Xuất phát trừ những lý do trên, được sự đồng ý của Bộ môn Hệ thống nông nghiệp, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Đoàn Văn Điếm, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiện trạng và
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học nông nghiệp hà nội
Người hướng dẫn khoa học: pgs.ts đoàn văn điếm
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn này là trung thực và ch−a đ−ợc sử dụng để bảo
văn này là trung thực và ch−a đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào vệ một học vị nào vệ một học vị nào Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
đ−ợc cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc.
nguồn gốc
Tác giả
Tác giả
Phạm Duy Trung Phạm Duy Trung
Trang 3Lời cảm ơn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Đoàn Văn Điếm, TS Đoàn Văn Điếm, người đã tận tình giúp đỡ, h
người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề ướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài, cũng như trong quá trình hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp.
tài, cũng như trong quá trình hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cám ơn các thầy cô giáo
Tôi xin chân thành cám ơn các thầy cô giáo Viện Viện Viện Sau Đại học; Khoa Sau Đại học; Khoa Nông học, đặc biệt là các thầy cô
Nông học, đặc biệt là các thầy cô trong trong trong Bộ môn Hệ thống nông nghiệp Bộ môn Hệ thống nông nghiệp (Tr
(Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội); Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban ường Đại học Nông nghiệp Hà Nội); Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Phòng Nông Nghiệp, phòng Thống kê, Phòng Tài nguyên Môi trường, Phòng Lao động
trường, Phòng Lao động – TBXH, Trạm Khí tượng TBXH, Trạm Khí tượng TBXH, Trạm Khí tượng – Thuỷ văn, Trung tâm Thuỷ văn, Trung tâm nghiên cứu đất
nghiên cứu đất và phân bón vùng Trung du đóng trên địa bàn huyện Hiệp và phân bón vùng Trung du đóng trên địa bàn huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang; UBND các xã, thị trấn và bà con nông dân huyện Hiệp Hoà (tỉnh Bắc Giang); các bạn bè, đồng nghiệp, gia đình và ng
Hoà (tỉnh Bắc Giang); các bạn bè, đồng nghiệp, gia đình và người thân đã ười thân đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện đề t
nhiệt tình giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện đề tài và hoàn chỉnh luận văn ài và hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp.
tốt nghiệp
Tác giả
Tác giả
Phạm Duy Trung Phạm Duy Trung
Trang 4Mục lục
2.2 Tổng quan về biện pháp chống hạn đối với sản xuất nông nghiệp 18 2.3 Phương pháp phân tích hiệu quả sản xuất nông nghiệp 22 2.4 Nghiên cứu phát triển hệ thống canh tác trên thế giới 37 2.5 Nghiên cứu phát triển hệ thống canh tác ở Việt Nam 42
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xM hội huyện Hiệp Hoà 52
Trang 54.1.3 Đặc điểm sử dụng đất đai 55
4.3 Hiệu quả của hệ thống cây trồng trên đất vàn cao 76 4.3.1 Hiệu quả kinh tế của các cây trồng trên đất vàn cao 76
4.4 Đề xuất hệ thống cây trồng mới trên chân đất vàn cao 86
4.4.2 Đề xuất hệ thống cây trồng mới trên chân đất vàn cao 86 4.5 Kết quả thực nghiệm một số kỹ thuật canh tác trên đất vàn cao 89 4.5.1 Thực nghiệm một số biện pháp kỹ thuật giữ ẩm cho cây lạc 89 4.5.2 Thực nghiệm trồng xen canh cây lạc với cây sắn 96 4.6 Các giải pháp góp phần thực thi cơ cấu cây trồng mới 102
Trang 6Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t
GTSX CN Gi¸ trÞ s¶n xuÊt c«ng nghiÖp
GTSX TM-DV Gi¸ trÞ s¶n xuÊt th−¬ng m¹i - dÞch vô
Trang 7Danh mục các bảng
4.1 Một số chỉ tiêu khí hậu huyện Hiệp Hoà, Bắc Giang 53 4.2 Hiện trạng sử dụng đất đai của huyện Hiệp Hòa năm 2008 55 4.3 Động thái tăng trưởng giá trị sản xuất giai đoạn 2003 – 2008 57 4.4 Tỷ trọng và tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất của nông nghiệp 58 4.5 Diện tích các loại cây trồng hàng năm của huyện Hiệp Hoà 59 4.6 Phát triển chăn nuôi huyện Hiệp Hoà giai đoạn 2004-2008 61 4.7 Các loại đất chính của huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang 67 4.8 Diện tích đất nông nghiệp trồng các loại cây hàng năm 67
4.10 Tần suất các mức khô hạn theo chỉ số ẩm (MI) vụ Xuân 71 4.11 Tần suất các mức khô hạn theo chỉ số ẩm (MI) vụ Đông 72
413 Cơ cấu cây trồng hàng năm trên đất vàn cao qua các vụ năm 2008 74 4.14 Cơ cấu diện tích các công thức luân canh trên đất vàn cao 75
4.20 Hiệu quả kinh tế của hệ thống canh tác rau các loại 82 4.21 Hiệu quả kinh tế của các công thức luân canh trên đất vàn cao 83 4.22 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xM hội và hiệu quả môi trường
Trang 84.23 Cơ cấu các công thức luân canh đề xuất cho đất vàn cao 86 4.24 Diện tích, năng suất, sản lượng dự kiến của cây trồng theo cơ cấu mới 88 4.25 Đề xuất cơ cấu giống cho HTCT trên chân vàn cao 88 4.26 Các chỉ tiêu sinh trưởng của cây lạc trong các công thức 90 4.27 Yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của lạc thử nghiệm 92 4.28 Độ ẩm đất ở các thời kỳ của các công thức thực nghiệm 94 4.29 Hiệu quả kinh tế của cây lạc trong các công thức thực nghiệm 95 4.30 Một số chỉ tiêu sinh trưởng của sắn ở các công thức 97 4.31 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của sắn 97 4.32 Độ che phủ của cây trồng ở các công thức thực nghiệm (%) 99 4.33 ảnh hưởng của trồng xen tới độ ẩm đất (%) của các công thức 100 4.34 Hiệu quả kinh tế của các công thức thực nghiệm 101
Trang 9Danh mục các hình
Hình 4.1 Bản đồ hành chính huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang 52Hình 4.2 Diễn biến một số yếu tố khí hậu ở Hiệp Hoà, Bắc Giang 54Hình 4.3 Cơ cấu sử dụng đất huyện Hiệp Hoà năm 2008 56Hình 4.4 Động thái tăng trưởng giá trị sản xuất giai đoạn 2003 - 2008 57Hình 4.5 Động thái tăng trưởng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp 58Hình 4.6 Cơ cấu diện tích các loại cây trồng hàng năm 60Hình 4.7 Cơ cấu lao động phân theo ngành kinh tế 63Hình 4.8 Cơ cấu diện tích đất nông nghiệp trồng các loại cây trồng hàng năm 68Hình 4.9 Cơ cấu cây trồng hàng năm trên đất vàn cao 73Hình 4.10 Thời vụ của các công thức luân canh trên đất vàn cao 76
Trang 101 mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiệp Hoà là một huyện nông nghiệp thuộc vùng trung du Bắc Bộ, nằm
ở phía Tây nam tỉnh Bắc Giang; phía Bắc giáp huyện Phú Bình (Thái Nguyên), phía Đông giáp huyện Tân Yên và Việt Yên (Bắc Giang), phía Nam giáp huyện Yên Phong (Bắc Ninh), phía Tây giáp huyện Sóc Sơn (Hà Nội) và huyện Phổ Yên (Thái Nguyên)
Huyện Hiệp Hoà có địa hình đặc trưng là đồi thấp, xen kẽ các đồng bằng lượn sóng thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam Đất đai của huyện phần lớn có độ dốc dưới 80 Khí hậu huyện Hiệp Hoà ôn hoà, ít chịu ảnh hưởng của gió bMo Nhiệt độ trung bình năm 24,10C, tổng lượng mưa trung bình đạt 1.748,1 mm và tập trung chủ yếu vào các tháng mùa hạ (từ những tháng 6 đến tháng 9), hướng gió chủ yếu là hướng Đông – Nam Khí hậu và
đất đai ở đây thuận lợi cho phát triển các cây lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp, một số cây ăn quả nhiệt đới như vải thiều, nhMn, na, bưởi…
Diện tích đất tự nhiên của Hiệp Hoà là 20.112 ha, dân số 221.843 người, có thể nói Hiệp Hoà là huyện “đất chật, người đông” Diện tích đất nông nghiệp trồng cây hàng năm là 11.140,82 ha, chia làm các chân đất: đất cao, đất vàn cao, đất vàn, đất vàn thấp, đất trũng Trong đó diện tích đất vàn cao là 3.776 ha chiếm 33,89% diện tích đất nông nghiệp trồng cây hàng năm Trên chân đất này gần như không chủ động tưới tiêu nên không thể trồng lúa nước mà chủ yếu trồng các loại cây trồng như cây ngô, lạc, khoai lang, khoai tây, đỗ tương, rau, …Năng suất cây trồng chưa cao và các biện pháp kỹ thuật canh tác còn chưa hợp lý
Trong xu thế biến đổi khí hậu toàn cầu, Việt Nam là một trong những nước bị ảnh hưởng rất nặng nề, các hiện tượng thiên tai như bMo, lụt, hạn hán, gió khô nóng … thường xảy ra Nằm ở vùng trung du Bắc Bộ nên Hiêp Hoà
Trang 11hầu như năm nào cũng xảy ra tình trạng hạn hán trên diện rộng, đặc biệt là trên chân đất vàn cao Hiện năng lực ứng phó với thiên tai, đặc biệt đối với hạn hán còn hết sức hạn chế Nhiều năm gần đây, người nông dân thường đưa vào trồng các loại giống cây trồng mới có yêu cầu cao về nước và dinh dưỡng, nên không chịu được hạn, sâu bệnh phát triển mạnh, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất và môi trường Vì vậy việc điều tra, khảo sát hiện trạng hệ thống cây trồng, đưa ra giải pháp cải tiến hệ thống cây trồng trên chân đất vàn cao huyện Hiệp Hoà tỉnh Bắc Giang là hết sức cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và bảo vệ môi trường sinh thái
Xuất phát trừ những lý do trên, được sự đồng ý của Bộ môn Hệ thống nông nghiệp, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Đoàn Văn Điếm, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp phát triển hệ
thống cây trồng trên đất vàn cao tại huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang”
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục đích
Điều tra, nghiên cứu hệ thống cây trồng trên địa bàn huyện Hiệp Hoà; xác định ưu điểm, hạn chế của hệ thống cây trồng hiện tại để chuyển đổi cơ cấu cây trồng mới có hiệu quả kinh tế cao trên đất vàn cao của huyện
1.2.2 Yêu cầu
Điều tra điều kiện tự nhiên, kinh tế, xM hội của huyện
Đánh giá hiện trạng hệ thống cây trồng và hiệu quả kinh tế, xM hội, môi trường trên đất vàn cao trong huyện
Đề xuất một số giải pháp cải tiến hệ thống cây trồng trên đất vàn cao nhằm thu được hiệu quả kinh tế cao phù hợp với điều kiện sinh thái
1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
1.3.1 ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ sung phương pháp luận về
Trang 12hệ thống canh tác, cơ cấu cây trồng, hiệu quả sử dụng đất và định hướng cho việc xây dựng mô hình luân canh cây trồng phù hợp với điều kiện sinh thái của huyện Hiệp Hoà
1.3.2 ý nghĩa thực tiến
- Làm cơ sở khoa học để định hướng quy hoạch cơ cấu cây trồng phù hợp với từng vùng theo hướng sản xuất bền vững, giải quyết việc làm, tăng hiệu quả trên vùng đất vàn cao, cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân trong huyện
- Hạn chế tình trạng bỏ hoang đất sản xuất nông nghiệp
- Đề xuất giải pháp sử dụng cơ cấu cây trồng hợp lý, mang lại hiệu quả kinh tế cao
- Làm tài liệu tham khảo cho các nhà hoạch định, quản lý, kỹ thuật chỉ
đạo sản xuất và bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý mang lại hiệu quả kinh tế cao
đảm bảo phát triển nông - lâm nghiệp bền vững
- Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp, phát triển kinh tế - xM hội, xoá đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống của người dân trong huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang
Trang 132 tổng quan tài liệu
2.1 Tổng quan về hệ thống cây trồng
2.1.1 Lý thuyết hệ thống cây trồng
Theo Đào Thế Tuấn, (1984)[48], HTCT là thành phần các giống và loài cây
được bố trí trong không gian và thời gian của hệ sinh thái nông nghiệp nhằm tận dụng hợp lý nhất các nguồn lợi tự nhiên, kinh tế, xM hội Theo tác giả, cơ cấu cây trồng (CCCT) là nội dung chính của hệ thống cây trồng Bố trí cây trồng hợp lý là biện pháp kỹ thuật tổng hợp nhằm sắp xếp lại hoạt động của hệ sinh thái Một CCCT hợp lý chỉ khi nó lợi dụng tốt nhất các điều kiện khí hậu và né tránh thiên tai, lợi dụng các đặc tính sinh học của cây trồng, tránh sâu bệnh, cỏ dại, đảm bảo sản lượng cao và tỷ lệ hàng hoá lớn, đảm bảo phát triển tốt chăn nuôi và các ngành kinh tế hỗ trợ, sử dụng hợp lý lao động, vật tư, phương tiện
Theo Zandstra và ctv, (1981)[65], HTCT là các hình thức đa canh bao gồm: trồng xen, trồng gối, trồng luân canh, trồng thành băng, canh tác phối hợp, vườn hỗn hợp, Công thức luân canh là tổ hợp trong không gian và thời gian của các cây trồng trên một mảnh đất và các biện pháp canh tác dùng để sản xuất chúng
Theo Nguyễn Duy Tính, (1995)[44], HTCT là một thể thống nhất trong mối quan hệ tương tác giữa các loài cây trồng, giống cây trồng được bố trí hợp
lý trong không gian và thời gian
Do đặc tính sinh học của cây trồng và môi trường luôn biến đổi nên HTCT mang đặc tính động Vì vậy nghiên cứu HTCT không thể dừng lại ở một không gian và thời gian rồi kết thúc mà là việc làm thường xuyên để tìm ra xu thế phát triển, yếu tố hạn chế và những giải pháp khắc phục để chuyển đổi HTCT nhằm mục đích khai thác ngày càng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, tăng hiệu quả kinh tế xM hội phục vụ cuộc sống con người (Đào Thế Tuấn, 1984)[48]
Các nghiên cứu trong việc hoàn thiện hệ thống canh tác, hệ thống cây
Trang 14lại của hệ thống Đó là chỗ có ảnh hưởng không tốt đến hoạt động của hệ thống cần được tác động sửa chữa, khai thông để hệ thống hoàn thiện hơn, có hiệu quả kinh tế cao hơn (Đào Châu Thu, 2004)[42]
Hoàn thiện hệ thống hoặc phát triển HTCT mới, trên thực tế là sự tổ hợp lại các công thức luân canh, tổ hợp lại các thành phần cây trồng và giống cây trồng,
đảm bảo các thành phần trong hệ thống có mối quan hệ tương tác với nhau, thúc
đẩy lẫn nhau, nhằm khai thác tốt nhất lợi thế về điều kiện đất đai, tạo cho hệ thống
có sức sản xuất cao, bảo vệ môi trường sinh thái (Lê Duy Thước, 1991)[36]
Nghiên cứu để xây dựng một hệ thống mới đòi hỏi một trình độ cao hơn, trong đó cần có sự tính toán cân đối kỹ càng, tổ chức sắp xếp sao cho mỗi bộ phận của hệ thống dự kiến nằm đúng vị trí trong mối quan hệ tương tác của các phần tử trong hệ thống, có thứ tự ưu tiên để đạt được mục tiêu của
hệ thống một cách tốt nhất (Đào Châu Thu, 2004)[42]
Để có kế hoạch sản xuất của một vùng hay một đơn vị sản xuất, việc
đầu tiên phải đề cập đến là loại cây, diện tích, loại giống, loại đất, số vụ trong năm, để cuối cùng có một tổng sản lượng cao nhất trong điều kiện tự nhiên và
xM hội nhất định có trước (Phùng Đăng Chinh, Lý Nhạc, 1987)[25]
2.1.2 Khái niệm về cơ cấu cây trồng
Cơ cấu cây trồng là thành phần các giống và loài cây trồng có trong một vùng ở một thời điểm nhất định, nó liên quan tới cơ cấu cây trồng nông nghiệp, nó phản ánh sự phân công lao động trong nội bộ ngành nông nghiệp, phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xM hội của mỗi vùng, nhằm cung cấp
được nhiều nhất những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của con người (Đào Thế Tuấn,1984) [48]; (Cao Liêm, Trần Đức Viên, 1990) [22]
Cơ cấu cây trồng là một trong những nội dung quan trọng của một hệ thống biện pháp kỹ thuật gọi là chế độ canh tác Ngoài cơ cấu cây trồng, chế
độ canh tác bao gồm chế độ luân canh, làm đất, bón phân, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh và cỏ dại Cơ cấu cây trồng là yếu tố cơ bản nhất của chế độ canh
Trang 15tác, vì chính nó quyết định nội dung của các biện pháp khác (Đào Thế Tuấn, 1984) [49]
Cơ cấu cây trồng còn là thành phần của một nội dung rộng hơn gọi là cơ cấu sản xuất nông nghiệp Sản xuất nông nghiệp như trên đM nói bao gồm nhiều ngành sản xuất như trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông sản (Đào Thế Tuấn, 1978) [47]
Xác định cơ cấu cây trồng còn là nội dung phân vùng sản xuất nông nghiệp Muốn làm công tác phân vùng sản xuất nông nghiệp, trước hết phải xác định cơ cấu cây trồng hợp lý nhất đối với mỗi vùng Đây là một công việc không thể thiếu được nếu chúng ta xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn (Đào Thế Tuấn, 1962) [46]
2.1.2.1 Khái niệm về cơ cấu cây trồng hợp lý
Cơ cấu cây trồng hợp lý là sự định hình về mặt tổ chức cây trồng trên
đồng ruộng về số lượng, tỷ lệ, chủng loại, vị trí và thời điểm, có tính chất xác
định lẫn nhau, nhằm tạo ra sự cộng hưởng các mối quan hệ hữu cơ giữa các loại cây trồng với nhau để khai thác và sử dụng một cách tiết kiệm và hợp lý nhất các nguồn tài nguyên cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xM hội (Đào Thế Tuấn, 1978) [47]
Theo Đào Thế Tuấn (1989) [51], Phùng Đăng Chinh và CTV (1987) [25], cơ cấu cây trồng hợp lý là cơ cấu cây trồng phù hợp với điều kiện tự nhiên kinh tế - xM hội của vùng Cơ cấu cây trồng hợp lý còn thể hiện tính hiệu quả của mối quan hệ giữa cây trồng được bố trí trên đồng ruộng, làm cho sản xuất ngành trồng trọt phát triển toàn diện, mạnh mẽ vững chắc theo hướng sản xuất thâm canh gắn với đa canh, sản xuất hàng hoá và có hiệu quả kinh tế cao Cơ cấu cây trồng là một thực tế khách quan, nó được hình thành từ điều kiện tự nhiên, kinh tế - xM hội cụ thể và vận động theo thời gian
Cơ cấu cây trồng hợp lý còn biểu hiện là việc phát triển hệ thống cây trồng mới trên cơ sở cải biến hệ thống cây trồng cũ hoặc phát triển hệ thống
Trang 16cây trồng mới, trên cơ sở tổ hợp lại các công thức luân canh, tổ hợp lại các thành phần cây trồng và giống cây trồng, đảm bảo các thành phần trong hệ thống có mối quan hệ tương tác với nhau, thúc đẩy lẫn nhau, nhằm khai thác tốt nhất lợi thế về điều kiện đất đai, tạo cho hệ thống có sức sản xuất cao, bảo
vệ môi trường sinh thái (Lê Duy Thước, 1991) [36]
Dựa trên quan điểm sinh học Đào Thế Tuấn (1978) [47] cho rằng, bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý là chọn một cấu trúc cây trồng trong hệ sinh thái nhân tạo, làm thế nào để đạt năng suất sơ cấp cao nhất Về mặt kinh tế, cơ cấu cây trồng hợp lý cần thỏa mMn yêu cầu chuyên canh và tỷ lệ sản phẩm hàng hóa cao, bảo đảm việc hỗ trợ cho ngành sản xuất chính và phát triển chăn nuôi, tận dụng nguồn lợi tự nhiên, ngoài ra còn phải đảm bảo việc đầu tư lao
động và vật tư kỹ thuật có hiệu quả kinh tế cao
Xác định cơ cấu cây trồng hợp lý ngoài việc giải quyết tốt mối liên hệ giữa cây trồng với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xM hội, cần phải dựa trên phương hướng sản xuất của vùng Phương hướng sản xuất quyết định cơ cấu cây trồng, nhưng cơ cấu cây trồng lại là cơ sở hợp lý cho các nhà hoạch định chính sách xác định phương hướng sản xuất (Phạm Chí Thành và CTV, 1996) [34], (Đào Thế Tuấn,1984) [48], [49]
2.1.2.2 Khái niệm về chuyển đổi cơ cấu cây trồng
Chuyển đổi cơ cấu cây trồng là sự thay đổi theo tỷ lệ % của diện tích gieo trồng, nhóm cây trồng, của cây trồng trong nhóm hoặc trong tổng thể và
nó chịu sự tác động, thay đổi của yếu tố tự nhiên, kinh tế - xM hội Quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng là quá trình thực hiện bước chuyển từ hiện trạng cơ cấu cây trồng cũ sang cơ cấu cây trồng mới (Đào Thế Tuấn,1978) [47 ]
Nguyễn Duy Tính (1995) [54] cho rằng, chuyển đổi cơ cấu cây trồng là cải tiến hiện trạng cơ cấu cây trồng có trước sang cơ cấu cây trồng mới nhằm
đáp ứng những yêu cầu của sản xuất Thực chất của chuyển đổi cơ cấu cây trồng là thực hiện hàng loạt các biện pháp (kinh tế, kỹ thuật, chính sách xM
Trang 17hội) nhằm thúc đẩy cơ cấu cây trồng phát triển, đáp ứng những mục tiêu của
xM hội Cải tiến cơ cấu cây trồng là rất quan trọng trong điều kiện mà ở đó kinh tế thị trường có nhiều tác động ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp
Chuyển đổi cơ cấu cây trồng chính là phá vỡ thế độc canh trong trồng trọt nói riêng và trong nông nghiệp nói chung, để hình thành một cơ cấu cây trồng mới phù hợp và có hiệu quả kinh tế cao, dựa vào đặc tính sinh học của từng loại cây trồng và điều kiện cụ thể của từng vùng (Lê Duy Thước, 1997) [37]
Chuyển đổi cơ cấu cây trồng phải được bắt đầu bằng việc phân tích hệ thống canh tác truyền thống Chính từ kết quả đánh giá phân tích đặc điểm của cây trồng tại khu vực nghiên cứu mới tìm ra các hạn chế và lợi thế, so sánh để đề xuất cơ cấu cây trồng hợp lý Khi thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng cần phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Phải căn cứ vào yêu cầu thị trường
- Phải khai thác hiệu quả các tiềm năng về điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xM hội của mỗi vùng
- Bố trí cơ cấu cây trồng phải biết lợi dụng triệt để những đặc tính sinh học của mỗi loại cây trồng, để bố trí cây trồng phù hợp với các điều kiện ngoại cảnh, nhằm giảm tối đa sự phá hoại của dịch bệnh và các điều kiện thiên tai khắc nghiệt gây ra
- Chuyển đổi cơ cấu cây trồng phải tính đến sự phát triển của khoa học kỹ thuật và việc áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp
- Về mặt kinh tế, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng phải đảm bảo có hiệu quả kinh tế, sản xuất ra nhiều sản phẩm hàng hóa có giá trị kinh tế cao
Nghiên cứu cải tiến cơ cấu cây trồng là tìm ra các biện pháp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng nông sản bằng cách áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào hệ thống cây trồng hiện tại hoặc đưa ra những hệ thống cây trồng mới Hướng vào các hợp phần tự nhiên, sinh học, kỹ thuật, lao động, quản lý, thị trường, để phát triển cơ cấu cây trồng trong những điều kiện mới nhằm đem
Trang 18lại hiệu quả kinh tế cao nhất (Lê Minh Toán, 1998) [44]
Nghiên cứu cải tiến cơ cấu cơ cấu cây trồng phải đánh giá thực trạng, xác định cơ cấu cây trồng phù hợp với thực tế phát triển cả về định lượng và
định tính, dự báo được mô hình sản xuất trong tương lai; phải kế thừa những cơ cấu cây trồng truyền thống và xuất phát từ yêu cầu thực tế, hướng tới tương lai để kết hợp các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xM hội (Lê Trọng Cúc và CTV, 1995) [5], (Trương Đích, 1995) [14]
Nghiên cứu cơ cấu cây trồng là một trong những biện pháp kinh tế kỹ thuật nhằm mục đích sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên, nâng cao năng suất cây trồng và chất lượng sản phẩm, (Nguyễn Duy Tính, 1995) [54] 2.1.3 Những yếu tố chi phối sự lựa chọn cơ cấu cây trồng
* Khí hậu và cơ cấu cây trồng: Có thể nói trong các yếu tố ngoại cảnh thì yếu tố khí hậu có tác động mạnh mẽ nhất đến cây trồng và cơ cấu cây trồng, đặc biệt là yếu tố nhiệt độ và độ ẩm
- Nhiệt độ và cơ cấu cây trồng: Từng loại cây trồng, bộ phận của cây (rễ, thân, hoa, lá…), các quá trình sinh lý của cây (quang hợp, hút nước, hút khoáng…) sẽ phát triển tốt ở nhiệt độ thích hợp và chỉ an toàn ở một nhiệt độ nhất định Viện sĩ Nông nghiệp Đào thế Tuấn đM nêu ra: cần phân biệt cây ưa nóng và cây ưa lạnh và cần nắm được tình hình nhiệt độ các tháng trong năm; thời gian nóng bố trí cây ưa nóng, thời gian lạnh bố trí cây ưa lạnh Phân loại cây trồng theo yêu cầu nhiệt độ có thể lấy mốc 20oC để phân biệt cây ưa nóng
và cây ưa lạnh Cây ưa nóng là những cây sinh trưởng tốt và ra hoa, kết quả tốt
ở nhiệt độ trên 20oC như các cây lúa, lạc, mía…, cây ưa lạnh là những cây sinh trưởng tốt và ra hoa, kết quả tốt ở nhiệt độ dưới 20oC như khoai tây, su hào, bắp cải…những cây trung gian là những cây sinh trưởng, ra hoa và kết quả tốt ở nhiệt độ xung quanh 20oC (Lý Nhạc và CTV, 1987) [25]
Để hoàn thành chu kỳ sinh trưởng, mỗi cây trồng cần đạt được tổng tích
ôn nhất định Tổng tích ôn này phụ thuộc vào thời gian sinh trưởng và yêu cầu
Trang 19nhiệt độ cao hay thấp của mỗi cây
- Lượng mưa, ẩm độ không khí và cơ cấu cây trồng: Nước cần cho sự sinh trưởng, phát triển của cây, nước mưa cung cấp phần lớn lượng nước mà cây yêu cầu, đặc biệt là ở những vùng không có hệ thống thuỷ lợi, nước mưa ảnh hưởng
đến các quá trình canh tác như làm đất, thu hoạch Vì vậy, khi xác định cơ cấu cây trồng phải chú ý đến lượng nước mưa (Trần Đức Hạnh, 1997) [16]
Cần nắm được lượng nước cây cần cho một chu kỳ sinh trưởng, đồng thời khả năng cung cấp nước hàng năm và lượng nước cung cấp hàng tháng của mưa để bố trí cơ cấu cây trồng Tuy nhiên để bố trí cơ cấu cây trồng hợp
lý cần nắm được tình hình diễn biến ẩm độ trong năm, vì ẩm độ không khí có
ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển và năng suất cây trồng
- ánh sáng và cơ cấu cây trồng: ánh sáng cung cấp năng lượng cho quá trình tổng hợp chất hữu cơ của cây, ánh sáng là yếu tố biến động ảnh hưởng
đến năng suất Cần phân biệt cây trồng theo yêu cầu về cường độ chiếu sáng
và khả năng cung cấp ánh sáng từng thời gian trong năm để bố trí cơ cấu cây trồng cho phù hợp
Căn cứ vào diễn biến của các yếu tố khí hậu trong năm hoặc trong một thời kỳ, đồng thời căn cứ vào yêu cầu về nhiệt độ, ẩm độ, lượng mưa, ánh áng của từng loại cây trồng để bố trí cơ cấu mùa vụ, cơ cấu cây trồng thích hợp nhằm
né tránh được các điều kiện bất thuận, phát huy được tiềm năng năng suất của cây (Trần Đức Hạnh, 1997) [16]
*Đất đai và cơ cấu cây trồng
Đất đai là nguồn lợi tự nhiên cung cấp năng lượng và vật chất cho cây trồng và con người, đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp Đất và khí hậu hợp thành phức hệ tác động vào cây trồng Do vậy cần phải nắm được đặc điểm mối quan hệ giữa cây trồng với đất thì mới xác định
được cơ cấu cây trồng hợp lý
Về mặt cơ cấu cây trồng người ta đề cập đến tính thích ứng và tính biến
Trang 20động năng suất của cây trồng Các tính thích ứng quyết định khả năng sống của cây trồng đối với các mức (độ mặn, độ chua, ngập nước hay ẩm…) Khi cây đM có đủ điều kiện thích ứng thì năng suất được quyết định bởi chế độ nước và hàm lượng chất dinh dưỡng trong đất
Tuỳ thuộc vào địa hình, thành phần cơ giới, chế độ nước, tính chất lý hoá tính của đất để bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý
* Cây trồng và cơ cấu cây trồng
Giống cây trồng là một nhóm cây trồng có đặc điểm kinh tế, sinh học
và các tính trạng hình thái giống nhau, cho năng suất cao, chất lượng tốt ở các vùng sinh thái khác nhau và điều kiện kỹ thuật phù hợp Vì vậy, giống cây trồng phải mang tính khu vực hoá, tính di truyền đồng nhất và không ngừng thoả mMn nhu cầu của con người (Nguyễn Văn Hiển, 2000) [18]
Cây trồng là thành phần chủ yếu của các hệ sinh thái nông nghiệp Nội dung của việc bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý là chọn loại cây trồng nào để lợi dụng được tốt nhất các điều kiện về khí hậu và đất đai Mặt khác, cây trồng là những nguồn lợi tự nhiên sống, nhiệm vụ của nông nghiệp là phải sử dụng nguồn lợi tự nhiên ấy một cách tốt nhất, nghĩa là giành cho chúng các điều kiện đất đai và khí hậu thích hợp nhất
Muốn bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý chúng ta cần phải nắm vững yêu cầu của các loài và giống cây trồng đối với các điều kiện khí hậu, đất đai và khả năng của chúng sử dụng các điều kiện ấy ( Lý Nhạc, Phùng Đăng Chinh (1987) [25]
* Quần thể sinh vật và cơ cấu cây trồng
Xây dựng cơ cấu cây trồng là xây dựng hệ sinh thái nhân tạo, ngoài thành phần sống chủ yếu là cây trồng, còn có các thành phần khác như cỏ dại, sâu, bệnh, các vi sinh vật, các động vật… các thành phần sống này cùng với cây trồng tạo nên một quần thể sinh vật, chúng chi phối sự sinh trưởng, phát triển của cây trồng
Theo các tác giả Lý Nhạc, Phùng Đăng Chinh (1987) [25] thì khi bố trí cơ
Trang 21cấu cây trồng cần chú ý đến các mối quan hệ theo nguyên tắc:
- Lợi dụng mối quan hệ tốt giữa các sinh vật với cây trồng
- Khắc phục, phòng tránh hoặc tiêu diệt mầm mống tác hại đối với cây trồng do các vi sinh vật gây nên
Trong quần thể cây trồng, quần thể chủ đạo của cơ cấu cây trồng có những đặc điểm chủ yếu sau:
- Mật độ của quần thể do con người quy định trước từ lúc gieo trồng
- Sự sinh sản, tử vong và phát tán không xảy ra một cách tự phát mà chịu sự điều khiển của con người
- Sự phân bố không gian tương đối đồng đều vì do con người điều khiển
- Độ tuổi của quần thể cũng đồng đều vì có sự tác động của con người Trong cơ cấu cây trồng cũng xảy ra sự cạnh tranh cùng loài hoặc khác loài Khi gieo trồng một loại cây trồng thì vấn đề cạnh tranh cùng loài rất quan trọng Cần xác định mật độ gieo trồng và các biện pháp điều chỉnh quần thể để giảm sự cạnh tranh trong loài Sự cạnh tranh khác loài cũng xảy ra khi
ta trồng xen hoặc giữa cây trồng với cỏ dại Vì vậy khi xác định cơ cấu cây trồng cần chú ý các vấn đề sau:
- Xác định thành phần cây trồng và giống cây trồng thích hợp với điều kiện cụ thể của cơ sở sản xuất
- Bố trí cây trồng theo thời vụ tốt cũng tránh tác hại của cỏ dại, sâu, bệnh, Dịch sâu bệnh hại phát triển theo lứa và theo mùa, tác hại của chúng xảy ra nghiêm trọng trong thời kỳ sinh trưởng, phát triển nhất định của cây trồng Do vậy xác định thời vụ tốt cũng có khả năng né tránh được tác hại của sâu bệnh
* Hiệu quả kinh tế của cơ cấu cây trồng
Sau khi xác định cơ cấu cây trồng cần tính toán hiệu quả kinh tế Cơ cấu cây trồng mới cần phải đạt hiệu quả kinh tế cao hơn cơ cấu cây trồng cũ
Để đạt hiệu quả kinh tế cao thì các loại cây trồng trong cơ cấu cây trồng đều phải đạt năng suất cao
Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp là phải sản xuất đa dạng, ngoài cây
Trang 22trồng chủ yếu, cần bố trí cây trồng bổ sung để tận dụng điều kiện tự nhiên, xM hội của vùng và của cơ sở sản xuất Về mặt kinh tế cơ cấu cây trồng cần phải
đạt được các yêu cầu sau đây:
- Bảo đảm yêu cầu chuyên canh và tỷ lệ sản phẩm hàng hoá cao
- Đảm bảo việc hỗ trợ cho ngành sản xuất chính và phát triển chăn nuôi, tận dụng các nguồn lợi tự nhiên
- Đảm bảo việc đầu tư lao động và vật tư kỹ thuật có hiệu quả kinh tế cao
- Đảm bảo giá trị sử dụng và giá trị cao hơn cơ cấu cây trồng cũ
Việc đánh giá hiệu quả kinh tế của cơ cấu cây trồng có thể dựa vào một
số chỉ tiêu năng suất, giá thành, thu nhập (giá trị bán sản phẩm sau khi đM trừ
đi chi phí đầu tư) và mức lMi (% của thu nhập so với đầu tư) Khi đánh giá trị kinh tế của cơ cấu cây trồng cần dựa vào năng suất bình quân của cây trồng và giá cả thu mua của thị trường Tuy nhiên, cũng cần chú ý đến những điều kiện
ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm như khí hậu, thời tiết, vị trí địa lý và các
điều kiện xM hội khác (Lý Nhạc, Phùng Đăng Chinh, 1987) [25]
* Nông hộ và cơ cấu cây trồng
Theo Viện sĩ Đào Thế Tuấn (1997) [52] nông hộ là đơn vị kinh tế tự chủ và đM góp phần to lớn vào sự phát triển sản xuất nông nghiệp của nước ta trong những năm qua Tất cả những hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp ở nông thôn chủ yếu được thực hiện thông qua nông hộ Do vậy, quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng thực chất là sự cải tiến sản xuất nông nghiệp
ở các hộ nông dân Do đó nông dân là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khoa học nông nghiệp và phát triển nông thôn
Kinh tế nông hộ là kinh tế của hộ nông nghiệp sống ở nông thôn, bao gồm cả thu nhập từ hoạt động sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp Hộ nông dân là các hộ gia đình có tư liệu sản xuất chủ yếu là ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông nghiệp, nằm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia hoạt động trong thị trường với một trình độ ít hoàn chỉnh Hộ nông dân có
Trang 23những đặc điểm cơ bản sau:
- Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất, vừa là một đơn vị tiêu dùng
- Quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất biểu hiện ở trình độ phát triển của
hộ từ tự cấp hoàn toàn đến sản xuất hàng hoá hoàn toàn Trình độ này quyết
định đến quan hệ giữa nông hộ với thị trường
- Các hộ nông dân ngoài hoạt động nông nghiệp còn tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp với mức độ khác nhau, nên khó giới hạn được thế nào là một hộ nông dân thuần tuý Vì vậy, hộ nông dân tái sản xuất giản đơn nhờ vào ruộng đất thông qua cải tiến cơ cấu cây trồng, nhờ đó mà tái sản xuất
mở rộng trong nông nghiệp, phục vụ lợi ích chung của xM hội nên cần thiết phải có chính sách xM hội đầu tư thích hợp Hộ nông dân không phải là một hình thái sản xuất đồng nhất mà là tập hợp các kiểu nông hộ khác nhau, có mục đích và cơ chế hạt động khác nhau Căn cứ vào mục đích và cơ chế hoạt
động của nông hộ để phân biệt các kiểu hộ nông dân khác nhau
- Kiểu nông hộ hoàn toàn tự cấp: ở kiểu hộ này, người nông dân ít có phản ứng với thị trường, nhất là thị trường lao động và vật tư
- Kiểu nông hộ chủ yếu tự cấp, có trao đổi một phần nông sản lấy hàng tiêu dùng, có phản ứng ít nhiều với giá cả (chủ yếu giá vật tư)
- Kiểu nông hộ bán phần lớn sản phẩm nông sản, có phản ứng nhiều với thị trường
- Kiểu nông hộ hoàn toàn sản xuất hàng hoá, có mục đích thu lợi nhuận
Mục tiêu sản xuất của các hộ quyết định sự lựa chọn sản phẩm kinh doanh, cơ cấu cây trồng, quyết định mức đầu tư, phản ứng với giá cả vật tư, lao động và sản phẩm của thị trường
Cũng theo Viện sĩ Đào Thế Tuấn, quá trình phát triển của các hộ nông
Trang 24dân trải qua các giai đoạn từ thu nhập thấp đến thu nhập cao
- Giai đoạn nông nghiệp tự cấp: Nông dân trồng một cây hay một vài cây lương thực chủ yếu, ít đầu tư thâm canh, năng suất thấp, gặp nhiều rủi ro
- Giai đoạn kinh doanh tổng hợp và đa dạng: Khi mới chuyển sang sản xuất hàng hoá, nông dân bắt đầu sản xuất những loại cây trồng phục vụ cho nhu cầu của thị trường, thị trường cần loại nông sản gì thì sản xuất cây trồng
đó; sản xuất đa canh nên giảm bớt rủi ro
Tóm lại, hộ nông dân chuyển từ sản xuất nông nghiệp tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hoá gắn với thị trường tiêu thụ ở các mức độ khác nhau thuỳ thuộc vào trình độ, điều kiện kinh tế - xM hội và các chính sách của nhà nhà nước hỗ trợ, thúc đẩy nông nghiệp phát triển Trong sản xuất nông nghiệp hiện nay, để áp dụng thành công một tiến bộ kỹ thuật mới hay một phương thức canh tác mới… vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất, chất lượng nông sản và giá trị thu nhập/đơn vị diện tích canh tác thì cần phải có chính sách đầu tư, hỗ trợ, trợ giá của nhà nước
* Chính sách và cơ cấu cây trồng
Để thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng một các có căn cứ khoa học, phù hợp với nhu cầu của thực tiễn và xu thế phát triển của xM hội cần có chính sách về khoa học - công nghệ để thông qua nghiên cứu, nhằm thiết lập ngay trên đồng ruộng của người nông dân những mô hình chuyển
đổi cơ cấu cây trồng có hiệu quả; đồng thời chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật cho nông dân nhằm nhân rộng mô hình Bên cạnh đó cũng cần có những cơ chế chính sách về tài chính để hỗ trợ cho người nông khi mới bắt đầu thực hiện việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng cũng như chính sách khen thưởng để khuyến khích những hộ, địa phương chuyển đổi cơ cấu cây trồng thành công,
có hiệu quả
Quá trình phát triển kinh tế sẽ dẫn đến mức độ phân hoá giàu nghèo ngày cành mạnh, có sự chênh lệch về thu nhập giữa nông thôn và thành thị, để
Trang 25hạn chế tình trạng này cần thiết phải phát triển công nghiệp nông thôn, thâm canh, tăng vụ để sản xuất hàng hoá Đa dạng cây trồng để đa dạng hoá các sản phẩm nông nghiệp là quá trình chủ yếu để cải tiến cơ cấu cây trồng nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường nông sản ngày càng tăng
Quá trình đa dạng hoá cây trồng là do sự phát triển của kinh tế hộ quyết
định và còn tuỳ thuộc vào từng vùng, nhưng vấn đề khó khăn về vốn đầu tư cho sản xuất là yếu tố quyết định cơ bản Các hộ nghèo kinh doanh rất đa dạng, chỉ khi họ giàu lên mới tập trung vào một số ngành nghề nhất định Như vậy, chuyên môn hoá chỉ có thể xảy ra khi trình độ sản xuất hàng hoá đM phát triển đến mức cao (Đào Thế Tuấn, 1997) [52]
Một khó khăn khác làm cho nông dân ngần ngại không dám đầu tư vào sản xuất và chuyển đổi cơ cấu cây trồng là thiếu thị trường tiêu thụ nông sản
Do đó, để tìm kiếm, mở rộng thị trường, nhà nước cần có chính sách để tạo môi trường lành mạnh, sòng phẳng trong phát triển thị trường và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như đường giao thông, mạng lưới điện và thông tin…
Sự phân hoá của nông hộ và trình độ sản xuất chênh lệch của các kiểu nông hộ ảnh hưởng rất lớn đến cải tiến cơ cấu cây trồng Các kiểu nông hộ khác nhau có trình độ tiếp thu và áp dụng các tiến bộ kỹ thuật ở mức độ khác nhau Trình độ là yếu tố quan trọng trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng của các nông hộ trong giai đoạn đầu của sản xuất nông nghiệp hàng hoá, khi
kỹ thuật áp dụng chưa phải cần nhiều vốn thì việc đa dạng hoá sản xuất là một
xu thế cần thiết cho sự phát triển
* Thị trường và cơ cấu cây trồng
Theo Robert S Pindyck, Daniel L Rubingeld (Kinh tế học vĩ mô, NXB Thống kê, Hà Nội, 1999) (dẫn Hồ Gấm, 2003) [15] thì thị trường là tập hợp những người mua và người bán tác động qua lại lẫn nhau dẫn đến khả năng trao đổi Thị trường là trung tâm của các hoạt động kinh tế
Thị trường cạnh tranh hoàn hảo là thị trường có nhiều người mua và
Trang 26người bán, không có một cá nhân nào có ảnh hưởng đáng kể đến người mua
và người bán Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo thường phổ biến một giá duy nhất là giá thị trường Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo là những người bán khác nhau có thể đặt giá khác nhau cho cùng một loại sản phẩm, khi đó giá thị trường được hiểu là giá bình quân phổ biến
Thị trường là động lực thúc đẩy cải tiến cơ cấu cây trồng hợp lý Theo cơ chế thị trường thì cơ cấu cây trồng phải làm rõ được các vấn đề: trồng cây gì, đối tượng phục vụ là ai Thông qua sự vận động của giá cả thị trường có tác động
định hướng cho người sản xuất nên trồng cây gì, với số lượng chi phí như thế nào
để đáp ứng được nhu cầu của xM hội và thu được kết quả cao Thông qua thị trường, người sản xuất điều chỉnh quy mô sản xuất, cải tiến cơ cấu cây trồng, thay đổi giống cây trồng, cơ cấu mùa vụ cho phù hợp với thị trường
Thị trường có tác dụng điều chỉnh cơ cấu cây trồng, chuyển dịch theo hướng ngày càng đạt hiệu quả cao hơn Cải tiến cơ cấu cây trồng chính là điều kiện, là yêu cầu để mở rộng thị trường Khu vực nông thôn là thị trường cung cấp nông sản hàng hoá cho toàn xM hội và là thị trường tiêu thụ sản phẩm của ngành công nghiệp, cung cấp nông sản cho ngành dịch vụ và đó cũng là nơi cung cấp lao động cho các ngành nghề trong nền kinh tế quốc dân Do vậy, thị trường và sự cải tiến cơ cấu cây trồng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Thị trường là động lực thúc đẩy cải tiến cơ cấu cây trồng, song nó có mặt hạn chế
là nếu để cho phát triển một cách tự phát sẽ dẫn đến sự mất cân đối ở một giai
đoạn, một thời điểm nào đó Chính vì vậy cần có những chính sách của nhà nước điều tiết kinh tế vĩ mô để phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của thị trường
Kinh tế hàng hoá là một hình thức tổ chức kinh tế trong đó sản phẩm sản xuất ra dùng để mua bán, trao đổi trên thị trường, giá trị của sản phẩm hàng hoá phải thông qua thị trường và được thị trường chấp nhận (dẫn theo Hồ Gấm, 2003) [15]
Trang 272.2 Tổng quan về biện pháp chống hạn đối với sản xuất nông nghiệp
Để đánh giá tác động của hạn hán đối với năng suất cây trồng, William
và Robertson đM đưa ra phương pháp dự báo năng suất một số cây trồng cạn như ngô, khoai tây, lúa mì ở Canada theo phương trình bậc 2 có dạng chung như sau: Y = Co + C1X + C2X2
Bảng 2.1 Kết quả đánh giá tình trạng khô hạn ở các khu vực
lý, sinh hóa, hình thái và giải phẫu của cây, dẫn đến làm giảm năng suất Trong thời kỳ sinh trưởng, cây đậu tương chỉ cần 300- 350 mm nước, độ ẩm thích hợp nhất đối với cây đậu tương nằm trong khoảng 75-90% độ ẩm giới hạn đồng
Trang 28ruộng Nếu độ ẩm nhỏ hơn 75% sẽ kìm hMm sự sinh trưởng của cây, tuy nhiên mức độ kìm hMm thay đổi tùy điều kiện nhiệt độ và giai đoạn sinh trưởng Trong thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng nếu thiếu nước sẽ dấn đến lượng CO2 hấp thụ trên 1 đơn vị diện tích lá giảm và diện tích quang hợp giảm do sự phát triển của lá kém, lá chóng tàn (Alberler, 1975 – 1977) [38]
Thiếu nước vào thời kỳ ra hoa làm giảm tỷ lệ đậu quả, hạn vào thời kỳ quả làm giảm năng suất đậu tương lớn nhất Vào thời kỳ cao điểm lượng nước cần dùng là 7,6 mm/ngày, hệ số sử dụng nước từ 1500-3500m3 cho việc hình thành một tấn hạt Tổng lượng nước cần cho cả vụ biến động 3000-3500m3/ha Nhu cấu nước trong 1 vụ của cây đậu tương khoảng 450 – 750 mm Nhu cầu cao nhất là 7,5 mm/ngày trong giai đoạn sinh trưởng mạnh, nở hoa và hình thành quả Cây nhạy cảm với úng ngập và hạn hán Hạn hán trong giai đoạn
nở hoa - phát triển quả làm quả rụng nhiều [24]
Năng suất đậu tương bị ảnh hưởng nghiêm trọng do sự căng thẳng về độ
ẩm đất trong giai đoạn làm hạt và có thể giảm năng suất hạt 20 – 50 % (Samui)[30] Trong thời kỳ sinh trưởng sinh thực, cây rất nhạy cảm với những bất lợi về nước, phần lớn sự biến đổi về năng suất là do sự biến động về lượng nước cho cây trong thời kỳ ra hoa, đậu quả (Thomson, 1970)[38]
ở Việt Nam, vấn đề xác định cân bằng nước và nhu cầu tưới của cây trồng cạn cũng đM được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Theo Hà Học Ngô (1977), suốt thời gian sinh trưởng cây ngô yêu cầu độ ẩm đất trong khoảng 70% - 85% Ngoài giới hạn độ ẩm đất này sẽ làm giảm năng suất từ 9% - 32%, nhất là thiếu ẩm vào thời kỳ 13 - 14 lá Theo Ngô Đức Thiệu (1978) đối với ngô thời kỳ từ 7 - 8 lá đến thu hoạch độ ẩm đất cần duy trì từ 70% - 80%
độ ẩm tối đa đồng ruộng là thích hợp cho ngô sinh trưởng, phát triển [4]
Tuy là một cây trồng cạn song nước là nhu cầu quan trọng và là yếu tố hạn chế đến sản xuất đậu tương Muốn tạo ra một gam chất khô cây đậu tương cần 400-600g nước trong khi lúa cần 500-600, bông cần 465 gam, ngô cần
394 gam (Phạm Văn Thiều, 1996)[38]
Trang 29Sử dụng chất giữ ẩm chống hạn là một tiến bộ kỹ thuật thuỷ lợi được ứng dụng ở nhiều nước trên thế giới đối với các cây trồng ngắn ngày hoặc dài ngày như cây lương thực, cây ăn quả và cây công nghiệp Hiệu quả của biện pháp đM được khẳng định ở Mỹ, Canada, Trung Quốc, Israel với việc làm tăng năng suất cây trồng ở những vùng đất hạn, thiếu nguồn nước tưới, không đủ chi phí đầu tư xây dựng hệ thống thuỷ lợi Chất giữ ẩm chống hạn có thể sử dụng với nhiều phương pháp khác nhau như trộn vào hạt giống, trộn với phân bón, bón cạnh gốc cây hay phun lên lá [12] Tương tự biện pháp sử dụng chất giữ ẩm, biện pháp che phủ đất để làm giảm bốc hơi nước đM được áp dụng rộng rMi trong sản xuất nông nghiệp ở nhiều khu vực trên thế giới cho nhiều loại cây trồng khác nhau như: Ngô, đậu tương, lạc, cây ăn quả
Bảng 2.2 ảnh hưởng của chất giữ ẩm đối với độ ẩm đất và năng suất lạc
Bón đều vào đất Bón cùng hạt giống Chỉ tiêu theo dõi Đối chứng
MA 500 B MA 500 MA 500B MA 500
1 Chiều cao cây (cm) 32,50 37,50 41,80 38,30 33,30
3 Năng suất hạt (g/chậu) 4,1 ± 0,4 6,1 ± 0,1 6,5 ± 0,6 4,7 ± 0,3 5,1 ± 0,5
4 Độ ẩm đất sau trồng 20 ngày (%) 6,55 6,50 7,38 6,70 7,50
5 Độ ẩm đất sau trồng 50 ngày (%) 5,32 5,88 6,05 5,88 5,46
Theo Barros (1987), năng suất chất khô của ngô và đậu ở đất được che phủ cao hơn ở đất không được che phủ mặc dù bốc thoát hơi nước là gần như nhau [dẫn theo 26]
Theo kết quả nghiên cứu của các tác giả Đoàn Văn Điếm và Lê Minh (1999), sử dụng chất giữ ẩm MA500 (Mỹ) và MA500 B (Trung Quốc) có ảnh hưởng rất nhiều tới độ ẩm đất Độ ẩm đất biến đổi theo chiều hướng có lợi cho
sự sinh trưởng, phát triển và làm tăng năng suất của lạc Sen lai 75/23 [12]
ảnh hưởng của chất giữ ẩm chống hạn đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của lạc Sen lai 75/23 như ở bảng 2.2
Trang 30Tại Sơn La năm 2003, trên nương được che phủ nilon năng suất ngô tăng 8.8 tấn/ha/vụ Lúa nương che phủ nilon năng suất cũng đạt 1.92 tạ/ha, tăng 100% so với không che phủ [dẫn theo 26]
Hiện nay, việc tạo lớp phủ thực vật và trồng xen các loài họ đậu vào các nương ngô, nương sắn, vườn cây ăn quả cũng đM được áp dụng rộng rMi trong sản xuất, đem lại nhiều kết quả trong việc cải tạo đất, chống sói mòn và tăng năng suất cây trồng Theo kết quả nghiên cúu của các tác giả Trần Thị Ân, Đoàn Thị Thanh Nhàn, Lê Hữu Cần (2000 - 2002), về tác dụng của việc che phủ nilon
đối với lạc L14 cho thấy sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của lạc L14 tăng lên rõ rệt so với đối chứng không phủ nilon [2] Kết quả của biện pháp che phủ nilon với sinh trưởng và năng suất lạc trình bày ở bảng 2.3 Qua bảng
ta thấy, trong điều kiện che phủ nilon, thời gian sinh trưởng của giống lạc L14
ở các thời vụ đM rút ngắn 7 - 9 ngày, năng suất trung bình đạt 39.88 tạ/ha, tăng 26.7% so với không che phủ nilon
Bảng 2.3 Tác dụng che phủ nilon đối với sinh trưởng và năng suất lạc
Đoàn Văn Điếm, Nguyễn Hữu Tề và cộng sự (1992, 1995) đều cho rằng
vụ đông là vụ khô hạn nhất trong năm, biện pháp tủ gốc cho đậu tương AK - 05, trồng xen cây phủ đất cho ngô đM mang lại hiệu quả tương đương với tưới nước 2 lần cho cây Trồng xen khoai lang làm cây che phủ đất cho ngô có tác dụng giữ
độ ẩm trong mùa khô, năng suất ngô tăng 1.7 tạ/ha [11]
Trang 312.3 Phương pháp phân tích hiệu quả sản xuất nông nghiệp
2.3.1 Phân tích hiệu quả kinh tế
2.3.1.1 Một số quy luật kinh tế cơ bản
- Hiệu quả kinh tế là thước đo hiệu quả sử dụng các nguồn lực khan hiếm (đầu vào) không tính đến các nguồn lực vô hạn (năng lương mặt trời, khí quyển )
- Các hệ thống nông nghiệp tồn tại và phát triển dưới sự chi phối của các quy luật kinh tế
* Một số quy luật kinh tế quan trọng:
(1) Quy luật cung - cầu:
- Hiệu quả sinh học không bị ảnh hưởng bởi quy luật cung - cầu, bởi hoạt động khoa học nông nghiệp không quan tâm đến liệu người ta có thích sản phẩm tạo ra hay không hoặc có ai mua nó hay không?
- Hiệu quả kinh tế thì bị khống chế bởi quy luật cung- cầu, nếu sản phẩm tạo ra không có người mua thì không có thu nhập và nông nghiệp phải ngừng trệ Tiêu thụ sản phẩm là mối quan tâm hàng đầu của kinh tế nông nghiệp
- Nhu cầu không phản ánh một cách đơn giản sự cần thiết mà nó phản
ánh cái mà người tiêu thụ muốn và cái mà anh ta có thể mua
Sự lựa chọn của khách hàng đM dẫn đến sự cạnh tranh của các nhà sản xuất Các nhà sản xuất đM có sự đầu tư lớn để nâng cao chất lượng sản phẩm
và hạ giá thành Nhiều nhà sản xuất cũng làm như vậy do đó xuất hiện dư thừa
và giá phải hạ xuống Nhà sản xuất thấy nguy cơ thua lỗ nên ngừng sản xuất,
điều đó lại dẫn đến sự thiếu hụt Dư thừa và thiếu hụt đM trở thành chu kỳ của một nền kinh tế thị trường [39]
Khó có thể đoán trước được nhu cầu kinh tế đối với một loại sản phẩm nào đó vì nó còn phụ thuộc vào các sản phẩm khác
- Nếu cầu lớn hơn cung: dẫn tới khan hiếm hàng hoá, giá cả tăng vọt, gây thiệt hại cho người tiêu dùng
Trang 32-Nếu cung lớn hơn cầu: dẫn tới khủng hoảng thừa, sản phẩm rớt giá, ứ
đọng, không bán được, cũng gây thiệt hại cho người sản xuất
Ngoài ra giá cả còn phụ thuộc vào thời tiết (được mùa hay mất mùa)
Do đó quan điểm của chúng ta là:
+ Giá cả của sản phẩm thay thế
- Các yếu tố ảnh hưởng tới cung:
+ Sự cạnh tranh cung cấp sản phẩm,
+ Giá sản phẩm
+ Tính mùa vụ của các nông sản,
+ Tính rủi ro cao trong năng suất nông nghiệp (dịch bệnh, thiên tai ) Luật về cầu:
- Cầu cá nhân: Luật về cầu cho biết các mức độ mua của người nào đó tại một thời điểm nhất định Khi tất cả những cái khác đều như nhau thì các lượng cầu về một sản phẩm trên thị trường giảm dần khi giá tăng Nói cách khác lượng cầu và giá biến đổi ngược chiều nhau
- Cầu của thị trường: Cầu của thị trường là biểu hiện cầu của toàn thể những người mua có mặt trên thị trường Cầu thị trường xác định mối liên hệ giữa số lượng đòi hỏi theo giá cả, trong khi những thứ khác đều như nhau
Sự giảm giá của sản phẩm dẫn đến kết quả là làm tăng lượng cầu của mỗi cá nhân trong số những người tiêu thụ, nhưng ngoài ra sự giảm này cho
Trang 33phép tất cả những người trước đây đM không tiêu thụ sản phẩm do vấn đề giá cả thì nay tham gia được vào thị trường (và ngược lại) [39]
Luật về cung:
- Cung cá nhân: Luật về cung chỉ ra vào một thời điểm nhất định những lượng bán sẵn có của một ai đó Khi tất cả những thứ khác là như nhau thì số lượng cung một sản phẩm trên thị trường sẽ tăng khi giá tăng Nói một cách khác, các lượng cung và giá thay đổi cùng chiều
- Cung của thị trường: Cung của thị trường là tổng cung của cá nhân tham gia vào thị trường Như vậy cung của thị trường thiết lập mối liên hệ giữa
số lượng cung theo giá trong khi tất cả những thứ khác là không thay đổi
Khi mà giá của một sản phẩm tăng, lượng cung của mỗi người sản xuất trên thị trường có xu hướng tăng Nhưng ngoài lượng cung về tổng thể tăng do những người sản xuất mới ước tính khả năng sản xuất trong các điều kiện mới của thị trường (và ngược lại) [39]
(2) Quy luật hiệu quả giảm dần:
Năng suất cây trồng tăng theo tỷ lệ thuận với mức đầu tư sản xuất ở giai
đoạn đầu đến một lúc nào đó thì mức đầu tư tăng lên nhưng năng suất cây trồng không tăng nữa mà thậm chí có thể giảm đi
Các nhà sinh học và các nhà kỹ thuật có thể xác định được mức đầu tư
để đạt được năng suất cây trồng tối đa thông qua các thí nghiệm đồng ruông Vượt qua mức đó sẽ không còn phù hợp với sức sản xuất của cây trồng
Các nhà kinh tế thông qua việc sử dụng các tính toán sẽ xác định được mức đầu tư có hiệu quả kinh tế nhất
- Quy luật hiệu quả giảm dần là cơ sở để xác định mức đầu tư có hiệu quả nhất đối với một đầu vào nào đó (phân bón, thuốc trừ sâu, tưới nước ) có
ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất vì:
+ Năng suất của cây trồng, vật nuôi và nguồn lực của nông hộ là có giới hạn + Nông hộ có nhiều hoạt động sản xuất, nhưng nguồn lực hạn chế + Quy luật này chỉ đúng với các yếu tố hạn chế năng suất
Trang 342.3.1.2 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế
(1) Chi phí sản xuất:
Chi phí sản xuất thể hiện hoặc bằng hiện vật hoặc bằng tiền, số lượng các yếu tố sản xuất được đưa vào một hay nhiều quá trình sản xuất Trong thực tiễn của một cơ sở sản xuất nông nghiệp, ta có thể phân biệt các khái niệm về chi phí tổng số, chi phí cho một đơn vị sản phẩm, chi phí biên và chi phí cơ hội
Chi phí tổng số:
Chi phí tổng số bao gồm toàn bộ chi phí tự có của cơ sở sản xuất (phần không phải trả tiền) và toàn bộ các phần chi phí khác (phần phải trả tiền) để có thể tạo ra một lượng sản phẩm liên quan với thời kỳ một năm Nó bao gồm các phần sau: Lương, phần phát canh, phân bón, thức ăn gia súc, giống, lMi suất vay, khấu hao và các chi phí chung
- Lương bao gồm:
+ Số tiền thực tế trả cho các loại công nhân, thường xuyên hoặc thời vụ, lao
động thuê theo ngày hay theo công việc, thù lao trợ cấp, làm cho cơ sở sản xuất
+ Các phần trả bằng hiện vật như thức ăn, chỗ ở, thuê nhà hay thuê đất
ở miễn phí cho những người làm đó
+ Phần chủ sản xuất phải đóng cho cơ quan bảo hiểm xM hội để cho các công nhân của họ được hưởng các lợi ích xM hội hợp pháp Mọi yếu tố đó thể hiện tiền lương phải trả
+ Thêm vào đó là lương không phải trả được ước tính theo chi phí cơ hội, chính là số thù lao mà lẽ ra chủ sản xuất và các thành viên trong gia đình nhận được khi họ tham gia một việc có thù lao hợp với năng lực của họ, nhưng
họ lại không nhận mà gán vào cơ sở sản xuất
- Phần chi phí phát canh là phần chi trả của đất : nó bao gồm:
+ Các chi trả cho chủ đất về phần đất phát canh này
Trang 35+ Giá trị của các sản phẩm nông nghiệp nộp cho chủ đất theo phần đất phát canh này (phát canh theo sản phẩm)
+ Các chi trả khác (tính đến tài sản cố định, thuế trả cho đất lấn biển hay cung cấp nước ) để cho có thể sử dụng đất vào mục tiêu nông nghiệp Các yếu tố trên đây chính là phần phát canh phải trả tiền
Thêm vào đó là phần chi phí phát canh do chính chủ đất khai thác chính phần đất của họ, vì khi khai thác đất cho cá nhân mình, chủ sản xuất đM không nhận tiền phát canh như nếu cho người khác thuê: đó chính là phần chi phí phát canh không phải trả tiền
- Các chi phí về phân bón: Bao gồm số tiền thực tế dùng mua phân vô cơ trong một năm bón cho phần đất đai của cơ sở sản xuất đó Nói chung ở
đây đM không tính đến các tác động tồn dư phân do khó ước tính
Phần phân bón do cơ sở sản xuất tự có (phân chuồng,…) là một sản phẩm phụ của chăn nuôi và thực tế, đó là sản phẩm trung gian mà chi phí của
nó đM được đề cập đến rồi: chi phí phát canh, lương, thức ăn gia súc…; như vậy những cái đó không nằm trong tổng chi phí sản xuất
- Thức ăn gia súc có hai nguồn chính: Một phần là thức ăn tự sản xuất tại cơ sở và một phần khác là thức ăn mua của thương trường hay mua của những nông dân khác
Những loại thức ăn tự sản xuất được chủ yếu là các sản phẩm trung gian
được chế biến thành sản phẩm cuối cùng và không nằm trong tổng chi phí sản xuất vì đM tính đến trong phần chi phí phát canh, lương, phân bón… chỉ có phần thức ăn phải mua là tính vào tổng chi phí sản xuất
- Cây giống và hạt giống: Là phần chi thực tế để mua các cây và hạt giống tại cơ sở thương mại
Đối với các cây và hạt giống để lại từ vụ trước thì khác Nếu như việc gieo hạt được tiến hành trong cùng năm sản xuất ra (lúa vụ thu đông), thì ta coi chúng nằm trong tổng chi phí sản xuất, với điều kiện là coi chúng như một
Trang 36sản phẩm trung gian, thì đương nhiên sẽ không tính vào năng suất thô mà cùng không tính vào chi phí sản xuất
Nếu việc gieo hạt diễn ra vào năm sau (lúa xuân), thì chúng phải được tính vào tổng chi phí sản xuất, với danh nghĩa không có thu Nhưng tất nhiên chúng được tính vào năng suất thô của năng trước đó
- Các chi trả lMi suất: Trước hết là bao gồm số tiền trả cho người cho vay hay các tổ chức tín dụng theo phần chi trả cho vốn vay (lMi suất phải trả)
Ngoài ra nó cũng gồm cả phần lMi suất vốn mà cơ sở sản xuất tự có đầu tư vào trong quá trình sản xuất Phần vốn này lẽ ra nếu như cơ sở sản xuất không sử dụng thì sẽ được gửi vào đâu đó và được hưởng một phần lMi suất nhất định (phần lMi suất không phải trả)
- Các phần khấu hao: là phần giá trị của vốn bị mất đi thực tế trong quá trình sản xuất Phần lớn vốn chỉ có thể dùng trong một số lượng nhất định các khâu hoạt động sản xuất: như vậy, bình thường là nó đM được khấu trừ vào một trong các hoạt động này một phần của giá trị vốn để khấu hao như là máy móc, cải tạo đất đai, nhà xưởng công cụ…
Việc ước tính khấu hao là rất mệt vì rất khó dự kiến chính xác số khâu sản xuất ngay từ khi mới bắt tay vào sử dụng nguồn vốn này Ngoài ra cũng khó mà dự kiến được nhịp độ khấu hao vốn Cuối cùng, sự tiến hoá nhanh của
kỹ thuật và sự lên giá liên tục khiến cho việc tính toán khấu hao dựa trên giá của những cái đM có không đủ để mua lại được vật liệu mới hay máy móc mới
- Các chi phí chung bao gồm toàn bộ chi phí mà chúng ta chưa tính vào những chi phí trên Chúng bao gồm một nhóm các chi phí còn lại rất đa dạng
về bản chất gộp lại ví dụ như: chi phí điện thoại, bảo hiểm, duy trì bảo dưỡng
và sửa chữa máy móc, điện, chi phí chăm sóc chữa bệnh chi gia súc [40]
Chi phí cho một đơn vị sản phẩm:
Chi phí cho một đơn vị sản phẩm là phần chi phí tính cho một sản phẩm thực tế của mỗi hoạt động sản xuất Việc ước tính chỉ tiêu này trước hết là lấy
Trang 37các thành phần của tổng chi phí chia cho các sản phẩm khác nhau Như vậy ta
sẽ có được tổng chi phí cho từng loại sản phẩm nhau Từ tổng chi phí này, nếu
có, ta khấu trừ giá trị của các sản phẩm phụ (như rơm, thân lá cây họ đậu, phân chuồng )là phần được dùng cho các hoạt động sản xuất khác, và lại thêm vào giá trị các sản phẩm phụ nhận được từ các sản phẩm này Như vậy tổng chi phí thu được sẽ chia cho số lượng sản phẩm của hoạt động sản xuất này: thương số đó chính là chi phí cho một đơn vị sản phẩm [40]
Chi phí biên và chi phí cơ hội:
Chi phí biên là phần tăng lên của chi phí tổng khi ta sản xuất tăng thêm một đơn vị sản phẩm nông nghiệp nào đó Nhưng thực tế khái niệm này là rất khó áp dụng trong cơ sở sản xuất nông nghiệp Theo lý thuyết kinh tế một lượng sản phẩm bổ xung trong một thời kỳ ngắn cần phải có một lượng lớn các yếu tố biến (các yếu tố sản xuất) Nhưng chủ nông trại không có khả năng biết được chi phí biên bằng cách thay đổi số lượng các yếu tố biến: thực tế anh
ta tiến hành một loại sản xuất với một lượng yếu tố biên nhất định mà dĩ nhiên anh ta hy vọng nó càng gần càng tốt với số lượng hàm tối đa lợi nhuận
Mặt khác chủ nông trại có thể thu được một số lượng sản phẩm bổ xung nào đấy trong một điều kiện kỹ thuật nhất định, bằng cách chịu bỏ một phần tiền từ một hoạt động sản xuất khác Ví dụ khi anh ta nuôi 20 con bò, anh ta
có thể nuôi thêm 1 con nữa với điều kiện dành ra một phần diện tích mà lẽ ra anh ta trồng ngô như vậy chi phí thêm cho một con bò thực tế là tương
đương với phần thu nhập bị mất đi khi chủ trang trại dành phần đó để nuôi bò
mà không được dùng vào hoạt động sản xuất khác: đó gọi là chi phí cơ hội Chi phí cơ hội chính là phần thu nhập mất đi do thực hiện một hoạt động sản xuất khác
(2) Lợi nhuận, thu nhập và giá trị gia tăng
Lợi nhuận:
Lợi nhuận chính là phần chênh lệch giữa năng suất thô và chi phí sản
Trang 38xuất Nó được thể hiện như sau:
Nếu năng suất thô nhỏ hơn chi phí sản xuất, công thức (1) sẽ trở thành
âm và có nghĩa là sản xuất bị lỗ vốn
Do chi phí gồm các yếu tố phải trả tiền và các yếu tố không phải trả tiền:
Thu nhập: là những cái còn lại cho chủ sản xuất từ năng suất thô sau khi
đM trừ đi toàn bộ các chi phí sản xuất Như vậy ta có: rút công thức (2) thay vào công thức (3) ta có:
Từ công thức (1) ta viết lại công thức (4):
Giá trị gia tăng:
Hoạt động sản xuất của một cơ sở tốt nhất là được tính theo giá trị gia tăng: giá trị gia tăng là phần chênh lệch giữa giá trị tổng sản lượng (năng suất thô) và tổng lượng tiền đM sử dụng cho việc mua bán những thứ khác để phục
vụ sản xuất này Trong lĩnh vực nông nghiệp, giá trị gia tăng là tổng các giá trị gia tăng của cơ sở sản xuất khác nhau cấu thành nên ngành sản xuất này [40] 2.3.2 Phân tích hiệu quả xG hội và môi trường
2.3.2.1 Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững
Tính bền vững của một nền nông nghiệp ở đây được thể hiện trên cả 3 mặt: bền vững kinh tế, sự chấp nhận của xM hội và bền vững môi trường sinh thái Chúng ta thấy rõ ràng mối quan hệ qua lại giữa hệ thống kinh tế và môi trường tự
Lợi nhuận = năng suất thô - chi phí sản xuất (1)
Chi phí sản xuất = các yếu tố phải trả tiền + các yếu tố không phải trả tiền (2)
Thu nhập = năng suất thô - các yếu tố phải trả tiền (3)
Thu nhập = Lợi nhuận + các yếu tố không phải trả tiền (4)
Thu nhập = năng suất thô - Chi phí sản xuất + yếu tố không phải trả tiền (4)
Trang 39nhiên Con người với hoạt động kinh tế của minh lấy đi từ môi trường thiên nhiên những gì họ cần để nâng cao mức sống của mình Sau đó cũng chính con người lại thải ra môi trường những chất làm huỷ hoại môi trường
Trong lịch sử canh tác đM chỉ có 3 hệ thống được công nhân có sức sản xuất ổn định (tuy mức hiệu quả là khác nhau):
- Sự du canh luân hồi ;
- Hệ chăn thả gia súc luân phiên;
- Điều kiện tự nhiên không còn dồi dào
- Dân số tăng
- Nhu cầu về đời sống tăng
Theo PGS, TS Lê Đình Thắng (1998): Một nền nông nghiệp bền vững phải giữ vững tốc độ tăng trưởng ổn định, giảm tối đa và đi đến xoá bỏ áp lực của xM hội đến huỷ hoại môi trường, củng cố và xây dựng hệ sinh thái môi trường ngày càng hài hoà cân đối, phục hồi lại nguồn gien thực vật và động vật quý hiếm [35]
Theo Nguyễn Tử Siêm, Thái Phiên (1999): Một hệ canh tác là bền vững khi nó không ngừng thoả mMn các nhu cầu của nông dân mà không làm thoái hoá nền dự trữ cơ bản của họ [28]
Do sự gia tăng dân số, nhu cầu phát triển kinh tế đM gây áp lực rất lớn
đối với đất nông nghiệp Mục tiêu của con người là sử dụng đất một cách khoa học và hợp lý Trong quá trình sử dụng lâu dài với nhận thức còn hạn chế dẫn tới nhiều vùng đất đai đang bị thoái hoá, ảnh hưởng tới môi trường sống của
Trang 40con người Những diện tích đất đai thích hợp cho sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, do đó con người phải mở mang diện tích canh tác trên các vùng đất không thích hợp, hậu quả đM gây ra quá trình thoái hoá, rửa trôi đất một cách nghiêm trọng
Trước những năm 1970, trong nông nghiệp người ta nói nhiều đến giống mới năng suất cao và kỹ thuật thâm canh cao Từ sau năm 1970 một khái niệm mới xuất hiện và ngày càng có tính thuyết phục là khái niệm về tính bền vững và nông nghiệp bền vững
Theo Lê Văn Khoa [20], để phát triển nông nghiệp bền vững cũng phải loại bỏ ý nghĩ đơn giản rằng sản xuất nông nghiệp công nghiệp hoá sẽ đầu tư
từ bên ngoài vào Phạm Chí Thành [33] cho rằng, có 3 điều kiện để tạo ra nền nông nghiệp bền vững đó là công nghệ bảo tồn tài nguyên có sự tham gia của những tổ chức từ bên ngoài và những tổ chức từ địa phương Tác giả cho rằng
xu thế phát triển nông nghiệp bền vững được các nước phát triển khởi xướng
đM trở thành đối tượng để các nước đang phát triển nghiên cứu theo hướng kế thừa, chắt lọc các tinh tuý của các nền nông nghiệp, không chạy theo cái hiện
đại mà bác bỏ những cái truyền thống Trong sản xuất nông nghiệp bền vững, vấn đề chọn cây gì, con gì trong một hệ sinh thái không thể áp đặt theo ý muốn chủ quan mà phải điều tra, nghiên cứu để hiểu biết thiên nhiên
Không có ai hiểu biết hệ sinh thái nông nghiệp ở một vùng bằng chính những con người đM sinh ra và lớn lên ở đó Vì vậy, xây dựng nền nông nghiệp bền vững cần phải có sự tham gia của nông dân trong vùng nghiên cứu Phát triển bền vững là việc quản lý và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, định hướng thay đổi các công nghệ và thể chế theo một phương thức sao cho đạt đến sự thoả mMn một cách liên tục những nhu cầu của con người thế hệ hôm nay và mai sau [60]
Fetry [60] cho rằng, phát triển bền vững trong lĩnh vực nông nghiệp chính là sự bảo tồn đất, nước, các nguồn động và thực vật không bị suy thoái,