1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ẢNH HƯỞNG của các dự án đầu tư đến TÌNH HÌNH QUẢN lý sử DỤNG đất NÔNG NGHIỆP HUYỆN CHƯƠNG mỹ, THÀNH PHỐ hà nội

193 558 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh hưởng của các dự án đầu tư đến tình hình quản lý sử dụng đất nông nghiệp huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội
Tác giả Phạm Văn Vân
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Thanh Trà, PGS.TS. Vũ Thị Bình
Trường học Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Quản lý đất đai
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 193
Dung lượng 4,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.1.1 Cơ sở lý luận về quản lý sử dụng đất nông nghiệp 6 1.1.3 Mối quan hệ giữa các dự án đầu tư và quản lý sử dụng đất đai 25 1.2 Tình hình nghiên cứu về công tác chuyển đổi mục đích đấ

Trang 1

PHẠM VĂN VÂN

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ ĐẾN TÌNH HÌNH QUẢN LÝ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP

HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành : Quản lý đất đai

Mã số : 62 85 01 03

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Nguyễn Thanh Trà

2 PGS.TS Vũ Thị Bình

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận án “Ảnh hưởng của các dự án đầu tư đến tình hình quản lý sử dụng đất nông nghiệp huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội”

là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận án này là trung thực, khách quan và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ trong quá trình thực hiện luận án này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận án đều được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận án

Phạm Văn Vân

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành công trình này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của Lãnh đạo Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Chương Mỹ - thành phố Hà Nội, Viện Đào tạo Sau đại học (nay là Ban quản lý đào tạo), Khoa Tài nguyên và Môi trường, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội; tập thể và cá nhân những nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực trong và ngoài ngành Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng đến:

PGS.TS Nguyễn Thanh Trà Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội và PGS.TS Vũ Thị Bình nguyên giảng viên Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, những người Thầy, người Cô hướng dẫn hết mực nhiệt tình, làm việc với tinh thần chu đáo trách nhiệm cao, đã chỉ dạy giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành luận án

Tập thể lãnh đạo và các thầy, cô của Khoa Tài nguyên và Môi trường và Viện Đào tạo Sau đại học (nay là Ban quản lý đào tạo), Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội

Các cán bộ, công chức Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Chương

Mỹ - thành phố Hà Nội đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình điều tra số liệu phục vụ đề tài

Gia đình, bạn bè, đồng nghiệp… những người đã giúp đỡ, đóng góp ý kiến và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận án này

Tác giả luận án

Phạm Văn Vân

Trang 4

1.1.1 Cơ sở lý luận về quản lý sử dụng đất nông nghiệp 6

1.1.3 Mối quan hệ giữa các dự án đầu tư và quản lý sử dụng đất đai 25 1.2 Tình hình nghiên cứu về công tác chuyển đổi mục đích đất nông

1.2.1 Tình hình nghiên cứu về công tác chuyển đổi đất nông nghiệp phục

1.2.2 Các nghiên cứu về công tác chuyển đổi đất nông nghiệp phục vụ

1.3 Một số bài học kinh nghiệm về công tác quản lý đất đai và thu hồi

đất đai thực hiện các dự án đầu tư đối với Việt Nam 40

Trang 5

1.3.2 Công tác thu hồi đất phục vụ các dự án đầu tư 42 1.3.3 Tăng cường vai trò của cơ quan nhà nước trong trường hợp chủ đầu

tư tự thỏa thuận với người dân để có đất thực hiện dự án đầu tư 44

2.1.2 Tình hình quản lý và sử dụng đất huyện Chương Mỹ giai đoạn

2.1.3 Thực trạng một số dự án đầu tư trên địa bàn huyện Chương Mỹ,

2.1.4 Ảnh hưởng của các dự án đầu tư đến quản lý sử dụng đất nông

2.1.5 Ảnh hưởng của các dự án đầu tư đến môi trường trên địa bàn

2.1.6 Ảnh hưởng của các dự án đầu tư đến sinh kế của người dân trên địa

2.1.7 Đề xuất các giải pháp trong công tác quản lý sử dụng đất nông

2.2.2 Phương pháp điều tra, khảo sát, thu thập số liệu 49

2.2.5 Phương pháp lấy mẫu phân tích các chỉ tiêu môi trường 52

3.1.1 Điều kiện tự nhiên của huyện Chương Mỹ - thành phố Hà Nội 55 3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội 59

Trang 6

3.1.3 Phát triển kinh tế - xã hội và áp lực đối với đất đai 61 3.2 Tình hình quản lý và sử dụng đất trên địa bàn huyện Chương Mỹ

3.3 Thực trạng một số dự án đầu tư trên địa bàn huyện Chương Mỹ,

3.3.1 Một số dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông giai đoạn

3.3.2 Các dự án khu công nghiệp và điểm công nghiệp 78 3.4 Ảnh hưởng của các dự án đầu tư đến quản lý sử dụng đất nông nghiệp 81 3.4.1 Các dự án đầu tư và hiện trạng hình sử dụng đất nông nghiệp huyện

3.4.2 Ảnh hưởng của các dự án đầu tư đến quy hoạch sử dụng đất huyện

3.4.3 Ảnh hưởng của các dự án đầu tư đến chuyển đổi cơ cấu cây trồng

vật nuôi của huyện Chương Mỹ giai đoạn 2000 - 2010 96 3.4.4 Ảnh hưởng của các dự án đầu tư đến công tác quản lý nhà nước đối

với đất nông nghiệp trên địa bàn huyện 102 3.5 Ảnh hưởng của các dự án đầu tư đến môi trường trên địa bàn huyện

3.5.1 Nhận định của người dân về tác động của dự án tới môi trường 106 3.5.2 Ảnh hưởng của các dự án đầu tư đến môi trường xung quanh 107 3.5.3 Ảnh hưởng của các dự án đầu tư đối với môi trường nước tại huyện

Trang 7

3.6 Ảnh hưởng của các dự án đầu tư đến kinh tế - xã hội và sinh kế của

người dân huyện Chương Mỹ giai đoạn 2000 - 2010 116 3.6.1 Ảnh hưởng của các dự án đến tình hình phát triển kinh tế xã hội

chung của huyện Chương Mỹ giai đoạn 2000 - 2010 116 3.6.2 Ảnh hưởng của các dự án đến sinh kế của người dân khi bị thu hồi đất 119 3.7 Đề xuất các giải pháp trong công tác quản lý sử dụng đất nông

nghiệp và các dự án đầu tư trên địa bàn huyện Chương Mỹ 130 3.7.1 Nhóm giải pháp phục vụ công tác quản lý sử dụng đất nông nghiệp

trên địa bàn huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội 130 3.7.2 Nhóm giải pháp đối với các dự án đầu tư trên địa bàn huyện

Danh mục các công trình đã công bố có liên quan đến luận án 146

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BCHTW Đảng Ban chấp hành trung ương Đảng

BNN&PTNT Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn CNH-HĐH Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá

Công ty TNHH Công ty trách nhiệm hữu hạn

FAO Tổ chức Lương thực và nông nghiệp

Trang 9

3.16 Biến động đất nông nghiệp theo quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2000

3.17 Biến động đất nông nghiệp theo quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2000

Trang 10

3.18 Diễn biến diện tích năng suất một số cây trồng chính của huyện trong

3.19 Ảnh hưởng của các dự án đến một số vật nuôi chính của huyện giai

3.20 Các vụ khiếu nại tố cáo khi thực hiện các dự án giao thông và các khu

3.21 Kết quả đánh giá chất lượng môi trường của các hộ dân sau khi bị thu

3.22 Kết quả phân tích chất lượng không khí một số vị trí xung quanh các

3.23 Kết quả phân tích một số kim loại nặng trong đất nông nghiệp của một

3.24 Kết quả phân tích một số chỉ tiêu vật lý và vi sinh môi trường nước

mặt của một số mẫu điển hình (giá trị trung bình năm) 110 3.25 Kết quả một số chỉ tiêu hóa học và kim loại nặng trong nước mặt của

3.26 Kết quả phân tích chỉ tiêu (Vật lý, Oxy, vi sinh, hóa học) của một số

3.27 Kết quả phân tích chỉ tiêu kim loại nặng của một số mẫu nước ngầm

3.28 Kết quả phân tích một số chỉ tiêu chất lượng môi trường nước thải

công nghiệp khu vực nghiên cứu có trong tiêu chuẩn Việt Nam 115 3.29 Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội trong giai đoạn 2000 - 2010 118 3.30 Thay đổi lao động và cơ cấu ngành nghề của người dân trước và sau

khi bị thu hồi đất phục vụ cho các dự án đầu tư 120 3.31 Thay đổi việc làm của người dân trước và sau khi bị thu hồi đất phục

3.32 Phương thức sử dụng tiền bồi thường hỗ trợ của người dân 125

Trang 11

3.33 Đánh giá về thay đổi kinh tế của các hộ sau khi bị thu hồi đất so

3.34 Tiếp cận cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội của các hộ dân sau khi bị thu

3.35 Tình hình an ninh, trật tự xã hội trong khu dân cư sau khi bị thu hồi

Trang 12

DANH MỤC HÌNH

2.1 Cơ cấu phân bố đất nông nghiệp trên thế giới 14 2.2 Cơ cấu phân bố đất sản xuất nông nghiệp theo vùng của Việt Nam 2010 15 3.1 Sơ đồ vị trí địa lý huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội 56 3.2 Biểu đồ cơ cấu các ngành kinh tế của huyện Chương Mỹ, thành phố

3.3 Cơ cấu các loại đất huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội năm 2000 63 3.4 Cơ cấu các loại đất huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội năm 2005 63 3.5 Cơ cấu các loại đất huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội năm 2010 64 3.6 Biến động đất đai huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội giai đoạn 2000 - 2010 65 3.7 Cơ cấu các loại đất huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội theo đối tượng

3.8 Biến động trung bình/năm một số loại đất nông nghiệp trong giai

3.9 Biến động trung bình/năm một số loại đất nông nghiệp chính theo

quy hoạch sử dụng đất trong giai đoạn 2000 - 2010 91 3.10 Biến động trung bình/năm một số loại đất nông nghiệp chính theo

3.11 Biến động diện tích trung bình/năm một số loại đất nông nghiệp chính

theo hiện trạng, quy hoạch và các dự án trong giai đoạn 2000 – 2010 95 3.12 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và các dự án đầu tư qua các năm 118

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai nằm trong nhóm tài nguyên hạn chế của Việt Nam, nhưng lại là điều kiện không thể thiếu được trong mọi quá trình phát triển, việc sử dụng thật tốt nguồn tài nguyên quốc gia này không chỉ quyết định tương lai của nền kinh tế đất nước mà còn là sự đảm bảo cho mục tiêu ổn định chính trị và phát triển xã hội Đối với đất sản xuất nông nghiệp, quan điểm tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật đất đai của Đảng được ghi trong Nghị quyết số 26 - NQ/TW ngày 12

tháng 3 năm 2003 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) là: “… Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là nguồn nội lực và nguồn vốn to lớn của một đất nước; quyền sử dụng đất được coi như hàng hóa đặc biệt” (BCHTW Đảng, 2003) Tại Điều 18, Chương II của Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định: “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng

ổn định lâu dài” (Quốc hội, 1992) Như vậy, Đất đai được coi là yếu tố vật chất

đầu tiên, cơ bản của quá trình sản xuất xã hội nói chung và hoạt động của các dự án đầu tư nói riêng Trong vòng hai mươi năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng đề xướng (từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI), nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung đang chuyển những bước vững chắc sang vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Nhà nước đã 5 lần ban hành luật đất đai (Luật đất 1987, Luật đất đai 1993, Luật Đất đai 2003)

Trong quá trình phát triển đất nước, báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng

khẳng định “ huy động và sử dụng tất cả mọi nguồn lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; giữ vững

ổn định chính trị - xã hội; sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo

Trang 14

nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại” (Nông Đức Mạnh, 2006)

Chúng ta đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nên việc chuyển đổi mục đích sử dụng từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp, hay nói cách khác là việc thu hồi đất nông nghiệp để thực hiện các dự án đầu tư ở nước ta diễn ra mạnh mẽ Hiện nay, ở Việt Nam đã có trên 200 các khu công nghiệp lớn, gần 300 các cụm công nghiệp và hàng nghìn các khu đô thị (Trung tâm Phát triển Quỹ đất thành phố Hà Nội, 2009), nơi đây tập trung một lượng lớn các lực lượng lao động trực tiếp và đóng góp vào ngân sách hàng tỉ USD cho sự phát triển chung của đất nước Theo báo cáo không đầy đủ của 49 tỉnh, thành phố, từ 2004 đến 2009, đã thu hồi gần 750.000 ha đất để thực hiện hơn 29.000 dự án đầu tư Trong tổng số đất thu hồi trên có hơn 80% là đất nông nghiệp Hiện có khoảng 50% diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi nằm trong các vùng kinh tế trọng điểm, nơi đất đai màu mỡ cho 2 vụ lúa/năm (Mai Thành, 2009) Trong 5 năm (2006 - 2010) tổng vốn đầu tư được huy động đưa vào phát triển kinh tế - xã hội theo giá hiện hành đạt khoảng 3.062 nghìn tỉ đồng (tăng 14,4% so với kế hoạch) bằng 42,7% GDP, gấp hơn 2,5 lần so với 5 năm trước đó

(Nguyễn Sinh Cúc, 1998)

Trong giai đoạn vừa qua, các địa phương có tốc độ phát triển nhanh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh, cũng là nơi có diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi nhiều, như: Tiền Giang (20.300 ha), Đồng Nai (19.700 ha), Bình Dương (16.600 ha), Hà Nội (7.700 ha), Vĩnh Phúc (5.500 ha) Theo tính toán, do bị thu hồi đất, diện tích trồng lúa sẽ thu hẹp, vì vậy có thể làm giảm sản lượng lúa hằng năm của cả nước tới trên 1 triệu tấn (Mai Thành, 2009)

Hiện nay, cả nước có 12 triệu hộ gia đình, nhưng chỉ có 9,4 triệu ha đất sản xuất nông nghiệp, bình quân mỗi hộ chỉ có 0,7 - 0,8 ha, mỗi lao động có 0,3

ha và mỗi nhân khẩu có 0,15 ha Ở đồng bằng Bắc Bộ con số này còn thấp hơn Càng ít đất người nông dân càng khó có điều kiện tích lũy để đào tạo nghề và

Trang 15

chuyển dịch cơ cấu lao động (Mai Thành, 2009) Trên thực tế, sau khi bị thu hồi đất, có tới 67% số lao động nông nghiệp vẫn giữ nguyên nghề cũ, 13% chuyển sang nghề mới và có tới 25% -30% không có việc làm hoặc không có việc làm ổn định Thực trạng này là nguyên nhân chính của 53% số dân bị thu hồi đất có thu nhập giảm so với trước Trung bình mỗi hộ bị thu hồi đất có 1,5 lao động rơi vào tình trạng không có việc làm, mỗi héc-ta đất sản xuất nông nghiệp bị thu hồi có tới 13 lao động mất việc phải tìm cách chuyển đổi nghề nghiệp (cá biệt ở địa phương như Hà Nội có tới gần 20 người lao động bị mất việc) (Mai Thành, 2009)

Huyện Chương Mỹ là một huyện ngoại thành của thành phố Hà Nội với có diện tích tự nhiên là: 23204,92 ha Huyện nằm trong quy hoạch chuỗi đô thị Miếu Môn - Xuân Mai - Hòa Lạc - Sơn Tây, cách trung tâm thủ đô Hà Nội 20 km về phía Tây Nam đi qua quận Hà Đông Huyện có đường quốc lộ 6A, đường Hồ Chí Minh và các đường sông (sông Bùi và sông Đáy) chạy qua Chương Mỹ là huyện nằm giữa tam giác du lịch Hà Nội - Ba Vì - Chùa Hương Huyện Chương Mỹ nói riêng, cũng như ở Việt Nam nói chung đang có nhu cầu phát triển mạnh các dự

án, nhưng vấn đề quản lý sử dụng đất đai, quản lý môi trường không được giải quyết tốt sẽ làm cho sự phát triển kinh tế xã hội kém hiệu quả, kém bền vững

Nghiên cứu khoa học và thực tiễn về tác động của các dự án đầu tư đến quản lý và sử dụng đất nông nghiệp là vấn đề cần thiết và cấp thiết hiện nay Đặc biệt, với những nghiên cứu sâu về quản lý, sử dụng đất nông nghiệp còn chưa được đề cập ở mức cần thiết Những điều này cho thấy tính thời sự, tính cấp thiết của việc nghiên cứu vấn đề này, để có thể áp dụng ngay vào quy hoạch sử dụng đất, quản lý sử dụng đất, quản lý môi trường ở huyện nói riêng và ở Việt Nam nói chung Vì vậy, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Ảnh hưởng của các dự án đầu tư đến tình hình quản lý sử dụng đất nông nghiệp huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu ảnh hưởng của các dự án đầu tư đến tình hình quản lý sử dụng

Trang 16

đất nông nghiệp và đề xuất một số giải pháp chủ yếu góp phần hoàn thiện công tác quản lý sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Chương Mỹ, thành phố

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Việc nghiên cứu những ảnh hưởng của các dự án đầu tư đến tình hình quản lý sử dụng đất nông nghiệp nhằm đưa ra một số giải pháp phục vụ công tác quản lý đất nông nghiệp và các dự án đầu tư trên địa bàn huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội

Nghiên cứu này còn giúp huyện Chương Mỹ, Nhà nước tổ chức lại việc

sử dụng đất nông nghiệp, hạn chế các quy hoạch chồng chéo, quy hoạch treo, chống lãng phí quỹ đất nông nghiệp, huỷ hoại đất đai làm vỡ cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm và ảnh hưởng đến môi trường

4 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dự án đường giao thông và khu công nghiệp có sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Chương Mỹ

- Về thời gian: Tập trung nghiên cứu trên địa bàn trong giai đoạn từ 2000

Trang 17

quản lý sử dụng đất nông nghiệp và những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản

lý sử dụng đất nông nghiệp

Trong phạm vi nghiên cứu này không đi sâu nghiên cứu về bề vững kinh

tế và xã hội

5 Những đóng góp mới của luận án

Nghiên cứu nhằm đóng góp vào cơ sở lý luận và thực tiễn vào chính sách quản lý và sử dụng đất nông nghiệp ở huyện Chương Mỹ nói riêng và thành phố

Hà Nội nói chung

Xác định được các yếu tố ảnh hưởng của các dự án đầu tư đến công tác quản

lý sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Chương Mỹ - thành phố Hà Nội

Trang 18

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở lý luận của đề tài

1.1.1 Cơ sở lý luận về quản lý sử dụng đất nông nghiệp

1.1.1.1 Một số vấn đề cơ bản về quản lý sử dụng đất nông nghiệp

a Một số khái niệm về đât, đất đai và đất nông nghiệp

* Đất: Đất là nguồn tài nguyên quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho con người, là nơi họ sinh ra, sống và lớn lên Nhà Thổ nhưỡng lỗi lạc người Nga,

(Docutraiep) cho rằng “Đất là vật thể thiên nhiên cấu tạo độc lập, lâu đời do kết quả của quá trình hoạt động tổng hợp của 5 yếu tố hình thành bao gồm: đá, thực vật, động vật, khí hậu, địa hình, thời gian” (Trần Thị Minh Châu, 2007) Về sau, một số

học giả khác đã bổ sung thêm các yếu tố như nước ngầm và đặc biệt là vai trò của con người để hoàn chỉnh khái niệm nêu trên Học giả người Anh lại đưa ra khái niệm

về đất như sau: “Đất là lớp mặt tơi xốp của lục địa có khả năng tạo ra sản phẩm từ cây trồng” (De kimpe E.R, BP Warkentin, 1998) Một số tác giả khác lại chỉ ra rằng: “Đất là tư liệu sản xuất cơ bản và phổ biến quý báu nhất của sản xuất nông nghiệp” (Trần Thị Minh Châu, 2007), là “điều kiện không thể thiếu cho sự tồn tại

và sinh sống của loài người Trong phạm vi nghiên cứu về sử dụng đất, đất đai được nhìn nhận là một nhân tố sinh thái, bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng sử dụng đất (FAO, 1990)

Theo quan niệm của các nhà thổ nhưỡng và quy hoạch Việt Nam cho rằng

“Đất là phần trên mặt của vỏ trái đất mà ở đó cây cối có thể mọc được” (Đặng Kim Chi, 2003), và đất đai được hiểu theo nghĩa rộng: “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các yếu tố cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt bao gồm: khí hậu, thời tiết, thổ nhưỡng, địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lũng đất, động thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại” (Trần Thị Minh Châu, 2007)

Trang 19

* Đất đai:

Đất đai là một vùng lãnh thổ nhất định (vùng đất, khoanh đất, vạt đất, mảnh đất, miếng đất ) có vị trí, hình thể, diện tích với những tính chất tự nhiên hoặc mới tạo thành (đặc tính, thổ nhưỡng, điều kiện địa hình, điạ chất, thuỷ văn, chế độ nước, nhiệt độ, ánh sáng, thảm thực vật, các tính chất lý hoá tính ) tạo ra điều kiện nhất định cho việc sử dụng theo các mục đích khác nhau Như vậy, để

sử dụng đất cần phải làm quy hoạch – đây là quá trình nghiên cứu, lao động sáng tạo nhằm phân định ý nghĩa, mục đích của từng phần lãnh thổ và đề xuất một trật

tự sử dụng đất nhất định (Lê Đình Thắng, Trần Tú Cường, 2007)

Về bản chất: Đất đai là đối tượng của mối quan hệ sản xuất trong lĩnh vực sử dụng đất (gọi là mối quan hệ đất đai) và tổ chức sử dụng đất như “tư liệu sản xuất đặc biệt” gắn chặt với phát triển kinh tế - xã hội (Viện Điều tra quy hoạch, 1998)

* Đất nông nghiệp: Đối với khái niệm đất nông nghiệp tại Khoản 1, Điều

13, luật đất đai 2003 quy định (Quốc hội, 2004): đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng Đất nông nghiệp bao gồm các loại đất như: đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa, đất đồng cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác; đất trồng cây lâu năm; đất rừng sản xuất; đất rừng phòng hộ; đất rừng đặc dụng; đất nuôi trồng thuỷ sản; đất làm muối và đất nông nghiệp khác

b Sử dụng đất nông nghiệp

Sử dụng đất nông nghiệp là hành vi lấy đất kết hợp với sức lao động, vốn,

để sản xuất nông nghiệp tạo ra lợi ích, tùy thuộc vào mức độ phát triển kinh tế xã hội, ý thức của loài người về môi trường sinh thái được nâng cao, phạm vi sử dụng đất nông nghiệp được mở rộng ra các mặt sản xuất, sinh hoạt, sinh thái

* Đặc điểm sử dụng đất nông nghiệp

- Sử dụng đất nông nghiệp đặc biệt coi trọng việc bảo vệ độ phì nhiêu của đất: Nghề trồng trọt gắn liền với việc sử dụng đất nông nghiệp, cây trồng trên đất

Trang 20

làm tiêu hao một lượng lớn chất hữu cơ trong đất Vì vậy duy trì độ phì nhiêu trong đất là có lợi cho sản xuất

- Sử dụng đất nông nghiệp theo các vùng khác nhau: Do việc sử dụng đất nông nghiệp chịu sự chi phối của môi trường tự nhiên và xu thế phát triển của kinh tế xã hội, nên sự khác biệt theo khu vực là khá rõ ràng

- Hiệu quả kinh tế của quy mô sử dụng đất nông nghiệp không lớn: Nếu

so sánh với công nghiệp về quy mô trên một đơn vị diện tích đất đai thì hiệu quả kinh tế không cao như trong công nghiệp

* Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp

- Đất nông nghiệp phải được sử dụng đầy đủ, hợp lý: Điều này có nghĩa là toàn bộ diện tích đất cần được sử dụng hết vào sản xuất, với việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với đặc điểm của từng loại đất nhằm nâng cao năng suất cây

trồng, vật nuôi đồng thời gìn giữ bảo vệ và nâng cao độ phì của đất

- Đất nông nghiệp phải được sử dụng đạt hiệu quả cao: Đây là kết quả của việc sử dụng đầy đủ, hợp lý đất đai, việc xác định hiệu quả sử dụng đất thông qua tính toán các chỉ tiêu khác nhau Muốn nâng cao hiệu quả sử dụng đất phải thực hiện tốt, đồng bộ các biện pháp kỹ thuật và chính sách kinh tế - xã hội trên cơ sở đảm bảo an toàn về lương thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và nông lâm sản cho xuất khẩu (Nguyễn Hoàng Đan, 2003)

- Đất nông nghiệp cần phải được quản lý và sử dụng một cách bền vững: Sự bền vững ở đây là sự bền vững cả về số lượng và chất lượng, có nghĩa là đất đai phải được bảo tồn không chỉ đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà còn cho thế hệ tương lai Sự bền vững của đất đai gắn liền với điều kiện sinh thái, môi trường Vì vậy, các phương thức sử dụng đất nông lâm nghiệp phải gắn liền với

việc bảo vệ môi trường đất, đáp ứng được lợi ích trước mắt và lâu dài

* Mục tiêu sử dụng đất nông nghiệp

- Sử dụng đất nông nghiệp với mục tiêu kinh tế: Các đối tượng sử dụng đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng luôn đặt ra mục tiêu làm ra nhiều sản phẩm hơn, đạt lợi nhuận cao hơn Nếu thấy việc đó không có lợi, họ có thể

Trang 21

thay đổi cây trồng để sản xuất có hiệu quả hơn hoặc nếu việc canh tác không có lợi, họ có thể chuyển quyền sử dụng phần đất của họ cho người khác có khả năng sử dụng đất mang lại hiệu quả hơn Trong khi đó cộng đồng luôn có những mối quan tâm kinh tế lâu dài trong sử dụng đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng, trước hết là đảm bảo các mục tiêu kinh tế và cần thiết cho cả cộng đồng Như vậy, các mối quan tâm kinh tế nhất thời của người sử dụng đất cụ thể

có mâu thuẫn với mối quan tâm lâu dài của cả cộng đồng Các mục tiêu kinh tế trong việc sử dụng đất đai được xem là hợp lý không có ý nghĩa thoả mãn được nguyện vọng của từng chủ sử dụng đất biệt lập với toàn thể cộng đồng, mà là quá trình xem xét, cân nhắc để sử dụng đất hài hoà về mặt lợi ích của toàn thể cộng đồng và các chủ sử dụng đất cụ thể

- Sử dụng đất nông nghiệp với mục tiêu xã hội: Sử dụng đất đai nói chung

và đất nông nghiệp nói riêng trước tiên là liên quan tới những người sống trên mảnh đất đó, họ có những nhu cầu thiết yếu của mình và đó là mục tiêu rõ rệt của bất cứ một Nhà nước nào nhằm tạo ra hay duy trì các điều kiện mà có tác dụng thoả mãn những nhu cầu thiết yếu này Việc tạo ra công ăn việc làm trong quá trình phát triển bền vững là phương pháp hữu hiệu nhằm một lúc đạt 3 mục tiêu: xã hội, kinh tế và môi trường Những nhu cầu thiết yếu này bao gồm những

cơ sở vật chất công cộng hoặc phương tiện phục vụ cho sức khoẻ, giáo dục, định

cư, thu nhập…

- Sử dụng đất nông nghiệp với mục tiêu môi trường: Đối với bất kì vùng đất nào trong sử dụng đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng đều gắn với mục tiêu môi trường thì điều quan trọng là phải phân biệt được mục tiêu chung

và mục tiêu riêng Chính phủ các nước đều đưa ra tiêu chuẩn và mục tiêu môi trường Việc nhìn nhận môi trường không chỉ có ý nghĩa là một hệ thống các tiêu chuẩn về hoá học thuần tuý Tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên rừng, khí hậu và cảnh quan thiên nhiên…là các tài sản có giá trị cần được bảo vệ và sử dụng lâu dài

Trang 22

- Sử dụng đất nông nghiệp phải kết hợp vừa khai thác sử dụng theo chiều rộng với vừa đi vào sử dụng theo chiều sâu và hướng đi lâu dài là chiều sâu: Quá trình phát triển xã hội, cũng là quá trình diễn biến việc sử dụng đất đai Theo mức gia tăng của dân số và sự phát triển của kinh tế, khoa học kĩ thuật và văn hoá, khuynh hướng của chiều sâu của việc sử dụng đất ngày một nâng cao Tuy nhiên quá độ từ kinh doanh quảng canh sang kinh doanh thâm canh cao trong sử dụng đất là một tiến trình lịch sử lâu dài Muốn nâng cao sức sản xuất và sức tải của một đơn vị diện tích, nhất thiết phải không ngừng nâng mức đầu tư về lao động, vốn liếng, thường xuyên cải tiến kĩ thuật và quản lý

- Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp phải phát triển theo khuynh hướng kết hợp giữa đa dạng hoá và chuyên môn hoá: Theo đà phát triển của khoa học kĩ thuật và kinh tế của xã hội, cơ cấu sử dụng đất cũng dần chuyển sang xu thế đa dạng hoá và chuyên môn hoá Trước những tiến bộ của khoa học kĩ thuật, khả năng kiểm soát tự nhiên của con người gia tăng, có thể dựa vào các biện pháp sử dụng để cải tạo để nâng cao sức sản xuất của đất đai nhằm thoả mãn các nhu cầu của xã hội Trước yêu cầu phát triển vùng sản xuất nông nghiệp đòi hỏi phải có quy mô lớn, tập trung nhân tố thúc đẩy sự chuyên môn hoá khu vực với mức độ khác nhau về hình thức và quy mô, từ đó hình thành những khu vực chuyên môn hoá sử dụng đất tương ứng khác nhau

- Sử dụng đất nông nghiệp phải phát triển theo xu hướng xã hội hoá: Xã hội hoá sử dụng đất là sản phẩm tất yếu của sự phát triển xã hội hoá sản xuất, nó được quyết bởi yêu cầu khách quan của xã hội hoá sản xuất, cho nên xã hội hoá

sử dụng đất là xu thế tất yếu Sự phát triển của khoa học, kĩ thuật và xã hội dẫn tới việc xã hội hoá sản xuất, một vùng đất sản xuất tập trung một loại sản phẩm chính là tiền đề cho nơi khác sản xuất tập trung sản phẩm chính khác, nhằm phát huy lợi thế so sánh của mỗi vùng

- Sử dụng đất nông nghiệp phải đảm bảo an ninh lương thực quốc gia: Việt Nam là một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất châu Á cùng với

Trang 23

đó là tốc độ phát triển dân số tương đối nhanh Hiện Việt Nam có dân số khoảng gần 90 triệu người, dự kiến đến 2020 dân số sẽ tăng lên 100 triệu người Do vậy, những thách thức mà Việt Nam phải đối mặt trong việc đảm bảo nhu cầu ăn uống, đảm bảo dinh dưỡng cho thế hệ sau là rất lớn Uớc tính mỗi năm nước ta giảm khoảng 20 nghìn héc ta đất trồng lúa Nguyên nhân của tình trạng này là quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa đang lấy đi một phần không nhỏ diện tích đất nông nghiệp, đặc biệt là diện tích đất trồng lúa nước, đã làm cho diện tích canh tác trên đầu người của Việt nam xếp vào hạng thấp nhất thế giới

Như vậy: Để đảm bảo ANLT cần đầu tư cho sản xuất nông nghiệp sẵn có, phân phối, phải có các chính sách minh bạch…Đất đai dành cho nông nghiệp phải được quản lý chặt chẽ, không nên để tình trạng xây dựng các khu công nghiệp - khu chế xuất, các cơ sở giải trí, thể thao, khu dân cư, một cách tràn lan và không theo quy hoạch Bên cạnh đó chúng ta phải tạo ra nguồn lương thực lớn trên một diện tích đất canh tác không thay đổi và có nguy cơ bị thu hẹp Đây là vấn đề không riêng gì Việt Nam mà là vấn đề chung của các quốc gia trên toàn thế giới

Đảng và Chính phủ ta đã thấy những vấn đề trên và đang có những giải pháp cụ thể và khả thi để khắc phục những khó khăn trong quá trình phát triển nông nghiệp, cũng như công tác quản lý và sử dụng quỹ đất nông nghiệp

1.1.1.2 Vai trò của đất đai trong phát triển kinh tế - xã hội

Đất đai giữ vai trò quyết định tới sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, nó là cơ sở tự nhiên, là tiền đề cho mọi quá trình sản xuất nhưng vai trò của đất đai đối với mỗi ngành sản xuất lại có tầm quan trọng khác nhau Bên

cạnh đó “Lao động chỉ là cha của cải vật chất, còn đất là mẹ” (Trần Thị Minh

Châu, 2007) Trong sản xuất nông lâm - nghiệp, đất đai có ý nghĩa vô cùng quan trọng, điều này được thể hiện rõ nét qua các đặc điểm sau đây:

- Đất đai được coi là tư liệu sản xuất chủ yếu trong sản xuất nông lâm nghiệp, bởi vì nó vừa là đối tượng lao động vừa là công cụ lao động trong quá trình sản xuất

Trang 24

- Đất đai là loại tư liệu sản xuất không thể thay thế: bởi vì đất đai là sản phẩm của tự nhiên, nếu biết sử dụng hợp lý, sức sản xuất của đất đai ngày càng tăng lên Điều này đòi hỏi trong quá trình sử dụng đất phải đứng trên quan điểm bồi bổ, bảo vệ, làm tăng độ màu mỡ của đất thông qua những hoạt động có ý nghĩa của con người

- Đất đai là tài nguyên bị hạn chế bởi ranh giới đất liền và bề mặt địa cầu (De kimpe E.R, BP Warkentin, 1998) Đặc điểm này ảnh hưởng đến khả năng

mở rộng quy mô sản xuất nông - lâm nghiệp và sức ép về lao động và việc làm,

do nhu cầu nông sản ngày càng tăng trong khi diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp Việc khai khẩn đất hoang hóa đưa vào hoạt động sản xuất nông nghiệp đã làm cho quỹ đất nông nghiệp tăng lên Tuy nhiên, đất đưa vào hoạt động sản xuất nông nghiệp là đất hoang hóa, nằm trong quỹ đất chưa sử dụng Vì vậy, cần phải đầu tư lớn sức người và sức của Trong điều kiện nguồn lực có hạn, cần phải tính toán kỹ để đầu tư cho công tác này thực sự có hiệu quả

- Đất đai có vị trí cố định và chất lượng không đồng đều giữa các vùng, các miền (Symth A Jand Dumaski, 1993) Mỗi vùng đất luôn gắn với các điều kiện tự nhiên (thổ nhưỡng, thời tiết, khí hậu, nước,…) điều kiện kinh tế - xã hội (dân số, lao động, giao thông, thị trường,…) và có chất lượng đất khác nhau

Do vậy, việc sử dụng đất đai phải gắn liền với việc xác định cơ cấu cây trồng, vật nuôi cho phù hợp để nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao trên cơ sở nắm chắc điều kiện của từng vùng lãnh thổ

- Đất đai được coi là một hàng hóa đặc biệt, một tài sản (quyền tài sản) của người chủ sử dụng Vì vậy, người sử dụng đất sẽ có các quyền năng nhất định do pháp luật của mỗi nước trao cho, trong quá trình tập trung, tích tụ và chuyển hướng sử dụng đất

Như vậy, đất đai là yếu tố hết sức quan trọng và tích cực của quá trình sản xuất nông nghiệp Thực tế cho thấy, thông qua quá trình phát triển của xã hội

Trang 25

loài người, sự hình thành và phát triển của mọi nền văn minh vật chất - văn minh tinh thần, các thành tựu vật chất, văn hoá khoa học đều được xây dựng trên nền tảng cơ bản đó là đất và sử dụng đất, đặc biệt là đất nông lâm nghiệp

1.1.1.3 Quỹ đất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam

a Quỹ đất nông nghiệp trên thế giới

Trên thế giới, mặc dù nền sản xuất nông nghiệp của các nước phát triển ở trình độ không giống nhau nhưng tầm quan trọng của nông nghiệp đối với đời sống con người thì quốc gia nào cũng phải thừa nhận Tuy nhiên, khi dân số tăng nhanh thì nhu cầu lương thực, thực phẩm là một sức ép rất lớn

Để đảm bảo an ninh lương thực, loài người phải tăng cường khai hoang để

có thêm đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp Thêm nữa, đất đai lại bị khai thác triệt để, không có biện pháp ổn định độ phì nhiêu của đất Đất bị mất chất dinh dưỡng, hữu cơ do bị xói mòn, nhiễm mặn…

Ước tính có tới 15% tổng diện tích đất toàn cầu bị thoái hoá do nhân tác (Rosemary Morrow, 1994) Diện tích đất có khả năng nông nghiệp của thế giới khoảng 3,3 tỷ ha (chiếm 22% tổng diện tích đất liền), trong đó, đất đang sử dụng khoảng 1,5 tỷ ha Như vậy, còn 54% đất có khả năng trồng trọt chưa được khai thác (Vũ Ngọc Tuyên, 1994)

Qui mô đất nông nghiệp được phân bố như sau: châu Mỹ chiếm 35%, châu Á chiếm 26%, châu Âu chiếm 13%, châu Phi chiếm 20%, châu Đại Dương chiếm 6% (Quyền Đình Hà, 1993) được thể hiện qua hình 2.1

Bình quân đất nông nghiệp trên đầu người trên toàn thế giới là 0,41 ha Trong đó ở Mỹ 0,2 ha, ở Bungari 0,7 ha, ở Nhật Bản 0,0650 ha Theo báo cáo của UNDP năm 1995 ở khu vực Đông Nam Á bình quân đất canh tác trên đầu người của các nước như sau: Indonesia 0,12 ha; Malaysia 0,27 ha; Philipin 0,13

ha; Thái Lan 0,42 ha; Việt Nam 0,1 ha (Quyền Đình Hà, 1993)

Trang 26

Hình 2.1 Cơ cấu phân bố đất nông nghiệp trên thế giới

b Quỹ đất nông nghiệp của Việt Nam

Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên là 33,105 triệu ha, trong đó đất nông nghiệp có 24,357 triệu ha, diện tích đất canh tác là 9,599 triệu ha (Cục thống kê, 2010) Trong đó:

Khu vực đồng bằng sông Hồng chỉ chiếm 5,16% trong tổng số diện tích đất nông nghiệp của cả nước

Trung du và miền núi phía Bắc chiếm 27,29% trong tổng số diện tích đất nông nghiệp của cả nước

Bắc trung bộ và Duyên hải miền trung chiếm 28,41% trong tổng số diện tích đất nông nghiệp của cả nước

Tây Nguyên chiếm 19,50% trong tổng số diện tích đất nông nghiệp của cả nước Đồng bằng sông Cửu long chiếm tới 11,83% trong tổng số diện tích đất nông nghiệp của cả nước

Theo Nguyễn Đình Bồng (2002), đất sản xuất nông nghiệp của chúng ta chỉ chiếm 28,99% diện tích tự nhiên và gần tương đương với diện tích này là diện tích đất chưa sử dụng So với một số nước trên thế giới, nước ta có tỷ lệ đất nông nghiệp rất thấp

Nguồn: (Quyền Đình Hà, 1993)

Trang 27

Diện tích đất sản xuất nông nghiệp của Việt Nam phân theo các vùng như sau (Cục thống kê, 2010): Đồng bằng sông Hồng là 8,28% tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp trong cả nước; Trung du và miền núi phía Bắc là 14,86% tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp trong cả nước; Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung là 18,40% tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp trong cả nước; Tây Nguyên là 17,37% tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp trong cả nước; Đông Nam Bộ là 14,52% tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp trong cả nước; Đồng bằng sông Cửu Long là 26,57% tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp trong cả nước (hình 2.2)

Nguồn: (Cục thống kê, 2010)

Hình 2.2 Cơ cấu phân bố đất sản xuất nông nghiệp theo vùng

của Việt Nam 2010

Do vậy, để phát triển một nền nông nghiệp đủ sức cung cấp lương thực thực phẩm cho toàn dân và có một phần xuất khẩu cần biết cách khai thác hợp lý đất đai, tiết kiệm và sử dụng đất có hiệu quả

c Tình hình chuyển đổi đất nông nghiệp ở một số địa phương phục vụ cho các dự án đầu tư

Theo báo cáo của Hội Nông dân Việt Nam, trung bình cả nước đã sử dụng khoảng 72000 ha/năm đất nông nghiệp để đầu tư dự án hoặc chuyển sang mục đích sử dụng khác

Trang 28

Tỉnh Hưng Yên: Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý UBND tỉnh Hưng Yên

chuyển mục đích sử dụng hơn 350 ha đất để xây dựng hạ tầng giao thông Theo

đó, 10 dự án, công trình trên gồm xây tuyến đường bộ nối cao tốc Hà Nội - Hải Phòng với cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình; cải tạo nâng cấp đường 207B và kéo dài; đường vành đai IV qua địa phận Hưng Yên; xây dựng, cải tạo, chỉnh trang

hạ tầng kỹ thuật khu vực thôn Văn Nhuế

Tỉnh Vĩnh Phúc: Chính phủ đã đồng ý UBND tỉnh Vĩnh Phúc chuyển mục

đích sử dụng 273,49 ha đất để thực hiện 10 dự án, công trình cấp bách bao gồm: Đường cao tốc Hà Nội - Lào Cai; các tuyến giao thông huyện Tam Đảo; Trường Đại học Dầu khí; Trụ sở cơ quan hành chính huyện Sông Lô

Tỉnh Nam Định: Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý UBND tỉnh Nam Định

chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho 18 dự án, công trình trên địa bàn tỉnh: Quốc lộ 21 mới Nam Định – Hà Nam; Mở rộng nâng cấp đường 486 (đường 56 cũ); Dự án cải tạo nâng cấp một số đoạn đê kè xung yếu; Dự án kiên cố hóa kênh Đại Tám; Dự án Cải tạo nâng cấp kênh Bình Hải 1; Dự án cải tạo, nâng cấp tuyến đê tả sông Đáy; Xây mới trường THCS Ngô Đồng; Xây dựng trụ sở Trung tâm y tế dự phòng; Khu tái định cư Tây 38A;…

Thành phố Hà Nội: Là một trong những thành phố lớn của đất nước, quá

trình đô thị hoá nhanh, trong giai đoạn 2000 - 2005, Hà Nội đã có 5200 ha đất nông nghiệp được chuyển đổi sang loại hình đất phi nông nghiệp, kéo theo 20 vạn lao động bị ảnh hưởng Cũng như nhiều địa phương khác trên cả nước, quá trình thu hồi và bồi thường đất nông nghiệp ở Hà Nội không tránh khỏi nhiều bất cập Theo thống kê của Sở lao động thương binh và xã hội thành phố Hà Nội, cùng với việc mở rộng các KCN, tốc độ đô thị hóa nhanh ở các quận, huyện ven thành phố như Từ Liêm, Gia Lâm, Đông Anh, Thanh Trì, Hoàng Mai, Tây Hồ (Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố Hà Nội, 2009), bình quân mỗi năm thành phố có khoảng 13000 - 15000 lao động không có việc, phần lớn lại chưa qua đào tạo nghề Theo điều tra của nhóm nghiên cứu trường Đại học Kinh tế quốc dân, cứ

Trang 29

1000 hộ gia đình bị thu hồi đất thì có 190 người tự bỏ tiền ra để học nghề, nhưng chỉ có 90 người trong số đó được tuyển dụng (Nguyễn Sinh Cúc, 2008)

Ở vùng ven đô, những bất cập xảy ra còn đáng báo động hơn việc thu hồi đất nông nghiệp vùng nội đô Vì rất nhiều người dân vùng ven đô sống nhờ vào nghề nông, khi bị thu hồi đất nông nghiệp, việc chuyển đổi nghề nghiệp đối với họ rất khó khăn Ở nhiều nơi thuộc vùng ven đô và ngoại đô, việc bồi thường đất còn được thực hiện không đúng quy định, thậm chí thu hồi đất nhưng không kèm theo bồi thường đất hoặc chỉ bồi thường với giá rất thấp, dẫn đến bất công bằng xã hội

Phát triển công nghiệp và đô thị là một tiến trình tất yếu trên toàn thế giới và thu hồi đất nông nghiệp là cách thức thường được thực hiện để xây khu công nghiệp và đô thị Quá trình thu hồi đất đặt ra rất nhiều vấn đề kinh tế - xã hội cần được giải quyết kịp thời và thỏa đáng Để có thể hài hòa được lợi ích của xã hội, tập thể và cá nhân, mỗi quốc gia có cách làm riêng của mình

Tuy nhiên, thực tế thời gian qua cũng cho thấy, chất lượng dự báo nhu cầu quỹ đất cho phát triển các ngành, lĩnh vực, cho các dự án đầu tư để đưa vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở các địa phương chưa tính toán khoa học, sát với chiến lược phát triển và nhu cầu Chưa xác định rõ được trách nhiệm của từng cấp trong việc quản lý, tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

đã được duyệt trước

Theo Xuân Dũng (2011): Trong giai đoạn vừa qua, mặc dù đất lúa nước đạt 103,55% (vượt chỉ tiêu), nhưng trong 10 năm (2000 – 2010) đã sử dụng 270 nghìn ha chuyển cho các mục đích sử dụng khác Việc lấy đất chuyên trồng lúa nước có năng suất cao để phát triển công nghiệp, đô thị trong khi có thể bố trí trên các loại đất khác vẫn xảy ra ở một số địa phương Đất khu công nghiệp đạt 100%, nhưng đầu tư còn dàn trải, một số khu công nghiệp triển khai quá chậm…

Với quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015), Chính phủ đề ra ba mục tiêu cơ bản đó là: đáp ứng yêu cầu

Trang 30

phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội (giao thông, thủy lợi, văn hóa, y tế, giáo dục, thể dục thể thao…), công nghiệp và đô thị để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước bảo đảm an ninh, quốc phòng và an sinh xã hội; đảm bảo an ninh lương thực quốc gia; bảo vệ môi trường sinh thái, phát triển bền vững, thích ứng biến đổi khí hậu

1.1.2 Cơ sở lý luận về dự án đầu tư

1.1.2.1 Một số vấn đề cơ bản về dự án đầu tư

a Đầu tư

Theo luật đầu tư năm 2005 “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư” (Quốc hội, 2005).

Người ta thường quan niệm đầu tư là việc bỏ vốn hôm nay để mong thu được lợi nhuận trong tương lai Tuy nhiên tương lai chứa đầy các yếu tố bất định

mà ta khó biết trước được Vì vậy, khi đề cập đến khía cạnh rủi ro, bất trắc trong việc đầu tư thì các nhà kinh tế quan niệm rằng: đầu tư là đánh bạc với tương lai Còn khi đề cập đến yếu tố thời gian trong đầu tư thì các nhà kinh tế lại quan niệm rằng: Đầu tư là để dành tiêu dùng hiện tại và kì vọng một tiêu dùng lớn hơn trong tương lai Tuy ở mỗi góc độ khác nhau người ta có thể đưa ra các quan niệm khác nhau về đầu tư, nhưng một quan niệm hoàn chỉnh về đầu tư phải bao gồm các đặc trưng sau đây:

- Công việc đầu tư phải bỏ vốn ban đầu

- Đầu tư luôn gắn liền với rủi ro và mạo hiểm, do vậy các nhà đầu tư phải nhìn nhận trước những khó khăn này để có biện pháp phòng ngừa

- Mục tiêu của đầu tư là hiệu quả Nhưng ở những vị trí khác nhau, người

ta cũng nhìn nhận vấn đề hiệu quả không giống nhau Với các doanh nghiệp thường thiên về hiệu quả kinh tế, tối đa hoá lợi nhuận Còn đối với Nhà nước lại muốn hiệu quả kinh tế phải gắn liền với lợi ích xã hội Trong nhiều trường hợp lợi ích xã hội được đặt lên hàng đầu

Trang 31

b Dự án đầu tư

Theo luật đầu tư năm 2005: Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định” (Quốc hội, 2005) Tuy nhiên vấn đề dự án đầu tư

còn có thể được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau như về mặt hình thức, về góc độ quản lý, về góc độ kế hoạch hóa, về mặt nội dung

Về mặt hình thức: Dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu được trình bày một cách chi tiết, có hệ thống các hoạt động, chi phí một cách kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện các mục tiêu nhất định trong tương lai

Về góc độ quản lý: Dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính trong một thời gian dài

Về góc độ kế hoạch hoá: Dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế - xã hội, làm tiền đề cho các quyết định đầu tư và tài trợ

Về mặt nội dung: Dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau được kế hoạch hoá nhằm đạt các mục tiêu đã định bằng việc tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định, thông qua các nguồn lực xác định

c Phân loại dự án đầu tư

Trong thực tế, các dự án đầu tư rất đa dạng và phong phú trong nghiên cứu ở đây chúng ta có thể phân loại các dự án dựa trên các căn cứ sau (Nguyễn Bạch Nguyệt, 2008)

Căn cứ vào người khởi xướng: Dự án cá nhân, dự án tập thể, dự án quốc gia, dự án quốc tế

Căn cứ vào tính chất hoạt động dự án: Dự án sản xuất, dự án dịch vụ, thương mại, dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, dự án dịch vụ xã hội

Căn cứ vào địa phận quốc gia: Dự án đầu tư xuất khẩu, dự án đầu tư nội địa Căn cứ vào mức độ chính xác của dự án: Dự án tiền khả thi, dự án khả thi Căn cứ theo ngành hoạt động: Dự án công nghiệp, dự án nông nghiệp, dự

Trang 32

án xây dựng v v

Căn cứ vào mức độ tương quan lẫn nhau: Dự án độc lập, dự án loại trừ lẫn nhau (nếu chấp nhận dự án này thì buộc phải từ chối các dự án còn lại.)

Căn cứ theo hình thức đầu tư: Dự án đầu tư trong nước, dự án liên doanh,

dự án 100% vốn nước ngoài Căn cứ theo quy mô và tính chất quan trọng của dự

án và luật đầu tư 2005 chia thành các nhóm dự án như sau (Chính Phủ, 2009):

- Dự án nhóm A, là những dự án cần thông qua hội đồng thẩm định của nhà nước sau đó trình Thủ tướng Chính phủ quyết định

- Dự án nhóm B, là những dự án được Bộ kế hoạch - Đầu tư cùng Chủ tịch hội đồng thẩm định nhà nước phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan xem xét và thẩm định

- Dự án nhóm C, là những dự án còn lại do Bộ kế hoạch - Đầu tư cùng phối hợp với các Bộ, ngành, các đơn vị liên quan để xem xét và quyết định

d Chu kỳ của một dự án đầu tư

Chu kỳ của một dự án đầu tư là các bước hoặc các giai đoạn mà một dự án phải trải qua, bắt đầu từ khi một dự án mới chỉ là ý đồ đến khi dự án hoàn thành

và kết thúc hoạt động Theo Vũ Công Tuấn (2007) quá trình hoàn thành và thực hiện dự án đầu tư theo trải qua 3 giai đoạn: Chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và vận hành các kết quả đầu tư

Giai đoạn chuẩn bị đầu tư, vấn đề chất lượng, vấn đề chính xác của các kết quả nghiên cứu, tính toán và dự đoán là rất quan trọng

Giai đoạn thực hiện đầu tư, trong giai đoạn hai, vấn đề thời gian là quan trọng hơn cả, ở giai đoạn này có từ 85% đến 90% vốn đầu tư của dự án được chi

ra và nằm đọng trong suốt các năm thực hiện đầu tư Thời gian thực hiện đầu tư càng kéo dài, vốn ứ đọng càng nhiều, tổn thất lại càng lớn

Giai đoạn vận hành các kết quả đầu tư, vận hành các kết quả của giai đoạn thực hiện đầu tư (là giai đoạn sản xuất, kinh doanh, trao đổi dịch vụ) nhằm đạt được các mục tiêu của dự án Nếu làm tốt các công việc của giai đoạn chuẩn bị đầu tư sẽ

Trang 33

tạo thuận lợi cho quá trình tổ chức, quản lý và vận hành các kết quả đầu tư

e Các yếu tố liên quan đến dự án đầu tư

- Tình hình kinh tế xã hội liên quan đến dự án đầu tư: Theo tác giả Nguyễn Bạch Nguyệt (2008), điều kiện địa lý tự nhiên (Địa hình, khí hậu, địa chất…) có liên quan đến việc lựa chọn thực hiện và phát huy hiệu quả của các dự

án này Điều kiện về dân số và lao động có liên quan đến nhu cầu và khuynh hướng tiêu thụ sản phẩm, đến nguồn lao động cung cấp cho dự án Tình hình chính trị, môi trường pháp lý, các luật lệ và các chính sách ưu tiên phát triển của đất nước tạo điều kiện thuận lợi hoặc khó khăn cho dự án đầu tư Tình hình phát triển kinh tế xã hội của đất nước của địa phương, tình hình phát triển kinh doanh của ngành có ảnh hưởng đến quá trình thực hiện và vận hành dự án đầu tư Tình hình ngoại hối, dự trữ ngoại tệ, cán cân thanh toán và nợ nần có ảnh hưởng đến các dự án phải xuất nhập khẩu hàng hoá

- Yếu tố thị trường: Thị trường cung cầu sản phẩm hoặc dịch vụ hiện tại của dự án, tiềm năng phát triển của thị trường này trong tương lai Đánh giá mức

độ cạnh tranh, khả năng chiếm lĩnh thị trường của sản phẩm so với các sản phẩm cùng loại có sẵn hoặc các sản phẩm ra đời sau này Các chính sách tiếp thị và phân phối cần thiết để có thể giúp việc tiêu thụ sản phẩm của dự án Ước tính giá bán và chất lượng sản phẩm Dự kiến thị trường thay thế khi cần thiết

- Phương diện kỹ thuật: Phân tích kỹ thuật là tiền đề cho việc tiến hành phân tích kinh tế tài chính của các dự án đầu tư Mục đích chính việc nghiên cứu

kỹ thuật của một dự án là nhằm xác định kỹ thuật công nghệ và quy trình sản xuất, địa điểm nhu cầu để sản xuất một cách tối ưu và phù hợp nhất với những điều kiện hiện có mà vẫn đảm bảo về các yêu cầu chất lượng và số lượng sản phẩm (Nguyễn Bạch Nguyệt, 2008) Tuy nhiên tuỳ theo từng dự án cụ thể mà vấn đề kĩ thuật nào cần được nghiên cứu, xác định và nhấn mạnh hơn vấn đề kia

Dự án càng lớn thì các vấn đề càng phức tạp hơn, cần phải xử lý nhiều thông tin hơn và tất cả đều tương quan lẫn nhau, cũng như thứ tự ưu tiên các vấn đề này

Trang 34

trong khi nghiên cứu tính khả thi của chúng

- Yếu tố tài chính: Việc phân tích phương diện tài chính của dự án nhằm các mục đích: Xem xét nhu cầu và sự đảm bảo các nguồn lực tài chính cho việc thực hiện có hiệu quả các dự án đầu tư Xem xét những kết quả và hiệu quả hoạt động của dự án trên góc độ hạch toán kinh tế mà dự án sẽ tạo ra (Nguyễn Bạch Nguyệt, 2008) Theo tác giả Vũ Công Tuấn (2007), để phân tích đánh giá một chủ thể, hoặc đối tượng nào đó, người ta phải áp dụng các phương pháp, các tiêu chuẩn cụ thể nhằm rút ra những kết luận xác đáng Có nhiều cách khác nhau để đánh giá phương diện tài chính của một dự án đầu tư, nhưng hiện nay người ta thường sử dụng những phương pháp cơ bản sau:

+ Phân tích đánh giá bằng phương pháp giá trị hiện tại

+ Phân tích đánh giá bằng phương pháp tỉ lệ hoàn vốn nội bộ

+ Phân tích đánh giá bằng phương pháp điều hoà vốn

+ Phân tích đánh giá bằng phương pháp pháp thời gian hoàn vốn

- Yếu tố hiệu quả kinh tế - xã hội: Trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó có hoạt động đầu tư phải được xem xét từ hai góc độ, người đầu tư và nền kinh tế Ở góc độ người đầu tư, mục đích có thể nhiều, nhưng quan trọng hơn cả thường là lợi nhuận Khả năng sinh lợi của dự án là thước đo chủ yếu quyết định sự chấp nhận một việc làm mạo hiểm của nhà đầu tư Khả năng sinh lợi càng cao thì sức hấp dẫn các nhà đầu tư càng lớn (Nguyễn Bạch Nguyệt, 2008)

- Yếu tố đất đai và các dự án đầu tư: Khác với các ngành và lĩnh vực khác, đất đai trong các dự án đầu tư được quan tâm dưới góc độ là địa điểm bố trí dự

án, đây là một trong những chìa khóa để thực hiện thành công các dự án đầu tư Đối với các dự án đầu tư không phải nông nghiệp người ta ít quan tâm đến các tính chất vật lý, hóa học, sinh học, độ màu màu mỡ của đất đai, mà quan tâm nhiều đến vị trí vị trí đất đai Địa điềm bố trí dự án được đánh giá thông qua các khía cạnh như: địa điểm bố trí dự án gây khó khăn hav thuận lợi cho việc cung

Trang 35

cấp các nguyên, nhiên vật liệu đầu vào và tiêu thụ sản phẩm; Kết cấu hạ tầng (điện, cấp và thoát nước, nhà ở, thông tin liên lạc, giao thông, ); Môi trường tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu vực xây dựng dự án đầu tư

1.1.2.2 Vai trò của các dự án đầu tư trong phát triển kinh tế - xã hội

a Vai trò của dự án đầu tư và phát triển

Theo Vũ Công Tuấn (2007): Khả năng phát triển của một quốc gia được hình thành bởi các nguồn lực về: vốn, công nghệ, lao động và tài nguyên thiên nhiên Đó là hệ thống các mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau rất chặt chẽ Quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá đã làm thay đổi về phương thức sản xuất cũ

và đã có sự chuyên môn hoá cao hơn trong sản xuất, tạo ra sự phát triển các khu dân cư tập trung

b Vai trò của dự án đầu tư trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa

- Dự án đầu tư là phương tiện để chuyển dịch và phát triển cơ cấu kinh tế: Cơ cấu kinh tế là cơ cấu tổng thể các yếu tố cấu thành nền kinh tế, có quan hệ chặt chẽ với nhau, được biểu hiện cả về mặt chất và mặt lượng, tùy theo mục tiêu của nền kinh tế Chuyển dịch cơ cấu kinh tế được hiểu là sự thay đổi tỷ trọng của các

bộ phận cấu thành nền kinh tế Sự chuyển dịch kinh tế xảy ra khi có sự phát triển không đồng đều về quy mô tốc độ giữa các ngành và các vùng Những cơ cấu kinh tế chủ yếu trong nền kinh tế quốc dân bao gồm kinh tế ngành, lãnh thổ, theo thành phần kinh tế (Đinh Văn Đãn, 2009) Dự án đầu tư góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp quy luật và chiến lược phát triển kinh tế xã hội của quốc gia trong từng thời kỳ, tạo ra sự cân đối trên phạm vi nền kinh tế quốc dân

và giữa các ngành, vùng, phát huy nội lực của nền kinh tế, trong khi vẫn coi trọng yếu tố ngoại lực Đối với cơ cấu ngành, vốn đầu tư vào ngành nào, quy mô vốn đầu tư từng ngành nhiều hay ít, việc sử dụng vốn hiệu quả thấp hay cao…đều ảnh hưởng đến tốc độ phát triển, đến khả năng tăng cường cơ sở vật chất của từng ngành, tạo tiền đề vật chất để phát triển các ngành mới… do đó, làm dịch chuyển cơ cấu kinh tế ngành (Đinh Văn Đãn, 2009)

Trang 36

- Dự án đầu tư giải quyết quan hệ cung - cầu về vốn trong phát triển: Việt

nam là nước đang phát triển, ở trình độ khiêm tốn, thu nhập bình quân hàng năm trên đầu người còn thấp; Trong khi ở trình độ trung bình trên thế giới cao hơn rất nhiều Đẩy mạnh hoạt động đầu tư, chính là tăng cường cho việc phát huy mọi tiềm năng về vốn của các thành phần kinh tế trong nước, thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài, nhằm phục vụ cho sự phát triển Thực hiện vốn đầu tư xã hội năm 2007 theo giá thực tế ước đạt 521 nghìn tỷ đồng, tương đương với 45,6% GDP Theo giá so sánh năm 1994, vốn đầu tư xã hội năm 2007 tăng khoảng 25,8%, tăng lên rất nhiều

so với mức 13,7% của năm 2006 Trong ba thành phần kinh tế, vốn đầu tư của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng nhanh nhất, khoảng 93,2%, cao gấp gần 7,8 lần mức tăng của vốn nhà nước Khu vực ngoài quốc doanh cũng có mức tăng trưởng cao 19,7% Vốn đầu tư nhà nước chỉ tăng 12,4% (Cục thống kê, 2007)

- Dự án đầu tư góp phần xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật nguồn lực mới

cho phát triển: Các dự án đầu tư cho khả năng hình thành các công ty, nhà máy,

xí nghiệp, các trung tâm thương mại đặc biệt là tạo ra những lực lượng sản xuất mới và tạo ra nhiều giá trị gia tăng cho xã hội, thúc đẩy phát triển (Nguyễn Sinh Cúc, 2008)

- Dự án đầu tư với phát triển nguồn nhân lực nâng cao chất lượng tăng

trưởng kinh tế: Vấn đề phát triển con người và phát triển nguồn nhân lực là một

trong những vấn đề được quan tâm nhiều nhất ở nước ta hiện nay Đất nước đang bước vào một giai đoạn phát triển mới với rất nhiều cơ hội và thách thức, nhưng với thực trạng nguồn nhân lực, nếu không được đầu tư một cách hiệu quả, rất có thể nền kinh tế của chúng ta sẽ trở nên lạc hậu so với thế giới Lao động là yếu tố dồi dào nhất của Việt Nam, hiện lại đang có xu hướng dư thừa bởi số người đến

độ tuổi bổ sung vào đội quân lao động hằng năm vẫn khá lớn (hơn 1 triệu người) Tuy nhiên, yếu tố này đã không được sử dụng hiệu quả để tạo ra tăng trưởng GDP lớn hơn Nguồn nhân lực của nước ta đã không được sử dụng hết, thậm chí lãng phí (Đinh Văn Đãn, 2009)

Trang 37

- Dự án đầu tư góp phần không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh

thần cho nhân dân, cải thiện bộ mặt kinh tế - xã hội của đất nước: Với chính sách

đổi mới, mở cửa và kiên trì định hướng xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đã đạt được những thành tựu nhất định về tăng trưởng kinh tế với mục tiêu xoá đói giảm nghèo Đến nay Việt Nam được Ngân hàng Thế giới đánh giá là một trong những điển hình về xoá đói giảm nghèo trên thế giới Tính riêng giai đoạn 2001 -

2006, vốn đầu tư toàn xã hội tăng mạnh với sự ra đời của các khu công nghiệp, nhà hàng, khách sạn, khu vui chơi giải trí tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam đã giảm từ 6,42% xuống chỉ còn 4,82% (Nguyễn Sinh Cúc, 2008)

1.1.3 Mối quan hệ giữa các dự án đầu tư và quản lý sử dụng đất đai

Từ sau khi được ban hành và có hiệu lực, Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành việc quản lý nhà nước về đất đai thông qua công cụ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được tăng cường, góp phần tích cực vào việc phân

bố và sử dụng ngày càng hợp lý, có hiệu quả nguồn lực đất đai Đã cơ bản chấm dứt tình trạng giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất ngoài quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cho các dự án đầu tư

Công tác quản lý đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng đã được các bộ: Tài nguyên và Môi trường cùng với các Bộ, ngành liên quan đã và đang hoàn thiện “hệ thống pháp luật về đất đai, đặc biệt chú trọng các quy định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; về giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất trong khu vực phải chuyển đổi mục đích sử dụng đất hoặc phải thu hồi để thực hiện dự án đầu tư theo quy hoạch” (Nguyễn Tấn Dũng, 2007)

Bên cạnh đó các bộ như: bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Xây dựng, Bộ Giao thông Vận tải và các Bộ, ngành liên quan đã kết hợp kiểm tra rà soát các quy hoạch, dự án có sử dụng đất, nhất là quy hoạch các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu công nghệ cao, khu đô thị mới, hệ thống giao thông và các

Trang 38

công trình hạ tầng về văn hóa, xã hội để giúp cho nhà nước có các quyết định hợp lý trong quá trình thực hiện

Các cơ quan nhà nước các cấp đã hoàn thành các văn bản quy định, hướng dẫn cụ thể về quản lý đất đai, về giá đất, về vận dụng thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, giải quyết việc làm và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất cho phù hợp với tình hình thực tế của của từng địa phương;

Đối với các dự án đầu tư “khi công bố kế hoạch thu hồi đất có công trình, nhà ở để thực hiện quy hoạch phải đồng thời công bố kế hoạch tái định cư gắn với giải quyết việc làm, ổn định đời sống của người có đất bị thu hồi” (Nguyễn Tấn Dũng, 2007)

Các dự án đầu tư đã “thực hiện đúng chính sách bồi thường, hỗ trợ, giải quyết việc làm và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, bảo đảm ổn định đời sống của người có đất bị thu hồi (Nguyễn Tấn Dũng, 2007)

Trong quá trình thực hiện “công tác giao đất, cho thuê đất, đặc biệt phải xem xét kỹ nhu cầu sử dụng đất, hiệu quả và tính khả thi của dự án, khả năng thực sự của nhà đầu tư trước khi quyết định giao đất, cho thuê đất” (Nguyễn Tấn Dũng, 2007)

1.2 Tình hình nghiên cứu về công tác chuyển đổi mục đích đất nông nghiệp phục vụ các dự án đầu tư

1.2.1 Tình hình nghiên cứu về công tác chuyển đổi đất nông nghiệp phục vụ các dự án đầu tư trên thế giới

1.2.1.1 Nghiên cứu về công tác chuyển đổi đất nông nghiệp phục vụ các dự án đầu

tư ở nước Anh

Tại nước Anh, cách đây hàng trăm năm, người ta đã ban hành nhiều Luật

về nông nghiệp và Luật đất đai quy định các mối quan hệ về thị trường đất đai, trong đó, giữa người nông dân đi thuê đất và người chủ đất Thời hạn và giá thuê

là sự thoả thuận giữa chủ đất và người đi thuê đất theo hợp đồng ký giữa các bên Khi xảy ra tranh chấp thì phải đưa đến cơ quan trọng tài của Nhà nước để

Trang 39

phân xử Khoảng cách thời gian tối thiểu của sự thay đổi tiền thuê đất là 3 năm theo quy định của Luật đất nông nghiệp Người dân đi thuê đất được luật pháp bảo hộ về quyền sử dụng đất, về giá cả và thời hạn sử dụng theo hợp đồng đã ký kết Giá thuê đất ở Anh được quy định bằng 2,5 đến 4% giá trị đất chưa canh tác Khi nghề nông thịnh vượng thì giá thuê đất tăng lên vì có sự cạnh tranh giữa các nông dân đi thuê đất Khi người nông dân không thu được nhiều lợi nhuận trên thửa đất và khi Liên minh châu Âu đề ra hạn mức tối đa đối với sản xuất nông nghiệp thì giá thuê đất giảm (FAO, 1990)

1.2.2.2 Nghiên cứu về công tác chuyển đổi đất nông nghiệp phục vụ các dự án đầu

tư ở Trung Quốc

Các nước châu Á (trong đó có trung quốc và các nước khác như Thái Lan,

Ấn Độ …) vốn lấy cây lúa nước là cây lương thực chính cho thấy: qua mấy chục năm tiến hành công nghiệp hóa, đô thị hóa thì tỷ lệ mất đất canh tác từ 0,2 - 2%/năm (Nguyễn Tuấn Anh, 2010) Diện tích đất canh tác bị mất chủ yếu là đất lúa đã đe doạ đến an ninh lương thực Để tăng sản lượng, nhiều nước đã tăng năng suất bằng cách sử dụng phân bón hóa học với liều lượng cao và kết quả là làm cho môi trường đất bị ô nhiễm

Trong những năm 1990, thời kỳ đầu của quá trình cải cách, mở cửa, tốc

độ đô thị hóa của Trung Quốc diễn ra rất nhanh chóng Diện tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp, ước tính diện tích đất canh tác bị mất hàng năm trên 1 triệu ha, trong khi dân số của Trung Quốc vẫn tiếp tục tăng Theo dự báo đến năm 2010, dân số Trung Quốc sẽ đạt 1,4 tỷ người Để giải quyết vấn đề này chính phủ Trung Quốc đã xây dựng các mô hình xí nghiệp hương trấn (tên gọi chung của các xí nghiệp hoạt động ở nông thôn) hoạt động như các doanh nghiệp ngoài quốc doanh nhằm chuyển giao các thành tựu của công nghệ sinh học (lai tạo giống lúa, cây trồng và vật nuôi), thủy lợi hóa, cơ giới hóa và hóa học hóa nông nghiệp tại các vùng nông nghiệp ven đô để tạo ra sản phẩm hàng hóa có giá trị kinh tế cao phục vụ cho dân cư đô thị và xuất khẩu (Lê Du Phong, 2005)

Trang 40

Trung Quốc, một trong những nước đang phát triển lớn nhất đang trải qua những dịch chuyển kinh tế và không gian, đã chứng kiến sự đô thị hóa ngày càng nhanh sau kinh tế có cải tổ và tăng trưởng ổn định từ những năm 1980 (George C

S Lin, 1998) Trong giai đoạn 1980 - 1990 việc mở rộng các khu vực xây dựng, định cư, đường phố và các khu công nghiệp đã làm mất đi hàng loạt của đất nông nghiệp điều này nguy hiểm tới mức Hội đồng Nhà nước và Ủy ban Trung ương của Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã tuyên bố vào tháng 5 năm 1997 tạm ngừng chuyển đổi sử dụng đất nông nghiệp trong vòng 1 năm (George C S Lin, 1998)

Ở Trung Quốc, có thể nói, mục tiêu bao trùm lên chính sách bồi thường,

hỗ trợ, tái định cư là hạn chế đến mức tối đa việc thu hồi đất, giải tỏa mặt bằng, cũng như số lượng người bị ảnh hưởng bởi việc thu hồi đất để thực hiện dự án đầu tư Nếu như việc thu hồi đất là không thể tránh khỏi thì có sự chuẩn bị cẩn thận phương án đền bù, trên cơ sở tính toán đầy đủ lợi ích của nhà nước, tập thể

và cá nhân, đảm bảo cho những người bị thu hồi đất có thể khôi phục lại hoặc cải thiện mức sống so với trước khi bị thu hồi đất

Theo quy định của pháp luật Trung Quốc, khi Nhà nước thu hồi đất thì người nào sử dụng đất sau đó sẽ có trách nhiệm bồi thường Người bị thu hồi đất được thanh toán ba loại tiền: tiền bồi thường đất đai, tiền trợ cấp về tái định cư, tiền trợ cấp bồi thường hoa màu trên đất Cách tính tiền bồi thường đất đai và tiền trợ cấp tái định cư căn cứ theo tổng giá trị tổng sản lượng của đất đai những năm trước đây rồi nhân với hệ số Tiền bồi thường cho hoa màu, cho các loại tài sản trên đất được tính theo giá cả hiện tại

Mức bồi thường cho giải tỏa mặt bằng được thực hiện theo nguyên tắc đảm bảo cho người dân có cuộc sống bằng hoặc cao hơn nơi ở cũ Việc quản lý giải phóng mặt bằng được giao cho các cục quản lý tài nguyên đất đai ở địa phương đảm nhiệm Tổ chức, cá nhân được quyền sử dụng thửa đất nào sẽ trả tiền thuê một đơn vị xây dựng giải tỏa mặt bằng

Để giải quyết nhà ở cho người dân khi giải phóng mặt bằng, phương thức

Ngày đăng: 14/12/2013, 15:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Tuấn Anh (2010), Nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá đến chất lượng, số lượng đất nông nghiệp và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất ở một số tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, Đề tài cấp bộ mã B060 2008-2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá đến chất lượng, số lượng đất nông nghiệp và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất ở một số tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc
Tác giả: Nguyễn Tuấn Anh
Nhà XB: Đề tài cấp bộ mã B060 2008-2010
Năm: 2010
2. Ban chấp hành Trung ương Đảng (2003), Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Nghị quyết số 26 – NQ/TW, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Tác giả: Ban chấp hành Trung ương Đảng
Năm: 2003
3. Nguyễn Đình Bồng (2002), Quỹ đất quốc gia – Hiện trạng và dự báo sử dụng đất, Tạp chí khoa học đất, số 16/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí khoa học đất
Tác giả: Nguyễn Đình Bồng
Năm: 2002
4. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008 a ), Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về giới hạn cho phép của kim loại nặng trong đất, QCVN 03:2008/BTNMT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về giới hạn cho phép của kim loại nặng trong đất
5. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008 b ), Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt, QCVN 08:2008/BTNMT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt
6. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008 c ), Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm, QCVN 09:2008/BTNMT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm
7. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009 a ), Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng không khí xung quanh, QCVN 05:2009/BTNMT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng không khí xung quanh
8. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009 b ), Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về một số chất độc hại trong không khí xung quanh, QCVN 06:2009/BTNMT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về một số chất độc hại trong không khí xung quanh
9. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009 c ), Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước thải công nghiệp, QCVN 24:2009/BTNMT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước thải công nghiệp
10. Trần Thị Minh Châu (2007), Về chính sách nông nghiệp ở nước ta hiện nay, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chính sách nông nghiệp ở nước ta hiện nay
Tác giả: Trần Thị Minh Châu
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2007
11. Đặng Kim Chi (2003), Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng các chính sách và biện pháp giải quyết vấn đề môi trường ở các Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng các chính sách và biện pháp giải quyết vấn đề môi trường ở các
Tác giả: Đặng Kim Chi
Năm: 2003
12. Phan Huy Chi (2002), Nghiên cứu biến động môi trường do thực hiện quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, các biện pháp kiểm soát bảo đảm phát triển bền vững vùng ĐBSH, Báo cáo tổng kết đề tài khoa học cấp nhà nước KC.07, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu biến động môi trường do thực hiện quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, các biện pháp kiểm soát bảo đảm phát triển bền vững vùng ĐBSH
Tác giả: Phan Huy Chi
Năm: 2002
13. Chính Phủ (2009), Nghị định về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, Nghị định số 12/2009/NĐ-CP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình
Tác giả: Chính Phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2009
14. Đào Trung Chính (2010), Thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư kinh nghiệm quốc tế và bài học áp dụng vào Việt Nam, Tổng hợp báo cáo khoa học, Tổng cục quản lý đất đai, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư kinh nghiệm quốc tế và bài học áp dụng vào Việt Nam
Tác giả: Đào Trung Chính
Năm: 2010
15. Trần Văn Chử (1998), Đô thị hoá và chính sách phát triển đô thị trong công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đô thị hoá và chính sách phát triển đô thị trong công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Chử
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
16. Nguyễn Sinh Cúc (2008), Phát triển khu công nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng và vấn đề nông dân mất đất nông nghiệp, Tạp chí Cộng Sản, số 14 (158) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Cộng Sản
Tác giả: Nguyễn Sinh Cúc
Năm: 2008
17. Cục thống kê (2007), Niên giám thống kê, NXB thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê
Tác giả: Cục thống kê
Nhà XB: NXB thống kê
Năm: 2007
18. Cục thống kê (2010), Niên giám thống kê, NXB thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê
Tác giả: Cục thống kê
Nhà XB: NXB thống kê
Năm: 2010
19. Lê Quốc Doanh (2004), Nghiên cứu cơ sở khoa học và các giải pháp kinh tế kỹ thuật nhằm phát triển nông nghiệp, nông thôn ven đô thành phố Hà Nội, Báo cáo đề tài khoa học cấp Bộ năm 2004, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cơ sở khoa học và các giải pháp kinh tế kỹ thuật nhằm phát triển nông nghiệp, nông thôn ven đô thành phố Hà Nội
Tác giả: Lê Quốc Doanh
Năm: 2004
20. Bùi Thị Ngọc Dung (2005), Tài nguyên đất vùng Đồng bằng sông Hồng, Viện quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên đất vùng Đồng bằng sông Hồng
Tác giả: Bùi Thị Ngọc Dung
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1. Sơ đồ vị trí địa lý huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội - ẢNH HƯỞNG của các dự án đầu tư đến TÌNH HÌNH QUẢN lý sử DỤNG đất NÔNG NGHIỆP HUYỆN CHƯƠNG mỹ, THÀNH PHỐ hà nội
Hình 3.1. Sơ đồ vị trí địa lý huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội (Trang 68)
Hình 3.3. Cơ cấu các loại đất huyện Chương Mỹ, TP. Hà Nội năm 2000 - ẢNH HƯỞNG của các dự án đầu tư đến TÌNH HÌNH QUẢN lý sử DỤNG đất NÔNG NGHIỆP HUYỆN CHƯƠNG mỹ, THÀNH PHỐ hà nội
Hình 3.3. Cơ cấu các loại đất huyện Chương Mỹ, TP. Hà Nội năm 2000 (Trang 75)
Hình 3.4. Cơ cấu các loại đất huyện Chương Mỹ, TP. Hà Nội năm 2005 - ẢNH HƯỞNG của các dự án đầu tư đến TÌNH HÌNH QUẢN lý sử DỤNG đất NÔNG NGHIỆP HUYỆN CHƯƠNG mỹ, THÀNH PHỐ hà nội
Hình 3.4. Cơ cấu các loại đất huyện Chương Mỹ, TP. Hà Nội năm 2005 (Trang 75)
Hình 3.6. Biến động đất đai  huyện Chương Mỹ, TP. Hà Nội - ẢNH HƯỞNG của các dự án đầu tư đến TÌNH HÌNH QUẢN lý sử DỤNG đất NÔNG NGHIỆP HUYỆN CHƯƠNG mỹ, THÀNH PHỐ hà nội
Hình 3.6. Biến động đất đai huyện Chương Mỹ, TP. Hà Nội (Trang 77)
Bảng 3.6. Diện tích các loại đất thu hồi phục vụ một số dự án giao thông - ẢNH HƯỞNG của các dự án đầu tư đến TÌNH HÌNH QUẢN lý sử DỤNG đất NÔNG NGHIỆP HUYỆN CHƯƠNG mỹ, THÀNH PHỐ hà nội
Bảng 3.6. Diện tích các loại đất thu hồi phục vụ một số dự án giao thông (Trang 89)
Hình 3.10. Biến động trung bình/năm một số loại đất nông nghiệp chính - ẢNH HƯỞNG của các dự án đầu tư đến TÌNH HÌNH QUẢN lý sử DỤNG đất NÔNG NGHIỆP HUYỆN CHƯƠNG mỹ, THÀNH PHỐ hà nội
Hình 3.10. Biến động trung bình/năm một số loại đất nông nghiệp chính (Trang 105)
Hình 3.12. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và các dự án đầu tư qua các năm - ẢNH HƯỞNG của các dự án đầu tư đến TÌNH HÌNH QUẢN lý sử DỤNG đất NÔNG NGHIỆP HUYỆN CHƯƠNG mỹ, THÀNH PHỐ hà nội
Hình 3.12. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và các dự án đầu tư qua các năm (Trang 130)
Hình 1: Sơ đồ vị trí huyện Chương Mỹ và các quận huyện - ẢNH HƯỞNG của các dự án đầu tư đến TÌNH HÌNH QUẢN lý sử DỤNG đất NÔNG NGHIỆP HUYỆN CHƯƠNG mỹ, THÀNH PHỐ hà nội
Hình 1 Sơ đồ vị trí huyện Chương Mỹ và các quận huyện (Trang 166)
Hình 2: Sơ đồ Hành chính huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội - ẢNH HƯỞNG của các dự án đầu tư đến TÌNH HÌNH QUẢN lý sử DỤNG đất NÔNG NGHIỆP HUYỆN CHƯƠNG mỹ, THÀNH PHỐ hà nội
Hình 2 Sơ đồ Hành chính huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội (Trang 167)
Hình 3: Sơ đồ vị trí các khu công nghiệp và điểm công nghiệp huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội - ẢNH HƯỞNG của các dự án đầu tư đến TÌNH HÌNH QUẢN lý sử DỤNG đất NÔNG NGHIỆP HUYỆN CHƯƠNG mỹ, THÀNH PHỐ hà nội
Hình 3 Sơ đồ vị trí các khu công nghiệp và điểm công nghiệp huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội (Trang 168)
Hình 6: Khu xử lý nước thải khu công nghiệp Phú Nghĩa - ẢNH HƯỞNG của các dự án đầu tư đến TÌNH HÌNH QUẢN lý sử DỤNG đất NÔNG NGHIỆP HUYỆN CHƯƠNG mỹ, THÀNH PHỐ hà nội
Hình 6 Khu xử lý nước thải khu công nghiệp Phú Nghĩa (Trang 192)
Hình 5: Quang cảnh tổng thể khu công nghiệp Phú Nghĩa - ẢNH HƯỞNG của các dự án đầu tư đến TÌNH HÌNH QUẢN lý sử DỤNG đất NÔNG NGHIỆP HUYỆN CHƯƠNG mỹ, THÀNH PHỐ hà nội
Hình 5 Quang cảnh tổng thể khu công nghiệp Phú Nghĩa (Trang 192)
Hình 7: Quang cảnh phía trước khu công nghiệp Phú Nghĩa - ẢNH HƯỞNG của các dự án đầu tư đến TÌNH HÌNH QUẢN lý sử DỤNG đất NÔNG NGHIỆP HUYỆN CHƯƠNG mỹ, THÀNH PHỐ hà nội
Hình 7 Quang cảnh phía trước khu công nghiệp Phú Nghĩa (Trang 193)
Hình 8: Quang cảnh một phần khu công nghiệp Phú Nghĩa - ẢNH HƯỞNG của các dự án đầu tư đến TÌNH HÌNH QUẢN lý sử DỤNG đất NÔNG NGHIỆP HUYỆN CHƯƠNG mỹ, THÀNH PHỐ hà nội
Hình 8 Quang cảnh một phần khu công nghiệp Phú Nghĩa (Trang 193)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w