Vì vậy, trong đề tài này chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu thành phần hóa học, hoạt tính ức chế enzym AChE cũng như đánh giá khả năng cải thiện trí nhớ trên chuột của cây Chiêu liêu cườm
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
LÂM THỊ MỸ LINH
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN HÓA HỌC VÀ HOẠT TÍNH
ỨC CHẾ ENZYM ACETYLCHOLINESTERASE CỦA
THÂN CÂY CHIÊU LIÊU CƯỜM (XYLIA XYLOCARPA Roxb.) VÀ THÂN CÂY GUỒI ĐỎ (WILLUGHBEIA
COCHINCHINENSIS Pierre ex Pit.)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ HÓA HỌC
TP HỒ CHÍ MINH – 11/2018
1.1.1.1.1 Tp Hồ Chí Minh – Năm
Trang 2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
LÂM THỊ MỸ LINH
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN HÓA HỌC VÀ HOẠT TÍNH
ỨC CHẾ ENZYM ACETYLCHOLINESTERASE CỦA
THÂN CÂY CHIÊU LIÊU CƯỜM (XYLIA XYLOCARPA Roxb.) VÀ THÂN CÂY GUỒI ĐỎ (WILLUGHBEIA
COCHINCHINENESIS Pierre ex Pit )
Chuyên ngành: HÓA PHÂN TÍCH
Mã số chuyên ngành: 62 44 29 01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS NGUYỄN THỊ THANH MAI
TP HỒ CHÍ MINH – 11/2018
1
2
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành gởi lời cảm ơn đến:
PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Mai, người đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt cho tôi
những kiến thức và kinh nghiệm quý báu Cô luôn động viên, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Các Quý Thầy Cô trong Bộ môn Hóa Phân Tích đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ
tôi hoàn thành các môn học phần bổ sung
Thạc sỹ Nguyễn Xuân Hải, Thạc sỹ Đặng Hoàng Phú và các bạn cùng phòng thí nghiệm đã luôn chia sẻ những kinh nghiệm cũng như tạo cho tôi những giây phút vui vẻ
giữa những tháng ngày miệt mài với công việc
TS Trương Thị Huỳnh Hoa cùng các kỹ thuật viên phòng máy NMR và HPLC-MS
thuộc phòng thí nghiệm Phân tích Trung tâm-ĐH Khoa học Tự nhiên- ĐH Quốc gia TP HCM
Phòng Đào tạo Sau đại học Trường Đại học Khoa học Tự nhiên đã tạo điều kiện
thuận lợi giúp tôi giải quyết các thủ tục hành chính
Ban Giám hiệu và Ban Chủ nhiệm Khoa Sư phạm cùng Bộ môn Hóa, đã tạo điều
kiện về thời gian, cũng như các đồng nghiệp đã gánh vác công việc, hỗ trợ tôi trong thời
gian tôi đi học
Con xin cám ơn Ba Mẹ đã hỗ trợ, động viên con yên tâm hoàn thành việc học Cảm
ơn Anh và hai Con đã cho em một gia đình êm ấm để em vững tin tiếp tục học tập và
công tác
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận án Tiến sĩ Hóa học “Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt
tính ức chế enzym acetylcholinesterase của thân cây Chiêu liêu cườm (Xylia xylocarpa
Roxb.) và thân cây Guồi đỏ (Willughbeia cochinchinensis Pierre ex Pit.) ” là do tôi thực
hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Mai Những kết quả nghiên cứu trong luận án này chưa được các tác giả khác công bố ở Việt Nam cũng như trên thế giới Điều này đã được kiểm tra bằng cách tra cứu tài liệu tham khảo cung cấp bởi phần mềm
SciFinder
Tôi xin cam đoan danh dự về công trình khoa học này
Tp Hồ Chí Minh, ngày 11 tháng 11 năm 2018
Tác giả luận án
Lâm Thị Mỹ Linh
Trang 5i
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 2
1.1 BỆNH ALZHEIMER 2
1.1.1 Biểu hiện của bệnh Alzheimer 2
1.1.2 Các nguyên nhân dẫn đến bệnh Alzheimer 2
1.1.3 Các phương pháp điều trị bệnh 3
1.2 ENZYM ACETYLCHOLINESTERASE 4
1.2.1 Cấu tạo của enzym AChE 4
1.2.2 Vai trò của acetylcholin 5
1.2.3 Vai trò của enzym AChE 5
1.2.4 Các phương pháp thử hoạt tính ức chế enzym AChE 5
1.2.5 Một số hợp chất có hoạt tính ức chế enzym AChE từ tự nhiên 9
1.3 MÔ HÌNH IN VIVO TRONG ĐIỀU TRỊ SUY GIẢM TRÍ NHỚ TRÊN CHUỘT NHẮT 13
1.3.1 Một số công trình nghiên cứu về chất cải thiện trí nhớ theo cơ chế kháng AChE trên động vật 13
1.3.2 Một số thuốc ức chế AChE dùng trong điều trị bệnh suy giảm trí nhớ 17
1.3.3 Mô hình gây suy giảm trí nhớ trên động vật thực nghiệm 18
1.4 TÌM HIỂU VỀ CÁC CÂY THUỐC SÀNG LỌC HOẠT TÍNH ỨC CHẾ ENZYM AChE 18
1.5 TÌM HIỂU VỀ CÂY CHIÊU LIÊU CƯỜM, XYLIA XYLOCARPA 20
1.5.1 Mô tả thực vật và phân bố sinh thái của cây Chiêu liêu cườm 20
1.5.2 Thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của một số loài cùng chi Xylia 21
Trang 6ii
1.6 TÌM HIỂU VỀ CÂY GUỒI ĐỎ, WILLUGHBEIA COCHINCHINENSIS 23
1.6.1 Mô tả thực vật và phân bố sinh thái của cây Guồi đỏ 23
1.6.2 Công dụng dân gian của cây Guồi đỏ 24
1.6.3 Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của một số loài cùng chi Willughbeia 24
1.7 ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU 25
1.7.1 Những vấn đề còn tồn tại 25
1.7.2 Định hướng nghiên cứu 26
CHƯƠNG 2 THỰC NGHIỆM 27
2.1 ĐIỀU CHẾ MẪU CAO SÀNG LỌC, TRÍCH LY VÀ PHÂN LẬP CÁC HỢP CHẤT TINH KHIẾT 27
2.1.1 Hóa chất và thiết bị 27
2.1.2 Sàng lọc 28
2.1.3 Trích ly và phân lập hợp chất từ thân cây Chiêu liêu cườm 42
2.1.4 Trích ly và phân lập hợp chất từ thân cây Guồi đỏ 46
2.2 MÔ HÌNH IN VITRO TRONG THỬ NGHIỆM HOẠT TÍNH ỨC CHẾ ENZYM ACHE 49
2.2.1 Chuẩn bị hóa chất 49
2.2.2 Nguyên tắc phương pháp thử hoạt tính ức chế enzym AChE 49
2.2.3 Quy trình khảo sát hoạt tính ức chế enzym AChE 50
2.2.4 Xử lý kết quả 51
2.2.5 Nơi thực hiện thử nghiệm 51
2.3 MÔ HÌNH IN VIVO TRONG THỬ NGHIỆM HOẠT TÍNH CHỐNG SUY GIẢM TRÍ NHỚ TRÊN CHUỘT NHẮT 51
2.3.1 Nguyên liệu và đối tượng nghiên cứu 51
2.3.2 Đánh giá tác dụng cải thiện trí nhớ trên chuột nhắt trắng của cao chiết MeOH từ thân cây Chiêu liêu cườm 54
2.3.3 Xử lý và phân tích số liệu nghiên cứu 56
2.3.4 Nơi thực hiện thử nghiệm 56
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 57
3.1 NGHIÊN CỨU SÀNG LỌC HOẠT TÍNH ỨC CHẾ ENZYM ACHE 57
3.1.1 Kết quả khảo sát hoạt tính ức chế enzym AChE 57
3.1.2 Bàn luận 61
Trang 7iii
3.2 KẾT QUẢ THỬ HOẠT TÍNH ỨC CHẾ ENZYM ACHE CÁC MẪU CAO PHÂN
ĐOẠN TỪ CHIÊU LIÊU CƯỜM VÀ GUỒI ĐỎ 62
3.2.1 Kết quả thử hoạt tính ức chế enzym AChE các mẫu cao phân đoạn từ Chiêu liêu cườm 62
3.2.2 Kết quả thử hoạt tính ức chế enzym AChE các mẫu cao phân đoạn từ Guồi đỏ 63
3.3 NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA THÂN CÂY CHIÊU LIÊU CƯỜM 63
3.3.1 Khảo sát cấu trúc hóa học các hợp chất quinon 64
3.3.2 Khảo sát cấu trúc hóa học các hợp chất phenol đơn vòng 68
3.3.3 Khảo sát cấu trúc hóa học các hợp chất triterpen 78
3.3.4 Khảo sát cấu trúc hóa học của các hợp chất steroid 109
3.4 NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN CÁC HOẠT CHẤT CỦA THÂN CÂY GUỒI ĐỎ W COCHINCHINENSIS 113
3.4.1 Khảo sát cấu trúc hóa học các hợp chất triterpen 114
3.4.2 Khảo sát cấu trúc hóa học các hợp chất steroid 137
3.5 KẾT QUẢ THỬ HOẠT TÍNH ỨC CHẾ ENZYM ACHE THEO MÔ HÌNH IN VITRO CÁC HỢP CHẤT PHÂN LẬP ĐƯỢC TỪ CHIÊU LIÊU CƯỜM VÀ GUỒI ĐỎ 139
3.6 KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG CẢI THIỆN TRÍ NHỚ CỦA CAO MeOH TỪ CÂY CHIÊU LIÊU CƯỜM TRÊN CHUỘT NHẮT 142
3.6.1 Bài tập mê lộ nước (Morris water maze) 142
3.6.2 Bài tập nhận thức đồ vật (Object Recognization Test – ORT) 144
3.6.3 Bài tập mê lộ chữ Y (Y maze) 146
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 149 DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC (Xem quyển đính kèm)
Trang 8DEPT : Distortionless enhancement by polarization transfer
DPPH : 2,2-diphenylpicrylhydrazyl
DTNB : Acid 5,5’-dithiobis-nitrobenzoic
E, EtOAc : Ethyl acetat
EDTA : Acid ethylen diamin tetraacetic
ET : Electron transfer methods
HAT : Hydrogen atom transfer methods
HMBC : Heteronuclear multiple bond correlation
HR-ESI-MS : High resolution electro spray ionization mass spectroscopy
HSQC : Heteronuclear single quantum coherence
IC50 : Nồng độ ức chế 50% enzym (Inhibitory Concentration 50%)
MeOH-CLC : Cao chiết MeOH từ thân cây Chiêu liêu cườm
NMR : Nuclear magnetic resonance (cộng hưởng từ hạt nhân)
ORT : Object recognization test (Bài tập nhận thức đồ vật)
PBS : Phosphate buffered saline
PTLC : Preparative thin layer chromatography (sắc ký bản mỏng điều chế)
Trang 9v
quin : Quintet (mũi năm)
SEM : Standard error of the mean (sai số chuẩn của giá trị trung bình)
SSTT : Sa sút trí tuệ
TAU : Protein ổn định cấu trúc
TLC : Thin layer chromatography (sắc ký bản mỏng)
Trolox : Acid 6-hydroxy-2,5,7,8-tetramethylchroman-2-carboxylic
Trang 10vi
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Sự mất ổn định của protein TAU 2
Hình 1.2 Sự hình thành mảng β-Amyloid ở não người bệnh 3
Hình 1.3 Cấu trúc enzym acetylcholinesterase 4
Hình 1.4 Cấu trúc của bộ ba xúc tác 4
Hình 1.5 Cấu trúc acetylcholin 5
Hình 1.6 Bản BTLC của dịch chiết loài Corydalis sp được hiện màu bằng thuốc thử Ellman 7 Hình 1.7 Muối Fast Blue B 7
Hình 1.8 Bản BTLC của các vết có lượng Physostigmin từ 10-5 đến 10-1µg được hiện màu bằng thuốc thử muối Fast Blue B 8
Hình 1.9 Các hợp chất được phân lập từ cây Phi cầu (Sarcococca saligna) và cây Cà mà (Bucus papillosa) 9
Hình 1.10 Các hợp chất phân lập từ cây Thủy tiên (Narcissus poeticus) và cây Ngọc trâm (Eucharis grandiflora) 10
Hình 1.11 Các hợp chất được phân lập từ vỏ cây Két (Beilschmiedia alloiophylla) 10
Hình 1.12 Các hợp chất phân lập từ các dược liệu 11
Hình 1.13 Các hợp chất phân lập từ rễ cây Dướng (Broussonetia papyrifera) 11
Hình 1.14 Các hợp chất phân lập từ trái cây Bông lơn (Paulownia tomentosa) 12
Hình 1.15 Các hợp chất phân lập từ lá cây Săng bù (Macaranga kurzii) 12
Hình 1.16 Các hợp chất phân lập từ lá và thân cây Rau má (Centella asiatica) 13
Hình 1.17 Các hợp chất được phân lập từ vỏ cây Lim xẹt (Peltophorum dasyrachis) 13
Hình 1.18 Cây Chiêu liêu cườm 20
Hình 1.19 Hoa và trái cây Chiêu liêu cườm 20
Hình 1.20 Các hợp chất phân lập từ thân cây Chiêu liêu cườm 21
Hình 1.21 Hợp chất acid trans-5-hydroxypipecolic được phân lập từ lá X xylocarpa 22
Hình 1.22 Hợp chất dolabriproanthocyanidin (I) được phân lập từ vỏ thân của cây Chiêu liêu cườm (X xylocarpa) 22
Hình 1.23 Thân, lá, hoa, quả và cơm thịt cây Guồi đỏ 23
Hình 1.24 Lupeol acetat và lupeol docosanoylat phân lập từ cây firma 24
Hình 2.1 Hình ảnh cấu tạo mê lộ nước (Morris water maze) 52
Hình 2.2 Hình ảnh cấu tạo mê lộ chữ Y (Y maze) 52
Hình 2.3 Hình ảnh cấu tạo buồng tập Object recognition 53
Trang 11vii
Hình 2.4 Giao diện phần mềm ghi và phân tích Any maze (Mỹ) 53
Hình 3.1 Cấu trúc của 23 hợp chất phân lập từ thân cây Chiêu liêu cườm 64
Hình 3.2 Tương quan HMBC của hợp chất CLC-1 66
Hình 3.3 Tương quan HMBC của hợp chất CLC-2 68
Hình 3.4 Tương quan HMBC của hợp chất CLC-4 70
Hình 3.5 Tương quan HMBC của hợp chất CLC-7 74
Hình 3.6 Tương quan HMBC của hợp chất CLC-9 77
Hình 3.7 Tương quan HMBC chính của hợp chất CLC-11 80
Hình 3.8 Tương quan HMBC chính của hợp chất CLC-12 83
Hình 3.9 Tương quan HMBC chính của hợp chất CLC-13 85
Hình 3.10 Tương quan HMBC chính của hợp chất CLC-14 88
Hình 3.11 Tương quan HMBC chính của hợp chất CLC-15 92
Hình 3.12 Tương quan HMBC chính của hợp chất CLC-16 95
Hình 3.13 Tương quan HMBC chính của hợp chất CLC-17 97
Hình 3.14 Tương quan HMBC chính của hợp chất CLC-18 100
Hình 3.15 Tương quan HMBC chính của hợp chất CLC-19 102
Hình 3.16 Tương quan HMBC chính của hợp chất CLC-20 105
Hình 3.17 Tương quan HMBC chính của hợp chất CLC-21 109
Hình 3.18 Cấu trúc của 11 hợp chất phân lập từ thân cây Guồi đỏ 114
Hình 3.19 Tương quan HMBC chính của hợp chất GD-2 117
Hình 3.20 Tương quan HMBC chính của hợp chất GD-3 120
Hình 3.21 Tương quan HMBC chính của hợp chất GD-4 123
Hình 3.22 Tương quan HMBC chính của hợp chất GD-6 129
Hình 3.23 Tương quan HMBC chính của hợp chất GD-7 132
Hình 3.24 Tương quan HMBC chính của hợp chất GD-8 135
Hình 3.25 Tương quan HMBC trong hợp chất GD-9 138
Hình 3.26 Tổng kết các hợp chất quinone có hoạt tính ức chế enzym AChE 141
Hình 3.27 Mối tương quan giữa cấu trúc và hoạt tính ức chế AChE của các hợp chất triterpene khung lupan 141
Hình 3.28 Sự ảnh hưởng của cao chiết Chiêu liêu cườm lên thời gian bơi (giây) (A), quãng đường bơi (m) (B) và thời gian bơi trong góc phần tư 1 (giây) của nhóm chuột nghiên cứu trong mê lộ nước (C) 143
Trang 12viii
Hình 3.29 Sự ảnh hưởng của cao chiết methanol từ thân cây Chiêu liêu cườm của nhóm chuột nghiên cứu trong giai đoạn luyện tập (A), giai đoạn kiểm tra (B) và quãng đường di chuyển (C) trong bài tập nhận thức đồ vật 145
Hình 3.30 Phần trăm thay đổi luân phiên (A) và tần suất vào cánh cửa (B) của các nhóm chuột
nghiên cứu trong mê lộ chữ Y 146
Trang 13ix
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Danh mục, tiêu chí lựa chọn và độ ẩm nguyên liệu của các cây thuốc nghiên cứu ở
An Giang, Phú Quốc và Đăk Lăk 29
Bảng 2.2 Khối lượng và thu suất các loại cao từ thân cây Chiêu liêu cườm 42
Bảng 2.3 Kết quả sắc ký cột cao EtOAc của thân cây Chiêu liêu cườm 44
Bảng 2.4 Khối lượng và thu suất các loại cao từ thân cây Guồi đỏ 46
Bảng 2.5 Kết quả sắc ký cột cao n-Hexan của thân cây Guồi đỏ 47
Bảng 3.1 Kết quả thử hoạt tính ức chế enzym AChE của galantamin và berberin 57
Bảng 3.2 Kết quả thử hoạt tính ức chế enzym AChE của mẫu cao chiết 57
Bảng 3.3 Kết quả thử hoạt tính ức chế enzym AChE của các mẫu cao phân đoạn của Chiêu liêu cườm 62
Bảng 3.4 Kết quả thử hoạt tính ức chế enzym AChE các mẫu cao phân đoạn từ Guồi đỏ 63
Bảng 3.5 Số liệu phổ NMR của hợp chất CLC-1 so sánh với chrysophanol 66
Bảng 3.6 Số liệu phổ NMR của hợp chất CLC-2 so sánh với 2,6-dimethoxyquinon 68
Bảng 3.7 Số liệu phổ NMR của hợp chất CLC-3 so sánh với acid ferulic 69
Bảng 3.8 Số liệu phổ NMR của hợp chất CLC-4 so sánh với methyl ferulat 71
Bảng 3.9 Số liệu phổ NMR của hợp chất CLC-5 so sánh với methyl 3-(4-hydroxyphenyl)-2-methoxy carbonyl propionat 72
Bảng 3.10 Số liệu phổ NMR của hợp chất CLC-6 so sánh với acid protocatechuic 73
Bảng 3.11 Số liệu phổ NMR của hợp chất CLC-7 so sánh với acid vanilic 75
Bảng 3.12 Số liệu phổ NMR của hợp chất CLC-8 so sánh với vanilin 76
Bảng 3.13 Số liệu phổ NMR của hợp chất CLC-9 so sánh với methyl gallat 77
Bảng 3.14 Số liệu phổ NMR của hợp chất CLC-10 so sánh với acid syringic 78
Bảng 3.15 Số liệu phổ NMR của hợp chất CLC-11 so sánh với acid oleanolic 81
Bảng 3.16 Số liệu phổ NMR của hợp chất CLC-12 so sánh với 3β-hydroxy-18α-olean-28,19β-olide 83
Bảng 3.17 Số liệu phổ NMR của hợp chất CLC-13 so sánh với 3β-acetoxy-19β,28-epoxy-28-oxo-18α-oleanan 85
Bảng 3.18 Số liệu phổ NMR của hợp chất CLC-14 89
Bảng 3.19 Số liệu phổ NMR của hợp chất CLC-15 so sánh với lupeol 93
Bảng 3.20 Số liệu phổ NMR của hợp chất CLC-16 so sánh với norlupen 95
Bảng 3.21 Số liệu phổ NMR của hợp chất CLC-17 so sánh với 28-norlup-20(29)-en-3β-hydroxy-17β-hydroperoxide 98
Bảng 3.22 Số liệu phổ NMR của hợp chất CLC-18 so sánh với betulin 100
Trang 14x
Bảng 3.23 Số liệu phổ NMR của hợp chất CLC-19 so sánh với aldehyd betulinic 103
Bảng 3.24 Số liệu phổ NMR của hợp chất CLC-20 so sánh với acid betulinic 105
Bảng 3.25 Số liệu phổ NMR của hợp chất CLC-21 so sánh với acid betulonic 108
Bảng 3.26 Số liệu phổ NMR của hợp chất CLC-22 so sánh với -sitosterol 110
Bảng 3.27 Số liệu phổ NMR của hợp chất CLC-23 so sánh với β-sitosterol-3-O-β- D -glucopyranoside 112
Bảng 3.28 Số liệu phổ NMR của hợp chất GD-1 so sánh với lupeol acetat 115
Bảng 3.29 Số liệu phổ NMR của hợp chất GD-2 so sánh với 3-β-O-3 -hydroxylignoceryl-lupeol 118
Bảng 3.30 Số liệu phổ NMR của hợp chất GD-3 so sánh với 3β-acetoxy-30-norlupan-20-one 120
Bảng 3.31 Số liệu phổ NMR của hợp chất GD-4 so sánh với 3-β-O-behynyl-lupeol 123
Bảng 3.32 Số liệu phổ NMR của hợp chất GD-5 so sánh với epifriedelanol 125
Bảng 3.33 Số liệu phổ NMR của hợp chất GD-6 so sánh với taraxeryl acetat 129
Bảng 3.34 Số liệu phổ NMR của hợp chất GD-7 so sánh với acid ambolic 132
Bảng 3.35 Số liệu phổ NMR của hợp chất GD-8 so sánh với α-amyrin 136
Bảng 3.36 Số liệu phổ của hợp chất GD-9 so sánh với stigmast-4-en-3-one 138
Bảng 3.37 Hoạt tính ức chế enzym AChE của các hợp chất phân lập từ cây Chiêu liêu cườm và Guồi đỏ 139
Bảng 3.38 Thời gian (giây) các nhóm chuột nghiên cứu bơi đến khi tìm thấy bến đỗ 142 Bảng 3.39 Quãng đường (m) các nhóm chuột nghiên cứu bơi đến khi tìm thấy bến đỗ 142
Bảng 3.40 Thời gian (giây) các nhóm chuột nghiên cứu bơi trong góc phần tư 1 143
Bảng 3.41 Thời gian (giây) chuột khám phá vật thể 1 và 2 giai đoạn luyện tập, 1 và 3 (mới) giai đoạn kiểm tra 144
Bảng 3.42 Quãng đường di chuyển (m) trong bài tập nhận thức đồ vật của các nhóm chuột nghiên cứu 145
Bảng 3.43 Phần trăm thay đổi luân phiên %) và tần suất vào cánh cửa (lần) trong bài tập mê lộ chữ Y 146
Trang 15xi
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ điều chế các mẫu cao MeOH 41
Sơ đồ 2.2 Sơ đồ điều chế các loại cao từ thân cây Chiêu liêu cườm 43
Sơ đồ 2.3 Quy trình phân lập các hợp chất từ cao ethyl acetat từ thân cây Chiêu liêu cườm 45
Sơ đồ 2.4 Sơ đồ điều chế các loại cao từ thân cây Guồi đỏ 46
Sơ đồ 2.5 Quy trình phân lập các hợp chất từ cao n-Hexan từ thân cây Guồi đỏ 48
Trang 161
MỞ ĐẦU
Alzheimer là một căn bệnh khá phổ biến ở người cao tuổi, tỷ lệ người mắc bệnh đang tăng dần gây ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống và sinh hoạt của nhiều người trên thế giới Thông tin do Tổ chức Alzheimer quốc tế (ADI) công bố trong báo cáo năm 2010 nhân ngày Alzheimer Thế giới (21/9) cho biết số người mắc bệnh Alzheimer sẽ tăng lên gấp đôi trong vòng 20 năm tới, khoảng 65 triệu người; riêng ở Mỹ, hiện nay, cứ 8 người trong
độ tuổi từ 65 trở lên thì có 1 người mắc bệnh Alzheimer, và gần một nửa số người từ 85 tuổi trở lên mắc căn bệnh này Dự tính, chi phí chữa trị Azheimer và các chứng bệnh mất trí nhớ khác trong năm 2010 sẽ lên tới 604 tỷ đôla Mỹ, tương đương 1% tổng GDP toàn cầu Hiện các nước giàu chiếm 46% số trường hợp mắc bệnh Alzheimer và 89% chi phí chữa trị căn bệnh này trên thế giới Các tỷ lệ này ở các nước có thu nhập trung bình lần lượt là 40% và 10%, còn ở các nước có thu nhập thấp lần lượt là 14% và 1% Những số liệu trên là hồi chuông cảnh báo bệnh Alzheimer sẽ trở thành cuộc khủng hoảng sức khỏe
và xã hội nghiêm trọng nhất trong thế kỷ 21 Phương pháp điều trị Alzheimer phổ biến nhất hiện nay là ức chế quá trình thủy phân acetylcholin trong các tế bào thần kinh thông qua ức chế enzym AChE Từ đó, yêu cầu cấp thiết được đặt ra là phải tìm kiếm các loại thuốc mới cũng như các hợp chất mới, đặc biệt là các hợp chất từ tự nhiên có khả năng
ức chế enzym AChE
Qua quá trình sàng lọc thử hoạt tính ức chế enzym AChE của nhóm chúng tôi cho thấy cây Chiêu liêu cườm và cây Guồi đỏ có hoạt tính mạnh với giá trị IC50 lần lượt là 23,57 µg mL-1 và 24,08 µg mL-1 Vì vậy, trong đề tài này chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu thành phần hóa học, hoạt tính ức chế enzym AChE cũng như đánh giá khả năng cải thiện trí nhớ trên chuột của cây Chiêu liêu cườm để làm cơ sở cho nghiên cứu phát triển thuốc điều trị bệnh Alzheimer
Trang 172
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.2 BỆNH ALZHEIMER [36]
Alzheimer là một căn bệnh phổ biến, thường gặp ở người cao tuổi, làm thoái hóa cả
bộ não gây nên hiện tượng giảm trí nhớ ở người bệnh Ngoài ra, bệnh cũng gây ra tổn thương tế bào thần kinh ở vỏ não và những cấu trúc xung quanh làm sa sút trí nhớ, giảm phối hợp vận động, giảm cảm giác,… cuối cùng dẫn đến mất trí nhớ và chức năng tâm thần
1.1.1 Biểu hiện của bệnh Alzheimer [36]
- Mất trí nhớ hoàn toàn
- Mất tập trung tư tưởng
- Sụt cân không giải thích được
- Gặp khó khăn trong việc đi đứng
- Sự giảm estrogen sau mãn kinh, homocystein, sự thiếu hụt vitamin nhóm B, trầm cảm, …
1.1.2 Các nguyên nhân dẫn đến bệnh Alzheimer [36]
Những tiến bộ trong kĩ thuật hình ảnh cho thấy người bị bệnh Alzheimer có sự mất tế bào thần kinh và giảm thể tích những vùng não chi phối trí nhớ Cho đến nay, nguyên nhân gây ra bệnh vẫn chưa rõ ràng Các nhà khoa học đưa ra giả thuyết về nguyên nhân gây bệnh, đây là hai nguyên nhân được chấp nhận phổ biến hiện nay:
- Do một loại protein TAU – protein ổn định cấu trúc, có mặt trong não và hệ thần kinh trung ương của người Ở bệnh nhân Alzheimer, cấu trúc protein TAU bị mất
ổn định tạo nên sự rối loạn các vi ống trong tế bào não (Hình 1.1)
Hình 1.1 Sự mất ổn định của protein TAU [71]
- Sự xuất hiện của protein β-amyloid, chúng không hoà tan mà tích tụ thành những mảng keo Sự tích tụ quá nhiều β-amyloid sẽ làm giảm chất trung gian dẫn truyền
Trang 183
thần kinh acetylcholin cần thiết cho trí nhớ và cũng ngăn chặn sự vận chuyển ion
K+, Na+, Ca2+ qua màng tế bào (giúp cho quá trình truyền tín hiệu thần kinh) Bên cạnh đó, còn có sự tích tụ của một số protein khác như ERAB (endoplasmic
reticulum associated binding protein), mảng AMY (giống β-amyloid), Par-4
(prostate apoptosis response – 4) (Hình 1.2)
Hình 1.2 Sự hình thành mảng β-Amyloid ở não người bệnh.[73]
Từ những giả thuyết đưa ra, các nhà khoa học chú ý đến sự giảm chất dẫn truyền thần kinh do sự hình thành các mảng bám protein và lấy việc ngăn chặn sự hình thành cũng
như tích tụ β-amyloid làm cơ sở cho việc điều trị bệnh Alzheimer
1.1.3 Các phương pháp điều trị bệnh [77,97]
- Tạo môi trường tâm lý xã hội cho người cao tuổi Không nên thay đổi chỗ ở, tạo điều kiện cho họ tham gia sinh hoạt các câu lạc bộ sức khỏe ngoài trời, câu lạc bộ người cao tuổi
- Chế độ dinh dưỡng đầy đủ, hợp lý, cung cấp đầy đủ các yếu tố vi lượng như canxi, phospho; đồng thời tránh lạm dụng rượu, bia và thuốc lá
- Kích thích não sinh ra nhiều chất acetylcholin (chất có vai trò dẫn truyền thông tin của não) giúp cải thiện chức năng hoạt động của não, đặc biệt là khả năng ghi nhớ và suy luận, có khả năng cải thiện tình trạng suy giảm trí nhớ và khả năng tư duy của người bệnh
- Chống sự thành lập các protein dạng tinh bột β-amyloid, ngăn chặn sự kết tập của chúng thành các mảng bám, làm giảm mức độ hiện diện của β-amyloid và mảng bám β-
amyloid trong não, làm tan các mảng bám sẵn có trong não
Trang 194
- Bằng cách ức chế enzym AChE, quá trình thủy phân acetylcholin cũng giảm và làm tăng khả năng lưu trữ acetylcholin ở các khớp thần kinh người bệnh Alzheimer làm cải thiện tình trạng của bệnh nhân
1.2 ENZYM ACETYLCHOLINSTERASE
1.2.1 Cấu tạo của enzym AChE [53]
Phân tử enzym acetylcholinsterase (AChE) có dạng hình elip, hình thành từ khoảng
543 amino acid, là một loại enzym hoạt động cực kỳ hiệu quả do ở trung tâm phân tử enzym có chứa bộ ba hoạt động xúc tác điển hình Serin – Histidin – Glutamin và trên bề mặt protein có trường tĩnh điện xung quanh (hình 1.3)
Hình 1.3 Cấu trúc enzym AChE [53]
Trung tâm hoạt động [24]
Trung tâm hoạt động của enzym là một hốc sâu và hẹp, khoảng 20 Å, ăn sâu vào khoảng nửa enzym và mở rộng gần phía nền, chứa bộ ba xúc tác Tâm hoạt tính của enzym chứa một lượng nhỏ điện tích âm gần vùng xúc tác nhưng nhiều vòng thơm gần
bộ ba xúc tác Serin – Histidin – Glutamin và trên thành hốc dẫn đến sự trượt xuống hốc của chất nền
Hình 1.4 Cấu trúc của bộ ba xúc tác [24]
Trang 205
Trường tĩnh điện xung quanh bề mặt protein đóng vai trò quan trọng trong nhận biết
và gắn kết phân tử chất nền dưới tác dụng của điện thế Coulomb Khi có sự va chạm giữa enzym với chất nền mang điện, có thể xảy ra hai loại hiệu ứng sau:
- Sự phân bố điện tích của enzym có thể ảnh hưởng đến tỉ lệ va chạm không cụ thể của chất nền với phần nào đó trên bề mặt enzym
- Điều khiển chất nền đến vùng đặc biệt trên bề mặt enzym, làm thay đổi xác suất của việc hình thành phức giữa enzym với chất nền
1.2.2 Vai trò của acetylcholin [54]
Trong cơ thể, acetylcholin được tổng hợp từ cholin coenzym A với sự xúc tác của cholin – acetyl và lưu trữ trong các hệ thần kinh
Hình 1.5 Cấu trúc acetylcholin [54]
Acetylcholin là một chất trung gian dẫn truyền thần kinh trong quá trình giao tiếp giữa các tế bào não với nhau, hình thành những kí ức của con người
1.2.3 Vai trò của enzym AChE [36]
Trong cơ thể chúng ta luôn luôn diễn ra quá trình chuyển hóa từ acetylcholin dưới sự xúc tác của enzym AChE tạo ra nhóm cholin và nhóm acetat Tuy nhiên, trong não bộ chất acetylcholin đóng vai trò là chất dẫn truyền thần kinh, nếu chất này ở hàm lượng thấp sẽ gây ra bệnh Alzheimer
Enzym AChE là một loại enzym có hoạt tính xúc tác cao, rất hoạt động với sự luân chuyển khoảng 103 - 104 s-1
Nếu ức chế hoạt tính của enzym AChE sẽ làm giảm quá trình thủy phân acetylcholin
và làm tăng khả năng lưu trữ acetylcholin ở các khớp thần kinh của người bệnh Alzheimer, từ đó sẽ cải thiện tình trạng bệnh lý của bệnh nhân
1.2.4 Các phương pháp thử hoạt tính ức chế enzym AChE [4]
Nghiên cứu sàng lọc là giai đoạn đầu của quá trình nghiên cứu phát triển thuốc mới Giai đoạn này thường tiến hành đánh giá hoạt tính của một lượng lớn các mẫu thử Vì vậy, những phương pháp được lựa chọn để sử dụng ở giai đoạn này phải là những phương pháp có thể tiến hành đồng thời nhiều mẫu, lượng mẫu cần ít, cho kết quả
Trang 211.2.4.1 Phương pháp sử dụng thuốc thử Ellman
Trong số những phương pháp được sử dụng để nghiên cứu sàng lọc hoạt tính ức
chế AChE in vitro, phương pháp sử dụng thuốc thử Ellman được xây dựng và ứng
dụng sớm nhất Hiện nay, phương pháp này vẫn được sử dụng khá phổ biến ở nhiều nghiên cứu cùng hướng; trong đó, phương pháp đo quang được sử dụng nhiều hơn phương pháp sắc ký lớp mỏng sinh học Phương pháp này sử dụng cơ chất là acetylthiocholin (ATCh) và thuốc thử là acid 5,5’-dithiobis-nitrobenzoic (DTNB)
a/ Phương pháp đo quang
Phương pháp của Ellman dùng để xác định hoạt tính của enzym AChE dựa vào đo quang được tác giả này mô tả lần đầu tiên vào năm 1961 Nguyên tắc của phương pháp: trong môi trường đệm pH = 8,0; enzym AChE sẽ xúc tác quá trình thủy phân acetylthiocholin iodid (ATCI) tạo thành acetyl và thiocholin Thiocholin sinh ra sẽ phản ứng với acid 5,5-dithiobis-2-nitrobenzoic (DTNB) để tạo ra sản phẩm màu vàng là 5-thio-2-nitrobenzoat có bước sóng hấp thu cực đại tại 412 nm
Sau đó, nhiều nghiên cứu sàng lọc về hoạt tính ức chế AChE in vitro khác tiếp tục
được thực hiện Tuy nhiên, so với phương pháp gốc được công bố bởi Ellman, phương pháp được triển khai trong các nghiên cứu sau đó đều có một số thay đổi về: nguồn gốc
và hoạt độ của enzym, loại đệm sử dụng, nồng độ dung dịch cơ chất và thuốc thử… cũng như tỷ lệ phối hợp của chúng vào hỗn hợp phản ứng
b/ Phương pháp sắc ký lớp mỏng sinh học
Trên cơ sở phương pháp đo quang sử dụng thuốc thử Ellman, phương pháp sắc ký lớp mỏng sinh học (BTLC) đã được phát triển Ở phương pháp này, sau khi bản mỏng được triển khai, hỗn hợp gồm dung dịch thuốc thử DTNB và cơ chất ATCI được phun lên bản mỏng, sau đó mới phun dung dịch enzym Những chất gây ức chế AChE
sẽ làm xuất hiện các vết màu trắng trên nền vàng
Một trong những hạn chế của phương pháp BTLC là có thể gặp phải hiện tượng dương tính giả, hiện tượng vết màu trắng xuất hiện trên bản mỏng không phải do tác dụng ức chế AChE Để khắc phục hạn chế này, bên cạnh bản mỏng thử phải tiến hành
Trang 227
làm thí nghiệm với một bản mỏng khác (bản đối chiếu) Các bước tiến hành trên bản đối chiếu tương tự như trên bản thử chỉ khác ở giai đoạn phun thuốc thử hiện màu Đối với bản thử, hỗn hợp dung dịch thuốc thử DTNB và cơ chất ATCI được phun trước, sau
đó mới phun dung dịch AChE Với bản đối chiếu, dung dịch thuốc thử DTNB được phun trước, sau đó hỗn hợp gồm dung dịch cơ chất ATCI và dung dịch AChE được phun sau Cách bố trí thử nghiệm như trên nhằm đảm bảo những vết màu trắng xuất hiện trên cả hai bản là những vết cho phản ứng dương tính giả; còn những vết chỉ xuất hiện trên bản mẫu là có khả năng ức chế enzym AChE Hình 2.1 dưới đây minh họa kết quả nghiên cứu sử dụng phương pháp BTLC hiện màu bằng thuốc thử Ellman
Hình 1.6 Bản BTLC của dịch chiết loài Corydalis sp được hiện màu bằngthuốc thử Ellman
A Phản ứng ức chế enzym, vết trắng chỉ ra hoạt tính ức chế enzym
B Phản ứng dương tính giả, vết trắng không phải vì ức chế enzym
1.2.4.2 Phương pháp sử dụng thuốc thử muối Fast Blue B
So với phương pháp sử dụng thuốc thử Ellman, số lượng nghiên cứu sử dụng
phương pháp này để sàng lọc hoạt tính ức chế AChE trên mô hình in vitro khá hạn chế Phương pháp này sử dụng cơ chất là α-naphthyl acetat và thuốc thử là muối Fast Blue B
(Naphthanil Diazo Blue B)
Hình 1.7 Muối Fast Blue B
a/ Phương pháp đo quang
Thử nghiệm đo quang sử dụng thuốc thử muối Fast Blue B được công bố lần đầu
tiên bởi tác giả Van Asperen K vào năm 1962 Nguyên tắc của phương pháp: cơ chất
Trang 238
naphthyl acetat bị thủy phân bởi enzym AChE giải phóng chất α-naphthol Chất này sau
đó phản ứng với thuốc thử muối Fast Blue B tạo thành sản phẩm màu diazo Hợp chất này được xác định bằng cách đo độ hấp thụ của dung dịch ở bước sóng 600 nm
Tuy nhiên, sau đó, không có nhiều nghiên cứu sử dụng phương pháp này để nghiên
cứu sàng lọc tác dụng ức chế AChE trên mô hình in vitro và một trong số đó là nghiên
cứu của tác giả Di Giovanni S Phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu của tác giả này có một số thay đổi so với phương pháp của tác giả Van Asperen về: nguồn gốc và hoạt độ của enzym, hóa chất để bất hoạt enzym và nồng độ dung dịch cơ chất
b/ Phương pháp sắc ký lớp mỏng sinh học
Muối Fast Blue B cũng được sử dụng như một thuốc thử trong phương pháp BTLC
để nghiên cứu sàng lọc hoạt tính ức chế AChE in vitro và được phát triển bởi Marston
năm 2002 Ở phương pháp này, sau khi bản mỏng được triển khai, dung dịch enzym
được phun lên bản mỏng Sau đó, hỗn hợp gồm dung dịch cơ chất α-naphthyl acetat
và dung dịch thuốc thử muối Fast Blue B được phun lên bản mỏng Những chất gây
ức chế AChE sẽ làm xuất hiện các vết màu trắng trên nền màu tím sẫm Hình 1.8 dưới đây minh họa kết quả nghiên cứu sử dụng phương pháp BTLC hiện màu bằng muối Fast Blue B
Hình 1.8 Bản BTLC của các vết có lượng Physostigmin từ 10-5 đến 10-1 µg
được hiện màu bằng thuốc thử muối Fast Blue B
Cũng giống phương pháp BTLC sử dụng thuốc thử Ellman, phương pháp BTLC sử dụng thuốc thử muối Fast Blue B cũng có thể gặp phải hiện tượng dương tính giả Để loại trừ các vết dương tính giả, một bản mỏng đối chiếu tương tự với bản mỏng thử
được triển khai Sau đó, các dung dịch α-naphthol và muối Fast Blue B được phun lên bản
mỏng mà không có dung dịch enzym Nếu xuất hiện vết màu trắng thì vết đó là vết dương tính giả
Bên cạnh 2 phương pháp được trình bày ở trên, phương pháp điện di mao quản
Trang 241.2.5 Một số hợp chất có hoạt tính ức chế enzym AChE từ tự nhiên
Hiện nay có nhiều hợp chất được phân lập trong tự nhiên có khả năng ức chế enzym AChE, những chất này chủ yếu thuộc họ alkaloid, flavonoid, terpenoid, steroid, glycosid coumarin và một số polyphenol khác
Một số hợp chất ức chế enzym AChE thuộc nhóm alkaloid
Năm 2011, tác giả Julien Rouleau và cộng sự đã phân lập từ cây Phi cầu (Sarcococca saligna) và cây Cà mà (Bucus papillosa) được 4 hợp chất alkaloid (Hình 1.9) có khả năng
ức chế AChE như sau:
Hình 1.9 Các hợp chất được phân lập từ cây Phi cầu (Sarcococca saligna) và cây Cà mà (Bucus
papillosa).[88]
Năm 2007, Pulok và các cộng sự đã phân lập được 4 hợp chất là epinorgalantamin,
galantamin, sanguinin, 11-hydroxylgalantamin từ hai đối tượng nghiên cứu là cây Thủy
tiên (Narcissus poeticus) và cây Ngọc trâm (Eucharis grandiflora) Kết quả thử hoạt tính
ức chế AChE cho thấy cả 4 hợp chất đều ức chế rất mạnh enzym với giá trị IC50 như sau:
Trang 25Năm 2012, M Abbas và các cộng sự đã phân lập được 4 hợp chất là asimilobin,
boldin, isoboldin, 2-hydroxyl-9-methoxyaporphin từ vỏ cây Két (Beilschmiedia alloiophyla) Kết quả thử hoạt tính ức chế AChE cho thấy cả 4 hợp chất đều có hoạt tính
ức chế mạnh với giá trị IC50 như sau:
2-Hydroxy-9-methoxyaporphin
2,0
Hình 1.11 Các hợp chất được phân lập từ vỏ cây Két (Beilschmiedia alloiophylla).[19]
Năm 2007, Pulok K Mukherjee và các cộng sự đã tiến hành nghiên cứu về hoạt tính
ức chế AChE cho thấy các hợp chất thuộc nhóm alkaloid là physostigmin, rivastigmin, assoanin được phân lập từ một số loại dược liệu có hoạt tính ức chế AChE mạnh, trong
đó mạnh nhất là physostigmin với giá trị IC50 = 6.10-4 µM (Hình 1.12)
Trang 2611
Hình 1.12 Các hợp chất phân lập từ một số loại dược liệu [72]
Một số hợp chất ức chế enzym AChE thuộc nhóm flavonoid
Năm 2012, nhóm nghiên cứu của Hyung Won Ryu đã phân lập được 3 hợp chất flavonol là papyriflavonol A, broussoflavonol B, 8-(1,1-dimethylallyl)-5′-(3-methylbut-2-enyl)-3′,4′,5,7-tetrahydroxyflavonol có hoạt tính ức chế enzym AChE từ rễ cây Dướng
(Broussonetia papyrifera).[33] Kết quả thử hoạt tính ức chế enzym AChE cho thấy hợp chất 8-(1,1-dimethylallyl)-5′-(3-methylbut-2-enyl)-3′,4′,5,7-tetrahydroxyflavonol và hợp chất papyriflavonol A có hoạt tính ức chế mạnh với giá trị IC50 tương ứng là 0.82 và 3.1
methylbut-2-enyl)-3′,4′,5,7-0,82
Hình 1.13 Các hợp chất phân lập từ rễ cây Dướng (Broussonetia papyrifera).[33]
Năm 2012, nhóm nghiên cứu của tác giả Jung Keun Cho và các cộng sự đã phân lập
từ trái cây Bông lơn (Paulownia tomentosa) được ba hợp chất dihydroflavonol và hai hợp
chất flavanol (Hình 1.14) có khả năng ức chế AChE như sau:
Trang 27Hình 1.14 Các hợp chất phân lập từ trái cây Bông lơn (Paulownia tomentosa).[33]
Năm 2012, Trịnh Thị Thanh Vân và các cộng sự đã phân lập được 6 hợp chất flavonollàizalpinin, macakurzin A, galangin, 8-prenylgalangin, macakurzin B,
macakurzin C và 1 hợp chất flavanol là glabranin từ lá cây Săng bù (Macaranga kurzii)
Kết quả thử hoạt tính cho thấy cả 7 hợp chất đều có hoạt tính ức chế AChE, trong đó hợp chất galangin có hoạt tính ức chế mạnh nhất với giá trị IC50 = 10 µM (Hình 1.15)
Hình 1.15 Hợp chất galangin phân lập từ lá cây Săng bù (Macaranga kurzii)[103]
Một số hợp chất ức chế enzym AChE thuộc nhóm terpenoid
Năm 2012, M N Nasir và các cộng sự đã phân lập từ lá và thân cây Rau má
(Centella asiatica) 3 hợp chất terpenoid là acid madecassic, acid asiatic và acid
ursolic Kết quả thử hoạt tính ức chế AChE cho thấy hợp chất acid ursolic có hoạt tính mạnh nhất với giá trị IC50 = 7,5 nM (Hình 1.16)
Trang 2813
Hình 1.16 Hợp chất acid ursolic phân lập từ lá và thân cây Rau má (Centella asiatica).[75]
Năm 2010, tác giả M Fujiwara, N Yagi và M Miyazawa đã phân lập từ vỏ cây Lim
xẹt (Peltophorum dasyrachis) được 8 hợp chất sesquiterpen (Hình 1.17) có khả năng ức
chế AChE như sau:
Hình 1.17 Các hợp chất được phân lập từ vỏ cây Lim xẹt (Peltophorum dasyrachis).[42]
1.3 MÔ HÌNH IN VIVO TRONG ĐIỀU TRỊ SUY GIẢM TRÍ NHỚ TRÊN CHUỘT
NHẮT
1.3.1 Một số công trình nghiên cứu về chất cải thiện trí nhớ theo cơ chế kháng AChE trên động vật
1.3.1.1 Trên thế giới
Năm 2007, Julio Rubio và cộng sự: nghiên cứu tác dụng cải thiện trí nhớ của dịch
chiết Black Maca (một loại thảo mộc ở Peru) trên chuột được gây suy giảm trí nhớ bằng
Trang 2914
scopolamin Các chỉ số về học tập và trí nhớ được xác định bằng bài tập mê lộ nước và
và bài tập né tránh thụ động Kết quả cho thấy Black Maca có tác dụng cải thiện trí
nhớ.[56]
Năm 2010, Manish và cộng sự: đã sử dụng bài tập mê lộ nước để nghiên cứu tác
dụng cải thiện trí nhớ của cao chiết suất từ cây Bacopa moniea trên chuột – được gây suy
giảm trí nhớ bằng scopolamin, kết quả nghiên cứu cho thấy khi dùng lâu dài cao chiết
Bacopa moniea (uống trước 6 ngày khi làm thực nghiệm) làm giảm đáng kể thời gian và
quãng đường của chuột bơi tới khi tìm được bến đỗ, đồng thời làm tăng thời gian chuột bơi trong góc phần tư (góc trước đây đặt bến đỗ).[67]
Crinum zeylanicum là dược liệu tự nhiên mọc chủ yếu châu Phi, thường được sử
dụng để điều trị các bệnh về động kinh, đau, rối loạn tâm thần và tâm thần kinh, bao gồm
cả bệnh mất trí nhớ Năm 2012, nghiên cứu của Tijani Adeniyi Yahaya và cộng sự nhằm
tìm hiểu ảnh hưởng của cao chiết xuất từ Crinum zeylanicum (CzMBE) lên sự suy giảm
trí nhớ trên chuột được gây ra bởi scopolamin Kết quả cho thấy CzMBE có tác dụng cải thiện trí nhớ sự suy giảm trí nhớ không gian ngắn hạn trong thử nghiệm mê lộ chữ Y.[99]Năm 2014, Xue Qin Hou và cộng sự đã nghiên cứu bài thuốc Bushen-Yizhi (BSYZ) gồm sáu loại thảo mộc của Trung Quốc nhằm tìm hiểu ảnh hưởng của BSYZ về khả năng học tập và trí nhớ Bài thuốc BSYZ được sử dụng bằng đường uống cho chuột đã được gây suy giảm trí nhớ bằng scopolamin trước hai tuần Các chỉ số về học tập và trí nhớ được xác định bằng thử nghiệm mê lộ nước Kết quả cho thấy BSYZ có khả năng cải thiện đáng kể khả năng nhận thức và những bất thường do scopolamin gây ra.[50]
1.3.1.2 Trong nước
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới, chịu ảnh hưởng của gió mùa, có nhiệt độ và độ
ẩm thích hợp tạo điều kiện cho các loài thực vật phát triển, nên các sản phẩm thuốc có nguồn gốc từ thiên nhiên là một thế mạnh.[12] Trong y học cổ truyền nhiều dược liệu và loài cây quý đã được sử dụng như là các thuốc tăng cường trí nhớ, bổ trí não hay làm tăng minh mẫn ở tuổi già.[6] Tuy có một vài tác giả có đề cập tới tác động của một vài cây thuốc trên các thử nghiệm hành vi, nhưng chưa có công trình nghiên cứu sâu về tác động
ức chế AChE cũng như ứng dụng chúng trong việc điều trị suy giảm trí nhớ
1.3.1.3 Các bài tập đánh giá trí nhớ trên động vật thực nghiệm
Nghiên cứu về khả năng học tập, trí nhớ trên động vật là một phần rất quan trọng trong khoa học thần kinh Để đánh giá trí nhớ của động vật thực nghiệm các tác giả trên
Trang 3015
thế giới sử dụng một số bài tập đánh giá như: mê lộ chữ Y (Y-maze), mê lộ nước (Morris water maze), nhận thức đồ vật (Object recognition), mê lộ tìm thức ăn… Các bài tập này được sử dụng trong nhiều thập kỷ qua và hiện tại vẫn được áp dụng rộng rãi trong nghiên cứu đánh giá trí nhớ trên động vật thực nghiệm.[51]
a) Bài tập mê lộ nước (Morris water maze)
Bài tập mê lộ nước được Richard G Morris mô tả năm 1981[41] để đánh giá về học tập, trí nhớ không gian và trí nhớ dài hạn trên động vật Đây là bài tập được sử dụng phổ biến là do một số đặc điểm như: không cần huấn luyện trước, có độ tin cậy cao khi thay đổi cấu hình của dụng cụ, các quy trình thí nghiệm và có thể thực hiện trên nhiều loài (chuột, khỉ, người …)
Ứng dụng của mê lộ nước trong việc đánh giá học tập và trí nhớ đã được xem xét rất nhiều Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng có mối liên quan giữa kết quả thực hiện trong bài tập mê lộ nước và các chất trung gian dẫn truyền thần kinh, điện thế kéo dài (long-term potentiation), chức năng của các receptor thuộc hệ Glutamat, Dopamin, Serotonin… Ngoài ra, kết quả thực hiện trong mê lộ nước không những liên quan đến một số trung khu trong não mà còn liên quan đến học tập và trí nhớ như: vỏ não trán trước (prefrontal cortex), vùng trước hồi đai (anterior cingulated), hồi hải mã (hippocampusus), phức hợp hạnh nhân (amygdala)… Dụng cụ là một bể nước hình tròn bên trong có đặt bến đỗ (vị trí
để chuột có thể dừng chân), chìm cách mặt nước 1cm và nước được làm đục sao cho động vật không thể quan sát thấy
Sử dụng mê lộ nước để đánh giá khả năng học tập vị trí, không gian là phương thức được sử dụng nhiều nhất Dựa vào bản năng sinh tồn, khi cho vào nước động vật phải bơi tìm bến đỗ để sống sót, chúng phải học cách sử dụng các dấu mốc bên ngoài để xác định
vị trí của bến đỗ ở các lần tiếp theo Thời gian đánh giá thường được tiến hành trong khoảng từ 4 đến 7 ngày.[105,106] Thời gian và quãng đường vận động từ khi thả động vật vào nước đến khi tìm được bến đỗ là hai thông số có giá trị đánh giá khả năng học tập hình thành trí nhớ của động vật Cả hai chỉ số này bình thường sẽ giảm dần theo thời gian
và thời gian càng giảm nhanh, quãng đường càng ngắn tức là khả năng học tập càng tốt
Mê lộ nước cũng có thể được sử dụng để đánh giá việc gợi lại trí nhớ về vị trí, không gian của động vật bằng cách bỏ bến đỗ trong bể nước và xác định thời gian và quãng đường chúng sử dụng trong góc mà trước đây có đặt bến đỗ Quá trình này thường được
sử dụng ở giai đoạn sau của quá trình đánh giá khả năng học tập, hình thành trí nhớ, động
Trang 3116
vật đã đạt được một kết quả nhất định Bình thường thì các chỉ số này sẽ cao hơn ở góc
mà trước đây đặt bến đỗ so với các góc còn lại, trường hợp có sự suy giảm trí nhớ thì các chỉ số này sẽ thay đổi.[106]
b) Bài tập nhận thức đồ vật (Object recognition - ORT)
Bài tập nhận thức đồ vật (Object Recognition Novel) đã được giới thiệu bởi Ennanceur vào năm 1988 và được coi là bài tập đánh giá trì hoãn không tương thích với mẫu (Delayed-Non-Matching-to-tự phát) Bài tập này được dựa trên hành vi tự phát: động vật luôn có xu hướng tiếp cận, khám phá cái mới (đối tượng hoặc môi trường).[38,87,110]
Bài tập này thực hiện kiểm tra nhanh chóng và đơn giản, không liên quan đến các quy tắc học tập, các kích thích như: thức ăn, kích thích điện… nên nó ít bị ảnh hưởng của các yếu tố nhiễu, mang tính tự nhiên và có thể so sánh với các bài kiểm tra trí nhớ hiện đang được sử dụng ở người
Bài tập đã được sử dụng trong các biến thể khác nhau, nhưng thường gồm có hai thử nghiệm Thử nghiệm đầu tiên: động vật được cho vào môi trường mở và tiếp xúc với một hoặc hai đối tượng giống hệt nhau (đối tượng mẫu) Sau đó, động vật được trả lại vào lồng nuôi của mình trong thời gian nhất định Thử nghiệm thứ hai: động vật được trả lại cho môi trường mở và tiếp xúc với đối tượng quen thuộc (mẫu) và một đối tượng mới Khi động vật 'nhớ' tiếp xúc trước với các đối tượng quen thuộc, nó sẽ khám phá các đối tượng mới với mức độ lớn hơn so với đối tượng quen
Thông số trong bài tập này là thời gian và tần suất chuột khám phá đồ vật mới so với
đồ vật cũ Sự khác biệt càng lớn chứng tỏ khả năng nhớ, phân biệt giữa cái mới và cái cũ của động vật càng tốt và ngược lại khi chỉ số này giảm thấp tức là động vật có sự suy giảm về trí nhớ, khả năng phân biệt đồ vật mới và cũ
c) Bài tập mê lộ chữ Y (Y-maze)
Động vật luôn có xu hướng khám phá không gian mới để thu thập thông tin mới của môi trường, qua đó bảo đảm sự an toàn cho bản thân động vật Bài tập mê lộ chữ Y xuất phát từ việc động vật có xu hướng thay đổi sự lựa chọn cánh trong mê lộ trong các cơ hội liên tiếp Mê lộ chữ Y lần đầu tiên được áp dụng cho các nghiên cứu về tác dụng của thuốc khoảng 30 năm trước đây Bài tập này gần đây được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu về trí nhớ làm việc không gian (spatial working memory), động vật thường được đánh giá trong khoảng 8-10 phút trong mê lộ chữ Y đối xứng Y maze là một dụng
cụ hình chữ Y, cấu tạo gồm 3 cánh (ABC), trong đó ba cánh đối xứng nhau và tách ra ở
Trang 3217
120o Quy trình bài tập cơ bản cho phép chuột được tự do tiếp cận tới ba cánh tay của mê
lộ trong vài phút trong thời gian đó trình tự đi vào các cánh của mê lộ đã được ghi lại Thay đổi luôn phiên (alternation) được định nghĩa là động vật di chuyển vào 3 cánh liên tiếp tức là động vật di chuyển theo trình tự ABC, CBA, ABC mà không phải là AAC, CBC.[87] Ngoài ra chỉ số về số lần động vật đi vào các cánh cũng ảnh hưởng đến kết quả
về thay đổi luôn phiên Do đó một số nghiên cứu đã sử dụng chỉ số phần trăm thay đổi luôn phiên (% Alternation) = [số lần thay đổi / (tổng số lần vào các cánh -2)] x 100%
1.3.2 Một số thuốc ức chế AChE dùng trong điều trị bệnh suy giảm trí nhớ
Điều trị bệnh Alzheimer bằng thuốc đã ứng dụng hơn 30 năm nay Các thuốc tập trung tác động theo hướng ức chế AChE Những chất ức chế này gần đây đã được dùng trong điều trị bệnh Alzheimer là physostigmin, tacrin, donepezil, rivastigmin, galantamin
và huperizin.[1,55]
1.3.2.1 Physostigmin
Chất ức chế AChE được biết sớm nhất là physostigmin Chất này cho thấy có tác động cải thiện vừa phải về chức năng nhận thức của các bệnh nhân Alzheimer Tuy nhiên, các nghiên cứu trên lâm sàng cho thấy physostigmin có các thông số động học không lý tưởng như thời gian tác động ngắn và khả năng thâm nhập não kém khi sử dụng bằng đường uống.[1,14,21]
1.3.2.2 Tacrin
Tacrin là thuốc kháng enzym AChE được sử dụng đầu tiên vào năm 1993, thuốc được chứng minh làm giảm tình trạng suy giảm nhận thức ở bệnh nhân Alzheimer và làm chậm tiến trình của bệnh Tuy nhiên, hiện nay thuốc này ít được sử dụng vì thuốc có độc tính đối với gan.[14,45,55,107]
1.3.2.3 Donepezil
Donepezil là thuốc rất chọn lọc AChE.[14,58] Sự chọn lọc này được khẳng định là làm giảm tác dụng phụ, nhưng các dữ kiện lâm sàng không công bố là nó làm tăng khả năng dung nạp Donepezil không gây độc tính cho gan và rất ít tương tác Alzheimer, AChE là enzym chính trong não tương quan với bệnh, trong khi butyrylcholinsterase ở ngoại biên
và tỉ lệ tác động của AChE so với butyrylcholinsterase trong dịch não tủy giảm khi bệnh tiến triển Sự ức chế butyrylcholinsterase có ý nghĩa như thế nào thì chưa rõ, nhưng donepezil tác động chuyên biệt trên AChE, trong khi rivastigmin và galantamin ức chế cả
Trang 331.3.2.5 Galantamin
Galantamin là alkaloid được chiết xuất từ cây Galanthus nivalis (họ
Amaryllidiaceae) Alkaloid này có tác động chọn lọc, kéo dài, cho ra những tác động có lợi cho bệnh nhân.[47]
Galantamin tác động trên thụ thể nicotinic tiền synap gây tăng hiệu quả dẫn truyền (tương tự như hiệu quả của physostigmin và codein).[14] Do đó làm tăng số lượng acetylcholin ở synap nhờ hiệu quả trực tiếp trên sự giải phóng tiền synap, tuy nhiên ảnh hưởng lâm sàng và chứng cớ đã được công bố về tầm quan trọng còn chưa rõ ràng Có thể thuốc này có tác dụng điều hòa chất dẫn truyền thần kinh hơn là có tác động bảo vệ, chống lại sự suy giảm của số lượng các thụ thể sau synap Điều này cho phép thuốc hoạt động lâu hơn, nhưng cần các nghiên cứu sâu hơn để xác định điều này Ngoài ra, galantamin có tác động cải thiện khả năng chú ý trong bệnh Alzheimer, trong khi cả hai chất donepezil và rivastigmin không có tác động này
Các nghiên cứu cho thấy không có sự khác biệt về hiệu quả trong điều trị bệnh Alzheimer giữa donepezil, rivastigmin và galantamin Sự khác biệt chủ yếu là do cách sử dụng và tác dụng phụ của từng loại thuốc Donepezil có ít tác dụng phụ, dung nạp tốt và
dễ tăng liều Rivastigmin có nhiều tác dụng phụ về tiêu hóa Khi điều trị thì không phải bất cứ bệnh nhân nào cũng đáp ứng giống nhau với các thuốc ức chế AChE.[14]
1.3.3 Mô hình gây suy giảm trí nhớ trên động vật thực nghiệm
Hiện nay có nhiều mô hình gây tổn thương trí nhớ kiểu trong bệnh Alzheimer trên động vật thực nghiệm theo các cơ chế khác nhau như sử dụng hóa chất, gây tổn thương các vùng não, biến đổi gen.[44,69] Sử dụng scopolamin gây suy giảm trí nhớ là mô hình được áp dụng rộng rãi, đặc biệt cho thử nghiệm các thuốc tác động theo cơ chế kháng
Trang 3419
enzym AChE Mô hình này đã được sử dụng cả trên người và động vật để đánh giá hoạt tính cải thiện trí nhớ của nhiều hợp chất mà hiện nay đã được sử dụng trong điều trị chứng suy giảm trí nhớ như velnacrin, cholin, moclobemid, oxiracetam, piracetam…;
[44,57,71] và mô hình còn được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu phát triển các thuốc điều trị bệnh Alzheimer như trong nghiên cứu đánh giá tác dụng cải thiện trí nhớ của cây Bất
tử (Lepidium meyenii), Rau đắng biển (Bacopa monniera), cây Náng lá rộng (Crinum zeylanicum)…[56,67]
1.4 TÌM HIỂU VỀ CÁC CÂY THUỐC SÀNG LỌC HOẠT TÍNH ỨC CHẾ ENZYM AChE
Việt Nam là một trong những nước nhiệt đới có thảm thực vật phong phú nhất thế giới với khoảng 12.000 loài, chưa kể tới các rong, rêu và nấm Trên điều kiện thuận lợi
đó, YHCT Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ với bề dày kinh nghiệm được lưu truyền qua nhiều thế hệ
Huyện Buôn Đôn, tỉnh Đăk Lăk, vùng Bảy Núi – An Giang và huyện đảo Phú Quốc,
là ba nơi có hệ thực vật phong phú và đa dạng, đã và đang được sử dụng nhiều trong YHCT
Các cây thuốc sàng lọc được lựa chọn theo ba tiêu chí: kinh nghiệm dân gian (a), tham khảo tài liệu (b) và chọn ngẫu nhiên (c) (Bảng 2.1)
Tiêu chí kinh nghiệm dân gian: các cây thuốc được lựa chọn trên các công dụng điều trị các bệnh có liên quan đến cải thiện trí nhớ, thần kinh, an thần, đau đầu
Tiêu chí tham khảo tài liệu: các cây thuốc được tìm hiểu có hoạt tính ức chế enzym AChE từ các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước
Tiêu chí lựa chọn ngẫu nhiên: một số cây thuốc khác
Từ ba tiêu chí trên, chúng tôi đã sàng lọc hoạt tính ức chế enzym AChE của 147 dược liệu Trong 147 dược liệu này, có 19 dược liệu có hoạt tính ức chế enzym AChE với giá trị IC50 < 100 µg mL-1 Từ kết quả trên, chúng tôi chọn hai cây thuốc có hoạt tính mạnh
để nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính ức chế enzym AChE của các hợp chất
phân lập được bao gồm Chiêu liêu cườm (Xylia xylocarpa R.) và Guồi đỏ (Willughbeia cochinchinensis Pierre ex Pit.)
Trang 3520
1.5 TÌM HIỂU VỀ CÂY CHIÊU LIÊU CƯỜM, XYLIA XYLOCARPA
1.5.1 Mô tả thực vật và phân bố sinh thái của cây Chiêu liêu cườm [15,16,17]
a) Danh pháp
Cây Chiêu liêu cườm có tên khoa học là Xylia xylocarpa Roxb
Phân loại khoa học Giới Plantae
Tên khác: cẩm xe, căm xe
Tác giả tên khoa học: Roxb – William Roxburgh (1751 – 1815) người Scotland, là bác sĩ phẫu thuật và cũng là nhà thực vật học
b) Mô tả thực vật
Cây gỗ lớn, cao trên 30 m, đường kính có thể tới 1,2 m Thân tròn thẳng, có bạnh vè lớn, lúc nhỏ cây thường cong queo Vỏ màu nâu vàng hoặc xám đỏ, lá kép Hoa lưỡng tính, có dạng hình cầu nhỏ Tràng hoa màu vàng, quả hình lưỡi liềm, khi chín tự nứt Hệ
rễ phát triển từ lúc cây còn nhỏ
Hình 1.18 Cây Chiêu liêu cườm [25]
Hình 1.19 Hoa và trái cây Chiêu liêu cườm [25]
Trang 3621
c) Phân bố
Cây phân bố chủ yếu từ miền Trung đến miền Nam của Việt Nam, nhiều nhất ở huyện Buôn Đôn và Ea Súp của tỉnh Đắk Lắk Ở Việt Nam, thân cây Chiêu liêu cườm được xếp vào nhóm II trong bảng phân loại gỗ – nhóm gỗ nặng, cứng bao gồm các loài
có tỷ trọng lớn, sức chịu đựng cao và được xem như gỗ lim ở phía Bắc
d) Công dụng dân gian
Trong năm 2010, một số nghiên cứu sơ bộ về cây Chiêu liêu cườm cho thấy, trong hạt chứa một hàm lượng lớn hợp chất polyphenol (6,69 g trong 100 g mẫu) và tanin (4,4
g trong 100 g mẫu) Ngoài ra, trong y học dân gian còn sử dụng vỏ và quả cây làm thuốc trị ho ra máu; thân cây được dùng làm thuốc giúp tăng cường trí nhớ, gia tăng sức khỏe
1.5.2 Thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của cây Chiêu liêu cườm và một số
Theo tài liệu tham khảo 1979, Mester và các cộng sự đã được phân lập từ lá cây
Chiêu liêu cườm được hợp chất acid trans-5-hydroxypipecolic, một chất ức chế mới cho
sự kết tập tiểu cầu gây ra bởi serotonin.[70]
Trang 3722
Hình 1.21 Hợp chất acid trans-5-hydroxypipecolic được phân lập từ lá cây Chiêu liêu cườm
Theo Dzoyem và cộng sự đã chỉ ra rằng dịch chiết của cây X torreana có tính gây
độc tế bào thấp và có hoạt tính chống oxy hoá cao.[39]
Theo Robel và các cộng sự khi nghiên cứu về hoạt tính kháng khuẩn của dịch chiết
methanol từ cây Chiêu liêu cườm cho thấy các phân đoạn cao: chloroform, n-hexan,
carbon tetrachlorid và nước có hoạt tính kháng khuẩn từ nhẹ đến trung bình.[86]
Trong nghiên cứu về hoạt tính ức chế enzym α-glucosidase, Tunsaringkarn và các cộng sự đã chỉ ra rằng lá, cành và vỏ của cây Chiêu liêu cườm cho thấy hoạt tính ức chế α-glucosidase cao Các phân đoạn cao chiết ethanol cho thấy chúng có khả năng ức chế enzym α-glucosidase lên đến 95% Điều này cần được nghiên cứu sâu hơn về điều trị đái tháo đường (loại II) như là chất ức chế α-glucosidase và làm giảm mức glucose trong
máu.[101]
Kumar và các cộng sự đã phân lập được một trimer proanthocyanidin mới là dolabriproanthocyanidin (I) từ vỏ thân của cây Chiêu liêu cườm Dữ liệu phổ cho thấy proanthocyanidin là một trimer trong tự nhiên, có 2 đơn vị liên tiếp liên kết với (-) -
epicatechin, các liên kết interflavonoyl là 4,8 hoặc 4,6.[59]
Hình 1.22 Hợp chất dolabriproanthocyanidin (I) được phân lập từ vỏ thân của cây Chiêu liêu
Trang 3823
Nhận xét về thành phần hóa học chi Xylia:
Qua việc phân tích tài liệu tham khảo về thành phần hóa học của cây thuộc chi Xylia,
chúng tôi nhận thấy rằng chi này có chứa những hợp chất diterpenoid và các polyphenol đơn vòng
1.6 TÌM HIỂU VỀ CÂY GUỒI ĐỎ, WILLUGHBEIA COCHINCHINENSIS
1.6.1 Mô tả thực vật và phân bố sinh thái của cây Guồi đỏ [16,17,18]
a) Danh pháp:
Guồi đỏ có tên khoa học là Willughbeia cochinchinensis
Phân loại khoa học
Giới Ngành Lớp
Bộ
Họ Chi Loài
Plantae (Thực vật) Magnoliophyta (Thực vật có hoa, hạt kín) Magnoliopsida (Hai lá mầm)
Gentianales (Long đởm) Apocynaceae (Trúc đào)
Willughbeia cochinchinensis
b) Mô tả và phân bố
Hình 1.23 Thân, lá, hoa, quả và cơm thịt cây Guồi đỏ [5]
Trang 3924
Guồi đỏ là cây gỗ leo Thân có mấu lồi, bấm ra nhựa trắng, nhựa của cây Guồi đỏ tạo thành một chất gôm màu đỏ rất dính, rất cứng, khi khô bị đục, dễ vỡ Lá mọc đối, chóp nhọn, gân lá nổi rõ ở mặt trên Hoa tập hợp ở nách lá, màu trắng Quả to bằng nắm tay, khi chín màu vàng, vị chua ngọt, ăn được
Cây Guồi đỏ ra hoa khoảng tháng 1 - 3 và cho quả khoảng tháng 3- 5
Cây phân bố chủ yếu ở miền Nam Việt Nam và Campuchia, mọc hoang ở rừng rậm hay rừng thưa Thu hái cây, rễ và nhựa cây quanh năm
1.6.2 Công dụng dân gian của cây Guồi đỏ
Theo y học cổ truyền, Guồi đỏ có vị hơi đắng, tính mát, không độc
Ở Việt Nam, thân cây Guồi đỏ có tác dụng tiêu ban, lợi tiểu, thanh nhiệt
Ở Campuchia, Lào, Việt Nam, thân cây Guồi đỏ được sử dụng làm các chế phẩm thuốc trị lỵ và bệnh về gan, ghẻ cóc Thân cây Guồi đỏ còn được dùng để ngâm rượu làm thuốc cho phụ nữ mới sinh uống cho khoẻ, an thần, trị mất ngủ
Ở Malaysia, rễ cây Guồi đỏ được dùng để chữa bệnh vàng da, tiêu chảy, ợ nóng Ngoài ra, Guồi đỏ cũng được dùng trị băng huyết, rong huyết Nhựa cây thường dùng
để làm lành mụn nhọt, bôi chữa ghẻ cóc và sâu răng
1.6.3 Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của một số loài cùng chi
Willughbeia
Hiện nay chưa có nghiên cứu nào về thành phần hóa học của cây Guồi đỏ, chỉ có một
nghiên cứu về thành phần hóa học của cây Willughbeia firma
Năm 2003, trong nghiên cứu về hoạt tính sinh học của các pentacyclic triterpen, Jiří Patočka và cộng sự đã phân lập được lupeol acetat và lupeol docosanoylat trong cây
Willughbeia firma có khả năng ức chế hai loại enzym tiêu hóa protein của tuyến tụy là
trypsin và chymotrypsin.[77]
Hình 1.24 Lupeol acetat và lupeol docosanoylat phân lập từ cây firma
Trang 40 Năm 2009, Nico Smit và các cộng sự đã tiến hành nghiên cứu điều trị lâm sàng
rối loạn sắc tố da từ thành phần trong cây coriacea Kết quả cho thấy, dịch chiết từ cây coriacea có khả năng ức chế enzym tyrosinase.[96]
Năm 2014, nghiên cứu thử nghiệm các dược thảo có khả năng điều trị bệnh đái tháo đường của A C Akinmoladun và các cộng sự cho thấy cao ethanol chiết từ lá của
cây W tenuiflora có hoạt tính ức chế enzym α-glucosidase rất mạnh với giá trị IC50 = 8.16 μg mL-1.[23]
1.7 ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
1.7.1 Những vấn đề còn tồn tại
Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các tiến bộ trong y học ngày nay góp phần đưa tuổi thọ con người tăng lên, số người cao tuổi (trên 60) trên thế giới ngày càng nhiều.[55] Đi cùng với điều này là tình trạng thoái hóa thần kinh, sa sút trí tuệ (SSTT), một hội chứng thường gặp, gây nên tàn phế và làm tăng gánh nặng chi phí cho xã hội [6,9,10]điển hình là bệnh Alzheimer (Alzheimer’s disease, AD) cũng gặp với tần suất nhiều hơn.[9,10,14] Các phương pháp điều trị bệnh suy giảm trí nhớ hiện đang được sử dụng gồm có: bảo vệ thần kinh, chống lại các gốc oxy hóa, chống lại các tác nhân gây viêm, liệu pháp hormon, kháng enzym AChE… Trong đó, các thuốc thông dụng để điều trị bệnh suy giảm trí nhớ sử dụng trong lâm sàng hiện nay như donepezil, galantamin, rivastigmin
là các thuốc hoạt động theo cơ chế kháng enzym AChE Tuy nhiên các thuốc này thường
là nhập khẩu với giá cao và có nhiều tác dụng phụ như gây độc cho gan, buồn nôn, rối loạn giấc ngủ, nhịp tim nhanh…Xu hướng đi tìm các hợp chất có hoạt tính cải thiện trí nhớ từ nguồn dược liệu thiên nhiên để điều trị bệnh Alzheimer đang được các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm vì ít tác dụng phụ Hàng năm, có nhiều công trình trên các tạp chí uy tín công bố tìm ra các hợp chất mới có tác dụng kháng enzym AChE từ dược liệu thiên nhiên ở các nước có nền y học phương Đông phát triển như Trung Quốc, Ấn độ, Hàn Quốc, Việt Nam… [55,56,78,79,80,89,99]