PHầN II: CƠ SƠ Lý LUậN Và THựC TIễN Theo chúng tôi, cạnh tranh buộc các nhà sản xuất, bán buôn, xuất khẩu phải cải tiến kỹ thuật, tổ chức quản lý để tăng năng suất lao động, nâng cao chấ
Trang 1Bộ giáo dục đào tạo Trường đại học nông nghiệp hà nội
Trang 2LờI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và ch−a đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đ/
đ−ợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đ/ đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hồng Thái
Trang 3LờI CảM ƠN
Để hoàn thành luận văn này cũng như hoàn thành cả quá trình học tập, rèn luyện là nhờ sự dạy dỗ động viên và dìu dắt nhiệt tình của các thầy giáo, cô giáo trong Khoa sau Đại học, Khoa kinh tế và phát triển nông thôn cùng gia đình và toàn thể bạn bè Nhân dịp này em xin được gửi lời cảm ơn chân thành của mình đến BGH, Ban chủ nhiệm khoa, các thầy giáo, cô giáo đ/ chỉ dẫn, dạy dỗ cho em những kiến thức vô cùng quý giá để em có thể trưởng thành một cách vững vàng
Em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy giáo, cô giáo trong Bộ môn kinh tế lượng, đặc biệt là cô Nguyễn Thị Dương Nga là người trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu đề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn Đảng ủy, UBND cùng toàn thể bà con nhân dân x/ Đồng Kỵ đ/ tạo điều kiện cho tôi tiếp cận và thu thập những thông tin cần thiết để làm sáng tỏ mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Cảm ơn tất cả bạn bè gần xa đ/ chia xẻ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập cũng như trong quá trình làm luận văn này
Cuối cùng con muốn giành lời cảm ơn đặc biệt nhất đến với bố mẹ, anh em và những người thân đ/ giành cho tình yêu thương và nguồn động viên an ủi lớn nhất
Hà Nội, ngày 18 tháng 09 năm 2009
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hồng Thái
Trang 4Mục lục
Lời cam đoan……… i
Lời cảm ơn……… ii
Mục lục……… iii
Danh mục các chữ viết tắt……… vi
Danh mục các đồ thị……… vii
Danh mục các sơ đồ……… viii
PHầN I: Mở ĐầU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối t−ợng và phạm vi nghiên cứu 2
1.3.1 Đối t−ợng nghiên cứu 2
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
PHầN II: CƠ SƠ Lý LUậN Và THựC TIễN 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Lý luận về cạnh tranh 4
2.1.2 Những đặc điểm chung về các sản phẩm đồ gỗ 22
2.1.3 Lý luận về làng nghề 24
2.2 Cơ sở thực tiễn 30
Trang 52.2.1 Tình hình phát triển nghề thủ công công nghiệp trên thế giới 30
2.2.2 Tình hình phát triển ngành nghề thủ công nghiệp ở Việt Nam 34
2.2.3 Chủ trương - Chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển các làng nghề ở Việt Nam 40
2.2.4 Tình hình phát triển nghề tiểu thủ công nghiệp ở Bắc Ninh 43
2.2.5 Các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của sản phẩm 44
PHầN III: ĐặC ĐIểM ĐịA BàN Và PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU 51
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 51
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 51
3.1.2 Đặc điểm kinh tế xK hội 54
3.2 Phương pháp nghiên cứu 62
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 62
3.2.2 Phân tích số liệu 63
PHầN IV: KếT QUả NGHIÊN CứU 69
4.1 Thực trạng sản xuất và tiêu thụ đồ gỗ ở phường Đồng Kỵ 69
4.1.1 Sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ của làng nghề 69
4.1.2 Tình hình sản xuất kinh doanh sản phẩm đồ gỗ tại phường Đồng Kỵ 74
4.2 Sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ tại các hộ điều tra 77
4.2.1 Thông tin chung về các hộ điều tra 77
4.2.2 Tình hình sản xuất sẩn phẩm đồ gỗ tại các hộ điều tra 83
4.2.3 Tình hình tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ của các hộ điều tra 93
4.3 Đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm đồ gỗ Đồng Kỵ 96
Trang 64.3.1 Thị trường tiêu thụ và các sản phẩm cạnh tranh chủ yếu 96
4.3.2 Cạnh tranh về giá bán và chi phí sản xuất 99
4.3.3 Cạnh tranh về tính khác biệt của sản phẩm và dịch vụ đi kèm 106
4.3.4 Cạnh tranh về khả năng thâm nhập thị trường 109
4.3.5 Đánh giá của khách hàng về sản phẩm đồ gỗ Đồng Kỵ 112
4.3.6 Phân tích mô hình kim cương cho sản phẩm đồ gỗ Đồng Kỵ 116
4.3.7 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức ngành đồ gỗ Đồng Kỵ 121
4.4 Định hướng và một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm đồ gỗ Đồng Kỵ 123
4.4.1 Định hướng 123
4.4.2 Giải pháp 124
PHầN V: KếT LUậN Và KHUYếN NGHị 138
5.1.Kết luận 138
5.2 Khuyến nghị 140
TàI LIệU THAM KHảO 142
PHụ LụC 146
Trang 7DANH MụC CáC CHữ VIếT TắT
CNH-HĐH : Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
Trang 8danh mục các bảng
Bảng 2.1: Chi phí sản xuất vải và thép của ấn Độ và Việt Nam……….17
Bảng 2.2: Sản lượng vải và thép khi chưa có thương mại quốc tế………18
Bảng 2.3: Sản lượng vải và thép khi có thương mại quốc tế………18
Bảng 2.4: Chi phí sản xuất vải và thép của ấn Độ và Việt Nam……… 20
Bảng 2.5: Tình hình xuất khẩu gỗ của Việt Nam qua một số năm………… 36
Bảng 2.6: So sánh chất lượng/ Công nghệ về gốm theo Quốc gia………… 50
Bảng 3.1: Đặc điểm đất đai của thị xK Từ Sơn (2006- 2008)……… 53
Bảng 3.2: Tình hình dân số- lao động của thị xK Từ Sơn (2006- 2008)…… 55
Bảng 3.3: Kết quả sản xuất kinh doanh của thị xK Từ Sơn (2006- 2008)……53
Bảng 4.1: Đặc trưng về hình thái, tính chất một số sản phẩm đồ gỗ Đồng Kỵ…….72
Bảng 4.2: Các loại hình tổ chức sản xuất của Đồng Kỵ năm 2008………75
Bảng 4.3: Giá trị sản xuất sản phẩm đồ gỗ tại phường Đồng Kỵ năm 2006- 2008…76 Bảng 4.4: Tình hình cơ bản về các cơ sở và hộ sản xuất năm 2008……… 77
Bảng 4.5: Tình hình kinh tế của các cơ sở và hộ sản xuất năm 2008……….80
Bảng 4.6: Tình hình sử dụng vốn của các cơ sở điều tra……… 82
Bảng 4.7: Tình hình sử dụng các loại nguyên liệu gỗ chính tại các cơ sở điều tra năm 2008……… 83
Bảng 4.8: Kết quả sản xuất của các loại hình sản xuất được điều tra năm 2008……85
Bảng 4.9: Chi phí sản xuất gỗ của các loại hình sản xuất năm 2008……… 89
Bảng 4.10: Kết quả và hiệu quả sản xuất sản phẩm đồ gỗ của các loại hình sản xuất được điều tra năm 2008……… 91
Trang 9Bảng 4.11: Thị trường chính tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ Đồng Kỵ………… 146 Bảng 4.12: Giá một số sản phẩm cạnh tranh ở thị trường tiêu thụ………… 99 Bảng 4.13: Một số sản phẩm cùng giá của đồ gỗ Đồng Kỵ và Đài Loan… 147 Bảng 4.14: Giá thành sản xuất một số sản phẩm ở Đồng Kỵ và Vạn Điểm…103 Bảng 4.15: Kết cấu giá thành sản xuất một số sản phẩm ……… 104 Bảng 4.16: Đặc điểm, tính chất, dịch vụ đi kèm của đồ gỗ Đồng Kỵ và Vạn
Điểm……… 107 Bảng 4.17: Thị trường tiêu thụ trong nước của sản phẩm đồ gỗ Đồng Kỵ và Vạn Điểm……… 148 Bảng 4.18: Thị trường xuất khẩu của đồ gỗ Đồng Kỵ và Vạn Điểm……….149 Bảng 4.19: Sở thích của khách hàng về sản phẩm đồ gỗ Đồng Kỵ trên địa bàn thành phố Hà Nội……… 112 Bảng 4.20: Đánh giá của khách hàng trên địa bàn Hà Nội về sản phẩm đồ gỗ
Đồng Kỵ………114 Bảng 4.21: Khung hành động chiến lược……… 124
Trang 10Danh mục đồ thị
Đồ thị 2.1: Kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ nội thất (HS: 9403) sang Hoa Kỳ các
tháng năm 2008……… 38
Đồ thị 2.2: Kim ngạch xuất khẩu một số sản phẩm gỗ sang Hoa Kỳ năm 2008 (nghìn USD)……….38
Đồ thị 2.3: Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ sang Hoa Kỳ giai đoạn 2006- 2008……… 40
Danh Mục sơ đồ Sơ đồ 3.1: Mô hình kim cương………66
Sơ đồ 4.1: Các công đoạn chính sản xuất sản phẩm đồ gỗ……… 69
Sơ đồ 4.2: Kênh tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ của các cơ sở sản xuất………93
Sơ đồ 4.3: Mô hình kim cương cho đồ gỗ Đồng Kỵ……… 118
Trang 11PHầN I: Mở ĐầU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước nông nghiệp với phần đông dân số làm nghề nông, tuy nhiên sản xuất nông nghiệp Việt Nam còn lạc hậu, kém phát triển, thu nhập của người dân trong hoạt động sản xuất nông nghiệp còn thấp Để phát triển kinh tế nông nghiệp đòi hỏi phải phát triển cả sản xuất nông nghiệp
và phi nông nghiệp, trong đó phát triển các làng nghề thủ công truyền thống là rất quan trọng, nhằm tạo việc làm và tăng thu nhập cho người dân
Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay cạnh tranh là một bài toán đặt ra cho tất cả các nước Vậy ở Việt Nam bài toán đó được giải như thế nào? Điều đó
được từng ngành, từng cơ quan, từng địa phương có những hướng giải quyết của riêng mình nhưng đều nằm trong khuôn khổ và định hướng mà Đảng và Chính phủ đặt ra Và Bắc Ninh cũng như các tỉnh khác đang giải bài toán này
Bắc Ninh được mệnh danh là “đất trăm nghề” Từ hàng trăm năm nay sản phẩm của các làng nghề xứ Bắc với sự phong phú, đa dạng về chủng loại, chất lượng và giá trị sản phẩm đK nổi tiếng khắp trong và ngoài nước Sự tồn tại và phát triển của các làng nghề đK góp phần quan trọng vào sự phát triển
và làm thay đổi bộ mặt nông thôn về đời sống kinh tế, văn hoá - xK hội Qua
đó giá trị tổng sản lượng công nghiệp của các làng nghề chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị tổng sản lượng công nghiệp của địa phương ở Bắc Ninh các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp rất phát triển Đặc biệt là từ khi có chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển và bảo tồn các làng nghề truyền thống thì các làng nghề ở Bắc Ninh như được chắp thêm cánh
Nhưng trong điều kiện hội nhập hiện nay liệu các làng nghề có thể tồn tại và phát triển được không? Các sản phẩm của làng nghề sản xuất ra có thể
Trang 12cạnh tranh được không? Đặc biệt là với làng nghề sản xuất gỗ trong điều kiện nguồn cung thì hạn hẹp, các sản phẩm thay thế thì rất nhiều vừa rẻ, bền lại
đẹp Một câu hỏi đặt ra là liệu các sản phẩm của làng nghề đồ gỗ có tiêu thụ
được không? Cạnh tranh với các sản phẩm, làng nghề khác như thế nào? Để trả lời cho những câu hỏi đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm đồ gỗ Đồng Kỵ- Từ Sơn- Bắc Ninh” 1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Từ thực trạng sản xuất kinh doanh sản phẩm của làng nghề chúng tôi tiến hành đánh giá khả năng cạnh tranh và tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh sản phẩm của làng nghề từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm của làng nghề đồ gỗ Đồng Kỵ-
Từ Sơn- Bắc Ninh
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về sản phẩm và khả năng cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa
- Đánh giá thực trạng sản xuất và kinh doanh của sản phẩm đồ gỗ Đồng Kỵ- Từ Sơn- Bắc Ninh
- Đánh giá khả năng cạnh tranh và các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của sản phẩm đồ gỗ Đồng Kỵ
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm đồ gỗ Đồng Kỵ
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu khả năng cạnh tranh của làng nghề đồ gỗ
Đồng kỵ- Từ Sơn- Bắc Ninh
Trang 14PHầN II: CƠ SƠ Lý LUậN Và THựC TIễN
Theo chúng tôi, cạnh tranh buộc các nhà sản xuất, bán buôn, xuất khẩu phải cải tiến kỹ thuật, tổ chức quản lý để tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng hàng hóa, thay đổi mẫu mK, bao bì cho phù hợp với thị hiếu của khách hàng, giữ tín nhiệm, cải tiến nghiệp vụ thương mại, dịch vụ, giảm giá thành giữ ổn định hay giảm giá bán tăng danh lợi
Đồng thời, các hình thức cạnh tranh ngày càng đa dạng, các phương pháp và quy mô cạnh tranh ngày càng mở rộng trên phạm vi quốc tế Cạnh tranh quốc tế là cạnh tranh để dành giật nguồn nguyên liệu, thị trường tiêu thụ sản phẩm, khu vực đầu tư có lợi trên trường quốc tế Nó là một hiện tượng khá phổ biến trong quan hệ kinh tế quốc tế, nhất là thương mại và đầu tư Thực tế cho thấy trong thương mại quốc tế, cạnh tranh thường diễn ra giữa các nhà kinh doanh cùng một mặt hàng, giữa các công ty lớn và giữa các quốc gia
Đối với các mặt hàng thủ công mỹ nghệ thì cạnh tranh lại càng gay gắt hơn vì các mặt hàng này chi phí sản xuất rất lớn và thời gian sản xuất kéo dài, tính chất văn hóa hay nghệ thuật kết tinh trong sản phẩm rất cao, không thể sản xuất hàng loạt được nên giá thành sản phẩm thường rất cao Đặc biệt là
Trang 15đối với các sản phẩm sản xuất từ gỗ thì cạnh tranh càng gay gắt hơn vì nguồn nguyên liệu khan hiếm và giá thành sản xuất thường rất cao
Trong quá trình nghiên cứu về cạnh tranh, người ta sử dụng khái niệm năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh được xem xét ở các góc độ khác nhau như năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh của ngành, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ
2.1.1.2 Năng lực cạnh tranh của một quốc gia [32]
Năng lực cạnh tranh đK trở thành một trong những quan tâm của chính phủ và các ngành sản xuất trong mỗi quốc gia Theo M Porter, có nhiều cách giải thích vì sao một số quốc gia thành công và một số thất bại khi cạnh tranh trên quốc tế Mặc dù các cách giải thích này thường mâu thuẫn nhau, và không có một lý thuyết chung nào được chấp nhận
Một số cho rằng năng lực cạnh tranh của quốc gia là một hiện tượng kinh tế vĩ mô, chịu ảnh hưởng của các biến kinh tế vĩ mô như tỷ giá hối đoái, lKi suất Tuy nhiên một số quốc gia lại có mức sống dân cư tăng lên mặc dù
bị thâm hụt ngân sách cao như Nhật, Italia và Hàn Quốc (Micael, 1985) Một
số khác cho rằng năng lực cạnh tranh là một hàm số của lao động dồi dào với mức lương thấp Tuy vậy một số nước như Đức, Thuỵ Sỹ và Thuỵ Điển lại có mức thu nhập rất cao trong khi họ thiếu lao động và giá nhân công rất cao
Kết quả của năng lực cạnh tranh của quốc gia là sự tăng trưởng ổn định của năng suất và cải thiện mức sống của dân cư nước đó
Micheal E Porter với mô hình Kim cương (Diamond Model) trong phân tích lợi thế cạnh tranh lại cho rằng các yếu tố (các mũi nhọn của kim cương) tạo nên sự cạnh tranh của một quốc gia gồm có (i) chiến lược, cơ cấu công ty/doanh nghiệp, sự cạnh tranh; (ii) điều kiện cầu; (iii) các điều kiện nguồn lực cho sản xuất và (iv) các ngành công nghiệp hỗ trợ Các yếu tố trên có mối quan
Trang 16hệ phụ thuộc lẫn nhau, tuy nhiên yếu tố chính phủ và sự thay đổi cũng được đưa vào ảnh hưởng đến cả bốn yếu tố trên Mô hình này thường để phân tích đánh giá sức cạnh tranh của môt quốc gia trong một ngành công nghiệp nhất định, hoặc sức cạnh tranh của một địa phương cho một ngành sản xuất nhất định
Trong lý thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia được đề xuất bởi M.Porter (1990), chúng ta thấy ông đK tập trung vào việc giải thích những vấn đề trên Với lý thuyết này, M.Porter cho rằng sự gia tăng mức sống và sự thịnh vượng của quốc gia phụ thuộc chủ yếu vào khả năng đổi mới, khả năng tiếp cận nguồn vốn và hiệu ứng lan truyền công nghệ của nền kinh tế Nói tổng quát hơn, sức cạnh tranh cuả một quốc gia phụ thuộc vào sức cạnh tranh của các ngành trong nền kinh tế Sức cạnh tranh của một ngành lại xuất phát từ năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành: khả năng đổi mới công nghệ, sản phẩm, cung cách quản lý của ngành và môi trường kinh doanh Các đầu vào quan trọng đối với hoạt động sản xuất của nền kinh tế không phải chỉ thuần là lao
động, vốn, tài nguyên thiên nhiên mà còn là những đầu vào do chính doanh nghiệp hoặc chính phủ tạo ra Với cách nhìn nhận như vậy, M.Porter (1990) cho rằng bốn yếu tố quyết định lợi thế cạnh tranh của một quốc gia là :
1 Chiến lược của doanh nghiệp, cơ cấu và sự cạnh tranh: Những ngành
có chiến lược và cơ cấu phù hợp với các định chế và chính sách cuả quốc gia, hoạt động trong môi trường có cạnh tranh trong nước căng thẳng hơn sẽ có tính cạnh tranh quốc tế mạnh hơn Chẳng hạn như ngành sản xuất xe hơi của Nhật có một số công ty cạnh tranh mạnh trên thị trường thế giới một phần là
do các công ty này đK cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường trong nước, luôn suy nghĩ và hành động mang tính chiến lược
2 Các điều kiện về phía cầu: Những ngành phải cạnh tranh mạnh ở trong nước thì mới có khả năng cạnh tranh quốc tế tốt hơn Thị trường trong nước với số cầu lớn, có những khách hàng đòi hỏi cao và môi trường cạnh
Trang 17tranh trong ngành khốc liệt hơn sẽ có khả năng cạnh tranh cao hơn Chẳng hạn như ngành chế biến thức ăn nhanh của Hoa Kỳ có khả năng cạnh tranh được trên thị trường quốc tế bởi lẽ người tiêu dùng Hoa Kỳ là những người đòi hỏi tốc độ và sự thuận tiện nhất thế giới
3 Các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan: Tính cạnh tranh của một ngành phụ thuộc vào sức mạnh của các nhà cung cấp các nhập lượng và các dịch vụ hỗ trợ Các nhà cung cấp nhập lượng có khả năng cạnh tranh trên toàn cầu có thể mang lại cho doanh nghiệp - khách hàng của họ lợi thế về chi phí
và chất lượng Các ngành có quan hệ ngang cũng mang lại lợi thế cạnh tranh thông qua sự lan truyền công nghệ Sự hiện diện cụm công nghiệp tạo ra cho doanh nghiệp lợi thế kinh tế theo quy mô Ví dụ như ngành sản xuất máy tính của Hoa Kỳ là ngành đầu đàn vì các công ty có nhiều sáng kiến trong ngành công nghiệp bán dẫn, vi xử lý, hệ thống điều hành và dịch vụ vi tính
4.Các điều kiện về các yếu tố sản xuất: bao gồm chất lượng lao động, vốn và lao động rẻ, cơ sở hạ tầng mạnh và công nghệ cao sẽ ảnh hưởng đến tính cạnh tranh của ngành và của các quốc gia ở đây chúng ta nhấn mạnh đến chất lượng của các yếu tố đầu vào được tạo ra chứ không phải là nguồn lực trời cho ban đầu Chẳng hạn như ngành sản xuất thép ở ấn Độ có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới dù họ không có tài nguyên về sắt hoặc than,
mà bởi vì họ có công nghệ sản xuất tốt
Một quốc gia có lợi thế cạnh tranh trong những ngành mà người ta tìm thấy bốn yếu tố cơ bản trên khá mạnh Đây là những khu vực mà chính phủ nên tập trung nỗ lực của họ nhằm để thúc đẩy lợi thế cạnh tranh của quốc gia 2.1.1.3 Năng lực cạnh tranh của một ngành sản xuất và của doanh nghiệp
Một trong các yếu tố trọng tâm chúng ta quan tâm là giải thích vì sao các công ty trong một nước lại có thể cạnh tranh một cánh thành công với các công ty nước ngoài trong cùng một ngành sản xuất Hay ngành công nghiệp
Trang 18của nước này lại thành công hơn so với nước khác khi tham gia trên thị trường quốc tế Năng lực cạnh tranh của một ngành chịu ảnh hưởng của sự cộng tác
và phối hợp giữa các doanh nghiệp trong ngành đó
Vậy để cạnh tranh, các doanh nghiệp trong ngành chắc chắn phải có lợi thế cạnh tranh dưới dạng (i) chi phí thấp hơn hoặc (ii) tạo ra sự khác biệt trong sản phẩm mà có thể được bán với giá cao hơn
Năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp/hKng là khả năng doanh nghiệp/hKng đó có thể duy trì và củng cố vị trí của nó trên thị truờng nội địa
và quốc tế Năng lực cạnh tranh liên quan đến các vấn đề về nguồn lực và chất lượng của các nguồn lực này, và cách thức tổ chức sử dụng chúng
Các hKng đạt được lợi thế cạnh tranh thông qua hành động đổi mới: công nghệ mới và cách thức quản lý, làm việc mới Kết quả của sự đổi mới này là thiết kế sản phẩm mới, quy trình sản xuất mới, phương pháp tiếp thị mới, hay một cách thức mới trong đào tạo Đôi khi sự đổi mới thường liên quan tới các ý tưởng thậm chí không phải là mới, và luôn liên quan đến các
đầu tư vào kỹ năng, kiến thức, tài sản, nguồn lực và thương hiệu sản phẩm
Trong một số trường hợp, sự đổi mới tạo ra lợi thế cạnh tranh qua việc nhận thức được một cơ hội thị trường hoàn toàn mới hay một phân khúc thị trường mà các đối thủ khác không để ý tới Nếu doanh nghiệp nắm bắt nhanh hơn cơ hội này thì sự đổi mới này đK tạo ra tính cạnh tranh cho chính doanh nghiệp đó
Một khi doanh nghiệp/công ty đạt được lợi thế cạnh tranh thông qua đổi mới, nó có thể duy trì lợi thế này bằng cách cải tiến không ngừng vì sự đổi mới này thường bị các đối thủ các làm theo Ví dụ các công ty của Hàn Quốc
đK kịp thời nắm bắt khả năng của các đối thủ ấn Độ trong sản xuất hàng loạt các đồ điện tử, hay các công ty của Braxin đK có thể lắp ráp và thiết kế giày bình thường để cạnh tranh với các đôi giày của Italia Do vậy cách thức duy
Trang 19nhất duy trì lợi thế cạnh tranh là nâng cấp lợi thế này, chuyển sang các loại sản phẩm/dịch vụ tinh tế hơn và phức tạp hơn
2.1.1.4 Khả năng cạnh tranh của sản phẩm và các yếu tố quyết định
Một sản phẩm được coi là có sức cạnh tranh và có thể đứng vững khi có mức giá thấp hơn hoặc khi cung cấp các sản phẩm tương tự với chất lượng hay dịch vụ ngang bằng hay cao hơn
Theo lý thuyết thương mại truyền thống, khả năng cạnh tranh được xem xét qua lợi thế so sánh về chi phí sản xuất và năng suất lao động
Theo M Porter, khả năng cạnh tranh phụ thuộc vào khả năng khai thác các năng lực độc đáo của mình để tạo sản phẩm có giá phí thấp và sự khác biệt của sản phẩm
Muốn nâng cao năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp cần phải xác định lợi thế cạnh tranh của mình Lợi thế cạnh tranh của sản phẩm được hiểu là những thế mạnh mà sản phẩm có hoặc có thể huy động để đạt thắng lợi trong cạnh tranh Có hai nhóm lợi thế cạnh tranh:
- Lợi thế về chi phí: tạo ra sản phẩm có chi phí thấp hơn đối thủ cạnh tranh Các nhân tố sản xuất như đất đai, vốn và lao động thường được xem là nguồn lực để tạo lợi thế cạnh tranh
- Lợi thế về sự khác biệt hóa: dựa vào sự khác biệt của sản phẩm làm tăng giá trị cho người tiêu dùng hoặc giảm chi phí sử dụng sản phẩm hoặc nâng cao tính hoàn thiện khi sử dụng sản phẩm Lợi thế này cho phép thị trường chấp nhận mức giá thậm chí cao hơn đối thủ
Thông thường việc xác định khả năng cạnh tranh của sản phẩm dựa vào
4 tiêu chí:
- Tính cạnh tranh về chất lượng và mức độ đa dạng hóa sản phẩm
Trang 20ổn định, giá cả sản phẩm và công tác Marketing sản phẩm
2.1.1.5 Sự cần thiết nâng cao năng lực cạnh tranh
Nâng cao năng lực cạnh tranh là: đánh giá thực tế năng lực cạnh tranh của quốc gia, doanh nghiệp, sản phẩm dịch vụ đó thông qua các tiêu chí để có những nhận định, biện pháp, chiến lược nhằm đưa doanh nghiệp có đủ sức cạnh tranh trên thị trường Hay nâng cao năng lực cạnh tranh là thay đổi mối tương quan giữa thế và lực của doanh nghiệp về mọi mặt của quá trình sản xuất kinh doanh
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một quy luật khách quan của nền sản xuất hàng hóa, là một nội dung trong cơ chế vận động của thị trường Sản xuất hàng hóa càng phát triển, hàng hóa dịch vụ bán ra càng nhiều, số lượng cung cấp càng đông thì cạnh tranh càng gay gắt Nhưng cũng chính nhờ
sự cạnh tranh, mà nền kinh tế thị trường vận động theo hướng ngày càng nâng cao năng xuất lao động xK hội Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh diễn
ra ở mọi lúc, mọi nơi, không phụ thuộc vào yếu tố chủ quan của riêng ai, nên cạnh tranh trở thành một quy luật quan trọng thúc đẩy sự phát triển Mọi ngành, doanh nghiệp đều phải tự mình vận động để đứng vững trong cơ chế này Cơ chế thị trường mở đường cho doanh nghiệp nào biết nắm thời cơ, biết phát huy tối đa thế mạnh của mình và hạn chế được tối thiểu những bất lợi để giành thắng lợi trong cạnh tranh
Trang 21Hiện nay, nền kinh tế nước ta đang hội nhập với kinh tế thế giới đK tạo
điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, song cũng buộc các doanh nghiệp có những đổi mới để nâng cao sức cạnh tranh trên thương trường, hội nhập kinh tế chính là khơi thông các dòng chảy nguồn lực trong nước và nước ngoài, tạo điều kiện mở rộng thị trường chuyển giao công nghệ
và các kinh nghiệm quản lý
Thách thức hàng đầu khi hội nhập kinh tế thế giới là tính cạnh tranh ngày càng khốc liệt cả thị trường trong nước và xuất khẩu do các hàng rào thuế quan bảo hộ cũng như các chính sách ưu đKi đang dần bị loại bỏ Chính vì vậy, các ngành;doanh nghiệp phải không ngừng tăng vốn đầu tư, luôn đổi mới công nghệ, chất lượng lao động để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
và tăng năng lực cạnh tranh Thách thức nữa là hàng hóa và dịch vụ sẽ ngày càng phải đương đầu với những rào cản thương mại quốc tế mới Vì vậy, các doanh nghiệp cần phải trang bị cho mình những kiến thức về thị trường cả trong nước và ngoài nước, nắm bắt tập quán, luật kinh doanh ở thị trường trong nước và ngoài nước Khi mà sức cạnh tranh của doanh nghiệp được nâng cao nó sẽ thể hiện tốt vai trò, chức năng của mình trong việc:
- Phục vụ tốt hơn nhu cầu tiêu dùng của khách hàng
- Kích thích sản xuất phát triển ổn định
- Thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật
- Mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế
Trong bối cảnh đó nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm của các doanh nghiệp là một tất yếu khách quan [33]
2.1.1.6 Các chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa
Dựa vào các tiêu chí sau:
- Thị phần sản phẩm đó trên thị trường so với các đối thủ cạnh tranh, thị phần càng lớn càng thể hiện sức cạnh tranh của sản phẩm đó càng mạnh
Trang 22Để tồn tại và có sức cạnh tranh, sản phẩm của doanh nghiệp phải chiếm
được một phần của thị trường, qua đó đánh giá được sức cạnh tranh sản phẩm của mỗi doanh nghiệp, ưu thế cũng như điểm mạnh điểm yếu tương đối của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh
- Vị thế tài chính: có tầm quan trọng tối cao trong việc nâng cao vị thế cạnh tranh của ngành, của doanh nghiệp Khả năng nguồn tài chính mạnh
được đánh giá bằng năng lực cạnh tranh Đó là: lợi nhuận, dòng tiền mặt, tỷ lệ vốn vay, mức dự trữ và hiệu suất lợi tức cổ phần doanh nghiệp, các hệ số thanh khoản, các hệ số hoạt động, các chỉ số sinh lợi
- Khả năng nắm bắt thông tin: doanh nghiệp phải nắm bắt đầy đủ các thông tin, bao gồm các thông tin về khả năng cạnh tranh của hàng hóa và dịch
vụ cùng loại, thông tin về tình hình cung cầu và giá cả, thông tin về công nghệ mới thích hợp, thông tin về hoạt động của đối thủ cạnh tranh,
- Chất lượng sản phẩm và bao gói: người tiêu dùng khi mua hàng trước hết phải nghĩ tới khả năng hàng hóa đáp ứng nhu cầu của họ, tới chất lượng mà
nó có trong điều kiện hiện tại, chất lượng là yếu tố quan trọng bậc nhất mà các doanh nghiệp lớn thường sử dụng trong cạnh tranh vì nó đem lại khả năng
“chiến thắng” Đó cũng là con đường mà doanh nghiệp thu hút khách hàng, giữ gìn tạo dựng chữ tín tốt nhất, khi tiếp cận hàng hóa cái mà người tiêu dùng gặp phải trước hết là bao bì mẫu mK, vẻ đẹp và sự hấp dẫn của nó, làm cho người tiêu dùng quyết định mua hàng một cách nhanh chóng hơn[20]
Hàng hóa dù đẹp và bền đến đâu cũ sẽ bị lạc hậu trước những yêu cầu ngày càng cao của khách hàng Do đó, người sản xuất phải thường xuyên đổi mới và hoàn thiện về chất lượng và kiểu dáng, mẫu mK, tạo những nét riêng,
độc đáo, hấp dẫn người mua Đây cũng là yếu tố quan trọng để bảo vệ uy tín sản phẩm trong điều kiện ngày càng có nhiều sản phẩm giống nhau, hàng thật hàng giả lẫn lộn
Trang 23- Giá cả sản phẩm và dịch vụ: giá phải đủ sức cạnh tranh với sản phẩm cùng loại Bảng giá đưa ra cần phải trả lời được câu hỏi rất cơ bản: với giá đó thì người tiêu dùng chấp nhận được không?
- Kênh phân phối: được coi là một chỉ tiêu quan trọng dùng để đánh giá sức cạnh tranh của sản phẩm Bởi lẽ, sản phẩm và giá cả là hai yếu tố quyết
định những giá trị cơ bản giành cho khách hàng ở khâu sản xuất còn phân phối là yếu tố đem đến cho khách hàng những giá trị gia tăng và cách đưa hàng hóa tới tay người tiêu dùng, thông qua những dịch vụ khách hàng Trong
xu thế tiêu dùng hiện tại, giá trị gia tăng là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự hài lòng của khách hàng, nếu mức độ hài lòng của khách hàng cao hơn so với đối thủ cạnh tranh sẽ quyết định khả năng chiếm lĩnh thị trường, tức là quyết định thắng lợi trong cạnh tranh
- Truyền tin và xúc tiến: tùy theo mục tiêu kế hoạch tiêu thụ sản phẩm khác nhau mà các doanh nghiệp có chi phí này cao hay thấp Khi xem xét tỷ lệ chi phí cho marketing so với tổng doanh thu ta thấy, chỉ tiêu này cao mà doanh nghiệp vẫn duy trì mở rộng được thị phần so với mục tiêu đK đề ra thì
có nghĩa là việc đầu tư cho marketing là hiệu quả
- Năng lực nghiên cứu và phát triển (R&D): bao gồm cân nhắc về các thành tựu đổi mới để triển khai các sản phẩm mới, nghiên cứu và triển khai
được tổ chức ra sao (theo định hướng thị trường hay theo công nghệ), R&D hữu hiệu cho phép có được sứ mạnh trong đổi mới cong nghệ, có ưu thế trong giới thiệu sản phẩm mới thành công, cải tiến cập nhật liên tục sản phẩm Lợi thế về chi phí: tạo ra sản phẩm có chi phí thấp hơn đối thủ cạnh tranh, các nhân tố sản xuất như đất đai, vốn và lao động thường được xem như là nguồn lực để tạo lợi thế cạnh tranh
- Lợi thế về sự khác biệt: dựa vào sự khác biệt của sản phẩm làm tăng giá trị sử dụng cho người tiêu dùng hoặc giảm chi phí sử dụng sản phẩm hoặc
Trang 24nâng cao tính hoàn thiện khi sử dụng sản phẩm, lợi thế này cho phép thị trường chấp nhận mức giá thậm chí cao hơn đối thủ
Trong điều kiện thực tế của Việt Nam cũng như điều kiện về thời gian nên chúng tôi mới chỉ nghiên cứu được các chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa đó là: Giá cả sản phẩm, kênh phân phối, lợi thế
về sự khác biệt
2.1.1.7 Các nhân tố quyết định khả năng cạnh tranh của sản phẩm
* Các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô
- Tăng trưởng kinh tế là nhân tố tác động trực tiếp đến sức mua của xK hội, tạo điều kiện để sản phẩm mở rộng quy mô sản xuất
- Tài chính-tín dụng có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế và khả năng cạnh tranh của một sản phẩm, tăng trưởng nhanh phu thuộc vào khả năng của khu vực tài chính trong việc huy động và phân bố có hiệu quả tín dụng vào sản xuất các sản phẩm Ngoài ra lKi suất tín dụng ảnh hưởng đến khả năng vay mượn của các cơ sở, doanh nghiệp sản xuất sản phẩm
- Đầu tư mang lại động lực chủ yếu cho nâng cao khả năng cạnh tranh của các sản phẩm Đầu tư là yếu tố rất quan trọng có tính quyết định đến việc
đẩy nhanh tốc độ tăng sản xuất sản phẩm chủ lực
- Mở cửa thương mại đòi hỏi nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm, tăng xuất khẩu và tiến hành dỡ bỏ hàng rào nhập khẩu
- Tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ ảnh hưởng mạnh mẽ đến phát triển các sản phẩm chủ lực Tiến bộ kỹ thuật tác động quan trọng đến chi phí sản xuất và chất lượng sản phẩm hàng hóa
- Các chính sách vĩ mô trong các lĩnh vực giáo dục đào tạo, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ và huy động nguồn vốn tài chính cần thiết cho nâng cao khả năng cạnh tranh và phát triển các sản phẩm chủ lực
Trang 25- Vị trí địa lý đóng vai trò quan trọng trong nâng cao khả năng cạnh tranh, mở rộng thị trường của các sản phẩm do giảm chi phí vận chuyển, tăng giao lưu với bên ngoài
- Phát triển nguồn nhân lực tạo ra những điều kiện thuận lợi cho nâng cao khả năng cạnh tranh của các sản phẩm
- Bối cảnh quốc tế như xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa đang gia tăng trở thành đặc điểm mới nổi bật của nền kinh tế thế giới sẽ đưa đến các mặt thuận lợi, những cơ hội cũng như những thách thức cho cạnh tranh của các sản phẩm
* Các nhân tố thuộc môi trường vi mô:
- Các nhà cạnh tranh tiềm tàng với quy mô sản xuất, sự khác biệt của sản phẩm, quy mô vốn, chi phí, khả năng tiếp cận thị trường là nguy cơ cạnh tranh cần xét tới
- Mức độ cạnh tranh của các đối thủ cạnh tranh hiện tại phụ thuộc vào số lượng đối thủ, quy mô đối thủ, tốc độ tăng trưởng sản phẩm, tính khác biệt sản phẩm
- áp lực từ sản phẩm thay thế có cùng công năng phụ thuộc vào mức giá, nếu giá cả sản phẩm cao khách hàng sẽ chuyển sang sử dụng sản phẩm thay thế
- áp lực từ nguồn cung cho ra đời nhiều loại nguyên vật liệu mới có tính
ưu việt, cung cấp cho sản xuất với mục đích tạo ra sản phẩm mới có nhiều ưu
điểm hơn sẽ giành được ưu thế cạnh tranh
- áp lực từ phía khách hàng buộc tập trung thỏa mKn khách hàng với chất lượng sản phẩm tốt, mới lạ và chất lượng phục vụ khách hàng cao
2.1.1.8 Phân biệt lợi thế cạnh tranh và lợi thế so sánh [38]
* Lý thuyết lợi thế tuyệt đối
Adam Smith trong tác phẩm của mình " Của cải của các dân tộc" xuất
Trang 26bản lần đầu tiên năm 1776 đK đưa ra ý tưởng về lợi thế tuyệt đối để giải thích nguyên nhân dẫn đến thương mại quốc tế và lợi ích của nó đối với các quốc gia Nếu quốc gia A có thể sản xuất mặt hàng X rẻ hơn (có hiệu quả hơn) so với nước B và nước B có thể sản xuất mặt hàng Y rẻ hơn so với nước A, thì lúc
đó, mỗi quốc gia nên tập trung vào sản xuất mặt hàng mà mình có hiệu quả hơn và xuất khẩu mặt hàng này sang quốc gia kia Trong trường hợp này, mỗi quốc gia được coi là có lợi thế tuyệt đối (đây là lợi thế mà quốc gia có được khi chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu mặt hàng có chi phí sản xuất thấp hơn (hoặc năng suất lao đông cao hơn) một cách tuyệt đối so với quốc gia khác và nhập khẩu mặt hàng có đặc điểm ngược lại) về sản xuất từng loại mặt hàng cụ thể Nhờ có chuyên môn hóa sản xuất và trao đổi thương mại mà cả hai quốc gia đều trở nên sung túc hơn
a Các giả thiết của mô hình
Để đơn giản hóa sự phân tích, mô hình thương mại được xây dựng với các giả thiết sau đây:
* Thế giới chỉ bao gồm hai quốc gia và hai mặt hàng
* Thương mại hoàn toàn tự do
* Chi phí vận chuyển là bằng không
* Lao động là yếu tố sản xuất duy nhất và được di chuyển tự do giữa các ngành sản xuất trong nước nhưng không di chuyển được giữa các quốc gia
*Cạnh tranh hoàn hảo tồn tại trên tất cả thị trường
* Công nghệ sản xuất ở các quốc gia là như nhau và không đổi
b Lợi ích từ chuyên môn hóa và trao đổi
Thời gian lao động cần thiết để sản xuất mỗi đơn vị thép và vải ở mỗi nước được cho trong bảng dưới đây:
Trang 27Bảng 2.1 Chi phí sản xuất vải và thép của ấn Độ và Việt Nam
Khi chưa có thương mại, thế giới bao gồm hai thị trường biệt lập với hai mức giá tương quan (hay tỷ lệ trao đổi nội địa) khác nhau Mỗi nước đều sản xuất cả hai mặt hàng để tiêu dùng Có thể dễ dàng nhận thấy rằng, ấn Độ là nước
có hiệu quả cao hơn (lợi thế tuyệt đối) trong sản xuất thép vì để làm ra một đơn
vị thép, nước này chỉ cần 2 giờ công lao động Ngược lại, Việt Nam có lợi thế tuyệt đối về sản xuất vải vì để sản xuất một đơn vị vải Việt Nam chỉ cần 3 giờ công lao động, trong khi đó ấn Độ lại cần đến 5 giờ công lao động Khi đó, theo quan điểm của lý thuyết lợi thế tuyệt đối, ấn Độ nên tập trung toàn bộ số lao động của mình để sản xuất thép, còn Việt Nam thì thực hiện chuyên môn hóa sản xuất vải, và hai nước thực hiện trao đổi hàng hóa với nhau để thu được lợi ích
Động cơ chủ yếu của thương mại giữa hai nước là ở chỗ, mỗi nước đều mong muốn tiêu dùng được nhiều hàng hóa với mức giá thấp nhất Do giá vải ở Nhật cao hơn giả vải ở Việt Nam (tính theo chi phí lao động) nên ấn Độ có lợi khi mua vải từ Việt Nam thay vì tự sản xuất trong nước thương mại còn có thể làm tăng khối lượng sản xuất và tiêu dùng của toàn thế giới do mỗi nước thực hiện chuyên môn hóa sản xuất mặt hàng mà mình có lợi thế tuyệt đối
Thực vậy, giả sử ấn Độ và Việt Nam mỗi nước có 120 công lao động, và
số lượng lao động đó được chia đều cho hai ngành sản xuất thép và vải Trong trường hợp tự cung, tự cấp, ấn Độ sản xuất và tiêu dùng 30 đơn vị thép và 12
đơn vị vải, còn Việt Nam sản xuất và tiêu dùng 10 thép và 20 vải
Khi lao động phân bố lại trong mỗi nước, cụ thể là tất cả 120 lao động ở
ấn Độ tập trung vào sản xuất thép và 120 lao động Việt Nam vào ngành sản xuất vải, thì sản lượng của toàn thế giới là 60 thép và 40 vải
Trang 28B¶ng 2.2 S¶n l−îng v¶i vµ thÐp khi ch−a cã th−¬ng m¹i quèc tÕ
B¶ng 2.3: S¶n l−îng v¶i vµ thÐp khi cã th−¬ng m¹i quèc tÕ
Trang 29Tóm lại, lợi thế tuyệt đối không chỉ giúp mô tả hướng chuyên môn hóa
và trao đổi giữa các quốc gia, mà còn được coi là công cụ để các nước gia tăng phúc lợi của mình Mô hình thương mại nói trên có thể giúp giải thích cho phần nhỏ của thương mại quốc tế, cụ thể là, nếu một quốc gia không có được
điều kiện tự nhiên thích hợp để trồng càphê, chuối thì buộc phải nhập khẩu các sản phẩm này từ nước ngoài Tuy nhiên, mô hình này không giải thích
được trường hợp tại sao thương mại vẫn có thể diễn ra khi một quốc gia không
có lợi thế tuyệt đối (hoặc ở mức bất lợi tuyệt đối) về tất cả các mặt hàng Để giải thích cho vấn đề này chúng ta cần dựa trên một khái niệm có tính chất khái quát hơn - đó là khái niệm về lợi thế so sánh do David Ricardo đưa ra lần
đầu tiên năm 1817
* Lý thuyết lợi thế so sánh
a Khái niệm về lợi thế so sánh
Nếu như khái niệm lợi thế tuyệt đối được xây dựng trên cơ sở sự khác biệt về số lượng lao động thực tế được sử dụng khác nhau (hay nói cách khác,
sự khác biệt về hiệu quả sản xuất tuyệt đối), thì lợi thế so sánh lại xuất phát từ hiệu quả sản xuất tương đối Trong mô hình lợi thế tuyệt đối ở trên, thép được sản xuất rẻ hơn ở ấn Độ so với ở Việt Nam do sử dụng thời gian lao động ít hơn Ngược lại, vải được sản xuất ở Việt Nam rẻ hơn ở ấn Độ tính theo số lượng lao động được sử dụng Tuy nhiên, nếu một nước, chẳng hạn, ấn Độ có hiệu quả hơn trong việc sản xuất cả hai mặt hàng, theo quan điểm lợi thế tuyệt
đối thì ấn Độ có lợi thế khi xuất khẩu cả hai mặt hàng Thế nhưng, đây không thể là một giải pháp dài hạn, bởi lẽ ấn Độ không hề mong muốn nhập khẩu bất
kỳ mặt hàng nào từ Việt Nam Điểm quan trọng ở đây không phải là hiệu quả tuyệt đối mà là hiệu quả tương đối trong sản xuất vải và thép: ấn Độ có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất cả hai mặt hàng, nhưng chỉ có lợi thế so sánh đối với mặt hàng có mức độ thuận lợi lớn hơn; ngược lại, Việt Nam bất lợi trong sản
Trang 30xuất cả hai mặt hàng nhưng vẫn có lợi thế so sánh đối với mặt hàng có mức bất lợi nhỏ hơn Một cách khái quát, lợi thế so sánh là lợi thế mà một quốc gia
có được khi chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu mặt hàng thể hiện tương quan thuận lợi hơn những mặt hàng khác xét trong mối quan hệ với quốc gia bạn hàng và nhập khẩu những mặt hàng có đặc điểm ngược lại Cụ thể là, một quốc gia thuận lợi (có lợi thế tuyệt đối) trong việc sản xuất cả hai mặt hàng sẽ chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu mặt hàng có mức độ thuận lợi lớn hơn Ngược lại, một quốc gia bất lợi (không có lợi thế tuyệt đối) trong việc sản xuất tất cả các mặt hàng sẽ chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu mặt hàng có độ bất lợi nhỏ hơn
b Mô hình đơn giản của Ricardo về lợi thế so sánh
Trở lại mô hình thương mại giữa ấn Độ và Việt Nam ở phần trước với các giả thiết cơ bản của mô hình vẫn được giữ nguyên Tuy nhiên, thời gian lao động cần thiết để sản xuất mỗi đơn vị thép và vải có sự khác biệt theo Bảng dưới đây:
Bảng 2.4 Chi phí sản xuất vải và thép của ấn Độ và Việt Nam
Các số liệu cho thấy, ấn Độ cần ít thời gian lao động hơn so với Việt Nam để sản xuất ra cả hai mặt hàng, nhưng điều này không cản trở quan hệ trao đổi thương mại có lợi cho cả hai nước Cụ thể là, tỷ lệ về chi phí lao động
để sản xuất thép ở ấn Độ so với Việt Nam chỉ bằng 1/6, trong khi đó tỷ lệ tương ứng đối với sản xuất vải là 5/6 Điều đó chứng tỏ : ấn Độ có lợi thế tuyệt
đối về cả hai mặt hàng, nhưng mức độ thuận lợi về sản xuất thép lớn hơn mức
độ thuận lợi về sản xuất vải nên nước này có lợi thế so sánh về mặt hàng thép
Trang 31Với cách lập luận tương tự, Việt Nam bất lợi tuyệt đối về cả hai mặt hàng, nhưng do mức độ bất lợi về sản xuất vải nhỏ hơn mức độ bất lợi về sản xuất thép nên Việt Nam có lợi thế so sánh về vải
Lợi thế so sánh của mỗi nước có thể được xác định thông qua so sánh các mức giá cả tương quan của thép và vải Giá cả tương quan giữa hai mặt hàng là giá cả của một mặt hàng tính bằng số lượng mặt hàng kia Trong mô hình Ricardo giá cả tương quan được tính thông qua yếu tố trung gian là chi phí lao động Trên cơ sở các số liệu trong bảng trên có thể tính được các mức giá tương quan của thép và vải như trong bảng dưới đây Giá tương quan của thép và vải ở ấn Độ và Việt Nam tương ứng là:
so sánh về mặt hàng vải Nếu mỗi nước thực hiện chuyên môn hóa hoàn toàn trong việc sản xuất mặt hàng mà mình có lợi thế so sánh và sau đó trao đổi với nhau thì cả hai đều trở nên sung túc hơn
Thực vậy, nếu ấn Độ chuyển 5 giờ công lao động từ ngành vải sang sản xuất thép thì sẽ có 2,5 đơn vị thép được làm ra và khi bán 2,5 đơn vị thép này sang Việt Nam với mức giá quốc tế là 1 thép = 1 vải thì ấn Độ sẽ thu về 2,5
Trang 32đơn vị vải, nhiều hơn 1,5 đơn vị vải so với trường hợp tự cung tự cấp Tương
tự, nếu Việt Nam dùng 12 giờ công lao động để sản xuất 2 đơn vị vải thay vì sản xuất 2 đơn vị thép và bán sang ấn Độ đổi lấy 2 đơn vị thép thì Việt Nam sẽ
có lợi 1 đơn vị thép
Từ ví dụ đơn giản trên, có thể phát biểu quy luật lợi thế so sánh như sau:
"Một quốc gia sẽ xuất khẩu những mặt hàng có giá cả thấp hơn một cách tương đối so với quốc gia kia Nói cách khác, một quốc gia sẽ xuất khẩu những mặt hàng mà quốc gia đó có thể sản xuất ra với hiệu quả cao hơn một cách tương đối so với quốc gia kia."
Như vậy, các giả thiết làm cơ sở cho lý thuyết về lợi thế so sánh không thực tiễn trong hầu hết các ngành như giả thiết về công nghệ đồng nhất giữa các quốc gia, không có lợi thế kinh tế theo quy mô, các yếu tố sản xuất không dịch chuyển giữa các quốc gia Với lý thuyết về lợi thế so sánh, mậu dịch và
sự chuyên môn hoá dựa vào nguồn lực (lao động, vốn, tài nguyên) giúp cho một quốc gia đạt được sự thịnh vượng Trong một thế giới mà thị trường phân khúc, có sự khác biệt sản phẩm, khác biệt về công nghệ, hàng rào bảo hộ ngày càng tăng, dường như lý thuyết lợi thế so sánh không đủ để giải thích tại sao các công ty lại thành công trên thị trường thế giới và đạt được mức tăng trưởng cao Khi đó,người ta dùng lý thuyết về lợi thế cạnh tranh Lý thuyết lợi thế cạnh tranh đề cập đến một cách tiếp cận mới nhằm để trả lời những câu hỏi sau: Tại sao một số doanh nghiệp cạnh tranh thành công trong khi một số doanh nghiệp khác thì thất bại trong một ngành? Chính phủ cần phải làm gì để cho doanh nghiệp có thể cạnh tranh được trên thị trường quốc tế?
2.1.2 Những đặc điểm chung về các sản phẩm đồ gỗ
2.1.2.1 Khái niệm
Có những khái niệm khác nhau về sản phẩm đồ gỗ như:
Trang 33- Sản phẩm đồ gỗ là sản phẩm không thể thiếu trong các hộ gia đình do những người thợ thủ công bằng đôi tay khéo léo của mình tạo ra
- Sản phẩm đồ gỗ là những sản phẩm do bàn tay con người tạo ra để phục vụ nhu cầu của mình
- Sản phẩm đồ gỗ là những sản phẩm được con người dùng gỗ tự nhiên
để sản xuất ra các sản phẩm phục vụ nhu cầu của con người
Đến nay chưa có một khái niệm chính thức nào về sản phẩm đồ gỗ mà chỉ do quan niệm của từng người về sản phẩm đồ gỗ và các khái niệm trên đây
đều không hoàn toàn chính xác nhưng đây là những khái niệm hợp lý và có tính phổ thông nhất được nhiều người chấp nhận
2.1.2.2 Đặc điểm và phân loại sản phẩm đồ gỗ thủ công mỹ nghệ
Sản xuất đồ gỗ thủ công mỹ nghệ là dựa vào tay nghề của người thợ là chính Tuy nhiên trong những năm trở lại đây thì máy móc đang thay thế dần người thợ ở những khâu làm thô sản phẩm
Nguyên liệu để sản xuất là gỗ Có rất nhiều loại gỗ khác nhau được dùng làm nguyên liệu để sản xuất các sản phẩm ở đây nhưng chủ yếu làng nghề sử dụng các loại gỗ như là: gỗ trắc, gỗ xưa, gỗ mun, gỗ hương
Mẫu mK sản phẩm thường là dựa vào những mẫu mK truyền thống là chủ yếu Các cơ sở sản xuất có thể nhận các đơn đặt hàng có mẫu vẽ hoặc khách hàng có thể phác thảo ý tưởng của mình các cơ sở có thể cử người vẽ mẫu nếu khách hàng thấy hợp lý thì hàng được sản xuất Đây là mặt mạnh tại làng nghề
Đồng Kỵ và là một hướng đi đúng đắn để đa dạng hóa sản phẩm cũng như mẫu
mK của sản phẩm ngày càng phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng
Sau khi sản xuất song hàng mẫu thì không thể mang hàng mẫu đi tiếp thị được vì chi phí vận chuyển cao Thế nên việc tiếp thị phụ thuộc hoàn toàn vào các loại ảnh chụp và các cửa hàng giới thiệu sản phẩm
Trang 34Tuy bảo quản sản phẩm không quá khắt khe nhưng đây cũng là một vấn
đề khá phức tạp và các cơ sở sản xuất gặp rất nhiều khó khăn vì chi phí mặt bằng rất lớn
Dựa vào ý nghĩa sử dụng, có thể phân chia các sản phẩm của đồ gỗ như sau:
- Đồ gỗ dùng cho phòng thờ gồm có: Tủ thờ, bàn thờ, sập thờ
- Đồ gỗ dùng cho phòng ngủ gồm có: Giường ngủ, bàn phấn, tủ đựng quần áo
- Đồ gỗ dùng cho phòng khách gồm có: Bộ bàn ghế phòng khách, tủ bày rượu, tủ phòng khách, bình phong, gương treo tường, kệ vô tuyến, đồng
Hiện nay, cả nước có trên 2000 làng nghề truyền thống: làng nghề dệt Vạn Phúc, làng nghề đồ gỗ Đồng Kỵ Trong đó trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh đK
Trang 35thủ công Đây là hình thứ phân công lao động xK hội trong nông thôn Theo xu hướng phát triển của phân công lao động xK hội thì các nghề thủ công của các làng nghề dần dần tách khỏi nông nghiệp và trở thành các hoạt động kinh tế độc lập của hộ gia đình [8] Như vậy, làng nghề được hình thành trên cơ sở phát huy nội lực kinh tế(nhất là vốn, lao động, kinh nghiệm quý báu của cha ông) của hộ nông dân và hợp tác kinh doanh trong cộng đồng dân cư nông thôn, tạo sự hỗ trợ lẫn nhau giữa phát triển ngành nghề với nông nghiệp để phát triển kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống của nhân dân
Làng nghề phát triển là một bộ phận cấu thành của sự phát triển kinh tế
ở nông thôn, là một trong số giải pháp làm chuyển dịch cơ cấu và làm cân đối nền kinh tế ở nông thôn theo hướng CNH-HĐH
Khi nghiên cứu về làng nghề, một số nhà kinh tế cho rằng: việc phát triển làng nghề là một nội dung quan trọng trong sự nghiệp CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn Nó không chỉ là việc của bản thân các làng nghề mà là sự nghiệp chung cho con người hiện đại hóa đất nước
Việc khôi phục và phát triển các làng nghề hiện nay cần phải có cuộc
điều tra, khảo sát về hiện trạng và tiềm năng của các làng nghề trong cả nước, trên cơ sở đó mới tìm ra các giải pháp hữu hiệu
Trang 36Làng nghề mới được hỡnh thành do yêu cầu của phát triển kinh tế nhằm nâng cao đời sống người dân, trên cơ sở vận dụng các tiềm năng sản xuất của
địa phương nhất là nguồn lao động [23]
* Theo chủng loại sản phẩm
Làng nghề sản xuất hàng tiêu dùng: làng gốm Phù LKng, làng gỗ Đồng Kỵ Làng nghề sản xuất ra nguyên liệu cho công nghiệp: làng rèn sắt Đa Hội, Làng nghề chế biến nông lâm sản: láng rượu Vân, tương Bần, kẹo La Phù, Hiện nay các làng nghề này đang gặp khó khăn về đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, vấn đề đảm bảo nguyên liệu sạch cho sản xuất, công nghệ bảo quản lâu dài, việc dùng hóa chất đúng quy định, cũng là vấn đề nan giải cần giải quyết 2.1.3.2 Đặc điểm phát triển các làng nghề
- Đặc điểm về sản phẩm: sản phẩm thường mang tính chất thủ công, có nét đặc sắc riêng mà các sản phẩm khác không thể có về giá trị nhân văn cao (bí quyết nhà nghề) và bản sắc dân tộc Sản phẩm mang tính chất truyền thống
từ đời này sang đời khác Hình thức sản phẩm đẹp, chất lượng tốt hơn các nơi khác cùng sản xuất ra loại sản phẩm đó Chính đặc điểm này đK giúp sản phẩm của các làng nghề tồn tại, phát triển lâu dài và đứng vững trong nền kinh
tế thị trường hiện nay
- Đặc điểm về kỹ thuật: Công cụ và công nghệ mang tính chất tiểu thủ công, quy trình sản xuất được truyền lại dưới dạng kinh nghiệm, hao tốn nhiều lao động, chủ yếu lao động đơn giản và bàn tay khéo léo của nghệ nhân qua kinh nghiệm lâu đời Tuy cùng một loại sản phẩm nhưng ở mỗi địa phương, thậm chí mỗi nghệ nhân lại tạo ra sản phẩm có nét độc đáo riêng Trong vài năm gần đây, sự phát triển của công nghiệp đK cơ giới hóa được một số khâu của quá trình sản xuất ngoài những khâu cần bàn tay khéo léo của nghệ nhân
Trang 37Máy móc đK thay thế sức người làm cho năng xuất lao động tăng cao, giá thành sản phẩm hạ Đó là sự vận dụng kết hợp giữa kỹ thuật truyền thống và công nghệ hiện đại
- Đặc điểm về nguyên liệu: nguyên liệu phục vụ cho sản xuất ở các làng nghề thường không có sẵn mà hầu hết phải đi mua từ bên ngoài Trong những năm gần đây, nhờ hệ thống giao thông phát triển và cơ chế quản lý thị trường hợp lý, thông thoáng nên việc cung ứng nguyên liệu, vật liệu trở nên kịp thời, linh hoạt, đáp ứng được yêu cầu của sản xuất Khi quy mô của sản xuất được mở rộng, nguyên liệu sẽ trở nên khan hiếm đòi hỏi sử dụng phải hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả
- Đặc điểm về lao động: lao động chủ yếu là lao động trong gia đình, bao gồm cả người trong độ tuổi và ngoài độ tuổi lao động Lao động chủ yếu
là không được đào tạo kỹ thuật qua trường lớp mà thường vừa học vừa làm Người học nghề phải tự quan sát học hỏi kết hợp với bác thợ cả hay nghệ nhân dạy bảo qua hình thức truyền miệng
- Đặc điểm về tổ chức sản xuất: chủ yếu là sản xuất nhỏ theo quy mô
hộ gia đình, HTX thủ công Ngoài ra còn một số hình thức khác như công ty TNHH, doanh nghiệp tư nhân,
- Đặc điểm về thị trường tiêu thụ sản phẩm: thị trường tiêu thụ lớn, đa dạng, có khuynh hướng cho xuất khẩu, giá bán cao do sản phẩm tinh xảo đáp ứng được thị hiếu của khách hàng Nhất là trong điều kiện nền kinh tế nước ta
mở rộng giao lưu với nhiều nước trên thế giới nên sản phẩm làng nghề càng có
điều kiện xuất hiện ở thị trường ngoài nước Song thị trường nước ngoài yêu cầu rất khắt khe về chủng loại, mẫu mK và chất lượng sản phẩm nên sản phẩm làng nghề cần được quan tâm đầu tư cao hơn nữa
Trang 382.1.3.3 Vai trò của làng nghề trong phát triển nông thôn
- Tạo việc làm cho người lao động
Người nông dân sản xuất nông nghiệp thường theo mùa vụ, nên thời gian sản xuất thường kéo dài hơn thời gian thật sự lao động Do đó, trong sản xuất nông nghiệp có những lúc nhàn rỗi, dư thừa lao động Khi sản xuất các sản phẩm của làng nghề sẽ tạo cho người lao động có việc làm trong thời điểm này Từ đó lao động được sử dụng triệt để hơn trong gia đình Có những làng nghề thu hút trên 60% lực lượng lao động ở nông thôn tham gia vào hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp Nhờ đó, tỷ lệ thời gian làm việc được sử dụng của lao động trong độ tuổi ở khu vực nông thôn đạt khoảng 80% Đặc biệt một
số làng nghề truyền thống còn sử dụng được lao động già cả, khuyết tật, trẻ
em mà các khu vực kinh tế khác không nhận
- Tăng thu nhập cho hộ gia đình
Ngoài thu nhập từ sản xuất nông nghiệp, các hộ gia đình tham gia sản xuất các sản phẩm làng nghề sẽ có thêm nguồn thu cho hộ Chính vì vậy phát triển làng nghề sẽ tăng thu nhập cho hộ Từ đó tăng mức sống cho người dân nông thôn Theo Ông Vũ Quốc Tuấn chủ tịch hiệp hội làng nghề Việt Nam thì thu nhập của người lao động hưởng lương ở các làng nghề hiện phổ biến khoảng 600.000đ đến 1.500.000đ/ tháng, cao hơn nhiều so với thu nhập từ sản xuất thuần nông.[34]
- Khai thác vốn kỹ thuật của dân
Quá trình sản xuất các sản phẩm của làng nghề đK tận dụng một cách triệt để các yếu tố về vốn, lao động, kỹ thuật của hộ Tạo việc làm cho tất cả mọi thành viên trong gia đình các lao động chính thì trực tiếp sản xuất, các lao động phụ thì có thể làm các công đoạn bổ trợ cho sản xuất Nhờ có phát triển ngành nghề truyền thống mà các quy trình sản xuất của ông cha từ xưa
để lại không bị mai một mà ngày càng được cải tiến phong phú hơn đáp ứng nhu cầu của thị trường
Trang 39- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động nông thôn ngày càng hợp lý hơn Kinh tế nông thôn cơ cấu chủ yếu là nông nghiệp, chiếm khoảng trên 70% Đa số là các hộ thuần nông, bên cạnh đó là có một số hộ kiêm ngành nghề và một số ít hộ làm dịch vụ Theo đường lối của Đảng, phát triển làng nghề sẽ tận dụng được nguồn nguyên liệu là sản phẩm của ngành nông nghiệp hoặc công cụ sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp, làm tăng khả năng tích lũy vốn và kỹ thuật, hỗ trợ cho nông nghiệp, công nghiệp và các loại hình dịch vụ khác ở nông thôn phát triển Làng nghề phát triển sẽ trở thành trung tâm kinh
tế của địa phương, của vùng
Tạo ra bộ mặt đô thị hóa mới cho nông thôn để nông thôn ly nông nhưng không ly hương và làm giầu trên quê hương mình, làm giảm bớt làn sóng nông dân nhập cư về các thành phố lớn kéo theo hàng loạt hệ quả nặng nề
- Thay đổi tập quán tư duy sản xuất
Khi người dân làng nghề tham gia sản xuất, sản phẩm của họ làm ra là sản phẩm hàng hóa nên họ phải chủ động trong mọi khâu của quá trình sản xuất, đặc biệt là khâu tiêu thụ hàng hóa Họ không còn tư tưởng sản xuất tự cung tự cấp của người nông dân Bởi vậy, mà người dân các làng nghề trở nên năng động hơn, linh hoạt hơn trong việc bố trí sản xuất
- Tăng đóng góp cho ngân sách địa phương
Phát triển sản xuất ngoài tăng thu nhập cho chính hộ gia đình còn tăng thêm thu nhập quốc dân, tăng thu ngân sách cho địa phương bằng việc đóng thuế, giải quyết việc làm, du lịch làng nghề
- Góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc
Vì làng nghề cổ truyền tạo nên những sản phẩm truyền thống với trình
độ kỹ, mỹ thuật cao, kết tinh tài hoa của các nghệ nhân qua nhiều thế hệ, nhiều sản phẩm không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà còn phản ánh một cách sinh động lối sống và ước vọng của người lao động, thấm đẫm tâm hồn người Việt và được truyền từ đời này sang đời khác
Trang 402.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Tình hình phát triển nghề thủ công công nghiệp trên thế giới
Trên thế giới có rất nhiều nước có bề dày phát triển nghề thủ công như Nhật Bản, Trung Quốc, ấn Độ, Thái Lan…
- Nhật Bản: là một nước giàu truyền thống và là một nước có cùng dòng máu da vàng như chúng ta Tuy công nghiệp hoá diễn ra nhanh và mạnh song làng nghề vẫn tồn tại, các nghề thủ công truyền thống vẫn phát triển Họ không những duy trì và phát triển các ngành nghề cổ truyền mà còn mở ra một
số nghề mới Đồng thời Nhật Bản rất chú trọng đến việc hình thành các xí nghiệp vừa và nhỏ ở thị trấn, thị tứ làm vệ tinh cho các xí nghiệp lớn ở đô thị
Ngành nghề tiểu thủ công truyền thống của họ bao gồm: Chế biến lương thực, thực phẩm, đan nát, dệt chiếu, dệt lụa…Đầu thế kỷ XX, Nhật Bản có 867 nghề thủ công truyền thống vẫn còn hoạt động Năm 1992 đK có
2640 lượt người của 62 nước trong đó có Trung Quốc, Anh, Pháp… tới thăm các làng nghề truyền thống của Nhật Trong đó đáng chú ý, vào những năm 70
ở tỉnh Ôita (miền Tây nam Nhật Bản) đK có phong trào “mỗi thôn làng một sản phẩm” nhằm phát triển làng nghề cổ truyền trong nông thôn, do đích thân
ông tỉnh trưởng phát động và tổ chức Kết quả cho thấy, ngay những năm đầu tiên họ đK sản xuất được 143 loại sản phẩm, thu được 1,2 tỷ USD trong đó 114 triệu USD thu từ bán các mặt hàng thủ công mỹ nghệ Phong trào “mỗi thôn làng một sản phẩm” đK nhanh chóng lan rộng khắp nước Nhật
Đi đôi với với việc phát triển ngành nghề cổ truyền, Nhật Bản còn nghiên cứu các chủ trương chính sách, ban hành các luật lệ, thành lập nhiều văn phòng cố vấn khác Nhờ đó các hoạt động phi nông nghiệp được phát triển mạnh mẽ; thu nhập ngoài nông nghiệp chiếm 85% tổng thu nhập của hộ Năm
1993 nghề thủ công và làng nghề đK đạt giá trị sản lượng tới 8,1 tỷ USD.[13]