Đối tượng, phạm vi, nội dung, phương pháp nghiên cứu 274.2 Hiện trạng các loại hình sử dụng đất và hiệu quả sản xuất 56 4.2.2 Mô tả các thuộc tính của các loại hình sử dụng đất trên địa
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học Nông nghiệp hà nội
-
nguyễn tài kiên
Đánh giá hiện trạng và định hướng sử dụng
đất nông nghiệp đến năm 2015 huyện Tuyên Hoá,
Trang 2Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn
đều đã đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc./
Tác giả luận văn
Nguyễn Tài Kiên
Trang 3Lời cảm ơn Lời cảm ơn
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, những ý kiến đóng góp, chỉ bảo quý báu của thầy giáo, cô giáo Viện Đào tạo Sau Đại học, khoa Tài nguyên và Môi trường, trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Để có được kết quả nghiên cứu này, ngoài sự cố gắng và
nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự hướng dẫn chu đáo, tận tình của TS Nguyễn ích Tân là người hướng dẫn trực tiếp tôi trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài và viết luận văn
Tôi cũng nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện của UBND huyện Tuyên Hoá, phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, phòng Thống kê, phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Tuyên Hoá, các phòng ban và nhân dân các xã của huyện, các anh chị em và bạn bè đồng nghiệp, sự động viên, tạo mọi điều kiện về vật chất, tinh thần của gia đình và người thân
Với tấm lòng biết ơn, tôi xin chân thành cảm ơn mọi sự giúp đỡ quý báu đó!
Tác giả luận văn
Nguyễn Tài Kiên
Trang 4Mục lục
2.1.2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên Thế giới và Việt Nam 42.1.3 Sử dụng đất nông nghiệp theo quan điểm sinh thái và phát triển
2.2 Tổng quan về hệ thống nông nghiệp, hệ thống canh tác 142.2.1 Khái niệm về hệ thống nông nghiệp, hệ thống canh tác 14 2.2.2 Sơ l−ợc lịch sử phát triển của hệ thống nông nghiệp, hệ thống canh tác 17 2.3 Một số kết quả nghiên cứu về đánh giá sử dụng đất nông nghiệp
2.4 Tổng quan các vấn đề về đánh giá hiệu quả sử dụng đất 22
Trang 53 Đối tượng, phạm vi, nội dung, phương pháp nghiên cứu 27
4.2 Hiện trạng các loại hình sử dụng đất và hiệu quả sản xuất 56
4.2.2 Mô tả các thuộc tính của các loại hình sử dụng đất trên địa bàn
4.2.4 Hiệu quả xQ hội và hiệu quả môi trường của các LUT 744.2.5 Đánh giá khả năng thích hợp và lựa chọn các LUT có triển vọng
4.3 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp huyện Tuyên Hoá 80
4.3.3 Dự kiến chu chuyển các loại hình sử dụng đất nông nghiệp trong
Trang 6Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t
CN- TTCN C«ng nghiÖp- TiÓu thñ c«ng nghiÖp
Trang 7danh mục bảng
2.1 Diện tích đất tự nhiên và đất có thể trồng trọt được ở các khu vực 52.2 Tình hình sử dụng đất trồng trọt ở các khu vực (FAO- 1989) 52.3 Sự suy thoái đất nông nghiệp trên thế giới do con người 62.4 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của Việt Nam năm 2000 7 4.1 Phân loại đất sản xuất nông nghiệp theo cấp địa hình huyện Tuyên Hoá 33 4.2 Phân loại đất trồng lúa theo cấp địa hình huyện Tuyên Hoá 33
4.6 Tốc độ tăng trưởng cơ cấu kinh tế - xQ hội huyện Tuyên Hoá 414.7 Chỉ tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xQ hội huyện Tuyên Hoá 41
4.9 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Tuyên Hoá năm 2008 504.10 Tình hình biến động đất nông nghiệp huyện Tuyên Hoá qua các năm 534.11 Cơ sở vật chất phục vụ sản xuất nông nghiệp huyện Tuyên Hoá năm 2008 54 4.12 Một số chỉ tiêu về sản phẩm nông nghiệp huyện Tuyên Hoá qua các năm 55 4.13 Hiện trạng các loại hình sử dụng đất và hệ thống cây trồng huyện
4.14 Mô tả các thuộc tính của các LUT trên địa bàn huyện Tuyên Hoá 66 4.15 Phân cấp mức độ đánh giá hiệu quả kinh tế của các LUT 70 4.16a Hiệu quả kinh tế sử dụng đất của các LUT năm 2008 714.16b Hiệu quả kinh tế sử dụng đất của các LUT năm 2008 724.17 Phân cấp các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xQ hội và môi trường của các
4.18 Hiệu quả xQ hội và môi trường của các loại hình sử dụng đất 76
Trang 84.20 Đề xuất hướng sử dụng đất cho các LUT huyện Tuyên Hoá năm 2015 89 4.21 Khả năng về diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng các
4.22 Hiệu quả kinh tế một số cây trồng các LUT giai đoạn 2008- 2015 97
Trang 9Danh mục biểu đồ
4.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Tuyên Hoá năm 2008 514.3 Hiện trạng các loại hình sử dụng đất huyện Tuyên Hoá năm 2008 61 4.4a So sánh diện tích các LUT giai đoạn 2008- 2015 (Đất nông
Trang 101 Mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất trồng không giống như các tài nguyên khác, là tài nguyên đặc biệt quý hiếm trong nông nghiệp đối với hầu hết các nước trên Thế giới Trong quá trình sản xuất nông nghiệp, phần lớn các nông sản thu được đều phải thông qua đất Sử dụng hợp lý đất đai trong nông nghiệp là vấn đề hết sức quan trọng không chỉ đối với hiện tại mà còn có ý nghĩa lâu dài trong tương lai, khi dân
số ngày càng tăng mà quỹ đất càng giảm do quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá và kể cả do việc sử dụng đất bất hợp lý dẫn đến bị thoái hoá, mất khả năng trồng trọt Đối với nước ta, diện tích đất canh tác bình quân đầu người rất thấp, vấn đề này lại càng phải được đặc biệt chú trọng và phải có chiến lược sử dụng đất đúng đắn
Do sự gia tăng dân số nhanh, nhu cầu phát triển ngày càng nhiều, con người đQ khai thác quá mức các nguồn tài nguyên thiên nhiên đặt biệt là tài nguyên đất dẫn đến nguy cơ giảm về số lượng và chất lượng của nguồn tài nguyên này Hiện nay, việc sử dụng tài nguyên đất đai hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả, giữ gìn cân bằng sinh thái và đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường để phát triển bền vững là một vấn đề mang tính toàn cầu Nghiên cứu tiềm năng đất
đai, đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp, xem xét mức độ thích hợp của các loại hình sử dụng đất làm cơ sở cho việc đề xuất các loại hình sử dụng
đất nông nghiệp hiệu quả kinh tế và phát triển bền vững là vấn đề có tính chiến lược
Tuyên Hoá là một huyện miền núi phía Tây Bắc tỉnh Quảng Bình, người dân sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp Nhằm huy động và khai thác tối đa tiềm năng thế mạnh của địa phương, tích cực thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư, huy động tốt nguồn lực tại chỗ đẩy mạnh tốc phát triển
Trang 11và tăng trưởng kinh tế, trên cơ sở cơ cấu nông nghiệp- dịch vụ- công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp theo hướng CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn Thực hiện các chương trình kinh tế trọng điểm, gắn với việc giải quyết tốt các đề xQ hội, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân, tạo bước chuyển biến cơ bản, toàn diện chất lượng nguồn nhân lực, bảo đảm quốc phòng- an ninh huyện đQ có chủ trương tiến hành nhiều biện pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng đất như: Giao quyền sử dụng đất lâu dài, ổn định cho các hộ nông dân, dồn điền đổi thửa, thay đổi cơ cấu cây trồng, sử dụng giống có năng suất cao, chất lượng tốt tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp Mặc dù vậy, khả năng phát triển sản xuất nông nghiệp theo quy mô chiều rộng và chiều sâu còn hạn chế Để nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng
đất, việc đánh giá hiện trạng và định hướng sử dụng đất nhằm thoả mQn nhu cầu của xQ hội về nông sản phẩm, an ninh lương thực, nó đang trở thành mối quan tâm lớn của người quản lý và người sản xuất nông nghiệp
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Đánh
giá hiện trạng và định hướng sử dụng đất nông nghiệp đến năm 2015
huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình”
1.2 Mục đích, yêu cầu
1.2.1 Mục đích
Nghiên cứu đánh giá hiện trạng và định hướng sử dụng đất nông nghiệp nhằm khai thác tiềm năng đất đai, nâng cao thu nhập cho người dân ở một huyện miền núi phía Tây Bắc Quảng Bình
Trang 122 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
2.1 Đất nông nghiệp và vấn đề sử dụng đất nông nghiệp
2.1.1 Khái niệm về đất và đất nông nghiệp
Đất đai là tài sản quý báu của con người, là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế được trong sản xuất nông nghiệp Trên quan điểm sinh thái
đất được định nghĩa: Đất là vật mang của hệ sinh thái tự nhiên và hệ sinh thái nông nghiệp (Vũ Thị Bình, 1995)[5] Theo quan điểm của đánh giá đất thì đất
đai được định nghĩa là một vùng đất mà đặc tính của nó được xem như bao gồm các đặc trưng tự nhiên quyết định đến khả năng khai thác được hay không mà ở mức độ nào của vùng đất đó Thuộc tính của đất bao gồm khí hậu, thổ nhưỡng, lớp địa chất bên dưới, thuỷ văn, động vật, thực vật và những tác động trong quá khứ cũng như hiện tại của con người (FAO, 1976) [50] Theo Docutraiep (1879) thì đất được định nghĩa như sau: “Đất là vật thể thiên nhiên, cấu tạo độc lập, lâu đời do kết quả quá trình hoạt động tổng hợp của 5 yếu tố hình thành đất gồm: đá, sinh vật, khí hậu, địa hình và thời gian Về sau nhiều nhà nghiên cứu
về đất cho rằng đối với đất nông nghiệp cần phải bổ sung thêm một số yếu tố khác và đặc biệt quan trọng là vai trò của con người Chính con người khi tác
động vào đất đQ làm thay đổi khá nhiều tính chất đất và có thể tạo ra hẳn một loại đất mới chưa hề có trong tự nhiên Nếu biểu thị định nghĩa về đất dưới dạng công thức toán học thì ta có thể coi đất là một hàm của một số yếu tố hình thành đất theo thời gian (Phạm Văn Phê, 2001)[26]
Trang 13nông nghiệp Theo Luật Đất đai năm 2003[21], đất nông nghiệp bao gồm:
- Đất sản xuất nông nghiệp: Đất trồng cây hàng năm; Đất trồng cây lâu năm
- Đất lâm nghiệp: Đất rừng sản xuất; Đất rừng phòng hộ; Đất rừng đặc dụng
- Đất nuôi trồng thuỷ sản
- Đất làm muối
- Đất nông nghiệp khác: Đất dùng vào mục đích nghiên cứu thí nghiệm, thực nghiệm về nông nghiệp
2.1.2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên Thế giới và Việt Nam
2.1.2.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên Thế giới
Hiện nay trên thế giới, xu thế phát triển chung của tất cả các nước là hướng tới một nền kinh tế mà sản xuất công nghiệp là chủ đạo Tuy nhiên, ngành sản xuất nông nghiệp vẫn giữ một vài trò rất quan trọng trong sự phát triển của tất cả các nước, do vậy sản xuất nông nghiệp luôn được duy trì và phát triển Sản xuất nông nghiệp tạo ra lương thực, thực phẩm để nuôi sống con người và đồng thời cũng là nguồn thu nhập đáng kể của các nước đang phát triển và các nước lạc hậu Mức độ sử dụng đất có thể trồng trọt được ở các khu vực trên thế giới cũng rất khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện đất đai, khí hậu, điều kiện kinh tế- xQ hội ở mỗi khu vực, (Phạm Văn Phê, 2001)[26]
Theo FAO (1989) tổng diện tích đất tự nhiên trên thế giới là 13 077 triệu ha, trong đó đất có thể trồng trọt là 3 190 triệu ha và được phân bố ở các khu vực thể hiện ở bảng 2.1 Số liệu ở bảng 2.1 và 2.2 cho thấy: Tiềm năng đất nông nghiệp (đất có thể trồng trọt được) trên thế giới có khoảng 3190 triệu ha, nhưng diện tích đất canh tác chỉ chiếm 6,2% (1 474 triệu ha) Trong đó châu
á và châu Âu có diện tích đất canh tác so với diện tích đất có thể trồng trọt
được là lớn nhất (71,9% và 80,5%), còn ở Nam Mỹ và châu Phi việc mở rộng diện tích đất canh tác còn gặp nhiều khó khăn
Trang 14Bảng 2.1: Diện tích đất tự nhiên và đất có thể trồng trọt được ở các khu vực
về mặt chất lượng và số lượng do nhiều nguyên nhân khác nhau Người ta ước tính
có tới 15% tổng diện tích đất trên thế giới bị thoái hoá do những hành động của con người gây ra ít nhất cho tới nay đQ có 66 triệu ha đất được tưới tiêu bị nhiễm
Trang 15mặn thứ cấp, chiếm 30% tổng số Hàng năm có từ 6-7 triệu ha đất nông nghiệp không sản xuất được do bị xói mòn và 1,5 triệu ha bị úng, chua, mặn làm giảm sức sản xuất Sự thoái hoá đất đang lan rộng ở các vùng khô hạn trên thế giới, làm ảnh hưởng đến 5,5 triệu ha hay gần 70% diện tích đất vùng này, hàng năm gây thiệt hại ước tính khoảng 42 tỷ đô la Ngoài ra việc đô thị hoá, công nghiệp hoá đQ làm mất đi gần một triệu ha đất nông nghiệp mà phần lớn là đất canh tác tốt và rất thuận lợi Sự suy thoái đất đQ được Olderman (1991) thể hiện ở bảng 2.3
Số liệu bảng 2.3 đQ chỉ ra sự suy thoái đất nông nghiệp trên thế giới do con người ở các mức độ khác nhau là 1 964,4 triệu ha, trong đó suy thoái rất nặng là 9,3 triệu ha, chiếm 0,5% diện tích đất bị suy thoái
Bảng 2.3: Sự suy thoái đất nông nghiệp trên thế giới do con người
(Olderman- 1991) Kiểu (10Nhẹ 6ha) (10Vừa 6ha) (10Nặng 6ha) Rất nặng (106ha) (10Tổng số 6ha) Tỷ lệ (%)
Theo các kết quả nghiên cứu ở trên cho thấy hiện nay vấn đề sử dụng
đất nông nghiệp trên thế giới đang là một vấn đề hết sức phức tạp ở tất cả các quốc gia Tiềm năng đất nông nghiệp chưa được khai thác một cách triệt để, bên cạnh đó vấn đề suy thoái đất nông nghiệp và mất đất nông nghiệp cho những nhu cầu của xQ hội vẫn luôn luôn diễn ra, do vậy để đảm bảo được sự
an toàn về lương thực, thực phẩm cho những nhu cầu hiện tại và không làm
ảnh hưởng tới nhu cầu trong tương lai thì đòi hỏi các quốc gia phải luôn có sách lược sử dụng đất nông nghiệp hợp lý, đạt hiệu quả cao
Trang 162.1.2.2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam
Tổng quỹ đất tự nhiên của Việt Nam là gần 33 triệu ha, (Đặng Văn Minh, 2005)[23], đứng vào hàng thứ 58 so với các nước trên thế giới và đứng thứ 4 ở Đông Nam á, (Phạm Văn Phê, 2001)[26] Nhưng dân số lại đứng thứ 2 trong khu vực, dẫn tới bình quân diện tích đất trên đầu người đứng thứ 9 trong khu vực Theo số liệu thống kê ngành Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn của Nhà xuất bản Nông nghiệp năm 2002[29], thì năm 2000 diện tích đất nông nghiệp của Việt Nam là 9 345 346 ha, diện tích đất trồng cây hàng năm là 6
129 518 ha, bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người là 803 m2
Bảng 2.4: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của Việt Nam năm 2000
(Nguồn: Số liệu thống kê ngành Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn- Nhà xuất bản
Nông nghiệp, năm 2002) 2.1.3 Sử dụng đất nông nghiệp theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững
Trong giai đoạn hiện nay, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các ngành công nghiệp cũng có những bước phát triển vượt bậc Công nghiệp cơ khí tạo ra cho nông nghiệp nhiều máy móc, động cơ Con người đQ sử dụng máy móc đưa năng suất lao động trong nông nghiệp lên cao Nhờ có máy móc
mà nền nông nghiệp đQ được cơ khí hoá và cơ giới hoá Công nghiệp hoá học tạo ra nhiều loại phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc kích thích sinh trưởng Sử dụng các loại hoá chất con người đQ đưa năng suất cây trồng, vật nuôi lên ở mức cao và rất cao trong những khoảng thời gian ngắn Công nghiệp năng
Trang 17lượng phát triển đQ tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc điện khí hoá nông nghiệp nông thôn Điện cùng với cơ khí làm tăng năng suất, giảm nhẹ lao
động chân tay, làm cho sản xuất nông nghiệp trở thành đa dạng, phong phú hơn Tuy nhiên với công cụ máy móc ngày càng hiện đại, tác dụng của hoá chất ngày càng mạnh thì tác động của con người vào thiên nhiên ngày càng mạnh mẽ và sâu sắc hơn
Hiện tượng huỷ hoại thiên nhiên, phá vỡ cân bằng sinh thái xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới Trước những tác động mạnh mẽ, liên tục của con người đến thiên nhiên thì thiên nhiên cũng có những phản ứng chống trả lại không kém phần gay gắt Những phản ứng này của thiên nhiên trong nông nghiệp thể hiện ở sự huỷ hoại nhiều hệ sinh thái, lũ lụt, hạn hán, sâu bệnh, dịch bệnh nhiều
Đứng trước những tác động sâu sắc có tính huỷ hoại đến thiên nhiên và trước những phản ứng ngày càng mạnh mẽ của thiên nhiên, trước nạn ô nhiễm môi trường, phá huỷ tầng ôzôn khí quyển thì một vấn đề hết sức cấp bách
được đặt ra là phải từ bỏ mọi các tác động mạnh mẽ đến thiên nhiên, có nghĩa là sản xuất nông nghiệp trong thời đại hiện nay không thể dựa chủ yếu vào vật tư, công cụ máy móc, phân bón hóa học, chế phẩm hoá học mà sản xuất nông nghiệp phải dựa vào trí tuệ, dựa vào kiến thức khoa học kỹ thuật và đó cũng chính
là sản xuất nông nghiệp theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững
- Nền nông nghiệp sinh thái học là một nền nông nghiệp không loại trừ phân bón hoá học, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc kích thích sinh trưởng mà sử dụng chúng một cách hợp lý hơn, có hiệu quả hơn, tránh ô nhiễm môi trường Hay một nền nông nghiệp sinh thái học phải là một nền nông nghiệp có sự kết hợp hài hoà những cái tích cực, đúng đắn, hợp lý của hai nền nông nghiệp- công nghiệp hoá và sinh học nông nghiệp: Phải biết chắt lọc, phát huy thế mạnh, tính ưu việt của từng nền nông nghiệp và kiên quyết loại bỏ những tồn tại của chúng Nền nông nghiệp sinh thái phải tuân thủ theo các nguyên tắc:
Trang 18Không phá hoại môi trường; Đảm bảo năng suất ổn định; Đảm bảo khả năng thực thi, không phụ thuộc vào bên ngoài; ít phụ thuộc vào hàng nhập ngoại, (Lê Văn Khoa, 1999)[19]
- Nông nghiệp bền vững là một nền nông nghiệp xây dựng được một hệ thống ổn định về mặt sinh thái, có tiềm lực về mặt kinh tế, thoả mQn các nhu cầu cả ở hiện tại và trong tương lai Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về nông nghiệp bền vững tuỳ vào từng điều kiện cụ thể:
Theo Baier (1990): Hệ thống nông nghiệp bền vững là một hệ thống có hiệu quả về mặt kinh tế, đáp ứng nhu cầu xQ hội về an ninh lương thực, đồng thời giữ gìn và cải thiện tài nguyên thiên nhiên và chất lượng của môi trường sống cho muôn đời sau, (Đỗ Trọng Lý, 2002)[22]
Theo FAO (1990): Nông nghiệp bền vững bao gồm việc sử dụng quản
lý có hiệu quả nguồn vốn tài nguyên của nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu cuộc sống của con người đồng thời giữ gìn và cải thiện tài nguyên thiên nhiên, môi trường, (Đỗ Trọng Lý, 2002)[22]
Qua các định nghĩa về nông nghiệp bền vững nói trên cho thấy nội dung cơ bản của nông nghiệp bền vững là đảm bảo sự bền vững về các vấn đề sau:
+ Bền vững về an ninh lương thực trong thời gian dài trên cơ sở hệ thống nông nghiệp phù hợp với điều kiện sinh thái và môi trường
+ Bền vững về tổ chức quản lý hệ thống nông nghiệp phù hợp trong mối quan hệ giữa con người với nguồn tài nguyên đất đai và đảm bảo sự duy trì
được cho thế hệ sau
+ Bền vững thể hiện ở tính cộng đồng trong hệ thống nông nghiệp hợp
lý Điều quan trọng nhất trong sự phát triển nông nghiệp bền vững là biết sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đất đai, giữ vững và cải thiện chất lượng môi trường, có hiệu quả kinh tế, năng suất cao và ổn định, tăng cường chất lượng cuộc sống và hạn chế rủi ro
Trang 19Hay chúng ta có thể hiểu một cách ngắn gọn như sau: Nông nghiệp bền vững là một hệ thống mà nhờ đó con người có thể tồn tại được Sử dụng nguồn lương thực, thực phẩm và tài nguyên phong phú của thiên nhiên liên tục mà không huỷ diệt sự sống của trái đất Một nền nông nghiệp được coi là bền vững đòi hỏi phải đạt được những chỉ tiêu sau:
+ Thoả mQn các nhu cầu về dinh dưỡng cơ bản của các thế hệ hiện tại
và tương lai về số lượng, chất lượng của các sản phẩm nông nghiệp
+ Cung cấp lâu dài việc làm đủ thu nhập và các điều kiện sống làm việc cho mọi người trực tiếp làm nông nghiệp
+ Duy trì và tăng cường khả năng sản xuất của các cơ sở sử dụng tài nguyên thiên nhiên và khả năng tái sản xuất của các nguồn tài nguyên tái tạo
được mà không phá vỡ chức năng của các chu trình sinh thái cơ sở và sự cân bằng tự nhiên Không phá vỡ bản sắc văn hoá xQ hội của các cộng đồng sống
ở nông thôn hoặc không gây ra những sự nhiễm độc trong môi trường sống
+ Giảm thiểu khả năng bị tổn thương trong nông nghiệp, củng cố lòng tin trong nhân dân (Lê Văn Khoa, 1999)[19]
2.1.4 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp
Định hướng sử dụng đất nông nghiệp là xác định một cơ cấu sản xuất nông nghiệp trong đó có cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng lQnh thổ Hay nói cách khác định hướng sử dụng đất nông nghiệp là xác định cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp phù hợp với cơ cấu cây trồng và vật nuôi
Muốn xác định được cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp thì đòi hỏi phải tiến hành nghiên cứu về hệ thống cây trồng, hệ thống canh tác Phải nghiên cứu về các mối quan hệ giữa cây trồng với cây trồng, cây trồng với các điều kiện tự nhiên (khí hậu, thuỷ văn, tính chất đất đai ), cây trồng với các điều kiện tự kinh tế- xQ hội chi phối (lao động, quản lý thị trường, tập quán, kinh
Trang 20nghiệm sản xuất ) vì với những điều kiện tự nhiên, kinh tế- xQ hội khác nhau thì sẽ tồn tại những hệ thống khác nhau
Trên cơ sở nghiên cứu hệ thống cây trồng và các mối quan hệ của chúng với môi trường để định hướng sử dụng đất nông nghiệp phù hợp với
điều kiện của từng vùng
Định hướng sử dụng đất nông nghiệp cũng chính là xác định loại hình
sử dụng đất phù hợp với mỗi đơn vị đất đai cụ thể Định hướng sử dụng đất nông nghiệp phải dựa trên các căn cứ sau:
+ Kết quả của công tác đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp hoặc tiềm năng đất nông nghiệp của vùng
+ Khả năng cải tạo hệ thống tưới tiêu nước
+ Điều kiện ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật nông nghiệp trong sản xuất
+ Khả năng đầu tư lao động và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp
+ Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp
Hiện nay trên thế giới, việc định hướng sử dụng đất nông nghiệp đều dựa trên cơ sở của quan điểm sinh thái và phát triển bền vững trong sử dụng
đất nông nghiệp Định hướng sử dụng đất nông nghiệp đối với những vùng đất mới khai hoang hoặc chuyển từ mục đích sử dụng đất khác sang sản xuất nông nghiệp là sự áp dụng toàn mới của một hệ thống cây trồng, vật nuôi nguyên vẹn Còn đối với những vùng đất đQ và đang tiến hành sản xuất nông nghiệp thì đó là sự định hướng chuyển đổi hệ thống cây trồng hiện tại không phù hợp, hiệu quả thấp sang một hệ thống cây trồng mới phù hợp hơn và đem lại hiệu quả cao hơn Sự chuyển đổi đó được tuân theo các quan điểm sau:
Trang 21Sơ đồ 2.1: Sự phát triển nông nghiệp bền vững + Chuyển đổi hệ thống cây trồng trên quan điểm sản xuất hàng hoá và đạt
được hiệu quả cao: Để phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá phù hợp với cơ chế thị trường thì sản xuất nông nghiệp phải gắn với sự chuyên môn hoá, tập trung hoá Chuyên môn hóa đòi hỏi người sản xuất phải có một trình độ sản xuất nhất định Tập trung hoá sản xuất chính là tập trung vào một đến vài sản
Nguyện vọng Chính trị
Dài hạn
Phát triển
và bảo tồn tài nguyên quốc gia
Cân bằng giữa các thế hệ
Trang 22phẩm chủ yếu mà ở đó sản phẩm làm ra chứa đựng một dạng tri thức khoa học
kỹ thuật và tổ chức quản lý cao Nhằm nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm va hạ giá thành sản phẩm Tăng khả năng cạnh tranh, tiêu thụ được sản phẩm của mình trên thị trường, (Nguyễn Duy Tính, 1995)[38]
+ Chuyển đổi hệ thống cây trồng theo hướng đa dạng hoá sản phẩm nhưng được thực hiện trong điều kiện kinh tế nông hộ ở vùng ít đất Trong nền kinh tế thị trường hộ nông dân là một đơn vị kinh tế tự chủ, độc lập, người nông dân tự chịu trách nhiệm về hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Do đó không thể áp đặt cho họ một hệ thống cây trồng nào đó Do vậy chỉ có thể vận
động họ thông qua con đường khuyến nông để nông dân chủ động nắm bắt những thành tựu khoa học kỹ thuật, nhanh chóng áp dụng những mô hình tiến bộ vào sản xuất Các chủ hộ nông dân căn cứ vào khả năng của nông hộ để quyết
định lựa chọn hệ thống cây trồng thích hợp, (Nguyễn Duy Tính, 1995)[38]
+ Chuyển đổi hệ thống cây trồng đi đôi với việc bảo vệ môi trường sinh thái Xây dựng hệ thống nông nghiệp bền vững và an toàn về lương thực
Hệ sinh thái nông nghiệp là hệ sinh thái nhân tạo do con người tạo ra Cây trồng và vật nuôi là thành phần sống quan trọng của hệ sinh thái nông nghiệp, nó quan hệ chặt chẽ với các yếu tố của hệ sinh thái nhất là đối với yếu
tố đất đai, bởi vì cây trồng sống được phải nhờ đất Đất là nơi cung cấp chất dinh dưỡng và nước cho cây trồng sinh trưởng và phát triển Mọi sự thay đổi
về đất đai đều ảnh hưởng trực tiếp đến cây trồng Một hệ thống cây trồng chuyển đổi nếu thực sự có hiệu quả thì phải bảo vệ được môi trường đất và phải làm tăng độ phì nhiêu của đất, (Đào Thế Tuấn, 1984)[44]
Vấn đề an toàn lương thực là một vấn đề hết sức quan trọng của mỗi quốc gia An toàn lương thực có nghĩa là phải đáp ứng đủ nhu cầu về lương thực của tất cả mọi người (cả người sản xuất nông nghiệp và người làm công việc phi nông nghiệp) Nhưng không phải là sản xuất lương thực bằng mọi giá mà cần phải căn cứ vào điều kiện cụ thể của từng vùng để bố trí hệ thống cây trồng cho hợp lý và hài hoà
Trang 23Đối với nước ta đất đai là nguồn tài nguyên hạn chế, đất chật người
đông và đang trên đà phát triển về mọi mặt do vậy nhu cầu về sử dụng đất đai của tất cả các ngành kinh tế đều là rất lớn Vì vậy, đất đai phải được sử dụng
đúng mục đích, hợp lý và tiết kiệm theo những quan điểm cơ bản sau đây:
+ Đất đai phải được sử dụng theo quy hoạch và kế hoạch, điều này vừa
đảm bảo được sự thống nhất của Nhà nước trong việc quản lý đất đai vừa phát huy được quyền làm chủ của nhân dân trong việc sử dụng đất
+ Hạn chế việc mất đất trong sản xuất nông nghiệp, nhất là đất đang trồng lúa + Trong việc sử dụng đất nông nghiệp cần phải thực hiện theo quan điểm tích cực: Thâm canh tăng vụ, tăng hệ số sử dụng đất, áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến để đạt năng suất và hiệu quả cao, khai hoang mở rộng diện tích + Sử dụng đất phải gắn với việc bảo vệ cải tạo đất, nâng cao độ phì nhiêu của
đất đai, duy trì cải thiện môi trường sinh thái để sản xuất phát triển được lâu bền 2.2 Tổng quan về hệ thống nông nghiệp, hệ thống canh tác
2.2.1 Khái niệm về hệ thống nông nghiệp, hệ thống canh tác
động chung và cho một mục đích chung, (Đào Châu Thu, 2002)[35]
Sự hoạt động của hệ thống phải nhằm đạt được các mục tiêu nhất định Thường một hệ thống có nhiều mục tiêu, trong đó có những mục tiêu hỗ trợ nhau nhưng cũng có những mục tiêu mâu thuẫn nhau Theo quy luật sinh thái, hoạt động của hệ thống càng đa dạng thì tính ổn định của hệ thống càng cao Như vậy, sự đa dạng hoá mục tiêu của hệ thống sẽ làm tăng tính ổn định của
Trang 24hệ thống, vì điều đó sẽ làm phát huy được các mục tiêu hỗ trợ nhau và làm giảm đi những mục tiêu mâu thuẫn nhau của hệ thống
Theo Trần Đức Viên, Đào Châu Thu, Phạm Chí Thành, Phạm Tiến Dũng (1996)[45]: Hệ thống là một hệ thống có trật tự của các yếu tố khác nhau có quan hệ và tác động qua lại lẫn nhau Một hệ thống có thể xác định như một tập hợp các đối tượng hoặc các thuộc tính được liên kết bằng những mối tương tác
Để hệ thống phát triển bền vững cần nghiên cứu bản chất và đặc điểm của các mối tương quan qua lại giữa các yếu tố trong hệ thống đó, điều tiết các mối tương tác cũng chính là điều khiển hệ thống một cách có quy luật 2.2.1.2 Hệ thống nông nghiệp, hệ thống canh tác
Trên thế giới hiện nay có khá nhiều khái niệm hoặc định nghĩa về hệ thống nông nghiệp và hệ thống canh tác
- Theo Vissac, Hentgen (1979): Hệ thống nông nghiệp là tập hợp trong không gian của sự phối hợp các ngành sản xuất và kỹ thuật do một xQ hội thực hiện để thoả mQn các nhu cầu của mình Nó biểu hiện một sự tác động qua lại giữa một hệ thống sinh học- sinh thái mà môi trường tự nhiên là đại biểu và một hệ thống văn hoá- xQ hội, qua những hoạt động xuất phát từ những thành quả khoa học kỹ thuật, (Đào Châu Thu, 2002)[35]
- Theo Touve (1998): Hệ thống nông nghiệp thích ứng với những phương thức khai thác nông nghiệp của một không gian nhất định do một xQ hội tiến hành, nó là kết quả của sự phối hợp các nhân tố tự nhiên, kinh tế, văn hoá- xQ hội và khoa học kỹ thuật, (Đào Châu Thu, 2002)[35]
- Theo Mozoyer (1986): Hệ thống nông nghiệp trước hết là một phương thức khai thác môi trường được hình thành và phát triển trong lịch sử, một hệ thống thích ứng với các điều kiện sinh thái, khí hậu của một không gian nhất
định, đáp ứng với các điều kiện và nhu cầu của thời điểm đó, (Đào Châu Thu, 2002)[35]
Trang 25- Theo Shaner (1982): Hệ thống nông nghiệp là một hệ thống hoạt động nông nghiệp ổn định, độc lập của những bố trí sản xuất giữa các hoạt động của sản xuất nông hộ do người nông dân quản lý Trong mối tương tác với các
điều kiện tự nhiên, kinh tế- xQ hội phù hợp với mục đích, nhu cầu và tiềm năng sản xuất, quản lý của hộ nông dân, (Đào Châu Thu, 2002)[35]
Qua các khái niệm trên về hệ thống nông nghiệp, chúng ta nhận thấy rằng:
Hệ thống nông nghiệp là một hệ thống hữu hạn các yếu tố: đất đai, nguồn nước, cây trồng, vật nuôi, kinh tế, văn hoá- xQ hội và sự tác động của con người Trong đó yếu tố con người luôn đóng vai trò trung tâm, con người quản lý và điều khiển hệ thống theo những quy luật nhất định, nhằm đem lại hiệu quả cao cho hệ thống nông nghiệp của chính mình
Trong quá trình điều khiển và quản lý hệ thống nông nghiệp để đạt
được hiệu quả cao thì phải luôn chú ý đến những đặc điểm sau của hệ thống nông nghiệp:
Khi tiếp cận hệ thống thì luôn luôn tiếp cận từ “dưới lên” và xem hệ thống bị mắc ở điểm nào thì tìm cách can thiệp để giải quyết cản trở bằng các giải pháp khoa học kỹ thuật và kinh tế- xQ hội
- Phải luôn coi trọng mối quan hệ kinh tế- xQ hội như những yếu tố chính của hệ thống nông nghiệp
- Phải luôn coi trọng công tác phân tích động thái của sự phát triển trong hệ thống nông nghiệp
Thuật ngữ hệ thống nông nghiệp “Agricultural System” và hệ thống canh tác “Farming System” thường được sử dụng thay thế cho nhau Hệ thống nông nghiệp thường ám chỉ và áp dụng cho các hệ thống lớn, trong khi đó hệ thống canh tác được áp dụng cho các hệ thống nhỏ hẹp hơn
Điều cần thiết và thuận lợi, trong một số trường hợp phải rà xét lại các
hệ thống nông nghiệp theo tiến trình lịch sử, nhưng một khi bàn luận về sự
Trang 26phát triển và quản lý các hệ thống hiện tại thì người ta thường tập trung vào hệ thống canh tác, (Lê Văn Khoa, 1999)[19]
Theo Sectison (1987): Hệ thống canh tác là sản phẩm của 4 nhóm biến số: môi trường vật lý, kỹ thuật sản xuất, chi phối của nguồn tài nguyên, điều kiện kinh tế- xQ hội Trong hệ thống canh tác vai trò của con người đặt ở vị trí trung tâm của hệ thống và nó có vai trò quan trọng hơn bất kỳ nguồn tài nguyên nào kể cả đất canh tác, (Phạm Chí Thành, 1998)[33]
2.2.2 Sơ lược lịch sử phát triển của hệ thống nông nghiệp, hệ thống canh tác
Lịch sử phát triển của hệ thống nông nghiệp và hệ thống canh tác gắn liền với lịch sử phát triển nông nghiệp Theo Đường Hồng Dật (1980); Cao Liêm, Trần Đức Viên (1990) và một số tác giả khác chia lịch sử phát triển của
hệ thống nông nghiệp thành 3 giai đoạn, (Đào Châu Thu, 2002)[35]
- Giai đoạn nông nghiệp thủ công: Con người tác động vào thiên nhiên chủ yếu và phổ biến bằng lao động sống, lao động cơ bắp giản đơn, còn trí tuệ chủ yếu là kinh nghiệm, vật tư kỹ thuật sản xuất và công cụ lao động cũng còn rất đơn giản cho nên sản phẩm nông nghiệp tạo ra ít, năng suất cây trồng còn thấp
- Giai đoạn nông nghiệp cơ giới hoá: Được bắt đầu từ thế kỷ 18 cho đến những năm đầu của thập kỷ 70 của thế kỷ 20 Sản xuất nông nghiệp ở giai đoạn này có những bước tiến nhảy vọt nhờ lao động sống được hỗ trợ bằng vật tư và công cụ sản xuất được cải tiến không ngừng và nhờ đó mà sản xuất nông nghiệp tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm, năng suất tăng rõ rệt Con người đQ thực hiện 5 hoá trong sản xuất nông nghiệp: cơ khí hoá, điện khí hoá, hoá học hoá, thuỷ lợi hoá và sinh học hóa Tuy nhiên, đây cũng là giai đoạn mà con người trong sản xuất nông nghiệp đQ sử dụng quá nhiều vật tư, năng lượng mà chủ yếu là năng lượng hoá thạch nên đQ làm tổn thương đến môi trường sống Mà những biểu hiện cụ thể là: tài nguyên thiên nhiên bị kiệt quệ, suy thoái, ô nhiễm môi trường, thiên tai dẫn đến những hiểm hoạ kinh tế- xQ hội như chiến tranh, đói nghèo
Trang 27Sơ đồ 2.2: Mô hình hệ thống nông nghiệp của Shaner, 1982
- Giai đoạn phát triển nông nghiệp hiện đại trên cơ sở khoa học kỹ thuật tiên tiến: Những phản ứng tự nhiên của thiên nhiên đQ buộc con người phải cân nhắc và có những biện pháp tích cực, thận trọng hơn trong sản xuất nông nghiệp Các hoạt động sản xuất ở giai đoạn này được định hướng phù hợp với quy luật tự nhiên của hệ sinh thái và dựa trên cơ sở điều khiển sản xuất nông nghiệp bền vững bằng trí tuệ, các tri thức khoa học kỹ thuật hiện đại, tiên tiến Tuy nhiên thực trạng sản xuất nông nghiệp trên thế giới cho thấy mới chỉ có một số nước phát triển bước vào giai đoạn thứ 3 này, còn ở các nước khác giai đoạn này chưa phát triển rõ rệt, chỉ mới thể hiện ở lý thuyết cấu trúc hệ thống và lý thuyết về hệ sinh thái
Môi trường tự nhiên:
Đất đai, khí hậu,
nguồn nước, sinh học
Điều kiện kinh tế:
Đầu tư, dịch vụ, thị trường, tín dụng
Điều kiện x hội: Thượng tầng kiến trúc, luật lệ, tín ngưỡng
Quyết định của nông dân
Cây trồng Vật nuôi Ngành nghề khác phi nông nghiệp Ngành nghề
Sản phẩm sản xuất tiêu thụ
được do bán sản phẩm
Trang 28Nông nghiệp của nước ta hiện nay đang ở vào giai đoạn thứ 2 Tuy nhiên
do điều kiện khách quan, công nghiệp nước ta chưa phát triển, chưa đủ sức để trang bị máy móc, vật tư, hoá chất cho nông nghiệp như ở các nước phát triển Vì vậy, hầu hết các sản phẩm công nghiệp cần thiết cho nông nghiệp chúng ta phải nhập từ nước ngoài Những năm gần đây, do giao lưu với các nước ngày càng được mở rộng, chúng ta đQ học tập và thu nhận được nhiều thông tin, kinh nghiệm của nhiều nước và cũng thấy được những vấn đề đang nảy sinh trong sản xuất nông nghiệp ở các nước trong giai đoạn thứ 2 của quá trình phát triển nông nghiệp Trên đồng ruộng Việt Nam, việc sử dụng phân bón hoá học và thuốc trừ sâu bệnh trong thời gian dài đQ gây ảnh hưởng rất mạnh đến cân bằng sinh thái nông nghiệp, do vậy trong thời gian tới chúng ta phải dần đưa nông nghiệp Việt Nam phát triển theo giai đoạn thứ 3 Nghĩa là xác định rõ ràng con
đường đi lên của nông nghiệp Việt Nam phải dựa vào trí tuệ, dựa vào kiến thức khoa học Điều này thể hiện trước hết ở việc nắm bắt và vận dụng các quy luật khách quan của tự nhiên và xQ hội vào trong sản xuất nông nghiệp
2.3 Một số kết quả nghiên cứu về đánh giá sử dụng đất nông nghiệp
bền vững ở Việt Nam
- Công tác nghiên cứu đánh giá đất đai thực sự được coi là một môn khoa học ở Việt Nam chỉ mới bắt đầu từ năm 1970 trở lại đây Thời kỳ đầu các công trình nghiên cứu chỉ tập trung vào phân hạng đất lúa trong phạm vi hợp tác xQ nông nghiệp, do viện Nông hoá Thổ nhưỡng, viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, Tổng cục Quản lý Ruộng đất, trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội tiến hành nghiên cứu Kết quả đạt được là đQ xây dựng được quy trình phân hạng đất vùng sản xuất nông nghiệp, nhằm tăng cường công tác quản lý độ màu mỡ đất và xếp hạng thuế nông nghiệp, (Nguyễn Khang, Nguyễn Công Pho và các cộng sự, 1999)[20] Dựa vào các chỉ tiêu chính là các điều kiện sinh thái và tính chất đất của từng vùng sản xuất nông nghiệp
mà đất đai được phân thành 5 đến 7 hạng theo phương pháp xếp điểm
Trang 29- Từ năm 1980 các phương pháp đánh giá đất đai trên thế giới đQ được các nhà khoa học đất của Việt Nam nghiên cứu và áp dụng, đặc biệt là phương pháp đánh giá đất đai của FAO Các công trình nghiên cứu đQ tiến hành và
được ứng dụng đó là các công trình sau:
+ Đánh giá phân hạng đất khái quát toàn quốc (Tôn Thất Chiểu và nhóm nghiên cứu) thực hiện năm 1984 ở tỷ lệ bản đồ 1/500.000 Trong công trình nghiên cứu này tác giả đQ dựa vào nguyên tắc phân loại đất của Mỹ mà chỉ tiêu
áp dụng là đặc điểm thổ nhưỡng và địa hình, (Đỗ Trọng Lý, 2002)[22]
+ Công trình nghiên cứu đánh giá và quy hoạch sử dụng đất khai hoang
ở Việt Nam, (Bùi Quang Toản, 1980)[39] Trong công trình nghiên cứu này thì phương pháp phân hạng thích hợp đất đai của FAO đQ được áp dụng song chỉ dừng lại ở chỗ chỉ đánh giá các điều kiện tự nhiên như là: Thổ nhưỡng, thuỷ văn, tưới tiêu, khí hậu và trong nghiên cứu này hệ thống phân vị chỉ dừng lại ở lớp (Class) thích nghi cho từng loại hình sử dụng đất
+ Năm 1983, Tổng cục Quản lý Ruộng đất (nay là Bộ Tài nguyên- Môi trường) đQ ban hành “Dự thảo phương pháp phân hạng đất lúa nước cấp huyện” Theo tài liệu này đất lúa nước được phân thành 8 hạng và chỉ tiêu chủ yếu là dựa nào năng suất của cây lúa, độ dày tầng canh tác, địa hình, thành phần cơ giới, mức độ mặn, phèn, chua, (Tổng cục Quản lý Ruộng đất, 1992)[42]
- Bắt đầu từ năm 1990 viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp đQ thực hiện nhiều chương trình đánh giá đất đai trên phạm vi toàn quốc, với 9 vùng sinh thái và nhiều vùng chuyên canh theo các dự án đầu tư Nguyễn Khang, Phạm Dương Ưng (1994) với công trình nghiên cứu “Kết quả bước đầu đánh giá tài nguyên đất đai ở Việt Nam”; Nguyễn Công Pho (1995) với công trình nghiên cứu “Đánh giá đất vùng đồng bằng sông Hồng”; Nguyễn Khang, Nguyễn Văn Tân với công trình nghiên cứu “Đánh giá đất vùng dự án đa mục tiêu IASOUP”; Nguyễn Chiến Thắng, Cấn Triển với công trình nghiên cứu “Đánh giá đất tỉnh Bình Định” (1995); Nguyễn Văn Nhân (1995) với công trình nghiên cứu “Đánh giá khả năng sử dụng đất đai vùng đồng bằng sông Cửu Long”
Trang 30Trong thời gian này, ngoài các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đất thuộc viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp thì còn nhiều công trình nghiên cứu của nhiều nhà khoa học khác ở các vùng trên toàn quốc cũng
đQ được công bố rộng rQi, đó là:
+ Vùng đồi núi Tây Bắc và trung du phía Bắc có các công trình nghiên cứu của: Lê Duy Thước (1992); Lê Văn Khoa (1993); Lê Thái Bạt (1995) Các tác giả đQ có những nhận định tổng quát về quỹ đất của vùng Nét nổi bật là sự hình thành đất đQ chia ra 6 nhóm và 24 loại đất với đặc điểm phát sinh và sử dụng đa dạng Các nhóm đất chính được nghiên cứu là đất đỏ vàng, đất mùn vàng đỏ trên núi đều bị suy giảm về độ phì, (Lê Hồng Sơn, 1996)[30]
+ Vùng đồng bằng sông Hồng với các công trình nghiên cứu của các tác giả: Nguyễn Công Pho, Lê Hồng Sơn (1995); Cao Liêm, Quyền Đình Hà,
Vũ Thị Bình (1992, 1993); Phạm Văn Năng (1992); Nguyễn Khang, Nguyễn Văn Bộ “Dự án quy hoạch tổng thể đồng bằng sông Hồng VIE/89/034” Các tác giả đQ đưa ra kết luận là vùng đồng bằng sông Hồng có 33 đơn vị đất đai Loại hình sử dụng đất rất đa dạng với 3 vụ chính: Vụ xuân, vụ mùa và vụ
đông Cây trồng chủ yếu bao gồm: Lúa nước, cây trồng cạn ngắn ngày, cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày, (Phạm Khắc Nam, 2000)[24]
Các kết quả nghiên cứu đánh giá đất đai, mức độ thích hợp đất đai của các loại hình sử dụng đất ở các cấp từ toàn quốc đến vùng, tỉnh, huyện của tất cả các tác giả đều cho thấy sự nhất quán, thống nhất theo phương pháp đánh giá đất đai của FAO Đây chính là bước lựa chọn và phân cấp các chỉ tiêu phân hạng thích hợp đất đai trong điều kiện của Việt Nam Phần lớn tác giả của các chương trình đánh giá đất đai đều lấy yếu tố đơn vị đất đai hoặc tính chất đất đai làm cơ sở để xếp hạng và phân cấp chỉ tiêu cho đánh giá mức độ thích hợp đất đai của các loại hình sử dụng đất
- Tháng 1 năm 1995, Hội thảo quốc gia về đánh giá đất đai và quy hoạch
sử dụng đất trên quan điểm sinh thái bền vững do viện Quy hoạch và Thiết kế
Trang 31Nông nghiệp tổ chức với sự tham gia của nhiều nhà khoa học Hội thảo đQ tổng kết, đánh giá sự vận dụng vào thực tế phương pháp đánh giá đất của FAO ở Việt Nam, những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu để tiến tới hoàn thiện nội dung và xây dựng quy trình đánh giá đất đai trên các vùng lQnh thổ Việt Nam Thông qua việc đánh giá khả năng thích hợp đất đai để nắm bắt được tiềm năng đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp, lựa chọn hệ thống sử dụng đất, loại hình sử dụng đất phù hợp để tiến tới sử dụng đất đai một cách hợp lý và có hiệu quả cao
- Từ năm 1996 đến nay, các chương trình đánh giá đất đai cho các vùng sinh thái khác nhau, các tỉnh, các huyện trọng điểm đQ được thực hiện và là những thông tin, tư liệu có giá trị cho các dự án quy hoạch sử dụng đất và chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở cấp cơ sở Xuất phát từ những yêu cầu sử dụng và quản lý tài nguyên đất, vấn đề nghiên cứu đất đai trên cơ sở đánh giá khả năng
sử dụng thích hợp đất đai ở Việt Nam hiện nay là rất cần thiết Các kết quả bước
đầu của các công trình nghiên cứu đánh giá đất đai thời gian qua với sự hỗ trợ
và giúp đỡ tích cực của các cơ quan Nhà nước và Quốc hội đQ và đang góp phần
đưa nền nông nghiệp Việt Nam phát triển theo hướng sinh thái và bền vững 2.4 Tổng quan các vấn đề về đánh giá hiệu quả sử dụng đất
2.4.1 Khái niệm về hiệu quả
Trong thực tế, có rất nhiều quan điểm về hiệu quả, trước kia do nhận thức của con người còn hạn chế nên người ta thường có quan niệm kết quả là hiệu quả
Sau này, khi nhận thức của con người phát triển cao hơn thì người ta đQ thấy rõ sự khác nhau giữa kết quả và hiệu quả Tuy nhiên, việc xác định bản chất và khái niệm về hiệu quả cần phải xuất phát từ những luận điểm triết học Mác và những luận điểm của lý thuyết hệ thống:
- Bản chất của hiệu quả là sự thực hiện yêu cầu tiết kiệm thời gian, biểu hiện trình độ sử dụng nguồn lực của xQ hội Các Mác cho rằng quy luật tiết kiệm thời gian là một quy luật có tầm quan trọng đặc biệt tồn tại trong nhiều
Trang 32phương thức sản xuất Mọi hoạt động của con người đều tuân theo quy luật đó,
nó quyết định động lực phát triển của lực lượng sản xuất, tạo điều kiện phát triển văn minh xQ hội và nâng cao đời sống con người qua mọi thời đại
- Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống thì nền sản xuất xQ hội là một
hệ thống các yếu tố sản xuất và các quan hệ vật chất hình thành giữa con người với con người trong quá trình sản xuất
- Hiệu quả kinh tế là mục tiêu nhưng không phải là mục tiêu cuối cùng
mà là mục tiêu phương tiện xuyên suốt mọi hoạt động kinh tế Trong kế hoạch
và quản lý kinh tế nói chung hiệu quả là quan hệ so sánh tối ưu giữa đầu vào
và đầu ra, là lợi ích lớn hơn thu được so với một chi phí nhất định, hoặc một kết quả nhất định với chi phí nhỏ hơn, (Quyền Đình Hà, 2002)[14]
Từ những quy luật và lý thuyết hệ thống nói trên, chúng ta thấy rằng bản chất của hiệu quả được xem là:
+ Việc đáp ứng của nhu cầu của con người trong đời sống xQ hội
+ Việc bảo tồn tài nguyên, nguồn lực để phát triển lâu bền
2.4.2 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Khi tiến hành đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp thì chúng ta không chỉ đánh giá về một mặt kinh tế mà phải xem xét, đánh giá cả về mặt hiệu quả xQ hội và hiệu quả về môi trường
- Hiệu quả về mặt kinh tế: Hiệu quả kinh tế là khâu trung tâm của tất cả các loại hiệu quả Nó có vai trò quyết định đối với các loại hiệu quả khác Hiệu quả kinh tế là loại hiệu quả có khả năng lượng hoá, được tính toán tương
đối chính xác và biểu hiện bằng hệ thống các chỉ tiêu
- Hiệu quả xQ hội có liên quan mật thiết với hiệu quả kinh tế và thể hiện mục tiêu hoạt động kinh tế của con người Việc lượng hoá các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả xQ hội là rất khó khăn, do vậy chủ yếu phản ánh bằng các chỉ
Trang 33tiêu mang tính định tính như tạo công ăn việc làm cho người lao động, ổn định chỗ ở, xoá đói giảm nghèo, định canh định cư, lành mạnh xQ hội
- Hiệu quả về môi trường: Đây là loại hiệu quả được các nhà môi trường học rất quan tâm trong điều kiện hiện nay Một hoạt động sản xuất
được coi là có hiệu quả khi mà hoạt động sản xuất đó không có những ảnh hưởng xấu đến môi trường đất, nước, không khí, không làm ảnh hưởng xấu
đến môi sinh và đa dạng sinh học
Tóm lại: Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp phải được xem xét một cách toàn diện cả về mặt không gian và thời gian trong mối quan hệ hiệu quả chung của toàn nền kinh tế Hiệu quả đó bao gồm: Hiệu quả kinh tế; Hiệu quả xQ hội; Hiệu quả môi trường Ba hiệu quả này có mối quan hệ mật thiết với nhau như một thể thống nhất và không thể tách rời nhau
2.4.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất
2.4.3.1 Nhóm chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế
+ Hệ thống sử dụng đất phải có mức năng suất sinh học cao trên mức bình quân trong vùng có cùng điều kiện đất đai
+ Năng suất sinh học được tính bao gồm các sản phẩm chính và sản phẩm phụ đối với cả trồng trọt và chăn nuôi
+ Xu thế năng suất phải tăng dần mới thể hiện được tính bền vững về hiệu quả kinh tế
+ Về chất lượng: sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn thị trường Chỉ tiêu này phản ánh trình độ tiếp cận thị trường, việc giải quyết ách tắc về thị trường phải
được bắt đầu ngay từ khâu sản xuất: Chọn giống thích hợp, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng, bố trí thời vụ hợp lý nhất để bán sản phẩm được giá
+ Giá trị sản xuất (GO), giá trị gia tăng (VA) trên một đơn vị diện tích
là thước đo quan trọng nhất của hiệu quả kinh tế đối với một hệ thống sử dụng
Trang 34đất Các loại sản phẩm chính và sản phẩm phụ có đóng góp vào thu nhập đều phải được tính đến
+ Các chỉ tiêu khác về hiệu quả kinh tế được xem xét trong từng điều kiện cụ thể về không gian và thời gian để góp phần đề ra các quyết định cho
hệ thống sử dụng đất Tuy nhiên, chỉ tiêu lQi ròng trong sản xuất ít nhất phải lớn hơn lQi suất tiền vay vốn ngân hàng
+ Giảm rủi ro: Hệ thống sử dụng đất cố gắng giảm đến mức thấp nhất thiệt hại do thiên tai, sâu bệnh Về thị trường tiêu thụ trước hết phải quan tâm
đến thị trường nội địa Sản phẩm dễ bảo quản, ít hư hao, thối hỏng, tránh cho người sản xuất không bị người mua độc quyền, ép giá
2.4.3.2 Nhóm chỉ tiêu về hiệu quả xe hội
+ Xác định hệ thống sử dụng đất trước hết cần quan tâm đến nhu cầu tối thiểu của người nông dân về ăn, ở và sinh hoạt rồi mới vươn lên để sản xuất hàng hoá Sau nữa là quan tâm đến việc cho thu nhập thường xuyên, đều
kỳ, phù hợp với số vốn của người nông dân
+ Hệ thống phải phát huy được nội lực của nông hộ và nguồn lực của
địa phương, được tổ chức trên đất mà người nông dân có quyền hưởng thụ lâu dài, đất đQ được giao với lợi ích các bên rạch ròi
+ Nguồn vốn vay được ổn định với lQi suất và thời hạn phù hợp
+ Người dân được tham gia triệt để vào việc ra quyết định về kế hoạch
và phương án sản xuất, có quyền bình đẳng trong hưởng lợi đối với mọi hợp
đồng có liên quan
+ Về lao động xQ hội: Bố trí sử dụng hợp lý nguồn lao động, quan tâm tới việc bình đẳng giới và quyền trẻ em: Không làm cho phụ nữ phải lao động nặng nhọc hơn, không lạm dụng sức lao động của trẻ em và tước đi quyền
được học tập của chúng
Trang 35+ Hệ thống sử dụng đất phải phù hợp với luật pháp và hương ước cộng
đồng: Chẳng hạn không bố trí cây trồng đối kháng nhau trong một vùng đất, cây có sức chống xói mòn yếu không bố trí trồng ở đầu nguồn, cây trồng không phù hợp với nền văn hoá dân tộc và tập quán địa phương sẽ không được cộng đồng ủng hộ
2.4.3.3 Nhóm chỉ tiêu về môi trường sinh thái
+ Giữ đất không bị rửa trôi xói mòn: Giảm thiểu bằng sự giảm thiểu lượng đất mất hàng năm dưới ngưỡng cho phép Ngưỡng này phải được xác
định cho từng loại đất, từng thảm phủ thực vật ở mỗi địa phương
+ Độ phì nhiêu đất tăng dần trong đó tuần hoàn hữu cơ được cải thiện + Đảm bảo nguồn sinh thuỷ không bị khai thác cạn kiệt, hạ mức nước ngầm, ô nhiễm nguồn nước
+ Đảm bảo độ che phủ đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%) che phủ liên tục trong năm
+ Đảm bảo đa dạng sinh học thể hiện qua thành phần loài sinh vật (đa canh bền vững hơn độc canh, cây dài ngày có khả năng bảo vệ tốt hơn cây ngắn ngày )
+ Bảo tồn quỹ gen: Tận dụng nhiều loại cây trồng bản địa vốn đQ được chọn lọc từ lâu đời thích nghi với điều kiện địa phương; Bổ sung một số loài với đảm bảo cân bằng sinh thái
Các tiêu chí thuộc 3 lĩnh vực trên được dùng để xem xét đánh giá một
hệ thống sử dụng đất Tuỳ theo từng đặc tính và mục tiêu của mỗi kiểu sử dụng đất, các tiêu chí và chỉ tiêu cũng có ý nghĩa khác nhau, cấp độ quan trọng khác nhau Vì vậy, khi đánh giá xem xét trong từng trường hợp cụ thể
mà đặt cho chúng những trọng số khác nhau
Trang 363 Đối tượng, phạm vi, nội dung phương pháp nghiên cứu
3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là đất sản xuất nông nghiệp và các yếu tố sinh thái, các hệ thống sử dụng đất và các yếu tố kinh tế- xQ hội tác động đến quá trình sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình 3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là đánh giá hiện trạng, tình hình sử dụng
đất sản xuất nông nghiệp, hiệu quả kinh tế, hiệu quả xQ hội và môi trường của các loại hình sử dụng đất và định hướng sử dụng đất nông nghiệp đến năm
2015 trên địa bàn huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế- xQ hội ảnh hưởng đến tình hình sử dụng
đất nông nghiệp và phát triển sản xuất nông nghiệp
- Đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp
- Định hướng và giải pháp sử dụng đất nông nghiệp
3.3 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra nhanh nông thôn (RRA), điều tra có sự tham gia của người dân (PRA): Điều tra phỏng vấn về tình hình sản xuất và kinh doanh của các nông hộ thông qua bộ câu hỏi chuẩn bị trước
- Phương pháp thu thập tài liệu: Thu thập những số liệu thống kê về đất
đai, về các yếu tố tự nhiên, kinh tế- xQ hội Thông qua các phòng chuyên môn:
Trang 37Tài nguyên và Môi trường, Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Thống kê
- Phương pháp xử lý tài liệu, số liệu: Các số liệu thu thập được về điều kiện tự nhiên, đất đai, chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế, xQ hội và môi trường của các loại hình sử dụng đất được đưa vào xử lý trên các phần mềm máy tính (Word, Excel, Gis )
* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả được lựa chọn sử dụng trong đề tài:
Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế:
Để đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp của các loại hình
sử dụng đất trên địa bàn huyện Tuyên Hoá, đề tài sử dụng hệ thống các chỉ tiêu sau:
+/ Hiệu quả trên một đơn vị diện tích đất canh tác:
- Giá trị sản xuất (GO- Gross Output): Là toàn bộ giá trị sản phẩm tạo
ra trong một thời kỳ nhất định trên một đơn vị diện tích đất canh tác
mở rộng
NVA = VA - Dp - T
Trong đó: Dp: Khấu hao tài sản cố định T: Thuế sử dụng đất
Trang 38+/ Hiệu quả trên một đơn vị chi phí vật chất:
- Giá trị sản xuất trên chi phí vật chất: HC
Các chỉ tiêu này chỉ ra hiệu quả sử dụng 1000đ chi phí trung gian hoặc chi phí trực tiếp Khi sản xuất cạnh tranh trên thị trường thì các chỉ tiêu này sẽ quyết định sự thành bại của một loại sản phẩm
+/ Hiệu quả trên một đơn vị lao động (1LĐ hoặc quy một ngày công chuẩn):
Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả x hội:
Để đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của các loại hình sử dụng đất trên địa bàn huyện Tuyên Hoá về mặt xQ hội, đề tài sử dụng các chỉ tiêu sau:
+ Phù hợp với quy mô đất được giao của mỗi hộ nông dân
+ Phù hợp với lao động trong hộ gia đình hoặc thuê ở địa phương + Phát huy được tri thức bản địa
+ Phù hợp với tập quán địa phương, pháp luật của Nhà nước, đường lối chính sách của Đảng
+ Thu hút lao động tại địa phương, tạo thêm công việc cho lao động nông nghiệp trong lúc thời vụ nông nhàn
Trang 39Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả môi trường:
Để đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của các loại hình sử dụng đất trên địa bàn huyện Tuyên Hoá về mặt môi trường, đề tài sử dụng các chỉ tiêu sau:
+ Không gây ra sự ô nhiễm về: Không khí, đất, nước, môi trường sống
+ Độ phì nhiêu đất được duy trì hoặc cải thiện
+ Khai thác tối đa các loại cây trồng, vật nuôi bản địa, bảo tồn và làm phong phú quỹ gen
- Phương pháp minh hoạ bằng bản đồ: Các kết quả nghiên cứu được minh hoạ bằng bản đồ gồm các bản đồ: Bản đồ hành chính, bản đồ hiện trạng
sử dụng đất, bản đồ định hướng sử dụng đất nông nghiệp và được thể hiện ở cùng một tỷ lệ
Trang 404 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Tuyên Hóa là một huyện miền núi phía Tây Bắc của tỉnh Quảng Bình,
có tổng diện tích tự nhiên 114.941 ha, chiếm 14,27% diện tích tự nhiên của tỉnh, bao gồm 19 xQ và 1 thị trấn Vị trí của huyện được xác định như sau:
- Phía Bắc giáp huyện Hương Khê và Kỳ Anh của tỉnh Hà Tĩnh
- Phía Nam giáp huyện Bố Trạch
- Phía Đông giáp huyện Quảng Trạch của tỉnh Quảng Bình
- Phía Tây giáp huyện Minh Hoá và nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào