1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu 1 số biện pháp kỹ thuật trồng xen ngô và cây họ đậu trên đất phù sa sông hồng

132 729 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu 1 số biện pháp kỹ thuật trồng xen ngô và cây họ đậu trên đất phù sa sông Hồng
Tác giả Bùi Thế Hưng
Người hướng dẫn GS. PTS Ha Học Ngo, PGS. PTS Đinh Thộ Lộc
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp I Hà Nội
Chuyên ngành Trồng trọt
Thể loại Luận án tiến sĩ khoa học nông nghiệp
Năm xuất bản 1996
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 11,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn thạc sĩ, tiến sĩ, cao học, luận văn

Trang 1

BUH- é

- #27 $ "“Ì BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP I HÀ NỘI

LUẬN ÁN PHÓ TIẾN SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học :

- GS PTS Ha Hoc Ngo

- PGS PTS Dinh Thé Loc

Hà Nội - 1996

Trang 2

LOI CAM DOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số

liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận án

Bùi Thế Hùng

Trang 3

LOI CAM ON

Thong qud think nghién eitu va hodn thank Luan dn tot xin chan thank edm on su

giải: ẩ5 và góp § quy bau cia GS PIS Ha Hye Ngs vt PGS PIS Dink

"Tai sũng ơõ cùng cảm ơn sự gitif ds quy bau cia hai ban ding nghiện © Nguyễn The Con va Ngo Xuan Mank trong vite hoan thiện luận án

Tụ đu lòng tới xin biết on cha mẹ tôi đã nuối Áạu tối nến người ơà hoàn thành

su nghizh khoa hye cia mink Toi khang the’ quén su giip 15 vé cong siie, vat chat vd

su Ang vién alia vy vd ede con tot; néis Along tat khong thé‘ hodn thank luận án nàu

Ngay 28 tháng 12 nấm 1996

Bai The Hing

Trang 4

Muc Luc

S6 trang

MO DAU sce

Chương 1: TONG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU s.e- Ố

1.1 MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHOA HỌC TRONG NGHIÊN CỨU TRONG

1.1.1 Đánh giá thuận lợi về trồng Xen -. -«-««-ee<-e« 386148184 21,áxsg0 7

1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRỒNG XEN

1.2.1 Phân tích những mối quan hệ cạnh tranh is 1.2.2 Những đại lượng cạnh tranh ===— 1 sosessreesssree

1.2.2.1 Hệ số sử dụng đất tương đương (Land Equivation Ratio - LER)13

1.2.2.2 Hệ số quần tụ tương đối (Relative Crowding Coefficient-K) 14 1.2.2.3 Hệ số cạnh tranh (Competition Coeficient - C) 14 1.2.2.4 Độ xâm thực (Aggressivity - A)

1.2.2.5 Chỉ số cạnh tranh (Competition Index - Donald - C)

1.2.2.6 Chỉ số tương đương calor (Calorie Equivalent),

1.2.2.7 Tỷ lệ canh tranh (Competition ratio)

1.2.2.8 Tién loi tong s6 (Gross Retums) =

1.3 CO SO KHOA HOC CUA NHUNG SỰ THAY DOI VE NANG SUAT

TRONG TRONG XEN

1.3.1.1 Lợi dụng sự khác nhau về thoi điểm sinh trưởng - 15

1.3.1.4 Bảo vệ đất chống xói mòn và giữ ẩm cho đất - 22

1.3.1.5 Chế độ dinh dưỡng và những thuận lợi về năng suất trồng xen 23

Trang 5

ii

1.3.2.1 Trồng xen và phòng trừ có đại

1.3.2.2 Trồng xen với phòng trừ sáu hại và dịch bệnh

1.3.2.3 Trồng xen với sự ổn định năng suất

1.4 NHỮNG NGHIÊN CỨU GẦN ĐÂY VỀ TRỒNG XEN NGÔ VỚI ĐẬU

TƯƠNG VÀ LẠC

1.4.1 Trồng xen đậu với ngô góp phần tăng diện tích cây đậu

1.4.2 " Thời điểm" trồng xen ngô - đậu Ni2)0044014/35610008146306

1.4.3 Giống ngô và đậu trồng Xen - s‹<« ú

1.4.5 Chế độ nước và dinh dưỡng trong hệ thống trồng xen ngô đậu .33 1.4.5.1 Chế độ nước

1.4.5.2 Chế độ dinh dưỡng và bón phân cho ngô đậu trồng xen 1.4.6 Xen ngô đậu tăng năng suất protein và tăng thu nhập 34

1.4.6.1 Trồng xen ngô - đậu tăng năng suất protein

1.4.6.2 Trồng xen ngô - đậu tương tăng thu nhập

1.5.3 Nghiên cứu trồng xen ngô và đậu, lạc trong thời gian gần đây 36

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP BỐ TRÍ THÍ NGHIỆM 37

2.2.1 Địa điểm thí nghiệm

2.2.1.1 Vị trí địa lý

2.2.1.2 Đất thí nghiệm

2.2.1.3 Lịch sử của đất thí nghiệm

2.2.1.4 Tình hình thời tiết khí hậu Hà nội sẻ

2.2.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm -. -s-sec«c<<ceceeeeee 40

Trang 6

iil

2.2.2.1 Nội dung 1: ảnh hưởng của sự sắp xếp không gian phản ứng

với trồng xen ngô đậu -.40

2.2.2.2 Nội dung nghiên cứu 2: Nghiên cứu tỷ lệ trồng xen ngô + lạc.41 2.2.2.3 Nội dung nghiên cứu 3: ảnh hưởng của "' thời điểm ém" sinh

trưởng của một số giống ngó, đậu đến sinh trưởng, năng suất và mối quan hệ cạrt]: frdnÌ -s<css<kekesesestsessiekeresrsrsrsrsnersserereeee 45 2.2.3 Vật liệu nghiên cứu

2.2.5.1 Thời tiết khí tượng

3.1 SỰ SẮP XẾP KHÔNG GIAN (HÌNH THỨC TRỒNG XEN) ĐẾN NĂNG

SUAT NGO CUA HỆ THỐNG TRỒNG XEN -

3.1.1 Hình thức trồng xen và sinh trưởng của ngô và đậu tương

3.1.2 Ảnh hưởng của hình thức trồng xen đến năng suất ngô và đậu

tương es959550808900030 —_— 9945099969009 8030 ƒẮ—— 1 sbstg84axxa

3.1.3 Hình thức trồng xen ngô và đậu tương và mối quan hệ cạnh

3.2.1 Tìm hiểu tỷ lệ trồng xen ngô - lạc lãNgghưk¿ xa (Đổ,

3.2.1.1 Tỷ lệ trồng xen ngô + lạc đến sinh trưởng của ngô

3.2.1.2 Ảnh hưởng của tỷ lệ trồng xen ngô + lạc đến cấu thành năng

suất và năng suất hệ thống -««-«eeeeeeeeeeeeteereersereerrrerrree 64

Trang 7

iv

3.2.1.3 Tỷ lệ trồng xen ngô + lạc đến hiệu quả kinh tế

3.2.1.4 Tỷ lệ xen ngô + lạc và mối quan hệ cạnh tranh

3.2.2 Tìm hiểu tỷ lệ trồng xen ngô và đậu tương

3.2.2.1 Ảnh hưởng của tỷ lệ xen đến sinh trưởng của ngô và đậu

ELOY: <0-orvovvvrevevsecosvraenssanessecanavesessasesbasesenssercerevevenseverennsenyvessansenezeoonensred 71

3.2.2.2 Anh hưởng của tỷ lệ trồng xen ngô + đậu tương đến sự phát

triển bộ rễ đậu tương

của đậu LƯƠE - «cs©c«se<cesrseeeereeererrrreraerrrrrterarnrrsrrerrerreerrersee 73 3.2.2.4 Tỷ lệ trồng xen ngô + đậu tương quan hệ tới năng suất và hệ số

3.2.2.5 Tỷ lệ trồng xen ngô và đậu tương đến mối quan hệ cạnh tranh 77

3.3 QUAN HỆ GIỮA THỜI ĐIỂM SINH TRƯỞNG VÀ ĐẶC TÍNH GIỐNG

NGÔ VÀ ĐẬU ĐẾN TRỒNG XEN riirrie 81 3.3.1 Nghiên cứu giống ngô và tỷ lệ trồng xen ngô và đậu tương đông 81

3.3.1.1 Tỷ lệ trông xen ảnh hưởng đến sinh trưởng của các giống ngô trồng xen với đậu LUON . -+<<c«-<=sesetseesesstseeskieesessrie 81

3.3.1.2 Quan hệ giữa giống ngô và tỷ lệ trồng xen đến các yếu tố

3.2.1.3 Ảnh hưởng của giống ngô và tỷ lệ trồng xen ngô + đậu tương đến năng suất, hệ số sử dụng đất tương đương (LER) và hiệu quả kinh

3.3.2 Giống ngô và đậu tương trong trồng xen ngô - đậu tương 90

3.3.2.1 Diễn biến chiêu cao và thời gian sinh trưởng của ngô

và JẬU ƯƠN snovasnsnssssanssssssenusnceosessoscnseteconsvonenssesstsansessassonansebensousnssnsess 90

3.3.2.2 Giống ngô và đậu tương ảnh hưởng đến chỉ số diện tích lá (LAI) của hệ thống trồng Xén -«<ce<se«ccecccecceeereerkree 91 3.3.2.3 Giống ngô và đậu tương với năng suất hệ thống trồng xen 94

Trang 8

3.3.2.4 Quan hệ giữa giống ngô và đậu tương trồng xen đến hiệu quả

kinh: ẨẾ << << SE Họ tgngmgndiismirrenrrrreSE100700070910009090005 79-4” 97 3.3.2.5 Giống ngô và đậu tương trồng xen trong mối quan hệ cạnh EATAN, o.avevsernocesesersncsensonorcserssvenessoossneoooeonsnessensepuesenceccesnarenennspisssussetsesede: 98 3.3.3 Các loại đậu ( đậu côve, đậu côbơ và đậu tương) trồng xen với nBÔ l 34bEL433461518.20446L3612001406653388 6033443386 Xštj.k»V3zZs6ã520 6350508030460 „.100

3.3.3.1 Các loại đậu trồng xen ảnh hưởng đến chiều cao ngô 100

3.3.3.2 Các loại đậu trồng xen ảnh hưởng đến độ ẩm, nhiệt độ không

khí Vũ TP: Gas eb s2 s51 5515e4612864618155182SiB11e:344g4zg85E51gLE88Gãc:846616858g059560439EA 101

3.3.3.3 Năng suất hệ thống trồng xen ngô với đậu côve, côbơ và đậu

tương

Chương 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 18H t20/1201G50408030/ 106 J; KẾT THẬN” tunoskenninniekanhkdinnrdiiaiLA021421G7-02388.0800801321.0324i144243802g.205080 106 bR2)2 c);i00 Ô ÔÔ,ÔÔÔÔ 108 TÀI LIỆU THAM KHẢO “ errr ere sacseounoae 109

Trang 9

vi

MỤC LỤC BẰNG

Số trang Bảng 2.1 Thành phần cơ giới và hoá học trên lớp đất mặt (0 - 15cm)

Bảng 2.2 Số liệu khí tượng đài Láng Bảng 3 ] Ảnh hưởng của hình thức trồng xen đến sinh trưởng và phát

dục của ngô và đậu tương

Bảng 3 2 Ảnh hưởng của hình thức trồng xen đến năng suất ngô và đậu

TEDMWĂE-.uccoeoccaee

Bảng 3 3 Ảnh hưởng của hình thức trồng xen đến mối quan hệ cạnh

tranh tới hình thức trồng xen

Bảng 3 4 Ảnh hưởng của tỷ lệ xen ngô + lạc đến sinh trưởng của ngô 63 Bảng 3 5 Ảnh hưởng của tỷ lệ trồng xen ngô + lạc đến cấu thành năng

Bảng 3 6 Ảnh hưởng của tỷ lệ trồng xen ngô + lạc đến hiệu quả kinh tế .68 Bảng 3 7 Ảnh hưởng của tỷ lệ trồng xen ngô + lạc đến mối quan hệ

Bảng 3 8 Ảnh hưởng của tỷ lệ xen đến sinh trưởng chiều cao của ngô và

Ga trong (Cmi) csssensessaessessssansseseceenennesecuessccsesenvensesatensssncnseenion q2

Bảng 3 9 Ảnh hưởng của tỷ lệ trồng xen ngô + dau tương đến sự phát

tridn Ofte 78 GAD NON G, -.ssvsscrecssseresescsnannnusssonencccessaasaneressoenesesioenr 73 Bảng 3 10 Ảnh hưởng của tỷ lệ trồng xen ngô + đậu tương đến phát dục

Bảng 3 1] Ảnh hưởng của tỷ lệ xen ngô + đậu tương đến năng suất, hệ

số sử dụng đất tương đương (LER) và thu nhập của hệ thống 75

Trang 10

vii Bang 3 12 Ảnh hưởng của tỷ lệ trồng xen ngô và đậu tương đến mối

quan hệ cạnh tranh

Bảng 3 ]3 Ảnh hưởng của tỷ lệ xen đến sinh trưởng của hai giống ngô

(Q; và LVN ;) trồng xen với đậu tương

Bảng 3 14 Ảnh hưởng của giống ngô và tỷ lệ xen đến các yếu tố cấu thành

Bảng 3 ]5 Ảnh hưởng của giống ngô và tỷ lệ xen ngô và đậu tương đến

năng suất, hệ số sử dụng đất tương đương (LER,) và hiệu quả

kiiẩty KẾ của hệ HIẾU onc cpe cesses cere Sbaasvcncsreassrionsncusesasropanvessazsuicens §7 Bang 3 16 Anh hưởng của giống ngô và tỷ lệ trồng xen ngô + đậu tương

tiến mối quan hệ cạnh tPRnB, oooseeseeeseeeeesesssereserenrnsrornererrirre 89

Bảng 3 I7 Diễn biến chiều cao cây của ngô và đậu tương (cm)

ngô đến chiều cao cây ngô -«-cceccrieerierrierrieeriier 100

Bảng 3 23 Ảnh hưởng của một số loại đậu (côve, côbơ, đậu tương) trồng

xen với ngô đến nhiệt độ, độ ẩm không khí và độ ẩm đất 102 Bảng 3 24 Ảnh hưởng của đậu côve, côbơ và đậu tương đến năng suất hệ

thống trồng xen cây ngô - c+ccseteriererrrrrerrrrrrer 103

Trang 11

ngô + lạc ở tỷ lệ xen khác nhau

Hình 3 3 Năng suất trồng xen ngô và lạc ở các tỷ lệ xen khác nhau

Hình 3 4 Hàm tương quan giữa thu nhập hệ thống (Y) và tỷ lệ trồng lạc

Hình 3 5 Năng suất hệ thống trồng xen ngô + đậu tương ở các tỷ lệ xen

KHÍC nHữN: cossssocvecocsneonisnkeesseseckeoneiinisevAEAAE7015080040551001801848005180430 76 Hình 3 6 Hệ số sử dụng đất tương đương (LER) của hệ thống trồng xen

ngô + đậu tương ở các tỷ lệ xen khác nhau . 77 Hình 3.7 Hàm tương quan giữa năng suất hệ thống (Y) và tỷ lệ đậu tương

trong xen (X) Hình 3 8 Biểu đồ năng suất của hệ thống trồng xen hai giống ngô và đậu

tương ở các tỷ lệ xen khác nhau -. -«~c-<+eeexerer 88

Hình 3 9 Động thái chiều cao cây theo thời gian sinh trưởng giữa các cặp

trồng xen ngô + đậu tương -+cesreerersrrrserrrrreerrrel 93

Trang 12

MO DAU

Người nông dân ở các nước đang phát triển thường hay trồng hai hay nhiều hơn các cây trồng cùng trên một mảnh đất Kỹ thuật canh tác này đã trải qua nhiều thế kỷ Ở Ấn Độ người ta sử dụng 84 cây trồng trong trồng xen,

nhưng ít khi tìm thấy nhiều hơn 4 cây trồng đồng thời; thường người ta trồng

từ 2 đến 3 loại cây trồng Tuy nhiên trong hệ thống canh tác vườn nhà với hệ

thống đa tầng (Multistorey system) có thể đạt đến 5 - 6 cây cùng chung sống ở

các tầng không gian khác nhau Trên cùng một vạt đất nếu có nhiều loại thực

vật cùng nhau chung sống, thì vạt đất ấy có thể nuôi dưỡng được một số lượng

cá thể nhiều hơn là so với số lượng cá thể của một loài sống riêng trên vạt đất

đó (Bùi Huy Đáp, 1967)[5]

Việc trồng xen các cây trồng cùng nhau chủ yếu nhằm làm giảm sự rủi

ro Người nông dân cho rằng nếu các cáy trồng cùng trồng một thời gian thì ít nhất một cây trồng sẽ sống sót và cho thu hoạch Đây chính là tính bền vững của hệ thống Ngoài ra còn có những nguyên nhân khác: Thường người ta tìm

những cây ngắn ngày trồng xen với cây dài ngày; điều này giúp cho việc rải lao động Những cây lương thực luôn được trộn lẫn với cây công nghiệp để

giúp bảo đảm cả hai thu nhập là lương thực và tiền mặt Những cây ngũ cốc và

cây họ đậu thường được trộn lẫn, có thể vì lý do đảm bảo bữa ăn cũng như đối với hiệu quả về sử dụng đạm cho cây ngũ cốc hoặc cho một cây trồng theo sau Những cây che bóng được trồng với cây chịu bóng tạo nên hệ sinh thái đa

tầng Thường người ta bố trí cây cao và cây thấp, cây gỗ và cây bụi, cây sử

dụng đất và cây bồi dưỡng đất Cũng có khi vì lý do khống chế sự phát triển của sâu bệnh và cỏ dại Rõ ràng hệ thống trồng xen là hệ sinh thái nhân tạo

Trang 13

wv

được người nông dân ở nhiều nước đặc biệt ở những nước vùng nhiệt đới áp đụng từ lâu đời

Nghiên cứu về trồng xen là việc khai thác những thực hành truyền thống

và cải tiến nó nhằm tìm hiểu tại sao người nông dân lại sử dụng kỹ thuật trồng lẫn và để giúp họ cải tiến năng suất và kỹ thuật thích đáng Ngày nay, người ta

đã biết rằng trồng xen có một số thuận lợi hơn trồng thuần như việc sử dụng

nguồn tài nguyên thiên nhiên tốt hơn như ánh sáng, đất, nước Nó cũng có

một vài ích lợi về vấn đề dịch bệnh (với các kết quả khác nhau hơi khó kết luận) Thuận lợi của việc trồng xen cây họ đậu và cây hoà thảo đã tiết kiệm

việc sử dụng phân đạm như đã được khẳng định Những thuận lợi này chỉ ra

lợi ích cuối cùng là năng suất, tăng 70 % so với trồng thuần trên cùng một

mảnh đất (Sweicz G., 1985 [97]) Những loại thực vật khác nhau có những nhu

cầu khác nhau đối với các điều kiện sinh sống: nước, ánh sáng, chất màu trong

đất Nếu loại này cần yếu tố này, thì loại loại kia có thể cần yếu tố khác

Cũng vì vậy mà trong thực tiễn sản xuất, người ta có thể trồng xen hoặc trồng gối nhiều cây trồng khác nhau mà vẫn bảo đảm cho cây trồng nào cũng sinh

trưởng và phát dục tốt (Bùi Huy Đáp, 1967 [5])

1 Tính cấp thiết của đẻ tài :

Trồng xen là một kỹ thuật bình thường của hầu hết những người nông dân nhỏ đặc biệt những vùng không có tưới Việc nghiên cứu tại Viện nghiên

cứu cây trồng cạn quốc tế tại Ấn Độ (ICRISAT) đã nhận ra rằng một hệ thống

trông xen nào đó chỉ thích ứng trong hệ thống canh tác và trong những phạm

vi xã hội, kinh tế và kỹ thuật mà người nông dân đang sống; do vậy nó không giống nhau và cũng không thể áp dụng cứng nhắc kinh nghiệm từ bên ngoài

Trồng xen có những thuận lợi hơn trồng thuần Trồng xen là hiệu quả và thực hành "lành mạnh môi trường” hơn trồng thuần Các cơ sở dịch vụ nông nghiệp và tổ chức tài chính cần hiểu thực tế này và giúp người nông dân mở

Trang 14

rộng những diện tích trồng xen của họ Đây cũng là khuynh hướng dẫn đến sự

thay đổi chính trong suy nghĩ của những tổ chức nghiên cứu và cán bộ nông nghiệp Trước đây, một số nhà khoa học nông nghiệp vẫn coi thường kỹ thuật canh tác cổ truyền, đôi khi còn cho là lạc hậu Trái lại tránh khuynh hướng kinh nghiệm chủ nghĩa, áp dụng kinh nghiệm cũ một cách máy móc, thiếu cân

nhắc, phê phán và không cải tiến nó một cách hợp lý Do vậy nghiên cứu trồng xen trên cơ sở phát huy kinh nghiệm và kỹ thuật bản địa, đồng thời nghiên cứu

và cải tiến chúng một cách khoa học và thích ứng cao

Phần lớn nông dân ở các nước đang phát triển cũng như ở nước ta vẫn

phải đương đầu với sự nghèo khổ, đói và thiếu dinh dưỡng Cùng với quá trình

đô thị hoá, những vùng đất màu mỡ đã bị lấn chiếm bởi các khu công nghiệp

và mở rộng đô thị Bên cạnh đó áp lực về dân số ngày một tăng nhanh dẫn đến bình quân đất canh tác trên đầu người giảm đi nhanh chóng Những mâu thuẫn

trên đòi hỏi khoa học nông nghiệp cần được xem xét để khai thác hiệu quả đất

đai nông nghiệp nhằm nâng cao "sức mang” của đất nông nghiệp trong việc

nuôi sống sinh vật nói chung hay con người nói riêng

Wood I.M va Myers M.LK (1987) [119] có nhận xét ở Châu Á biện

pháp canh tác được thực hiện bằng tay nên đã tạo điều kiện cho kỹ thuật trồng

xen phát huy tác dụng

Nông dân ta đã có kinh nghiệm trồng xen, trồng gối từ lâu đời Đây là một phương pháp canh tác thích hợp với điều kiện thiên nhiên của một xứ nhiệt đới có nhiều thuận lợi cần khai thác, đồng thời lại có nhiều khó khăn cần

khác phục Trồng xen, trồng gối cũng là một hình thức sử dụng đất phù hợp

với điều kiện kinh tế nông nghiệp của một nước có cơ sở vật chất và kỹ thuật

còn thấp, có diện tích canh tác bình quân cho đầu người ít, còn phải sử dụng

nhiều lao động thủ công và sản lượng cây trồng chưa ổn định Vì vậy, trong quá trình sản xuất nông nghiệp lâu đời, nông dân ta từ Bắc chí Nam đã áp

Trang 15

dụng phương pháp trồng xen, trồng gối một cách sáng tao với nhiều hình thức

phong phú, thích hợp với điều kiện của từng địa phương, với tình hình thời tiết,

tính chất đất đai, tập quán canh tác và yêu cầu của cây trồng trong từng điều

kiện nhất định

Những kinh nghiệm trồng xen, trồng gối phong phú của nông nghiệp

nước ta cũng là cơ sở để xác định quy luật có giá trị phổ biến trong sinh học

cũng như trong khoa học nông nghiệp Tuy nhiên nhiều kinh nghiệm chưa được tổng kết đánh giá và chưa được kiểm chứng lại qua nghiên cứu Trong thực tế nhiều địa phương áp dụng các biện pháp trồng xen chưa hợp lý nên dẫn đến năng suất cây trồng chính lẫn cây trồng xen đều giảm sút (Ngô Thế Dân,

1991{3))

Đây là một trong những biện pháp sinh học ít tốn kém, có hiệu quả cải tạo đất, chống xói mòn, tạo nên hệ sinh thái nhân tạo, nâng cao năng suất hệ thống và thu nhập của người nông dân Những năm gần đây, trồng xen là một

đề tài hấp dẫn cho những nhà nghiên cứu nông nghiệp về lợi ích năng suất, thu nhập và sự bền vững về năng suất trong những điều kiện khác nhau đồng thời

thích hợp với những ngươì nông dân nghèo ít đất, dư thừa lao động Ngày nay trồng xen đã phát huy tác dụng trong các hệ thống canh tác khác nhau như hệ

thống VAC, hệ thống vườn nhà, hệ thống che bóng cây công nghiệp : chè, cacao, hệ thống Taungya, hệ thống nông lâm sản xuất gỗ, hệ thống cây hành lang (Alley cropping), trong kỹ thuật canh tác đất dốc

Trồng xen là một biện pháp kỹ thuật canh tác, là nội dung của hệ thống

trồng trọt nhằm mục đích :

1 Chống lại sự thất thu của cây trồng trong điều kiện bất lợi

2 Tăng năng suất, thu nhập ( của hệ thống ) trên đơn vị diện tích

Trên cơ sở khoa học thực tiễn trên chúng tôi đã nghiên cứu trồng xen,

dùng ngô và đậu tương làm đối tượng nghiên cứu với đề tài :

Trang 16

" NGHIÊN CỨU MOT SO BIEN PHÁP KY THUẬT TRONG XEN NGO

VÀ CAY HO DAU TREN DAT PHU SA SÔNG HỒNG"

2 Mục đích và yêu cầu :

2.1 Muc dich :

Nghiên cứu một số biện pháp trồng xen giữa ngô và cây họ đậu nhằm

xây dựng cơ sở lý luận khoa học cũng như quy trình kỹ thuật thâm canh trên

cơ sở khai thác nguồn tài nguyên đất đai, khí hậu nhằm nâng cao năng suất, hiệu quả kinh tế và đảm bảo tính bền vững của hệ thống trồng xen

2.2 Yêu cầu :

e Xác định được sự sắp xếp không gian tối ưu trong trồng xen giữa ngô và

đậu

e Xác định được tỷ lệ trồng xen thích hợp giữa các giống ngô và các giống

đậu tương với các đặc tính sinh học khác nhau

e Tìm hiểu mối quan hệ sinh học (sinh trưởng và phát dục) và quan hệ cạnh

tranh hợp lý giữa ngô và đậu tương trong quá trình chung sống

e Xác định hiệu quả kinh tế của kỹ thuật trồng xen.

Trang 17

Chuong 1

TONG QUAN TINH HINH NGHIEN CUU

1.1 MOT SO GIAI PHAP KHOA HOC TRONG NGHIEN CUU TRONG

XEN

Trước tiên, như một tiêu dé gợi ý, cần khái quát về một giải pháp khoa học được gợi ý đến nghiên cứu trồng xen Trong thuật ngữ đơn giản nhất, điều này có nghĩa là một giải pháp thích hợp dựa trên những nguyên lý khoa học sẽ

cho chúng ta ý tưởng tốt nhất để trả lời những gì chúng ta cần Thuật ngữ

trồng xen “'Imercropping'' đã được Willey R.W., 1979 [113] định nghĩa

rằng: "Khi hai hay nhiều hơn những cây trồng được trồng cùng nhau trên cùng mảnh đất, những cây trồng này có thể cùng gieo hoặc thu hoạch cùng hoặc

khác thời gian"

Thuật ngữ này muốn phân biệt giữa những hệ thống dựa vào sự sắp xếp

không gian trong đó có sự cạnh tranh giữa các loại cây trồng So với trồng

thuần chỉ có sự cạnh tranh giữa cùng một loại cây trồng Trồng xen có thể cho

năng suất cao hơn trồng thuần đáng kể trong một mùa vụ nhất định Trồng xen còn được gợi ý rằng nó cho sự ổn định lớn hơn qua các mùa khác nhau, đây là

nguyên nhân cơ bản mà trồng xen được phát triển ở mọi nơi Những vấn đề

này trong nghiên cứu trồng xen bị sao nhãng hoặc bỏ quên Trên cơ sở về tầm quan trọng của những thuận lợi này bằng cách nào đó những nhà nghiên cứu phải thể hiện cả đầu tư cho nghiên cứu cao và cách trồng những cây trồng cùng nhau sao để những người nông dân nghèo thu được lợi ích nhiều mà tốt hơn trồng một cây.

Trang 18

Willey R.W., 1979 [111] cho rang trong trường hợp năng suất cao hơn

trong một mùa xác định, trồng xen được gợi ý rằng những phương thức mà người nông dân có thể mang lại là:

1 Sử dụng nguồn tài nguyên tốt hơn (nước, ánh sáng, đất .)

2 Ít xây ra dịch bệnh và cỏ dại

3 Đạm được sử dụng một cách hợp lý khi có mặt cây họ đậu

Vấn đề thứ nhất ngày nay đã được chứng minh và có thể quan trọng

nhất và hầu như có thể áp dụng rộng rãi Nhưng rõ ràng hai vấn đề sau ít nhiều

chưa được xác định, có những trường hợp là đúng ít xảy ra dịch bệnh, có

trường hợp xảy ra lớn hơn Vì thế, nó cũng chưa được khẳng định và cần được

cố gắng nghiên cứu nhiều hơn nữa

Trước khi chúng ta xem xét những thuận lợi một cách chỉ tiết hơn,

người ta cũng thấy những bất lợi của trồng xen như có nhiều khó khăn trong

thực hành trồng xen và việc giảm năng suất thực có thể xảy ra và những ảnh

hưởng cạnh tranh đa dạng (allelopthic effects) (Donald,1963 [41], Harper,

1961 [47]; Rice 1974 [82]; Risser,1969 [83]) hoặc khả năng xảy ra dịch bệnh lớn hơn (Pinchinet , 1975[75]) Nhưng những tình hình đa dạng này chưa bao

giờ thảo luận phản đối trồng xen, hơn nữa họ nhắc nhở chúng ta rằng một trong những mục tiêu cơ bản cần hơn của các nghiên cứu trồng xen là để nhận

ra những tình hình đó là có lợi hoặc không

1.1.1 Đánh giá thuận lợi về trồng xen

Aiyer, 1949 [23 ] đã nêu những thuận lợi sau:

a Sự ồn định năng suất lớn hơn trải qua những mùa khó khăn

b Sử dụng tốt hơn những nguồn tài nguyên thiên nhiên (ánh sáng, nước

và độ phì )

c Khống chế cỏ dại, dịch hại và bệnh tốt hơn

d Một cây hỗ trợ cho các cây khác (trầu không trồng với cau )

Trang 19

e Một cây phòng hộ cho cây khác (trồng chè dưới bóng Albizzia)

† Chống sói mòn nhờ tán lá che phủ trên mặt đất

g Thích hợp với những người nông dân nhỏ

Qua một vài nhà khoa học tranh luận về những thuận lợi của trồng xen, vẫn thường có những lẫn lộn về những mặt thuận lợi và mức độ chính xác của

thuận lợi là gì Điều này là do nó không luôn luôn được đánh giá đúng đắn

đến những tình hình trồng xen khác nhau phải được đánh giá bằng chỉ tiêu

Willey R.W., 1979[114 ] goi ¥ c6 3 tinh hinh co ban:

1 Khi năng suất của những cây trồng xen phải vượt năng suất của những cây trồng thuần năng suất cao hơn

Đây là một chỉ tiêu được sử dụng truyền thống để đánh giá việc trồng

lẫn ở đất đồng cỏ (Van den Bergh 1968 [108]; Donald,1963 [41]) Nó có thể

thích hợp đối với việc đánh giá việc trồng lẫn các cây trồng tương tự hoặc trồng lẫn ở các loại giống trong cùng một cây trồng Chỉ tiêu dựa vào giả thiết rằng năng suất của mỗi cấu thành có thể chấp nhận bằng nhau, yêu cầu của người nông dân đơn giản không hề xem xét những yếu tố đóng góp vào năng suất tối đa

2 Khi trồng xen phải cho đây đủ năng suất của một cây trồng chính

cộng với năng suất bổ sung của cây trồng thứ hai

Chỉ tiêu này có thể thường áp dụng với những nơi trồng một vài cây lương thực thiết yếu hoặc cây lấy tiên trị giá cao Vấn dé nay 6 Ấn Độ đã được nhận thức khá đây đủ

3 Khi năng suất trồng xen phối hợp phải vượt năng suất của từng cây

trồng thuần cộng lại

Điều kiện này áp dụng ở những nơi người nông dân trồng cả hai (hoặc tất cả) những cây trồng tham gia trồng xen để thoả mãn đòi hỏi về ăn, để phân

Trang 20

bổ lao động, để bảo vệ chống lại sự may rủi của thị trường Cơ sở của việc

đánh giá trồng xen cho năng suất nhiều hơn trồng các cây riêng rẽ Điểm quan trọng ở đây là yêu cầu năng suất trồng xen liên kết không nhất thiết vượt nang

suất của cây trồng thuần cao nhất

Hai nguyên nhân quan trọng để nhận ra những chỉ tiêu khác nhau này

Trước hết, nó giúp để bảo đảm rằng nghiên cứu trên một tổ hợp đã cho được định hướng vào những công thức thích hợp với biện pháp canh tác Thứ hai, nó bảo đảm rằng những thuận lợi về năng suất được đánh giá đúng đắn, mức độ

số lượng được xem xét thoả đáng Hai yếu tố trên là quan hệ đường thẳng:

Trong tình trạng trên thuận lợi về năng suất hệ thống trồng xen vượt năng suất

của cây trồng thuần có năng suất cao hơn Trong điều kiện thứ hai là năng suất của cây trồng chính với năng suất cây trồng thứ hai cộng thêm Nhưng tình hình thứ ba thường có những vấn đề tồn tại vì nó chưa rõ ràng và thậm trí ngày nay chưa được chấp nhận

Tỷ lệ nào của những cây trồng thuần để năng suất cây trồng thuần liên

kết nên dùng để so sánh Điều này đã được nhấn mạnh một thời gian trước đây ( Willey và Osiru, 1972 [116]) Nó thường không giá trị khi so sánh trên cơ sở

tỷ lệ gieo (thí dụ 1ha 50:50 cây trồng xen đã so sánh với 0,5 ha của mỗi cây trồng thuần), vì sự cạnh tranh trong tình trạng trồng xen thường sản sinh một

tỷ lệ năng suất cuối cùng khác nhau do tỷ lệ gieo Việc xem xét hiệu quả đã

dựa trên tỷ lệ năng suất mà hiện nay được làm bình thường bằng cách sử dụng

hệ số sử dụng đất tương đương (LER) với cách đơn giản nhất có thể được định

nghĩa như diện tích của những cây trồng thuần mà nó yêu cầu để sản xuất ra

năng suất đã thực hiện bởi trồng xen Ngày nay được biết rằng giá trị LER ít hơn 1, bằng 1 hoặc lớn hơn 1 tương ứng với không thuận lợi về năng suất, không khác nhau hoặc thuận lợi hơn về năng suất đối với trồng xen Thí dụ LER là 1,20 điều đó chỉ ra thuận lợi về năng suất là 20%.

Trang 21

10

Ở ICRISAT người ta sử dụng khái niệm LER cho cả hai hay nhiều cấu

thành riêng nào đó (LER từng phần) và cho năng suất trồng xen liên kết (LER, tổng số) vì nó đặt những cây trồng hoặc điều kiện khác nhau trên một cơ sở có

thể so sánh; bổ sung thêm việc đo thuận lợi về năng suất, nó cũng có thể được

sử dụng để chỉ ra những ảnh hưởng của sự cạnh tranh (Willey R.W., 1979

[114]

Tuy nhiên, LER, cần thiết chỉ ra hiệu quả của trồng xen đã so sánh với

trồng thuần Đôi khi có những vấn đề những thuận lợi của LER có quan hệ

một cách có nghĩa trong thực hành Những vấn đề này nổi lên vì tỷ lệ của

những cây trồng thuần với năng suất trồng xen liên kết được so sánh có hiệu quả nó được xác định như một kết quả của sự cạnh tranh trồng xen

Một tỷ lệ chính xác về trồng xen hình như đôi khi chỉ là khái niệm lý thuyết hơn là trồng xen thực của người nông dân (Willey R.W., 1979 [114])

Hơn thế nữa, khi xem xét LER, khác nhau trong khoảng những công thức thí nghiệm, nó có thể không hợp lý khi giả thuyết rằng những tỷ lệ khác nhau của

cây trồng lại được người nông dân chấp nhận như nhau

1.1.2 Những bất lợi của trồng xen

Trồng xen không hoàn toàn chỉ có lợi một khi:

a Năng suất giảm vì ảnh hưởng của sự cạnh tranh trái ngược

b Ảnh hưởng có hại của cây này đến cây khác

c Ngăn cản hoạt động cơ giới cho làm cỏ xới xáo, nhất là những cây

trồng xen có đòi hỏi khác nhau về phân bón, thuốc trừ cỏ, trừ sâu

d Những người nông dân khá giả có thể không thích trồng xen

Rõ ràng không phải trường hợp nào trồng xen cũng mang lại hiệu quả

Những nghiên cứu gần đây cũng chỉ ra những bất lợi của trồng xen

Theo Lê Song Dự (1967) [4], trồng xen lạc, đậu xanh với mía, nếu tật

thu đậu, lạc sẽ làm giảm năng suất mía.

Trang 22

11

Limbaga C M (1989) [58] Khi nghiên cứu về trồng xen ngô, lạc và đậu tương với chuối ở Philippin đã có nhận xét là tất cả các công thức trồng xen đã giảm so với năng suất thực của nó Tương tự, theo Mehta H., Sharma S.K Rama S.D (1986)(68] trồng thuần đã cho các chỉ tiêu về hạt hơn trồng xen Sharma S.K., Miehta H (1988) [91] khi nghiên cứu trồng xen ở Ấn độ đã

kết luận rằng trồng xen đã làm giảm các chỉ tiêu về cấu thành năng suất Sự tương tác giữa hệ thống trồng xen và kiểu hình cây trồng là có ý nghĩa

Aphiphan-Pookpadi, Prasan-Yingchol, Prinya Sriboonruang (1985) [27]

ở Thái Lan đã kết luận rằng năng suất của đậu tương trồng thuần cao hơn khi trồng gối với ngô sau khi trồng ngô 60 ngày

Theo Ngô Thế Dân (1991) [3] thì ở nhiều địa phương do áp dụng các

biện pháp trồng xen chưa hợp lý nên dẫn đến năng suất cây trồng chính lẫn cây trồng xen đều giảm sút nghiêm trọng

Tương tự, Bùi Mạnh Cường và CS (1995) [2], Martin R.C va CS (1990) [61] có nhận xét: Nhìn chung năng suất kinh tế ngô khi trồng xen đậu tương đều giảm so với trồng thuần; mức độ giảm phụ thuộc vào giống và tổ hợp xen 1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÔNG XEN

1.2.1 Phân tích những mối quan hệ cạnh tranh

Hầu hết những phân tích về mối quạn hệ cạnh tranh là được rút ra từ những thí nghiệm trồng kép trong một chuỗi thay thế Luôn luôn có một số công thức chứa những cây trồng thuần của hai loại và một số công thức trồng lẫn đã hình thành bằng cách thay thế những tỷ lệ đã định của một loại với tỷ lệ

tương đương các loại khác Hai cây trồng phát triển có thể quan hệ lẫn nhau

theo những cách sau:

1 Cạnh tranh: Trong quan hệ này, một số nhà khoa học có nhận xét: Năng suất của một cây có thể tăng cùng với việc giảm năng suất của cây khác Điều này cũng được gọi như "sự đến bù" Sau Huxley và Maingu (1978) [50]

Trang 23

Willey R.W., 1979 [114] gọi cây có lợi thế về năng suất là '`cáy trội”” và cây bất lợi về năng suất là "cáy bị lấn áP” (Hình 1.1)

2 Bổ sung: Willey R.W.(1979) [114] đưa ra ý kiến rằng trong trường hợp này năng suất của một cây trồng sẽ giúp cho việc tăng năng suất của cây khác Điều này coi như sự hợp tác lẫn nhau Đây là một khả năng không thường xuyên

3 Phụ thêm: Trong trường hợp này, năng suất của một cây trồng tăng

không ảnh hưởng chút nào đến năng suất của cây khác Trường hợp này thường xảy ra khi thời gian chín của hai cây trồng xen hoặc thời gian sinh

trưởng của chúng khác nhau xa (Willey R.W., 1979 [114])

4 Ngăn cản lẫn nhau: Điều này xảy ra khi năng suất thực của mỗi loại

cây là ít hơn mong muốn Thực ra hiếm xảy ra trong thực tế (Willey R.W.,

1979 [114])

Những ảnh hưởng cạnh tranh kể trên đã được giải thích khi trồng luân phiên hàng hoặc 50% mỗi loại Những thuận lợi về năng suất của trồng xen có thể tìm thấy từ những kết quả thí nghiệm trồng xen cùng loài lúa với những

giống lúa có thời gian sinh trưởng khác nhau được cấy đồng thời trong những

hàng luân phiên Chatterjee và Bhattacharjya (1982) [37] Nói chung, những

thuận lợi về năng suất trong mùa khô là cao hơn mùa mưa; điều này có thể với

điều kiện môi trường trong mùa khô (như chế độ ánh sáng và quản lý nước vv ) là thích hợp.

Trang 24

mprBleo (%2 markt geo (Hyg, "g8i20 (

= năng suất liên kết thực —— „⁄ ñân§ suất dự kiến

1.2.2 Những đại lượng cạnh tranh

Để đánh giá đúng đắn mỗi quan hệ cạnh tranh trong trồng xen, người ta

sử dụng các đại lượng sau:

1.2.2.1 Hệ số sứ dụng đất tương đương (Land Equivation Ratio -

LER)

Trong nghiên cứu trồng xen, việc sử dụng hệ số sử dụng đất tương đương (LER) đã trở nên rất phố biến Hệ số sử dụng đất tương đương của hai cây trồng cũng có thể được lính toán riêng rẽ như LER, va LER,, (Willey

W.R., 1976115]

Trang 25

14

1.2.2.2 Hé s6 quan tu tuong ddi (Relative Crowding Coefficient - K)

Hé s6 quan tu tuong déi (RCC) duge De Wit C.T (1960) [40] dé nghi

và được Hall R.L (1974) [48] kiém tra mot cach chi tiét Neu K<1 6 bat Ioi

về năng suất, nếu K=l không có sự khác nhau và nếu K>1 có thuận lợi về năng suất

1.2.2.3 Hé sé canh tranh (Competition Coeficient - C)

Okigbo (1979)[71] đã sử dụng hệ số cạnh tranh như một phép đo tin

tưởng hơn

1.2.2.4 Độ xam thực (Aggressivity - A) :

Da duge Mc Gilchrish (1965) [62] dé nghi va duoc biéu thi là A Nếu

A =0 biéu thị các cây trồng xen cạnh tranh như nhau, nếu là loài trội thì A là

dương, nếu là loài bị lấn át thì A là âm

1.2.2.5 Chỉ số cạnh tranh (Competition Index - Donald)

Donald (1963) [41] đã đề nghị sử dụng đại lượng này Nếu chỉ số cạnh tranh nhỏ hơn 1 thì có lợi Nếu chỉ số lớn hơn 1 thì sự liên kết là có hại

1.2.2.6 Tương đương Calor (Calorie Equivalent)

Đây là chỉ số có đầy đủ ý nghĩa so sánh hỗn hợp có liên quan đến thực phẩm và có giá trị năng lượng của chúng (Roquib và CS., 1973 [85]; Okigbo,

1979 [71])

1.2.2.7 Tỷ lệ cạnh tranh (Competition ratio)

Tỷ lệ cạnh tranh còn được dùng trong các liên kết trồng xen khác nhau

1.2.2.8 Tiên lời tong sé (Gross Returns)

Tir gid tri calor không ảnh hưởng đến giá trị tiền của đơn vị trọng lượng

hạt khi so sánh với rễ, củ hoặc đậu hạt Tiền lời tổng số dựa vào giá thị trường

đương thời là một chỉ tiêu có day đủ ý nghĩa dùng để so sánh năng suất và tiền

lời của hỗn hợp trồng xen

Trang 26

1.3 CO SO KHOA HOC CUA NHUNG SU THAY DOI VE NANG SUAT

TRONG TRONG XEN

1.3.1 Sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên tốt hơn

Thuận lợi năng suất xảy ra trong trồng xen vì những cây trồng tham gia

trồng xen khác nhau về cách sử dụng nguồn tài nguyên Khi chúng trồng liên kết chúng có thể bổ sung lẫn nhau và như thế sử dụng toàn bộ nguồn tài

nguyên thiên nhiên (như ánh sáng, nước và dinh dưỡng ) tốt hơn khi trồng riêng rẽ Có lẽ cách chính về bổ sung có thể xảy ra là khi nhịp điệu sinh

trưởng của cây trồng trồng xen là khác nhau về thời gian nhờ vậy mà các cây trồng có những yêu cầu của chúng về nguồn tự nhiên ở những thời gian khác

nhau Loại bổ sung này được Trenbath, 1974 [103] và Willey R.W., 1979

[114] dat tên là *'£bời điểm" (Temporal) Mở rộng khái niệm về khả năng bổ

sung “°£hời điểm *đã được nhiều nhà khoa học khác đóng góp

1.3.1.1 Lợi dụng sự khác nhau về thời điểm sinh trưởng

Những thuận lợi cộng chỉ khi sự khác nhau giữa những cây trồng tham

gia có thời gian khác nhau thí dụ: (1) Trồng xen khoai tây sớm hay muộn (Schepers & Sibme, 1976 [22]) và (2) trồng xen các giống lúa sớm và muộn

(Chatterjee va Bhattacharjee, 1981 [37]) Thí dụ những liên kết trồng xen ba cây cho những thuận lợi lớn hơn liên kết trồng xen hai cây, điểu này cùng

nhấn mạnh loại hình bổ sung nầy vì những ảnh hưởng đó có thể phối hợp thời

điểm tốt hơn của các cây Hart (1975) [46], IRRI (1976) [51], Krastz và CS (1976) [55], Wilson và Adeniran (1976) [117], Shelke (1977) [89] cho rằng:

Dé thu được năng suất cao và LER cao cần sắp xếp khác nhau về thời gian sinh trưởng khoảng 45 ngày

Padhi A.K va CS., 1992 [73] da chỉ ra rằng: Trong các công thức trồng xen (đậu triểu + lúa; đậu triều + kê ngón tay; đậu triều + đậu xanh; đậu triều +

Trang 27

dau xanh den va dau triéu + lac)thi công thức đậu triều trồng xen kê ngón tay

đã làm giảm năng suất đậu triều 55.8% Tuy nhiên, ở công thức đậu triều xen với đậu xanh đen thì cả hai cây hỗ trợ lẫn nhau và tăng năng suất cả hệ thống

Kết quả chỉ ra rằng ảnh hưởng xấu trồng xen bắt đầu ở giai đoạn phát triển

sớm

Cũng trên quan điểm ''/hời điểm Lê Song Dự (1967) [4] khi nghiên

cứu về hiệu quả trồng xen của một số cây họ đậu với mía vụ xuân, cho biết:

Trồng xen các loại đậu xanh hoặc đậu đen hái hai lứa quả rồi vùi thân lá sớm cho mía không những không làm giảm sản lượng mía mà còn có xu hướng làm tăng sản lượng mía Trái lại, trồng xen lạc và các loại đậu tận thu quả làm

giảm năng suất mía một cách rõ rệt

Baker (1974)[29] xem xét sự khác nhau vé ‘’thoi diém’”’ là vấn dé quan trọng Ông gợi ý rằng những thuận lợi về năng suất là không giống nhau Nếu không có ít nhất 25% khác nhau giữa hai cây trồng hoặc nếu có ba cây trồng

tham gia thì tổng của hai loại cây trồng sinh trưởng ngắn hơn 1,75 thời gian sinh trưởng của cây dài nhất

Baker và Yusuf (1976) [30] đã thử nghiệm làm rõ vấn để này đối với

một vài hỗn hợp cây lấy hạt Các tác giả đã đưa ra mối quan hệ giữa năng

suất cây trồng thuản (Y) với sự khác nhau về số ngày chín (X) theo phương

Trang 28

17

trồng một số giống lúa có thời gian sinh trưởng khác nhau trong những hàng

luân phiên đã chịu ảnh hưởng rõ hơn việc quan sát của Baker và Yusuf, 1976

(30)

Rosas J.I.O.M và CS., 1988 [77] đã tiết lộ rằng: Chọn cây trồng trong

hệ thống trồng xen đóng vai trò sống còn trong hệ thống Những cây trồng có thời gian sinh trưởng khác nhau như đỉnh cao sinh trưởng không trùng khớp sẽ bảo đảm năng suất thích hợp của cả hai cây trồng cùng chung sống Đối với

những cây trồng có thời gian sinh trưởng dài với tốc độ sinh trưởng chậm ở

thời kỳ đầu Cây trồng xen chín sớm có thể sử dụng năng lượng ánh sáng thích

hợp

1.3.1.2 Lợi dụng khoảng không trong liên kết trồng xen

Chatterjee B.N và Maiti S.(1982) [36] đã viết: '` cùng với sự bổ sung về

"thời điểm'' giữa các cây trồng xen khi sự bổ sung về không gian cũng đóng

góp đáng kể như tán lá liên kết có thể được sử dụng khoảng không tốt hơn, hoặc hệ thống rễ liên kết có thể sử dụng khoảng không về dinh dưỡng hoặc

nước tốt hơn Về lý thuyết phân tích có lợi như vậy nhưng trong thực hành

thường không thể phân biệt Theo Rosas J.I.O.M và CS., 1988 [77] thay đổi

sự sắp xếp không gian có thể tránh sự che bóng

Dương Hồng Hiên (1962) [7] cho rằng Trồng xen tạo điều kiện sử dụng

ánh sáng tốt hơn, nhưng về kỹ thuật trồng xen cần chú ý sự sắp xếp không gian và thời gian cũng như các loại cây trồng

Krishnamoorthy Ch (1977) [54] da dé xuất cơ sở kỹ thuật cho những hệ thống trồng xen được cải tiến là:

1 Quan hệ giữa mật độ cây và năng suất

2 Độ nhậy cảm tương đối giữa năng suất và cấu trúc không gian

Điều khiển cấu trúc không gian là cách giảm sự cạnh tranh lẫn nhau

trong hệ thống xen canh Sự sắp xếp hàng rộng hơn là thích hợp với trồng

tana om |

| LA.434/ 97;

Trang 29

xen Điều này đã được làm bằng cách thay thế một vài hàng cây trồng A với một số hàng cây trồng B (chuỗi thay thế) hoặc bằng cách khoảng cách hốc

trong hàng để làm khoảng cách hàng rộng hơn (chuỗi mật độ đầy đủ) Luân

phiên những hàng của một hoặc cả hai cây trồng được kẹp đôi để thực hiện khoảng không giữa hàng rộng

Mật độ cây thích hợp nói chung cao hơn trồng thuần và cấu trúc không gian tốt hơn sẽ kéo theo sự tăng năng suất của các cây trồng xen và hệ số sử dụng đất tương đương (LER) của hệ thống

nhiều tác giả đề cập đến Đỗ Tuấn Khiêm (1995) [15] cũng nhận xét: Ngô đậu trồng xen theo hốc 70 x 25 cho hiệu quả kinh tế thấp nhất Trái lại Ngô Thế

Dân và CS., 1993 [3] lại cho rằng: Với khoảng cách ngô 70 x 30,xen kẽ hai gốc cây gieo một hốc đậu tương là tốt nhất

Ghaffarzadeh A va CS., 1994 [43] cho rằng: Hệ thống trồng xen băng

hình như thích hợp trong sản suất hiện nay Trồng xen theo băng có ý nghĩa về mặt môi trường cũng như lợi ích kinh tế Sự khác nhau về thời gian trong chu

kỳ sống của cây và độ ẩm đất có ảnh hưởng đến sự tương tác của các loài

trồng xen ở vị trí biên Trong điều kiện thiếu nước, ngô năng suất hàng ngoài thấp hơn (1989) trong điều kiện ẩm năng suất ngô hàng ngoài cao hơn ( 1990)

Theo Tonhasca A.Jr., Stinner B.R (1991) [105] trong thí nghiệm đa dạng cấu trúc trồng xen ở Ohio (Mỹ) đã cho thấy trồng xen băng làm giảm

một vài loài dịch hại (như sâu đục rễ ngô)

1.3.1.3 Nâng cao hiệu suất sử dụng ánh sáng

Đây là yếu tố ngoại cảnh mà con người có khả năng khống chế ít nhất ngoài việc sử dụng qua việc gieo các cây trồng ở thời gian khác nhau trong năm, còn gieo các cây trồng hay trộn lẫn các cây trồng ở tỷ lệ khác nhau cũng như việc định hình trên ruộng đồng con người có thể làm Trong một thí

Trang 30

19

nghiệm ma Reddy va Chatterjee, 1973 [81] đã tiến hành trồng xen đậu tương

(110 ngày) trong hàng luân phiên với giống lúa địa phương cao cây-Dular (105 ngày) và giống lúa nước lùn năng suất cao Jaya (130 ngày) với ty 1é 1:1;

1:2 và 1:3 hàng Một vài công thức đã sử dụng ánh sáng tốt hơn đối với cả hai

mặt sinh khối và năng suất hạt đã rút ra kết luận sau:

e _ Gieo một hàng lúa Dular và hai hàng đậu tương cho tích luỹ chất khô cao hơn

Khi lượng mưa cao đậu tương sinh trưởng kém nhưng lúa phát triển tốt, tỷ

lệ một hàng lúa một hàng đậu tương cho năng suất hạt và sinh vật cao

Đậu tương giúp lúa chống đổ

e _ Các giống có thời gian sinh trưởng khác nhau sẽ bổ sung khoảng không

© Do ồn định năng suất tăng; khi mưa nhiều năng suất đậu tương giảm thi _ năng suất lúa tăng bù vào phần thiếu hụt

Willey R.W và Roberts, 1976 [115] đã nhấn mạnh có lẽ ánh sáng là

yếu tố quan trọng nhất khi sử dụng những nguồn tự nhiên ở thời điểm tốt hơn

Baker và Yusuf (1976) [30] cũng xem xét ánh sáng có tầm quan trọng cực kỳ trong trồng xen đòi hỏi những cây lấy hạt có thời gian sinh trưởng khác nhau

Lakhani (1976){57] ciing da kiểm tra những độ bền của diện tích lá tăng 27%

đã được liên kết với tăng năng suất 24%

Xem xét về sự ngăn chặn ánh sáng, Reddy, 1972 [80]; IRRI, 1976 [51];

Das và Chatterjee, 1976 [30]; Kandu va Chatterjee, 1981[56] đã chỉ ra những

thuận lợi về năng suất cao nhưng giá trị ngăn chặn ánh sáng đò rỉ thì không cao hơn so với những cây trông thuần Như vậy, nếu có sử dụng khoảng không ánh sáng tốt hơn thì điều này có lẽ được thực hiện qua việc sử dụng hiệu quả ánh sáng trực xạ hơn là ánh sáng tan xa có thể qua phân tán và hướng lá tốt hơn Cũng có khả năng của những cây trồng liên kết có phản ứng khác nhau

Trang 31

với ánh sáng, như vậy đính của tán lá ở lớp trên đòi hỏi cường độ ánh sáng cao

và lớp đáy đòi hỏi ánh sáng thấp ( Vi dụ: như một cây trồng cao C¿ liên kết

với một cây trồng thấp Cạ; Crookston và Kent, (1976) [38)) Nó có thể có những thành phần thích ứng với sự thay đổi chất lượng ánh sáng xảy ra dưới tán lá (Allen và CS., 1976 [24]: Szeicz, 1975 [97]) Nói một cách khác, trồng

xen sẽ tạo nên một tổng số diện tích lá có ích của nhiều loại cây trồng lớn hơn

gấp nhiều lần diện tích mặt rộng Các loại cây trồng được trồng xen sẽ tận

dụng được một lượng ánh sáng mặt trời nhiều hơn để tạo ra nhiều chất hữu cơ

hơn, Bùi Huy Đáp (1958, 1967) [5, 6]

Những thí nghiệm đã tiến hành về sự sắp xếp không gian của ngô với

mật độ ngô giống nhau (nhưng khoảng cách giữa hàng và giữa cây là khác

nhau) đã được Rathore và CS (1980) [84] tiết lộ rằng: Trồng cặp ngô cách nhau 30 cm và sử dụng khoảng cách giữa cặp trồng đậu xanh đen (Black gram) đã tăng sản lượng một cách chắc chắn Khi so sánh với phương pháp

tiêu chuẩn trồng ngô hàng cách hàng 60 cm cho năng suất ngô 19,2 tạ/ ha và

trồng ngô theo cặp cho năng suất ngô là 24,9 tạ/ ha Với 3,3 tạ đậu xanh đen/ha (số liệu trung bình 3 năm) Như vậy, những tỉa sáng tới trên giữa khöảng cách có thể được ngô cũng như đậu sử dụng hiệu quả

Kiểm tra khả năng hỗn hợp đạt năng suất cao do việc định hình thích

hợp Trenbath (1972) [102] đã sử dụng mô hình máy tính tái hiện tổng quang

hợp hàng ngày của xen canh và độc canh các giống lúa mì với các hướng lá khác nhau Ba trong bốn điều kiện thí nghiệm, những thuận lợi trồng xen về tốc độ quang hợp được phán đoán xuất hiện giữa LAI 2 và 7 Nếu tán lá có ít

những tán lá đứng thì RYT (tổng năng suất tương đối) sẽ giảm và những thuận

lợi trong quang hợp trồng xen sẽ rất nhỏ (Trenbath, 1974) (103)

Allen va CS (1976) [24] đã thảo luận khá kỹ về ảnh hưởng của tia sáng

và tiểu khí hậu tròng hệ thống trồng trọt đa canh Đối với trồng xen tác gia dé

Trang 32

cap dén ** Sir dung méi hiéu qua trong hệ thống trồng xen”` và có nhận xét là chất lượng tia sáng (tỷ lệ 730 um/660 nm) có thể ảnh hưởng đến phản ứng của

những cây thấp hơn về hình thái trong những hệ thống xen canh Chịu bóng có

ảnh hưởng đến cả hai (a) Thay đổi chất lượng quang phổ ánh sáng và (b) đến

lượng ánh sáng, nên được xem xét trong việc chọn những cây trồng trong

những hệ thống trồng xen

Trenbath (1979) [104] đã gợi ý rằng nên chú ý đến khả năng chịu bóng

của những cây dáng thấp trong trồng xen và những cây trồng xen nên gồm:

(a)- một tán nhỏ trên cao, những lá nghiêng với tốc độ quang hợp lá cao tối đa

và (b) - một tán lá thấp hơn của những lá nằm ngang được sắp xếp đa dạng với

tốc, độ quang hợp thấp tối da

Phân tích về sinh trưởng của hỗn hợp trồng xen ở Nigeria, Okigbo,

197971] đã tiết lộ rang NAR (tốc độ đồng hoá thực) cao nhất thu được khi trồng xen ngõ và đậu mắt cua (cowpea) đứng

Báo cáo hàng năm của ICRISAT năm 1978-1979 (Trích theo Trenbath

B.R., 1979 [104]) cho biết việc đo khả năng ngăn chan ánh sáng đã chỉ ra rằng trồng xen ngăn chặn năng lượng ánh sáng hơn trồng thuần, nhưng năng lượng này chuyển thành chất khô có hiệu quả hơn Kết quả tính toán đã chỉ ra rằng

trồng xen sử dụng ánh sáng hiệu quả hơn trồng thuần 28% Điều này có thể

một phần ánh sáng phân bổ đều trên các lá và một phần do sự liên kết của cây C¿ ở những lớp tán lá trên và ở cây Cạ ở những lớp lá thấp hơn

Khi nghiên cứu về trồng xen William M.C và Dillon J.L (1987) [112]

đã kết luận: Về phạm vi nông học cần cải tiến để sử dụng tối đa năng lượng

ánh sáng và hoạt động quang hợp cũng như nâng cao chỉ số thu hoạch Tương

tu Mai Quang Vinh va CS (1995) [21] kết luận rang: Tréng xen tang cudng tan dụng nguồn sáng tự nhiên, hạn chế cỏ dại

Trang 33

WV nN

Đánh giá về cây trồng tham gia trong hệ thống xen canh: Squire G.R

(1990) [96] đã tiết lộ rằng ngô và cao lương tiếp nhận nhiều tỉa sáng trong

ngày hơn là các loài kê Cả hai ngô và cao lương có sự khác nhau về sắp xếp

không gian Còn Muchow R.C và CS (1973) [66] khi nghiên cứu về hiệu suất

sử dụng ánh sáng (RUE) giữa các loài đậu đã rút ra kết luận là có sự khác

nhau cơ bản về hiệu suất sử dụng ánh sáng giữa đậu mắt cua, đậu xanh và đậu

tương Hiệu suất sử dụng ánh sáng (RUE) của đậu mắt cua cao nhất (10,05 g/M)), tiếp đến là đậu xanh (0,94 g/MJ), còn đậu tương thấp nhất (0,88 g/M1) Giữa các giống đậu tương cũng có sự khác nhau chút ít

1.3.1.4 Bảo vệ đất chống xói mòn và giữ ẩm cho dat

Dương Hồng Hiên (1962) [7] đã có nhận xét rằng: Trồng xen ở trên đổi

có tác dụng lớn trong việc giữ đất, giữ nước, giữ độ ẩm đất Do xen canh tạo ra

các thảm xanh che phủ đất nên có tác dụng bảo vệ đất, chống xói mòn và điều hoà chế độ nước trong đất

Theo báo cáo hàng năm 1980 của Viện ICRISAT, Hyderabat (Trích

theo Rathore S.S., 1980 [84]) với sự kết hợp giữa kê + lạc; cao lương + lạc với

tỷ lệ hàng 1 : 2 và cao lương + kê với sự sắp xếp hàng là 1 : 1 và sự sắp xếp

thứ hai là 1 : 3 và'1 : 2 tương ứng Kiểu sắp xếp thứ hai nhằm cố gắng làm giảm tính trội của cây trồng cạnh tranh nhiều hơn trong điều kiện không hạn

(công thức không hạn được tưới 10 ngày 1 lần, những công thức hạn tưới 20

ngày 1 lần)

Đối với kê và cao lương trồng thuần, năng suất khác nhau giữa các

công thức hạn và không hạn khoảng 35% và 41% tương ứng Cả hai cách sắp

xếp trồng xen giữa kê/ lạc thể hiện rõ kê nổi trội hơn trong điều kiện hạn tăng

33%, còn trong điều kiện không hạn năng suất của cả hệ thống chỉ tăng có 24% Kết quả này chỉ ra rằng chế độ ẩm có thể ảnh hưởng đến sự cân bằng cạnh tranh của những cây trồng liên kết Theo Baker E.F.]., 1974 [30] ở những

Trang 34

nơi điều kiện đất và lượng mưa chế ngự những hệ thống trồng kép, trồng xen

có thể được thực hiện cho năng suất và sự ổn định cao Trồng xen cây trồng

mùa đông dưới điều kiện độ ẩm thay đổi trong điều kiện bất lợi đã tìm thấy

không tốt hơn trồng thuần, nếu những cây trồng có giá trị cao (như cây đậu,

cây lấy dầu) năng suất giảm thì hiệu quả kinh tế thấp

1.3.1.5 Chế độ dinh dưỡng và những thuận lợi về năng suất trồng xen

Giá trị lớn nhất của cây họ đậu là làm giàu đất qua cố định Nitơ tự do trong không khí và giải phóng ra đạm vô cơ suốt thời gian sinh trưởng như vậy

có lợi cho cây cùng chung sống (Nicol, 1935 [67]; Wien và CS, 1976 [111]; Vilson va Burfen, 1988 [118))

Có hai yếu tố cần xem xét:

(1) Việc tiết ra đạm từ cây họ đậu và sử dụng đồng thời bởi cây hoà

thảo sống chung

(2) Việc tiết ra/ phân giải mô cây họ đậu có thể được sử dụng ở giai đoạn sau

Das va Chatterjee, 1976 [39] da nghiên cứu: Trồng ngô và cỏ

Deenanath (Pennisetum pedicellatum Trin) véi dau Mat cua (Vigna Sinensis Eindlicher) và đậu lúa (Vigna umbellata Thunb) trong những hàng luân phiên

30 cm một phần ở hai mức đạm suốt trong bốn mùa đã cho Ying: Trộn lẫn với

đậu mắt cua cho năng suất chất khô nhiều hơn so với thảm cỏ thuần với 75-

100 kg N/ ha ở những tháng mùa khô (tháng 3 - 6) và 25-35 kg N/ ha ở những tháng mùa mưa (tháng 6 - 9) Lợi thế về năng suất protein với số liệu tương

ứng 100 -196 và 60 - 80 kg N/ ha ở cả hai mùa khô và mưa

Viện nghiên cứu Nông nghiệp Ấn Độ khi nghiên cứu trồng xen ngô và

một số cây cây họ đậu thì thấy rằng với lạc đã bổ xung 40 kg N/ ha và với đậu

xanh cho 25 kg N/ ha Những thí nghiệm khác cũng có kết quả tương tự với

lợi thế năng suất nhỏ hơn trồng xen ngô/lạc ở miền Bắc Nigeria (Kassam,

Trang 35

1972 [52]); ngô/ đậu tương ở Tây Phi (Finlay, 1974 [44]), ngo/ dau cove 6 Colombia (Trung tâm Nông nghiệp nhiệt đới) và ngô/ đậu mắt cua 6 Nigeria (Wien và Nangiu, 1976 [111]) Những kết quả tương tự cũng được các nhà

khoa học khác thông báo (Satarkar, 1966 [88]; Nair, 1962 [70]; Verma và

Karlke, 1969 [109]; Paul, 1970 [77))

Bùi Huy Đáp (1967) [5] đã cho rằng trong hệ thống xen canh đậu tương với ngô, hoạt động của vi sinh vật cố định đạm trong đất thông qua các nốt sân ở rễ đậu tương, khả năng điều hoà dinh dưỡng của hệ xen canh là những yếu tố góp phần ổn định và nâng cao độ phì nhiêu của đất Mặt khác cũng

phải tính đến hiệu quả kinh tế của trồng xen đậu tương + ngô khi mà giá phân đạm đang lên cao trên thị trường thế giới Trong tương lai cần phải nghiên cứu đặc điểm dinh dưỡng khoáng của từng loại cây trồng trong hệ xen canh Đối với đậu tương người ta đã tính được rằng khoảng 30% nhu cầu kali, 40 % nhu

cầu đạm và 40% nhu cầu lân được cây hút từ đất trong thời gian sau khi đã

hình thành quả non Đối với cây ngô thì 100% nhu cầu kali, 70% nhu cầu dạm

và 70% nhu cầu lân được bộ rễ hấp thu từ đất trong cùng thời gian như trên,

nghĩa là giai đoạn hạt ngô bắt đầu lớn trở đi

Bùi Huy Đáp (1967) [5] còn cho biết: Trồng xen, trồng gối còn là một

cách khai thác đất và bồi dưỡng đất làm cho đất tuy không được ''nghỉ hẳn'"

nhưng hình như nó vẫn được ''nghỉ"" vì các cây trồng đã bổ xung cho nhau kịp

thời thay thế nhau trên đồng ruộng

Thomson (1977) [101] đã thông báo rằng số nốt sẩn cũng như trọng lượng nét san khi trồng xen đậu tương với ngô có khác nhau nhưng sự sai khác không có ý nghĩa Giải thích rõ về điều này là do cây hoà thảo làm giảm đạm trong đất nhờ đó mà kích thích sự cố định nitơ

Reddy & Chatterjee, 1973 [81] da nghiên cứu trồng xen đậu tương với ngô, cao lương và lúa Việc hình thành nốt sần tốt hơn ở mức nitơ thấp Ngô

Trang 36

và cao lương che bóng đã làm giảm việc hình thành nốt sản.ở mức N thấp (20

Kg N) cây đậu sinh trưởng tốt hơn ở mức N cao Nghiên cứu về trồng xen ngõ

va dau tuong Rosar J.1.0.M., Ortiz Monasterio, Josar J.1., 1988 [77] da chỉ rằng Nitơ chuyển từ đậu tương đến ngô chưa được phát hiện Nhưng năm 1984

họ đã cho biết hệ số sử dụng đất tương đương (LER) của ngô trồng xen đậu

tương là 1,67 khi không bón N và 1.28 khi có bón 50 Kg N/ ha và 1,63 với

ngô cao cây và 1,32 với ngô thấp cây

Thí nghiệm lạc/ngô ở-ICRISAT, 1978 đã kết luận rằng thuận lợi về năng suất của trồng xen so với trồng thuần là 44% ở mức 0 Kg N, nhưng mức tăng năng suất so với trồng thuần giảm khi lượng N bón tăng và bằng 0 ở mức

N là 150 Kg N/ ha Như vậy có thể thấy rằng trồng xen là hiệu quả hơn trong

việc khai thác N trong đất và lợi thế hơn với điều kiện độ phì thấp Rodriguez

S.L., 1990 [86] cho rằng trồng xen bị ảnh hưởng có ý nghĩa ở mức N khác nhau

Nói chung khi những lợi thế phụ thuộc vào những khác nhau tạm thời

giữa các thành phần, không có lý do gì nói rằng lợi thế sẽ biến mất ở mức độ

phì cao hơn ánh sáng là một trong những yếu tố chính sử dụng hiệu quả lớn

hơn trong trồng xen Nước và dinh dưỡng đầy đủ đảm bảo cho ánh sáng được

khai thác đây đủ hơn Nếu lợi thế do sự sử dụng dinh dưỡng và ẩm độ tốt hơn,

còn nếu lợi thế giảm hoặc biến mất khi cung cấp những yếu tố này không thoả

Trang 37

thân lá ngô tăng với tỷ lệ tăng của phân N nói chung hướng tới tỷ lệ 120 kg N/ha hoặc cao hơn

1.3.2 Khống chế có dại và sâu bệnh

1.3.2.1 Trồng xen và phòng trừ cỏ dại

Đậu mất cua và đậu xanh trồng như những cây"chết ngạt” giữ những

hàng cao lương và trồng xen cao lương + đậu triểu đã chỉ ra như những phương tiện làm giảm đến mức tối thiểu tác hại của cỏ dại và giảm số lần làm

cỏ bằng tay mà không làm giảm năng suất của cây trồng chính ở ICRISAT Nói chung, tiền lời thực từ những công thức trồng xen cao lương + đậu mắt

cua và cao lương + đậu xanh với một lần làm cỏ là cao hơn cao lương + đậu

triểu với 2 lần làm cỏ (Báo cáo hàng năm ICRISAT, 1978 - 1979 Trích theo

Willey R.W., 1979 [113] )

Che bóng coi như những phương tiện giảm sự phát triển lan rộng của cỏ gấu (Cyperus rotundus) Điều này nhấn mạnh về tần quan trọng của sự phát

triển một cay trồng xen sinh trưởng nhanh để che phủ mặt đất ở giai đoạn dau

(Mucharji & Chatterjee, 1955 [65], Mai Quang Vinh va CS., 1995[21]

Sự sắp xếp hàng cũng ảnh hưởng khác nhau: một hàng kê ngọc với 3 hàng lạc cho năng suất cao nhất cũng như khống chế cỏ dại tốt nhất Sinh trưởng của cỏ dại tăng khi tỷ lệ lạc tăng vì sự phát triển chậm của tán lá lạc

(ICRISAT, Báo cáo hàng năm 1978 - 1979 Trich theo Willey R.W., 1979 [113))

Bartilan & Harwood, 1973 [31] ở Phillipin đã nghiên cứu trồng xen ngô

+ khoai lang, ngô + lạc Kết quả cho thay sinh trưởng của cỏ dại trong xen

canh ít hơn trồng khoai lang hoặc lạc thuần, nhưng lại lớn hơn ngô thuần

Wood I.M., 1987 [119] đã nghiên cứu về cỏ dại và phòng trừ trong

tiếng xen ở thời kỳ đầu nhằm giải quyết một vấn đề phức tạp Tương tự Dương

Hồng Hiên, 1962 [7] có nhận xét: Ruộng đậu tương , nếu được làm cỏ sớm thì

Trang 38

sẽ vượt qua được giai đoạn đầu phát triển cham dé sau đó phát triển bộ tán rất nhanh chỉ cần 6 - 8 tuần tính từ gieo là có thể che phủ kín mật đất Đây chính

là một ưu thế của cây đậu tương để phòng trừ cỏ dại một cách tích cực và hiệu quả

1.3.2.2 Trồng xen với phòng trừ sáu hại và dịch bệnh

Về vấn đề này có những ý kiến trái ngược nhau Theo Robb, 1970 [79] việc phòng trừ dịch bệnh trong trồng xen giảm Điều này có triển vọng rộng

lớn để nghiên cứu cơ sở sinh thái của sự nguy hại và khác nhau của côn trùng

va dich hai trong quần thể trồng xen Vấn đề này đã tạo nên một sự quan tâm trong những nhà sinh thái học và đã được nghiên cứu ở các vùng khác nhau

Raheja, 1973 [78] đã báo cáo rằng sự gây hại của ruồi hại bông cao

lương (Calocoris angustatus L.) cực kỳ hiếm khi đậu đỏ được gieo giữa hàng

Ở IRRI, Phillipin (Báo cáo hàng năm, 1979 Trích theo Chatterrjee B.N

& Maiti J.S., 1982 [36]) sâu đục thân ngô (Ostrinia fumacalis) được nghiên cứu Trong 2 thí nghiệm trồng xen : Thứ nhất là ngô + lúa, ngô + lạc, ngô +

đất sạch cỏ và ngô thuần dày; thứ hai với các công thức ngô + đậu tương, ngô

+ lúa, ngô + đất sạch cỏ, ngô + không làm cỏ Trái với những kết quả trước

đây (Báo cáo hàng năm JCRISAT 1973, 1975 Trích theo Krishramoorthy Ch.,

1977 [54]) sự khác nhau là không có ý nghĩa giữa các công thức trồng thuần

và trồng xen về quần thể trứng sâu đục thân trên 400 cây ngô

1.3.2.3 Trồng xen với sự ổn định năng suất

Theo Bùi Huy Đáp 1967 [5] trồng xen với thế cân bằng tương đối ồn

định về sinh thái, về mối quan hệ giữa người và các yếu tố ngoại cảnh nên bảo đảm được điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của cây trồng Trong điều kiện

cụ thể xen canh cây họ đậu với ngũ cốc, giúp cho cây đỡ bị sâu bệnh pha hại

hơn so với độc canh, dẫn đến năng suất cao và ổn định

Trang 39

28

Sự ổn định về năng suất đã được ICRISAT thông báo trong báo cáo

hàng năm, 1978 - 1979 (Trích theo Trenbath B.R., 1979 [104]) rằng một thí

nghiệm ở nhiều địa phương thiết lập từ 1976 với mục đích này, tổng số có 94 thí nghiệm đã được sắp xếp ở các loại đất và địa phương khác nhau

Để xác định khả năng thất bại của cây trồng được đo bằng tiền lời rơi

dưới mức thu nhập " thất bại" định trước Trên cơ sở này trồng xen thất bại ít hơn trồng thuần hoặc hệ thống trồng thuần phân chia khi một người nông dân

trồng một vài trong những cây trồng thuần Thí dụ, mức thất bại là 1000 rupi/ha, như vậy ở ICRISAT đậu triều thuần thất bại 1 năm trong 5 năm, cao lương thuần thất bại 1 năm trong 8 năm, trồng thuần phân chia 1 năm trong 13 năm, nhưng trồng xen chỉ 1 năm trong 36 năm

Bổ sung thêm cho hướng này, những kết quả nghiên cứu của Lê Văn

Trinh, Hà Minh Trung và CS., 1993 [19] về trồng xen cây họ đậu (đậu, lạc)

với ca phê ở Tây Bắc và Hoàng Thị Lương, 1995 [16] về đậu trồng xen trong các lô cà phê, cao su ở thời kỳ thiết kế cơ bản ở Tây Nguyên có tác dụng làm cho cây cà phê, cao su phát triển tốt hơn và cho hiệu quả kinh tế cao

Tương tự trồng xen cây ngắn ngày (như ngô, lạc) với chôm chôm, xoài

cho hệ số sử dụng đất tương đương (LER) cao nhất: 2,24 (1993) và 2,10

(1994) và lợi ích cao nhất ở tất cả các mùa (Calvo A.D., 1994 [32])

Suharto, 1989 [93] khi nghiên cứu thiên địch trong trồng xen đã nhận

xét rằng năng suất bông cao nhất khi trồng xen với ngô và lạc

Topark - Ngam A và CS., 1989 [106] khi nghiên cứu về trồng xen cây

lương thực và cây thức ăn gia súc đã cho thấy năng suất cây ngũ cốc cao nhất

khi trồng xen vơí Desmonthus virgatus, còn cây thức ăn gia súc - Stylo cho năng suất chất xanh cao nhất

Theo Willey R.W., 1979 [114] cơ sở sinh lý chủ yếu của tính ổn định lớn hơn về năng suất của trồng xen là nếu một cây thất bại hoặc sinh trưởng

Trang 40

29

nghèo, cây khác có thể đền bù và như thế sự đến bù không thể xảy ra nếu

những cáy trồng trồng tách biệt Đây là một ảnh hưởng cộng từ việc phân tán

sự rủi ro bằng cách trồng 2 cây Sự ổn định có thể ảnh hưởng lớn hơn nếu

trồng xen cho lợi thế về năng suất lớn hơn dưới điều kiện hạn vì vấn đề này đã

giúp để tránh năng suất thấp trong những mùa khác nhau Một ảnh hưởng

tương tự có thể xảy ra nếu trồng xen giảm dịch hại hay bệnh hại sẽ tránh năng suất thấp đã được kiểm tra qua số liệu thí nghiệm đã chỉ ra độ ổn định lớn hơn

và biểu hiện tốt nhất ở điều kiện khó khăn (Trenbath, 1974 [103], Willey

R.W., 1979 [114]) Các tác giả trên đã gợi ý nghiên cứu nhiều hơn về độ ổn định như đặt một mạng lưới thí nghiệm ở nhiều địa phương ở các nuóc khác

nhau

Krant B.A va CS., 1976 [55] đã nêu bật hai đặc điểm quan trọng của hệ

thống trồng xen truyền thống Thứ nhất, trồng xen là ít quan trọng trên những

trang trại lớn, trang trại có tưới hơn là những trang trại nhỏ và trang trại canh tác nhờ nước trời Như vậy, kỹ thuật trồng xen giúp cho những người nông dân

nghèo hơn là người nông dân khá giả

Willey R.W., 1979 [114 ] quan sát về hệ thống trồng xen truyền thống

so sánh ít hiệu quả hơn hệ thống cải tiến

1.4 NHỮNG NGHIÊN CỨU GẦN ĐÂY VỀ TRÔNG XEN NGO VOI DAU TƯƠNG VÀ LẠC

1.4.1 Trồng xen đậu với ngô góp phần tăng diện tích cây đậu

William M.C., Dillow J.L., 1987 [112] cho rằng suốt thập kỷ qua sản lượng đậu lấy hạt ở Châu Á vào khoảng một nửa sản lượng đậu lấy hạt thế giới Đậu tương và lạc đã được trồng tốt hơn với tổng sản lượng 50% so với

các cây đậu lấy hạt Đậu lấy hạt ở Châu Á đóng vai trò quan trọng trong bữa

ăn hàng ngày của người dân, thức ăn đạm của gia súc với giá rẻ đồng thời còn

là nguồn rau xanh có giá trị Tuy nhiên có nhiều yếu tố hạn chế đó là : Năng

Ngày đăng: 14/12/2013, 16:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
18. Phạm Thị Rinh, Phan Thượng Trình, La Đức Vực, Trần ánh Nguyệt, Nguyễn Thế Hùng, Nguyễn Cảnh Vinh, Trần Kim Định. Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật tăng năng suất ngô ở các tỉnh phía Nam. Đề tài KN 01 - 05 ( 1991 - 1995), Nxb Nông ngiệp, 1995, tr. 159 - 170 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật tăng năng suất ngô ở các tỉnh phía Nam
Tác giả: Phạm Thị Rinh, Phan Thượng Trình, La Đức Vực, Trần ánh Nguyệt, Nguyễn Thế Hùng, Nguyễn Cảnh Vinh, Trần Kim Định
Nhà XB: Nxb Nông ngiệp
Năm: 1995
20. Mai Xuân Triệu, Vũ Ngọc Lược, Bùi Sĩ Phương, Phạm Thị Rinh, Nguyễn Thanh Thuỷ. kết quả xây dựng mô hình thâm canh cây ngô giai đoạn 1991 - 1995. Bộ Nông nghiệp và PTNN, đề tài KN 01 - 05 ( 1991 - 1995), Nxb Nông ngiệp, 1995, tr. 107 - 127 Sách, tạp chí
Tiêu đề: kết quả xây dựng mô hình thâm canh cây ngô giai đoạn 1991 - 1995
Tác giả: Mai Xuân Triệu, Vũ Ngọc Lược, Bùi Sĩ Phương, Phạm Thị Rinh, Nguyễn Thanh Thuỷ
Nhà XB: Bộ Nông nghiệp và PTNN
Năm: 1995
7. Dương Hồng Hiên. Kỹ thuật trồng xen, trồng gối vụ. KHKTNN, 1/ 1962, tr. 29-34. - Khác
8. Bùi Thế Hùng. Nghiên cứu tỷ lệ ngô và cây họ đậu trồng xen. Báo cáo kẻ tài KN 01 - 05, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Nxb Nông nghiệp,1995 Khác
9. Bùi Thế Hùng. Quan hệ giữa cây trồng xen đến sinh trưởng và năng suất ngô. Thông tin KHKTNN, trường ĐHNN I, 2/ 1994, tr. 23 - 24 Khác
10. Bùi Thế Hùng. Nghiên cứu tỷ lệ trông xen giữa ngô và đậu tương. Thông tin KHKTNN, trường DHNN I, 2/ 1994, tr. 25 - 26 Khác
11. Bùi Thế Hùng. Xác định tỷ lệ lạc và ngô trồng xen. Thông tin KHKTNN, trường ĐHNN l, 2/ 1994, tr. 27 - 29 Khác
12. Bùi Thế Hùng. Đánh giá hệ thống trồng trọt huyện Đông Anh, Hà nội. thị trường " Kết quả nghiên cứu KHKT khoa Trồng trọt, trương ĐHNN I (1991- 1992), Nxb Nông nghiệp, 1993, tr. 92 - 97 Khác
13. Bùi Thế Hùng, Nguyễn Văn Bào, Văn tất Tuyên. Một số kết quả nghiên cứu về mật độ trồng ngô tại Hà Giang. NN và CNTP, 6/ 1995, tr. 233 - 234 Khác
14. Bùi Thế Hùng. Ảnh hưởng của giống ngô và đậu tương có thời gian sinh trưởng khác nhau đến sinh trưởng và năng suất cây trồng xen, NN và CNTP,12/ 1996, tr. 517 - 518 Khác
15. Đỗ Tuấn Khiêm. Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật thâm canh tăng năng suất ngô trên đất ruộng một vụ ở các tỉnh miền núi Đông Bác. Đề tài KN 01- 05, bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Nxb Nông nghiệp, 1995 Khác
16. Hoàng Thị Lương và CS.. Kết quả bước đầu nghiên cứu hệ thống cây trồng hợp lý trên cao nguyên Buôn Ma Thuột ( Tây nguyên). Đề tài KN 01 - 05, Nxb Nông ngiệp, 1995, tr. 63 - 69 Khác
17. Trần Văn Minh. Các biện phấp kỹ thuật thâm canh ngô ở miền Trung. Để tài KN 01 - 05 9 1991 - 1995), Nxb Nông ngiệp, 1995, tr. 154 - 158 Khác
19. Lê Văn Trinh, Hà Minh Trung và CS.. Nghiên cứu hệ thống cây trồng cafe thời kỳ kiến thiết cơ bản ở Điện Biên ( Lai Châu), Nxb Nông nghiệp,1993 Khác
21. Mai Quang Vinh, Nguyễn Hữu Đống, Phan Đắc Trực. Xây dựng mô hình trồng đậu tương xen ngô lai. Bộ Nông nghiệp và PTNN, đề tài KN 01 - 05 ( 1991 - 1995), Nxb Nông ngiệp, 1995, tr. 26 - 98 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  3.1:  Ảnh  hưởng  của  hình  thức  xen  đến  sinh  trưởng  và  phát  dục  của - Nghiên cứu 1 số biện pháp kỹ thuật trồng xen ngô và cây họ đậu trên đất phù sa sông hồng
ng 3.1: Ảnh hưởng của hình thức xen đến sinh trưởng và phát dục của (Trang 67)
Bảng  3.2  :  Ảnh  hưởng  của  hình  thức  trồng  xen  đến  năng  suất  ngô  và  đậu - Nghiên cứu 1 số biện pháp kỹ thuật trồng xen ngô và cây họ đậu trên đất phù sa sông hồng
ng 3.2 : Ảnh hưởng của hình thức trồng xen đến năng suất ngô và đậu (Trang 69)
Hình  thức  trồng  xen. - Nghiên cứu 1 số biện pháp kỹ thuật trồng xen ngô và cây họ đậu trên đất phù sa sông hồng
nh thức trồng xen (Trang 70)
Bảng  3.3:  Ảnh  hưởng  của  hình  thức  trồng  xen  đến  mối  quan  hệ  cạnh - Nghiên cứu 1 số biện pháp kỹ thuật trồng xen ngô và cây họ đậu trên đất phù sa sông hồng
ng 3.3: Ảnh hưởng của hình thức trồng xen đến mối quan hệ cạnh (Trang 72)
Bảng  3.4:  Ảnh  hưởng  của  tỷ  lệ  xen  ngô  +  lạc  đến  sinh  trưởng  của  ngô. - Nghiên cứu 1 số biện pháp kỹ thuật trồng xen ngô và cây họ đậu trên đất phù sa sông hồng
ng 3.4: Ảnh hưởng của tỷ lệ xen ngô + lạc đến sinh trưởng của ngô (Trang 74)
Bảng  3.6:  Ảnh  hưởng  của  tỷ  lệ  trồng  xen  ngô  +  lạc  đến  hiệu  quả  kinh  tế - Nghiên cứu 1 số biện pháp kỹ thuật trồng xen ngô và cây họ đậu trên đất phù sa sông hồng
ng 3.6: Ảnh hưởng của tỷ lệ trồng xen ngô + lạc đến hiệu quả kinh tế (Trang 79)
Bảng  3.7:  Ảnh  hưởng  của  tỷ  lệ  xen  ngô  +  lạc  đến  mối  quan  hệ  cạnh - Nghiên cứu 1 số biện pháp kỹ thuật trồng xen ngô và cây họ đậu trên đất phù sa sông hồng
ng 3.7: Ảnh hưởng của tỷ lệ xen ngô + lạc đến mối quan hệ cạnh (Trang 81)
Bảng  3.8:  Ảnh  hưởng  của  tỷ  lệ  xen  đến  sinh  trưởng  chiều  cao  của  ngô  và - Nghiên cứu 1 số biện pháp kỹ thuật trồng xen ngô và cây họ đậu trên đất phù sa sông hồng
ng 3.8: Ảnh hưởng của tỷ lệ xen đến sinh trưởng chiều cao của ngô và (Trang 83)
Hình  3.5:  Năng  suất  hệ  thống  trồng  xen  ngô  +  đậu  tương  ở  các  tỷ  lệ  xen - Nghiên cứu 1 số biện pháp kỹ thuật trồng xen ngô và cây họ đậu trên đất phù sa sông hồng
nh 3.5: Năng suất hệ thống trồng xen ngô + đậu tương ở các tỷ lệ xen (Trang 87)
Bảng  3.12:  Ảnh  hưởng  của  tỷ  lệ  trồng  xen  ngô  và  đậu  tương  đến  mối - Nghiên cứu 1 số biện pháp kỹ thuật trồng xen ngô và cây họ đậu trên đất phù sa sông hồng
ng 3.12: Ảnh hưởng của tỷ lệ trồng xen ngô và đậu tương đến mối (Trang 90)
Bảng  3.16:  Ảnh  hưởng  của  giống  ngõ  và  tỷ  lệ  trồng  xen  ngô  +  đậu  tương - Nghiên cứu 1 số biện pháp kỹ thuật trồng xen ngô và cây họ đậu trên đất phù sa sông hồng
ng 3.16: Ảnh hưởng của giống ngõ và tỷ lệ trồng xen ngô + đậu tương (Trang 100)
Hình  3.9:  Động  thái  chiều  cao  cây  theo  thời  gian  sinh  trưởng  giữa  các  cap - Nghiên cứu 1 số biện pháp kỹ thuật trồng xen ngô và cây họ đậu trên đất phù sa sông hồng
nh 3.9: Động thái chiều cao cây theo thời gian sinh trưởng giữa các cap (Trang 104)
Bảng  3.20:  Hiệu  quả  kinh  tế  của  giống  ngô  và  đậu  tương  trong  trồng  xen. - Nghiên cứu 1 số biện pháp kỹ thuật trồng xen ngô và cây họ đậu trên đất phù sa sông hồng
ng 3.20: Hiệu quả kinh tế của giống ngô và đậu tương trong trồng xen (Trang 109)
Bảng  3.22:  Ảnh  hưởng  của  đậu  côve,  côbơ  và  đậu  tương  trồng  xen  với  22 - Nghiên cứu 1 số biện pháp kỹ thuật trồng xen ngô và cây họ đậu trên đất phù sa sông hồng
ng 3.22: Ảnh hưởng của đậu côve, côbơ và đậu tương trồng xen với 22 (Trang 111)
Bảng  3.24:  Ảnh  hưởng  của  đậu  côve,  côbơ  và  đậu  tương  đến  năng  suất - Nghiên cứu 1 số biện pháp kỹ thuật trồng xen ngô và cây họ đậu trên đất phù sa sông hồng
ng 3.24: Ảnh hưởng của đậu côve, côbơ và đậu tương đến năng suất (Trang 114)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w