ráy
Araceae với khoảng 600 loại phân bố ở vùng Trung và Nam Mỹ đây là cây hoa ựẹp, sang trọng và ựa dạng về màu sắc cũng như hình dáng của hoa Hồng môn ựược trồng trong chậu dùng trang trắ trong nhà, công viên, vườn hoa hoặc trồng sản xuất hoa cắt cành trong thương mại Sản xuất hoa hồng môn cắt cành ựã ựem lại một nguồn lợi lớn ựối với một số nơi trên thế giới như: Hà Lan, Nhật Bản, MỹẦ [6]
Hả rịy Araceae ệ−ĩc phẹn thộnh 8 hả phô, trong ệã hả phô Pothoideae
ệ−ĩc chia thộnh 6 téc, cẹy hoa Hăng mền thuéc hả phô Pothoideae vộ téc Anthureae Trong hả Araceae, Hăng mền lộ chi lắn nhÊt, chi nộy cã 900 loội, trong ệã cã cịc loội nữi tiạng ệ−ĩc trăng phữ biạn nh− Anthurium andreanum, Anthurium tropical vộ Anthurium scherzerianum
Nẽm 1876 cẹy Hăng mền bớt ệẵu ệ−ĩc trăng vộ nhẹn gièng, hiỷn nay
cã hển 200 loội sèng hoang dỰi vộ ệ−ĩc
trăng ẻ nhiÒu n−ắc Anthurium andreanum
ệ−ĩc trăng trong v−ên −ểm ệÓ sờn xuÊt
hoa cớt cưn Anthurium scherzerianum
ệ−ĩc trăng chẺu lộm cờnh [4]
Cây hoa hồng môn ựã ựược nhập
trồng tại đà Lạt từ nhiều năm trước, tuy
nhiên số lượng giống còn ắt, hình dáng
cây, hoa cũng như màu sắc hoa chưa ựược
phong phú và ựa dạng Mặc dù ngày nay
nhiều giống hoa mới ựã ựược nhập trồng
tại Việt Nam nhưng thị trường hoa hồng
Cẹy hoa Hăng mền (Anthurium tropical)
Trang 19mụn vẫn khỏ ổn ủịnh và tiếp tục ủược mở rộng Gần ủõy, một số tổ chức và cỏ nhõn ủó ủứng ra nhập một số giống hồng mụn mới về trồng phục vụ nhu cầu trong nước cũng như xuất khẩu Tuy nhiờn giỏ thành nhập cõy giống khỏ cao, khú cú thể sản xuất trờn diện rộng [6]
Hồng môn có phổ phân bố khá rộng từ vùng khô hạn của miền tây Mexico đến vùng mưa nhiệt đới của Nam Mỹ, phân bố từ độ cao 0 – 3000m tuỳ thuộc vào loài khác nhau Hiện nay Hồng môn được trồng rộng dii ở Hà Lan, Mỹ, Nhật Bản, Đài Loan, Philippin, Việt Nam… các vùng có độ cao từ
600 – 1000m so với mặt nước biển rất thích hợp cho việc trồng Hồng môn [4] 2.2.2 Đặc điểm thực vật học
Thân: Hồng môn là loài cây thân thảo, cây có thể đứng hay leo có khả năng phân nhánh gồm nhiều đốt, càng già thân càng cứng Cây Hồng môn có thể cao từ 1 – 2m tuỳ thuộc vào giống và điều kiện trồng
Rễ: Rễ Hồng môn là loại rễ chùm, ít ăn sâu mà phát triển mạnh theo chiều ngang Cây thường có nhiều rễ phụ mọc ra từ các đốt thân
Lá: Lá hình bầu dục, gốc hình tim, đầu có mũi nhọn, màu xanh bóng cuống lá dài, mập [2]
Hoa: Hoa Hồng môn là một cụm hoa trên cuống chung dài, có mo dạng bầu dục dài 10 – 15cm, nhăn nheo, gốc hình tim, rộng, có nhiều màu sắc tuỳ vào giống Hoa tập trung dày đặc thành bông màu vàng nhạt có các vằn trắng, cụm hoa tươi rất bền, quả mọng Sự biến dạng lớn của cụm hoa được xác định bởi hình dáng, màu sắc và kích cỡ của mo Trên mô có nhiều hoa lưỡng tính, các hoa của cây nở không đồng nhất, trên mo nở ra một hoa cái trước và khoảng một tháng sau mới nở ra một hoa đực để tránh sự thụ phấn Hồng môn thụ phấn chéo nhờ côn trùng Hoa Hồng môn có thể giữ được từ 2-3 tháng [2]
Quả: Quả Hồng môn có màu sắc sặc sỡ, được hình thành trên bông mo khoảng vài tháng sau khi thụ phấn Quả có chứa 1 – 2 hạt
Trang 20Cây Hồng môn là một loại cây thường xanh, có thể ra hoa quanh năm, mỗi nách lá có một hoa Hiện nay ở vườn Lục Sinh Hoá (TP Hồ Chí Minh) có gây trồng rất nhiều chủng loại rất đặc biệt như cây cao, lùn nhỏ, hoa có màu sắc thay đổi từ tím, hồng đến đỏ tươi… [2]
2.2.3 Yêu cầu ngoại cảnh
Nhiệt độ
Cây Hồng môn có nguồn gốc nhiệt đới nên yêu cầu nhiệt độ cao Nhiệt
độ cực tiểu của Hồng môn là 140C còn nhiệt độ cực đại phải được xem xét trong mối quan hệ với độ ẩm tương đối ở t0C = 350C, ẩm độ 80% sẽ không
ảnh hưởng lớn tới sinh trưởng và phát triển của cây Hồng môn nhưng với độ
có màu hồng)
ánh sáng mạnh làm nhiệt độ của lá có thể tăng đột ngột, đặc biệt là dưới
ánh sáng trực xạ Nếu nhiệt độ cao lá sẽ bị cháy và làm chậm sự phát triển của cây ở điều kiện nhiệt đới Hồng môn thường được che 60 - 70% ánh sáng tự nhiên
Độ ẩm
Cây Hồng môn cần độ ẩm tương đối của không khí cao ( ≥ 80%) việc cải tạo giống Hồng môn đi tạo ra các giống thích ứng với yêu cầu của các
Trang 21vùng trồng khác nhau Điều kiện nhiệt độ nóng ẩm, thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cây hoa Hồng môn
Dinh dưỡng
Cây Hồng môn yêu cầu có giá thể trồng thích hợp Đặc biệt việc trồng cây trên các giá thể hữu cơ cần được cung cấp đầy đủ và đúng kỹ thuật các yếu
tố dinh dưỡng Cây Hồng môn yêu cầu các chất dinh dưỡng chủ yếu sau [1]
Đạm (N2): là nguyên tố quan trọng ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây N2 tham gia vào cấu tạo tế bào, cần thiết cho việc sản xuất các acid amin, enzyme và các vật chất di truyền N2 được hấp thụ qua rễ cây dưới dạng ion NH4+ và NO3- hay được hấp thụ qua lá dưới dạng ure, triệu chứng thiếu đạm cây sinh trưởng phát triển kém lá vàng già và khô héo
Lân (P2O5): đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển rễ và sản xuất enzyme Lân tăng hệ số kinh tế cho cây, tăng phẩm chất, tăng sức nảy mầm của hạt giống Thiếu lân lá có màu vàng mép lá xoăn Cây hấp thụ lân dưới dạng H2PO4- và HPO42-
Kali (K2O): là nguyên tố đa lượng thứ ba có vai trò quan trọng trong việc điều tiết các hoạt động sống của cây, tham gia vào phân chia tế bào Kali tăng cường cho cây hút các chất dinh dưỡng khác, thiếu kali cây lá màu nhạt Kali được cây hấp thụ dưới dạng ion K+
Canxi (Ca): là yếu tố dinh dưỡng cần thiết cho cây, thiếu Ca cây sinh trưởng phát triển kém Ca tham gia vào cấu tạo thành tế bào Cây hút Ca dưới dạng Ca2+
Magie (Mg): magie có trong thành phần của diệp lục có vai trò quan trọng trong quang hợp, Mg làm tăng sức trương tế bào góp phần ổn định cân bằng nước cho cây Thiếu Mg lá mất màu xanh, gân lá ngả màu vàng khô dần
và chết Dạng Mg cung cấp cho cây là Mg2+
Lưu huỳnh (S): đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống của cây, cần thiết cho quá trình hình thành diệp lục, thúc đẩy quá trình hình thành hạt, quả
Trang 22Cây thiếu S lá màu vàng, nhỏ, thui chột và không phát triển, cây có dáng khẳng khiu Dạng dinh dưỡng cung cấp cho cây hấp thụ là SO42_
Các nguyên tố vi lượng: Bo, Mn, Cu, Zn, Fe, Co, Cl, Ni, I,… là các nguyên tố cây hấp thụ với lượng rất thấp nhưng với mỗi nguyên tố có một vai trò xác định không thể thay thế Trong đời sống thiếu các nguyên tố vi lượng cây dễ mắc một số bệnh, phát triển không bình thường, ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng cây
pH: với Hồng môn pH thích hợp vào khoảng 5.2 - 6.6, pH tối thích hợp
là 5.8 Trong quá trình sống của cây cần chú ý điều chỉnh pH trong giá thể thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cây Nếu pH cao dùng HCl, pH thấp dùng NaOH để điều chỉnh
2.3 Phương pháp nhân giống in vitro cây Hồng môn
Phương pháp nhân giống in vitro là phương thức quan trọng để nhân giống nhanh, đặc biệt là các cây khó nhân bằng phương pháp truyền thống Phương pháp này có tính ứng dụng rất cao và nhanh chóng được phổ biến rộng rii vì nó tương đối đơn giản và đi được thương mại hóa [8]
Ngày nay, phương pháp nhân giống in vitro là phương pháp được sử dụng khá phổ biến với đối tượng Hồng môn Cây con có thể hình thành trực tiếp từ ngọn cây tách rời, chồi nách hoặc gián tiếp từ callus phát sinh từ mẫu cấy là lám bông mo, mo… Phương pháp nhân giống in vitro có ưu điểm là hệ
số nhân rất cao, cây con có chất lượng tốt [5]
Bằng phương phỏp nhõn giống hồng mụn từ lỏ cho phộp nhõn nhanh một số lượng lớn cõy giống hồng mụn ủồng nhất với giỏ thành hạ, cú thể cung cấp cõy giống cho cỏc nhà trồng hoa thương mại ủể phỏt triển trồng hoa trờn diện rộng Viện sinh học Đà Lạt đi có 1 số nghiên cứu cơ bản về qui trỡnh nhõn giống Invitro và trồng như sau:
Mụi trường cơ bản là mụi trường gồm cú: Khoỏng ủa lượng ẵ MS, vi lượng Heller, vitamin MS, 2 mg/l casein, pH = 5.8
Trang 23Môi trường tạo và nhân callus: Môi trường sử dụng là môi trường MS có bổ sung 30 g/l succose, 1.5 mg/l BA, 1 mg/l 2,4-D và 8 g/l agar
Môi trường tái sinh chồi: các callus ựược cấy trên môi trường MS không có chất kắch thắch sinh trưởng
Môi trường tạo rễ: là môi trường MS có bổ sung 0.5 mg/l napthaleneacetic acid (NAA), 20 g/l sucrose và 1 g/l than hoạt tắnh
-Bên cạnh ựó, các nghiên cứu quá trình nhân giống từ hạt nhằm lai tạo
và chọn lọc giống cũng ựược thực hiện Hạt ựược cấy trên môi trường MS có
bổ sung 30 g/l sucrose, 8 g/l agar và 1 mg/l indole-3-acetic acid (IAA)
Cây trong ống nghiệm khi ựạt chiều cao 5-7 cm, có 3-5 lá với bộ rễ tốt
sẽ ựược rút ra khỏi ống nghiệm, rửa sạch agar và xử lý qua thuốc trừ nấm (thường dùng Daconil 0.5 %) Sau ựó, cây ựược trồng trong dớn, xơ dừa hoặc hỗn hợp gồm 60% vỏ trấu và 40% tro trấu Tỷ lệ cây sống sau ống nghiệm sau
2 tháng là 100% Cây ra hoa sau 12 tháng
Bằng công nghệ nuôi cấy mô tế bào, chúng ta có thể nghiên cứu thành công quy trình nhân giống cây hồng môn Anthurium andreanum L từ lá với thời gian khoảng 10-12 tháng Trong ựó: tạo callus (2 tháng), nhân callus (4 tháng), tái sinh chồi (3 tháng) và tái sinh rễ (1.5 tháng) Tỷ lệ cây sống sau ống nghiệm cao, cây ra hoa sau 12 tháng
Bằng phương pháp lai hữu tắnh, có thể tiến hành thu hạt ựể gieo hạt trên môi trường nuôi cấy nhân tạo nhằm tạo ra một số lượng cây giống nhất ựịnh phục vụ công tác chọn lọc giống cây trồng
Tóm lại, hiện nay công nghệ nuôi cấy mô tế bào thực vật ựã ứng dụng thành công trong việc nhân nhanh một số loại hoa có giá trị kinh tế tại đà Lạt, ựây là một công cụ hữu hiệu ựể giải quyết nhu cầu giống cho người trồng hoa Hiện Phòng Công nghệ thực vật ựang lưu giữ in vitro rất nhiều loại hoa có giá
Trang 24trị kinh tế, chúng tôi hy vọng rằng sẽ sản xuất ựược số lớn cây mô cung cấp cho bà con nông dân đà Lạt [29]
Hộ Lan, gẵn nh− 100% cẹy Hăng mền ệ−ĩc nhẹn gièng bỪng kủ thuẺt nuềi cÊy mề ngay tõ nhọng nẽm 1988 vắi l−ĩng 0.5 triỷu cẹy/nẽm Chử tÝnh riếng cịc phưng thÝ nghiỷm nuềi cÊy mề th−ểng mỰi ẻ 14 n−ắc tẹy ằu, cẹy Hăng mền xạp thụ m−êi bèn trong sè cịc loội ệ−ĩc nhẹn gièng in vitro
2.4 Giị thÓ cho cẹy con giai ệoỰn sau in vitro
2.4.1 ậẳc ệiÓm cựa cẹy con
Cẹy nhẹn gièng tõ hỰt hay nhẹn gièng sinh d−ìng
Trong hỰt cã chụa néi nhò ệờm bờo cung cÊp ệẵy ệự dinh d−ìng cho cẹy con sinh tr−ẻng vộ phịt triÓn ệạn ba lị ậạn giai ệoỰn nộy cẹy con ệi cã bé lị
vộ bé rÔ phịt triÓn ệÓ tù nuềi cẹy
ậèi vắi cẹy nhẹn gièng sinh d−ìng thừ bờn thẹn nã sơn dinh d−ìng trong thẹn, cự hay quờ ệem trăng, nã ệờm bờo nhiỷm vô cung cÊp dinh d−ìng cho mẵm sinh tr−ẻng vộ phịt triÓn thộnh cẹy hoộn chửnh [7]
Vắi hai ph−ểng phịp trến thừ ệiÒu kiỷn bừnh th−êng khềng cã giai ệoỰn chuyÓn tiạp vÒ ngoỰi cờnh Giị thÓ th−êng ệ−ĩc trăng lộ cịt, ệịt pha cịt, ệÊt viến hay ệÊt thỡt nhứẦ lộm nhá răi gieo hỰt hay giẹm cộnh xuèng cung cÊp ệự n−ắc ệÓ −ểm cẹy Ph−ểng phịp nhẹn gièng truyÒn thèng cã −u ệiÓm rÊt lắn lộ
rĨ tiÒn, dÔ thao tịc, nguyến vẺt liỷu sơn cãẦ nh−ng còng cã nhọng nh−ĩc
ệiÓm rÊt khã khớc phôc nh− hỷ sè nhẹn gièng rÊt thÊp, giị thÓ ệÊt thừ cã rÊt nhiÒu mẵm bỷnh vi khuÈn gẹy hỰi cho cẹy dÉn ệạn tũ lỷ cẹy chạt sỳ cao vộ mang nhiÒu mẵm bỷnh
Cẹy nhẹn gièng in vitro
Cẹy trăng trong ệiÒu kiỷn nuềi cÊy in vitro ệ−ĩc cung cÊp dinh d−ìng
ệẵy ệự, ệé Èm thÝch hĩp, mềi tr−êng sỰch bỷnhẦ Tuy nhiến, khi ệ−a ra mềi tr−êng tù nhiến th−êng gẳp mét sè vÊn ệÒ nh−: cẹy bỡ mÊt n−ắc do cÊu tróc lị
cã lắp sịp bÒ mẳt Ýt, dÔ bỡ mÊt n−ắc CÊu tróc bến trong lị vộ khÝ khững cã cể
Trang 25chế đóng mở khí khổng không bình thường và liên quan tới quang hợp Sự có mặt của hệ thống rễ làm khả năng lấy nước từ đất của rễ tăng lên, nhưng rễ này rất dễ bị chết do nguyên nhân là rễ hình thành từ callus thân nên liên kết rễ, không bào và thân không tốt Rễ phụ hình thành hệ thống không bào sơ cấp dẫn kém Rễ của các chồi không có khả năng đồng hóa cacbon Do vậy, không
được cung cấp đầy đủ trong những ngày đầu [11]
Ta có thể khắc phục hiện tượng trên bằng cách sử dụng tỷ lệ mất nước
để tôi luyện cây vì cây không tôi luyện mất 82% nước, cây tôi luyện 15 ngày mất 46% nước và khả năng sống sót ở 66% nước tương đối, còn cây 14 ngày tôi luyện + 7 ngày nhà kính mất 6% nước Môi trường dùng để luyện cây đối với số lượng cây nhỏ có thể che bằng kính hay plastic 3 ngày, còn với số lượng cây lớn thường được tiến hành ở nhà vườn Giữ ẩm nhà bằng plastic hoặc bằng nilon với cường độ chiếu sáng từ 70 - 100 àmolm-2
S-1 vào khoảng 6000 - 8000 lux Nhiệt độ tùy từng loài có thể từ 15 - 250C Làm giàu CO2 giúp cho ra rễ tốt
và sinh trưởng của cây có thể tới 700 ppm và ánh sáng là 250 àmolm-2
S-1 Nồng độ Carbon dioxide trong không khí là 0.035% tức 350 vpm (volumes per million) [18]
Ngoài vấn đề mất nước ra thì vấn đề quang hợp cũng là một trở ngại lớn
mà chúng ra gặp phải khi đưa cây sau in vitro Do cấu trúc lá khi trong ống nghiệm mất lớp tế bào bảo vệ và khoảng không khí của khí khổng lá không có hoặc ít, bộ máy quang hợp và lục lạp kém phát triển Quá trình đồng hóa cacbon thì do lá có hàm lượng chlorophyll thấp enzyme Rubt hoạt tính yếu và sau 7 ngày mới cố định CO2 Hô hấp tối lớn hơn cây từ hạt cùng tuổi Sau 14 ngày thì cân bằng mới đạt được Khả năng quang hợp của chồi in vitro có thể tăng trong môi trường nghèo hoặc không có sucrose
Với khí hậu tự nhiện thì cây thuần hóa có thể ra rễ ở ngoài, chồi cần có kích thước tối thiểu trước khi ra rễ (kích thước hợp lý), cây thuần hóa đi có rễ
Trang 26thì giá thể để trồng phải thoáng khí như cát, than bùn… làm sạch vi khuẩn và nấm, Hỗn hợp trồng cây, ví dụ: đất/cát = 3:1 hay đất/cát/đá dăm = 2:2:1
Cũng chính vì những lý do ảnh hưởng đến cây in vitro khi đưa ra ngoài môi trường nên chúng ta phải xử lý trước khi đưa ra ngoài in vitro Các biện pháp xử lý để tăng tỷ lệ sống sót của cây khi ra ngoài in vitro gọi là tôi luyện Việc luyện cây bao gồm: giảm thế nước của môi trường và giảm độ ẩm trong bình nuôi cấy Cả hai dạng xử lý nhằm phát triển chức năng của khí khổng và lớp Cutin Nhưng nếu làm quá có thể làm giảm sinh trưởng cây như làm giảm thế năng nước của môi trường, giảm độ ẩm trong môi trường nuôi cấy
Cây nuôi cấy in vitro ở độ ẩm tương đối là 80% dễ dàng thích hợp với môi trường ngoài hơn cây nuôi cấy ở độ ẩm 100% Tỷ lệ quang hợp thuần trên
đơn vị diện tích lá giảm độ ẩm tương đối trong in vitro, nhưng cây bị mất ít chất khô, nước và chịu ức chế sau khi chuyển ra ngoài Ta có thể khắc phục hiện tượng trên bằng cách làm lạnh đáy bình nuôi cấy, đạy nút bình bằng các loại vật liệu có thể thoát hơi nước Mở lắp bình từ từ, trước khi trồng vài ngày thì mở hoàn toàn Điều chỉnh ánh sáng và nhiệt độ nhằm tăng cường thoát hơi nước và tôi luyện bằng cách duy trì cây trong ánh sáng tương đối cao trước, trong và sau khi ra rễ in vitro (độ 50 - 315 àmolm-2
S-1 ánh sáng đèn) Trong
điều kiện nuôi có cường độ chiếu sáng 315 àmolm-2
S-1 thì mật độ khí khổng lớn hơn hiệu quả của tôi luyện cây là tạo lớp sáp và cơ chế đóng mở khí khổng hai tuần đầu [11]
2.4.2 Giá thể trồng cây
Sơ lược lịch sử
Năm 1930 Dr Gericke ở trường đại học Califocrnia đi trồng cà chua và các cây trồng khác trên bè nổi, phương pháp mà hiện nay được áp dụng trong trồng thương mại nhiều loại cây nông nghiệp và ông gọi là Hydroponic (phương pháp thủy canh) [25]
Trang 27Năm 1936 Dr Gericke và Travernetti đi công bố công trình của mình về
sử dụng phương pháp Hydroponic trong nhà kính để sản xuất một số loại cây trồng Sau đó hàng loại nhà làm vườn đi áp dụng phương pháp này Nhiều nhà khoa học và nông học bắt đầu nghiên cứu để xây dựng quy trình này Kỹ thuật này sau đi lan nhanh sang Mexico, Puerto Rico, Hawaii, Israel, Japan, India và châu Âu Riêng ở Mỹ thời gian sau đó đi xây dựng được 500 nhà kính Hydroponic [14]
Phương pháp Hydropyonic trồng cây không đất có sử dụng môi trường trơ đá dăm, cát, than bùn, chất sâu mục, mùn cưa và sau đó dung dịch dinh dưỡng được bổ sung vào đó gọi là trồng cây trên giá thể [26]
Tại Nhật Bản đi bắt đầu trồng cây không đất từ năm 1946 Năm 1960
bộ Nông Lâm Nghiệp Nhật đi có dự án cải tiến cấu trúc nông nghiệp nhằm phát triển phương pháp này cho nông dân trồng khoai tây, cà chua, bầu bí, ớt ngọt… Đến năm 1973 đi phát triển diện tích lên tới 70 ha, trong đó 60% diện tich là trồng theo phương pháp Hydroponic, còn lại là trồng trên giá thể và aeroponic (phương pháp trồng cây thoáng khí) Đến năm 1980 diện tích đi đạt
300 ha Hiện nay ở Nhật các vùng đô thị phát triển phương pháp này mạnh nhằm tránh ô nhiễm môi trường và sản xuất an toàn của các loại rau, cà chua, khoai tây, dưa, cây gia vị, hành tây, dâu tây và một số loại hoa… [14]
Tại Trung Quốc, người ta đi bắt đầu trông cây không đất vào năm 1985 với diện tích ban đầu chỉ là 0.1 ha Tới năm 1995 diện tích đi tăng lên đến 117
ha và năm 2002 đi đạt 668 ha
Phân loại giá thể
Trồng cây không đất (soilless culture) là kỹ thuật sản xuất cây trồng không cần đất Trong phương pháp này cây được trồng trong dung dịch dinh dưỡng hoặc trong môi trường thích hợp Do đó, nó không cần đến nhưng phương tiện làm đất như: cày quốc, máy cày… như trồng cây trên đất Những công việc như làm đất, làm cỏ được loại bỏ, toàn bộ các công việc bón phân và
Trang 28tưới nước được tự động hóa do đó mà năng suất tăng Nước được cung cấp một cách có hiệu quả vì vậy rất thích hợp cho những vùng khô hạn thiếu nước Việc này yêu cầu phải biết chính xác giá thành của hệ thống trồng cây và phân bón cũng như nước tưới Nhìn trung nó không gây tổn thương cho cây sau đó
Trồng cây không đất tạo điều kiện sinh trưởng nhanh hơn, năng suất cao hơn và cây trồng đều hơn Phân bón và nước được cung cấp hợp lý và có thể thay đổi được Nó rút ngăn giai đoạn sinh trưởng của cây con và cho thu hoặc nhiều lần hơn so với phương pháp trồng truyền thống [13]
Hệ thống cây trồng không đất bao gồm: trồng trong nước (Hydroponic), trồng trên giá thể bao gồm nhiều loại như: giá thể vô cơ và giá thể hữu cơ Giá thể vô cơ gồm: giá thể có kích thước nhỏ (cát, sỏi mịn, đất sét phồng…), giá thể dạng bọt (PE, PF, UF), đá dăm (rockwool) và các loại khác Giá thể hữu cơ
có than bùn (peatmoss), mùn cưa (sawdust), vỏ cây (bark)…
Phương pháp trồng cây trong nước: sử dụng để trồng nhiều loại cây trồng, đặc biệt là các cây ăn lá như: hành, cải, cà chua, bầu bí…người ta để phần rễ cây nhúng trong dung dịch dinh dưỡng
Phương pháp trồng cây thoáng khí (aeroponic): rễ cây nằm trong không khí, dung dich dinh dưỡng cung cấp cho cây ở dạng phun mù và tiếp xúc với phần rễ
Phương pháp nuôi cây trên giá thể: đây là hệ thống trồng cây trên chất nền cứng không phải là đất và chất dinh dưỡng được cung cấp qua chất nền
Giá thể cát: cát có kích thước nhỏ hơn 3mm và dinh dưỡng cung cấp bằng phương pháp nhỏ giọt
Giá thể đá dăm: chất nền sử dụng là sỏi mịn, đá bọt hay đá dung nham
có kích thước trên 3mm, có lỗ hổng hay không có Nó bao gồm các dạng khác nhau như sỉ lò, tiền khoáng Phương pháp này được du nhập từ châu Âu vào Nhật Giá thể đá dăm có pH khá cao còn khả năng trao đổi cation lại rất thấp Dung dịch dinh dưỡng cung cấp được chảy theo chu kỳ
Trang 29Giá thể đất cát phồng: phương pháp này thường áp dụng cho cây trồng cành Đất sét nhân tạo được chế bằng nung trong lò quay có nhiệt độ 11000C Dung dịch dinh dưỡng cung cấp bằng tưới ngấm
Giá thể trấu hun: là vật liệu nhẹ có khả năng giữ nước, tuy nhiên cũng
có nhược điểm về mặt hóa học như: độ pH cao, hàm lượng Kali cao
Ngoài yêu cầu về giá thể thích hợp thì cùng một số vấn đề liên quan đến
kỹ thuật trồng trọt như nồng độ và sự phối hợp của chất khoáng, độ pH của dung dịch dinh dưỡng cần thay đổi phù hợp cho suốt thời kỳ sinh trưởng Người trồng thường kiểm tra bằng pHmeter và ECmeter (electric condudtivity
- độ dẫn điện), nhưng phương pháp này không chỉ ra thành phần của dung dịch dinh dưỡng [19] Ngươì ra có thể thay1/2 dung dịch dinh dưỡng bằng dung dịch mới mỗi tháng một lần Trong nuôi trồng trên đá thể đá dăm ở Nhật Bản người tha sử dụng dung dịch dinh dưỡng tiêu chuẩn: KNO3 (8mM), Ca(NO3)2.4H2O (4mM), NH4H2PO4 (3/4mM), MgSO4.7H2O (2mM) Dung dịch này còn sử dụng cho nuôi cấy Hydroponic và cho nhiều nhóm cây khác nhau Tuy nhiên hiện nay người ta đi phát triển cho loại cây cụ thể và vào cái giai đoạn sinh trưởng nhất định Ta có thể thấy được ưu nhược điểm rất rõ của việc sử dụng giá thể so với đất vì đất là nguồn sinh bệnh và côn trùng gây hại, còn giá thể loại trừ được Công lao động chăm sóc vây giảm, trồng cây trên giá thể cho phép trồng được nhiều cây trong cùng một khoảng không Cây nhanh trưởng thành và cho năng suất cao hơn Nước và dinh dưỡng được bảo tồn vì có thể sử dụng lại Có thể kiểm tra điều khiển được dễ dàng hơn trong cung cấp dinh dưỡng, nước…[22]
Nghiên cứu giá thể cho cây Hồng môn
Trên thế giới đi nghiên cứu và đưa ra kết luận: Một trong những yếu tố quan trọng nhất của trồng Hồng môn là việc lựa chọn giá thể hay môi trường
để trồng Hồng môn sinh trưởng tốt trong chất nền thoáng khí có khả năng duy trì và thoát nước tốt Một chất nền tốt cần có khả năng giữ rễ và thân không đổ
Trang 30khi phát triển lớn và cung cấp có hiệu quả độ ẩm, dinh dưỡng và không khí cho cây Chất nền thường sử dụng có thể là các chất trơ vật lý (đá dăm, hạt nhựa,
đá vụn dung nham và các dạng khác nhau của bọt) hoặc vật liệu hữu cơ (sơ dừa, than bùn, mùn cưa, bi mía, trấu hun, cỏ cây…) Giá thể vô cơ có ưu điểm
là có thể ổn định một vài năm, đối với những giá thể này việc quan trọng nhất
là việc sử dụng phân bón hợp lý Đối với giá thể hữu cơ chúng phân hủy theo thời gian gây ra sự thối rễ ở đáy bầu do sự đóng kết và tích lũy nước Do vậy cần bổ sung thêm lớp giá thể mới để kích thích trẻ hóa cây [17]
Những nghiên cứu về giá thể để trồng Hồng môn cho thấy chúng có thể trồng được trên hàng loạt các chất nền khác nhau [14] Hồng môn Anthurium
có thể sinh trưởng tốt trên hỗn hợp của đất: bi mía (2:1) (Anon, 1987) Việc trồng đại trà có thể sử dụng sự phối hợp khac nhau của đất, phân chuồng, bi mía, tro bi mía [13]
Những vật liệu như đá dăm, đá nghiền (2 - 4 mm), bi mía, mùn cưa, rác
độn ổ gia cầm phối hợp với phân chuồng và đất (1:1:1) tạo nên chất nền cho cây có hoa với kích thước, độ dài hoa và sản xuất hoa tốt hơn,
ở Việt Nam những nghiên cứu về chất nền cho cây giai đoạn sau in vitro nói chung và cây Hồng môn nói riêng đang còn rất mới mẻ Các nghiên cứu trước đây trên đối tượng này còn mang tính chất thăm dò chưa được hoàn thiện nên tiềm năng nghiên cứu trên lĩnh vực này còn rất lớn và đòi hỏi phải có những nghiên cứu và đầu tư thích đáng để phục vụ cho sản xuất và tiếp cận với trình độ khoa học công nghệ của thế giới ở nước ta
Dinh dưỡng cho sản xuất hoa Hồng môn
Chất nền trồng là vật liệu hữu cơ hoặc trồng không đất cần cung cấp N2,
P2O5 và K2O theo tỷ lệ 20:20:20 vào thời kỳ sinh trưởng và tỷ lệ 6:14:7 hoặc 20:30:20 vào thời kỳ nở hoa Phân bón có chứa một lượng nhỏ Ca và Mg cần phải cung cấp ở dạng lỏng Chất nền còn là vật liệu hữu cơ hoặc đất có thể bón
Trang 31phân dạng rắn Mỗi chậu trồng bón 8g phân hỗn hợp gồm Ammonium sulfate (30kg), Superphosphate (55kg) và Kalisulfate (15kg) [21]
Việc sản xuất hoa cắt có thể thu hoạch sau trồng 1,5 năm và tiếp tục thu hoặc trong vòng 5 năm Sản lượng thu hoạch có thể đạt 250000 hoa ở năm thứ
2, 300000 hoa vào năm thứ 3, các năm tiếp theo đạt 350000 hoa Dinh dưỡng
đối với sản xuất hoa trồng chậu thì vật liệu trồng cần thoát nước tốt, phân bón
có thể áp dụng nitrogen ở nồng độ 200ppm phối hợp với phân lân, kali theo tỷ
lệ 1:2:2 Magie có thể bón ở dạng Magnesium sulfate và chất nền (từ 1-2g cho 1m3) cũng có thể mỗi tháng bổ sung 0.5 - 1,5g vào 380 lít nước tưới Ngoài ra, thí nghiệm với cây Hồng môn 2 năm tuổi giống tropical và giống CuBa trồng trên giá thể hạt nhựa và được tưới bằng dung dịch dinh dưỡng có độ dẫn điện (EC) dao động trong khoảng 0.8 - 3.0 ds/m Kết quả nghiên cứu cho thấy tăng nồng độ dinh dưỡng làm giảm ra hoa và sinh trưởng của cây (từ 8 - 11%) với mỗi giá trị tăng điện thế, giá trị điện thế tối ưu là 0.7 [15]
Tại Hà Lan người ta đi nghiên cứu ảnh hưởng của dinh dưỡng đạm (N2)
và canxi đến năng suất và chất lượng Hồng môn Cancan Kết quả thấy sinh trưởng và năng suất tốt nhất khi dung dịch tưới có 2.25meq Ca/l và 2.43meq
NH4/l Kali là yếu tố quan trọng cân bằng dinh dưỡng của Hồng môn [13] 2.5 Một số nghiên cứu trong nước về cây Hồng môn
Cây hoa Hồng môn được nhập trồng tại Đà Lạt từ nhiều năm trước, nhưng số lượng giống còn ít, hình dáng cây, hoa cũng như màu sắc hoa chưa
được phong phú và đa dạng Gần đây, một số tổ chức và cá nhân đi đứng ra nhập một số giống Hồng môn mới về trồng phục vụ nhu cầu trong nước cũng như xuất khẩu Tuy nhiên, giá thành nhập cây giống khá cao, khó có thể sản xuất trên diện rộng
Nhiều cơ sở nghiên cứu như: Viện Di Truyền Nông Nghiệp, Khoa Công nghệ sinh học , Trường Đại học nông nghiệp Hà nội, Viện sinh học Đà Lạt…
Trang 32đi tiến hành những nghiên cứu nhân giống Hồng môn nhằm đáp ứng cây con giống phục vụ sản xuất
Nghiên cứu mới nhất hiện nay thực hiện trên cây Hồng môn:
Năm 1999, Chu Bá Phúc và cộng sự đi hoàn thiện quy trình nhân giống
in vitro cây Hồng môn bằng phương pháp tái sinh cây từ callus [5]
Năm 2003, Đoàn Duy Thanh và cộng sự công bố một số kết quả nghiên cứu tạo phôi vô tính từ mô lá, mô lát cắt thân của cây Hồng môn in vitro [7]
“Nghiên cứu tạo phôi vô tính và hạt nhân tạo” Đây là nghiên cứu mang tính chất cơ bản, đột phá phục vụ tốt cho công tác chọn giống Tuy nhiên, việc
áp dụng phương pháp này vào sản xuất hiện tại còn ít khả thi
Ngoài ra còn gặp các vấn đề như: môi trường tạo và nhân callus in vitro
có sử dụng 2,4D có thể gây ra những biến dị, làm cây con không giữ nguyên
đặc điểm di truyền của cây mẹ, thời gian hình thành callus còn kéo dài (2 tháng) Môi trường tái sinh chồi chỉ được nghiên cứu trên môi trường đặc (có
bổ sung 8g agar/l) [24] Trong môi trường đặc các chồi phát triển không đều nhau, là điều còn hạn chế làm giảm chất lượng cây con giống
ở Việt Nam hiện nay còn ít công trình nghiên cứu về chất nền cho cây Hồng môn nhằm tiếp cận với công nghệ cao trong trồng hoa Đây là vấn đề cần được nghiên cứu và giải quyết để có thể đưa cây Hồng môn vào sản xuất với quy mô lớn hơn
Trang 33Phần III Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
Vật liệu ủược sử dụng làm nghiên cứu là cõy con ủược lấy từ cỏc kết quả nghiờn cứu giai ủoạn nhõn Invitro, từ quy trình sau:
Tạo callus:
Môi trường: MS/2 + 1.0 mg/l BAP + 0.2mg/l IAA + 30gr/l đường + 6,5gr/l agar + 100mg/l Myo-inozytol + 200mg/l CH + 15% CW – 45 ngày (nuôi tối)
Tái sinh chồi:
MS/2 + 30gr/l đường + 15% CW + 100mg/l Myo-inozytol + 1mg/l BAP
V = 20ml/bình – 90 ngày ( chiếu sáng 10/14 giờ)
Các giá thể được sử dụng cho cây giai đoạn sau in vitro (giai đoạn vườn
ươm) là: tảo biển, xơ dừa (sợi xơ dừa và mạt dừa, kích thước sợi từ 0.05 x 5 - 7cm đến 0.1 x 5 - 7cm), mùn cưa (kích thước 0.1 - 0.5cm) và cát sạch (kích thước 0.05 - 0.07cm)
Hỗn hợp bầu đất trồng cây (hỗn hợp bầu) gồm: đất pha cát, đất mùn, đá nghiền (kích thước 0.3 - 1.5cm) và phân chuồng
Giá thể đối chứng là đất nền nông hóa: giá thể TN 1 trồng hoa cây cảnh, sản xuất tại Viện thổ nhưỡng nông hóa
Ngoài cỏc cụng thức thớ nghiệm chỳng tụi ra cũn trồng hàng loạt cõy của cỏc cụng thức thớ nghiệm tương ứng ủể làm vật liệu cõy con cho phục vụ cho yờu cầu của cỏc thớ nghiệm sau
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Điều kiện thí nghiệm Các thí nghiệm ngoài vườn ươm giai đoạn sau
in vitro được thực hiện trong nhà lưới có mái che bằng tấm lợp nhựa tổng hợp
Trang 34hoặc lưới có độ che sáng 50% ánh sáng tự nhiên và đảm bảo nhiệt độ dao động
từ 28 - 330C
3.2.2 ðịa ủiểm thí nghiệm: Thí nghiệm được tiến hành tại Phòng thớ nghiệm
trọng ủiểm cụng nghệ tế bào thực vật - Viện di truyền nụng nghiệp năm 2008 -
2009
3.2.3 Chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thu thập
- Các cụng thức thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiêu với 3 lần nhắc lại,
- Chỉ tiêu theo dõi:
Chỉ tiêu theo dõi là: Tỷ lệ cây sống, số lá, số rễ, cao cây,
Một trong những trở ngại của việc ứng dụng kỹ thuật nhân giống
in vitro vào sản xuất là giai đoạn sau in vitro Do vậy, việc nghiên cứu giá thể
đưa cây ra ươm và chế độ dinh dưỡng, chăm sóc phù hợp để năng cao tỷ lệ cây con sống, sinh trưởng tốt là rất quan trọng
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sử dụng cây con in vitro có 5 - 6 lá, chiều cao trung bình khoảng 5 - 6cm Các cây này được trồng vào khay nhựa (200 x 220cm) có chứa giá thể dày từ 7 - 9cm với mật độ 50 cây cho một loại giá thể
Các giá thể được bố trí theo các công thức thí nghiệm sau:
Trang 35Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của dinh dưỡng tới sự phát triển của cây con giai đoạn vườn ươm
Cây Hồng môn in vitro ươm trên giá thể tốt nhất ở thí nghiệm 1 được sử dụng để tiến hành thí nghiệm, mỗi công thức trồng 50 cây, các thí nghiệm
được bố trí như sau:
Công thức 1 (đối chứng) CT1( ĐC) : Không phun dinh dưỡng
Công thức 2 (CT 2) : Phun dung dịch dinh dưỡng A1 Công thức 3 (CT3) : Phun dung dịch dinh dưỡng A2
Dung dich dinh dưỡng A1 (NPK có tỷ lệ 1 : 1 : 2), hàm lượng như sau: 12mg/l NH4NO3 + 33mg/l NH4H2PO4 + 87mg/l KNO3 có bổ sung thêm 20mg/l CaSO4 và 35mg/l MgCl2
Dung dịch dinh dưỡng A2 hàm lượng như sau: MS/2
Chúng tôi thực hiện chế độ chăm sóc phun nước giữ ẩm cho cây ươm hàng ngày Sau 15 ngày ươm, ở công thức 1 và 2 tôi tiến hành phun dung dịch dinh dưỡng liều lượng 1 lít/ 1m2giá thể/ngày, chu kỳ 3 ngày/1 lần Sau 30 ngày tiến hành theo dõi và đo đếm các chỉ tiêu của cây
Trang 363.2.4.2 Thớ nghiệm giai ủoạn vườn trồng
Thí nghiệm 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của tuổi cây ươm đến sinh trưởng và phát triển của cây giai đoạn trồng
Sau khi ủó xỏc ủịnh ủược giỏ thể và dinh dưỡng thớch hợp của cõy con hoa Hồng mụn giai ủoạn vườn ươm, chỳng tụi tiếp tục làm thớ nghiệm thí nghiệm xỏc ủịnh tuổi cây được xác định bằng thời gian ươm cây khác nhau Mỗi công thức trồng 50 cây, thời gian ươm cây được chia thành các công thức thí nghiệm sau:
Công thức thí nghiệm hỗn hợp bầu đất để trồng cây như sau:
Công thức 1 (đối chứng) CT1 (ðC) : Đất nền nông hoá (giá thể TN.1) Công thức 2 (CT 2) : Đá nghiền
Công thức 3 (CT 3) : Đất/ phân chuồng tỷ lệ 1:1
Công thức 4 (CT 4) : Đá nghiền/ phân chuồng/ đất với tỷ lệ 1:1:1
Trang 37Công thức 5 (CT 5) : Vỏ trấu/ phân chuồng/ đất với tỷ lệ 1:1:1 Công thức 6 (CT6) : Mùn cưa/ phân chuồng/ đất với tỷ lệ 1:1:1 Công thức 7 (CT 7) : Xơ dừa/ phân chuồng/ đất với tỷ lệ 1:1:1 Sau khi trồng phun thuốc trừ bệnh cây Man 80 WP (do công ty Tiến Nông cung cấp) với liều lượng 30 – 40g/ 8l nước Chăm sóc tưới giữ ẩm hàng ngày, quan sát và đo đếm các chỉ tiêu của thí nghiệm sau 45 ngày trồng
Thí nghiệm 5: Nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ dinh dưỡng (NPK) tới
sự sinh trưởng và phát triển của cây con giai đoạn vườn trồng
Các cây con dùng để nghiên cứu được tiến hành trồng trên giá thể thích hợp nhất ở thí nghiệm 4, tưới nước 15 ngày, sau đó bắt đầu phun dung dịch dinh dưỡng liều lượng 1 lít/ 1m2giá thể/ngày, chu kỳ 3 ngày 1 lần Trong thí nghiệm này chúng tôi tiến hành 3 công thức dinh dưỡng khác nhau A, B, C, mỗi công thức trồng 50 cây để tìm ra tỷ lệ dinh dưỡng thích hợp nhất cho cây Hồng môn in vitro giai đoạn vườn trồng Công thức thí nghiệm được bố trí như sau:
Công thức 1 (đối chứng) CT1 (ðC) : Không phun dinh dưỡng
NH4H2PO4 + 87mg/l KNO3 có bổ sung thêm 20mg/l CaCl2 và 35mg/l MgSO4
Sau 45, ngày theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển của cây Thí nghiệm 6: Nghiên cứu ảnh hưởng của Nitơ dạng NO3-/NH4+ đến
sự sinh trưởng, phát triển của cây giai đoạn trồng
Trang 38Sau khi đi xác định được chế độ bón phân và tỷ lệ dinh dưỡng (NPK) thích hợp cho sự phát triển của cây Hồng môn in vitro giai đoạn vườn trồng Chúng tôi tiếp tục thực hiện thí nghiệm xác định tỷ lệ phân bón (NPK) đặc biệt là NO3-
/NH4+ cũng vẫn trên cùng hỗn hợp bầu TN4, số lượng cây trồng cho mỗi công thức là 50 cây Các tỷ lệ NO3-/NH4+ được sử dụng trong thí nghiệm này là:
CT2 Tỉ lệ NO3-/NH4+ = 3:2 thành phần dinh dưỡng gồm NH4H2PO433(mg/l) + KNO3 87(mg/l) + NH4NO3116(mg/l + Ca(NO3)2.4H2O 34(mg/l)
CT3 Tỉ lệ NO3-/NH4+ = 3:3 thành phần dinh dưỡng gồm NH4H2PO433(mg/l) + KNO3 28.5(mg/l) + NH4NO3150(mg/l + K2SO4 42.6(mg/l)
CT4 Tỉ lệ NO3-/NH4+ = 2:3 thành phần dinh dưỡng gồm NH4H2PO433(mg/l) + NH4NO3138(mg/l) + K2SO4 74(mg/l) + (NH4)2SO4123(mg/l)
CT5 Tỉ lệ NO3-/NH4+ = 1:3 thành phần dinh dưỡng gồm NH4H2PO433(mg/l) + NH4NO388(mg/l) + K2SO4 74(mg/l) + (NH4)2SO441(mg/l)
Dung dịch dinh dưỡng được tưới liều lượng 1 lít/ 1m2giá thể/ngày, chu
kỳ 7 ngày/1 lần kết hợp với tưới giữ ẩm hàng ngày Tiến hành kiểm tra quan sát và theo dõi đo đếm các chỉ tiêu của cây sau 45 ngày
Thí nghiệm 7: Nghiên cứu ảnh hưởng của chu kỳ bón phân đến sự sinh trưởng phát triển của cây Hồng môn giai đoạn vườn trồng
Chúng tôi thực hiện thí nghiệm chu kỳ bón phân Công thức phân bón là kết quả TN5; NO3-/NH4+ = 3:2 Thí nghiệm được thực hiện với những cây
Trang 39trồng trên hỗn hợp bầu CT 4, mỗi công thức là 50 cây Các thí nghiệm được bố trí như sau:
Công thức 1 (CT 1): Phun dinh dưỡng 3 ngày/lần
Công thức 2 (CT 2): Phun dinh dưỡng 7 ngày/lần
Công thức 3 (CT 3): Phun dinh dưỡng 10 ngày/lần
Công thức 4 (CT 4): Phun dinh dưỡng 15 ngày/lần
Thực hiện phun dinh dưỡng liều lượng 1 lít/ 1m2giá thể/ngày kết hợp với tưới nước giữ ẩm Quan sát và tiến hành đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển của cây sau 45 ngày
3.3 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học, qúa trình xử
lý được tiến hành trên máy tính theo chương trình Microsoft Excel các kết quả
được trình bày ở phần phụ lục IV trang (77 – 80), TeeChartOffice,…
Trang 40Phần IV Kết quả và thảo luận
Để có các tài liệu làm cơ sở cho việc xây dựng phương hướng nghiên cứu và xây dựng các công thức thí nghiệm cho hợp lý chúng tôi đi tiến hành các thí nghiệm khảo sát, thăm dò
Song song với việc bố trí 7 thí nghiệm của đề tài, chúng tôi còn bố trí thêm 1 số công thức tương tự để tham khảo và lấy cây con làm nguyên liệu trồng cho các thí nghiệm sau
Thí nghiệm được tiến hành theo đúng yêu cầu của đề cương đề ra; tình hình thời tiết khí hậu, các điều kiện sinh trưởng và phát triển của cây bình thường; không có sự cố gì xảy ra trong quá trình thí nghiệm
Các số liệu của thí nghiệm được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học, theo chương trình Microsoft Excel; TeeChart Office Các kết quả đi xử lý
được trình bày ở phần phụ lục IV trang (77 – 80)
4.1 Thí nghiệm giai đoạn vườn ươm sau in vitro
Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể đến sự sinh trưởng, phát triển của cây con giai đoạn sau in vitro
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sử dụng cây con in vitro có 5 - 6 lá, chiều cao trung bình khoảng 5 - 6cm Các cây này được trồng vào khay nhựa (200 x 220cm) có chứa giá thể dày từ 7 - 9cm với mật độ 50 cây cho một loại giá thể
Cây Hồng môn in vitro được đưa từ phòng thí nghiệm trồng ra môi trường tự nhiên nên còn rất yếu, có thể nhiễm bệnh nên chúng tôi phun thuốc trừ bệnh cây Man 80 WP (do công ty Tiến Nông cung cấp) với liều lượng 30 – 40g/ 8l nước Chăm sóc tưới phun nước giữ ẩm hàng ngày Sau 30 ngày tiến hành theo dừi và đo đếm các chỉ tiêu của cây
Chúng tôi tiến hành thí nghiệm đưa cây ra ngoài ươm khi chồi đạt chiều cao trung bình 3 – 4cm, với số lá từ 5 – 6 lá và chồi có từ 4 rễ trở lên