2.3 Tình trạng ô nhiễm nước và ảnh hưởng của nó tới NTTS ở Việt Nam 152.4 Tình trạng ô nhiễm nước và ảnh hưởng của nó tới NTTS ở ñồng 2.5 Một số giải pháp giảm thiểu tình trạng ô nhiễm n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
-
NGUYỄN THANH LĨNH
ðÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC VÙNG NUÔI TRỒNG
THỦY SẢN NƯỚC NGỌT HUYỆN THỐT NỐT - CẦN THƠ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: KHOA HỌC ðẤT
Mã số: 60.62.15
Người hướng dẫn khoa học: TS PHAN TRUNG QUÝ
HÀ NỘI - 2009
Trang 2LỜI CAM ðOAN
- Tôi xin cam ñoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng ñược sử dụng ñể bảo vệ một học vị nào
- Tôi xin cam ñoan mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiện luận văn này ñã ñược cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này ñều ñược chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Thanh Lĩnh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp, tôi ñã nhận
ñược sự giúp ñỡ của TS Phan Trung Quý, các thầy cô giáo trong Bộ môn Khoa
học ñất, các thầy cô giáo trong Khoa tài nguyên và Môi trường, Viện sau ñại
học, các cán bộ Viện lúa ñồng bằng sông Cửu Long, vợ, con, gia ñình nội,
ngoại, bạn bè và ñồng nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp ñỡ tận tình và quý báu ñó
Hà nội, ngày tháng 10 năm 2009
Tác giả luận văn Nguyễn Thanh Lĩnh
Trang 42.3 Tình trạng ô nhiễm nước và ảnh hưởng của nó tới NTTS ở Việt Nam 152.4 Tình trạng ô nhiễm nước và ảnh hưởng của nó tới NTTS ở ñồng
2.5 Một số giải pháp giảm thiểu tình trạng ô nhiễm nguồn nước mặt
và nước nuôi trồng thủy sản ở vùng ñồng bằng sông Cửu Long 34
3 ðỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
4.1 ðiều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Thốt Nốt - Thành phố
Trang 54.1.1 ðiều kiện tự nhiên 47
4.2 Biến ñộng chất lượng nước khu nuôi trồng thủy sản theo giai
Trang 6EC Electric Conductance - ðộ dẫn ñiện
GDP Gross Domestic Product - Tổng sản phẩm quốc nội
MPN/100ml Most probable number of Coliform per 100 ml - Mật ñộ
khuẩn lạc trong 100 ml NTTS Nuôi trồng thủy sản
TCCL Tiêu chuẩn chất lượng
VACB Vườn - Ao - Chuồng - Biogas
PRA Phương pháp ñánh giá nhanh nông thôn
Trang 72.4 Sản lượng nuôi trồng thủy sản ở vùng ðBSCL (ðơn vị: Tấn) 23
4.1 Kết quả phân tích chất lượng nước vùng NTTS huyện Thốt Nốt
4.2 Kết quả phân tích chất lượng nước vùng NTTS huyện Thốt Nốt
4.3 Kết quả phân tích chất lượng nước vùng NTTS huyện Thốt Nốt
4.4 Kết quả phân tích chất lượng nước vùng NTTS huyện Thốt Nốt
4.5 Thành phần một số cation hòa tan trong nước giai ñoạn mùa khô
4.9 Kết quả phân tích chất lượng nước vùng NTTS huyện Thốt Nốt
4.10 Thành phần một số cation hòa tan trong nước giai ñoạn ñầu
Trang 8DANH MỤC HÌNH
4.1 Nhiệt ñộ TB tháng 1 - 5/2009 huyện Thốt Nốt - Cần Thơ 47 4.2 Lượng mưa TB tháng 1 - 5/2009 huyện Thốt Nốt - Cần Thơ 47 4.1 Nhiệt ñộ trung bình tháng 1-5/2009 huyện Thốt Nốt - Cần
4.5 ðộng thái hàm lượng NH4+ của nước tại các ñiểm nghiên
4.6 ðộng thái hàm lượng NO3- của nước tại các ñiểm nghiên
Trang 91 MỞ ðẦU
1.1 Tính cấp thiết của ñề tài
Nước là tài nguyên vô cùng quý giá, là cội nguồn của sự sống; mọi sinh vật trên trái ñất muốn tồn tại và phát triển ñược ñều cần có nước
Nước ñược sử dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp, trong nuôi trồng thủy sản… góp phần ñáng kể trong sự phát triển kinh tế
Nước ñược xem là tài nguyên vô tận, chiếm khoảng hơn 3/4 bề mặt trái ñất Song hiện nay, một vấn ñề ñang ñược cả thế giới quan tâm ñó là vấn ñề ô nhiễm nguồn nước Sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp ñã dẫn ñến lượng rác thải vào các nguồn nước ngày càng nhiều gây nên hiện tượng phú dưỡng, làm tăng hàm lượng chất ñộc ảnh hưởng xấu ñến ñời sống các sinh vật thủy sinh, làm thay ñổi một cách nhanh chóng chất lượng nước của các hệ thống sông ngòi ðối với nuôi trồng thủy sản, ô nhiễm nguồn nước sẽ gây hiệu quả rất nghiêm trọng, ñó là các loài thủy sản sẽ bị mắc bệnh dẫn ñến chết hàng loạt làm cho người nông dân gặp phải những khó khăn lớn trong sản xuất Ở nước ta hiện nay, quy mô nuôi trồng thủy sản ngày càng tăng cả
về số lượng và diện tích Tuy nhiên vẫn chưa có quy hoạch một cách cụ thể
Thành phố Cần Thơ là một trong những vùng nuôi cá tra trọng ñiểm của ðBSCL, theo báo cáo của Chi cục bảo vệ nguồn lợi thủy sản Cần Thơ (2004) thì tính ñến ngày 15/8/2004 toàn tỉnh có 630 ha nuôi với sản lượng hơn 63.000 tấn [2], các ao nuôi thường tập trung ở Thốt Nốt, Ô Môn và Quận Ninh Kiều Với xu hướng hội nhập, mở cửa trong phát triển kinh tế, từng bước thực hiện công nghiệp hóa - hiện ñại hóa, song việc chú trọng phát triển sản xuất nông nghiệp vẫn ñược coi là mục tiêu hàng ñầu Là một huyện ngoại
Trang 10thành của thành phố Cần Thơ, trong những năm qua, thực hiện ựường lối ựổi mới cơ chế kinh tế của đảng và Nhà nước, huyện Thốt Nốt ựã ựạt ựược những kết quả ựáng kể trong phát triển kinh tế - xã hội, tốc ựộ ựô thị hóa và công nghiệp hóa nhanh, ựời sống vật chất và văn hóa của nhân dân ựược cải thiện Thốt Nốt là một huyện nằm bên bờ sông Hậu vì vậy kinh tế thủy sản ựã tăng nhanh về cả diện tắch và sản lượng Nuôi trồng thủy sản ựã trở thành ngành sản xuất chắnh trong nông nghiệp, ựem lại hiệu quả kinh tế cao, ựiển hình là xã Tân Lộc, xã Thới Thuận, Năm 2005, diện tắch nuôi trồng thủy sản của huyện ựạt 487,4 ha; sản lượng ựạt 27.500 tấn, chiếm 43,35% cơ cấu sản xuất nông nghiệp
Trước thực trạng phát triển kinh tế như hiện nay, sự xuất hiện các khu vực công nghiệp và sự gia tăng dân số ựã gây áp lực ựến chất lượng nước phục
vụ cho nuôi trồng thủy sản trên cả nước cũng như ựối với huyện Thốt Nốt tỉnh Cần Thơ Có thể nói chất lượng nước trong nuôi trồng thủy sản là một vấn ựề rất quan trọng, bởi nó không chỉ ảnh hưởng tới sự tồn tại và phát triển của các sinh vật thủy sinh mà còn ảnh hưởng tới chất lượng của các loại thủy sản trong những năm gần ựây, dịch bệnh thường xảy ra ựối với các vùng nuôi trồng thủy sản tập trung, gây ra thiệt hại lớn về kinh tế và ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm Một trong những nguyên nhân chắnh dẫn ựến tình trạng trên là do nguồn nước bị ô nhiễm
để góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cũng như hướng tới một nền nông nghiệp bền vững, nghiên cứu chất lượng nước phục vụ cho nuôi trồng thủy sản là một việc làm hết sức cần thiết và cấp bách Vì vậy chúng tôi tiến
hành nghiên cứu ựề tài: Ộđánh giá chất lượng nước vùng nuôi trồng thủy
sản nước ngọt huyện Thốt Nốt - Cần ThơỢ
Trang 11+ So sánh với QCVN quy ñịnh về chất lượng nước dùng trong nuôi trồng thủy sản với chất lượng nước trên ñịa bàn nghiên cứu
Trang 122 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Tài nguyên nước trên thế giới và ở Việt Nam
2.1.1 Khái quát về tài nguyên nước trên thế giới
Nước là tài nguyên vô cùng quý giá ñối với sự sống, nếu không có nước thì không có sự sống trên hành tinh chúng ta Trong cấu trúc ñộng, thực vật thì nước chiếm tới 95 - 99% trọng lượng các loài cây dưới nước, 80% trọng lượng loài cá, 70% trọng lượng các loài cây trên cạn, 65 - 75% trọng lượng con người và các loại ñộng vật [12] Vì vậy nước ñược coi là nền tảng của sự sống, không một sinh vật nào có thể sống thiếu nước Nước là ñiều kiện ñầu tiên ñể xác ñịnh sự tồn tại của sự sống, của con người
Nước là một loại vật chất ñặc biệt bao phủ bề mặt trái ñất nhưng phân
bố không ñều theo không gian và thời gian Tổng lượng nước trên trái ñất khoảng hơn 1,4 tỷ km3 nhưng 97,4% là nằm ở các ðại Dương Băng tuyết ở hai thái cực trái ñất chiếm 1,98% lượng nước toàn cầu, nước ngầm chiếm 0,60%, nước mặt (lượng nước ngọt ở các sông, hồ ) chiếm 0,02% Lượng nước mưa rơi xuống sẽ bị hấp thụ bởi lá và rễ cây là 75% còn lại 25% là lượng nước chảy tràn bề mặt [12] Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Quỹ Nhi ñồng LHQ, hiện tại chỉ có khoảng 1% tổng lượng nước trên hành tinh dành cho con người sử dụng
Trong thiên nhiên, nước ñược luân chuyển theo chu trình thủy văn Thông qua chu trình này, nước ñược bay hơi và ngưng tụ liên tục, vì vậy nước có mặt khắp nơi tham gia vào chu trình phát triển của tất cả các hệ sinh thái [16]
Tài nguyên nước phân bố không ñều trong năm Thông thường trữ lượng nước vào mùa khô thấp hơn rất nhiều lần so với mùa mưa, chính vì vậy
Trang 13tình trạng khan hiếm nước vào mùa khô xảy ra khá phổ biến, còn vào mùa mưa do lưu lượng của các con sông lớn nên lại làm nguy cơ lũ lụt tăng cao
Sự phát triển của xã hội ñã làm cho con người ngày càng nhận thức rõ hơn về tầm quan trọng, tính thiết yếu của nước ñối với cuộc sống Nhận thức
về tài nguyên nước càng ñược nâng lên khi mà con người tại nhiều nơi trên thế giới ñang phải ñối mặt với tình trạng khan hiếm nước
Trong bối cảnh ngày nay thì nhu cầu nước cho sử dụng tại nhiều nơi trên thế giới ñã vượt quá khả năng cung cấp của nguồn nước Tình trạng thiếu nước ñang ñe dọa sự tồn tại và phát triển của con người trong tương lai Tháng 3/1997 Hội nghị về môi trường của Liên Hợp Quốc ñã cảnh báo: “Sau nguy cơ về dầu mỏ thì con người phải ñương ñầu với nguy cơ về nước”, bởi hiện nay có hơn 2 tỷ người trên thế giới không có nước sạch ñể dùng [16]
Nhiều con sông lớn trên thế giới có ý nghĩa trong ñời sống sinh hoạt cũng như sản xuất của con người như sông Mê Kông, Dương Tử, Salween, sông Ấn, sông Hằng ở châu Á, sông Nil ở châu Phi, sông Danuyp ở châu Âu, sông La Plata và Rio Bravo ở châu Mỹ, sông Murray - Darling ở châu ðại Dương ñang có lưu lượng nước giảm ñáng kể, ngoài ra còn một nguyên nhân ñáng lo ngại là các con sông ñang bị ñe dọa bởi nạn ô nhiễm khá trầm trọng
Ô nhiễm môi trường nói chung và ô nhiễm tài nguyên nước nói riêng
ñã ñang và sẽ còn gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng, không chỉ làm thiệt hại nặng nề về kinh tế mà còn ñe dọa ñến sự tồn tại của tất cả các sinh vật Vì vậy, giải quyết vấn ñề về môi trường là mục tiêu của toàn cầu ñể ñem lại cho con người một môi trường sống trong sạch và bền vững
2.1.2 Tài nguyên nước Việt Nam
Việt Nam là một quốc gia có lượng mưa trung bình năm khá lớn tới trên 2000mm gấp khoảng 2,5 lần so với lượng mưa trung bình Trái ñất (800mm) và châu Âu (789mm) Ba phần tư lãnh thổ của nước ta là ñồi núi với
Trang 14ựộ che phủ rừng hiện khoảng 29%, mạng lưới sông suối, ựầm, hồ ao, kênh mương khá dày và có nước quanh năm, nhờ ựó tài nguyên nước nhìn chung tương ựối phong phú hàng năm lượng nước từ bên ngoài lãnh thổ chảy vào khoảng 889 tỷ m3/năm, nước dưới ựất có trữ lượng tiềm năng khoảng 48 tỷ
m3/năm
Tài nguyên nước bao gồm nguồn nước mặt, nước mưa, nước dưới ựất, nước biển Tài nguyên nước mặt tồn tại thường xuyên hay không thường xuyên trong các thủy vực ở trên mặt ựất như: sông ngòi, hồ tự nhiên, hồ chứa (hồ nhân tạo), ựầm lầy, ựồng ruộng và băng tuyết Tài nguyên nước sông là thành phần chủ yếu và quan trọng nhất, ựược sử dụng rộng rãi trong ựời sống sản xuất Do ựó, tài nguyên nước nói chung và là tài nguyên nước mặt nói riêng là một trong những yếu tố quyết ựịnh sự phát triển kinh tế xã hội của một vùng lãnh thổ hay một quốc gia
Tài nguyên nước mặt của nước ta tương ựối phong phú, chiếm khoảng 2% tổng lượng dòng chảy của các sông trên thế giới, trong khi ựó diện tắch ựất liền của nước ta chỉ chiếm khoảng 1,35% của thế giới Tuy nhiên, tài nguyên nước mặt thường có sự biến ựổi mạnh mẽ theo không gian và thời gian
Về tài nguyên nước mưa do ảnh hưởng của ựịa hình, lượng mưa phân
bố không ựều trong lãnh thổ Ở những miền núi cao, lượng mưa hằng năm lên tới 4000 - 5000mm, như ở vùng núi phắa đông bắc tỉnh Quảng Ninh, khu vực phắa bắc của Hà Giang, vùng núi Trà My, Ba Tơ ở Quảng Nam, Quảng Ngãi Trái lại, ở những sườn núi, thung lũng khuất gió là nơi mưa ắt, lượng mưa trung bình năm dưới 1200mm Khu vực ven biển ở vùng Ninh Thuận - Bình Thuận là nơi mưa ắt nhất ở nước ta, lượng mưa hằng năm chỉ khoảng 500 - 600mm Như vậy, lượng mưa trên năm ở nơi nhiều nhất gấp 10 lần lượng mưa trên năm ở nơi ắt nhất Hằng năm, lượng mưa lại phân bố không ựều trong năm Có khoảng 65 - 90% lượng mưa tập trung trong 3 ựến 6 tháng mùa
Trang 15mưa, chỉ có 10 - 35% lượng mưa năm rơi trong 6 ựến 9 tháng mùa khô Mùa mưa thường bắt ựầu từ tháng 4, 5 ựến tháng 9, 10 ở Bắc Bộ, phần phắa bắc của Bắc Trung Bộ (Thanh Hóa, Bắc Nghệ An) Ở Tây Nguyên và Nam Bộ mùa mưa kéo dài ựến tháng 10, 11 Riêng ở ven biển Trung Bộ, mùa mưa xuất hiện ngắn, thường là tháng 8, 9, 11, 12 [28]
Trải rộng trên một ựịa hình phức tạp từ bắc xuống nam, Việt Nam có một mạng lưới sông ngòi dày ựặc mang nhiều tắnh chất khác nhau, khi thì dòng chảy suôn sẻ, khi thì uốn khúc quanh co, có khi hiền hòa, có khi hung
dữ gây nên lụt lội
Miền Bắc có hai hệ thống sông chắnh là hệ thống sông Thái Bình và hệ thống sông Hồng Sông Thái Bình có các phụ lưu là sông Lục Nam, sông Thương và sông Cầu Sông Hồng (còn gọi là sông Nhị Hà) có các phụ lưu là sông Lô, sông đáy ở tả ngạn, và sông đà ở hữu ngạn đây là hai hệ thống sông chắnh bồi ựắp nên đBSH
Miền Trung chỉ có hai con sông lớn ựáng kể là sông Mã và sông Cả; còn các sông khác ựều ngắn vì núi ăn gần ra biển như: sông Gianh (phân chia ựất nước thời Trịnh - Nguyễn), sông Bến Hải (chia ựôi Việt Nam từ 1954 - 1975), sông Hương (chảy qua thành phố Huế)
Miền Nam cũng có hai hệ thống sông lớn là hệ thống sông đồng Nai và
hệ thống sông Cửu Long Sông đồng Nai có các phụ lưu là sông La Ngà ở tả ngạn, và ở hữu ngạn là sông Bé (với thác Trị An hùng vĩ), sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ đông Sông Cửu Long (còn gọi gọi là sông Mê Kông) bắt nguồn từ Tây Tạng chảy qua Lào, Căm Bốt, rồi mới vào miền Nam nước ta, chia thành hai nhánh sông là sông Tiền và sông Hậu với tất cả là chắn cửa sông trước khi ra biển đông Lượng nước sông Cửu Long rất lớn, sức chảy rất mạnh, do ựó mang một khối lượng phù sa khổng lồ bồi ựắp rất nhanh tạo thành vùng ựồng bằng sông Cửu Long phì nhiêu màu mỡ
Tổng lượng dòng chảy trên năm của sông Cửu Long bằng khoảng 500
Trang 16km3, chiếm tới 59% tổng lượng dòng chảy trên năm của các sông trong cả nước ðứng thứ hai về tổng lượng dòng chảy là hệ thống sông Hồng 126,5 km3(14,9%), sau ñó ñến hệ thống sông ðồng Nai 36,3 km3 (4,3%), sông Mã, Cả, Thu Bồn có tổng lượng dòng chảy xấp xỉ nhau, khoảng trên dưới 20 km3 (2,3-2,6%), các hệ thống sông Kỳ Cùng, Thái Bình và sông Ba cũng xấp xỉ nhau, khoảng 9 km3 (1%), các sông còn lại là 94,5 km3 (11,1%) [28]
Một ñặc ñiểm quan trọng nữa của tài nguyên nước của nước ta là phần lớn nước sông (khoảng 60%) lại ñược hình thành trên phần lưu vực nằm ở nước ngoài, trong ñó hệ thống sông Cửu Long chiếm nhiều nhất (447 km3, 88%) Nếu chỉ xét thành phần lượng nước sông ñược hình thành trong lãnh thổ nước ta, thì hệ thống sông Hồng có tổng lượng dòng chảy lớn nhất (81,3
km3) chiếm 23,9%, sau ñó ñến hệ thống sông Mê Kông (53 km3, 15,6%), hệ thống sông ðồng Nai (32,8 km3, 9,6%)
ðường bờ biển của Việt Nam kéo dài từ Móng Cái (Quảng Ninh) ñến
Hà Tiên (Kiên Giang), ñi qua hơn 13 vĩ ñộ với nhiều vùng sinh thái khác nhau, nhìn ra vịnh Bắc Bộ ở phía bắc, Thái Bình Dương ở miền Trung và vịnh Thái Lan ở miền Tây Nam Bộ Diện tích vùng nội thủy và lãnh hải rộng
226 nghìn km2, diện tích vùng biển ñặc quyền kinh tế hơn 1 triệu km2, gấp 3 lần diện tích ñất liền Vùng biển Việt Nam thuộc phạm vi ngư trường Trung Tây Thái Bình Dương, có nguồn lợi sinh vật phong phú, ña dạng, là một trong những ngư trường có trữ lượng hàng ñầu trong các vùng biển trên thế giới
Trong vùng biển Việt Nam có 4000 hòn ñảo lớn nhỏ, trong ñó có những hòn ñảo lớn có dân cư như Vân ðồn, Cát Bà, Phú Quý, Côn ðảo, Phú Quốc, có nhiều vịnh, vũng, eo ngách, các dòng hải lưu, vừa là ngư trường khai thác hải sản thuận lợi, vừa là nơi có nhiều ñiều kiện tự nhiên ñể phát triển nuôi biển và xây dựng các khu căn cứ hậu cần nghề cá Bên cạnh ñiều kiện tự nhiên vùng biển, Việt Nam còn có nguồn lợi thủy sản nước ngọt ở trong 2860 con sông lớn nhỏ, nhiều triệu ha ñất ngập nước, ao hồ, ruộng
Trang 17trũng, rừng ngập mặn, ñặc biệt là ở lưu vực sông Hồng và sông Cửu Long, v.v
Tài nguyên nước là một trong những yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất ñến
sự phát triển của ngành thủy sản Chính nhờ vào nguồn tài nguyên nước phong phú nên Việt Nam ñược ñánh giá là có tiềm năng ñể phát triển nuôi trồng thủy sản ở khắp mọi miền ñất nước cả về nuôi biển, nuôi nước lợ và nuôi nước ngọt ðến năm 2003, cả nước ñã sử dụng 612.778 ha nước mặn, nước lợ và 254.835 ha nước ngọt ñể nuôi thủy sản Trong ñó, ñối tượng nuôi chủ lực là tôm với diện tích 580.465 ha [31]
Thủy sản Việt Nam từ chỗ yếu kém ñầu thập kỷ 90, ñến năm 2004 ñã xuất khẩu trên 2 tỷ USD, chiếm gần 10% giá trị xuất khẩu Tuy nhiên nghề này ñang gây áp lực lớn cho môi trường do việc ñánh bắt có tính hủy diệt, và
ô nhiễm từ nuôi trồng thủy sản
Nước ta có hệ thống dày ñặc sông, hồ, ñầm phá, cửa sông, rừng ngập mặn , là vùng nước có tiềm năng lớn cho nghề khai thác và nuôi trồng thủy sản Nhờ ñiều kiện thuận lợi này, ngành thủy sản ñã phát triển nhanh chóng và trở thành ngành kinh tế chủ ñạo, kim ngạch xuất khẩu ñứng thứ 3 toàn quốc Song việc ñánh bắt ồ ạt trong những năm gần ñây ñã ñể lại hậu quả không nhỏ [6]
Nuôi trồng thủy sản ñược xem là giải pháp nhằm giảm bớt sức ép từ việc khai thác Song việc thiếu quy hoạch và phát triển tự phát, phương thức nuôi trồng thủy sản chủ yếu là quảng canh, nên làm thu hẹp các diện tích ñất ngập nước ven bờ Nghề nuôi tôm hùm, cá biển bằng lồng phát triển rộng rãi
ở nhiều nơi (Quảng Ninh, Thanh Hóa, Quảng Bình, Ninh Thuận) ñã làm ô nhiễm môi trường do nước thải chưa xử lý cùng thức ăn thừa ñổ thẳng ra vùng nước Các rừng ngập mặn và các bãi triều ñang liên tục bị phá hủy ñể
Trang 18lấy ñất nuôi tôm, ngao, sò và cua Sự phá hủy rừng không chỉ làm ảnh hưởng ñến hệ ñộng vật hoang dã nơi ñây, mà còn làm mất cân bằng khu hệ thực vật ven biển, từ ñó ảnh hưởng ñến cuộc sống người dân [6]
Nói chung nghề nuôi trồng thủy sản nước ta mới phát triển ñã gặp phải những khó khăn lớn về môi trường, về chất lượng nước, môi trường nuôi bị biến ñộng nhiều do lượng phù sa bồi lắng, chất ñộc, thuốc trừ sâu, nhiều nhóm vi khuẩn gây bệnh ðặc biệt khâu yếu nhất và chưa ñược quan tâm thích ñáng hiện nay là quản lý quy hoạch phát triển, kiểm soát mầm bệnh cũng như chất lượng môi trường nước phục vụ cho nuôi trồng thủy sản Ở nhiều nơi NTTS của nước ta, việc thiếu quy hoạch hoặc quy hoạch chưa ñồng
bộ là một trong những nguyên nhân chính làm ô nhiễm môi trường nuôi Trong khi ñó, bản thân những người nuôi chưa nhận thức hết tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường chung cho cộng ñồng, dẫn ñến nguồn nước vùng nuôi ngày càng bị ô nhiễm, tạo ñiều kiện cho các mầm bệnh phát triển thành các ñợt dịch bệnh phá hoại hàng loạt các ao nuôi, gây thiệt hại nặng nề cho nền kinh tế nước nhà
2.2 Các chỉ tiêu ñánh giá chất lượng nước phục vụ NTTS
Nước là tài nguyên vô cùng quan trọng vì nước không chỉ cần thiết cho cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của con người mà còn là một yếu tố không thể thiếu ñối với bất kỳ ngành sản xuất nào Tuy nhiên chất lượng nước ñang bị
ñe dọa bởi nhiều nguyên nhân khác nhau Ô nhiễm nguồn nước ñã và ñang gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng, nó có ảnh hưởng trực tiếp ñến sự phát triển và tồn tại của loài người Chính vì vậy ñánh giá chất lượng nước là một yêu cầu không thể thiếu
Chất lượng nước ñược ñánh giá thông qua các chỉ tiêu cụ thể Các chỉ tiêu này phụ thuộc vào loại chất gây ô nhiễm, trình ñộ phát triển kinh tế, kỹ
Trang 19thuật của mỗi khu vực, mỗi quốc gia và các ngành sử dụng nước khác nhau Tài nguyên nước ựược sử dụng trong rất nhiều lĩnh vực, vì vậy tùy thuộc vào từng mục ựắch sử dụng mà yêu cầu về chất lượng nước ựược dùng là khác nhau Trong luận án này chúng tôi chỉ ựề cập ựến các chỉ tiêu chất lượng nước phục vụ cho mục ựắch nuôi trồng thủy sản
Nước là môi trường sống và phát triển của các loài sinh vật thủy sinh đánh giá chất lượng nước cho nuôi trồng thủy sản tùy thuộc vào loại thủy sản nuôi trồng Những tiêu chuẩn chất lượng nước ựảm bảo ựời sống thủy sinh bao gồm rất nhiều thông số, thường ựược ựánh giá thông qua một số chỉ tiêu sau: hàm lượng oxi hòa tan (DO), nhu cầu oxi sinh học (BOD5), nhu cầu oxi hóa học (COD), ựộ dẫn ựiện (EC), pH, ựộ mặn (tổng số muối tan, Clorua (Cl-), hàm lượng một số ion chắnh trong nước (Na+, K+, Ca++, Mg++, NO3-, NH4+, PO43-), kim loại nặng (Cu, Pb, Zn, Cd, AsẦ), Coliform, dư lượng thuốc bảo
vệ thực vật Do ựiều kiện kỹ thuật và thực tế không cho phép nên trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi chưa tiến hành ựánh giá dư lượng thuốc bảo vệ thực vật ựược
đối với các vùng nuôi trồng thủy sản thâm canh, bán thâm canh hay cả nuôi quảng canh, khu nuôi thường ựược khoanh theo các ao nuôi, ao nuôi Nước trong khu nuôi thường hay bị ô nhiễm do thức ăn thừa hoặc do các chất bài tiết hay cũng có thể do nguồn nước cung cấp bị ô nhiễm Chắnh vì lý do nay nên việc xác ựịnh, kiểm tra chất lượng nước theo các thông số và tiêu chuẩn ựể phục vụ vùng nuôi trồng thủy sản là rất quan trọng
Nuôi trồng thủy sản hiện nay là một ngành khá phát triển vì vậy tại nhiều quốc gia ựã sớm có những nghiên cứu nhằm ựưa ra các tiêu chuẩn phù hợp với mục ựắch của ngành Chúng ta có thể tham khảo tiêu chuẩn chất lượng nước của Philipine cho mục ựắch nuôi trồng thủy sản:
Trang 20Bảng 2.1 TCCL nước của Philipine cho mục ñích
( Trích dẫn theo tác giả Nguyễn Thái Lai (1999)) [16]
Qua bảng trên chúng ta thấy rằng TCCL nước của Philipine cho mục ñích nuôi trồng thủy sản tương ñối ñơn giản Trong tiêu chuẩn chỉ ñề cập ñến
6 thông số: pH, DO, BOD5, NO3-N, PO4-P, Cl-
Việt Nam là một trong những nước có nuôi trồng thủy sản từ khá sớm
vì vậy cho ñến nay ñã ñưa ra một loạt các quy ñịnh có liên quan ñến chất lượng nước dùng cho mục ñích nuôi trồng thủy sản
Năm 1995, Việt Nam ñã ñưa ra tiêu chuẩn TCVN 5942:1995 Tiêu chuẩn này áp dụng hướng dẫn khi ñánh giá chất lượng nước mặt dùng cho mục ñích nuôi trồng thủy sản và làm cơ sở ñể lựa chọn những vùng nuôi có chất lượng nước phù hợp, ñủ ñiều kiện phát triển nuôi trồng thủy sản nhằm ñảm bảo chất lượng cho vùng nuôi góp phần nâng cao năng suất cũng như chất lượng cho ngành thủy sản nước nhà Tiêu chuẩn này quy ñịnh tất cả là 26 chỉ tiêu So với TCCL nước của Philipine cho mục ñích nuôi trồng thủy sản thì TCVN 5943:1995 khá chặt chẽ và ñầy ñủ, trong tiêu chuẩn này ngoài các chỉ tiêu thường thấy như DO, BOD5, NH3, nhiệt ñộ, mùi còn quy ñịnh cả về ngưỡng giới hạn của hàm lượng các hóa chất BVTV, các kim loại nặng, một
số chất hữu cơ Ở nước ta hiện nay ñều ñang áp dụng tiêu chuẩn này ñể ñánh giá chất lượng nước phục vụ cho các vùng NTTS, tuy nhiên trong tiêu chuẩn
Trang 21này không ñề cập ñến hàm lượng của PO43- trong nước trong khi TCCL nước dùng cho mục ñích NTTS của Philipine lại quy ñịnh khá rõ ràng về chỉ tiêu này Trên thực tế hàm lượng của PO43- trong nước khá quan trọng vì nó có liên quan ñến hiện tượng phú dưỡng, ảnh hưởng rất lớn ñến sự tồn tại và phát triển của các loại thủy sinh Vì vậy việc ñánh giá xác ñịnh giá trị giới hạn của chỉ tiêu này là ñiều hết sức cần thiết
Trong ao nuôi thủy sản có nhiều yếu tố môi trường góp phần quyết ñịnh ñến chất lượng môi trường nước từ ñó ảnh hưởng ñến ñời sống của ñối tượng nuôi Mỗi ñối tượng ñòi hỏi một ñiều kiện môi trường có chất lượng khác nhau Tuy nhiên, các yếu tố môi trường ao nuôi cũng bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài
pH là chỉ tiêu môi trường quan trọng ñến sự phát triển, sinh sản, dinh dưỡng của thủy sinh vật pH phụ thuộc vào tính chất ñất và nguồn nước, phụ thuộc vào quá trình phân hủy hợp chất hữu cơ và hoạt ñộng của con người Theo Nguyễn Văn Bé thì nước có pH thích hợp cho hầu hết các loại cá nuôi là 6,8 - 9 [5]
Oxy hòa tan trong nước cần thiết cho sự hô hấp của thủy sinh vật (cá, lưỡng cư, thủy sinh, côn trùng ) Hô hấp thủy sinh nhờ trao ñổi chất giữa cơ thể với môi trường nước và quá trình này không thể thiếu oxy hòa tan Oxy hòa tan trong thủy vực có ñược chủ yếu nhờ vào sự quang hợp của thủy sinh vật và sự khuếch tán của không khí vào trong thủy vực Oxy hòa tan tự do trong nước khoảng 8 - 10mg/l và sẽ dao ñộng lớn tùy vào nhiệt ñộ và các quá trình phân hủy các hợp chất và sự quang hợp của thực vật thủy sinh [7] Hàm lượng oxy hòa tan phù hợp cho sự sinh trưởng, phát triển của cá là 6 - 8mg/l [5] Trong các ao nuôi cá mật ñộ càng cao thì nhu cầu oxy càng lớn nhưng cũng dễ xảy ra hiện tượng oxy giảm thấp Khi oxy hòa tan thấp làm giảm hoạt ñộng hoặc gây chết thủy sinh vật, do ñó oxy hòa tan là một chỉ số quan trọng
Trang 22ñể ñánh giá sự ô nhiễm của nước thủy vực Oxy còn cần thiết ñể tham gia quá trình oxy hóa vật chất hữu cơ và chuyển hóa vật chất trong thủy vực thành CO2 và H2O ñược gọi là tiêu hao oxy hóa học (COD) Theo Lê Như Xuân và ctv thì COD thích hợp cho các ao nuôi cá là 15 - 30mg/l, giới hạn cho phép là
15 - 40mg/l (TCN thủy sản 2004) [1], [20]
Tổng amonia (TAN) ñược cug cấp trong các thủy vực từ quá trình phân hủy các hợp chất hữu cơ chứa ñạm như xác bã ñộng vật phù du, sản phẩm bài tiết của ñộng vật hay từ phân bón hữu cơ Tỷ lệ NH3- và NH4+ trong nước phụ thuộc vào nhiệt ñộ và pH của nước [22] Theo Dowing và Markin ñược trích bởi Trần Thị Phương Lan thì hàm lượng amonium ở các ao nuôi luôn biến ñộng, N-NH4+ ở nồng ñộ cao từ 0,6 - 2mg/l có thể ảnh hưởng ñến sự sinh trưởng của cá [9] Theo Boyd (1976) khi nghiên cứu chất lượng nước trong các ao nuôi ở miền rừng không bón phân nhận thấy N-NH4+ trung bình 0,052mg/l và N-NO3- là 0,075mg/l [21] Hàm lượng amonia thích hợp cho ao nuôi thủy sản là <0,1mg/l và amonium là 0,2 - 2mg/l [24]
Phốt - pho hòa tan là một trong những yếu tố cần thiết ñối với ñời sống thủy sinh vật trong nước Phốt - pho thúc ñẩy quá trình sinh trưởng, sinh sản
và phát triển của cá Ngoài ra, phốt - pho còn ảnh hưởng ñến lượng tảo và gián tiếp ảnh hưởng ñến cá qua khâu thức ăn, nên sức sản xuất của thủy vực
và năng suất của cá phụ thuộc rất lớn vào lượng phốt - pho hòa tan Theo Nguyễn Văn Bé thì hàm lượng phốt - pho hòa tan thích hợp cho các ao nuôi là
1 - 3mg/l [5] Và phốt - pho hòa tan thích hợp cho ao nuôi cá thâm canh là 1 - 3mg/l và phốt - pho hòa tan thích hợp cho các ao nuôi cá thâm canh là 0,1 - 1mg/l [11] Phốt - pho tồn tại trong nước có nhiều dạng, trong ñó dạng H2PO3-, HPO32-, và PO43- ñược hấp thu bởi thực vật và vi sinh vật trong môi trường ñất, nước ñể chúng tạo lại các axit amin chứa phốt - pho và các enzim phosphatase, chuyển các liên kết cao năng phốt - pho thành năng lượng cho
Trang 23cơ thể Phốt - pho ñi vào môi trường nước phần lớn ñược hấp thu bởi phiêu sinh vật sống phù du, ñộng vật thủy sinh ăn ñộng vật phù du và lại bị ăn bởi ñộng vật thủy sinh ăn thịt lớn hơn, khi chết ñộng vật trả lại phốt - pho cho môi trường ñất, nước [4] Phốt pho trong ñất hiện diện ở dạng khoáng hoặc vật chất hữu cơ, là yếu tố giới hạn, tồn tại phần lớn ở dạng dễ hấp thu ñối với sinh vật như H2PO3-, HPO32-, và PO43- [23]
Ngoài QCVN08:2008 Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước mặt cũng có nhiều tiêu chuẩn khác có liên quan ñến việc ñánh giá cũng như kiểm soát chất lượng nước có liên quan ñến mục ñích nuôi trồng thủy sản như: TCVN 5942:1995 (Tiêu chuẩn chất lượng nước mặt), TCVN 6774:2000 (Chất lượng nước ngọt bảo vệ ñời sống thủy sinh)
2.3 Tình trạng ô nhiễm nước và ảnh hưởng của nó tới NTTS ở Việt Nam
Sự phát triển và sinh tồn của bất kỳ một sinh vật nào cũng phụ thuộc rất nhiều vào môi trường sống của chúng Các loài sinh vật thủy sinh tồn tại và phát triển trong môi trường nước, vì vậy chất lượng nước là một yếu tố rất quan trọng quyết ñịnh sự có mặt của các sinh vật này
Ngày nay cả thế giới ñang phải ñối mặt với tình trạng suy giảm tài nguyên nước không chỉ về số lượng mà còn cả về chất lượng Hàm lượng các chất ñộc hại vượt quá giới hạn cho phép do sự xả thải quá mức của các ngành sản xuất ñã và ñang làm cho nguồn nước bị ô nhiễm trầm trọng
Ô nhiễm nước là hiện tượng thay ñổi về chất lượng nước do trong nước
có chứa quá mức các thành phần vật chất, các chất ñộc hại và các vi khuẩn, vi sinh vật gây bệnh ñã làm giảm giá trị sử dụng của nước, ảnh hưởng xấu tới sự tồn tại và phát triển của các sinh vật cũng như tới sức khỏe của con người [17]
Ô nhiễm nước có thể do các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo nhưng nguyên nhân chủ yếu vẫn là nhân tạo do nguồn nước phải tiếp nhận quá nhiều
Trang 24chất thải từ hoạt ñộng của con người tạo nên Sự phát triển khoa học kỹ thuật
ñã ñẩy nhanh tốc ñộ sản xuất ra của cải vật chất ñáp ứng yêu cầu ngày càng tăng của con người Tuy nhiên cùng với sự tăng của cải vật chất ñó, lượng chất thải của các quá trình sản xuất cũng không ngừng tăng lên Các chất thải nếu không ñược xử lý và quản lý chặt chẽ thì bằng các con ñường khác nhau
sẽ lan truyền tới nguồn nước, làm cho nước dần mất ñi sự trong sạch và trở thành nước ô nhiễm khi lượng chất thải vượt quá ngưỡng cho phép
Ở nhiều nơi các chất thải chưa qua xử lý ñược thải trực tiếp vào nguồn nước, ñiều này ñã làm ảnh hưởng tới môi trường sống của các loài thủy sinh Những chất thải này có thể là nguồn gây bệnh hoặc có thể gây chết các sinh vật sống dưới nước Bên cạnh ñó, nuôi trồng thủy sản phát triển nhanh chóng cũng góp phần làm cho chất lượng nguồn nước suy giảm do những bất cập trong quản lý hay do sự thiếu nhận thức của các chủ nuôi trồng thủy sản ở nước ta
Tốc ñộ công nghiệp hóa và ñô thị hóa khá nhanh và sự gia tăng dân số gây áp lực ngày càng nặng nề ñối với tài nguyên nước Môi trường nước ở nhiều ñô thị, khu công nghiệp và làng nghề ngày càng bị ô nhiễm bởi nước thải, khí thải và chất rắn Ở các thành phố lớn hàng ngàn cơ sở sản xuất công nghiệp ñang gây ô nhiễm môi trường nước do không có công trình và thiết bị
xử lý chất thải
Tại cụm công nghiệp Tham Lương - Thành phố Hồ Chí Minh, nguồn nước bị nhiễm bẩn bởi nước thải công nghiệp với tổng lượng nước thải ước tính 500.000 m3/ngày từ các nhà máy giấy, bột giặt, nhuộm, dệt
Khi so sánh kết quả phân tích nước sông bình thường với nước sông kênh rạch chịu ảnh hưởng của chất thải từ khu công nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh như sau:
Trang 25Bảng 2.2 Nồng ñộ kim loại nặng ở một số kênh rạch khu vực
15-20 15-18
12-30 18-25
5-140 7-300
100-500 395-650
5-6
20-22 10-15
20-72 10-35
10-20 20-150
150-800 30-250 Kênh Doi-Tê, Tân Hu, Bến NghÐ
Nh¸nh: kªnh UCay
2-7 2-6
12-19 8-10
10-180 8-35
10-160 30-350
200-250 690-900
Nguồn N.M Maqsud, 1998) [11]
Theo như kết quả nghiên cứu ở trên cho thấy rằng chất lượng nước ở khu vực chịu ảnh hưởng của khu công nghiệp ñều bị nhiễm bẩn kim loại nặng Nguồn nước bị nhiễm bẩn kim loại nặng có tính chất rất nguy hiểm cho việc sử dụng vào mọi mục ñích sinh hoạt, sản xuất và ñặc biệt là ñối với nuôi trồng thủy sản [13]
Các khu ñô thị, các vùng tập trung ñông dân cư có dân số và mật ñộ dân cư cao so với các vùng khác, nên hàng ngày cũng thải ra môi trường một lượng lớn rác thải rắn và nước thải sinh hoạt Nước ta hiện nay có 569 ñô thị lớn nhỏ với dân số khoảng hơn 20 triệu người, trong ñó có hai thành phố lớn với dân số từ 3 ñến 8 triệu người, còn lại các thị xã, thị trấn dân số ít hơn
Tình trạng ô nhiễm nước ở các ñô thị thấy rõ nhất là ở Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh [13]
Nước thải sinh hoạt ngoài chứa một lượng các chất vô cơ còn có ñặc tính chung là chứa nhiều chất hữu cơ có nguồn gốc ñộng vật và thực vật có chứa các vi khuẩn gây bệnh Khi vào môi trường nước các chất ô nhiễm hữu
cơ dễ bị các vi khuẩn và các vi sinh vật phân hủy Quá trình này sẽ làm tiêu hao và giảm lượng oxi hòa tan (DO) trong nước và có thể ảnh hưởng xấu ñến
Trang 26hệ sinh thái nước Một vấn ñề nữa còn tồn tại như một hiện tượng ñó là trong các ñô thị, thành phố lớn thường tồn tại khá nhiều bệnh viện Các chất thải, nước thải từ các bệnh viện thường mang một lượng lớn các hóa chất ñộc hại, ngoài ra trong nước thải của ngành y tế còn chứa một lượng lớn các vi khuẩn, virus gây bệnh nguy hiểm [17]
Việt Nam cho ñến nay vẫn là một nước kém phát triển, sản xuất chính của người dân vùng nông thôn phần lớn vẫn là nông nghiệp Tuy nhiên trong thời gian gần ñây, Việt Nam ñã trở thành quốc gia xuất khẩu gạo ñứng thứ hai thế giới và xuất khẩu cà phê ñứng thứ 3 thế giới Ngoài ra chúng ta ñã xuất khẩu chè, cao su, rau quả, và các sản phẩm chăn nuôi Có ñược như vậy, nền nông nghiệp nước nhà ñã phải nhờ vào nhiều biện pháp trong ñó quan trọng là phân bón và hóa chất bảo vệ thực vật Tuy vậy một ñiểm ñược coi là khá phổ biến ở nước ta ñó là tồn tại một nền nông nghiệp không an toàn Việc sử dụng bừa bãi các hóa chất bảo vệ thực vật, bón phân không cân ñối không những làm suy thoái tài nguyên ñất mà còn gây ô nhiễm nguồn nước nặng nề
Việt Nam là một nước nhiệt ñới ẩm, mưa nhiều, khả năng hòa tan phân bón cao, khả năng thấm chất ñộc vào ñất theo dòng chảy cũng cao Chính ñặc ñiểm này cùng với chế ñộ bón phân không cân ñối ñã gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng Kết quả nghiên cứu nồng ñộ nitrat, amoni trong nước nông nghiệp ở khu vực Hà Nội ñã cho thấy: nước ngầm ở Hà Nội có hàm lượng
NH4+ từ 2,9 mg/l ñến 4,9 mg/l (mùa khô) tăng lên từ 5,13 mg/l ñến 6,07 mg/l (mùa mưa) của hai năm 1991 và 1992 Khi xác ñịnh NO3- trong nước ngầm trên cánh ñồng lúa Minh Khai, Hà Nội, Trần Kông Tấu (1997) ñã thấy hàm lượng trung bình là 41,7 mg/l ñến 116,9 mg/l vượt ngưỡng cho phép [13]
Ngoài ra nguồn nước ở khu vực Hà Nội còn có sự xuất hiện của các loại vi sinh vật có hại: nước tưới ở cánh ñồng Kim Giang và Yên Hòa rất bẩn, tổng lượng coli ñạt ñến 4000 MPN/100ml Trị số COD vượt ngưỡng ở mẫu nước sông ðuống và hồ chứa Cổ Bi không phải thường xuyên mà ñột xuất ðiều ñó thể hiện một khả năng nhiễm bẩn tiềm ẩn và khả năng quản lý nguồn
Trang 27nước còn yếu kém [6] Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số vi khuẩn Fecal Coliform trung bình biến ựổi từ 1500-3500 MPN/100ml ở các vùng ven sông Tiền và sông Hậu, tăng lên tới 3800-12500 MPN/100ml ở các kênh tiêu
Bên cạnh các thông báo, kết quả kiểm tra nitrat, amoni và vi sinh vật, một khắa cạnh mới cũng ựược nhiều người ựề cập tới ựó là hiện tượng tắch ựọng kim loại nặng trong nước Nghiên cứu 28 mẫu nước tưới ở các khu vực chắnh của Thanh Hóa, các tác giả ựã thấy 1% bị nhiễm bẩn kẽm, 25% nhiễm bẩn chì, 32% nhiễm bẩn Cadimi [13] Theo kết quả nghiên cứu của Vũ Hoan, Nguyễn đình Mạnh và ctv 1998 cho biết nước tưới sông Cà Lồ và ựầm Vân Trì, Hà Nội theo dõi từ tháng 4 ựến tháng 8/1997 cho thấy: ựồng và kẽm ở dưới tiêu chuẩn nhiễm bẩn còn chì thì lại nhiễm bẩn từ 39% ựến 50% và Cadimi thì 100% số mẫu có nồng ựộ trên ngưỡng cho phép [13]
Khi môi trường nước bị nhiễm bẩn sẽ luôn ảnh hưởng ựến nuôi trồng thủy sản Các loại thủy sản chủ yếu ựều là tôm, cá chịu ảnh hưởng rất lớn bởi môi trường nước mặt Cá, tôm sống trong hồ, ao ựã dần dần tắch lũy chất ựộc kim loại nặng (ựặc biệt cá rất mẫn cảm với Pb, Cd) Hiện tượng cá chết do kim loại nặng, chất ựộc khác và ngay cả do lượng oxi hòa tan quá thấp ựã xảy
ra ở nhiều nơi Những hiện tượng lớn như cá ở hồ Yên Sở (Hà Nội) chết năm
1995, cá trên sông Nhuệ chết do ngấm chất thải từ bãi rác và do DO quá thấp năm 1994 Hiện tượng cá, tôm chết còn ựược thấy ở nhiều nơi khác như: hồ
cá Phú Nham (Phong Châu, Phú Thọ) năm 1992 do chịu ảnh hưởng của nước thải từ trên ựồng ruộng ựã gây chết 2,2 tấn cá Chương trình SIDA (Thụy điển) nghiên cứu ở hồ cá Phú Nham ựã xác ựịnh lượng chất ựộc Dioxin (trong nguồn nước thải) là 0,03 ựến 0,15 mg/kg cá tươi và từ 0,67 ựến 1,1 mg/kg tôm tươi Nghiên cứu sự tắch lũy kim loại nặng của Nguyễn Thị Kim Oanh (1995) ựã cho thấy: hàm lượng Cu, Hg, As, Pb, Zn của ựộng vật thủy sinh trong hồ cá Phú Nham cao hơn cá nuôi trong các ao hồ khác là 5, 30,
100, 200 và 20 lần theo các KLN tương ứng [13]
Trang 28Theo kết quả quan trắc môi trường tại các vùng nuôi thủy sản ở Phú Yên
do Trung tâm Giống - kỹ thuật thủy sản Phú Yên thực hiện vào cuối tháng 3/2009 Vùng nuôi tôm hùm Vũng Rô (huyện đông Hòa) bị ô nhiễm vi sinh tương ựối nặng với mật ựộ Vibrio là 24x102CFUml; ô nhiễm vi sinh, nhiễm sắt ựược phát hiện ở nhiều ựiểm thu mẫu thuộc vùng nuôi hạ lưu sông Bàn Thạch, trong ựó pH nước thấp nếu việc bón vôi không thường xuyên, kịp thời
Trung tâm Giống - Kỹ thuật thủy sản Phú Yên ựã thu mẫu phát hiện ô nhiễm vi sinh nặng ở các vùng nuôi tôm hùm lồng huyện Sông Cầu là Vũng Chào (xã Xuân Phương), Phước Lý (thị trấn Sông Cầu) Riêng mẫu nước vùng nuôi xã
An Ninh Tây (huyện Tuy An) có ựộ kiềm rất thấp (58ppm), ựây là nguyên nhân gây hiện tượng mất tảo trong ao nuôi Ngoài ra, kết quả xét nghiệm cũng cho thấy nguồn nước cầu Vạn Củi (xã An Ninh Tây) bị ô nhiễm sắt với hàm lượng vượt ngưỡng cho phép Theo Trung tâm Giống - Kỹ thuật thủy sản Phú Yên, nguồn tôm giống ựã và ựang thả nuôi hầu hết không qua kiểm dịch, xét nghiệm, vì vậy khả năng bùng phát, lây lan dịch bệnh ở các vùng nuôi rất lớn [27]
2.4 Tình trạng ô nhiễm nước và ảnh hưởng của nó tới NTTS ở ựồng
bằng sông Cửu Long
Người Việt Nam ựã ựịnh cư ở vùng ựồng bằng sông Cửu Long (đBSCL) trên 300 năm, họ ựã biết khai thác nguồn cá và nuôi cá hơn một thế kỷ nay Nghề cá ựược xem là nghề làm giàu với nhiều câu nói từ xưa:
ỘNhất canh trì, nhì canh viênỢ, hay ỘMuốn giàu nuôi cá, muốn khá nuôi heo, Ầ Ợ, v.v Cùng với sự gia tăng sản lượng lúa, ngành thủy sản cũng ựã
ựóng góp một nguồn thu khá lớn cho ựất nước: năm 2005 vùng đBSCL ựã ựóng góp 68% tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản trên toàn Quốc, ựạt trên 1,4 triệu tấn; kim ngạch xuất khẩu hơn 1,4 triệu USD Theo số liệu của Tổng cục Thống kê (2006), chỉ trong khoảng thời gian từ năm 2000 ựến
2005, diện tắch nuôi trồng thủy sản vùng đBSCL ựã tăng gấp ựôi, từ 445.300 ha lên ựến gần 700.000 ha (Bảng 2.3)
Trang 29Bảng 2.3 Diện tích nuôi trồng thủy sản ở vùng ðBSCL
Trang 30Khi ñó, tổng sản lượng thủy sản thì tăng gấp ba trong thời kỳ 2000 -
2005 (Bảng 2.4) Các năm 2006 và 2007 xuất hiện sự bùng phát hiện tượng nông dân ồ ạt bỏ lúa, phá vườn rồi ñào ao nuôi cá, nuôi tôm [3], [19]
Theo tính toán một cách tính gần ñúng, muốn có 1kg cá da trơn thành phẩm, người nông dân ñã phải sử dụng từ 3 - 5kg thức ăn, trung bình khoảng 4kg [14] Thực tế chỉ khoảng 17% thực ăn ñược cá hấp thu và phần còn lại (chừng 83%) hòa lẫn trong môi trường nước trở thành các chất hữu cơ phân hủy Như vậy, với ước tính khoảng 1 triệu tấn thủy sản trong năm 2006 thì ít nhất xỉ 3 triệu tấn chất thải hữu cơ ñã tuôn ra môi trường nước ở ðBSCL Các mẫu nước sông rạch lấy gần khu nuôi cá basa, cá tra ñều cho thấy nồng ñộ các chất ô nhiễm cao vượt mức tiêu chuẩn cho phép loại B từ vài trăm ñến vài ngàn lần, thậm chí vài chục ngàn lần Báo chí, các nhà khoa học và quản lý ñang cảnh báo tình trạng gia tăng ô nhiễm nguồn nước do sự phát triển quá mức việc nuôi cá ở các vùng nước ngọt, nuôi tôm ở các vùng nước lợ và mặn
Ô nhiễm nước là một trong các yếu tố hạn chế cho việc phát triển nông nghiệp ở vùng ðBSCL Ô nhiễm nguồn nước quá mức khả năng tự làm sạch của thiên nhiên dẫn ñến hậu quả tất yếu của dịch bệnh xảy ra cho tôm cá, ảnh hưởng nghiêm trọng ñến sức khoẻ của người dân và hủy hoại môi trường sinh thái của khu vực [19]
Các mô hình nuôi trồng thủy sản trên vùng nước ngọt tập trung ở vùng ngập lũ Tứ giác Long Xuyên, vùng ðồng Tháp Mười và vùng trũng nội ñịa thuộc Bán ñảo Cà Mau, chủ yếu ở một số tỉnh, thành như: ðồng Tháp, An Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ, Trà Vinh, Sóc Trăng, Cà Mau, Kiên Giang Các mô hình nuôi thủy sản phổ biến hiện nay là: canh tác lúa - tôm (tôm nước ngọt và tôm càng xanh), canh tác lúa - cá (cá lóc, cá rô, cá sặc, thác lác, cá chép, rô phi, mè vinh ), nuôi cá bè trên sông (cá ba sa, cá tra, cá lóc ñen, cá lóc bông ), nuôi tôm/cá ñăng quầng (cá linh, cá rô, các loại tôm tự nhiên ), nuôi cá lóc trong vèo, nuôi lươn mùa lũ, nuôi cá kết hợp VACB…
Trang 31Bảng 2.4 Sản lượng nuôi trồng thủy sản ở vùng ðBSCL (ðơn vị: Tấn) Năm
Trang 32Các mô hình nuôi trồng thủy sản trên vùng nước lợ - mặn tập trung chủ yếu ở các vùng ven biển như: Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre, Kiên Giang, Tiền Giang Các mô hình chủ yếu là: nuôi tôm quảng canh, nuôi tôm quảng canh cải tiến, nuôi tôm bán thâm canh, nuôi tôm thâm canh hay nuôi tôm công nghiệp, nuôi tôm sinh thái, luân canh lúa - tôm, luân canh lúa - cá, cá -tôm Một số ñối tượng nuôi khá ña dạng cũng ñược phát triển ở khu vực ven biển ðBSCL như nuôi cua biển, nuôi cá kèo, nuôi các loại nhuyễn thể hai mảnh vỏ (nghêu, sò huyết, hàu biển ) Các mô hình này cũng
ñã ñem ñến nhiều lợi ích kinh tế cho người nuôi Nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh, ñem lại nhiều lợi ích cho kinh tế - xã hội Tuy nhiên, quá trình phát triển ñã bộc lộ những vấn ñề bất cập cần sớm ñược giải quyết Trong ñó, bảo vệ môi trường là vấn ñề hết sức quan trọng ñể có thể phát triển nghề nuôi trồng thủy sản bền vững ở ðBSCL [26]
Ở ñồng bằng sông Cửu Long hiện nay nguồn gây ô nhiễm trực tiếp là các bè cá nuôi trên sông Theo thống kê chưa ñầy ñủ thì lượng thải do các bè
cá gây ra khoảng trên 3 triệu tấn/năm
Tập quán sinh hoạt nhất là việc thải trực tiếp các chất thải (từ người, gia súc và gia cầm) vào nguồn nước của cư dân trong vùng làm cho nước mặt ở ðBSCL có ñộ nhiễm vi sinh cao, nồng ñộ Coliform trung bình khoảng 15.000 -30.000 con/100ml
Thêm vào ñó thói quen lạm dụng phân bón, nhất là phân hóa học, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, ñã gây ảnh hưởng ñáng kể ñến chất lượng nước mặt Theo kết quả của một số nghiên cứu, thì ô nhiễm thuốc trừ sâu ở ðBSCL hiện chưa ñáng lo ngại, song cục bộ cũng ñã có những nơi ảnh hưởng ñến nuôi trồng thủy sản [40]
Mặc dù công nghiệp ở ðồng bằng Sông Cửu Long chưa phát triển mạnh, các ngành sản xuất chủ yếu như chế biến thực phẩm, dệt nhuộm, cơ khí
Trang 33ñóng tàu chỉ mới tập trung ở một số thành phố như Cần Thơ, Mỹ Tho, Long Xuyên nên ô nhiễm công nghiệp còn ở mức cục bộ Tuy nhiên, việc sử dụng hoá chất trong nông nghiệp, các chất phế thải của con người và gia súc ñang
là nguyên nhân dẫn ñến ô nhiễm sông nước tại ðBSCL
ðể sản xuất ñược 14 triệu tấn lúa trong một năm, ðBSCL phải sử dụng ñến 0,5 - 0,8 triệu tấn phân hoá học, 2000 - 3000 tấn hoá chất bảo vệ thực vật Phần lớn các nhóm hoá chất bảo vệ thực vật bà con ở ñây ñang sử dụng rộng rãi có chứa photpho hữu cơ, carbamate, pyrethroid tổng hợp Do quá lạm dụng phân hoá học nên lượng phân gia súc ít ñược sử dụng ñể bón cho cây trồng Chúng ñược thải tự do trên các kênh rạch ở ðBSCL Bên cạnh ñó, hầu hết các hộ gia ñình trong vùng không có hố xí hợp vệ sinh nên các chất thải ra cùng rác thải sinh hoạt cũng trôi theo dòng nước Tính riêng chất thải của con người ñưa vào môi trường mỗi năm ñến trên 10 triệu tấn, trong ñó phần lớn
ñổ vào nguồn nước mặt Chưa hết, hoạt ñộng giao thông thuỷ với hàng chục ngàn chiếc tàu thuyền cũng ñổ vào sông nước một lượng lớn chất thải sinh hoạt và dầu mỡ
Theo thống kê của Viện Nhiệt ñới thì tải lượng BOD5 (nhu cầu oxy sinh hoá) từ chất thải của con người và gia súc trong vùng hàng năm tạo ra lên tới 466.000 tấn Với khối lượng lớn chất hữu cơ ñưa vào sông rạch như vậy thì nguy cơ ô nhiễm nguồn nước là rất lớn Theo tiêu chuẩn Việt Nam ñối với nguồn cấp nước sinh hoạt thì lượng BOD5 cho phép là 4,0 mg/l Trong các sông lớn là sông Tiền, sông Hậu giá trị BOD5 còn thấp (khoảng 2,0 - 4,0 mg/l), song các kênh rạch trong vùng thì giá trị BOD5 thường cao hơn (5 mg/l), thậm chí có nơi lên ñến 15 mg/l
Cũng theo Viện kỹ thuật Nhiệt ðới cho biết: kết quả nghiên cứu hàng năm tại hàng trăm ñiểm trên ðBSCL vào nhiều thời ñiểm trong năm thì ô nhiễm do vi sinh có ở mọi nơi Các kênh rạch có mức ñộ ô nhiễm vi sinh
Trang 34nghiêm trọng với hàm lượng E.Coli thường cao hơn tiêu chuẩn cho phép Các kênh rạch khu vực thị trấn, thị xã, các kênh vùng “ngọt hoá” vào mùa khô, hàm lượng E.Coli thường vượt ñến 24.000 MPN/100ml Với những nguy cơ ô nhiễm nước từ các nguồn khác nhau sẽ gây ra ô nhiễm nguồn nước dùng cho nuôi trồng thủy sản của vùng ðBSCL [38]
ðồng bằng sông Cửu Long (ðBSCL) với diện tích tự nhiên là 4.060.400 ha, dân số 17,42 triệu người, là một vùng ñất ngập nước ñiển hình với chế ñộ ngập lũ, ngập mặn và hệ thống sông rạch chằng chịt, có các hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái rừng tràm và các hệ sinh thái nông nghiệp rất phát triển ðồng bằng sông Cửu Long có tiềm năng to lớn trong phát triển nuôi trồng thủy sản nước mặn, nước lợ và nước ngọt thuộc vùng hạ lưu sông
Mê Kông Tổng số diện tích có khả năng nuôi trồng thủy sản trên 1,4 triệu ha; trong ñó nuôi trồng thủy sản nước ngọt khoảng 500.000 ha, nuôi trồng thủy sản nước mặn, lợ khoảng 900.000 ha, ngoài ra có khoảng 160.000 ha diện tích
có khả năng nuôi trồng thủy sản ở các bãi triều ven biển
Trong những năm qua, nuôi trồng thủy sản ñã trở thành thế mạnh kinh
tế rất quan trọng ở ðBSCL và trong cả nước Năm 2005, diện tích nuôi trồng thủy sản toàn khu vực là 680.200 ha với sản lượng thủy sản khoảng 983.384 tấn Năm 2007 là 1.100.000 ha với sản lượng ñạt 1.268.000 tấn, bằng khoảng 70% sản lượng nuôi trồng thủy sản của cả nước Kim ngạch xuất khẩu thủy sản của của cả nước ñạt 3,792 tỷ USD, trong ñó ðBSCL ñạt trên 60,52% giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước
Các mô hình nuôi thủy sản nước lợ - mặn ở ðBSCL tập trung ở một số tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre, Tiền Giang… với các
mô hình nuôi trồng khác nhau như: nuôi tôm sinh thái, nuôi tôm tự nhiên, nuôi tôm quảng canh, quảng canh cải tiến, nuôi tôm bán thâm canh, nuôi tôm thâm canh, nuôi tôm công nghiệp, nuôi tôm luân canh lúa - tôm, luân canh lúa
Trang 35- cá Trong khi ñó, các mô hình nuôi thủy sản nước ngọt tập trung ở một số tỉnh ðồng Tháp, An Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ, Trà Vinh, Sóc Trăng với các mô hình như: canh tác lúa - tôm với canh tác lúa, nuôi tôm nước ngọt, tôm càng xanh; canh tác lúa - cá với các loại cá ñồng truyền thống cá lóc, cá rô, cá sặc, cá trê, cá thác lác, cá rô phi, cá mè Vinh; nuôi thâm canh cá tra, cá ba sa,
cá trê, cá lóc bông bằng bè trên sông và trong các ao nuôi ven sông rạch bãi bồi; nuôi tôm, cá ñăng quầng vào mùa lũ với các loại cá linh, cá rô, các loại tôm nước ngọt, nuôi lươn mùa lũ ðặc biệt, các mô hình nuôi cá VAC (vườn -
ao - chuồng) trong các hộ gia ñình, các trang trại sản xuất ở nông thôn với các loại cá ñồng và các loại cá ao hồ rất phát triển ở ðBSCL [32]
Hệ thống quan trắc môi trường nước của tỉnh Bến Tre ñã tiến hành quan trắc 41 ñiểm, với tần suất quan trắc ñịnh kỳ 1-2 lần/năm tùy thuộc vào diễn biến môi trường, với các chỉ tiêu quan trắc chủ yếu: pH, Fe (mg/l), Mn (mg/l), NH4+ (mg/l), NO3-(mg/l), BOD5 (mg/l), SS (mg/l), Coliform (MPN/100ml và
dư lượng thuốc BVTV họ Clo hữu cơ, ðộ mặn, Dầu mỡ (mg/l), Coliform
(MPN/100ml) Và nước trên các bãi biển: 3 ñiểm, pH, SS (mg/l), BOD5
(mg/l), Fe (mg/l), Mn (mg/l), NH4+ (mg/l), Dầu mỡ (mg/l), Coliform (MPN/100ml)[36]
Kết quả quan trắc môi trường nước ñầu mùa khô năm 2005 và ñầu mùa mưa năm 2006, cho thấy: môi trường nước mặt, với chất lượng nước thượng nguồn, vào ñầu mùa mưa năm nay hàm lượng các chất ô nhiễm ở thượng nguồn có sự ảnh hưởng ít hơn so với ñầu mùa khô năm trước, tuy nhiên có một vài thông số ño ñược vượt hơn tiêu chuẩn nước mặt: thông số BOD5 vượt 1,25 lần, vi sinh trong nước vượt 2,43 lần so với TCVN 5942:1995
(Cột A) Trong khi ñó, Chất lượng nước trên các nhánh sông, kênh rạch
chính, lần quan trắc ñầu mùa năm nay hàm lượng các chất ô nhiễm trong nước thấp hơn so với lần quan trắc ñầu mùa mưa năm trước (trừ thông số
Trang 36BOD5 cao hơn 1,83 lần); So với TCVN 5942:1995, giá trị trung bình các thông số: pH, nitrat, amoniac, mangan, còn nằm trong giới hạn cho phép của tiêu chuẩn, chất rắn lơ lửng vượt 5,62 lần, BOD5 vượt 2,075 lần, sắt vượt 1,25 lần, vi sinh trong nước vượt 12,82 lần [36]
Kết quả phân tích chất lượng nước vùng hạ lưu, cho thấy: hàm lượng các chất ô nhiễm trong nước lần quan trắc ñầu mùa năm nay thấp hơn so với lần quan trắc ñầu mùa mưa năm trước (trừ thông số BOD5 và vi sinh); So với TCVN 5942:1995, giá trị trung bình các thông số: pH, BOD5, amoniac, còn nằm trong giới hạn cho phép của tiêu chuẩn, mangan vượt hơn 1,05 lần, chất rắn lơ lửng vượt 3,31 lần, sắt vượt 9,56 lần, vi sinh trong nước vượt 153,5 lần, váng dầu mỡ trong nước có biểu hiện nhưng ở hàm lượng thấp (0,001 - 0,225
mg/l) Chất lượng nước của các nhánh sông kênh rạch chảy qua thị xã và các thị trấn, ñầu mùa mưa năm nay hàm lượng các chất ô nhiễm có sự khác biệt
so với các lần quan trắc trước: thông số pH, nitrat, mangan, sắt nằm trong giới hạn TCVN 5942:1995 (cột A); chất rắn lơ lửng vượt hơn tiêu chuẩn 2,9 lần, thấp hơn so với lần phân tích ñầu mùa khô năm trước 2,03 lần và cao hơn so giá trị cùng mùa của năm 2005 1,08 lần; BOD5 vượt hơn với tiêu chuẩn 2,35 lần, vượt hơn mùa khô năm trước gần 1,5 lần và vượt hơn 2,7 lần so với lần quan trắc cùng mùa năm trước; vi sinh vượt hơn 15,93 lần so với tiêu chuẩn, thấp hơn so ñầu mùa khô năm trước 2,89 lần và thấp hơn so với cùng mùa năm trước là 1,17 lần [36]
Bên cạnh chất lượng môi trường nước mặt ñang có xu hướng ngày càng trở nên xấu ñi, môi trường nước biển (nước trên các bãi biển) ñã và ñang diễn biến phức tạp và có nguy cơ ô nhiễm Giá trị ñầu mùa mưa năm nay pH, amoniac, BOD5 nằm trong giới hạn cho phép của tiêu chuẩn TCVN 5943:1995 (cột Bãi tắm); chất rắn lơ lửng: vượt hơn tiêu chuẩn 11,89 lần, cao hơn so với ñầu mùa mưa năm trước 1,97 lần tuy nhiên thấp hơn so với ñầu
Trang 37mùa khô năm trước 3,64 lần; sắt vượt hơn 18 lần so với tiêu chuẩn nhưng thấp hơn 2,16 lần so với kết quả vào cuối mùa mưa ựầu mùa khô; mangan vượt hơn tiêu chuẩn 1,73 lần so với tiêu chuẩn; dầu mỡ: thể hiện trên các bãi biển 0,016 mg/l, tuy nhiên thấp hơn so với 02 lần trước và ựều vượt hơn giới hạn của tiêu chuẩn; Coliform: dao ựộng từ 16.000 ựến 24.000 MPN/100ml, so với lần quan trắc trước, giá trị trung bình thấp hơn so với ựầu mùa khô và cao hơn so với ựầu mùa mưa năm trước [36]
Một trong những hoạt ựộng quan trắc môi trường nước khá quan trọng, góp phần quyết ựịnh sự ựột phá thành công trong việc phát triển nhanh và bền vững ngành kinh tế thủy sản, ựặc biệt là nghề nuôi trồng thủy sản đó là quan trắc chất lượng nước vùng nuôi trồng thuỷ sản, lần quan trắc ựầu mùa mưa năm 2006, hàm lượng các chất ô nhiễm so với tiêu chuẩn TCVN 5943:1995 của cột nước nuôi trồng thuỷ sản: thông số pH, amoniac nằm trong giới hạn của tiêu chuẩn; chất rắn lơ lửng: vượt hơn tiêu chuẩn 2,24 lần, thấp hơn so với giá trị phân tắch vào ựầu mùa khô năm trước 1,81 lần; tổng sắt vượt hơn tiêu chuẩn 8,28 lần, tuy nhiên thấp hơn so với giá trị ựầu mùa khô năm 2005 là 2,07 lần; BOD5 : vượt hơn tiêu chuẩn 1,017 lần, cao hơn so với ựầu mùa khô năm trước 1,22 lần; mangan vượt hơn tiêu chuẩn 1,85 lần và cao hơn so với ựầu mùa khô năm trước 1,32 lần; dầu mỡ trong nước: thể hiện trong nước từ 0,0002 ựến 0,044 mg/l và thấp hơn khoảng 1,2 lần so với kết quả phân tắch vào ựầu mùa khô năm trước; vi sinh: vượt từ 68,55 lần so với tiêu chuẩn và thấp hơn so với lần quan trắc trước khoảng 3,5 lần [36]
để hoạt ựộng quan trắc chất lượng môi trường nói chung và ựặc biệt là quan trắc môi trường nước nói riêng ựạt hiệu và ngày càng thiết thực hơn trong việc phục vụ nhu cầu và phát triển bền vững kinh tế - xã hội, ựảm bảo sức khỏe của cộng ựồng dân cư và hội ựủ khả năng ựể vươn ra biển lớn Thiết nghĩ, các cấp ngành liên quan cần tăng cường ựầu tư hơn nữa năng lực quan
Trang 38trắc và cảnh báo môi trường cả về vật lực và nhân lực chắc chắn sẽ ñáp ứng ñược nhu cầu ñang ñặt ra [36]
Tuy nhiên, việc tiếp cận các phương thức nuôi trồng mới với mật ñộ cao, năng suất lớn ñã làm gia tăng nhanh chóng việc sử dụng nhiều năng lượng, vật
tư, chế phẩm hóa học, sinh học và chi phí cho nuôi trồng thủy sản và ñặc biệt
là gây nên các tác ñộng môi trường ngày càng tăng, tạo ra sự mất cân bằng của
hệ thống sinh thái tự nhiên, gây tổn thất sinh thái ảnh hưởng không những ñến môi trường mà còn ñến kinh tế trong cán cân giữa nuôi trồng, chế biến và thị trường tiêu dùng, xuất khẩu của ngành thủy sản Một ñiều hết sức quan trọng
là, với các mô hình nuôi thâm canh càng cao, quy mô công nghiệp càng lớn thì lượng chất thải và mức ñộ nguy hại càng nhiều và vấn ñề mất cân bằng sinh thái càng trở nên trầm trọng mà biểu hiện là sự tổn thất do ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường và sự cố môi trường làm tôm, cá chết và dịch bệnh hoành hành thời gian qua trong khu vực nuôi trồng thủy sản ở ðBSCL
ðBSCL là vùng có nhiều ñất phèn cư trú, với khoảng 1,5 triệu ha tập trung ở các vùng ðồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, Bán ñảo Cà Mau ,
là các vùng có tiềm năng lớn trong phát triển nuôi trồng thủy sản nước mặn,
lợ và nước ngọt Trong quá trình ñào ñắp ñất ñai ñể phát triển nuôi trồng thủy sản, môi trường ñất bị xáo trộn diễn ra quá trình lan truyền phèn rất mạnh làm giảm pH môi trường nước và ñất, gây ô nhiễm môi trường Tại một số tỉnh như Kiên Giang, Cà Mau, ðồng Tháp quá trình lan truyền phèn ñã tác ñộng ñến môi trường nước và ñất làm cho tôm, cá chết hàng loạt Thực tế ñã có những vùng ñất nuôi tôm do ô nhiễm lan truyền quá mức ñã phải bỏ hoang
Vấn ñề xử lý nguồn bùn thải, chất thải nuôi trồng thủy sản là vấn ñề rất bức xúc hiện nay ở khu vực ðBSCL Tác ñộng của các chất thải nuôi trồng thủy sản tập trung từ nguồn thức ăn dư thừa thối rữa bị phân hủy, các chất tồn
dư sử dụng như: hóa chất và thuốc kháng sinh, vôi và các loại khoáng chất
Trang 39Diatomit, Dolomit, lưu huỳnh lắng ñọng, các chất ñộc hại có trong ñất phèn
Fe2+, Fe3+, Al3+, SO42-, các thành phần ñộc hại chứa trong bùn thải như H2S, NH3 là sản phẩm của quá trình phân hủy yếm khí ở bùn ñáy ao nuôi tạo thành ðặc biệt, nguồn bùn phù sa lắng ñọng dưới ñáy các ao nuôi trồng thủy sản với chiều dày từ 0,1 - 0,3m thải ra hàng năm trong quá trình vệ sinh và nạo vét tác ñộng xấu ñến môi trường xung quanh Trong thức ăn nuôi trồng thủy sản chỉ có khoảng 17% trọng lượng khô của thức ăn ñược chuyển thành sinh khối, phần còn lại ñược thải ra môi trường dưới dạng phân và chất hữu
cơ dư thừa thối rữa Chất thải ao nuôi công nghiệp có thể chứa ñến trên 10% nitrat và 22% là các chất hữu cơ khác, là nguồn có thể gây ô nhiễm môi trường và dịch bệnh thủy sản Nguồn nước thải và bùn thải trong nuôi tôm công nghiệp và nuôi cá tra, cá ba sa có chứa hàm lượng cao các chất hữu cơ, chất dinh dưỡng, chất rắn lơ lửng, amoniac, Coliform là nguồn gây ô nhiễm môi trường khá nghiêm trọng cần phải ñược xử lý triệt ñể nhằm phát triển bền vững nghề nuôi trồng thủy sản ở ðBSCL
Quá trình mất cân bằng sinh thái trong nuôi trồng thủy sản ñã dẫn ñến dịch bệnh dẫn ñến cá tra, cá ba sa chết hàng loạt ở một số tỉnh, thành phố: An Giang, ðồng Tháp, Hậu Giang, Cần Thơ gây thiệt hại lớn cho người nuôi Nhiều hộ nông dân, trang trại, doanh nghiệp quy mô lớn ñã phải lâm vào cảnh ñiêu ñứng do nợ nần, một số nơi diện tích nuôi thủy sản phải bỏ hoang
do bị ô nhiễm môi trường và dịch bệnh phát sinh mà chưa khắc phục ñược Môi trường nước trên sông Tiền, sông Hậu và các kênh rạch vùng ngọt hóa ñã
có dấu hiệu nhiễm bẩn hữu cơ, các chất vô cơ và các vi sinh trong nước như: Coliform, ñộ ñục, amoniac, N-NH3, H2S, SO4, Fe ảnh hưởng ñến chất lượng nước trên sông rạch, tác ñộng ñến môi trường và sức khỏe của nhân dân trong khu vực ðBSCL [32]
Môi trường ñất, môi trường nước và các hệ sinh thái trong phát triển
Trang 40nuôi trồng thủy sản bị biến ựổi gây suy thoái, ô nhiễm môi trường đBSCL là vùng tập trung nhiều các loại ựất phèn tiềm tàng (pyrite FeS2) và phèn hoạt ựộng (jarosite (K/Na.Fe3/Al3(SO4)2(OH)6) Khi bị ựào ựắp ao nuôi thủy sản, ựào kênh rạch cấp và thoát nước, vệ sinh ao nuôi sau mùa thu hoạch ựã làm cho tầng phèn tiềm ẩn bị tác ựộng bởi quá trình ôxy hóa sẽ diễn ra quá trình lan truyền phèn rất mãnh liệt làm giảm ựộ pH môi trường nước, gây ô nhiễm môi trường và dịch bệnh tôm, cá trong nuôi trồng [32]
Các nguồn thải ra sông rạch ựã tác ựộng làm cho môi trường nước bị biến ựổi Chất lượng nước trong các ao nuôi thủy sản gồm cá nước ngọt, nuôi tôm ven biển ựặc biệt là trong các mô hình nuôi công nghiệp ựã cho thấy dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ (BOD5, COD, nitơ, phốt pho cao hơn tiêu chuẩn cho phép), có sự xuất hiện các thành phần ựộc hại như H2S, NH4+, và chỉ số vi sinh, Coliform, ựã cho thấy nguồn nước thải này cần phải ựược xử lý triệt ựể trước lúc thải ra sông rạch Số liệu quan trắc môi trường nước trên sông rạch khu vực đBSCL cũng ựã cảnh báo nguy cơ ô nhiễm môi trường nước sông rạch ở vùng đBSCL là rất lớn Số liệu quan trắc môi trường nước ở tỉnh An Giang trên sông Tiền có: BOD5 là 5 mg/l, SS là 400 mg/l, Coliform là 14.103 MPN/100ml ở Vĩnh Long Sông Tiền BOD5 là 6,5 mg/l, SS là 54,17 mg/l, amoniac là 0,46 mg/l và Coliform là 8.167 MPN/100ml, Sông Hậu có BOD5
là 5,5 mg/l, SS là 91,5 mg/l, amoniac 0,21 mg/l, Coliform là 55.483MPN/100ml ở Long An sông Vàm Cỏ đông có BOD5 là 10 mg/l, amoniac là 0,364 mg/l, SS là 16 mg/l, sắt là 0,461 mg/l, ở sông Vàm Cỏ Tây
có BOD5 là 6 mg/l, amoniac là 0,096 mg/l, SS là 18 mg/l, sắt là 0,447 mg/l Ở Hậu Giang trên kênh xáng chợ Phụng Hiệp có BOD5 là 13 mg/l, N-NH3 là 0,322 mg/l, SS là 120 mg/l, Sắt 0,930 mg/l và Coliform là 24.105MPN/100ml Ở Cà Mau nước trên các cửa sông thông ra biển cũng có dấu hiệu nhiễm bẩn hữu cơ và phèn lan truyền, trên Cửa Gành Hào có BOD5
là 7 mg/l, N-NH3 là 6,2 mg/l, SS là 683 mg/l, sắt 3,25 mg/l và Coliform là