1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

PHÒNG NGỪA TỘI PHẠM Ở CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

283 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phòng Ngừa Tội Phạm Ở Các Khu Công Nghiệp Trên Địa Bàn Tỉnh Đồng Nai
Tác giả Lê Ngọc Quảng
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Thị Phương Hoa
Trường học Học viện khoa học xã hội
Chuyên ngành Tội phạm học và Phòng ngừa tội phạm
Thể loại luận án tiến sĩ luật học
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 283
Dung lượng 3,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp trao đổi, tọa đàm: Tham gia các buổi hội thảo nhằm thu thập thông tin từ các cán bộ của các cơ quan tư pháp tỉnh Đồng Nai có nhiều kinh nghiệm trong việc đánh

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ NGỌC QUẢNG

PHÒNG NGỪA TỘI PHẠM Ở CÁC KHU CÔNG NGHIỆP

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, NĂM 2018

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ NGỌC QUẢNG

PHÒNG NGỪA TỘI PHẠM Ở CÁC KHU CÔNG NGHIỆP

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI

Ngành: Tội phạm học và Phòng ngừa tội phạm Mã số: 9 38 01 05

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HOA

HÀ NỘI, NĂM 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận án tiến sĩ “Phòng ngừa tội phạm ở các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số

liệu và tài liệu trong luận án là trung thực và chưa được công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào Tất cả những tham khảo và kế thừa đều được trích dẫn và tham chiếu đầy đủ

Nghiên cứu sinh

Lê Ngọc Quảng

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt ANND ANTT ANTQ CAND CQĐT CSĐTTP CSND KCN MLBM NVCB QLNN TAND TTATXH UBND VKSND VPPL

Nội dung : An ninh nhân dân : An ninh trật tự : An ninh Tổ quốc : Công an nhân dân : Cơ quan điều tra : Cảnh sát Điều tra tội phạm : Cảnh sát nhân dân

: Khu công nghiệp : Mạng lưới bí mật : Nghiệp vụ cơ bản : Quản lí nhà nước : Tòa án nhân dân : Trật tự, an toàn xã hội : Ủy ban nhân dân : Viện kiểm sát nhân dân : Vi phạm pháp luật

Trang 5

MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 6

1.1 Tình hình nghiên cứu và những vấn đề liên quan đến đề tài luận án 6 1.2 Đánh giá tổng quan về tình hình nghiên cứu và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án 20 1.3 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 21

Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA TỘI PHẠM Ở CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI 24

2.1 Nhận thức về khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai 24 2.2 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa phòng ngừa tội phạm ở các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai 31 2.3 Cơ chế phòng ngừa tội phạm ở các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai 38

Chương 3: THỰC TRẠNG PHÒNG NGỪA TỘI PHẠM Ở CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI 54

3.1 Thực trạng nhận thức về phòng ngừa tội phạm ở các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai 54 3.2 Thực trạng cơ chế phòng ngừa tội phạm ở các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai 59

Chương 4: TĂNG CƯỜNG PHÒNG NGỪA TỘI PHẠM Ở CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI 110

4.1 Tăng cường nhận thức về phòng ngừa tội phạm ở các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai 110 4.2 Nâng cao hiệu quả của cơ chế phòng ngừa tội phạm ở các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai 116

KẾT LUẬN 149 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 151 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, Đồng Nai là tỉnh có vị trí chiến lược quan trọng cả về kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng, với diện tích 5.894,78 km², chiếm 25% diện tích tự nhiên của vùng Đông Nam Bộ; dân số 2.559.637 người [33], với gần 40 dân tộc và có đủ các tôn giáo lớn của cả nước Đồng Nai là một tỉnh nằm trong vùng động lực phát triển kinh tế trọng điểm phía Nam, có hệ thống giao thông thuận tiện với nhiều tuyến đường quốc gia quan trọng

đi qua, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế trong vùng cũng như giao thương với cả nước, đồng thời có vai trò gắn kết vùng Đông Nam Bộ với Tây Nguyên Phát huy những điều kiện thuận lợi trên, chính quyền tỉnh Đồng Nai đã có những chủ trương, quyết sách phù hợp, tạo nên sự hấp dẫn lớn, thu hút các nhà đầu

tư trong và ngoài nước, đưa Đồng Nai trở thành một trong những địa phương phát triển liên tục, ổn định, tốc độ tăng trưởng khá (GDP bình quân hàng năm đạt trên 13%) Đặc thù của Đồng Nai trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài gắn liền với

sự phát triển của các khu công nghiệp, hầu hết các dự án đầu tư nước ngoài tại Đồng Nai đều tập trung vào các khu công nghiệp

Đến nay, trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đã có 32 khu công nghiệp (KCN) được thành lập và đi vào hoạt động, với tổng diện tích gần 9.969,69 ha (chiếm gần 10% số lượng và 16% diện tích các KCN trong cả nước), thu hút được hơn 575.033 người lao động làm việc trong các KCN, trong đó có 5.946 lao động là người nước ngoài [143] Từ thực tiễn hơn 25 năm hình thành và phát triển các KCN, Đồng Nai được đánh giá là một trong những địa phương phát triển năng động với mức tăng trưởng cao nhất cả nước, đã thực sự có vai trò quan trọng và đóng góp đáng kể trong việc thu hút đầu tư trong và ngoài nước, giải quyết việc làm cho một lượng lao động lớn tại địa phương và các tỉnh thành trong cả nước, góp phần đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phục vụ đắc lực cho chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Đồng Nai

Bên cạnh những lợi thế giành được trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, tình hình

an ninh, trật tự (ANTT) tại các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai cũng diễn biến phức tạp Tình hình tội phạm và các vi phạm pháp luật về ANTT có xu hướng gia tăng Trong đó nổi lên là tình hình các loại tội phạm hình sự, tội phạm xâm phạm sở hữu, tội phạm kinh tế với tính chất và mức độ nguy hiểm ngày càng tăng lên, nhiều

Trang 7

thủ đoạn mới xuất hiện, có sự câu kết chặt chẽ giữa đối tượng bên ngoài KCN với các đối tượng là chủ các doanh nghiệp, công nhân và thâm chí cả lực lượng bảo vệ trong các KCN, gây ra những tác hại nhiều mặt đối với tỉnh Đồng Nai, ảnh hưởng đến môi trường hợp tác đầu tư với các nước Mặt khác, việc phát triển các KCN kéo theo một loạt các vấn đề phức tạp về ANNT như: Tình hình vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trong các KCN đang là vấn đề đáng báo động, tệ nạn xã hội trong các KCN và khu vực giáp ranh đang có xu hướng gia tăng; tại các KCN cũng đã xuất hiện những hành vi tuyên truyền thông tin, tài liệu có nội dung chống Nhà nước, tình hình đình công trong công nhân cũng có những diễn biến phức tạp…Tình hình đó chứa đựng những nguyên nhân và nguy cơ gây mất ổn định về ANTT, ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường đầu tư ở các KCN nói riêng, trên địa bàn tỉnh Đồng Nai nói chung Đây là thách thức lớn đối với Đảng bộ, chính quyền, đặc biệt là đối với các lực lượng chức năng tỉnh Đồng Nai trong đấu tranh phòng chống tội phạm, giữ gìn ANTT

Trong những năm qua, được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng và chính quyền tỉnh Đồng Nai, các lực lượng chức năng đã tích cực, chủ động tiến hành các mặt hoạt động phòng ngừa tội phạm ở các KCN, thu được những kết quả khả quan và ngày càng đi vào nề nếp Tuy nhiên, hoạt động phòng ngừa tội phạm ở các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai vẫn còn những tồn tại, hạn chế nhất định Việc tổ chức lực lượng tham gia phòng ngừa tội phạm ở các KCN; nội dung, biện pháp phòng ngừa và quan hệ phối hợp giữa các lực lượng trong tổ chức phòng ngừa tội phạm ở các KCN đã bộc lộ nhiều lúng túng, bất cập; tình hình tội phạm tại các KCN vẫn diễn ra phức tạp

Từ thực tiễn trên cho thấy, việc tổng kết thực tiễn, đánh giá khách quan, toàn diện những ưu, nhược điểm và nguyên nhân trong phòng ngừa tội phạm ở các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai thời gian qua, làm cơ sở để đề ra các giải pháp phòng ngừa tội phạm trong thời gian tới là thực sự cần thiết Vì lý do trên, tác giả chọn vấn

đề: “Phòng ngừa tội phạm ở các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai”

làm Luận án tiến sĩ luật học

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là thông qua việc tiếp cận một cách có hệ thống và toàn diện về hoạt động phòng ngừa tội phạm ở các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trên cả hai bình diện lí luận và thực tiễn, góp phần hoàn thiện lí luận về

Trang 8

vấn đề này và đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả phòng ngừa tội phạm ở các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai thời gian tới

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nêu trên, luận án phải thực hiện và giải quyết những

nhiệm vụ sau đây:

Một là, khảo sát, đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu ở trong và ngoài

nước có liên quan đến vấn đề phòng ngừa tội phạm ở các KCN; từ đó xác định những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, làm rõ trong đề tài luận án

Hai là, nghiên cứu lí luận về phòng ngừa tội phạm ở các KCN Trên cơ sở

đó, làm rõ và hoàn thiện lí luận về phòng ngừa tội phạm ở các KCN

Ba là, đánh giá thực trạng phòng ngừa tội phạm ở các KCN trên địa bàn tỉnh

Đồng Nai; rút ra những kết quả đã đạt được, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế Xây dựng dự báo về tình hình tội phạm các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới

Bốn là, đề xuất hệ thống biện pháp tăng cường phòng ngừa tội phạm ở các

KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận án

Luận án nghiên cứu những vấn đề lí luận và thực tiễn phòng ngừa tội phạm ở các KCN; tình hình tội phạm và thực trạng tiến hành các biện pháp phòng ngừa tội phạm ở các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai; các giải pháp tăng cường phòng ngừa tội phạm ở các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

3.2 Phạm vi nghiên cứu của luận án

Luận án được tập trung nghiên cứu với góc độ Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm

Phạm vi về không gian, thời gian: Luận án được nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong thời gian từ năm 2007 đến năm 2017

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

4.1 Phương pháp luận của luận án

Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam về đường lối đổi mới đất nước, về cải cách tư pháp, về hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, tội phạm ở các KCN nói riêng

Trang 9

4.2 Phương pháp nghiên cứu của luận án

Trong quá trình thực hiện luận án, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:

Phương pháp thống kê: Phương pháp dùng để thu thập, xử lý và phân tích các

số liệu (mặt lượng) về tội phạm ở các KCN để tìm hiểu bản chất và tính quy luật vốn

có của chúng (mặt chất) trên địa bàn tỉnh Đồng Nai từ năm 2007 đến năm 2017

Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Tổng kết thực tiễn phòng ngừa tội phạm

ở các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai Thông qua các báo cáo tổng kết, các chuyên

đề và các công trình nghiên cứu về phòng ngừa tội phạm ở các KCN trên địa bàn cả nước nói chung, tỉnh Đồng Nai nói riêng để đề xuất các biện pháp phòng ngừa tội phạm ở các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

Phương pháp phân tích, tổng hợp: Từ các thông tin, tài liệu thu thập được,

tiến hành phân tích để làm rõ tình hình, đặc điểm tội phạm; nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm; thực trạng tiến hành các biện pháp phòng ngừa tội phạm ở các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai Thông qua việc phân tích để tổng hợp lại những điểm đặc trưng, bản chất của tình hình tội phạm

Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu, đánh giá các tài liệu có liên

quan đến luận án, phục vụ cho việc xây dựng luận cứ lý thuyết và luận cứ thực tiễn cho đề tài luận án

Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Sử dụng phiếu điều tra để thăm dò,

điều tra về vấn đề nhận thức cũng như thực trạng tiến hành các biện pháp phòng ngừa tội phạm ở các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

Phương pháp nghiên cứu điển hình: Ngoài việc nghiên cứu chung, luận án

còn tập trung nghiên cứu những vụ án điển hình, nghiên cứu thực trạng tiến hành các biện pháp phòng ngừa tội phạm ở các KCN trọng điểm trên địa bàn tỉnh Đồng Nai để rút ra những đặc điểm đặc trưng về tình hình tội phạm và thực tiễn phòng ngừa tội phạm ở các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

Phương pháp trao đổi, tọa đàm: Tham gia các buổi hội thảo nhằm thu thập

thông tin từ các cán bộ của các cơ quan tư pháp tỉnh Đồng Nai có nhiều kinh nghiệm trong việc đánh giá về tình hình tội phạm ở các KCN, cũng như có những biện pháp hữu ích áp dụng trong hoạt động phòng ngừa tội phạm ở các KCN

5 Những điểm mới của luận án

Vấn đề phòng ngừa tội phạm ở các KCN đã được phân tích và nghiên cứu trong nhiều công trình Tuy nhiên, cách tiếp cận ở các góc độ khác nhau, về địa bàn,

Trang 10

không gian, thời gian Do đó, thực trạng phòng ngừa tội phạm ở các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai từ năm 2007 đến 2017 là một điểm mới của luận án, chưa có công trình nào đề cập Đặc biệt, với cách tiếp cận thực trạng phòng ngừa tội phạm gắn liền với các chủ thể phòng ngừa đặc thù ở KCN cũng là điểm mới rõ nét của luận án

Điểm mới tiếp theo là luận án đã làm rõ các đặc trưng phòng ngừa tội phạm ở các KCN nói chung và KCN Đồng Nai nói riêng; nghiên cứu được hệ thống đồng bộ các giải pháp phòng ngừa tội phạm ở các KCN, gắn với địa bàn tỉnh Đồng Nai

Những kết quả đạt được của luận án sẽ góp phần làm sáng rõ thực trạng cơ chế phòng ngừa tội phạm ở các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai Làm rõ tình hình tội phạm và nguyên nhân, điều kiện tình hình tội phạm ở các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai; đưa ra một số dự báo về tình hình tội phạm ở các KCN trong thời gian tới Từ đó, đề xuất hệ thống các giải pháp tăng cường hiệu quả phòng ngừa tội phạm ở các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án

6.1 Ý nghĩa về mặt lí luận

Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung, hoàn thiện lý luận về phòng ngừa tội phạm ở các KCN; có thể được sử dụng làm tài liệu phục vụ giảng dạy, học tập

và nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực tội phạm học và khoa học luật hình sự

6.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn

Luận án có thể được sử dụng để các cơ quan, tổ chức, các doanh nghiệp và cá nhân tham khảo xây dựng, áp dụng các biện pháp phòng ngừa có hiệu quả tình hình tội phạm ở các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai thời gian tới Đồng thời, luận án là cơ sở thực tế cho các cơ quan lập pháp xem xét để chỉnh sửa, hoàn thiện các quy định pháp luật có liên quan đến phòng ngừa tội phạm ở các KCN

7 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án được kết cấu như sau:

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 2 Những vấn đề lí luận về phòng ngừa tội phạm ở các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

Chương 3 Thực trạng phòng ngừa tội phạm ở các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

Chương 4 Tăng cường phòng ngừa tội phạm ở các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu và những vấn đề liên quan đến đề tài luận án

1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

1.1.1.1 Các công trình nghiên cứu lí luận về phòng ngừa tội phạm

Qua tìm hiểu một số tài liệu hiện có cho thấy, hoạt động phòng ngừa tội phạm nói chung, lý luận và thực tiễn phòng ngừa một số loại tội phạm hay phòng ngừa tội phạm ở một địa bàn cụ thể luôn là đối tượng nghiên cứu của khoa học pháp lý ở nhiều quốc gia; trong đó, có một số công trình điển hình về phòng ngừa tội phạm như sau:

Minkovskij G.M (chủ biên, 1977), Cơ sở lý luận của việc phòng ngừa tội

phạm, Moskva, Jurid Literature Đây là một công trình nghiên cứu khoa học tương

đối toàn diện, đã làm rõ cơ sở lý luận, đặc điểm, cơ sở pháp lý chung của phòng ngừa tội phạm Bên cạnh đó, các tác giả cũng đã phân tích phương pháp, đặc trưng, chủ thể chính, các chủ thể phối hợp, các đối tượng của các hoạt động phòng ngừa tội phạm trong điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể Tuy công trình nêu trên nghiên cứu đã lâu nhưng trong bối cảnh toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, nó vẫn có giá trị tham khảo hữu ích để nghiên cứu cơ sở lý luận, tổng kết thực tiễn và làm rõ cơ sở pháp lý của các biện pháp phòng ngừa tội phạm; đề xuất các giải pháp phòng ngừa một nhóm

tội phạm cụ thể hay phòng ngừa tội phạm ở một địa bàn cụ thể [128]

Hennessy Hayes, Tim Prenzler (2014), An introduction to Crime and

Criminology (Tạm dịch: Giới thiệu về tội phạm và tội phạm học), sách chuyên khảo,

xuất bản tại Pearson Australia Tài liệu được tổng hợp và nghiên cứu của hai chuyên gia tội phạm học người Australia là Hennessy Hayes và Tim Prenzler, công trình là

sự đúc kết từ thực tiễn nghiên cứu, bằng việc phân tích và tổng hợp những quan điểm khác nhau của các cá nhân, cơ quan có uy tín của Australia trong lĩnh vực nghiên cứu về nhân thân người phạm tội, về tình hình tội phạm Điều đáng chú ý là công trình đã đưa ra được rất nhiều các chiến lược, phương pháp phòng ngừa, quy trình đấu tranh với một số loại tội phạm cụ thể; đưa ra những khuyến nghị hữu ích cho công tác giáo dục, đào tạo của các cơ quan, tổ chức trong tuyên truyền giáo dục

và phòng ngừa tội phạm [125]

Trong công trình “Crime prevention - Theory and Practice” (Tạm dịch:

Phòng ngừa tội phạm - Lí luận và thực tiễn) của Stephen R Schneider giáo sư về lĩnh vực khoa học xã hội học và tội phạm, thuộc Đại học Saint mary, Halifax, Nova

Trang 12

Scotia, Canada Tác giả nhấn mạnh các vấn đề lý luận về phòng ngừa tội phạm, tình huống phòng ngừa tội phạm và phòng chống tội phạm thông qua thiết kế môi trường Với công trình này, Stephen R Schneider đã đưa ra và giải thích một cách khoa học về hoạt động phòng ngừa tội phạm như: Giảm nguy cơ phạm tội bằng cách thay đổi hành vi của các nạn nhân tiềm tàng trong xã hội; giám sát mọi cơ hội tiếp cận để phòng ngừa hành vi phạm tội; các biện pháp kiểm soát lãnh thổ, không gian, kiểm soát xã hội không chính thức, nhằm giảm những nguyên nhân, điều kiện cần thiết để thực hiện tội phạm Tác giả cũng chỉ ra được những hạn chế và cách giải quyết những hạn chế của việc áp dụng các giải pháp giải quyết vấn đề xã hội cho người phạm tội, tập trung vào công tác phòng ngừa tái phạm, nâng cao trách nhiệm của cộng đồng trong phòng ngừa tội phạm [133]

Can Ueda, Crime and criminology in Japan (Tạm dịch: Tội phạm và tội phạm học ở Nhật Bản hiện đại) của Can Ueda, giáo sư, tiến sĩ luật học, Trường Đại

học Tổng hợp Ritsumeikan, dịch từ bản dịch tiếng Nga của Nxb Tiến Bộ, Moskva, năm 1989 Với công trình khoa học này, nhà tội phạm học người Nhật cho rằng tội phạm học không phải là khoa học duy nhất nghiên cứu tội phạm Tội phạm là đối tượng nghiên cứu của một số ngành khoa học khác như: Luật hình sự, Luật tố tụng

hình sự, Xã hội học, Tâm lý học, Thần kinh học Tác giả đã đưa ra khái niệm “Tội

phạm học là khoa học nghiên cứu tội phạm và đề ra các biện pháp đấu tranh, phòng chống” Tác phẩm đã nghiên cứu chuyên sâu về nguyên nhân, điều kiện của tội phạm,

đưa ra các điều kiện cá nhân và xã hội của tội phạm như giới tính, lứa tuổi Tác giả cũng chỉ ra những hạn chế trong quá trình đô thị hóa xã hội, quá trình phát triển kinh tế, văn hóa-xã hội, sự di cư, tập trung dân cư do quá trình đô thị hóa đã gây ra sự xáo trộn trong xã hội, gây ra sự mâu thuẫn giữa các giai tầng trong xã hội, hạn chế sự đoàn kết dân cư trong khu vực về phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm…[121]

1.1.1.2 Các công trình nghiên cứu có đề cập một số vấn đề lí luận về phòng ngừa tội phạm ở các khu công nghiệp

Trên thế giới, việc xây dựng và phát triển các khu công nghiệp (KCN) đã có lịch sử trên 120 năm (Từ năm 1896, KCN đầu tiên trên thế giới được thành lập ở thành phố Manchester của nước Anh Tiếp đó, một số KCN khác cũng được xây dựng ở Hoa Kỳ (năm 1899), ở Italy (năm 1904) Đến những năm 50 của thế kỷ

XX, sự phát triển các KCN mới bắt đầu bùng nổ), vì vậy, tài liệu nghiên cứu về các KCN trên thế giới rất phong phú, đa dạng Tuy nhiên, nếu tiếp cận chúng từ góc độ

Trang 13

quản lý nhà nước thì có thể nhận thấy: Nhà quản lý, các khoa học ở các quốc gia có KCN thường giải quyết các vấn đề liên quan đến KCN theo các lĩnh vực quản lý nhà nước Theo đó, trên lĩnh vực quản lý nhà nước về an ninh, trật tự (ANTT) và phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm cũng có một số công trình khoa học đã nghiên cứu về các vấn đề có liên quan hoạt động phòng ngừa tội phạm trong các KCN trên thế giới Điển hình trong số đó là các công trình nghiên cứu sau:

Sách chuyên khảo: Phòng ngừa vi phạm pháp luật ở tập thể sản xuất - Các

vấn đề lý luận và thực tiễn, của N G Cobets, dịch: Trần Thịnh, Lê Nam, Nxb Pháp

lý, Hà Nội, năm 1985 Dưới dạng hệ thống hóa, lý luận phòng ngừa có tính xã hội các vi phạm pháp luật đã được tác giả trình bày như sau: Đối tượng, phương pháp luận phòng ngừa có tính xã hội các vi phạm pháp luật (VPPL) ở tập thể sản xuất; những mức độ, mục đích, phương hướng, phương pháp phòng ngừa; các chủ thể và khách thể của việc phòng ngừa; những nguyên nhân và điều kiện thực các VPPL ở tập thể sản xuất; các phương pháp phát hiện và loại bỏ chúng; Với cơ cấu này, công trình đã giúp xác định các yếu tố chủ yếu của phòng ngừa có tính xã hội các VPPL ở tập thể sản xuất, nghiên cứu chúng một cách độc lập, đồng bộ trong mối liên hệ chặt chẽ với thực tiễn Do tương quan giữa phòng ngừa có tính xã hội các VPPL và phòng ngừa tội phạm (tội phạm với tư cách là một dạng VPPL) được xác định như tương quan giữa bộ phận và toàn thể nên một số luận điểm của tác giả có giá trị tham khảo khi xây dựng lí luận phòng ngừa tội phạm ở các KCN của Việt Nam Điển hình như: “ tiến hành phòng ngừa các VPPL trong các tập thể sản xuất phải tính đến quan hệ khăng khít giữa công việc trong xí nghiệp của công nhân, viên chức, hoạt động của các đoàn thể xã hội trong xí nghiệp và việc thực hiện chức năng quản lý của bộ máy hành chính xí nghiệp” [129]

Giáo trình An ninh kinh tế nước Nga: Những vấn đề phương pháp luận và tổ

chức bảo đảm pháp lý, Học viện Cảnh sát Mátxcơva, Bộ Nội vụ Liên bang Nga,

năm 2004, do Iurii Ivanovich Abolensev và đồng nghiệp biên soạn Đây là giáo trình chính thống của tập thể Giáo sư, Phó Giáo sư Học viện Bộ Nội vụ Mát-xcơ-va giảng dạy môn An ninh kinh tế Giáo trình gồm có 12 chương, trong đó có một chương đề cập vấn đề bảo đảm trật tự xã hội ở các KCN của Liên bang Nga, vai trò của lực lượng Cảnh sát Liên bang Nga trong việc bảo đảm trật tự ở các KCN; biện pháp loại bỏ những nhân tố ảnh hưởng đến sự hoạt động của các doanh nghiệp trong KCN; quy trình tuần tra kiểm soát của Cảnh sát trật tự; quy trình làm việc của

Trang 14

Cảnh sát đấu tranh chống tội phạm kinh tế trong việc bảo đảm trật tự xã hội ở các KCN Theo đó, giáo trình chỉ trình bày một cách cô đọng về việc bảo đảm TTXH ở các KCN của Liên bang Nga [126]

Trên các tạp chí khoa học luật của chúng ta cũng có một số bài tạp chí đăng tải kết quả nghiên cứu các công trình khoa học đã nghiên cứu về các vấn đề có liên quan hoạt động phòng ngừa tội phạm trong các KCN trên thế giới Điển hình như bài tạp

chí “Pháp luật về thuế chống chuyển giá của Trung Quốc - Công cụ pháp lý quan

trọng để quản lý thuế đối với hoạt động đầu tư nước ngoài” của tác giả Nguyễn Tấn

Phát, đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (số 1), năm 2005 Bài viết này mặc dù chỉ tập trung đề cập đến một số khía cạnh nhất định của hoạt động phòng ngừa tội phạm trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Trung Quốc và một số quốc gia trong khu vực nhưng qua đó đã cho thấy: Các quốc gia đều có chính sách để tạo thuận lợi cho việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các KCN; hoạt động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm và các VPPL được thiết lập ngay từ khi thành lập các KCN và được duy trì, kiểm soát rất chặt chẽ suốt trong quá trình hoạt động của các KCN với phương châm “hậu kiểm” đảm bảo cho các doanh nghiệp đầu tư vào các KCN hoạt động có hiệu quả trên cơ sở tôn trọng và thực thi nghiêm chỉnh hệ thống pháp luật của Nhà nước, thông lệ quốc tế trên lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài; lực lượng Cảnh sát cùng với các lực lượng khác như Hải quan, Thuế, Ngân hàng chịu trách nhiệm chính trong phòng ngừa tội phạm kinh tế trong các KCN [56]

Ngoài ra, cũng có một số công trình khác của các tác giả nghiên cứu các vấn

đề có liên quan đến phòng ngừa tội phạm ở các KCN, có thể kể tên như: Cao Hy

Quân – Lý Thành (1992), Bốn mươi năm kinh nghiệm Đài Loan (Mai Quốc Liên và

cộng sự dịch từ tiếng Trung Quốc), Tài liệu tham khảo, Toà soạn Tạp chí “Người

Đại biểu nhân dân” [120]; Castell, Marvin (2005), “Đánh giá vai trò của những tổ

chức chính phủ hỗ trợ phát triển khu công nghiệp tại Philipin”, Viện nghiên cứu

kinh tế và thương mại Angelo King, Canada [122]; Chandhana, Indhapanya and

Routray, Jayant K (2000), “Tác động xã hội của khu công nghiệp vùng ven biển phía

Đông tỉnh Rayong, Thailan”, Trung tâm Thông tin và Thư viện Băng Cốc, Thái Lan

[123]; Sonja Kurz, Sonja and Schmidkonz, Christian (2005), “Đầu tư trực tiếp của tập

đoàn BASF tại Nam Kinh, Trung Quốc và những ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững” [132]; Viện Kinh tế học Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia

(1994), Kinh nghiệm thế giới về phát triển khu chế xuât và đặc khu kinh tế (tiếng Anh:

Trang 15

World experiences on the development of export processing zones and special economic zone), Sách tham khảo, Nxb Chính trị quốc gia [108];… Tuy nhiên, các công trình kể trên chỉ tập trung đề cập đến những khía cạnh khác nhau về việc phát triển các KCN trên thế giới, về kinh nghiệp tổ chức quản lý các KCN nói chung; nhiều vấn đề chủ yếu ở mức độ thông tin về cơ chế, chính sách; những tác động và vai trò của KCN đối với sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia hay vùng lãnh thổ; chưa đi sâu làm rõ những vấn đề về phòng ngừa tội phạm ở các KCN

1.1.1.3 Các công trình nghiên cứu về thực trạng và biện pháp tăng cường phòng ngừa tội phạm ở các khu công nghiệp

Nhóm tác giả Valerie Jonhston, Maria Leitner, Joanna Shapland, Paul Wiles

(1994), “Crime on industrial estates” (Tạm dịch: Tội phạm ở các khu công nghiệp),

Đại học Sheffield, London, Anh Công trình của nhóm tác giả đã làm rõ về tình hình tội phạm xảy ra đối với các doanh nghiệp trong KCN ở nước Anh cũng như những hành động mang tính chiến lược để ngăn ngừa tội phạm ở các KCN (điều mà trước

đó bị lơ là và không được quan tâm đúng mức) Công trình chỉ rõ: Việc thiếu các chính sách phòng ngừa tội phạm không có nghĩa là các doanh nghiệp trong KCN không ý thức được vấn đề an ninh, hướng tiếp cận truyền thống về việc ngăn ngừa tội phạm ở các KCN là khuyến khích từng doanh nghiệp đơn lẻ đưa ra các biện pháp phòng ngừa Tuy vậy, công trình còn đưa ra hướng tiếp cận hiệu quả hơn, theo

đó các biện pháp phòng ngừa cần tiến hành một cách đồng bộ và thống nhất, tập trung vào cả KCN bằng cách chú ý tới thiết kế và vùng đệm của KCN, tuần tra an ninh và các biện pháp an ninh khác Điều này đòi hỏi vai trò tích cực hơn của chủ KCN cũng như cơ chế phối hợp giữa các doanh nghiệp; tăng cường an ninh trong các KCN bằng việc tạo ra các chương trình tương trợ lẫn nhau giữa các doanh nghiệp trong KCN Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu, công trình đã xây dựng và

đề ra các biện pháp phòng ngừa tội phạm ở các KCN; đặt ra trách nhiệm phòng ngừa tội phạm gắn liền với từng chủ thể như: Đối với chủ KCN, đối với Cảnh sát, đối với doanh nghiệp và đối với chính quyền địa phương [134]

Luận án phó tiến sĩ luật học: Những vấn đề đấu tranh chống tội phạm kinh tế

và tham nhũng trong các khu công nghiệp, của Demetiev Aleksandr Semenovich,

Nôvơgôrát, năm 1997 Có thể nói đây là công trình đề cập khá toàn diện, cô đọng về

công tác tổ chức hoạt động phòng ngừa tội phạm kinh tế (bao gồm các tội phạm

xâm phạm sở hữu, tội phạm trong lĩnh vực thuế, tài chính được quy định tại các

Trang 16

chương VI, VII của BLHS Liên bang Nga năm 2005) và tham nhũng trong các KCN,

các biện pháp phòng ngừa tội phạm kinh tế và tham nhũng trong các KCN của các cơ quan bảo vệ pháp luật Liên bang Nga, mà chủ thể trực tiếp là lực lượng Cảnh sát đấu tranh chống tội phạm kinh tế thuộc Bộ Nội vụ Liên bang Nga từ năm 1991-1997 Đặc biệt, đã lập luận và biện giải những vấn đề cần thiết phải được hoàn thiện để đấu tranh

có hiệu quả đối với tội phạm kinh tế và tham nhũng trong các KCN; trên cơ sở tiếp thu

có chọn lọc kinh nghiệm của một số nước trong đấu tranh chống tội phạm kinh tế và tham nhũng trong các KCN để đưa ra các đề xuất nâng cao hiệu quả đấu tranh, trong

đó có đề cập đến việc tăng cường hợp tác quốc tế trong đấu tranh chống tội phạm kinh tế và tham nhũng giữa Bộ Nội vụ Liên bang Nga với các nước Trung Quốc, Belarut, Ukraina, Cazăcxtan và một số nước Châu Âu khác [124]

Tóm lại, ở các nước trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về tội phạm học nói chung, hoạt động phòng ngừa tội phạm ở các KCN nói riêng (trong

đó có một số công trình tập trung nghiên cứu về hoạt động phòng ngừa tội phạm kinh tế ở các KCN); qua đó, kiến giải các biện pháp phòng ngừa tội phạm ở các KCN; đã lập luận và biện giải những vấn đề cần thiết phải được hoàn thiện để đấu tranh có hiệu quả đối với tội phạm ở các KCN Kết quả nghiên cứu của những công trình trên đây sẽ được nghiên cứu sinh tiếp thu có chọn lọc trong phần cơ sở lý luận của đề tài luận án Tuy nhiên, các công trình đã công bố ở các nước còn bỏ ngỏ nhiều vấn đề liên quan đến lí luận về phòng ngừa tội phạm ở các KCN, như: Khái niệm phòng ngừa tội phạm ở các KCN; những đặc thù của KCN có liên quan đến hoạt động phòng ngừa tội phạm; vấn đề cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng và tổ chức các mô hình phòng ngừa tội phạm ở các KCN; cơ chế phối hợp giữa các lực lượng chức năng trong ngừa tội phạm ở các KCN chưa được đề cập một cách rõ nét Mặt khác, kết quả nghiên cứu của các công trình nêu trên chỉ chủ yếu tập trung vào phòng ngừa tội phạm kinh tế trong các KCN; nhiều vấn đề mới chỉ dừng lại ở mức độ thông tin, giới thiệu; chưa đi vào phân tích các đặc điểm tội phạm học của tình hình tội phạm ở các KCN cũng như những vấn đề cụ thể khác của hoạt động phòng ngừa tội phạm ở các KCN

1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

1.1.2.1 Các công trình nghiên cứu lí luận về phòng ngừa tội phạm

Đến nay, có thể khẳng định rằng, ngành Tội phạm hoc ở nước ta có một hệ thồng lý luận cơ bản và hoàn chỉnh Đã có nhiều công trình nghiên cứu về Tội phạm

Trang 17

học của các nhà khoa học như: GS.TS Đào Trí Úc, GS.TS Võ Khánh Vinh, GS.TS Đỗ Ngọc Quang, GS.TS Nguyễn Xuân Yêm, PGS.TS Phạm Văn Tỉnh, PGS.TS Phạm Tuấn Bình… Ngoài ra còn có nhiều tài liệu, công trình Tội phạm học của các trường Đại học luật Hà Nội, Đại học luật TP Hồ Chí Minh; các Học viện Cảnh sát nhân dân, Học viện An ninh nhân dân và nhiều công trình nghiên cứu, luận án tiến sĩ, bài báo khoa học về Tội phạm học khác đã được công bố ở nước ta Những công trình trên đã xây dựng được một hệ thống các tri thức, lí luận cơ bản về tội phạm học; góp phần tích cực vào việc hoàn thiện nền tảng lí luận của tội phạm học, chính sách hình sự của Nhà nước, lí luận phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm của nước ta trong nhiều năm qua Các công trình khoa học tiêu biểu có thể kể đến sau đây:

Đào Trí Úc (chủ biên, 1994), Tội phạm học, luật hình sự và luật tố tụng hình

sự Việt Nam, Sách chuyên khảo của tập thể các nhà khoa học Viện nghiên cứu Nhà

nước và Pháp luật, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội [89] Phạm Hồng Hải (chủ biên,

2000), Tội phạm học Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Sách chuyên

khảo của tập thể tác giả Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, Nxb CAND, Hà

Nội [44] Nguyễn Xuân Yêm (chủ biên, 2001), Tội phạm học hiện đại và phòng

ngừa tội phạm, Sách chuyên khảo, Nxb CAND, Hà Nội [117] Đỗ Ngọc Quang

(chủ biên, 2001), Giáo trình tội phạm hoc, Đại học Tổng hợp Hà Nội [58] Trường Đại học luật Hà Nội (2008), Giáo trình tội phạm học, Nxb CAND, Hà Nội [87] Phạm Văn Tỉnh (chủ biên, 2007), Một số vấn đề lý luận về tình hình tội phạm ở Việt

Nam, Sách chuyên khảo, Nxb Tư pháp, Hà Nội [77] Võ Khánh Vinh (chủ biên,

2011), Giáo trình tội phạm học, Nxb CAND, Hà Nội [113] Nguyễn Xuân Yêm (tổng chủ biên, 2013), Tội phạm học Việt Nam, Tập I – Tội phạm học đại cương, Tập II – Tội phạm học chuyên ngành, Tập III – Các chương trình phòng chống tội

phạm của Chính phủ, Bộ sách chuyên khảo, Nxb CAND, Hà Nội [119]…

Qua nghiên cứu các công trình nêu trên, nghiên cứu sinh thấy rằng, các nhà khoa học đã có quan điểm tương đối thống nhất khi đưa ra các khái niệm về tình hình tội phạm, về phòng ngừa tình hình tội phạm; các nhà nghiên cứu cũng đã phân tích và xây dựng một hệ thống các biện pháp khoa học về phòng ngừa tội phạm nói chung, phòng ngừa tội phạm chuyên ngành hay ở một lĩnh vực, địa bàn cụ thể Kết quả của các công trình, tài liệu nghiên cứu nêu trên là nguồn tham khảo quý giá, hữu ích, là nền tảng lí luận và là cơ sở quan trọng để nghiên cứu sinh kế thừa các tri thức

về tội phạm học trong việc nghiên cứu, xây dựng các luận cứ khoa học cũng như giải quyết các yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra trong quá trình nghiên cứu đề tài luận án

Trang 18

Bên cạnh các công trình nghiên cứu những vấn đề lí luận phổ biến về tội phạm học nêu trên, nghiên cứu sinh nhận thấy hiện nay cũng có một số công trình đề cập những vấn đề khá mới mẽ về tội phạm học Trong đó, đòi hỏi sự nghiên cứu liên ngành,

đa ngành, đa lĩnh vực mà trọng tâm chủ đạo là tội phạm học; có sự quán triệt chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước ta trong phòng, chống tội phạm Cụ thể như:

Trịnh Tiến Việt (chủ biên, 2016), Lý thuyết kiểm soát xã hội đối với tội phạm

và ứng dụng ở Việt Nam, sách chuyên khảo, Nxb Tư pháp Công trình nghiên cứu đã

tiếp cận, giải quyết vấn đề kiểm soát xã hội đối với tội phạm Đặc biệt là các vấn đề như: Những phạm trù kiểm soát tội phạm và kiểm soát xã hội đối với tội phạm; chủ thể và phương tiện kiểm soát xã hội đối với tội phạm; cơ chế phối hợp hoạt động giữa Nhà nước và các thiết chế xã hội trong hệ thống kiểm soát xã hội đối với tội phạm… Đây là tài liệu tham khảo rất hữu ích để tác giả luận án nghiên cứu, định hướng rõ nét hơn về các biện pháp phòng ngừa tội phạm, đặc biệt là các biện pháp phòng ngừa xã hội và vai trò của các thiết chế xã hội trong phòng ngừa tội phạm [111]

Trần Thị Ngọc Thuý (2018), Cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm từ thực

tiễn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học việc

Khoa học xã hội Theo tác giả Trần Thị Ngọc Thuý, hiện nay khái niệm cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm chưa có cách hiểu thống nhất và chưa được tập trung nghiên cứu, phổ biến Theo đó, tác giả đã tập trung nghiên cứu, làm rõ những vấn

đề lí luận về cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm như: Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và các nguyên tắc của cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm Đây cũng là công trình có giá trị tham khảo trong việc nghiên cứu, làm rõ một số vấn đề lí luận

về phòng ngừa tội phạm theo định hướng nghiên cứu của tác giả luận án [75]

1.1.2.2 Các công trình nghiên cứu có đề cập một số vấn đề lí luận về phòng ngừa tội phạm ở các khu công nghiệp

Tính đến tháng 01/2017, cả nước có 324 KCN được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên trên 91,8 ngàn ha, phân bố ở 60 tỉnh, thành phố trên cả nước [143] Từ thực tiễn quá trình phát triển nhanh chóng của các KCN trên cả nước cũng đã đặt ra yêu cầu, thách thức đối với công tác QLNN về ANTT; trong đó bao gồm công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm ở các KCN nhiều nhiệm vụ quan trọng, mang tính cấp thiết trong tình hình mới Bởi lẽ đó, nhiều cơ quan, cá nhân đã có các công trình nghiên cứu liên quan đến hoạt động phòng ngừa tội phạm ở các KCN, điển hình như:

Trang 19

Trần Ngọc Đức (2011), Hoạt động phòng ngừa tội phạm kinh tế của lực

lượng Cảnh sát nhân dân trong các khu công nghiệp, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện

CSND Trong luận án của mình, tác giả đã tập trụng làm rõ những vấn đề lí luận về hoạt động phòng ngừa tội phạm kinh tế của lực lượng CSND trong các KCN nói riêng

Cụ thể như: Xây dựng các khái niệm tội phạm kinh tế trong các KCN; khái niệm hoạt động phòng ngừa tội phạm kinh tế của lực lượng CSND trong các KCN Chỉ ra các đặc điểm của hoạt động phòng ngừa tội phạm kinh tế của lực lượng CSND trong các KCN Làm rõ nhiệm vụ, nguyên tắc hoạt động, nội dung và biện pháp phòng ngừa tội phạm kinh tế của lực lượng CSND trong các KCN; xác định trách nhiệm và quan hệ phối hợp của lực lượng CSND trong phòng ngừa tội phạm kinh tế trong các KCN [43]

Bùi Thành Chung (2013), Hoạt động của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong

phòng chống các tội phạm xâm phạm sở hữu tại địa bàn khu chế xuất, KCN trọng điểm phía Nam – Thưc trạng và giải pháp, Đề tài khoa học cấp Bộ, Đại học CSND,

Tp Hồ Chí Mính Công trình đã nghiên cứu, xác lập được một số vấn đề lý luận về hoạt động phòng ngừa tội phạm xâm phạm sở hữu tại các KCN vùng kinh tế trọng điểm phía Nam như: Khái niệm tội phạm xâm phạm sở hữu tại các KCN; khái niệm, đặc điểm phòng ngừa tội phạm xâm phạm sở hữu tại các KCN; xác định, làm rõ chủ thể phòng ngừa và các biện pháp phòng ngừa tội phạm xâm phạm sở hữu tại các KCN; nghiên cứu làm rõ tình hình, đặc điểm tội phạm xâm phạm sở hữu tại địa bàn KCX, KCN vùng kinh tế trọng điểm phía Nam [15]

Đặng Thu Hiền (2013), Hoạt động phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp

luật khác về môi trường tại các KCN theo chức năng của lực lượng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện CSND

Luận án đã nghiên cứu làm sáng rõ những nhận thức lí luận chung về KCN ở Việt Nam như: Phân tích khái niệm KCN, các đặc điểm KCN có liên quan đến công tác bảo vệ môi trường; xây dựng khái niệm tội phạm và các VPPL khác về môi trường tại các KCN; làm rõ các loại tội phạm về môi trường xảy ra phổ biến tại các KCN Làm sáng rõ những nhận thức lí luận chung về hoạt động phòng ngừa tội phạm và VPPL khác về bảo vệ môi trường tại KCN theo chức năng của lực lượng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường như: Khái niệm, đặc điểm hoạt động phòng ngừa tội phạm và VPPL khác về bảo vệ môi trường tại KCN; quan hệ phối hợp và vấn đề hợp tác quốc tế trong phòng, chống tội phạm và VPPL khác về bảo vệ môi trường tại KCN [45]

Trang 20

Bên cạnh các công trình kể trên, có nhiều tài liệu, công trình khoa học, bài viết tạp chí đề cập đến những vấn đề lí luận về phòng ngừa tội phạm ở các KCN, cụ

thể như: Học viện Cảnh sát nhân dân với các giáo trình: Đấu tranh phòng, chống tội

phạm kinh tế trong một số lĩnh vực kinh tế trọng điểm (2005); Tổ chức hoạt động phòng ngừa, phát hiện, điều tra tội phạm cụ thể thuộc chức năng của lực lượng Cảnh sát hình sự (2001); Quản lý nhà nước về an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội (2010) [48] Hoàng Văn Trực (2007), Hoạt động phòng ngừa tội phạm kinh tế kinh tế trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam của lực lượng Cảnh sát nhân dân, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện CSND [85] Khương Duy Oanh

(1998), Tổ chức công tác phòng ngừa tội phạm kinh tế trong các KCN, khu chế xuất

ở Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Cảnh sát nhân dân (nay là

Học viện Cảnh sát nhân dân) [55] Nguyễn Phong Hòa (2005), Tội phạm kinh tế và

hoạt động phòng, chống tội phạm kinh tế của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong tình hình mới, Nxb CAND [46] Mai Hữu Bốn (2013), Nâng cao hiệu quả tổ chức và quản lý KCN, khu chế xuất vùng kinh tế trọng điểm phía Nam [8] Trần Hữu Ứng

(2007), Một số giải pháp cơ bản bảo đảm an ninh, trật tự ở các khu kinh tế, KCN có

vốn đầu tư nước ngoài [101] Viện Khoa học xã hội Việt Nam (2012), Viện Kinh tế

học Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia (1994), Kinh nghiệm thế giới

về phát triển khu chế xuất và đặc khu kinh tế [108]…

1.1.2.3 Các công trình nghiên cứu về thực trạng và biện pháp tăng cường phòng ngừa tội phạm ở các khu công nghiệp

- Các công trình nghiên cứu về thực trạng phòng ngừa tội phạm ở các KCN:

Lê Văn Cương (2005), Những giải pháp nâng cao hiệu quả đảm bảo an

ninh, trật tự ở các thành phố lớn, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế mở, Đề

tài khoa học cấp Nhà nước, V21 Bộ Công an Trong công trình nghiên cứu, tác giả

Lê Văn Cương đã thống kê, phân tích nhiều thông tin, tài liệu, số liệu nhằm làm rõ thực trạng ANTT (trong đó có diễn biến tình hình tội phạm ở các KCN) tại các địa bàn các thành phố lớn, KCN, KCX, khu kinh tế mở ở Việt Nam từ năm 1997 đến 2004; làm rõ thực trạng công tác đấu tranh bảo vệ ANTT ở các KCN, KCX, khu kinh tế mở (trong đó có đề cập thực trạng hoạt động phòng ngừa tội phạm ở các KCN) [34]

Nguyễn Thị Bích Vân (2010), Phòng ngừa tội phạm ở các khu công nghiệp

trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học luật Hà

Trang 21

Nội Luận văn đã tập trung nghiên cứu, phân tích thực trạng tình hình tội phạm ở các KCN trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2004 đến năm 2009; trong đó làm rõ diễn biến, cơ cấu, tính chất của tình hình tội phạm cũng như những đặc điểm về nhân thân của người phạm tội ở các KCN Trên cơ sở đó, luận văn đã làm rõ các nguyên nhân và điều kiện phát sinh tội phạm ở các KCN trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi [102]

Trong Luận án tiến sĩ “Hoạt động phòng ngừa tội phạm kinh tế của lực lượng

Cảnh sát nhân dân trong các khu công nghiệp”, tác giả Trần Ngọc Đức đã tập trung

nghiên cứu, đánh giá thực trạng tình hình tội phạm kinh tế trong các KCN tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2010; làm rõ các đặc điểm tội phạm học của tội phạm kinh tế trong các KCN; đánh giá thực trạng hoạt động phòng ngừa tội phạm kinh tế trong trong các KCN của lực lượng CSND; chỉ ra tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong hoạt động phòng ngừa tội phạm [43]

Trong công trình nghiên cứu “Hoạt động của lực lượng Cảnh sát nhân dân

trong phòng chống các tội phạm xâm phạm sở hữu tại địa bàn khu chế xuất, KCN trọng điểm phía Nam – Thưc trạng và giải pháp”, tác giả Bùi Thành Chung cũng đã

nghiên cứu, làm rõ tình hình, đặc điểm tội phạm xâm phạm sở hữu tại địa bàn KCX, KCN vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện các biện pháp phòng, chống các tội phạm xâm phạm sở hữu tại địa bàn khu chế xuất, KCN vùng kinh tế trọng điểm phía Nam của các lực lượng nghiệp vụ CSND trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2012 Trên cơ sở đó, đánh giá hiệu quả công tác, xác định những thuận lợi, khó khăn, ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của nó [15]

Vũ Đức Khiển (2012), “Giải pháp phòng, chống vi phạm pháp luật về môi

trường ở khu công nghiệp thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam của lực lượng cảnh sát nhân dân”, Đề tài khoa học cấp Bộ, Trường Cao đẳng CSND, Tp Hồ Chí

Mính Công trình đã nghiên cứu làm rõ tình hình VPPL về bảo vệ môi trường trong các KCN thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam từ năm 2007 đến 2011; nghiên cứu, đánh giá công tác tổ chức lực lượng và công tác phòng ngừa, đấu tranh, xử lý VPPL về bảo vệ môi trường ở các KCN vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; làm rõ kết quả đạt được và những nguyên nhân tồn tại trong công tác phòng ngừa, đấu tranh, xử lý VPPL về bảo vệ môi trường ở các KCN vùng kinh tế trọng điểm phía Nam [51]

Ngoài ra còn phải kể đến các công trình nghiên cứu như: Phạm Vinh (2000),

Hoạt động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm ở các KCN trên địa bàn tỉnh Quảng

Trang 22

Ngãi của lực lượng Cảnh sát kinh tế, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện CSND

[115] Lê Thanh Hóa (2006), Hoạt động điều tra tội phạm xâm phạm sở hữu xảy ra

tại các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp, Luận văn Thạc sĩ luật học, Học viện CSND Lê Song Toàn (2007), Tệ nạn xã hội ở địa bàn cư trú tập trung của người lao động làm việc trong các khu chế xuất, khu công nghiệp vùng kinh tế trọng điểm phía Nam – Thực trạng và giải pháp, Đề

tài khoa học cấp Bộ, Đại học CSND [83]

- Các công trình nghiên cứu về định hướng và giải pháp tăng cường phòng ngừa tội phạm ở các KCN:

Trong công trình nghiên cứu của tác giả Lê Văn Cương “Những giải pháp

nâng cao hiệu quả đảm bảo an ninh, trật tự ở các thành phố lớn, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế mở”, trên cơ sở dự báo tình hình ANTT ở các KCN và

phân tích làm rõ các quan điểm chỉ đạo công tác đảm bảo ANTT ở các KCN, công trình đã xây dựng hệ thống giải pháp đảm bảo ANTT ở các KCN, cụ thể như: Tăng cường các biện pháp QLNN về kinh tế đối với KCN, đảm bảo phát triển đúng quy hoạch và tuân thủ những quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam; xây dựng và củng cố vững chắc các tổ chức Đảng, tổ chức chính trị - xã hội trong các KCN; thống nhất cơ chế phối hợp trong bảo đảm ANTT giữa các lực lượng chức năng thuộc ngành Công an; triển khai mô hình chuyên trách bảo vệ các KCN; tổ chức các hoạt động nghiệp vụ về công tác ANTT trong các KCN… [34]

Trong Luận án tiến sĩ “Hoạt động phòng ngừa tội phạm kinh tế của lực lượng

Cảnh sát nhân dân trong các khu công nghiệp”, tác giả Trần Ngọc Đức đã đề xuất

các giải pháp phòng ngừa gồm: Xây dựng và hoàn thiện các quy định của pháp luật liên quan trực tiếp đến tổ chức hoạt động phòng ngừa tội phạm kinh tế của lực lượng CSND trong các KCN; Bộ Công an cần điều chỉnh các quy định pháp lí, thể chế liên quan đến việc phân công, phân cấp các cơ quan, đơn vị nghiệp vụ CSND làm công tác phòng ngừa tội phạm kinh tế trong các KCN; xây dựng và hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các lực lượng nghiệp vụ Cảnh sát và lực lượng nghiệp vụ An ninh trong phòng ngừa tội phạm ở các KCN; đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lí kinh tế và chức vụ với các lực lượng trực tiếp đấu tranh với tội phạm kinh tế của cơ quan Hải quan, Quản lí thị trường, Thuế, Kiểm toán và các cơ quan thanh tra, kiểm tra chuyên ngành trong phòng ngừa tội phạm ở các KCN; nâng cao chất lượng, hiệu quả áp dụng các biện pháp phòng ngừa nghiệp

vụ của lực lượng CSND trong các KCN [43]

Trang 23

Trong công trình nghiên cứu “Hoạt động của lực lượng Cảnh sát nhân dân

trong phòng chống các tội phạm xâm phạm sở hữu tại địa bàn khu chế xuất, KCN trọng điểm phía Nam – Thưc trạng và giải pháp”, tác giả Bùi Thành Chung đã xây

dựng hai nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các lực lượng nghiệp vụ Cảnh sát Công an các tỉnh, thành phố vùng kinh tế trọng điểm phía Nam trong phòng chống tội phạm xâm phạm sở hữu tại địa bàn KCX, KCN gồm: Nhóm giải pháp về kiện toàn tổ chức lực lượng và nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động phòng chống tội phạm [15]

Trong công trình nghiên cứu “Giải pháp phòng, chống vi phạm pháp luật về

môi trường ở khu công nghiệp thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam của lực lượng cảnh sát nhân dân”, tác giả Vũ Đức Khiển đã xây dựng năm nhóm giải pháp

nâng cao hiệu quả hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm và VPPL về môi trường ở các KCN vùng kinh tế trọng điểm phía Nam gồm: Nhóm giải pháp phòng ngừa xã hội; nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả công tác nghiệp vụ cơ bản của lực lượng Cảnh sát Môi trường ở các KCN; nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động phát hiện, điều tra, xử lí VPPL về môi trường ở các KCN; xây dựng, hình thành cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa lực lượng Cảnh sát Môi trường với các lực lượng khác trong đấu tranh phòng, chống tội phạm và VPPL về môi trường ở các KCN; nhóm giải pháp

về xây dựng lực lượng và tăng cường nguồn lực vật chất, trang thiết bị phương tiện đảm bảo cho lực lượng Cảnh sát Môi trường ở các KCN [51]

Ngoài ra còn có các công trình đề cập một số vấn đề về thực trạng và giải pháp tăng cường phòng ngừa tội phạm ở các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, cụ thể như:

Tống Duy Thoại, Nguyễn Văn Khánh (2011), Công nhân tại các khu công

nghiệp tập trung ở tỉnh Đồng Nai – Những vấn đề đặt ra trong công tác đảm bảo an ninh, trật tự, Đề tài khoa học cấp tỉnh, Đồng Nai Đề tài nghiên cứu, làm rõ tình

hình công nhân tại các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai có liên quan đến ANTT và thực trạng công tác đảm bảo ANTT trong công nhân (trong đó có hoạt động phòng ngừa tội phạm) tại các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai; trên cơ sở nghiên cứu, dự báo các yếu tố tác động đến công tác đảm bảo ANTT, về tình hình công nhân tại các KCN tập trung và những vấn đề liên quan công tác đảm bảo ANTT, đề tài đã đưa ra hệ thống các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác đảm bảo ANTT trong công nhân tại các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai [74]

Trang 24

Lê Văn Thiện (2013), Công tác Công an đảm bảo an ninh, trật tự tại các

KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai – Thực trạng và giải pháp, Đề tài khoa học cấp

Bộ, Hà Nội Công trình đã những vấn đề lý luận liên quan đến công tác Công an đảm bảo ANTT tại các KCN; đánh giá tình hình ANTT tại các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai; phân tích thực trạng công tác Công an đảm bảo ANTT tại các KCN trên các mặt: kết quả đạt được; những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của các tồn tại, hạn chế Từ đó, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác Công an đảm bảo ANTT tại các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai [73]

Lê Văn Thiện (2013), Phòng, chống vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự

của người nước ngoài tại các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, Luận án Tiến sĩ

Luật học, Học viện ANND, Hà Nội Công trình đã làm rõ những vấn đề lý luận liên quan đến phòng, chống VPPL về ANTT của người nước ngoài tại các KCN; làm rõ tình hình VPPL về ANTT của người nước ngoài tại các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai từ năm 1995 đến 2012 Đánh giá thực trạng phòng, chống VPPL về ANTT của người nước ngoài tại các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai; Dự báo tình hình và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả phòng, chống VPPL về ANTT của người nước ngoài tại các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai [72]

Tóm lại, qua nghiên cứu các công trình nêu trên cho thấy: Đến nay đã có

nhiều công trình nghiên cứu trong nước có liên quan đến những vấn đề lí luận và thực tiễn về phòng ngừa tội phạm ở các KCN Đặc biệt trong số đó là các đơn vị, cá nhân trong ngành Công an đã có các công trình liên quan đến hoạt động phòng ngừa tội phạm ở các KCN nói chung và tại các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai nói riêng Tuy nhiên, điều dễ nhận thấy là các công trình chủ yếu tập trung nghiên cứu

về phương diện quản lý nhà nước về ANTT tại các KCN nói chung, về đảm bảo ANTT trong công nhân, hoặc là hoạt động phòng, chống một nhóm tội phạm cụ thể (như tội phạm kinh tế, tội phạm xâm phạm sở hữu, hoặc tội phạm môi trường ), và chỉ tập trung đề cập đến công tác Công an trong đấu tranh phòng, chống tội phạm ở các KCN Mặt khác, các công trình còn chưa đề cập rõ nét về vai trò của các chủ thể (ngoài lực lượng Công an) tham gia phòng ngừa tội phạm ở các KCN như Ban Quản lý KCN, các sở, ngành chức năng, các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trong KCN và các tổ chức cá nhân có liên quan; các biện pháp phòng ngừa xã hội vì thế mà được thể hiện còn mờ nhạt Theo đó, các công trình chủ yếu tiếp cận, luận giải vấn đề theo hướng nghiệp vụ chuyên ngành của lực lượng CAND mà chưa tiếp

Trang 25

cận, nghiên cứu một cách toàn diện theo hướng đa ngành, liên ngành; chưa làm rõ được cơ chế phối hợp giữa lực lượng CAND với các cơ quan, tổ chức hữu quan Ngoài ra, ở nhiều công trình nghiên cứu vẫn còn một số vấn đề lí luận về tội phạm học chưa được vận dụng một cách thoả đáng để luận giải về các vấn đề liên quan đến phòng ngừa tội phạm ở các KCN như: Chưa tập trung nghiên cứu làm rõ về tình hình, đặc điểm tội phạm học của tội phạm cũng như nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm ở các KCN; một số vấn đề lí luận về phòng ngừa tội phạm ở các KCN cũng chưa được giải quyết một cách thấu đáo, như: Khái niệm, đặc trưng, ý nghĩa của phòng ngừa tội phạm ở các KCN; việc xác định chủ thể phòng ngừa, biện pháp phòng ngừa và quan hệ phối hợp của các chủ thể phòng ngừa tội phạm ở các KCN cũng chưa được đề cập một cách rõ nét

1.2 Đánh giá tổng quan về tình hình nghiên cứu và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án

1.2.1 Đánh giá tổng quan về tình hình nghiên cứu

Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài đã tiếp cận khá phong phú, đa chiều đối với những vấn đề về hoạt động phòng ngừa tội phạm ở các KCN; tuy mức độ tác động, ảnh hưởng tiêu cực của tình hình tội phạm ở các KCN đối với đời sống kinh tế, xã hội ở mỗi nước khác nhau, quan điểm nhìn nhận, đánh giá và thái độ ứng phó của các cấp chính quyền của mỗi nước cũng không tương đồng Nhưng qua việc nghiên cứu các công trình khoa học nêu trên, có thể khẳng định các nước trên thế giới đều xác định sự cần thiết phải có các biện pháp tăng cường phòng ngừa tình hình tội phạm nhằm đảm bảo môi trường an ninh, an toàn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh ở các KCN Tuy nhiên, mỗi quốc gia khác nhau thì tình hình tội phạm ở KCN cũng khác nhau, chuyển biến theo không gian, thời gian, điều kiện môi trường tác động… giải pháp phòng ngừa ở quốc gia này có thể hiệu quả nhưng ở quốc gia khác thì có thể không tương tích Vì vậy, khi nghiên cứu đề tài luận án này, nghiên cứu sinh nhận thấy cần có sự tiếp thu một cách chọn lọc nhằm đảm bảo tính phù hợp với điều kiện chính trị và tình hình kinh tế, xã hội của nước ta

Kết quả nghiên cứu các công trình khoa học trong nước những năm qua có ý nghĩa quan trọng khi nghiên cứu đề tài “Phòng ngừa tội phạm ở các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai”, giúp cho nghiên cứu sinh có cách nhìn tổng quan về những vấn đề lí luận và thực tiễn hoạt động phòng ngừa tội phạm ở các KCN cũng như nhiệm vụ của hệ thống chính trị trong công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm ở các KCN Có thể nhận thấy, trong các công trình, tài liệu đã

Trang 26

nêu đều được tiếp cận nghiên cứu ở nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau, phạm vi không gian, thời gian nghiên cứu cũng khác nhau Do đó, mỗi công trình, tài liệu nghiên cứu đều có những giá trị rất hữu ích, đóng góp ở những mức độ khác nhau đối với hoạt động nghiên cứu khoa học và đối với thực tiễn đời sống xã hội; và như vậy, điểm chung nhất của các công trình nghiên cứu, các tài liệu, đề tài, sách chuyên khảo… đều mang tính khái quát, tính thời sự và có giá trị cả về lí luận lẫn thực tiễn

Mặt khác, từ những phân tích trên đây có thể khẳng định, cho đến nay dưới góc độ tội phạm học chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện về hoạt động phòng ngừa tội phạm ở các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai Do

vậy, việc nghiên cứu đề tài luận án “Phòng ngừa tội phạm ở các khu công nghiệp

trên địa bàn tỉnh Đồng Nai” sẽ không bị trùng lặp và thực sự cần thiết

1.2.2 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án

Từ kết quả khảo sát tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án, để góp phần bổ sung, hoàn thiện những vấn đề lí luận và thực tiễn phòng ngừa tội phạm ở các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, luận án cần tiếp tục nghiên cứu những vấn đề sau:

- Phân tích, làm rõ đặc trưng của KCN và khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của phòng ngừa tội phạm ở các KCN Nghiên cứu, xây dựng khái niệm về cơ chế phòng ngừa tội phạm ở các KCN; phân tích, làm rõ các các thành tố của cơ chế phòng ngừa ở các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

- Nghiên cứu, đánh giá về thực trạng phòng ngừa tội phạm ở các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai từ năm 2007 đến năm 2017 Trên cơ sở đó, làm rõ những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế Mặt khác, để có cơ sở đánh giá khách quan, toàn diện về thực trạng phòng ngừa tội phạm ở các KCN, luận án cần khảo sát, làm rõ tình hình tội phạm ở các KCN cũng như xác định nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm ở các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

- Trên cơ sở đánh giá thực trạng phòng ngừa tội phạm ở các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, đồng thời trên cơ sở các chính sách pháp luật và tình hình kinh tế - xã hội có liên quan, luận án cần xây dựng hệ thống giải pháp tăng cường hiệu quả phòng ngừa tội phạm ở các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới

1.3 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

1.3.1 Câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi nghiên cứu tổng quát của luận án: Thực trạng hoạt động phòng

ngừa tội phạm ở các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai như thế nào và làm thế nào để tăng cường hiệu quả phòng ngừa tội phạm ở các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai?

Trang 27

Để trả lời câu hỏi nghiên cứu tổng quát nêu trên, Luận án giải quyết các câu hỏi nghiên cứu chi tiết sau:

Thứ nhất, những câu hỏi đặt ra về phương diện lí luận: Hoạt động phòng

ngừa tội phạm ở các KCN có những đặc điểm gì và ý nghĩa của phòng ngừa tội phạm ở các KCN? Có những chủ thể nào tham gia vào hoạt động phòng ngừa tội phạm ở các KCN, đặc điểm trong tổ chức và biện pháp phòng ngừa của các chủ thể này? Sự phối hợp của các chủ thể trong hoạt động phòng ngừa tội phạm ở các KCN đòi hỏi những gì?

Thứ hai, những câu hỏi đặt ra đối với thực tiễn phòng ngừa: Thực trạng nhận

thức của các chủ thể tham gia vào hoạt động phòng ngừa tội phạm ở các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai như thế nào? Thực trạng tổ chức lượng lượng, áp dụng các biện pháp phòng ngừa và phối hợp giữa các chủ thể trong hoạt động phòng ngừa tội phạm ở các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai từ năm 2007 đến 2017 đạt được kết quả gì, còn những hạn chế nào? Nguyên nhân của những hạn chế đó là gì?

Thứ ba, những câu hỏi đặt ra đối với dự báo và giải pháp phòng ngừa: Tình

hình tội phạm ở các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới sẽ thay đổi như thế nào? Cần có những giải pháp nào để tăng cường hiệu quả phòng ngừa tội phạm ở các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới?

1.3.2 Giả thuyết nghiên cứu

Giả thuyết nghiên cứu tổng quát: Vì tình hình tội phạm ở các KCN trên địa

bàn tỉnh Đồng Nai vẫn diễn biến phức tạp, nên tác giả giả thiết rằng hoạt động phòng ngừa tội phạm ở các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai vẫn còn nhiều hạn chế, thiếu sót về lực lượng phòng ngừa, về biện pháp phòng ngừa và sự phối hợp trong hoạt động phòng ngừa Vì vậy, việc đề ra các giải pháp tăng cường phòng ngừa tội phạm ở các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai là một đòi hỏi bức thiết

Giả thuyết nghiên cứu chi tiết:

Thứ nhất, về lí luận phòng ngừa tội phạm: Với những đặc thù (về chủ thể

hoạt động, cơ chế chính sách, không gian hoạt động ) tại các KCN, hoạt động phòng ngừa tội phạm ở các KCN có sự khác biệt nhất định so với phòng ngừa tội phạm tại các địa bàn (khu vực, địa phương) khác Phòng ngừa tội phạm ở các KCN

có ý nghĩa quan trọng trong việc củng cố, xây dựng và bảo vệ vững chắc ANTT ở các KCN; tạo điều kiện thuận lợi cho môi trường hợp tác, đầu tư trong nước và quốc tế, phục vụ có hiệu quả các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội

Trang 28

Để phòng ngừa tội phạm ở các KCN cần sử dụng tổng hợp nhiều biện pháp khác nhau, những biện pháp đó không chỉ do các cơ quan nhà nước tiến hành mà còn có sự tham gia của các thiết chế xã hội, các doanh nghiệp và đông đảo người lao động trong các KCN tiến hành

Thứ hai, về thực tiễn phòng ngừa tội phạm: Làm rõ tình hình, đặc điểm có

liên quan đến phòng ngừa tội phạm ở các KCN; tình hình tội phạm, nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm ở các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai; nhận thức của chủ thể phòng ngừa tội phạm là cơ sở quan trọng để đánh giá thực trạng phòng ngừa tội phạm ở các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai Cơ chế phòng ngừa tội phạm ở các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong thời gian qua còn nhiều tồn tại, hạn chế

Thứ ba, về giải pháp phòng ngừa tội phạm: Để nâng cao hiệu quả phòng

ngừa tội phạm ở các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai cần phải tăng cường nhận thức về phòng ngừa tội phạm ở các KCN; tăng cường năng lực của chủ thể phòng ngừa; nâng cao hiệu quả việc áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm ở các KCN và quan hệ phối hợp của các chủ thể phòng ngừa tội phạm

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Qua nghiên cứu, đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến phòng ngừa tội phạm ở các KCN cho thấy, đã có một số công trình nghiên cứu, bài viết của các tác giả, nhóm tác giả trong và ngoài nước tiếp cận nghiên cứu ở các góc độ khác nhau Tác giả luận án nhận thấy, ở các nước đều cho rằng phòng ngừa tội phạm ở các KCN là vấn đề cấp thiết, thể hiện ở những công trình nghiên cứu phong phú và khá sâu sắc về tình hình tội phạm ở các KCN; từ đó, xác định sự cần thiết phải có các giải pháp phòng ngừa hiệu quả nhằm hạn chế tình hình tội phạm Tuy nhiên, các công trình đã nêu chưa nghiên cứu chuyên sâu và tập trung vào hoạt động phòng ngừa tội phạm ở các KCN nói chung và các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai nói riêng

Trong Chương 1, tác giả luận án đã phân tích, làm rõ những kết quả nghiên cứu, những mặt đạt được và những khoảng trống mà các tác giả chưa đề cập, nghiên cứu về hoạt động phòng ngừa tội phạm ở các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai Trên

cơ sở đó, xác định những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án; đồng thời, xây dựng câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu nhằm định hướng cho việc tiếp cận giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Trang 29

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA TỘI PHẠM

Ở CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI

2.1 Nhận thức về khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

2.1.1 Khái niệm, đặc trưng của khu công nghiệp

Khái niệm khu công nghiệp:

Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, “khu công nghiệp” (tên tiếng Anh là Industrial park; Industrial zone) được hiểu là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, do Chính phủ thành lập [49]

Theo Tổ chức phát triển công nghiệp Liên Hợp quốc (tên tiếng Anh là The United Nations Industrial Development Organization/ UNIDO) định nghĩa khái niệm khu công nghiệp là “khu có hàng rào ngăn với bên ngoài, chịu sự quản lý riêng, tập trung tất cả các doanh nghiệp hoạt động theo bất kỳ cơ chế nào (xuất khẩu hàng hóa và/hoặc tiêu thụ nội địa), miễn là phù hợp với các quy định quy hoạch về vị trí và ngành nghề” Cũng theo các chuyên gia của tổ chức này, KCN chế biến xuất khẩu có tên gọi là khu chế xuất (tên tiếng Anh là Exportprocessingzone) Đó là một “khu vực có địa giới được quy định về mặt hành chính đôi khi về mặt địa lí, có một chế độ thuế quan đặc biệt, được phép xuất khẩu tự do các thiết bị và các sản phẩm khác để sản xuất ra các mặt hàng dành cho xuất khẩu”

Khái niệm KCN đã được đề cập tại các nghị định của Chính phủ, như: Nghị định 322/HĐBT ngày 18 tháng 10 năm 1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) quy định Quy chế khu chế xuất; Nghị định 192/CP ngày 28 tháng 12 năm 1994 của Chính phủ quy định Quy chế KCN và sau đó là Nghị định số 36/CP ngày 24/4/1997 về ban hành “Quy chế khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao”

Theo Luật Đầu tư của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 59/2005/QH11 ngày 29/11/2005, KCN được hiểu là “khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ”; khu chế xuất (KCX) là

“khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ” Khu công nghệ cao là “khu chuyên nghiên cứu phát triển, ứng dụng công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao, đào tạo nhân lực công nghệ cao, sản xuất và kinh doanh sản phẩm công nghệ cao, có ranh giới

Trang 30

địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ” Khu kinh tế là “khu vực có không gian kinh tế riêng biệt với môi trường đầu tư và kinh doanh đặc biệt thuận lợi cho các nhà đầu tư, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ”

Việc phân định này đã được tiến hành dựa trên các tiêu chí về tính chất hoạt động, không gian tổ chức hoạt động và mục tiêu hoạt động của KCN, KCX, khu công nghệ cao, khu kinh tế Theo đó, KCN khác với khu công nghệ cao, khu kinh tế Khu công nghệ cao nổi bật với các chức năng nghiên cứu - phát triển và ứng dụng công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao và đào tạo nhân lực công nghệ cao ; khu kinh tế là khu vực có không gian kinh tế “mềm”, có dân cư sinh sống xen kẽ và có nội dung hoạt động kinh tế rộng, bao gồm: Khu thương mại tự do, KCN, KCX, khu đô thị và các khu chức năng khác phù hợp với đặc điểm của từng vùng kinh tế Còn khu chế xuất là một khu vực được coi như tách khỏi Việt Nam về mặt thuế quan, nhưng do có cùng tính chất hoạt động và được thiết lập với những nguyên lý tương tự như KCN nên KCN và KCX được gọi chung là khu công nghiệp

Trước sự phát triển mạnh mẽ của các KCN, KCX trong cả nước, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 Quy định về KCN, KCX

và khu kinh tế (sau đây gọi tắt là Nghị định 29/CP) Theo Điều 2 Nghị định 29/CP, KCN, KCX được khái niệm như sau: “Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này Khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với khu công nghiệp quy định tại Nghị định này Khu công nghiệp, khu chế xuất được gọi chung là khu công nghiệp, trừ trường hợp quy định cụ thể”

Hiện nay, Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 ngày 26/11/2014 và Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 đã quy định thống nhất về khái niệm KCN, theo đó KCN được hiểu là “khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp”; KCX là “khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu” Khu kinh tế là “khu vực có ranh giới địa lý xác định, gồm nhiều khu chức năng, được thành lập để thực hiện các mục tiêu thu hút đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ quốc phòng, an ninh”

Trang 31

Đặc trưng của khu công nghiệp:

Qua nghiên cứu các quy định về khu công nghiệp, có thể khái quát khu công nghiệp có những đặc trưng sau:

KCN là khu vực chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp (trước đây thường gọi là KCN tập trung) Doanh nghiệp sản xuất hàng công nghiệp gồm các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp để tiêu dùng trong nước và doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu (còn gọi là doanh nghiệp chế xuất)

KCN là khu vực có ranh giới địa lý xác định, được quy định bằng diện tích đất quy hoạch của KCN do cấp quyết định thành lập KCN phê duyệt Đối với KCN thì ranh giới này thường được ngăn cách với khu vực xung quanh bằng hàng rào cứng bảo vệ, có cổng ra vào riêng Đối với các cụm công nghiệp thì ranh giới địa lý hiện nay thường không có hàng rào cứng bảo vệ như KCN

Trong KCN không có dân cư sinh sống, trong cụm công nghiệp vẫn có thể

có dân cư sinh sống xen kẽ Trường hợp cần thiết, chuyên gia nước ngoài được phép tạm trú tại doanh nghiệp trong KCN, KCX theo quy định của UBND cấp tỉnh

KCN được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị

định số 29/2008/NĐ-CP (nay là Nghị định số 82/2018/NĐ-CP), trong đó đặc biệt là

phải có trong quy hoạch tổng thể phát triển KCN đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định thành lập, mở rộng KCN đã có trong quy hoạch tổng thể phát triển KCN hoặc có trong quy hoạch chung xây dựng khu kinh tế đã được phê duyệt Việc thành lập cụm công nghiệp do UBND cấp tỉnh ra quyết định và quy định điều kiện, thủ tục thành lập

KCN là nơi tập trung nhiều tài sản lớn có giá trị cao về kinh tế, nơi có những

bí mật của Nhà nước, nơi ứng dụng các khoa học - công nghệ tiên tiến, nơi có nhiều người với các thành phần đa dạng, phức tạp (trong đó có một số lượng khá lớn là người nước ngoài) đến làm việc… Đây vừa là địa bàn kinh tế trọng điểm cần bảo vệ, vừa là địa bàn phức tạp về ANTT

Theo Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ quy định

về Quản lí KCN và khu kinh tế, chủ thể QLNN đối với KCN là Chính phủ, các bộ, ngành, UBND cấp tỉnh và Ban Quản lý KCN, hoạt động theo cơ chế đặc thù - cơ chế “một cửa, tại chỗ” Cơ chế này thực hiện được là nhờ có cơ chế uỷ quyền, cơ chế giải quyết tại chỗ và cơ chế phối hợp Hoạt động của các chủ thể QLNN đối với

Trang 32

KCN nhằm đem lại lợi ích xác định như ngân sách, tạo công ăn việc làm, phát triển kinh tế, xã hội Để đạt được mục tiêu nêu trên, đòi hỏi Nhà nước phải can thiệp và giải quyết các mối quan hệ kinh tế phức tạp, có những cơ chế chính sách riêng để điều tiết hoạt động của KCN, có nhiều văn bản pháp luật đề cập đến đặc thù riêng của KCN

Do có những tính chất, đặc điểm nêu trên nên quá trình vận hành, hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh tại các KCN đã nảy sinh không ít những vấn đề phức tạp về An ninh chính trị và TTATXH Trong khi đó, công tác QLNN về ANTT của các cơ quan chức năng còn nhiều bất cập, không đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, càng làm cho tình hình tội phạm và tệ nạn xã hội diễn biến phức tạp Do đó, việc nghiên cứu, đề xuất các biện pháp phòng ngừa tội phạm ở các KCN đang đặt ra như một yêu cầu mang tính cấp bách hiện nay

2.1.2 Đặc điểm, tình hình các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

Quá trình hình thành, phát triển các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai:

Đồng Nai là tỉnh có truyền thống phát triển công nghiệp khá sớm, đặc biệt một số ngành nghề thủ công như: gốm, sứ đã phát triển từ thế kỷ XVIII Dưới thời Pháp thuộc, một số cơ sở công nghiệp như: Nhà máy đường, nhà máy cưa đã xuất hiện ở Đồng Nai Cho đến cuối những năm 1950, công nghiệp tại Đồng Nai đã thực

sự hình thành với việc xây dựng nhà máy giấy Đồng Nai và nhà máy giấy Tân Mai Năm 1963, khu kỹ nghệ tập trung đầu tiên (nay là KCN Biên Hòa I) do công ty khuếch trương kỹ nghệ Biên Hòa (Sonadezi) đầu tư xây dựng với diện tích 367 ha tại phường An Bình - Biên Hòa Tại đây tập trung hầu hết các máy móc thiết bị hiện đại nhất thời đó được nhập từ Mỹ, Nhật, Tây Đức, Đài Loan để sản xuất ra những mặt hàng phục vụ nhu cầu quân sự và dân dụng Trong 12 năm (l963-1974) Sonadezi đã xây dựng 94 nhà máy các loại, đến năm 1975 chính quyền cách mạnh đã tiếp quản trọn vẹn khu kỹ nghệ này với 76 doanh nghiệp Từ đó, Đồng Nai đã tiếp tục quy hoạch phát triển các KCN trên địa bàn và mở đầu là KCN Biên Hòa với diện tích ban đầu là 334 ha Đây là một trong những KCN hình thành rất sớm trên cả nước, trước khi Nhà nước ta ban hành khuôn khổ pháp lý cho việc xây dựng và phát triển các KCN

Từ khi thực hiện đường lối đổi mới do Đại hội VI của Đảng khởi xướng, Tỉnh ủy và UBND tỉnh Đồng Nai đã lựa chọn đúng đắn chiến lược phát triển các KCN nhằm tạo địa bàn thuận lợi thu hút vốn đầu tư nước ngoài; đồng thời có nhiều

Trang 33

biện pháp thúc đẩy phát triển công nghiệp, đặc biệt là biện pháp khuyến khích đầu

tư như: Đơn giản hóa thủ tục đăng ký kinh doanh, rút ngắn thời gian cấp phép đầu

tư, minh bạch hóa thủ tục thuế, cải tiến thủ tục hải quan… Do vậy, từ năm 1995, Đồng Nai bắt đầu thu hút đầu tư mạnh mẽ vào KCN Biên Hòa Từ thành công bước đầu này, chính quyền tỉnh đã từng bước rút kinh nghiệm và mở ra những hướng đột phá mới, tập trung quy hoạch xây dựng thêm các KCN mới không những ở thành phố Biên Hoà mà mở rộng đến các huyện trong tỉnh Đến nay, Đồng Nai đã có 32 KCN được thành lập với tổng diện tích 9.969,69 ha, trong đó diện tích đã cho thuê được 3.851,06 ha, đạt tỉ lệ 61,37% diện tích đất dành cho thuê (6.257,10 ha) Thời gian qua, các công ty đầu tư kinh doanh hạ tầng đã đầu tư khoảng 5.044 tỷ đồng và 100,539 triệu USD để đầu tư cơ sở hạ tầng (không tính nhà xưởng xây sẵn) do vậy

đa số các KCN đã hoàn thiện cơ sở hạ tầng đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư như cấp điện, cấp nước, hệ thống giao thông, chiếu sáng, mạng lưới bưu chính viễn thông, hệ thống xử lý nước thải tập trung… việc đầu tư xây dựng khá đồng bộ này đã tạo môi trường đầu tư tốt để thu hút mạnh vốn đầu tư trong và ngoài nước đến với các KCN trên địa bàn thời gian qua “Với tầm nhìn mang tính chiến lược, Đồng Nai đã chọn quy hoạch và phát triển các KCN là mô hình phát triển trọng điểm của địa phương với hình thức chủ yếu là đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), phù hợp với tiềm năng, sự năng động cũng như những thuận lợi cơ bản về địa thế của tỉnh” [95,

tr.5] (Xem bảng 2.1 Phụ lục I)

Tính đến 12/2017, tổng số dự án đầu tư nước ngoài được cấp giấy chứng nhận đầu tư trên địa bàn tỉnh Đồng Nai có 1.671 dự án với tổng vốn đầu tư gần 30,94 tỷ USD Có 42 quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia đầu tư vào các KCN Đồng Nai, ngoài ra còn có 392 dự án trong nước với tổng vốn đầu tư hơn 50,2 tỷ đồng Như vậy, tương ứng với các dự án có hiệu lực, tính đến 12/2017 có 1.102 doanh nghiệp nước ngoài và 392 doanh nghiệp trong nước đang hoạt động tại các KCN

trên địa bàn tỉnh Đồng Nai (Xem các bảng 2.2, 2.3 và 2.4 Phụ lục I)

Sự phát triển mạnh mẽ của các KCN đã tạo cho Đồng Nai diện mạo của một tỉnh công nghiệp hướng đến hiện đại, hiệu quả từ sự lớn mạnh không ngừng của các

KCN có tác động tích cực thúc đẩy tiến trình phát triển kinh tế - xã hội mạnh mẽ tại

địa phương Giai đoạn 1991 - 2000, Đồng Nai liên tục giữ tốc độ phát triển kinh tế bình quân 12,9% /năm; giai đoạn 2001 - 2010, tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn đạt và vượt mục tiêu của tỉnh đề ra, cụ thể: Giai đoạn từ 2001- 2005 tăng 12,8%; đến giai đoạn từ 2006 -2010 tăng 13,5%, cao gấp 1,9 lần mức tăng chung của cả nước

Trang 34

[95, tr.6-7] Đến giai đoạn 2011-2015, tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng bình quân 12%/năm, quy mô GDP theo giá thực tế năm 2015 gấp 1,5 lần năm 2011 GDP bình quân đầu người theo giá thực tế năm 2015 là 66,720 triệu đồng (tương đương 3.089 USD), gấp 1,8 lần năm 2011 Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, năm 2015 ngành công nghiệp xây dựng chiếm 56,7%; ngành dịch vụ chiếm 37,7%; ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 5,6% Các lĩnh vực văn hóa - xã hội phát triển cùng với quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa của tỉnh và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam [66] Nhiều dự án hoạt động trong KCN đạt hiệu quả cao và thu nhiều lợi nhuận, tiếp tục đăng ký tăng vốn để mở rộng sản xuất Trong những năm qua, các KCN Đồng Nai đã tạo ra sản lượng hàng hóa xuất khẩu lớn và đóng góp nguồn thu đáng kể cho địa phương

Đến năm 2012, các KCN Đồng Nai đã giải quyết việc làm cho 412.000 lao động, trong đó có 231.867 lao động nữ Tính trong cả nước, các KCN Đồng Nai có số lao động cao nhất, chiếm 25% tổng số lao động trong các KCN toàn quốc Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo đạt 59%, trong đó đã qua đào tạo nghề đạt 51% Hằng năm,

có khoảng 12.000 - 15.000 lao động được đào tạo tại doanh nghiệp phù hợp với nhu cầu sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp [95, tr.5-6] Theo số liệu thống kê, tính đến 12/2017 các KCN Đồng Nai đã thu hút 575.033 người Trong đó, người lao động làm việc tại các doanh nghiệp có vốn FDI là 529.034 người, chiếm 92%; lao động làm việc tại các doanh nghiệp trong nước gần 46.000 người, chiếm 8%; lao động ngoại tỉnh chiếm khoảng 60% và lao động nữ chiếm khoảng 61% tổng số lao động; lao động nước ngoài 5.946 người

Hiện nay, tỉnh Đồng Nai được phân chia thành 11 đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh; trong đó, 10/11 đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh đã thành lập KCN

(Xem biểu đồ 2.1 Phụ lục I) Căn cứ vào số liệu thống kê của Ban quản lý các KCN

tỉnh Đồng Nai, các KCN chủ yếu tập trung tại 05 đơn vị hành chính gồm: Thành phố Biên Hòa, huyện Trảng Bom, huyện Nhơn Trạch, huyện Long Thành và huyện

Vĩnh Cửu (tại 05 đơn vị hành chính này có 26/32 KCN trên toàn tỉnh Đồng Nai,

chiếm hơn 81%; số lượng người lao động làm việc ở các KCN tại 05 đơn vị hành chính này tính đến 12/2017 là 503.616/575.033 người trên toàn tỉnh, chiếm hơn 87%) Tình hình nhân lực lao động tại các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai liên tục

thay đổi theo chiều hướng gia tăng và năm sau đều cao hơn năm trước, khảo sát số lượng người lao động làm việc ở các KCN tại 05 đơn vị hành chính nêu trên cho

Trang 35

trăm lao động làm việc tại các KCN Đồng Nai theo thứ tự từ năm 2008 đến năm

2017 là: 106,70%, 118,24%, 130,74%, 140,18%, 145,91%, 153,19%, 165,15%, 178,02%, 187,11%, 192,47% Trên thực tế, tỉnh Đồng Nai không đáp ứng đủ nhân lực lao động cho các KCN, do vậy một lượng lớn lao động từ các tỉnh, thành phố trên cả nước ồ ạt nhập cư vào tỉnh Đồng Nai Số lao động nhập cư hàng năm tỉ lệ thuận với số lao động được tuyển dụng vào làm việc tại các KCN tỉnh Đồng Nai, cụ thể năm 2007 là 124.458 người đến năm 2017 là 318.265 người, tăng 255,72%

(Xem bảng 2.5 và 2.6 Phụ lục I)

Những vấn đề phức tạp có liên quan đến hoạt động phòng ngừa tội phạm ở các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai:

Bên cạnh những đóng góp to lớn cho sự phát triển chung của nền kinh tế, sự phát triển các KCN ở Đồng Nai cũng đã kéo theo những phức tạp tác động, ảnh hưởng đến công tác QLNN về ANTT nói chung và hoạt động phòng ngừa tội phạm nói riêng Qua nghiên cứu, khảo sát 32 KCN đang hoạt động tại Đồng Nai, có thể khái quát một số vấn đề phức tạp nổi lên như sau:

Thứ nhất, tại Đồng Nai có nhiều KCN tập trung tại một địa bàn, xen kẽ khu

đông dân cư và bám theo các trục đường lớn, trong điều kiện việc xây dựng hạ tầng trong và ngoài KCN chưa đồng bộ, đã tạo áp lực nên áp lực lớn đối với công tác

QLNN và việc thực hiện các chính sách xã hội tại các KCN

Thứ hai, các doanh nghiệp đầu tư vào các KCN trong lĩnh vực công nghiệp

nhẹ là chủ yếu nên sử dụng nhiều lao động phổ thông; trong khi nguồn lao động địa phương không thể đáp ứng nên các doanh nghiệp phải tuyển lao động từ các tỉnh và địa phương khác phục vụ sản xuất của doanh nghiệp Đây là nguyên nhân chủ yếu làm tăng nhanh dân số cơ học tại Đồng Nai, đặc biệt là tại các địa bàn có KCN dẫn đến những khó khăn trong công tác quản lý về cư trú và đảm bảo ANTT trên địa bàn

Thứ ba, những vấn đề phức tạp có liên quan đến người lao động làm việc tại các

KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, cụ thể như: Hầu hết các KCN chưa đáp ứng nhu cầu nhà ở cho công nhân; trình độ văn hóa, nhận thức của một bộ phận không nhỏ người lao động còn hạn chế; đời sống vật chất, nhu cầu giải trí, văn hóa để phục vụ cho người lao động chưa được đảm bảo nhưng chưa được các cấp, các ngành và doanh nghiệp quan tâm đúng mức… là nguyên nhân nảy sinh nhiều vụ việc phức tạp liên quan đến

ANTT trên địa bàn và tại doanh nghiệp (Xem mục 1.2 Phụ lục IV, tr.76-80)

Trang 36

Những vấn đề trên đây gần như là hệ quả tất yếu của việc hình thành, phát triển các KCN trong hơn 25 năm qua ở Việt Nam cũng như tại địa bàn tỉnh Đồng Nai Tình hình đó chứa đựng những nguyên nhân và nguy cơ làm phát sinh tình hình tội phạm ở các KCN nói riêng, tại địa bàn tỉnh Đồng Nai nói chung Đây là một trong những thách thức lớn đối với Đảng bộ, chính quyền, đặc biệt là đối với các lực lượng chức năng tỉnh Đồng Nai trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, giữ gìn ANTT, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

2.2 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa phòng ngừa tội phạm ở các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

2.2.1 Khái niệm phòng ngừa tội phạm ở các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

Liên quan đến định nghĩa phòng ngừa tội phạm, khoa học pháp lý đã có

nhiều công trình nghiên cứu về Tội phạm học đề cập đến khái niệm “phòng ngừa

tội phạm” Giáo trình Tội phạm học của Học viện Cảnh sát nhân dân [48,

tr.172-172/2002] viết: “Phòng ngừa tội phạm là không để tội phạm xảy ra và gây hậu quả cho xã hội, không để các thành viên trong xã hội phải chịu các hình phạt khắc nghiệt của pháp luật, nếu tội phạm xảy ra thì kịp thời phát hiện, điều tra khám phá

để truy tố, xét xử, tiến hành giáo dục và cải tạo người phạm tội trở thành người công dân có ích cho xã hội” Không khẳng định như vậy, GS.TS Đỗ Ngọc Quang cho rằng, phòng ngừa tội phạm có thể hiểu theo hai nghĩa: “Theo nghĩa rộng, phòng ngừa tội phạm bao hàm, một mặt không để cho tội phạm xảy ra, thủ tiêu nguyên nhân và điều kiện phạm tội Mặt khác, bằng mọi cách để ngăn chặn tội phạm, kịp thời phát hiện tội phạm, xử lý nghiêm minh các trường hợp phạm tội và cuối cùng là cải tạo, giáo dục người phạm tội, đưa họ trở thành những công dân có ích cho xã hội; theo nghĩa hẹp, phòng ngừa tội phạm là không để cho tội phạm xảy ra, không để cho tội phạm gây hậu quả cho xã hội, không để cho thành viên của xã hội phải chịu hình phạt của pháp luật, tiết kiệm được những chi phí cần thiết cho Nhà nước trong công tác điều tra, truy tố, xét xử và cải tạo giáo dục người phạm tội” [58, tr.199-200]

Theo GS.TS Nguyễn Phùng Hồng, trong đề tài khoa học “Phòng chống tội

phạm trong giai đoạn mới” cho rằng: “Phòng ngừa nói chung là hoạt động phòng bị

ngăn chặn trước các hiện tượng, sự kiện không mong muốn, hoặc làm hạn chế mức độ, phạm vi, tính chất nguy hiểm, thiệt hại do các sự kiện, hiện tượng đó gây ra Phòng ngừa tội phạm là hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tập thể

Trang 37

lao động và cá nhân nhằm tác động lên những yếu tố là nguyên nhân, điều kiện thực hiện tội phạm hoặc có nguy cơ làm phát sinh những nguyên nhân và điều kiện của tội phạm nhằm giảm thiểu tội phạm và hạn chế những tác hại, hậu quả do tội phạm gây ra” [50, tr.50-51] Trong khi đó, theo GS.TS Nguyễn Xuân Yêm: “Phòng ngừa tội phạm là một bộ phận lớn của vấn đề phòng ngừa các VPPL Phòng ngừa và ngăn chặn các hành vi VPPL chưa đủ yếu tố tội phạm, hạn chế các nguyên nhân của nó sẽ tạo ra những điều kiện để cản trở việc phát triển những hành động trái pháp luật thành tội phạm” [117, tr.203] Theo GS.TS Nguyễn Ngọc Hoà: “Giữa hoạt động phòng ngừa tội phạm và hoạt động bảo vệ pháp luật có sự giao thoa với nhau Việc khẳng định mối quan hệ giữa hoạt động phòng ngừa tội phạm với hoạt động đấu tranh chống tội phạm và hoạt động bảo vệ pháp luật có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định nội dung của hoạt động phòng ngừa tội phạm Trong thực tế, điều này ít được mọi người chú ý” [47, tr.255]

PGS.TS Nguyễn Chí Dũng và tập thể tác giả đưa ra định nghĩa: “Phòng ngừa tội phạm là sử dụng các phương pháp, chiến thuật, biện pháp, phương tiện nghiệp

vụ cần thiết, với sự tham gia của các lực lượng nhằm khắc phục mọi nguyên nhân, điều kiện không để tội phạm phát sinh, phát triển” [35]

GS.TS Võ Khánh Vinh cho rằng: “Phòng ngừa tội phạm là hệ thống các biện pháp nhà nước và xã hội nhằm khắc phục những nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm, làm giảm bớt hoặc tiến tới loại trừ tình hình tội phạm ra khỏi đời sống xã hội” [113, tr.184] Khá tương đồng với khái niệm trên, Giáo trình Tội phạm học của Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh cũng đưa ra khái niệm:

“Phòng ngừa tội phạm là việc sử dụng hệ thống các biện pháp mang tính xã hội và tính nhà nước nhằm khắc phục các nguyên nhân và điều kiện tình hình tội phạm, hạn chế và loại trừ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội” [98, tr.176]

Như vậy, liên quan đến định nghĩa phòng ngừa tội phạm, các nhà nghiên cứu tại Việt Nam hiện nay có hai xu hướng chính: Xu hướng thứ nhất là các tác giả quan niệm rằng phòng ngừa tội phạm bao gồm cả hoạt động phòng và chống tội phạm (quan niệm này được nhiều tác giả đồng tình hơn); xu hướng thứ hai cho rằng phòng ngừa tội phạm chỉ bao gồm hoạt động tác động vào nguyên nhân và điều kiện của tội phạm nhằm ngăn ngừa trước không cho tội phạm xảy ra (phòng ngừa hiểu theo nguyên nghĩa và ít phổ biến hơn) Mặt khác, tuy vẫn có một vài khía cạnh khác nhau nhưng các nhà khoa học đã làm rõ nhiều vấn đề lý luận cơ bản về phòng ngừa tội phạm Cụ thể là:

Trang 38

- Phòng ngừa tội phạm là phương hướng chủ yếu, cơ bản nhất của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, một bộ phận của cuộc đấu tranh giai cấp, là nhiệm vụ chung của toàn Đảng, toàn dân, của mọi cơ quan, tổ chức, trong đó các cơ quan bảo vệ pháp luật (Cơ quan Công an, Viên kiểm sát, Toà án) đóng vai trò là lực lượng nòng cốt

- Mục đích của phòng ngừa tội phạm là hướng vào việc thủ tiêu những nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh tội phạm trong xã hội và làm giảm thiểu tội phạm cùng những tác hại do tội phạm gây ra

- Phòng ngừa tội phạm được bảo đảm bằng hệ thống những biện pháp phòng ngừa chung của xã hội và phòng ngừa chuyên môn của các cơ quan có chức năng phòng ngừa tội phạm; trên cơ sở hệ thống pháp luật và lực lượng, phương tiện vật chất…

Qua việc tham khảo các quan điểm về phòng ngừa tội phạm nêu trên, đồng thời trên cơ sở khảo cứu thực tiễn hoạt động phòng ngừa tội phạm ở các KCN,

nghiên cứu sinh có định nghĩa phòng ngừa tội phạm ở các KCN như sau: Phòng

ngừa tội phạm ở các KCN là hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và mọi công dân sử dụng tổng hợp các biện pháp nhà nước và xã hội tác động vào nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh tội phạm ở các KCN, nhằm ngăn ngừa không

để tội phạm xảy ra, từng bước khắc phục, làm giảm và tiến tới loại trừ tình hình tội phạm ở các KCN; đồng thời tiến hành những biện pháp kịp thời phát hiện, xử lý tội phạm nhằm tiếp tục phòng ngừa tội phạm ở các KCN

Từ định nghĩa phòng ngừa tội phạm ở các KCN nêu trên, gắn với địa bàn cụ thể là tỉnh Đồng Nai, nghiên cứu sinh nhận thấy nội hàm khái niệm phòng ngừa tội phạm ở các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai gồm các vấn đề cơ bản sau:

Thứ nhất, về nội dung: Phòng ngừa tội phạm ở các KCN trên địa bàn tỉnh

Đồng Nai là hoạt động của các chủ thể tham gia phòng ngừa bằng nhiều biện pháp khác nhau tác động vào nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh tội phạm ở các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

Thứ hai, về chủ thể tham gia phòng ngừa: Chủ thể phòng ngừa tội phạm ở

các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai bao gồm các cấp uỷ Đảng, chính quyền tỉnh

Đồng Nai, mà trực tiếp chính là các cơ quan quản lý nhà nước (UBND các cấp, Ban

Quản lý các KCN và các sở, ngành có chức năng QLNN đối với KCN); các cơ quan

tư pháp (Viện kiểm sát, Tòa án); các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức đoàn thể và mọi công dân (trong đó còn bao gồm các tổ chức cơ sở Đảng, Công đoàn cơ sở, tổ

chức Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ được thành lập tại các doanh nghiệp trong

Trang 39

KCN và đông đảo người lao động làm việc trong các KCN) Trong đó, vai trò chủ

công thuộc về hệ thống cơ quan bảo vệ pháp luật là cơ quan Công an, Viện kiểm sát, Tòa án Đặc biệt, lực lượng CAND là chủ thể trực tiếp, nòng cốt trong phòng ngừa tội phạm ở các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

Thứ ba, về biện pháp phòng ngừa: Để phòng ngừa phạm ở các KCN trên địa

bàn tỉnh Đồng Nai cần phải sử dụng tổng hợp các biện pháp kinh tế, chính trị, văn hóa -

xã hội, pháp luật, tổ chức quản lý cũng như hệ thống các biện pháp nghiệp vụ chuyên biệt của các cơ quan chuyên môn Mặt khác, xuất phát từ chức trách, nhiệm vụ được giao cũng như xuất phát từ các điều kiện thực tế của mỗi chủ thể phòng ngừa mà cách thức, biện pháp phòng ngừa tội phạm cụ thể của các chủ thể phòng ngừa tội phạm ở các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai cũng có những nét riêng biệt, đặc thù

Thứ tư, về hướng phòng ngừa: Tiến hành các biện pháp tác động vào nguyên

nhân, điều kiện làm phát sinh tội phạm ở các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, nhằm ngăn ngừa không để tội phạm xảy ra Khi có tội phạm xảy ra ở các KCN cần nhanh chóng điều tra, khám phá và xử lý đúng đắn, nghiêm minh theo pháp luật Việc điều tra được tiến hành một cách nhanh chóng, xử lý nghiêm minh không những có ý nghĩa phòng ngừa cá biệt mà còn có ý nghĩa phòng ngừa chung

Thứ năm, về mục tiêu phòng ngừa tội phạm ở các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng

Nai: Từng bước khắc phục, làm giảm và tiến tới loại trừ sự tác động tiêu cực của các yếu tố đóng vai trò là nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh tội phạm ở các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai Giáo dục con người nói chung và cải tạo, giáo dục người phạm tội để đưa họ trở thành người có ích cho xã hội Đảm bảo việc thực hiện nghiêm chỉnh và đúng đắn đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước ta về phát triển các KCN; đảm bảo phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Đồng Nai

2.2.2 Đặc điểm của phòng ngừa tội phạm ở các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

Từ khái niệm phòng ngừa tội phạm ở các KCN và trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn cho thấy, hoạt động phòng ngừa tội phạm ở các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai có những đặc điểm sau:

Hoạt động phòng ngừa tội phạm ở các KCN phải tuân thủ các quy định có tính quy chế dành riêng cho các KCN, gắn liền với bảo vệ các lợi ích kinh tế, xã hội trong KCN Như đã trình bày, KCN chính là nơi trực tiếp triển khai các chủ trương,

Trang 40

chính sách nhằm mục tiêu chiến lược của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá với chế độ thuế quan được ban hành, cùng với những quy định về luật pháp ưu đãi, nhằm thu hút đầu tư nước ngoài Chúng đòi hỏi các cơ quan QLNN đối với các KCN phải tuân thủ nghiêm ngặt Hoạt động phòng ngừa tội phạm ở các KCN được xem là một dạng đặc biệt của hoạt động QLNN về ANTT nên cùng với việc phải được tiến hành trên cơ sở quy định của pháp luật còn phải tuân thủ những quy định

có tính quy chế dành riêng cho các KCN Việc tổ chức thực hiện chúng không chỉ gắn liền với yếu tố nước ngoài, yếu tố lực lượng quần chúng đông đảo và yếu tố tập trung kinh tế, mà còn gắn liền với những lợi ích kinh tế của nhà đầu tư, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh trong các KCN; đồng thời còn phải dựa trên quan điểm của Đảng, Nhà nước về các vấn đề đảm bảo ANTT và bảo vệ kinh tế, bảo vệ môi trường

Việc xác định đối tượng của hoạt động phòng ngừa tội phạm ở các KCN rất phức tạp, liên quan chặt chẽ với công tác bảo vệ ANTT Về lý thuyết, đối tượng của

hoạt động phòng ngừa tội phạm ở các KCN bao gồm: Các sự vật, hiện tượng (yếu tố) đóng vai trò là nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh tội phạm ở các KCN; người

có nguy cơ phạm tội cao hoặc có thể dễ bị đối tượng khác lôi kéo tham gia hoạt động phạm tội ở các KCN hoặc tiếp tay cho chúng Tuy nhiên, do đặc điểm và tính chất của địa bàn, nên trong các KCN luôn tồn tại những nguyên nhân, điều kiện bắt nguồn hoặc liên quan trực tiếp đến những “mặt”, những “thuộc tính”, những “bộ phận” của hoạt động đầu tư xây dựng và phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật KCN hoặc đầu tư sản xuất, kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ trong KCN hoặc QLNN đối với mọi hoạt động ở các KCN; luôn có những người vừa là đối tác, vừa là đối tượng đấu tranh của các cơ quan, lực lượng chức năng tham gia công tác bảo vệ ANTT nói chung và phòng ngừa tội phạm ở các KCN nói riêng Có thể nói, hoạt động phòng ngừa tội phạm ở các KCN hiện nay không có đối tượng thuần tuý; việc xác định đối tượng của hoạt động phòng ngừa tội phạm ở các KCN rất phức tạp, liên quan chặt chẽ với công tác bảo vệ ANTT và mang tính tương đối

Theo tác giả, việc xác định đối tượng của hoạt động phòng ngừa tội phạm ở các KCN phải căn cứ vào tình hình tội phạm, nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm ở các KCN cũng như chức năng, nhiệm vụ và điều kiện thực tế của từng chủ thể phòng ngừa; theo đó, tương ứng với các chủ thể phòng ngừa tội phạm

có thể xác định đối tượng của hoạt động phòng ngừa tội phạm khác nhau

Ngày đăng: 21/06/2021, 02:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Ngọc Anh (2005), Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, Tạp chí Công an nhân dân (số 9), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về "phòng, chống tội phạm trong tình hình mới
Tác giả: Nguyễn Ngọc Anh
Năm: 2005
3. Ban Thường vụ Tỉnh ủy Đồng Nai - Khóa VIII (2011), Báo số 50-BC/TU về Tổng kết sáu năm thực hiện Nghị quyết 62-NQ/TU về “Xây dựng, phát huy vai trò đội ngũ công nhân viên chức lao động và tổ chức công đoàn trong thời công nghiệp hóa hóa, hiện đại hóa đến năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo số 50-BC/TU về
Tác giả: Ban Thường vụ Tỉnh ủy Đồng Nai - Khóa VIII
Năm: 2011
4. Ban Thường vụ Tỉnh ủy Đồng Nai (2016): Tọa đàm “Phát triển đảng viên, xây dựng chi bộ Đảng, đoàn thể trong doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Đồng Nai”.http://baodongnai.com.vn/tintuc/201606/toa-dam-day-manh-phat-trien-dang-doan-the-trong-doanh-nghiep Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tọa đàm “Phát triển đảng viên, xây dựng chi bộ Đảng, đoàn thể trong doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Đồng Nai”
Tác giả: Ban Thường vụ Tỉnh ủy Đồng Nai
Năm: 2016
5. Bộ Công an (2003), Quy định về quy trình công tác nghiệp vụ cơ bản của lực lượng Công an nhân dân, ban hành kèm theo Quyết định số 730/2003/QĐ- BCA(C11) ngày 3/10/2003 của Bộ trưởng Bộ Công an Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về quy trình công tác nghiệp vụ cơ bản của lực lượng Công an nhân dân
Tác giả: Bộ Công an
Năm: 2003
6. Bộ Công an (2005), Quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Đồn Công an KCN, ban hành kèm theo Quyết định số 1155/2005/QĐ- BCA(X13) ngày 18/8/2005 của Bộ trưởng Bộ Công an (2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Đồn Công an KCN
Tác giả: Bộ Công an
Năm: 2005
7. Bộ Công an (2010), Kế hoạch số 01/KH-ĐUCA ngày 04/11/2010 của Đảng ủy Công an Trung ương tổ chức phổ biến, quán triệt, triển khai Chỉ thị số 48/CT- TW ngày 22/10/2010 của Bộ Chính trị“Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tôi phạm trong tình hình mới” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch số 01/KH-ĐUCA ngày 04/11/2010 của Đảng ủy Công an Trung ương tổ chức phổ biến, quán triệt, triển khai Chỉ thị số 48/CT-TW ngày 22/10/2010 của Bộ Chính trị“Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tôi phạm trong tình hình mới
Tác giả: Bộ Công an
Năm: 2010
8. Mai Hữu Bốn (2013), Nâng cao hiệu quả tổ chức và quản lý KCN, khu chế xuất vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, Tạp chí quản lý nhà nước Học viện Hành chính (số 6), tr.73-75, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả tổ chức và quản lý KCN, khu chế xuất vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
Tác giả: Mai Hữu Bốn
Năm: 2013
12. Chính phủ (2014), Nghị định số 106/2014/NĐ-CP ngày 17/4/2014 Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an (thay thếNghị định số 77/2009/NĐ-CP) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 106/2014/NĐ-CP ngày 17/4/2014 Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2014
14. Chính phủ (2018), Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 quy định về Quản lí khu công nghiệp và khu kinh tế (thay thế Nghị định số 29/2008/NĐ-CP) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 quy định về "Quản lí khu công nghiệp và khu kinh tế
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2018
15. Ths. Bùi Thành Chung (2013), Hoạt động của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong phòng chống các tội phạm xâm phạm sở hữu tại địa bàn khu chế xuất, KCN trọng điểm phía Nam – Thưc trạng và giải pháp, Đề tài khoa học cấp Bộ, Đại học Cảnh sát nhân dân, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong phòng chống các tội phạm xâm phạm sở hữu tại địa bàn khu chế xuất, KCN trọng điểm phía Nam – Thưc trạng và giải pháp
Tác giả: Ths. Bùi Thành Chung
Năm: 2013
21. Công an tỉnh Đồng Nai – PA81 (2015), Báo cáo kết quả 10 năm “Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả 10 năm “Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc
Tác giả: Công an tỉnh Đồng Nai – PA81
Năm: 2015
22. Công an tỉnh Đồng Nai (PC45, PC46, PC64), Báo cáo chuyên đề thực hiện Đề án IV, Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm từ năm 2007 đến 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chuyên đề thực hiện Đề
32. Cục Thống kê tỉnh Đồng Nai (2011), Bài tham luận “Lao động nhập cư trong các KCN và vấn đề biến đổi dân số, biến đổi giai tầng xã hội địa bàn tỉnh Đồng Nai (từ năm 2007 đến nay)” tại Hội thảo khoa học đề tài cấp tỉnh: Công nhân tại các KCN tập trung ở Đồng Nai-Những vấn đề đặt ra trong công tác đảm bảo ANTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Lao động nhập cư trong các KCN và vấn đề biến đổi dân số, biến đổi giai tầng xã hội địa bàn tỉnh Đồng Nai (từ năm 2007 đến nay)”
Tác giả: Cục Thống kê tỉnh Đồng Nai
Năm: 2011
34. Lê Văn Cương (2005), "Những giải pháp nâng cao hiệu quả đảm bảo an ninh, trật tự ở các thành phố lớn, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế mở" - Đề tài khoa học KX.07.05 thuộc chương trình khoa học cấp Nhà nước KX.07, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giải pháp nâng cao hiệu quả đảm bảo an ninh, trật tự ở các thành phố lớn, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế mở
Tác giả: Lê Văn Cương
Năm: 2005
35. Nguyễn Chí Dũng (2004), Một số vấn đề về tội phạm và cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm ở nước ta hiện nay, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về tội phạm và cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm ở nước ta hiện nay
Tác giả: Nguyễn Chí Dũng
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
39. Đảng cộng sản Việt Nam, Nghị quyết số 53-NQ/TW ngày 29/8/2005 của Bộ Chính trị về “Phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đông Nam Bộvà vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 53-NQ/TW ngày 29/8/2005 của Bộ Chính trị về “Phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đông Nam Bộ "và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020
40. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, X, XI, XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, X, XI, XII
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
43. Trần Ngọc Đức (2011), Hoạt động phòng ngừa tội phạm kinh tế của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong các khu công nghiệp, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện CSND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động phòng ngừa tội phạm kinh tế của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong các khu công nghiệp
Tác giả: Trần Ngọc Đức
Năm: 2011
44. TS. Phạm Hồng Hải (2000), Tội phạm học Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, Nxb CAND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội phạm học Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: TS. Phạm Hồng Hải
Nhà XB: Nxb CAND
Năm: 2000
45. Đặng Thu Hiền (2013), Hoạt động phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật khác về môi trường tại các KCN theo chức năng của lực lượng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện CSND Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật khác về môi trường tại các KCN theo chức năng của lực lượng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường
Tác giả: Đặng Thu Hiền
Năm: 2013

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w