luận văn thạc sĩ, tiến sĩ, cao học, luận văn
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạotrường đại học nông nghiệp i
- -
nguyễn thị nhung
dự báo xu hướng biến động các nguồn lực: đất canh tác, dân số – lao động nông nghiệp và sản lượng lúa cho khu vực đồng bằng sông hống giai đoạn 2007 - 2020
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và ch−a từng đ−ợc ai công bố trong bất kỳ luận văn nào khác
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn
đều đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc./
Hà nội ngày tháng năm 2007
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Nhung
Trang 3Lời cảm ơn
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi đ9 nhận được sự giúp đỡ, những ý kiến đóng góp, chỉ bảo quý báu của các thầy cô giáo Khoa sau đại học, Khoa Kinh tế và phát triển nông thôn, Trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội
Để có được kết quả nghiên cứu này, ngoài sự cố gắng và nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự hướng dẫn chu đáo, tận tình của TS Nguyễn Văn Song, là người hướng dẫn trực tiếp tôi trong suốt thời gian nghiên cứu
đề tài và viết luận văn
Tôi cũng nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện của các cán bộ l9nh
đạo Bộ NN &PTNT, Bộ Lao động và thương binh x9 hội, Tổng cục thống
kê
Sự giúp đỡ tận tình, cung cấp tài liệu của các sở ban ngành 11 tỉnh trong khu vực Đồng bằng sông Hồng, UBND huyện Yên Mỹ tỉnh Hưng Yên và nhân dân các x9 trong huyện, UBND huyện An Dương Thành phố Hải Phòng và nhân dân các x9 trong huyện, UBND huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình và nhân dân các x9 trong huyện
Ngoài ra tôi cũng nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các anh chị
em và bạn bè đồng nghiệp, sự động viên tạo mọi điều kiện về vật chất, tinh thần của gia đình và người thân
Với tấm lòng chân thành, tôi xin cảm ơn mọi sự giúp đỡ quý báu đó!
Hà nội ngày tháng năm 2007
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Nhung
Trang 4Mục lục
2.2 Cơ sở thực tiễn về dự báo phát triển kinh tế x9 hội trong dài hạn 183.2.1 Chọn địa điểm nghiên cứu 18 2.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trong khu vực 182.2.2 Những phương pháp xác định xu hướng phát triển kinh tế - x9 hội
3 đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp
Trang
Trang 53.1.1 Đặc điểm tự nhiên 26
3.1.3 Những thuận lợi và khó khăn của điều kiện tự nhiên kinh tế
ảnh hưởng đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
3.2.3 Xử lý và phân tích số liệu 34
4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 38
4.1 Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp, dân số - lao động và sản lượng
lúa của vùng Đồng bằng sông Hồng 38
4.1.1 Khái quát về tình hình sản xuất nông nghiệp vùng Đồng bằng
4.1.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp 39
4.1.3 Thực trạng phát triển dân số và sử dụng lao động của khu vực
4.1.4 Tình hình sản xuất lúa và phân phối lúa gạo của vùng ĐBSH 46
4.2 Mô hình động sử dụng kết hợp đất canh tác lúa, dân số - lao động
4.2.2 Phân tích sự thay đổi của các yếu tố trong mô hình 52
4.2.3 So sánh kết quả mô hình với quy hoạch của khu vực ĐBSH 60
4.2.4 Phân tích sự biến động của dân số - lao động, đất canh tác lúa
và sản lượng lúa khi có sự thay đổi của các yếu tố khác trong
Trang 6DANH MụC Chữ viết tắt
Ký hiệu
BQ
CB CNH DTGT
ĐBSH
ĐVT HĐH KTL
LN
NN NTTS
PA PAG PTBQ
QH
SL
SS TAGS
Chú giải Bình quân Cân bằng Công nghịêp hoá
Diện tích gieo trồng
Đồng bằng sông Hồng
Đơn vị tính Hiện đại hoá
Kinh tế lượng Lâm nghiệp Nông nghiệp Nuôi trồng thủy sản Phương án
Phương án gốc Phát triển bình quân Quy hoạch
Sản lượng
So sánh Thức ăn gia súc
Trang 7Danh mục bảng
3.1 Tình hình sử dụng đất vùng ĐBSH 283.2 Số lượng một số máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp vùng
Đồng bằng sông Hồng thời gian qua 304.1 Hiện trạng sử dụng đất và biến động đất của vùng ĐBSH 394.2 Tình hình lao động ở nông thôn của các tỉnh trong vùng đồng bằng
4.9 Xu hướng biến động đất canh tác của ĐBSH 564.10 Xu hướng biến động năng suất và sản lượng lúa của ĐBSH 574.11 Xu hướng biến động đất canh tác lúa, dân số và cân bằng lúa
4.12 So sánh kết quả mô hình và quy hoạch của khu vực ĐBSH 614.13 So sánh kết quả phương án gốc và phương án 1 644.14 So sánh kết quả của phương án gốc và phương án 2 664.15 So sánh kết quả của phương án gốc và phương án 3 694.16 So sánh kết quả của phương án gốc và phương án 4 714.17 So sánh kết quả của phương án gốc và phương án 5 73
Trang 8khu vực ĐBSH giai đoạn 2007 – 2020 605.1 Dự báo dân số đến năm 2020 theo các phương án 785.2 Dự báo đất canh tác lúa đến năm 2020 theo các phương án 785.3 Dự báo sản lượng lúa đến năm 2020 theo các phương án 78
Trang 91 Mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với guồng quay của nhân loại, Việt Nam đang tiến hành đẩy mạnh CNH - HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, x9 hội công bằng, dân chủ, văn minh”, từng bước quá độ lên chủ nghĩa x9 hội Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (CNH - HĐH) được
Đảng và Nhà nước ta coi là nhiệm vụ trọng tâm, là chiến lược quan trọng để phát triển bền vững trong điều kiện các nguồn lực khan hiếm Gắn với quá trình CNH - HĐH đất nước là sự huy động tối đa các nguồn lực khan hiếm Sự khan hiếm của các nguồn lực khiến cho chiến lược sử dụng nguồn lực trở lên vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia Một kế hoạch dài hạn sử dụng nguồn lực được coi là đúng đắn khi nó vừa thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế vừa góp phần ổn định x9 hội, đồng thời đạt được mục tiêu phát triển bền vững
Nước ta vốn là một nước nông nghiệp với (72,88%) dân số sống ở nông thôn [10] ngành nông nghiệp chiếm một tỉ trọng lớn trong nền kinh tế quốc dân Do đó các nguồn lực cho sự phát triển nông nghiệp nói riêng và nông thôn nói chung như: lao động, đất đai,…tương đối thuận lợi Tuy nhiên xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế để phù hợp với sự phát triển đất nước theo hướng CNH - HĐH và theo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX:
“Phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp” thì
tỉ trọng ngành nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế ngày càng giảm Xu hướng CNH - HĐH, đầu tư nước ngoài vào Việt Nam nói chung và khu vực nông thôn nói riêng có ảnh hưởng rất lớn tới sự chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế, cơ cấu đất đai, cơ cấu dân số, cơ cấu lao động trong nền kinh tế nói chung và
Trang 10khu vực đồng bằng sông Hồng nói riêng Vì vậy việc phân bổ hợp lí các nguồn lực trong nông nghiệp cho phù hợp với xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế là cần thiết
Đồng bằng sông Hồng là một trong hai khu vực quan trọng nhất sản xuất lúa gạo cho đất nước Mặc dù trong những năm qua diện tích trồng lúa ở khu vực này luôn giảm, bình quân mỗi năm giảm 1.250 ha, nhưng sản lượng lúa gạo không ngừng tăng trong nhiều năm tăng 1,4 triệu tấn từ năm 1995 đến
2004 [10] Đó là do kết quả quan trọng của việc tăng năng suất lúa trong những năm gần đây Tổng sản lượng lúa gạo tăng, nhưng sản lượng bình quân trên đầu người của khu vực không tăng nhiều do ảnh hưởng của tốc độ tăng trưởng dân số tương đối cao của khu vực (dân số Đồng bằng sông Hồng tăng khoảng 800.000 người, nhưng dân số trong khu vực nông thôn có xu hướng giảm khoảng 10.000 người từ năm 2000 đến 2004) [10] Lao động nông nghiệp đang có xu hướng giảm tương đối nhanh trong khu vực do một bộ phận lao động nông nghiệp chuyển sang các ngành khác như công nghiệp, tiêu thủ công nghiệp, may mặc hoặc di chuyển ra khu vực thành phố
Tuy nhiên một vấn đề đặt ra là: đất đai, dân số, lao động nông nghiệp
và sản lượng lúa của khu vực ĐBSH sẽ thay đổi, chuyển dịch thế nào? Sản xuất được tổng sản lượng lúa gạo là bao nhiêu trong những năm tới? Việc sử dụng các nguồn lực hiện nay sẽ ảnh hưởng ra sao tới sự phát triển kinh tế x9 hội của khu vực ĐBSH trong những năm tới? Đây là những câu hỏi lớn cho các nhà hoạch định chính sách kinh tế đặc biệt là phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững
Để giải quyết và tìm ra đáp án cho các câu hỏi trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Dự báo xu hướng biến động các nguồn lực: đất canh tác, dân số - lao động nông nghiệp và sản lượng lúa cho khu vực ĐBSH giai đoạn 2007 - 2020”
Trang 111.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Dự báo xu hướng biến động các nguồn lực đất canh tác, dân số, lao động nông nghiệp và sản lượng lúa cho khu vực ĐBSH giai đoạn 2007 - 2020”
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về việc sử dụng mô hình phân tích hệ thống trong hoạch định chính sách
- Xây dựng mô hình cân đối tổng thể về đất đai, dân số - lao động nông nghiệp, sản lượng lúa trong dài hạn cho khu vực ĐBSH
- Phân tích mô hình trong trạng thái động (các yếu tố của mô hình hệ thống đều biến động trong những điều kiện cụ thể của sự thay đổi dân số, đất
đai và sản lượng lúa)
- Đề xuất các giải pháp, chính sách phát triển kinh tế - x9 hội bền vững, nhằm hoàn thiện hơn nữa việc sử dụng các nguồn lực trong tương lai cho khu vực ĐBSH
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Xu hướng biến động của các nguồn lực đất đai, dân số - lao động nông nghiệp và sản lượng lúa trong mô hình động; việc sử dụng chúng vào các hoạt
động phát triển kinh tế x9 hội của khu vực
Trang 12* Phạm vi không gian
Đề tài tập trung nghiên cứu toàn bộ khu vực đồng bằng sông Hồng bao gồm mười một tỉnh: Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Hà Tây, Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình
* Phạm vi nội dung
Đề tài tập trung nghiên cứu xu hướng biến động của các yếu tố dân số - lao động nông nghiệp, đất đai và sản lượng lúa
Trang 132 Cơ sở lý luận và thực tiễn
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số vấn đề lý luận, phương pháp luận về dự báo
2.1.1.1 Khái niệm dự báo
Dự báo là báo trước về tình hình có nhiều khả năng sẽ xảy ra dựa trên cơ sở những số liệu, những thông tin đ9 có [14]
2.1.1.2 Vai trò của công tác dự báo
Trong cơ chế kinh tế thị trường, công tác dự báo đóng vai trò quan trọng bởi lẽ nó cung cấp các thông tin cho việc bố trí các nguồn lực trong tương lai Với những thông tin này cho phép các nhà hoạch định chính sách có những quyết định về đầu tư Nhìn chung, những quyết định về đầu tư sẽ có
ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế 5 - 10 năm hoặc lâu hơn nữa Những quyết
định mang tính chiến lược như có xây dựng nhà máy điện nguyên tử hay không sẽ ảnh hưởng trong khoảng 30 năm đối với một quốc gia, đấy là chưa nói đến ảnh hưởng tới môi trường Các thông tin về dự báo kinh tế còn cho phép xem xét các quyết định về sản xuất, về tiết kiệm và tiêu dùng, các chính sách tài chính, các chính sách kinh tế vĩ mô Dự báo không chỉ tạo cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách, cho việc xây dựng chiến lược phát triển, cho các quy hoạch tổng thể mà còn cho phép xem xét khả năng thực hiện kế hoạch, và hiệu chỉnh kế hoạch Có thể nói các dự báo tốt sẽ cung cấp thông tin cho quá trình nhận thức, ra quyết định và xem xét tác động của các lĩnh vực khác nhau, từ vĩ mô đến vi mô, từ bình diện cả nước đến các vùng l9nh thổ, từ toàn bộ nền kinh tế đến các ngành và thậm chí đến các công ty Từ sự cần thiết khách quan này nên ở các nước, ngoài những cơ quan nghiên cứu về dự báo còn có các bộ phận làm dự báo của các công ty tư nhân [8]
Trang 14tế nào cũng có thể sử dụng cách tiếp cận này để dự tính các quỹ đạo phát triển trong tương lai của đất nước mình theo các kịch bản khác nhau ở các nước x9 hội chủ nghĩa trước kia, với cách quản lý nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung, phấn đấu theo mục tiêu cho trước, dự báo theo cách tiếp cận này thường hay được sử dụng
Trang 15gian của dự báo trung hạn và dài hạn có thay đổi chút ít, tuy nhiên nói đến dự báo trung hạn người ta thường hiểu là khoảng thời gian bao quát khoảng trên dưới 5 năm trong khi các dự báo dài hạn có thể có tầm 10 năm hoặc xa hơn
Đối với các nước đang phát triển, các dự báo có tầm trung hạn rất có ý nghĩa trong việc xây dựng các kế hoạch 5 năm, còn các dự báo dài hạn chủ yếu mang tính định hướng, tập trung vào một số lĩnh vực quan trọng
Trong bối cảnh phát triển hiện nay của thế giới, sự phát triển năng động của khu vực, nhìn chung để có dự báo chính xác là rất khó kể cả trong tầm ngắn hạn, với trung hạn và dài hạn càng khó hơn Chính vì vậy việc cập nhật thường xuyên các dự báo là cần thiết nhằm cung cấp những thông tin mới nhất cho các nhà hoạch định chính sách
2.1.1.4 Một số lĩnh vực dự báo kinh tế quan trọng
Có thể chia dự báo kinh tế ra những lĩnh vực sau đây:
+ Dự báo kinh tế vĩ mô,
+ Dự báo phát triển các ngành kinh tế,
+ Dự báo phát triển các lĩnh vực cơ sở hạ tầng, kinh tế thương mại, + Dự báo phát triển lĩnh vực x9 hội,
+ Dự báo phát triển các vùng l9nh thổ
2.1.2 Một số cách tiếp cận trong dự báo kinh tế
2.1.2.1 Cách tiếp cận dự báo dài hạn
Nếu sự vận động ngắn hạn bị tác động bởi nhu cầu của thị trường hàng hoá thì trong tầm dài hạn, quỹ đạo phát triển bị chi phối bởi các yếu tố về mặt cung của nền kinh tế Chính vì lý do này mà các phân tích về khả năng đóng một vai trò quan trọng trong dự báo dài hạn, làm cơ sở cho các mô hình trọng cung (supply - side model) Đối với các nước đang phát triển nói chung cũng như đối với nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam nói riêng cách tiếp cận này
Trang 16có một số ưu thế, trong đó phải nói đến khả năng cung cấp số liệu cho các mô hình dự báo Phần cơ bản nhất trong phân tích trọng cung là xây dựng mối quan hệ giữa các yếu tố sản xuất và kết quả sản xuất thông qua các hàm sản xuất có dạng tổng quát như sau:
Yi = Fi (Ai ; ai x Ki, hi x Li)
ở đây Yi là kết quả sản xuất (giá trị sản lượng, giá trị gia tăng); Ai là tác động của các yếu tố phần mềm (quản lý, khoa học kỹ thuật, ); Ki là tài sản cố định; ai là hệ số sử dụng tài sản cố định; Li là lao động; hi là số giờ làm việc trung bình Bằng cách hình thức hoá này người ta có thể lượng hoá mặt cung (thị trường hàng hoá) của nền kinh tế
2.1.2.2 Cách tiếp cận cân bằng tổng quát
Khái niệm "cân bằng” được hiểu theo nghĩa đơn giản nhất trong một thị trường là nhu cầu về mặt số lượng (ví dụ một mặt hàng nào đó) bằng số lượng mặt hàng cung cấp, cung cân bằng với cầu Điều này sẽ xảy ra khi đạt được giá cân bằng, theo nghĩa: giá mà nhà cung ứng định ra để bán hàng bằng giá người tiêu dùng chấp nhận mua Nếu giá nằm trên mức cân bằng, cung sẽ dư thừa và ngược lại khi giá nằm dưới điểm cân bằng thì nhu cầu sẽ vượt Trong cả hai trường hợp nêu trên, thị trường được xem là không cân bằng [8]
Một thị trường "cạnh tranh" là một thị trường có hành vi ứng xử như sau: khi cung dư thừa sẽ tác động đến việc giảm giá, ngược lại cầu nhiều hơn cung sẽ làm tăng giá Quá trình này diễn ra trong mọi thị trường được gọi là cạnh tranh đến khi giá đạt được mức cân bằng
Khái niệm cân bằng vừa đề cập trên đây được gọi là cân bằng tĩnh và
đơn, tĩnh vì chưa xem xét yếu tố thời gian; còn đơn là vì mới chú ý đến sự thay
đổi giá cả trong một thị trường Trong một nền kinh tế có nhiều thị trường và nhiều ngành nên nhu cầu nảy sinh là phải nghiên cứu mối quan hệ giữa chúng Mỗi thị trường có một giá, các giá này được gọi là cân bằng khi mỗi thị trường
Trang 17cân bằng Một nền kinh tế đạt trạng thái cân bằng tổng quát khi tất cả các thị trường đều cân bằng Để hình thức hoá sự cân bằng tổng quát nêu trên, trong kinh tế định lượng người ta sử dụng các phương trình nhằm diễn tả sự cân bằng giữa cung và cầu cho mỗi thị trường
Trong nền kinh tế thị trường, người ta chấp nhận giả thiết khi các thị trường có sự cạnh tranh hoàn hảo thì quy luật khách quan sẽ dẫn đến sự cân bằng tổng quát của nền kinh tế, sự cân bằng này sẽ là cơ sở tính toán các phương án (dự báo) sự phát triển trong tương lai của nền kinh tế
2.1.3 Tổng quan về các phương pháp dự báo
2.1.3.1 Nhóm các phương pháp mô hình
Mô hình là một hệ thống lý thuyết của các mối quan hệ tương hỗ, hệ thống này được kiến thiết nhằm biểu diễn các hiện tượng của thế giới thực tại và sự liên kết giữa các hiện tượng này Mô hình đóng vai trò là một công
cụ giải thích các sự kiện quá khứ, hiện tại và dự báo cho tương lai ở dạng
đơn giản nhất mô hình bao gồm một phương trình diễn tả mối quan hệ giữa một biến phụ thuộc và một hay nhiều biến độc lập Với sự ra đời và phát triển của các học thuyết kinh tế các mô hình kinh tế cũng lần lượt được nghiên cứu
* Mô hình kinh tế lượng
Là phương pháp dựa trên lý thuyết về kinh tế lượng, môn khoa học lượng hoá các quá trình kinh tế bằng phương pháp thống kê ý tưởng chính của phương pháp dùng mô hình kinh tế lượng là mô tả các mối quan hệ giữa các đại lượng kinh tế bằng một hệ các phương trình đồng thời Với các d9y số liệu quá khứ, các tham số của các phương trình này sẽ được ước lượng bằng các phương pháp thống kê Sử dụng mô hình đ9 ước lượng này người ta tiến hành dự báo cho tương lai bằng các kỹ thuật ngoại suy hoặc mô phỏng
Trang 18* Mô hình tối ưu hoá
Nguồn gốc của mô hình tối ưu hóa là mô hình toán ứng dụng được đặt
ra lần đầu tiên vào năm 1938 do nhà toán học Xô Viết Kantarovich tìm ra [8] Mô hình tối ưu là một lĩnh vực khá phát triển của toán học ứng dụng, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế Thông thường các mô hình loại này được sử dụng tính toán trong lĩnh vực quy hoạch như bố trí các nguồn lực sản xuất nhằm đạt
được tối ưu theo một tiêu chuẩn nào đó Đối với lĩnh vực dự báo, mô hình tối
ưu được sử dụng để xây dựng các dự báo mang tính chất kiến thiết
* Mô hình chuỗi thời gian
Mô hình chuỗi thời gian còn gọi là mô hình Box-Jenkins [8] Giả thiết chính của mô hình chuỗi thời gian là tồn tại các quá trình (kinh tế) mà khi ta
có một d9y quan sát của quá trình này trong quá khứ, người ta có thể tìm ra quy luật định lượng giá trị hiện tại thông qua số liệu quá khứ Lý thuyết về chuỗi thời gian thực ra có xuất xứ từ các quá trình kỹ thuật, sau đó mới được ứng dụng cho các quá trình kinh tế Bản thân cấu trúc của mô hình chuỗi thời gian cũng đ9 mang tính chất dự báo, nghĩa là hiện tại được lượng hoá qua quá khứ, chính vì vậy một trong những ứng dụng của loại mô hình này là để dự báo, đặc biệt cho ngắn hạn
* Mô hình phân tích đa nhân tố
Mô hình phân tích đa nhân tố là một lĩnh vực khoa học riêng biệt trong thống kê ứng dụng Nguồn gốc sâu xa của loại mô hình này bắt nguồn từ
Trang 19thống kê sinh học hay sinh trắc Mục tiêu chính của loại mô hình này là phân tích mối tương quan giữa các chỉ tiêu (nhân tố) với nhau và lượng hoá các mối quan hệ này Mô hình cho phép xem xét các chỉ tiêu kinh tế quan tâm, phân tích tương quan giữa chúng để khẳng định những mối quan hệ chính, lượng hoá và sử dụng mối quan hệ này để dự báo ngắn hạn
* Mô hình cân bằng tổng quát
Lý thuyết về cân bằng tổng quát là một trường phái kinh tế cho rằng trong một nền kinh tế có cạnh tranh hoàn hảo thì cung và cầu của các thị trường sẽ tự điều chỉnh để đạt tới trạng thái cân bằng tổng quát Mô hình cân bằng tổng quát lúc đầu chủ yếu tập trung về mặt định tính Sự phát triển của
kỹ thuật tính toán cho phép trong thời gian gần đây có thể lượng hoá mô hình này trên máy tính điện tử Mô hình loại này thường sử dụng cho các nền kinh
tế đang phát triển [8]
2.1.3.2 Nhóm các phương pháp chuyên gia
Bao gồm các phương pháp xử lý và đưa ra các dự báo dựa trên ý kiến các chuyên gia là chính Đối với phương pháp này, mặt lợi thế là có thể sử dụng trong điều kiện thiếu thông tin, song về mặt định lượng bị hạn chế hơn Một khâu quan trọng trong phương pháp này là tìm được chuyên gia, theo nghĩa là những nhà kinh tế, khoa học, kỹ thuật có am hiểu và kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh tế Quá trình tích luỹ kinh nghiệm của các chuyên gia đ9 giúp họ tổng kết và phát hiện những quy luật của hiện tại và quá khứ, và có thể mường tượng, tiên đoán về tương lai
2.1.3.3 Nhóm các phương pháp kết hợp
Đây là một phương pháp điển hình được ứng dụng trong thời gian gần
đây kết hợp được những thế mạnh của phương pháp chuyên gia và phương pháp mô hình hoá Sự kết hợp giữa các chuyên gia kinh tế làm việc trong các cơ quan nhà nước, trong các viện nghiên cứu và trong các doanh nghiệp với
Trang 20các nhà mô hình hoá là sự quyết định thành công của phương pháp này Đầu tiên các nhà mô hình phải hình thành một mô hình mô tả đối tượng cần dự báo Các chuyên gia kinh tế trong từng lĩnh vực sẽ phát biểu các chỉ tiêu trong mô hình dựa theo kinh nghiệm hay các dự báo đ9 có, đây coi như kịch bản khởi đầu Các nhà mô hình hoá sẽ cho các giá trị này vào mô hình và tính toán
ra một bộ giá trị mới, coi như là kịch bản tiếp theo Nếu kịch bản mới này hợp
lý và hội tụ, quá trình sẽ dừng, nếu chưa đạt quá trình trên sẽ được lặp lại Trong từng bước lặp các chuyên gia có thể đóng góp ý kiến hiệu chỉnh và tự
bổ sung lại đề nghị của mình trên cơ sở kết quả tính toán và tham khảo ý kiến của các chuyên gia khác
2.1.4 Một số lý luận về mô hình kinh tế động
2.1.4.1 Khái niệm mô hình
Thực tiễn hoạt động của đời sống kinh tế - x9 hội rất phong phú, đa dạng và phức tạp, người ta có thể sử dụng nhiều công cụ và phương pháp nghiên cứu để tiếp cận Mỗi công cụ và phương pháp nghiên cứu có những ưu thế riêng được sử dụng trong điều kiện và hoàn cảnh cụ thể Mô hình là một trong các phương pháp nghiên cứu được sử dụng rộng r9i, đặc biệt trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học Đ9 có rất nhiều quan niệm khác nhau về mô hình nhưng khi sử dụng mô hình người ta đều có chung một quan điểm là dùng để mô phỏng hoặc thể hiện đối tượng nghiên cứu Mô hình được định nghĩa là hình mẫu để mô phỏng hoặc thể hiện đối tượng nghiên cứu, được diễn đạt hết sức ngắn gọn, phản ánh những đặc trưng cơ bản nhất và giữ nguyên được bản chất của đối tượng nghiên cứu [5]
Trang 21Hình 2.1 Các bước xây dựng mô hình Thực tế khách quan tác động đòi hỏi con người phải đưa ra những phương án giải quyết đúng đắn Thông qua quan sát, con người rút ra được quy luật của các hiện tượng thực tế đó và khái quát hoá chúng thành lý thuyết để đưa vào mô hình Kết quả của mô hình có thể đúng hoặc sai so với những gì diễn ra trong thực tế, nếu sai mô hình sẽ được xây dựng lại Quá trình xây dựng mô hình luôn luôn là quá trình mở, sau mỗi mô hình
đúng người xây dựng lại xem xét, thay đổi để cải tiến thành mô hình khác tốt hơn [16]
2.1.4.3 Phân loại mô hình
Mô hình được chia làm nhiều loại với nhiều tiêu chí khác nhau, tuy nhiên về bản chất thì có hai loại mô hình chính Đó là: mô hình phân tích và mô hình mô phỏng [16]
* Mô hình phân tích thường dùng các công cụ toán phức tạp, chúng mô tả các quá trình trong một hệ thống bằng các phương trình toán học mà ta đ9 biết hành vi của chúng Đối với mô hình phân tích thường có hai loại:
- Mô hình tĩnh (một mức): mô tả các hiện tượng tồn tại ở một thời điểm hay trong một khoảng thời gian xác định
Trang 22- Mô hình động (nhiều mức): mô tả sự vật, hiện tượng mà trong đó các yếu tố biến động theo thời gian
* Mô hình mô phỏng thường dùng các công cụ đơn giản hơn, chúng không có được lời giải chính xác cho một phương trình như mô hình phân tích
và do đó có một số sai lệch do bản chất không chính xác của một cách giải Mô hình mô phỏng có lợi ở chỗ là có thể giải nhiều phương trình gần như cùng một lúc và có thể đưa vào đó tất cả các kiểu phương trình phi tuyến và tuyến tính khác nhau
2.1.4.4 Tác dụng của mô hình kinh tế động
Ngày nay, các sự vật hiện tượng diễn ra trong tự nhiên hay trong x9 hội loài người không được xem xét một cách riêng lẻ nữa mà chúng được đặt trong một hệ thống với nhiều mối quan hệ phức tạp Để phân tích được hệ thống đó, người ta phải đơn giản hoá nó [3]
Mô hình giúp đơn giản hoá hệ thống, nó là phương tiện để tách ra từ hệ thống hoạt động khách quan nào đấy các mối liên hệ và quan hệ có quy luật,
có trong thực tế cần nghiên cứu Trong mô hình không cần phản ánh tất cả các
đặc điểm của hệ thống mà chỉ cần phản ánh được các mối quan hệ giữa các yếu tố của hệ thống Mô hình giúp chúng ta hiểu biết, đánh giá và tối ưu hoá
hệ thống
Mô hình kinh tế động có vai trò đặc biệt quan trọng để nghiên cứu hệ thống vì các yếu tố trong hệ thống luôn biến động theo thời gian Vai trò của mô hình động được thể hiện ở các mặt:
- Kiểm tra lại sự đúng đắn của các số liệu quan sát và các giả định trong
hệ thống, giúp các nhà nghiên cứu hiểu sâu hơn về hệ thống
- Giúp chúng ta dự báo, nghĩa là nghiên cứu hệ thống phức tạp trong các điều kiện mà chúng ta chưa thể quan sát hay tạo ra được, hoặc không thể quan sát được trong thế giới thực tại
Trang 23- Giúp ta chọn quyết định tốt nhất về quản lý hệ thống và phương pháp tốt nhất để điều khiển hệ thống
2.1.4.5 Mô hình phân tích hệ thống và mối quan hệ của nó với một hệ thống
Mô hình phân tích hệ thống là loại mô hình dùng để mô tả và phân tích
sự vận động của một chuỗi sự vật hiện tượng kinh tế - x9 hội trong một khoảng thời gian dài (10 - 20 năm) Chuỗi sự vật hiện tượng trong mô hình có mối quan hệ hữu cơ và ảnh hưởng lẫn nhau tạo nên một sự tương tác, thay đổi mang tính hệ thống động [16]
Theo một số nhà nghiên cứu [15] hệ thống là một tổng thể có trật tự của các yếu tố khác nhau có quan hệ và tác động qua lại Một hệ thống có thể xác
định như một tập hợp các đối tượng hoặc các thuộc tính được liên kết tạo thành một chỉnh thể và nhờ đó hệ thống có đặc tính mới gọi là tính trội
Hệ thống không phải là phép cộng đơn giản các yếu tố, các đối tượng
mà là sự kết hợp hữu cơ giữa các yếu tố, các đối tượng Mỗi hệ thống bao gồm nhiều hệ thống nhỏ hợp thành, đến lượt mình nó lại là bộ phận cấu thành của
hệ thống lớn hơn
Trong thời gian gần đây lý thuyết hệ thống được ứng dụng rộng r9i trong nhiều lĩnh vực để phân tích, đánh giá và giải thích các mối quan hệ tương hỗ Cách tiếp cận này được áp dụng và phát triển cả trong nghiên cứu khoa học kỹ thuật nông nghiệp cũng như trong nghiên cứu quản lý kinh tế - x9 hội - môi trường
Từ những phân tích trên có thể thấy việc xây dựng mô hình phân tích hệ thống có quan hệ chặt chẽ với lý thuyết hệ thống Tất cả các biến của mô hình
được đặt trong một hệ thống, chúng là những yếu tố cấu thành nên hệ thống Khi đó sự phân tích của mô hình được gọi là phân tích hệ thống
Trang 242.1.5 Nguồn lực và vai trò của một số nguồn lực trong phát triển kinh tế - xã hội
2.1.5.1 Khái niệm về nguồn lực
Trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất và dịch vụ cho x9 hội, con người đ9 sử dụng một lượng nhất định các yếu tố về sức lao động, tư liệu lao
động và đối tương lao động được kết hợp theo một công nghệ nhất định với một không gian và thời gian cụ thể Các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất không ngừng được tái sản xuất mở rộng nhằm tạo ra ngày càng nhiều của cải vật chất và dịch vụ Tất cả những nguồn tài nguyên hiện đang được sử dụng hoặc có thể sử dụng vào sản xuất của cải vật chất, dịch vụ được gọi là những yếu tố nguồn lực [7]
Như vậy, về mặt kinh tế, các yếu tố nguồn lực của sản xuất là phạm trù kinh tế dùng để chỉ những nguồn tài nguyên tự nhiên, kinh tế và x9 hội đ9,
đang và sẽ được sử dụng vào các hoạt động kinh tế để tạo ra của cải vật chất hay dịch vụ đáp ứng yêu cầu x9 hội nhất định Những nguồn tài nguyên tự nhiên có thể kể đến là đất đai, khoáng sản, sinh vật Chúng được sử dụng song song với nguồn tài nguyên x9 hội như lao động, lương thực, vốn nhằm
đạt được các mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế - x9 hội [9]
2.1.5.2 Vai trò của một số nguồn lực được sử dụng trong nghiên cứu
* Đất đai
Trong công nghiệp, đất đai là địa điểm sản xuất hay xây dựng nhà xưởng Còn trong nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt không thể thay thế Một đặc điểm quan trọng của đất đai là: diện tích đất có hạn nhưng độ phì của đất là vô hạn [1] Nắm được đặc điểm này của đất đai để
bố trí sử dụng, khai thác có hiệu quả đất đai phục vụ cho sản xuất nông nghiệp Đất là thành phần quan trọng của môi trường sống, phân bố dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá và x9 hội Với sinh vật, đất đai không chỉ
Trang 25là môi trường sống mà còn là nguồn cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng Năng suất cây trồng vật nuôi phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng đất đai Trên phương diện này, đất đai phát huy tác dụng như một công cụ lao động Việc quản lý và sử dụng tốt đất đai sẽ góp phần làm tăng thu nhập, ổn định kinh tế - chính trị và x9 hội [1]
Tuy đất đai giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - x9 hội nhưng diện tích đất đai phục vụ sản xuất nông nghiệp đang liên tục giảm sút
do quá trình CNH - HĐH Từ đó, đặt ra yêu cầu đối với các nhà quản lý là phải quy hoạch sử dụng đất sao cho tăng trưởng mạnh công nghiệp mà vẫn
đảm bảo lương thực phục vụ đời sống [9]
* Dân số - lao động
Lao động là yếu tố cần thiết của mọi quá trình sản xuất Với tốc độ tăng trưởng dân số như hiện nay, lao động sẽ là nguồn lực dồi dào cho sự phát triển kinh tế - x9 hội ở các quốc gia đang phát triển nói chung và ở Việt Nam nói riêng Do đó, làm thế nào để tạo cho người lao động, giảm tối đa tỷ lệ lao
động thất nghiệp là điều mà các nhà hoạch định quan tâm hàng đầu
* Sản lượng lúa
Lương thực nói chung, lúa nói riêng là nguồn lực không thể thiếu trong phát triển kinh tế Lương thực đảm bảo cho con người và súc vật tồn tại, là nguyên liệu cho các hoạt động công nghiệp chế biến Trong tất cả các loại lương thực thì lúa gạo được sản xuất nhiều hơn cả trên phạm vi toàn thế giới
Do sự phát triển của khoa học công nghệ mà năng suất, sản lượng lúa không ngừng tăng lên trong các thập kỷ qua Tuy nhiên dân số thế giới ngày càng tăng trong khi diện tích canh tác và nước tưới lại đang bị mất dần là nguyên nhân khiến việc sản xuất lúa gạo đang gặp phải nhiều hạn chế
Theo FAO, gạo là nguồn thực phẩm chính của hơn một nửa dân số thế giới Ngoài việc là lương thực cho con người, lúa gạo còn cần cho chăn nuôi
Trang 26FAO ước tính, trong 25 năm nữa sản lượng gạo trên toàn thế giới phải tăng thêm 38% so với hiện nay mới mong đáp ứng nhu cầu tiêu dùng [3]
Như vậy, đất đai, dân số, lao động và lúa gạo là các nguồn lực có mối quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình phát triển kinh tế x9 hội không chỉ
ở một địa phương mà cả ở cấp quốc gia cũng như trên phạm vi toàn cầu Để hiểu được mối liên hệ này cần đặt chúng trong một hệ thống với các yếu tố ràng buộc lẫn nhau, qua đó sẽ tìm thấy sự cân đối hợp lý khi sử dụng chúng
2.2 Cơ sở thực tiễn về dự báo phát triển kinh tế x> hội trong dài hạn
Các nhà nghiên cứu về các nước và vùng l9nh thổ đều cho rằng những thành công trong quá trình CNH ở các nước Châu á một phần quan trọng là do kết quả của việc hoạch định và thực hiện chiến lược đúng hay sai quyết định [8] 2.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trong khu vực
2.2.1.1 Hàn Quốc
Hàn Quốc tiến hành công nghiệp hoá từ năm 1960, trải qua hơn 30 năm
đ9 trở thành nước công nghiệp Từ tháng 7/1997 trở lại đây, Hàn Quốc chịu tác động lớn của khủng hoảng tài chính tiền tệ, đất nước gặp rất nhiều khó khăn Người ta không nói đến “sự thần kỳ” của con rồng Hàn Quốc nữa mà bắt đầu nói đến những sai lầm của cả một giai đoạn công nghiệp hoá, điều này càng nói lên vai trò to lớn của chiến lược, coi đó là đường hướng cơ bản cho chính phủ dẫn dắt đất nước tiến lên trong quá trình phát triển
2.2.1.2 Đài Loan
Sự phát triển của nền kinh tế Đài Loan đ9 đạt được những thành tựu to lớn, do trong quá trình phát triển của mình nền kinh tế Đài Loan luôn có những chiến lược đúng đắn Ban đầu các nguồn lực được tập trung để sản xuất hàng tiêu dùng, thay thế nhập khẩu Sau đó, chúng lại được chuyển sang ưu tiên cho công nghiệp nặng với hàm lượng công nghệ cao Nhờ có những chiến
Trang 27lược phát triển phù hợp với từng hoàn cảnh, có mục tiêu rõ ràng và các bước đi với các chính sách rất cụ thể, chi tiết đến từng mục tiêu mà Đài Loan được xem là thành công trong chiến lược phát triển kinh tế - x9 hội
2.2.1.3 Malaysia
Malaysia là quốc gia có nguồn tài nguyên phong phú (thiếc, dầu mỏ, khí đốt…), đất nông nghiệp nhiều, trong đó chủ yếu là đất đỏ rất thích hợp để trồng cây công nghiệp Đặc điểm chiến lược phát triển của Malaysia khác với Hàn Quốc, Đài Loan (là quốc gia và vùng l9nh thổ hầu như không có tài nguyên thiên nhiên) là tận dụng tối đa nguồn lực trong nước, kết hợp với thu hút mạnh đầu tư nước ngoài Chiến lược của Malaysia là huy động các nguồn lực thế mạnh để sản xuất hàng xuất khẩu, trong đó chủ yếu là xuất khẩu nông sản và các sản phẩm công nghiệp chế tác
2.2.1.4 Trung Quốc
Chiến lược công nghiệp hoá mới của Trung Quốc bắt đầu từ năm 1978 nhằm thực hiện lại sự chuyển đổi có tính chất lịch sử: (i) chuyển từ một x9 hội nông nghiệp - nông thôn sang x9 hội công nghiệp và đô thị; (ii) chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường Những giải pháp cơ bản mang tính chiến lược của chính phủ Trung Quốc là: phi tập trung hoá, nhân rộng và thực dụng, được nổi bật trong 4 lĩnh vực chủ yếu, nơi mà công cuộc cải cách đ9 tác động rất nhiều tới tăng trưởng gồm nông nghiệp, công nghiệp nông thôn, thương mại và các doanh nghiệp nhà nước
Thành công của Trung Quốc trong hơn hai thập kỷ qua gắn liền với việc hoạch định đúng đắn đường hướng chiến lược Thực tế xây dựng chiến lược của các nước nêu trên cho thấy một số kinh nghiệm đó là:
- Muốn phát triển cần thiết phải có chiến lược rõ ràng, căn cứ khoa học cơ bản là phải phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển của quốc gia hoặc địa phương, tận dụng triệt để mọi nguồn lực để đạt tăng trưởng
Trang 28- Chiến lược không là sự bắt chước máy móc, cần có sự đột phá mới, thậm chí không có tiền lệ
2.2.1.4 Singapo
Singapo thực hiện CNH hướng về xuất khẩu vào giữa những năm 1960 Từ những năm 1970 đến nay, Chính phủ Xingapo nhận thấy rằng không thể chỉ phát triển dựa vào lợi thế trực tiếp, cần hoạch định một chiến lược dựa trên sự phát triển cân đối giữa ngành dịch vụ và các ngành khác như phát triển công nghiệp trong các mối quan hệ hợp tác giữa các nước trong khi vực Chính nhờ vào nguồn vốn tích luỹ trong các giai đoạn trước [tận dụng lợi thế so sánh] và xuất phát từ đặc
điểm bối cảnh trong và ngoài nước lúc bấy giờ, Chính phủ tập trung vào đào tạo tay nghề, phát triển các ngành công nghiệp sử dụng ít lao động, công nghiệp sạch…Hình thành các khu công nghiệp nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Từ nửa cuối những năm 1980, nền kinh tế quá trì trệ do quá tập trung vào Nhà nước và vì vậy, chiến lược của Singapo được điều chỉnh về mặt giải pháp, thực hiện cổ phần hoá mạnh và bán cổ phần cho nhân dân, tiếp tục đào tạo nguồn nhân lực Chính phủ Singapo dựa vào các tập đoàn xuyên quốc gia
để phát triển khoa học công nghệ
Với một quốc gia nhỏ bé, song nhờ một chiến lược phù hợp, khôn ngoan
và năng động, phát triển dựa nhiều vào các công ty xuyên quốc gia, kịp thời điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng chuyển từ lợi thế so sánh sang lợi thế cạnh tranh nên không để ảnh hưởng của khủng hoảng tiền tệ - tài chính làm cho chao đảo
Trang 292.2.2 Những phương pháp xác định xu hướng phát triển kinh tế - xã hội phổ biến ở Việt Nam
Đại hội VIII của Đảng Cộng Sản Việt Nam đ9 xác định những nội dung cơ bản nhằm đổi mới công tác kế hoạch hoá trong đó chú trọng nâng cao chất lượng công tác xây dựng chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế - x9 hội, các ngành, các vùng l9nh thổ và toàn bộ nền kinh tế quốc dân [8] Trong điều kiện Việt Nam, cần kết hợp nhiều phương pháp với những cách nhìn khác nhau để xem xét quá trình phát triển trong tương lai Phải biết kết hợp các phương pháp định tính và định lượng, các kết quả tính toán bằng mô hình với
ý kiến các chuyên gia kinh tế đầu ngành
2.2.2.1 Phương pháp mô hình hoá
Sử dụng mô hình trong xây dựng chiến lược là phương pháp được dùng phổ biến hiện nay Xu thế chung của các nước là phát triển các mô hình càng sát với nền kinh tế càng tốt, độ lớn và mức độ phức tạp của mô hình không còn là các giới hạn quan trọng nữa bởi lẽ các phần mềm máy tính hiện nay cho phép xử lý chúng dễ dàng
So với các phương pháp khác, phương pháp mô hình hoá đảm bảo cho chiến lược có tính hệ thống và hợp lý Thông qua việc mô phỏng, người ta vừa
có thể kiểm định được tính sát thực của mô hình, vừa nghiên cứu được nhiều khía cạnh khác nhau của các chỉ tiêu kinh tế
* ưu thế của phương pháp mô hình hoá
So sánh với các phương pháp dự báo khác, phương pháp mô hình hoá
đảm bảo cho các kết quả dự báo thu được tính hệ thống và hợp lí thông qua việc mô phỏng, người ta vừa có thể kiểm định được tính sát thực của mô hình vừa nghiên cứu được nhiều khía cạnh khác nhau của các chỉ tiêu kinh tế Phương pháp mô hình hoá cho phép dễ dàng cập nhật các dự báo khi có thông tin mới Do cơ sở lí luận để xây dựng các mô hình là các học thuyết kinh tế,
Trang 30phương pháp mô hình còn cho phép liên kết các kết quả định tính và định lượng để có được những kết quả cao hơn
* Tổng quan về các mô hình dự báo kinh tế
- Các mô hình dự báo dài hạn:
+ Mô hình tăng trưởng dạng kinh tế lượng, + Mô hình tăng trưởng dạng tối ưu
- Các mô hình dự báo trung hạn:
+ Mô hình kinh tế lượng vĩ mô, + Mô hình liên kết vĩ mô trừ liên ngành, + Mô hình điều chỉnh cung cầu đa ngành
Trong mô hình KTL, người ta phân biệt ba loại biến số khác nhau:
- Biến nội là các biến được xác định giá trị thông qua việc giải mô hình, để đảm bảo cho hệ phương trình KTL có lời giải, điều kiện là cần số biến nội bằng số phương trình
- Biến ngoại là các biến được xác định giá trị bên ngoài mô hình bằng các phương pháp khác, ví dụ như: chi tiêu của Chính phủ, dân số…
- Biến nội đ9 được xác định từ trước là các biến nội đ9 được xác định trong thời gian qua
Trang 312.2.2.3 Phương pháp mô hình tối ưu hoá, ứng dụng để dự báo khả năng phát triển dài hạn của nền kinh tế
Nguồn gốc của mô hình tối ưu hoá là mô hình toán ứng dụng được đặt
ra lần đầu tiên vào năm 1938 do nhà toán học Xô viết Kantaroviich tìm ra Mô hình này thường hay gặp khi giải quyết vấn đề quy hoạch, chính vì vậy người
ta gọi luôn là “bài toán quy hoạch” (thuật ngữ tiêng Anh là Optimalization model hay programing model) Bản chất của mô hình tối ưu hoá mang tính chất quy hoạch Nếu xây dựng được một mô hình quy hoạch động (các biến thay đổi theo thời gian) mô tả toàn bộ nền kinh tế quốc dân đựa trên những thông tin đ9 có, và sử dụng mô hình này với năm gốc xuất phát là hiện tại để tính toán cho các phương án phát triển cho thời gian tiếp theo, lời giải của bài toán sẽ là một quỹ đạo phát triển hợp lý (tối ưu theo một nghĩa nào đó) được thiết kế cho tương lai
Trong những năm gần đây với sự phát triển vượt bậc của khoa học tính toán, kích thước và mức độ phức tạp của các bài toán tối ưu hoá không còn là những giới hạn Chính vì lí do này người ta đ9 có ý tưởng và đưa mô hình tối
ưu hoá vào ứng dụng trong lĩnh vực dự báo Đặc biệt là các dự báo dài hạn
* Mô hình tăng trưởng dài hạn: Đối với việc nghiên cứu dài hạn, việc
ước tính được xu thế tăng trưởng và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế là rất quan trọng nhưng trên thực tế nhu cầu đòi hỏi nhiều thông tin hơn Lý do đơn giản
là để có những định hướng phát triển cho một quốc gia dài hạn, người ta cần càng nhiều thông tin càng tốt mà trước tiên là những thông tin về nguồn lực phát triển và sự tác động của chúng đến sự phát triển của các chỉ tiêu kinh tế
vĩ mô quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Tư tưởng chính của mô hình là
đưa ra khối ràng buộc bao gồm các phương trình mô tả chu trình phát triển của nền kinh tế và các bất phương trình quy định các giới hạn hợp lí của các chỉ tiêu kinh tế cho cả một thời kì dài (chẳng hạn 40-50 năm), những chuỗi thời gian của các biến vĩ mô sẽ được tối ưu hoá theo một hàm mục tiêu
Trang 322.2.2.4 Phương pháp mô hình cân bằng tổng quát
Bắt nguồn từ Mỹ, mô hình cân bằng tổng quát đ9 phát triển ở nhiều nước trên thế giới (đặc biệt ở Ôxtrâylia) và hình thành nhiều trường phái khác nhau Mô hình cân bằng tổng quát có cơ sở khoa học là lí thuyết cân bằng tổng quát của trường phái tân cổ điển về một kinh tế thị trường tự do và cạnh tranh hoàn hảo
Cũng như các loại mô hình khác người ta thường phân chia mô hình cân bằng tổng quát ra các mô hình đóng hoặc mở, tĩnh hoặc động Trong đó chúng
ta chỉ tập trung đi vào mô hình động và mở Động chỉ sự phụ thuộc của các biến vào thời gian còn mở chỉ sự giao lưu của nền kinh tế với thế giới bên ngoài
Mô hình cân bằng tổng quát dựa trên giả thuyết về sự cân bằng tổng quát trong một nền kinh tế thị trường cạnh tranh hoàn hảo, trên thực chất là một giả thuyết mà ở các nước đang phát triển như Việt nam chưa đáp ứng
được Tuy nhiên nếu sự phát triển hướng tới một nền kinh tế thị trường thì việc sử dụng mô hình để mô phỏng lại có ý nghĩa bởi lẽ nó cho các nhà hoạch
định chính sách biết được điểm cân bằng của các thị trường (còn gọi là điểm tối ưu Pareto)
Chính từ lý do trên người ta thường sử dụng mô hình cân bằng tổng quát như là một công cụ để mô phỏng với ý nghĩa, nếu nền kinh tế thị trường vươn tới một sự cạnh tranh hoàn hảo thì các phương án phát triển nếu có sẽ tương ứng với điểm cân bằng của mô hình Mô hình cân bằng tổng quát thường được sử dụng cho các mô phỏng trung hạn Trong điều kiện các nước
đang phát triển, người ta vẫn dùng mô hình này để mô phỏng dài hạn hơn
Mô hình cân bằng tổng quát mới được ứng dụng ở Việt Nam mấy năm gần đây, nhưng nó cũng đ9 đem lại nhiều kết quả to lớn khi xây dựng các chiến lược trung và dài hạn
Trang 33Sơ đồ mối quan hệ giữa đất canh tác, dân số - lao
động nông nghiệp và sản l−ợng lúa
Trang 343 đặc điểm địa bàn nghiên cứu
Vĩ độ Bắc: từ 200 - 200 30’ ,
Kinh độ Đông: từ 1050 30’ - 1070 30’
Diện tích tự nhiên: 14862 km2, bằng 4,49% diện tích cả nước và bằng 12,77% các tỉnh phía Bắc Dân số năm 2006 là 18.207.900 người bằng 21,64% dân số cả nước và bằng 60,15% dân số các tỉnh phía Bắc [10]
Vùng ĐBSH là vùng có truyền thống sản xuất lúa nước lâu đời hơn một ngàn năm, là vùng kinh tế trọng điểm của các tỉnh phía Bắc
Do có vị trí rất thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế giữa các vùng trong cả nước, giữa các tỉnh miền núi phía Bắc, các tỉnh ở phía Nam và có các cảng hàng không và các cảng biển lớn giao lưu với quốc tế, từ lâu lợi thế so sánh về
vị trí địa lý của các tỉnh vùng ĐBSH đ9 được khai thác để phát triển kinh tế, x9 hội của các tỉnh trong vùng và cả nước
Ngày nay trong thời kỳ đổi mới và hoà nhập với kinh tế thế giới, vùng
ĐBSH đ9 được xác định là một trong những vùng động lực phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật của các tỉnh phía Bắc và cả nước
Đồng bằng châu thổ sông Hồng là đồng bằng có sản phẩm tích tụ phù
Trang 35sa của sông Hồng và sông Thái Bình Do lấy ranh giới theo địa lý hành chính của 11 tỉnh nên bao gồm cả đất đồi núi của các tỉnh giáp với vùng trung du miền núi và một số đồi núi sót lại trên đồng bằng
Ngoài ra, đồng bằng sông Hồng còn có vị trí rất thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế, có đường quốc lộ 1, quốc lộ 5… những đường huyết mạch của đất nước Điều này cho thấy đồng bằng sông Hồng thực sự là một vùng kinh tế trọng điểm, đóng góp vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của
đất nước
3.1.1.2 Khí hậu
Khí hậu vùng Đồng bằng sông Hồng mang sắc thái khí hậu nhiệt đới gió mùa, phần nào pha trộn tính ôn đới được trải rộng trên các tiểu vùng trong năm với những đặc điểm về nhiệt độ, lượng mưa, hướng gió khác nhau Theo thống kê 20 năm gần đây và số liệu của các trạm khí tượng thủy văn tại một số tiểu vùng nghiên cứu (Hải Dương, Ninh Bình và Hà Nội) vùng Đồng bằng sông Hồng cho thấy:
- Nhiệt độ trung bình năm của vùng là 23,40C, nhiệt độ cao nhất tuyệt
đối là 42,80 C và thấp nhất tuyệt đối là 5,60C
- Lượng mưa trung bình năm là 1802 mm, năm cao nhất 2902 mm và năm thấp nhất 1356 mm Số ngày mưa trung bình là 156 ngày/năm
- Độ ẩm trung bình hàng năm 84,4% Số giờ nắng trung bình 1714 giờ
và hàng năm có từ 38 - 40 ngày có sương mù
Điều đáng chú ý là Đồng bằng sông Hồng tuy nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa nhưng nó lại có một mùa đông lạnh và khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 Nhiệt độ bình quân thời gian này có khi xuống dưới 150C [4]
3.1.1.3 Hệ thống sông ngòi
Mạng lưới sông ngòi của vùng tương đối phát triển ở vị trí hạ lưu sông Hồng và sông Thái Bình có nhiều chi lưu nên vùng Đồng bằng sông Hồng có một mạng lưới sông tương đối dầy đặc Dựa vào đó, ở Đồng bằng sông Hồng
Trang 36đ9 xây dựng hệ thống đê sông, đê biển để ngăn lũ, ngăn mặn, phát triển hệ thống tưới tiêu, phát triển thuỷ nông Kết hợp với hệ thống đường bộ, hệ thống giao thông đường thuỷ tạo thuận lợi cho việc phát triển kinh tế và x9 hội của vùng Đồng bằng sông Hồng có một vùng biển lớn, với bờ biển kéo dài từ Thuỷ Nguyên (Hải Phòng) đến Kim Sơn (Ninh Bình), có b9i triều rộng, phù sa dầy Đó là cơ sở để nuôi trồng thuỷ hải sản (đặc biệt là tôm và rong câu), để trồng cói, chăn nuôi thủy cầm ven bờ
3.1.2 Đặc điểm kinh tế xY hội
3.1.2.1 Đất đai và tình hình sử dụng đất đai
Cùng với xu hướng CNH - HĐH đất nước, đất đai và tình hình sử dụng
đất đai vùng ĐBSH có nhiều biến đổi Đất nông nghiệp có xu hướng giảm do chuyển mục đích sử dụng, đất lâm nghiệp tăng do chính sách phủ xanh đất trống đồi trọc của chính phủ Nhìn chung nhu cầu cho đất nhà ở có xu hướng ngày càng tăng do dân số tăng
Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất vùng ĐBSH
2000 2001 2002 Phân loại đất Diện tích
(1000 ha)
Cơ cấu (%)
Diện tích (1000 ha)
Cơ cấu (%)
Diện tích (1000 ha)
Cơ cấu (%) Tổng diện tích 1478,8 100,00 1479,9 100,00 1480,6 100,00
Trang 37Tới năm 2010, dân số nông thôn sẽ giảm từ 13,8 triệu người năm 2000 xuống còn 11,1 triệu người, giảm từ 78,8% xuống còn 57% và nhân khẩu nông nghiệp giảm từ 11,5 triệu người còn 7,3 triệu người Sự chuyển dịch dân cư, tập trung ở các thành thị, là quy luật tất yếu của quá trình phát triển Đối với vùng ĐBSH, có thể đó là yếu tố tích cực để giảm áp lực về việc làm, tăng khả năng thu nhập cho dân cư nông thôn [6]
Sự phát triển về kinh tế của vùng dẫn đến sự thay đổi về cơ cấu lao
động, theo chiều hướng tăng lao động trong các ngành: công nghiệp, xây dựng
và dịch vụ với tốc độ chuyển dịch từ 5 - 6%/năm Lao động trong ngành nông nghiệp sẽ giảm trong cơ cấu từ: 64,2% năm 2000 xuống còn 44% vào năm
2010 Khi đó tỷ lệ lao động chưa có việc làm sẽ gảm từ 11% năm 2000 xuống còn 6% năm 2010 [6]
Như vậy sự chuyển dịch cơ cấu lao động của vùng phù hợp với xu hướng phát triển và hứa hẹn tạo nhiều việc làm, tăng hiệu quả lao động và cải thiện mức sống của nông thôn và lao động nông nghiệp
3.1.2.3 Hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp vùng ĐBSH đ9
được đầu tư khá nhiều, góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển trong thời gian qua Theo nguồn (tổng cục thống kê) tính đến năm 2001, toàn vùng có:
Trang 38- Số trạm trại giống cây trồng: có 36 cơ sở với 675 ha đất sản xuất,
- Tổng diện tích được tưới: 1,3 triệu ha,
- Diện tích cây hàng năm được cày bừa máy: 881,5 nghìn ha
Các trạm trại kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp có số lượng khá lớn, song đ9 xuống cấp nhiều, cần phải được tăng cường đầu tư nâng cấp trong thời gian tới
Bảng 3.2 Số lượng một số máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp
vùng Đồng bằng sông Hồng thời gian qua Hạng mục ĐVT 1990 1995 2000 2005 TốcđộPTBQ
(%năm) Máy kéo Cái 3.872 15.363 20.692 22.181 17,20 Máy bơm nước Cái 10.309 14.720 30.801 31.877 10,84 Máy tuốt lúa Cái 16.278 48.854 154.415 160.797 23,15 Máy nghiền TAGS Cái 607 3.815 14.269 12.563 31,71 Công trình thuỷ lợi C.Trình 8.729 9.130 9.237 0,95 Diện tích cây hàng
năm cày bừa máy Ha 447.783 814.526 881.475 11,95
Trang 393.1.3 Những thuận lợi và khó khăn của điều kiện tự nhiên kinh tế ảnh hưởng
đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo ngành của vùng
3.1.3.1 Những thuận lợi
Vùng ĐBSH một trung tâm kinh tế quan trọng của cả nước, nền kinh tế
đ9 được hình thành từ rất lâu có thế mạnh hơn hẳn so với các vùng khác trong cả nước Nơi đây có thủ đô Hà Nội là nơi tập trung kinh tế, chính trị, x9 hội của cả nước Bên cạnh đó đồng bằng sông Hồng còn có cảng Hải Phòng, một trong những cảng lớn nhất nước, là nơi giao lưu buôn bán, vận chuyển hàng hoá với các nước trên thế gới… Đây chính là các yếu tố giúp cho kinh tế vùng
đồng bằng sông Hồng phát triển Trong những năm gần đây nền kinh tế nông nghiệp vùng ĐBSH phát triển với tốc độ tăng đáng kể Nhiều công trình thuỷ lợi giao thông phục vụ cho sản xuất nông nghiệp đ9 được đầu tư phát triển…
đó là những yếu tố quan trọng để tạo đà cho sự phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của vùng
Nằm ở vị trí trung tâm là khu vực giao lưu kinh tế mạnh của cả nước có rất nhiều thuận lợi về các nguồn thông tin, luôn thu hút được vốn đầu tư vào cho nông nghiệp cũng như phát triển các làng nghề khác Đội ngũ lao động dồi dào, nguồn nguyên liệu phong phú Do đó sẽ thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp với nhịp độ nhanh hơn
Đất đai của vùng rất phong phú, đa dạng, thêm vào đó một hệ thống sông ngòi kênh mương dầy đặc phục vụ tưới tiêu thuận lợi nên có điều kiện để phát triển một nền nông nghiệp toàn diện bền vững Đồng thời vùng ĐBSH với
điều kiện đất đai, khí hậu cho phép phát triển một nền nông nghiệp thâm canh cao, đa dạng về sản phẩm hàng hoá đáp ứng nhu cầu của thị trường
Giao thông thuận lợi, hệ thống đường quốc lộ, liên x9, liên thôn của vùng ngày càng được nâng cấp và hoàn thiện tạo điều kiện cho việc giao lưu hàng hoá trong vùng và giữa các vùng trong khu vực
Trang 40Một hệ thống các cơ quan xí nghiệp, viện nghiên cứu của Trung ương
đóng trên địa bàn tạo điều kiện cho việc tiếp thu khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất Hệ thống giống cây trồng vật nuôi, thú y, bảo vệ thực vật ngày có nhiều tiến bộ, chuyển giao cho nông dân
Nhìn chung, với điều kiện cơ sở hạ tầng thuận lợi của mình, đồng bằng sông Hồng thực sự trở thành một trong những vùng kinh tế trọng điểm, có nhiều đóng góp cho nền kinh tế quốc dân
Đây là những điều kiện thuận lợi giúp cho vùng phát triển một cơ cấu nông nghiệp ngày một hợp lý hơn để tận dụng tối đa các nguồn lực và lợi thế của vùng
3.1.3.2 Những khó khăn
Quá trình đô thị hoá của vùng đang diễn ra rất nhanh chóng đồng thời
nó cũng làm giảm đi rất nhiều diện tích đất nông nghiệp Thêm vào đó tốc độ tăng dân số của vùng rất mạnh nên diện tích đất nông nghiệp/lao động nông nghiệp vốn đ9 hạn chế nay ngày càng bị thu hẹp hơn Trong khi đó yêu cầu về nông sản phẩm hàng hoá nông nghiệp ngày càng đòi hỏi cao hơn Nên đặt ra nhiều thách thức lớn đối với việc cung cấp nông sản phẩm có chất lượng cao cho x9 hội
Diện tích đất nông nghiệp rất manh mún, để phát triển sản xuất hàng hoá là một điều rất khó khăn, phải có thời gian để tập trung lại ruộng đất để có thể phát triển nền sản xuất lớn có hiệu quả
Hệ thống các ngành chế biến nông - lâm - thuỷ sản còn phát triển rất chậm nhiều khi sản phẩm thô tuy nhiều nhưng không có công nghệ chế biến phù hợp, hiệu quả dẫn đến làm hạn chế khả năng phát triển của sản xuất Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ nên việc tiêu thụ nông sản hàng hoá gặp rất nhiều khó khăn, không khuyến khích được người tham gia sản xuất
Vốn đầu tư cho nông nghiệp còn rất hạn hẹp không chú trọng đầu tư trọng điểm, thủ tục cho vay vốn còn rườm rà nhiều thủ tục gây khó khăn cho